A-TỲ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ LUẬN

            

ABHIDHARMAKOŚABHĀṢAYĀM - q.3.

 

Nguyên tác: Thế Thân 

Hán dịch: Huyền Trang

                       

PHẨM II: PHÂN BIỆTCĂN[1] 1

                                                         

TIẾT I :  22 CĂN

I. Ư nghĩa của căn

Như vậy, nhân nói về 18 giới, đă nêu lên 22 căn; trong đó, căn có nghĩa là ǵ?

Tối thắng, tự tại, quang hiển[2] gọi là căn; do ba tính chất nầy tạo thành nghĩa tăng thượng của căn.

Với nghĩa tăng thượng, căn nào có công năng đối với những vấn đề nào[3]?

1. Hữu Bộ.

Văn Tụng.

Hán.

T29n1558_p0013b14║ 傳說五於四  四根於二種

T29n1558_p0013b15║ 五八染淨中  各別為增上

Âm Hán.

            Truyền thuyết ngũ ư tứ          Tứ căn ư nhị chủng

Ngũ bát nhiễm tịnh trung         Các biệt vi tăng thượng.

Việt dịch.

            Truyền thuyết[4], năm căn đối với bốn

            Bốn căn đối với hai.

            Năm, tám, trong nhiễm tịnh           

            Mỗi mỗi đều tăng thượng[5] /1/.

Luận giải thích.      

            /1a/ Truyền thuyết, năm căn đối với bốn.

Năm căn mắt, tai v.v..., mỗi một căn, trong bốn khía cạnh, có khả năng tăng thượng: một, trang nghiêm thân; hai, đạo dưỡng thân; ba, sanh thức; bốn, bất cọng sự.

Một, trang nghiêm thân: hai căn mắt, tai trang nghiêm thân nghĩa là, nếu mắt mù, tai điếc th́ thân h́nh trở nên xấu xí.

Hai, đạo dưỡng thân: nhờ sự thấy nghe mà tránh được tai nạn nguy hiểm.

Ba, sanh thức: hai căn nầy là sở y, phát sinh hai thức tương ứng và các tâm sở.

Bốn, bất cọng sự: chỉ có mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mỗi mỗi đều riêng biệt.

Ba căn mũi, lưỡi, thân: về trang nghiêm thân  cũng giống như mắt, tai. Đạo dưỡng thân: có khả năng nạp thọ các loại thực phẩm có tính đoạn thực. Sanh thức: phát sanh ba thức mũi, lưỡi, thân và các tâm sở; bất cọng sự nghĩa là, chỉ có mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân giác xúc.

/1b/ Bốn căn đối với hai.

Bốn căn: nữ căn, nam căn, mạng căn và ư căn. Mỗi một căn nầy, đối với hai vấn đề, có khả năng tăng thượng. Trong đó, hai căn nữ nam tăng thượng trong hai khía cạnh: một, khác nhau về giới tính; hai, khác nhau về h́nh tướng. Khác nhau về giới tính,[6]  đó là, do hai căn nầy khiến có sự khác nhau về chủng loại nam nữ hữu t́nh. Khác nhau về h́nh tướng,[7] đó là, cũng do hai căn nầy tạo nên sự sai khác về tiếng nói, h́nh dáng, và vú nhỏ vú lớn, v.v...

Một quan điểm khác (Kinh Lượng bộ): 

Nữ căn, nam căn, đối với hai pháp nhiễm, tịnh, có khả năng tăng thượng cho nên nói là hai. Lư do v́ sao? Bởi lẽ, những người thuộc hạng phiến đề, bán trạch hay nhị h́nh hoặc do bản tánh hoặc do tổn hoại[8]  đều không thể tạo tác các pháp tạp nhiễm[9] như bất luật nghi[10], vô gián, đoạn thiện căn, cũng như không thành tựu các pháp thanh tịnh[11] như luật nghi[12], đắc quả[13], ly nhiễm[14].

Mạng căn có hai nghĩa là đối với chúng đồng phần[15]có khả năng tăng thượng trong hai khía cạnh là giữ ǵn[16] và làm tương tục[17] .

Ư căn có khả năng tăng thượng trong hai khía cạnh là tiếp nối đời sau[18] và tự tại tuỳ hành.[19] Tiếp nối đời sau, như Khế kinh nói: đó là lúc, kiền đạt phược,[20] ở trong tâm, tuỳ thuộc  vào (tương ưng với) một tính chất mà hiện tiền[21] (thành sanh hữu), nghĩa là, hoặc cùng với ái, hoặc cùng với nhuế v.v... 

Tự tại tùy hành, như Khế kinh nói:

Tâm có khả năng dẫn dắt thế gian,

Tâm nhiếp thâu tất cả các thọ.

Như vậy, tâm là một pháp       

có khả năng  tự tại tuỳ hành.

