NÚI HỒNG LĨNH

Nơi nuôi dưỡng ḷng Từ Bi của thi hào Nguyễn Du

                                                            

THÍCH PHƯỚC AN

 

- I -

N

ếu hai câu thơ chữ Hán được biết đến nhiều nhất của Nguyễn Du:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Chẳng biết hơn ba trăm năm sau này

Thiên hạ có ai người khóc Tố Như chăng?

(Độc tiểu thanh kư)

Là tiếng thở dài tuyệt vọng trước cái chết, th́ hai câu trong bài Mỵ Trung Mạn Hứng (Cảm hứng lan man trong tù), lại nói lên hết tất cả nỗi cô độc của Nguyễn Du ngay giữa thời đại mà thi nhân đang sống:

            Ngă hữu thốn tâm vô dữ ngữ

            Hồng Sơn sơn hạ Quế Giang lâm

            Ta có tấc ḷng không biết nói cùng ai

            V́ nó sâu thẳm như nước sông Lam dưới chân núi Hồng Lĩnh

Nhưng làm sao ta có thể biết được tấc ḷng của Nguyễn Du? Hay nói một cách dễ hiểu hơn là Nguyễn Du ôm cái hoài băo ǵ cho cuộc đời để khiến cho thi nhân phải cô độc như vậy?

Nguyễn Nễ, anh cùng cha cùng mẹ với Nguyễn Du, lúc bấy giờ đang làm quan cho triều đ́nh Tây Sơn với chức Hàn Lâm Viện Thị Thư, năm 1790 lại sung làm phó sứ đi cùng với vua Quang Trung (giả) sang Trung Quốc chầu vua Càn Long của nhà Thanh. Khi trở về nước (1791) lại được thăng chức Nghi Thành Hầu. Trong cảnh vinh hiển đó, Nguyễn Nễ chạnh ḷng nhớ đến Nguyễn Du, người em có “chí cỡi mây” của ḿnh, không biết hiện đang lưu lạc ở nơi nào? Nguyễn Nễ liền có thư gởi em:   

Tố Như hà xứ trú

Linh lạc tối kham ai,

Tự hữu lăng vân chí

Hoàn vô thiệp thế tài

Tố Như ở nơi nào?

Lưu lạc thật đáng thương

Người vốn có chí cỡi mây

Nhưng lại không có tài giao thiệp với đời![1]

Nguyễn Du vốn không ưa Tây Sơn và đă ra mặt chống đối. Gia phả có chép năm 1789 Nguyễn Du định theo Lê Chiêu Thống sang Trung Quốc nhưng không kịp. Ở đây, ta không bàn đến việc Nguyễn Du chống Tây Sơn là đúng hay sai. Một người như Nguyễn Du tất nhiên phải có cái lư riêng của ḿnh trong việc chống đối nhà Tây Sơn. V́ thực ra, lịch sử cổ kim cho ta thấy, không có triều đại nào hay chế độ chính trị nào đều là hoàn hảo cả, và hễ ai chống đối Tây Sơn, đều là “phản động” hết, như có một số sử gia thời “bao cấp” đă từng làm như vậy.

Nhưng chống đối Tây Sơn thế có nghĩa là Nguyễn Du trung thành với nhà Lê?

Thực ra, đó chỉ là lối suy nghĩ của các nhà Nho “hương nguyện” của thời xưa và một số nhà mô phạm quá nô lệ vào trường ốc của thời bấy giờ thôi, chứ người mà đă được ca tụng là: “Có cái con mắt trông suốt cả sáu cơi, tấm ḷng nghĩ suốt cả ngh́n đời” th́ đâu có làm cái việc quá tầm thường như vậy.

V́ trong một bài thơ Nguyễn Du đă gọi những người trung thành với một triều đại hay một cá nhân nào đó là những kẻ ngu trung:

Bá đồ dẫn diệt thiên niên hậu

Cổ mộ hoàn lương tam xích thu

Đa thiểu nhất tâm trung sở sự

Mỗi vi thiên hạ tiếu kỳ ngu

Nghiệp bá tiêu tan đă ngh́n năm rồi

Nấm mộ cổ ba thước hoang lạnh trong mùa thu

Bao nhiêu kẻ một ḷng trung thành với người ḿnh thờ

Thường bị người đời cười ḿnh ngu[2]

                                                            (Á phụ mộ)

Cũng vậy, khi Nguyễn Du đứng nh́n ḍng sông Vị Hoàng, nơi mà vào năm 1786 Nguyễn Huệ đă kéo quân ra Thăng Long, lật đổ chúa Trịnh sau 216 năm trị v́ ở ngôi chúa, và hai năm sau 1788 th́ nhà Lê cũng sụp đổ theo. Nhưng với “cái ḷng nghĩ suốt ngh́n đời” Nguyễn Du đă viết:

            Cổ kim vị kiến thiên niên quốc

            H́nh thế không lưu bách chiến danh

            Mạc hướng thanh hoa thôn khẩu vọng

            Điệp Sơn bất cải cựu thời thanh

            Xưa nay ta chưa từng thấy triều đại nào bền vững ngh́n năm

            H́nh thể c̣n để lại cái tiếng trăm trận trăm thắng.