/1cd/ Năm, tám trong nhiễm, tịnh; mỗi mỗi đều tăng thượng:

Năm tức năm thọ căn (vedanendriya), lạc v.v... và tám tức tám căn vô lậu, tín, tấn v.v..., đối với các pháp nhiễm tịnh, theo thứ tự, có khả năng tăng thượng. Năm thọ căn lạc v.v... tăng thượng cho các pháp nhiễm ô, nghĩa là, chúng là nơi các phiền năo tham, sân v.v... tăng trưởng. Tám căn tín v.v... tăng thượng cho các pháp thanh tịnh, nghĩa là, các pháp thanh tịnh theo đó mà sanh trưởng.

Có Luận sư khác nói: các căn lạc v.v... cũng có khả năng tăng thượng cho các pháp thanh tịnh. Như Khế kinh nói: do lạc (sukha) cho nên tâm định; khổ (duḥkha) là yếu tố phát sinh tín. Và y chỉ của  xuất ly (giải thoát) chính là hỷ, ưu, xả.

Trên đây là những điều được nói bởi của các Luận sư Tỳ-bà-sa.

2.Kinh Lượng Bộ

Văn Tụng.

Hán:

T29n1560-p0312a08 :       

T29n1560-p0312a09 :     

Âm Hán:

            Liễu tự cảnh tăng thượng      Tổng lập ư lục căn

            Tùng thân lập nhị căn             Nam nữ tánh tăng thượng[22]

Việt Dịch:

            Tăng thượng liễu tự cảnh    Lập tất cả  sáu căn

            Từ thân lập hai căn  Tăng thượng tánh nam nữ /2/

Luận giải thích:

Các Luận sư khác[23] nói, đạo dưỡng thân chẳng phải là công năng của mắt, tai mà đó là công năng tăng thượng (ādhipatya) của thức; chính do thức liễu biệt mới có khả năng tránh được các hiểm nạn, thọ dụng các thức ăn. Các công năng thấy sắc v.v... cũng chẳng phải là của cái ǵ khác ngoài thức. Cho nên, yếu tố bất cọng sự[24] đối với các căn mắt, tai v.v... không thể lập thành một tác dụng tăng thượng riêng. Do vậy, không thể căn cứ vào đó mà nói rằng, mắt, tai v.v... là căn.

Nếu vậy th́ thế nào[25]?

/2ab/ Tăng thượng liễu tự cảnh, lập tất cả  sáu căn: Liễu tự cảnh là sáu thức thân. Năm căn mắt, tai, v.v... đối với các thức liễu biệt cảnh riêng biệt[26], có tác dụng tăng thượng; đệ lục ư căn (mana-indriya) đối với thức liễu biệt tất cả cảnh[27], có tác dụng tăng thượng. Cho nên, sáu cơ quan mắt, tai, v.v... đều được lập làm căn.

Ngoại nạn: Màu sắc, âm thanh, v.v... đối với các thức năng liễu biệt cũng có tác dụng tăng thượng, lẽ ra nên lập làm căn?

Nói tăng thượng có nghĩa là tối thắng tự tại.[28] Căn con mắt đối với việc phát khởi nhăn thức[29] là tối thắng tự tại cho nên gọi là tăng thượng; nó là nhơn chung cho các thức liễu sắc[30] và thức tùy thuộc vào[31] căn  mà có sự sáng (paṭu) tối (maṇḍa) khác nhau. Sắc th́ không như vậy; hai bên trái ngược nhau. Cho đến ư căn cũng như vậy.

/2cd/ Từ thân lập hai căn; tăng thượng tánh nữ nam: từ thân (kāyendriya) lại lập hai căn nữ và nam, bởi lẽ đối với tính  nữ, tính nam, chúng có tác dụng tăng thượng. Thể của hai căn nữ nam không tách rời khỏi thân căn; từ một phần của thân, lập nên tên gọi nầy.Theo thứ tự, đối với thân nữ thân nam, hai căn nầy có tác dụng tăng thượng. V́ chúng hơi khác với các phần khác của thân nên lập riêng thành hai căn. Những loại h́nh tướng, âm thanh, nghề nghiệp, chí hướng và sự ưa thích thuộc phái nữ, gọi là tính nữ (strībhāva). Những loại h́nh tướng, âm thanh, nghề nghiệp, chí hướng (abhiprāya) và sự ưa thích, thuộc phái nam, gọi là tính nam. Sự khác nhau về phái tính nầy là do hai căn nữ nam, nên nói rằng hai căn nữ nam có công năng tăng thượng đối với hai loại phái tính.

Văn Tụng.

Hán:

T29n1560-p0312a10 :     

T29n1560-p0312a11 :     

Âm Hán:

            Ư đồng trú tạp nhiễm                        Thanh tịnh tăng thượng cố

Ưng tri mạng ngũ thọ               Tín đẳng lập vi căn[32]

Việt dịch:

Tăng thượng sự tồn tại,       Tạp nhiễm và thanh tịnh

            Nên biết, mạng, năm thọ,    Tín, v.v... lập làm căn /3/.

Luận giải thích:

/3a/.Tăng thượng sự tồn tại : mạng căn có công năng tăng thượng đối với sự tồn tại[33] (trú) của chúng đồng phần.

/3b/. Tạp nhiễm : năm thọ căn lạc, v.v... có công năng tăng thượng đối với các pháp tạp nhiễm.V́ sao biết được? v́ Khế kinh nói: ở trong lạc thọ, tính tham theo đó tăng trưởng; ở trong khổ thọ, tính sân tăng trưởng; trong không khổ không lạc thọ, vô minh (avidyā) tăng trưởng.   

/3b/. và thanh tịnh: năm căn: tín, v.v... có công năng làm tăng trưởng các pháp thanh tịnh. V́ sao như vậy? Bởi do thế lực các căn nầy có khả năng điều phục các thứ phiền năo, dẫn sanh thánh đạo.

/3cd/. Nên biết, mạng, năm thọ, tín, v.v... lập làm căn : nói “nên biết” ư khuyên nên chấp nhận tất cả đều là căn.

Văn Tụng:

Hán:

T29n1560-p0312a12 :     

T29n1560-p0312a13          

Âm Hán:

            Vị đương tri dĩ tri                  Cụ tri căn diệc nhĩ

                Ư đắc hậu hậu đạo                            Niết bàn đẳng tăng thượng.[34]

Việt dịch:

Căn vị đương tri, dĩ tri,          Và cụ tri cũng vậy

            Tăng thượng hậu hậu đạo  Và niết bàn vân vân /4/.

Luận giải thích:

Ba căn vô lậu có công năng tăng thượng đối với hậu hậu đạo[35], niết bàn v.v...    

Nói “cũng vậy” tức theo đó suy ra để thấy tất cả đều là căn.

/4a/.Căn vị đương tri : căn vị tri đương tri[36] có công năng tăng thượng trong việc chứng đắc dĩ tri căn đạo.

/4a/. dĩ tri : căn dĩ tri có công năng tăng thượng đối với việc chứng đắc cụ tri căn đạo.

/4bcd/. Và cụ tri cũng vậy, tăng thượng hậu hậu đạo và niết bàn vân vân : căn cụ tri có công năng tăng thượng đối với việc chứng đắc niết bàn. Tâm chưa giải thoát không thể chứng bát-niết-bàn.    

Chữ “vân vân” chỉ cho các giải thích khác.

Cách giải thích khác là ǵ? Đó là, trong việc đoạn trừ các phiền năo của giai đoạn kiến đạo, căn vị tri đương tri có công năng tăng thượng. Trong việc đoạn trừ các phiền năo của giai đoạn tu đạo, căn dĩ tri có công năng tăng thượng. Trong hiện pháp lạc trú[37], căn cụ tri có công năng tăng thượng; do căn cụ tri nầy mà cảm nhận được những hỷ, lạc ở trong thân giải thoát.

II: PHẾ LẬP CÁC CĂN

1. Hữu Bộ

a. Nếu với nghĩa tăng thượng mà lập làm căn th́, các phẩm loại như vô minh, v.v..., lẽ ra cũng nên lập làm căn. Bởi v́, vô minh, v.v... là nhơn của các quả hành, v.v..., mỗi một thứ đều có công năng tăng thượng[38].

b. Lại nữa, ngữ cụ v.v... nên lập làm căn. Bởi lẽ, ngữ cụ, tay chân, đại tiểu tiện xứ, theo thứ tự, chúng có công năng tăng thượng đối với lời nói, việc cầm nắm, đi đứng, tống khứ, lạc thú[39].

c.Hữu Bộ trả lời: tất cả các thứ đó đều không thể lập làm căn.[40] Bởi lẽ, đă chấp nhận rằng, căn có tướng như vậy:

Văn Tụng.

Hán:

T29n1560-p0312a14 :     

T29n1560-p0312a15 :     

Âm Hán:

            Tâm sở y thử biệt                   Thử trú thử tạp nhiễm

            Thử tư lương thử tịnh            Do thử lượng lập căn [41]

Việt dịch:

Sở y của tâm,  nó khác         nó tồn tại, nó tạp nhiễm

Tư lương của nó, nó tịnh        với số lượng nầy lập căn/5/.

Luận giải thích:

Sở y[42] của tâm là sáu căn mắt, v.v...; sáu nội xứ nầy là những yếu tố căn bản tạo nên hữu t́nh[43]; tướng trạng khác nhau của sáu nội xứ, do hai căn nữ nam tạo nên. Nó* tồn tại trong một thời gian, do mạng căn. Nó* thành tạp nhiễm, do năm thọ căn. Tư lương thanh tịnh[44] của nó* là năm căn tín v.v... Nó*[45] trở thành thanh tịnh[46], do ba căn sau. Do những yếu tố trên, việc lập căn đă được ổn định. Đồng thời, không nên chấp nhận vô minh, v.v... và ngữ cụ, v.v..., được lập làm căn. Bởi lẽ, trong đó, chúng không có công năng tăng thượng.      