            Thôi đừng nh́n về cửa sông thôn Thanh Hoa nữa

            Dăy núi Điệp Sơn vẫn không đổi sắc xanh thuở trước[3]

                                                            (Vị hoàng doanh)

Như vậy, đối với Nguyễn Du, sắc xanh của núi Tam Điệp, tức là tiêu biểu cho cái đẹp vĩnh cửu vẫn quan trọng hơn là những sự thịnh suy của các triều đại, hay sự thay ngôi đổi chủ mà Nguyễn Du đang là nhân chứng mà cũng là nạn nhân của cuộc đổi thay này nữa. Ngay cả khi bất đắc dĩ phải ra làm quan, ông vẫn bướng bỉnh khinh bỉ thứ lợi danh mà hầu như thời nào con người cũng thèm muốn, thèm muốn đến nỗi phải đánh mất phẩm giá của ḿnh:

            Vô bệnh cố vô câu

            Không bệnh mà lưng vẫn khom khom

Câu trên được trích trong bài Thu Chí (Thu đến), được Nguyễn Du sáng tác trong những năm phục vụ cho triều Nguyễn ở Phú Xuân.

Vậy th́, tấc ḷng hay hoài băo của Nguyễn Du là ǵ?

Một nhà nghiên cứu Nguyễn Du ở thời hiện đại đă giải đáp:

“… Tâm sự Nguyễn Du vào thời điểm đó, lúc ông viết Thanh Hiên, th́ bất quá cũng như tâm sự của bao nhiêu nhà thơ cổ của Việt Nam và Trung Quốc dưới các triều đại phong kiến suy tàn, xă hội loạn lạc. Nghĩa là buồn chán, sầu mộng, bất lực và muốn đi ở ẩn, nghĩa là muốn xa lánh đời sống ô trọc để giữ lấy thanh cao trong nhân cách của ḿnh. Nhưng ở Nguyễn Du th́ cái đó có phần sâu sắc hơn, dằn vặt hơn và được nói ra thành thật hơn, xúc động hơn…”[4]

Ở đây, không nói đến đúng hay sai trong lời giải đáp đó, v́ thực ra cũng chẳng có một tiêu chuẩn nào để nói đúng hay sai trong tinh thần thi ca. Nhưng theo tôi, cách giải thích như thế đă vô t́nh đánh mất sự vĩ đại của hai câu thơ, đó là chưa muốn nói có cái ǵ mâu thuẫn trong cách lập luận này của giáo sư Mai Quốc Liên v́ nếu “bất quá cũng như tâm sự của bao nhiêu nhà thơ cổ điển khác của Việt Nam và Trung Quốc dưới các triều đại phong kiến suy tàn, xă hội loạn lạc…” th́ như vậy có nghĩa là rất có nhiều nhà Nho cùng mang nỗi buồn đó chứ đâu phải chỉ một ḿnh Nguyễn Du, để đến nỗi Nguyễn Du phải than không có người để bày tỏ tấc ḷng.

Có một bài thơ mà tôi nghĩ là có thể thấy được phần nào tấc ḷng và hoài băo của Nguyễn Du:

            Ngă vọng Lam giang đầu,

            Thốn tâm thường chủy

            Thường khủng nhất thất túc,

            Cốt một vô để chỉ.

            Như hà thế gian nhân,

            Thừa hiểm bất tri úy.

            Khứ giă hà thao thao

            Lai giả thường vị dĩ.

            Đế đức bản hiếu sanh

            Na đắc thường như thị.

            Nghĩ khu Thiên Nhẫn Sơn

            Điều b́nh ngũ bách lư…

            … Ta nh́n ra sông Lam

            Tấc ḷng thường lo ngại

            Chỉ sợ lỡ sẩy chân

            Ngập ch́m không nổi lại.

            Cớ sao người thế gian

            Nguy hiểm không sợ hăi

            Người trước ào ào đi

            Người sau ùn ùn tới

            Ḷng trời vốn thương người

            Cớ sao để thế măi.

            Mong xô Thiên Nhẫn kia

            Lấp bằng sông Lam lại

                                                (Đào Duy Anh dịch)

Con người của chúng ta kể cũng lạ, bản chất th́ vốn “tham sanh úy tử”, nhưng hễ nơi nào có lợi danh (dù là bèo bọt) th́ lập tức lao đầu vào như con thiêu thân, mà không hề nghĩ đến hậu quả thê thảm sẽ xảy ra, thật tội nghiệp làm sao!