2. Dị thuyết.

Lại có các Luận sư khác [47] nói về tướng của căn rằng,

Văn Tụng.

Hán:

T29n1560-p0312a16 :     

T29n1560-p0312a17 :     

Âm Hán:

            Hoặc lưu chuyển sở y            Cập sanh trú thọ dụng

            Kiến lập tiền thập tứ              Hoàn diệt hậu diệc nhiên.[48]

Việt dịch:

            Hoặc sở y của lưu chuyển   Và sanh, trú, thọ dụng

Lập mười bốn căn đầu.          Hoàn diệt sau, cũng vậy/6/.

Luận giải thích:

Chữ “hoặc” được dùng để chỉ cho thấy đây là quan điểm của các Luận sư khác; đó là, căn cứ vào lưu chuyển và hoàn diệt mà thành lập 22 căn.

Sở y của lưu chuyển[49] là sáu căn mắt, v.v.... Sự sinh thành của sáu căn do hai căn nữ nam. Tồn tại do mạng căn dựa vào đây mà tồn tại. Thọ dụng do dựa vào năm thọ thân v́ chúng có sự cảm nghiệm. Căn cứ vào đây, thành lập 14 căn đầu.

Trong hoàn diệt[50] vị, cũng căn cứ vào sự khác nhau của bốn nghĩa nầy, lập thành 8 căn sau:

Sở y của hoàn diệt là năm căn tín, tấn, niệm, định[51], huệ. Trong ba vô lậu, do sơ vô lậu căn nên niết-bàn sanh khởi; do vô lậu căn kế tiếp mà an trụ; do vô lậu căn cuối cùng nên niết bàn được thọ dụng (hiện pháp lạc trú).

Số lượng của các căn, do bốn nghĩa nầy mà thành lập, không thêm không bớt. Tức do nhơn duyên bốn nghĩa nơi lưu chuyển, hoàn diệt, nên trong Kinh đă thành lập 22 căn theo thứ tự.  

*Bác bỏ các quan điểm khác

Ngữ cụ (lưỡi) không thể là căn (tăng thượng) của ngôn ngữ (vāc). Bởi lẽ, phải đợi có sự học hành, ngôn ngữ mới thành tựu.[52]

Tay (pāṇi), chân (pāda) không thể là căn (tăng thượng) của sự cầm nắm, đi đứng, v́ chúng không có tính chất nào khác; nghĩa là chính tay chân khi phát sinh ở vị trí vị trí khác, bằng h́nh thức khác gọi đó là cầm nắm, hay bước đi. Hơn nữa, không cần đến tay chân vẫn có sự cầm nắm, đi đứng; chẳng hạn như các loài ḅ sát. Cho nên, không thể lấy tay chân lập làm căn cho việc cầm nắm, đi đứng được.

Đại tiện xứ (pāyu) không thể lập làm căn cho việc tống khứ khí vật. Bởi lẽ, tất cả các vật nặng, ở giữa không trung, đều phải rơi xuống. Lại nữa, ở đây, do lực của phong tống xuất ra. Xuất tiểu tiện xứ (upastha) không thể lập làm căn cho vấn đề sinh lạc. Bởi lẽ, chính nữ nam căn khởi sinh lạc sự.

*Đặt vấn đề

Các thứ như cổ họng (kaṇṭha), răng (danta), mí mắt (akṣivartman), đốt xương (āṅgulīparvan), có tác dụng hỗ trợ đối với việc nuốt (abhyavaharṇa), nhai (carvaṇa), mở nhắm (unmeṣanimeṣa), co duỗi (saṃkocavikāśa), nên lập làm căn. Hoặc, tất cả các nhơn có khả năng tác động đối với tự sở tác (quả), do đó cũng nên lập làm căn.

*Bác bỏ

Tất cả các thứ đó tuy có tác dụng nhưng chẳng phải là tăng thượng nên không thể lập làm căn. Ở đây, ngữ cụ v.v..., cũng không thể lập làm căn.

III: THỂ CỦA CĂN

Trong 22 căn, tám căn đầu từ căn con mắt v.v.... cho đến nam căn, phần trước đă nói. Mạng căn,  thể là bất tương ưng, sẽ nói đến trong phần pháp bất tương ưng. Năm căn tín v.v..., thể là tâm sở, sẽ nói đến trong phần tâm sở.

Bây giờ, nói về năm thọ thân và ba căn vô lậu.

1.Năm thọ thân.

Văn Tụng.

Hán:

T29n1560-p0312a18 :     

T29n1560-p0312a19 :     

T29n1560-p0312a20 :     

Âm Hán:

            Thân bất duyệt danh khổ        Tức thử duyệt danh lạc

            Cập tam định tâm duyệt        Dư xứ thử danh hỷ

            Tâm bất duyệt danh ưu          Trung xả nhị vô biệt[53]

Việt dịch:

            Thân không vui là khổ.        Thân vui gọi là lạc

Và tâm vui tam định.              Cơi khác gọi là hỷ /7/.

Tâm không vui là ưu.  Trung xả, hai không khác /8ab/.

Luận giải thích:

Thân, đây chỉ thân thọ, v́ thọ y trên thân mà khởi; tức các loại cảm thọ tương ưng với năm thức.

Không vui[54]: nói không vui có nghĩa là tổn năo (upaghātikā). Trong các loại cảm thọ của thân, cái gây nên sự tổn năo được gọi là khổ căn.

Vui[55]: có nghĩa là nhiếp ích. Trong các loại cảm thọ của thân, cái có khả năng nhiếp ích được gọi là lạc căn.

Và tâm vui tam định: ở đệ tam định, cảm thọ tương ưng với tâm, có khả năng nhiếp ích cũng được gọi là lạc căn. Ở đệ tam định không có thân thọ v́ năm thức thân không tồn tại; ở đó, tâm vui gọi là lạc.

Các cơi khác: chính trạng thái vui nầy của tâm, trừ đệ tam thiền, ở ba cơi dưới, được gọi là hỷ căn[56]. Ở đệ tam thiền, tâm vui, yên tịnh, không c̣n hỷ tham, nên gọi là lạc căn. Ba cơi dưới, tâm vui vẻ, thô động, c̣n có hỷ tham nên gọi là hỷ căn.

Cảm thọ tương ưng ư thức, gây tổn năo,  là tâm không vui; thọ đó được gọi là ưu căn

Trung xả: Trung là chẳng phải vui, chẳng phải không vui, tức cảm thọ không khổ không vui. Cảm thọ không khổ không vui nầy gọi là xả căn.

Hai không khác: như vậy, xả căn thuộc thân thọ hay tâm thọ?

Nên nói, thông cả hai.

V́ sao hai loại cảm thọ vui và không vui lại lập chung thành một căn?

Bởi lẽ, hai loại cảm thọ nầy, ở nơi thân hay tâm không có sự phân biệt. Tại tâm, sự khổ vui phần lớn đều do sự phân biệt sinh ra. Tại thân,  không như vậy, chỉ do sức tác động của cảnh tạo nên. A la hán v.v... [57] sinh khởi năm loại cảm thọ cũng như vậy. Do đó, khi lập căn khổ lạc ở thân và tâm có sự khác biệt. Xả thọ vốn không phân biệt, sinh khởi tự nhiên, cho nên khi lập căn, tại thân tại tâm được hợp thành một; hơn nữa, cảm thọ khổ vui, nơi thân, nơi tâm hoặc tổn năo hoặc nhiếp ích, trạng thái khác nhau nên lập thành căn riêng biệt. Xả thọ, nơi thân hay tâm đều không phân biệt, chẳng phải tổn năo cũng chẳng phải nhiếp ích, trạng thái không khác nhau nên lập chung một căn.

2.Ba căn vô lậu:

Văn Tụng.

Hán:

T29n1560-p0312a21       

Âm Hán:

            Kiến tu vô học đạo                Y cửu lập tam căn.[58]

Việt dịch:

                Ba đạo kiến tu và vô học.     Nương chín, lập ba căn /8cd/.

 

Luận giải thích:

/8cd/ Ba đạo kiến tu và vô học,  nương chín, lập ba căn:

Nương chín căn gồm ư, lạc, hỷ, xả và năm căn tín v.v..., ở trong ba đạo, theo thứ tự, lập thành ba căn vô lậu; đó là tại kiến đạo, dựa vào chín căn nầy, lập vị tri đương tri căn; tại tu đạo, dựa vào chín căn nầy, lập dĩ tri căn; tại vô học đạo, cũng dựa vào chín căn nầy, lập cụ tri căn.

Ba tên gọi đó, căn cứ vào đâu mà lập nên?

Đó là, tại kiến đạo vị,  đều có những cái chưa từng biết, nay có hành tướng đang biết chuyển khởi, gọi đó là vị tri đương tri căn[59]. Tại tu đạo, không có cái chưa từng biết, chỉ đoạn trừ các tùy miên c̣n lại, với chính cảnh giới ấy thường xuyên liễu tri  nên gọi đó là dĩ tri căn[60]. Tại vô học đạo, biết ḿnh đă biết, nên gọi là tri; có được cái biết nầy nên nói là cụ tri.[61] Hoặc huân tập cái biết nầy thành tánh nên gọi là cụ tri[62]. Nghĩa là do chứng đắc tận trí và vô sanh trí, nên tự biết một cách như thật rằng, ta đă biết cùng tận sự khổ, không c̣n ǵ để biết thêm nữa; như vậy mà nói rộng ra với ba Thánh đế c̣n lại. Các căn đó gọi là vị tri đương tri, v.v....