Nhưng Nguyễn Du không hề trách giận sự ngu si ấy, mà giống như người cha trong Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa, chỉ mong sao cho những đứa con ham chơi của ḿnh thoát khỏi ngôi nhà đang bốc cháy dữ dội ấy: “Đại trưởng giả thấy lửa dữ bốn phía dậy lên th́ hết sức kinh sợ, nghĩ rằng dầu ta có thể do nơi cái cửa lớn của ngôi nhà đang cháy này mà thoát ra một cách an toàn, nhưng các con ta th́ ở trong nhà cửa như vậy mà vẫn ham chơi giỡn, không hay không biết, không kinh sợ…” (HT Trí Quang dịch).

Những câu:

            Ta nh́n ra sông Lam

            Tấc ḷng thường lo ngại

            Chỉ sợ lỡ sẩy chân

            Ngập ch́m không nổi lại

            Cớ sao người thế gian

            Nguy hiểm không sợ hăi.

Chắc chắn phải mang âm hưởng từ ḷng từ bi vô hạn của người cha trong Kinh Pháp Hoa, và có thể là cả Hoa Nghiêm nữa:

“… Thiện Tài đồng tử, trong lúc đang tham quan thành phố Ca Tỳ La Vệ để học Đạo nơi người con gái họ Thích. Thiện Tài tự giới thiệu ḿnh với vị thiên thần ở hội trường của Bồ Tát: “Thưa Thánh giả, tôi t́m thấy niềm vui tuyệt vời khi đi dập tắt ngọn lửa phiền năo thiêu đốt chúng sanh. Tại sao thế? Bồ Tát khi lên đường, khi bước vào Thánh Đạo, không phải như đang đi dạo trong một hoa viên tráng lệ. Bồ Tát khởi hành từ một tấm ḷng thương cảm xót xa, vô cùng xót xa, v́ trái tim rung động trước vô vàn thống khổ của chúng sanh. Thiện Tài nói tiếp: “Thưa Thánh giả, v́ tất cả chúng sanh đang bị nhận ch́m trong biển đời với vô lượng thống khổ, nên chư Bồ Tát dấy lên mối thương cảm, phát khởi đại nguyện muốn ôm trọn cả thế giới vào ḷng…” (Tuệ Sỹ – Thắng Man giản luận).

Nguyễn Du vốn được hun đúc từ truyền thống Phật giáo Đại Thừa, đă từng tŕ tụng Kim Cang Bát Nhă đến hơn cả ngàn lần. Như vậy tất nhiên Pháp Hoa và Hoa Nghiêm cũng phải được Nguyễn Du tŕ tụng hàng ngày.

Núi Thiên Nhẫn và sông Lam vẫn c̣n đó, nhưng t́nh thương bao la tỏa ra từ cơi thơ của Người c̣n quan trọng hơn cả việc xô núi lấp sông kia nữa.

T́nh thương đối với sự thống khổ của con người, và lúc nào cũng mang một khát vọng là làm sao cho con người thức tỉnh trước muôn vàn thống khổ đó! Phải chăng đó là tấc ḷng, là hoài băo của Nguyễn Du?

Nhưng làm sao để giải bày, và ai là người để thi nhân tâm sự?

            Đại địa xứ xứ giai Mịch La

            Trên mặt đất này đâu đâu cũng là ḍng sông Mịch La

Chẳng phải thi nhân đă một lần thốt lên một cách đau đớn như vậy sao?

 

 

- II -

Vào một ngày mà có lẽ ḷng của Nguyễn Du cũng mang nặng những ưu sầu như mùa thu buồn bă đang đến trên kinh thành Phú Xuân này, v́:

            Khả liên bạch phát cung khu dịch

            Khá thương ḿnh đầu bạc rồi mà vẫn phải chịu để người ta sai khiến

Từ một tâm trạng như vậy, Nguyễn Du vọng về một ngôi chùa cổ ở trên núi Thiên Thai. Dù chùa chỉ cách có một ḍng sông thôi mà Nguyễn Du cảm thấy như không thể nào có thể đến được. Đến không được, không phải v́ đường xa, mà có lẽ xa v́ tâm lư th́ đúng hơn, v́ khi đứng nh́n ngôi chùa ẩn trong mây trắng rồi cúi xuống nh́n lại thân phận bi thảm của chính ḿnh, Nguyễn Du như cảm thấy hổ thẹn với những ǵ trên cao kia…

            Cổ tự thu mai hoàng diệp lư

            Tiên triều tăng lăo bạch vân trung

            Khả liên bạch phát cung khu dịch

            Bất dữ thanh sơn tương thủy chung

Mùa thu, chùa cổ như vùi trong lá vàng

Vị sư triều trước già trong mây trắng

Khá thương ḿnh đầu bạc rồi mà vẫn phải chịu để người sai khiến

Không cùng với núi xanh giữ được niềm thủy chung

Ngôi chùa ấy theo Đào Duy Anh là ngôi chùa Thiền Tôn ở cố đô Huế hiện nay.