Như vậy, giải thích xong về thể khác nhau của các căn.

IV: CÁC ĐẶC TÍNH DỊ BIỆT

1. Hữu lậu, Vô lậu.

Tiếp đến, bàn luận các đặc tính dị biệt. Trong 22 căn, bao nhiêu căn thuộc hữu lậu, bao nhiêu căn thuộc vô lậu?

Văn Tụng:

Hán:

T29n1560-p0312a22 :       

T29n1560-p0312a23 :     

Âm Hán:

            Duy vô lậu hậu tam                Hữu sắc mạng ưu khổ

            đương tri duy hữu lậu            Thông nhị dư cửu căn [63]

Việt dịch:

            Ba sau cùng vô lậu              Hữu sắc, mạng, ưu, khổ

            Nên biết, là hữu lậu      Cả hai, chín căn c̣n lại /9/.

 

Luận giải thích:

/9a/Ba sau cùng vô lậu: tiếp đến, như trước đă nói, thể của ba căn sau cùng là vô lậu. Vô lậu (anāsrava) có nghĩa là vô cấu (amala). Cấu cùng với lậu tuy tên gọi khác nhau nhưng thể th́ giống nhau.

/9bc/Hữu sắc, mạng ưu khổ,           nên biết là hữu lậu:  hữu sắc (rūpī) là bảy sắc căn. Bảy sắc căn nầy và các căn mạng, ưu, khổ hoàn toàn là hữu lậu. Bảy hữu sắc gồm năm căn mắt v.v... và hai căn nữ nam nhiếp thuộc sắc uẩn.

/9d/.Cả hai, chín căn c̣n lại: các căn ư, lạc, hỷ, xả và năm căn tín v.v...; chín căn nầy đều thông cả hữu lậu và vô lậu.

Có các Sư khác[64] nói, năm căn tín v.v... duy chỉ thuộc vô lậu, cho nên đức Thế tôn nói, “Nếu hoàn toàn[65] không có năm căn tín v.v..., Ta nói rằng, chúng sanh đó thuộc hàng ngoại dị sanh.”[66]

Đoạn Kinh nầy không phải là chứng cứ trung thực (jñāpaka); đó chỉ là căn cứ vào vô lậu căn nên nói như vậy.

Làm sao biết?

Bởi v́, đầu tiên, căn cứ vào năm căn vô lậu, tín v.v..., kiến lập các thánh vị khác nhau, nói câu trên; sau đó, lại nói hoặc các loài dị sanh có hai loại- một, nội[67]; hai, ngoại[68]. Nội chỉ cho chúng sanh không đoạn thiện căn. Ngoại chỉ cho chúng sanh mà thiện căn đă đoạn. Ở đây, căn cứ vào ngoại dị sanh, nên nói, “Nếu hoàn toàn không có năm căn tín v.v..., Ta nói chúng sanh kia thuộc hàng ngoại dị sanh.” Lại nữa,  Khế kinh nói, “Có các chúng sanh sống ở thế gian hoặc sinh ra, hoặc lớn lên đều có các căn tín v.v..  ở các mức độ thượng trung hạ khác nhau.” Đây là lúc đức Thế tôn chưa chuyển pháp luân. Cho nên biết rằng, các căn tín v.v.... thông cả hữu lậu và vô lậu. Lại nữa, đức Thế tôn nói, “Ta nếu đối với năm căn tín v.v... mà chưa biết một cách như thật rằng đây là sự tập khởi, là sự diệt tận; là vị ngọt; là tai hoạ; là sự xuất ly[69] th́ Ta chưa thể ra khỏi thế gian thiên nhơn, ma phạm v.v..., cho đến chưa thể chứng được quả vị bồ đề vô thượng chánh đẳng.” Cho đến nói rộng ra. Các phẩm loại được quán sát như vậy, chẳng phải là pháp vô lậu. Cho nên biết rằng, năm căn tín v.v..., thông cả hữu lậu và vô lậu.

2. Dị thục, Phi dị thục.

Trong 22 căn, bao nhiêu căn là dị thục, bao nhiêu căn chẳng phải dị thục?

Văn Tụng:

Hán:

T29n1560-p0312a24 :     

T29n1560-p0312a25 :     

Âm Hán:

            Mạng duy thị dị thục              Ưu cập hậu bát phi

            Sắc ư dư tứ thọ.                      Nhất nhất giai thông nhị.[70]

Việt dịch

Mạng căn là dị thục               Ưu và tám đều không

Sắc, ư và bốn thọ                    Tất cả  đều thông hai /10/.    

 

Luận giải thích:                    

/10a/.Mạng căn duy dị thục: duy nhất mạng căn quyết định là dị thục.

Nếu như vậy, khi chư vị A-la-hán lưu đa thọ hành[71], chính thọ hành nầy là mạng căn, mạng căn như vậy, cái ǵ là dị thục?