Vậy xin được trích lại toàn bài dưới đây để chúng ta cùng hănh diện v́ ngôi tổ đ́nh đă được thi hào Nguyễn Du đến chiêm bái cách đây gần 200 năm. Ngôi tổ đ́nh mà một Thiền sư Việt Nam (Liễu Quán) đă khai mở ḍng Thiền không chỉ ảnh hưởng ở đàng trong vào thời đó nhờ trút bỏ được bớt màu sắc Phật Giáo Trung Quốc và đào sâu vào đời sống của dân tộc, mà cho đến ngày nay ḍng Thiền đó vẫn phát triển mạnh mẽ không chỉ ở tại miền Trung mà vào đến tận miền Nam nữa.

            Thiên Thai sơn tại đế thành đông

            Cách nhất điền giang tự bất không.

            Cổ tự thu mai hoàng diệp lư

            Tiên triều tăng lăo bạch vân trung

            Khả liên bạch phát cung khu dịch

            Bất dữ thanh sơn tương thủy chung.

            Kư đắc niên tiền tằng nhất đáo

            Cảnh Hưng do quải cựu thời trung

            Núi Thiên Thai ở phía Đông hoàng thành

            Cách một ḍng sông dường như không đến được

            Mùa thu, chùa cổ như vùi trong lá vàng

            Vị sư triều trước già trong mây trắng

            Khá thương ḿnh đầu bạc rồi vẫn phải chịu để người sai khiến

            Không cùng với núi xanh giữ được niềm thủy chung.

            Nhớ năm trước ta từng một lần đến đây

            C̣n thấy có treo quả chuông đúc thời Cảnh Hưng ngày xưa

                                                (Vọng Thiên Thai tự)

Khi dịch bài thơ này, dịch giả Ngô Linh Ngọc có chú thích câu Cảnh Hưng do quải cựu thời trung, như sau: “Cảnh Hưng niên hiệu Lê Hiến Tông (1740 – 1787) câu này có một thoáng hoài niệm triều Lê, nhưng ở Nguyễn Du sự hoài niệm này bao giờ cũng là một sự hoài niệm về một quá khứ đă qua và không bao giờ trở lại nói chung, không chỉ là một sự hoài niệm một triều đại”[5].

Chú thích như vậy theo tôi là rất đúng với tinh thần thi ca, v́ nếu Nguyễn Du chỉ hoài niệm triều Lê thôi th́ ngày nay đă không ai đọc thơ Nguyễn Du nữa rồi. Thứ hoài niệm của Nguyễn Du phải được hiểu trong tinh thần hoài niệm mà Rainer Maria Rilke, thi sĩ của nước Đức đă nói rằng rất cần thiết cho bất cứ một con người sáng tạo nào, v́ chỉ trong hoài niệm th́ ta mới có dịp đi vào sâu thẳm trong chính tâm hồn của chúng ta, như lời khuyên của Rilke cho một thi sĩ trẻ tuổi:

“… Dù ngay lúc ông đang ở nhà tù đi nữa, giữa những vách tường bưng bít không để lọt vào những tiếng động của thế gian, phải chăng ngay lúc đó trong ḷng ông vẫn luôn luôn c̣n lại tuổi thơ bé bỏng của ông, kho tàng vương giả quư báu, sự giàu sang tuyệt vời, chất chứa bao nhiêu là kỷ niệm? Hăy hướng tâm tư ông vào đó. Hăy cố gắng làm tuôn chảy ào ạt lại những cảm giác ẩn ch́m phát nguồn từ dĩ văng bao la đó…”[6].

Thế giới thi ca của Nguyễn Du chừng như lúc nào cũng tràn ngập trong hoài niệm như vậy:

            Sông nhăn trừng trừng không tưởng tượng

            Hai mắt trừng trừng luống tưởng nhớ lại chuyện cũ…

Nhưng cái chuyện cũ ấy chỉ toàn là những mảnh đời ly tán, những đau khổ và bất hạnh thôi, th́ có thể nào gọi là “sự giàu sang tuyệt vời” hay “vương giả quư báu” không?

Ta có thể giả thuyết như thế này: nếu một con người đang thoả măn với những ǵ mà người ấy đang có như địa vị hay tài sản chẳng hạn th́ làm sao họ c̣n biết nghĩ đến sự đau khổ của người khác, v́ chắc chắn trái tim của họ đă trơ lỳ mọi cảm giác rồi. Chỉ có những người đang đau khổ th́ trái tim của họ mới dễ rung động đến những thống khổ của người khác. Khi một trái tim tràn đầy t́nh thương như vậy th́ tất nhiên chắc chắn phải là “giàu sang” và “vương giả” rồi.

Đó cũng là trường hợp của Nguyễn Du, dù nhiều lần ông đă tự an ủi:

            Bách niên đa thiểu thương tâm sự

            Trong cơi trăm năm không nhiều th́ ít, đâu đâu cũng có mối thương tâm

Vào năm 1813, Nguyễn Du được triều đ́nh Phú Xuân cử làm chánh sứ sang Trung Quốc. Gia Long lên ngôi năm 1802, như vậy là tính đến năm Nguyễn Du đi sứ, th́ đất nước đă trải qua hơn một thập niên sống trong thanh b́nh. Vậy mà vết thương ḷng của Nguyễn Du vẫn chưa lành.

Khởi hành từ Phú Xuân, kinh đô mới của triều Nguyễn.

Trên đường đi, Nguyễn Du ghé lại Thăng Long.

Khi đến Thăng Long, quan trấn thủ và bạn bè cũ ở đây bèn mở tiệc khoản đăi. Buổi tiệc được mở đầu bởi tiếng đàn và hát ca của các nữ nhạc. Khi nh́n xuống cuối chiếu, Nguyễn Du thấy một nữ nhạc đă già, ăn mặc toàn vải thô lại c̣n vá nhiều mảnh nữa, thân thể lại gầy c̣m, nhưng tiếng nhạc th́ nghe thật là dị thường:

            Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh

            Đó là những khúc đàn hay nhất trong trời đất.

Nguyễn Du không ngờ người nữ nhạc mặt đen, trông như quỷ (diện hắc, sắc như quỷ) đang ôm đàn đi hát giữa phố chợ Thăng Long này, th́ trước kia đă một thời nổi danh giữa chốn cố đô này. Nguyễn Du chợt nhớ lại buổi gặp nàng lần đầu tiên, hồi Nguyễn Du c̣n trai trẻ:

            Kỳ thời tam thất chính phương niên

            Hồng trang yểm ái đào hoa diện.

            Đà nhan hám thái tối nghi nhân

            Lịch soạn ngũ thanh tùy thủ biến

            … Lúc đó nàng khoảng hai mươi mốt tuổi.

            Áo hồng ánh lên mặt hoa đào

            Má hừng rượu, vẻ ngây thơ, rất dễ thương

            Năm cung réo rắt, theo ngón tay mà thay đổi điệu.

Hồi ấy, những tay anh hùng hảo hán, những kẻ ăn chơi khét tiếng ở đất Thăng Long này đều sẵn sàng vứt tiền qua cửa sổ để được vừa ḷng nàng:

            Tây Sơn chư thần măn tọa tận khuynh đảo

            Triệt đă truy hoan bất truy bảo

            Tả phao hữu trịch tranh triền đầu

            Nê thổ kim tiền thủ thảo thảo.

            Hào hoa ư khí lăng vương hầu

            Ngũ lăng thiếu niên bất túc đạo

            Tính tương tam thập lục cung xuân

            Hoặc tố Trường An vô giá bảo

            Các quan Tây Sơn trong tiệc đều say mê điên đảo

            Mải vui suốt đêm không biết chán

            Bên tả bên hữu tranh nhau văi thưởng

            Tiền bạc coi rẻ như đất bùn

            Ư khí hào hoa át cả các bậc vương hầu

            Tưởng chừng ba mươi sáu cung xuân

            Chung đúc một vật báu vô giá đất Trường An

Nhưng khi tuổi xuân và nhan sắc đă tàn phai th́ cũng chính tại kinh thành Thăng Long này nàng đă bị đời lăng quên:

            Kỳ nhân lưu lạc thị triền

            Hiệp kỹ dĩ ngao, thuộc tản bộ

            Nàng lưu lạc ở các phố chợ,

            Ôm đàn đi gảy dạo

Nghe tiếng đàn rồi nh́n người nữ nhạc, Nguyễn Du không chỉ ngậm ngùi cho mọi số kiếp bi thảm của con người, mà c̣n xót xa cho đất nước vừa trải qua cơn biến động phũ phàng, mà dù bây giờ đă qua rồi, nhưng tang thương của cuộc dâu bể như vẫn c̣n lưu lại vết hằn trên người nữ nhạc già nua và đau khổ này:

            Cựu khúc thanh thanh ám lệ thùy

            Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi

            Mănh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự

            Giám Hồ tịch trung tằng kiến chi.