1. Chánh tông (trả lời):

a. Vị thứ nhất: như Bổn luận[72] nói, “Thế nào là t́-kheo lưu đa thọ hành?

Đó là vị A-la-hán thành tựu thần thông, tâm được tự tại, hoặc đối với tăng chúng[73] hoặc đối với từng cá nhân khác, đem các thứ phương tiện của đời sống như y bát v.v..., tùy phần bố thí. Bố thí rồi phát nguyện. Phát nguyện rồi liền nhập đệ tứ biên tế[74] tịnh lự . Từ định khởi, tâm nghĩ miệng nói, nguyện cho những ǵ[75] là nghiệp có khả năng dẫn đến dị thục thọ dụng của tôi[76] chuyển thành quả dị thục thọ mạng. Bấy giờ, nghiệp có khả năng dẫn đến dị thục thọ hưởng[77] kia liền chuyển thành quả dị thục thọ mạng.”[78] 

b. Vị thứ hai: V́ muốn thâu nhận trở lại quả dị thục tàn dư trong nghiệp đời trước,vị kia nói: Những dị thục tàn dư nào của nghiệp mà tôi đă lănh thọ trong đời trước, nay bằng năng lực của định biên tế đă được tu tập mà thâu nhận thọ dụng trở lại.”[79]

Thế nào là t́ kheo xả đa thọ hành?

Đó là vị A-la-hán thành tựu thần thông, tâm được tự tại, đối với tăng chúng v.v..., mà bố thí như trước. Bố thí xong phát nguyện, rồi nhập đệ tứ  tịnh lự biên tế. Từ định khởi, tâm nghĩ miệng nói, những ǵ là nghiệp có khả năng dẫn đến dị thục thọ mạng, nguyện cho thảy đều chuyển thành quả dị thục dẫn đến thọ dụng.  Bấy giờ, cái nghiệp dẫn đến dị thục thọ mạng kia liền chuyển thành quả dị thục thọ dụng.

Tôn giả Diệu âm[80] nói rằng: “Các vị  A-la-hán kia khởi đệ tứ biên tế định lực, dẫn đưa đại chủng của sắc giới khiến chúng hiện hữu trong thân; đại chủng đó hoặc thuận thọ hành hoặc nghịch thọ hành. Do nhơn duyên như vậy mà hoặc lưu thọ hành hoặc xả thọ hành.”

2.Quan điểm khác (trả lời)

Nên nói như thế nầy[81], vị A-la-hán kia do lực tam-ma-địa tự tại này, chuyển cái thế phần tồn tại của các căn đại chủng đă có được do bởi nghiệp lực đời trước, rồi dẫn khởi và chấp thủ thế phần tồn tại của các căn đại chủng chưa từng được khởi lên do định lực. Cho nên, mạng căn nầy chẳng phải là dị thục.[82] Tất cả các thế phần c̣n lại đều là dị thục.

Từ chỗ đă bàn mà nói thêm rằng[83], với nhơn duyên ǵ, các vị A-la-hán kia lưu đa thọ hành? Đó là, v́ sự lợi ích, an lạc cho chúng sanh; hoặc v́, muốn làm cho Thánh giáo tồn tại lâu dài, quán sát tự thân, thọ hành sắp chấm dứt; quán sát tha nhơn không có khả năng làm hai việc nầy.

Lại nữa, do nhơn duyên ǵ mà xả đa thọ hành?

Các vị A-la-hán kia tự xem xét sự hiện hữu của bản thân ở thế gian đem lại lợi ích an lạc cho tha nhân quá ít ỏi; hoặc v́ các thứ khổ bức thân như bệnh v.v.... Như có bài tụng nói rằng:

Hán:

梵  行  妙  成  立                   聖  道  以  善  修

壽  盡  時  歡  喜                   由  如  捨  眾  病

Âm hán :

Phạm hạnh diệu thành lập      Thánh đạo dĩ thiện tu

Thọ tận thời hoan hỷ                                         Do như xả chúng bệnh.

Việt dịch :

Người tŕ giới tinh nghiêm   Khéo tu tập Thánh đạo

Hoan hỷ khi mạng hết                      Như xa rời các bệnh.

*Hỏi về nơi chốn và người:

Nên biết, trong đó, y cứ vào chỗ nào, và ai là người có khả năng lưu xả thọ hành như thế?

Đó là ở ba châu,[84] trong thân phần nam nữ,[85] A-la-hán hạng bất thời giải thoát[86], chứng đắc biên tế định; do trong thân các vị có định tự tại nên không có phiền năo.