            Thành quách suy di nhân sự cải.

            Kỷ xứ tang điền biến thương hải.

            Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong

            Ca vũ không di nhất nhân tại

            Thuấn tức bách niên năng kỷ th́

            Khúc xưa đàn lên tôi tuôn nước mắt ngầm

            Theo từng tiếng, tai lắng nghe mà ḷng chua xót!

Bỗng nhớ lại chuyện hai mươi năm xưa đă từng thấy trong chiếu tiệc bên Hồ Giám

Thành quách suy đồi, việc người đổi

Bao nương dâu đă biến thành biển xanh

Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch

Trong làng múa hát c̣n sót lại một người

Trăm năm thấm thoát trong một hơi thở, một nháy mắt

(Long thành cầm giả ca – Quách Tấn dịch)

Dường như lúc nào đọc những bài thơ của Nguyễn Du viết về Thăng Long cũng đều khơi dậy trong ta một nỗi sầu tê tái về kiếp người, về những mảnh đời đă mất hay đang sắp mất.

Nguyễn Du vốn quê ở Hà Tĩnh nhưng lại được sanh ra và lớn lên ở kinh thành cổ kính này.

Bởi vậy có thể nói Thăng Long là nơi chứa nhiều mâu thuẫn trong đời sống nội tâm của ḿnh.

Trên bước đường lưu lạc, ḷng th́ lúc nào cũng mơ ước được trở về thăm lại nơi chôn nhau cắt rốn ấy:

            Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long

            Bạc đầu c̣n được thấy Thăng Long

Mặc dù về đó chỉ để chuốc lấy nỗi khổ tâm mà thôi:

            Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy

            Nghĩ ngợi thâu đêm khổ tâm không ngủ được

Tại sao về để đau khổ mà vẫn cứ khao khát trở về?

Có lẽ không có nơi nào mà ta có thể nhận ra sự đổ vỡ và ly tán của kiếp người hơn là nơi chốn mà ta đă sanh ra và lớn lên.

Trên bước đường tha hương, một buổi chiều âm u nào đó, ḷng bỗng nhớ thương da diết, ta bèn lên đường trở về. Nhưng khi vừa về đến nơi, ta mới chợt nhận ra rằng mọi sự đă thay đổi hết rồi. Những người bạn thuở ấu thơ nay kẻ c̣n người mất. Bước vào nhà gặp mẹ mà không dám nh́n thẳng vào mặt, v́ ta không đủ can đảm để nhận ra một sự thực phũ phàng rằng, mới mấy năm trời xa quê thôi, mà mẹ đă già hẳn đi. Ngay cả nắng vàng của buổi chiều hôm ấy cũng không c̣n gợi được trong ḷng ta nỗi băn khoăn như ngày nào mà trái lại nh́n nắng vàng ta chỉ thấy cuộc đời xiêu đổ và tàn tạ mà thôi.

Rồi đêm hôm ấy, ta chẳng thể nào chợp mắt được, v́ tiếng sáo buồn buồn của thuở ấu thơ cứ vọng về trong giấc ngủ chập chờn.

Một cảm giác xót xa nổi dậy. Rằng ta cảm thấy xa lạ ngay trên mảnh đất mà ta hằng khao khát trở về.

Tôi có thể tưởng tượng như vậy, để có thể cảm nhận được phần nào về chuyến trở về Thăng Long, nơi chôn nhau cắt rốn của Nguyễn Du vào một buổi chiều cách đây đă gần 200 năm.

            Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng

            Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long,

            Thiên niên cự thất thành quan đạo

            Nhất kiến cô thành một cố cung

            Tương thất mỹ nhân khan bảo tử

            Đồng du hiệp thiếu tẩn thành ông

            Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy

            Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung

            Núi Tản sông Lô vẫn núi sông

            Bạc đầu c̣n thấy được Thăng Long

            Ngh́n năm cự thất thành quan lộ

            Một giải tân thành lấp cố cung

            Người đẹp thuở xưa đều bế trẻ

            Bạn chơi thuở nhỏ thảy thành ông

            Thâu đêm chẳng ngủ ḷng thêm bận

            Địch thổi trăng trong chiếu năo nùng[7]

                                                            (Thăng Long 1)

Sau khi lên ngôi (1802) chính thức dời đô về Phú Xuân (Huế), th́ bốn năm sau, tức là vào năm 1805, Gia Long cho phá thành Thăng Long cũ, và xây lại thành mới ít quy mô và nhỏ hơn nhiều. Đồng thời Gia Long cũng ra lệnh viết lại chữ Long là rồng thành chữ Long là thịnh vượng. Như vậy là, kinh đô do Lư Công Uẩn, vị hoàng đế xuất thân từ chốn Thiền môn sáng lập vào năm 1010, một kinh đô mà sau đó đă chứng kiến một Lư Thường Kiệt đánh Tống, một Trần Hưng Đạo đánh Nguyên, một Lê Lợi đánh Minh và một Nguyễn Huệ đánh Thanh đă thực sự bị xoá bỏ.