Kinh nói: “Thế tôn lưu đa mạng hành, xả đa thọ hành.” Thế th́ mạng hành thọ hành khác nhau thế nào?[87]

a. Có quan điểm cho rằng, không khác nhau. Như Bản luận nói, “Thế nào gọi là mạng căn? Đó là thọ mạng trong ba cơi.”

b. Có các Luận sư khác nói, nghiệp quả đời trước gọi là thọ hành, nghiệp quả hiện tại gọi là mạng hành. [88] 

c. Có thuyết cho rằng, do mạng căn nầy khiến chúng đồng phần tồn tại gọi là thọ hành; do mạng căn nầy khiến chúng đồng phần tồn tại tạm thời gọi là mạng hành.[89]

Chữ “đa” có ba giải thích:

a.Ư nhằm hiển bày lưu và xả mạng hành và thọ hành trong nhiều niệm (sát-na), chứ chẳng phải là trong một sát-na mà mạng hành và thọ hành có sự lưu hay xả vậy.

b. Có thuyết, chữ “đa” (trong lưu đa thọ hành) nầy là ngăn chận quan điểm cho rằng, có một thật thể là mạng thọ tồn tại trải qua nhiều thời gian.

c. Có thuyết, chữ “đa” nầy là hiển bày không có một thật thể mạng thọ, chỉ dựa vào “đa hành” giả lập hai tên gọi thọ mạng như vậy. Nếu không như thế, th́ không nên dùng chữ “hành.”

Đức Thế tôn v́ lư do ǵ mà xả đa thọ hành, lưu đa mạng hành?

Nhằm để hiển bày đối với sự ”chết” có được tự tại cho nên xả đa thọ hành; để hiển bày đối với sự sống có được sự tự tại nên lưu đa thọ hành. Và chỉ kéo dài trong ba tháng, không thêm, không bớt. Vượt quá ba tháng th́ không c̣n điều ǵ để giáo hoá nữa (hoá sự); ít hơn ba tháng thời sự lợi sanh chưa được trọn vẹn. Để xác nhận điều đă được tuyên bố trước đó, đức Thế tôn nói rằng, “Ta khéo tu hành bốn thần túc cho nên muốn kéo dài mạng sống một kiếp, hoặc hơn một kiếp, như tâm mong muốn, liền được kéo dài.”[90]

Các Luận sư Tỳ bà sa nói,[91] v́ để hiển bày,  hiện tại có khả năng nhiếp phục[92] hai loại ma uẩn và tử; trước kia ở dưới cây bồ đề, đức Thế tôn đă nhiếp phục thiên ma và phiền năo ma rồi vậy.

Bàn luận rộng ra đă nhiều, nay trở về phần chính.

/10b/ Ưu và tám đều không: ưu căn và tám căn sau, tín v.v... đều chẳng phải là dị thục. V́ là hữu kư vậy.

/10cd/ Sắc, ư và bốn thọ tất cả  đều thông hai.

C̣n lại thông cả hai; đó là 12 căn gồm, bảy sắc căn, ư căn, trừ ưu, bốn thọ c̣n lại, mỗi mỗi đều thông cả hai loại dị thục và chẳng phải dị thục.

Bảy sắc căn, nếu là sở trưởng dưỡng th́ chẳng phải là dị thục; ngoài ra là dị thục.

Ư căn và bốn thọ căn, nếu thuộc thiện nhiễm ô, oai nghi lộ, công xảo xứ và năng biến hoá, tuỳ theo chỗ ứng hợp, chẳng phải là dị thục; ngoài ra là dị thục.

(Ngoại nạn): Nếu ưu căn chẳng phải là dị thục th́ đối chiếu với Kinh nầy, làm sao thông hợp? Kinh nầy nói, “Có ba loại nghiệp: thuận hỷ thọ nghiệp,[93] thuận ưu thọ nghiệp, thuận xả thọ nghiệp.”

Căn cứ vào sự tương ưng với thọ mà nói thuận th́ không có ǵ trái ngược; nghĩa là, nghiệp tương ưng với ưu nên nói là thuận ưu thọ nghiệp. Cũng giống như, xúc tương ưng với lạc nói là thuận lạc thọ xúc.[94]

Nếu vậy th́, thuận hỷ, thuận xả thọ nghiệp cũng nên như vậy.[95]

V́ chỉ một Kinh nói[96] nên, tuỳ theo ư Ông, với tôi không có ǵ trái ngược; dị thục hay tương ưng, về lư đều không có lỗi.

(Nạn tiếp) Không thể giải thích được nên đành phải giải thích như vậy; thực sự, về lư, căn cứ vào đâu để cho rằng, ưu chẳng phải là dị thục[97].

(Hữu Bộ giải thích)  V́ ưu do sự phân biệt sai biệt[98] mà có; và ưu chấm dứt cũng như vậy. Với dị thục th́ không.

(Ngoại nạn) Nếu nói vậy, hỷ căn cũng không phải là dị thục. Bởi lẽ cũng do phân biệt sai biệt mà có; và chấm dứt cũng như vậy.

(Hữu Bộ phản nạn) Nếu cho rằng, ưu căn là dị thục, khi đă tạo nghiệp vô gián, nhân