Khi Nguyễn Du đứng nh́n ánh trăng chiếu sáng trên dăy thành mới xây, ḷng cảm thấy xót xa vô cùng. Cũng vẫn ánh trăng ngày xưa đó, nhưng đă mất rồi cái biểu tượng tinh thần mà cả dân tộc đă tự hào gần hơn 800 năm lịch sử này.

            Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành

            Do thị Thăng Long cựu đế kinh

            Cù hạng tứ khai mê cựu tích

            Quản huyền nhất biến tạp tân thanh

            Mảnh trăng ngày xưa soi toả thành mới

            Đó là Thăng Long, đô thành của các triều đại trước

            Đường sá mở bốn bề làm lạc hết các dấu vết cũ

            Đàn sáo một loạt thay đổi, chen vào những thanh điệu mới

Nhưng đau đớn hơn nữa là cùng với sự xuất hiện của dăy thành mới, th́ tất nhiên một thế lực mới cũng h́nh thành. Thế là những người xu thời, những người hay thay ḷng đổi dạ cũng bắt đầu xuất hiện để kiếm chút lợi danh. C̣n những kẻ biết tự trọng th́ đành phải sống trong cô độc:

            Thiên niên phú quư cung tranh đoạt

            Tảo tuế thân bằng bán tử sinh

            Thế sự phù trầm hưu thán tức

            Tự gia đầu bạch diệt tinh tinh

            Tự ngàn xưa giàu sang vẫn làm mồi cho sự giành giựt

            Bạn thân thời tuổi trẻ đă hết nửa kẻ mất người c̣n

            Chuyện đời ch́m nổi, thôi đừng than thở nữa.

            Nơi ḿnh đây mái tóc cũng bạc phơ

Nếu bài Thăng Long 1 Nguyễn Du đă nói lên hết nỗi sầu vạn cổ chất chứa trong hồn ḿnh, th́ ở bài Thăng Long 2, không chỉ là lời than dài cho thế sự thăng trầm thôi, mà thực ra Nguyễn Du c̣n tố cáo một cách hùng hồn rằng, lịch sử xưa nay đă biết bao kẻ xem thiên hạ như món đồ chơi để thoả măn tham vọng của ḿnh.

            Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành

            Do thị Thăng Long cựu đế kinh

            Cù hạn tứ khai mê cựu tích

            Quản huyền nhất biến tạp tân thanh

            Thiên niên phú quư cung tranh đoạt

            Tảo tuế thân bằng bán tử sinh

            Thế sự phù trầm hưu thán tích

            Tự gia đầu bạch diệt tinh tinh

            Thành mới trăng xưa bóng tỏ mờ

            Thăng Long ngh́n trước chốn kinh đô

            Dấu xưa khuất lấp đường xe ngựa

            Điệu mới xô bồ nhịp trúc tơ

            Danh lợi mồi ngon đua cướp giựt

            Bạn bè lớp trước sống lưa thưa

            Nổi ch́m thế sự đừng than nữa

            Mái tóc ḿnh đây cũng bạc phơ[8]

                                                (Thăng Long 2)

Và chính t́nh thương ấy, t́nh thương v́ sự thống khổ của con người đă đeo đuổi và ám ảnh măi Nguyễn Du cho đến cuối cuộc đời:

            Vô cùng kim cổ thương tâm xứ

            Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng

            Thương tâm kim cổ vô cùng tận

            Núi biếc ngày xưa bóng xế hồng

                                    (Mạn hứng – Nguyễn Đăng Thục dịch)

Khi đọc hai câu thơ trên, tôi có cảm tưởng chừng như Nguyễn Du đă quỳ xuống để hôn lên tất cả những thống khổ của con người trên mặt đất thê lương này.

 

 

- III -

Trong bài Dạ Hành (Đi đêm) Nguyễn Du đă tả lại một người đang bước đi trong đêm tối buốt lạnh. Người ấy vừa bước đi mà ḷng th́ cứ trông sao cho một ngày mới chóng đến:

            Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân

            Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu

            Nẻo đường ṃn gió lạnh dồn cả vào một người

            Đêm tối lúc này là lúc nào, mà không thấy sáng.

Nhưng cũng chính trong cùng đêm tối đó, lại c̣n có một nơi chốn khác, một nơi chốn đầy an lành:

            Lăo nạp an miên Hồng Lĩnh vân

            Phù âu tĩnh túc noăn sa tân

            Vị sư già ngủ ngon trong mây núi Hồng Lĩnh

            Chim phù âu cũng thấm giấc nơi bến cát ấm

Chừng như đêm tối và giá lạnh kia chẳng ảnh hưởng ǵ đến vị sư già trên núi Hồng Lĩnh và con chim phù âu nơi bến cát ấm kia cả, v́ cả hai đều đang đánh một giấc ngủ ngon lành.

Trong cơi đời mà ta đang sống đây chừng cũng như vậy. Không phải chỉ có bất an và đau khổ không thôi, mà c̣n có một nơi chốn an lành để ta có thể lên đường trở về.

Đó cũng chính là niềm hy vọng mà ta luôn luôn bắt gặp trong thế giới thi ca của Nguyễn Du.

Dù trong những chỗ tối tăm nhất của địa ngục trần gian, ta vẫn nghe ra niềm hy vọng đó.

Trong truyện Kiều chẳng hạn, không phải chỉ có phản bội, lường gạt, trác táng, sa đọa mà bên cạnh đó ta c̣n thấy một thế giới khác nữa, thế giới của hoang sơ, thanh tịnh mà từ lâu ta đă vô t́nh đánh mất trên những con đường cát bụi của trần gian:

            Nâu ṣng từ trở màu Thiền

            Sân thu trăng đă vài phen đứng đầu

                                                                        (Kiều)

Đó là nơi nào vậy? Là ngôi chùa chăng? Hay cũng có thể là mái nhà xưa của mỗi người trong chúng ta?

            Cửa Thiền vừa cử cuối xuân

            Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời

                                                                        (Kiều)

Hai câu thơ tả phong cảnh cuối xuân nơi cửa Thiền. Nhưng đọc lên rồi, ta cứ tưởng như Nguyễn Du muốn ghi lại niềm vui chứa chan của một người vừa trở về, sau bao thuở lang thang phiêu bạt.

Và khi đă trở lại quê nhà rồi, th́ thời gian không c̣n là mối bận tâm ám ảnh đối với họ nữa. Dù đó là cuối xuân hay đầu xuân, dù hạ đến thu đi hay đông tàn th́ có nghĩa là ǵ đâu? V́ từ đây một mùa xuân mới cũng vừa đơm bông kết trái trong tận đáy hồn sâu thẳm của người vừa trở về.

Nhưng khi đă đưa con người trở về, nghĩa là đă hoàn tất sứ mạng cứu vớt cuộc đời, th́ cửa Thiền cũng khép lại vĩnh viễn, thong dong ra đi như những đám mây trời đang bay trên những đỉnh núi cao kia vậy:

            Đến nơi cửa đóng cài then

            Rêu trùm kẻ ngạch cỏ len mái nhà

            Sư đà hái thuốc phương xa

            Mây bay hạc lánh biết là t́m đâu

                                                                        (Kiều)

 

 

- IV -

            Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn

            Người trí th́ ham thích nước, c̣n người nhân th́ lại ham thích núi non.

Chí lư thay lời nói của Đức Khổng Tử.

V́ thương sự thống khổ của con người, mà biết bao bậc hiền nhân trác việt trong quá khứ đă từ bỏ tất cả để lên đường đến tận những nơi thâm sơn cùng cốc với hy vọng sẽ t́m được con đường để giải phóng cho nhân loại đang ch́m ngập trong khổ đau.

Và chẳng phải sự thành tựu tâm linh vĩ đại nhất trong lịch sử của nhân loại cách đây đă hơn 20 thế kỷ cũng đă từng xảy ra tại dăy núi cao nhất thế giới hay sao? Và con người đă thực hiện sự thành tựu vĩ đại đó được tôn xưng là Năng nhân tịch mặc. Như vậy rơ ràng là, chỉ có những người ẩn cư trong chỗ vắng lặng th́ mới có khả năng vĩ đại đem t́nh thương đến cho nhân loại khổ đau mà thôi?

Và chẳng phải vào những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 này, th́ một phần giáo lư của đấng Năng nhân tịch mặc ấy được bảo tŕ trên đỉnh núi Tuyết Sơn u tịch từ 20 thế kỷ nay lại có sức thuyết phục hơn bao giờ hết đối với nhân loại ngày nay sau khi nhân loại đă thực sự thức tỉnh trước những giáo điều cuồng tín, những ư thức hệ lỗi thời mà trong thực tế đă đem đến cho họ không biết bao nhiêu là thảm họa?

Nhưng v́ sao núi lại có sức thu hút đối với những con người giàu t́nh thương đến như vậy?

Một nhà trí thức Tây Phương, mà sau đó đă trở thành Lama Anagarika Govinda nổi tiếng khắp thế giới, lần đầu tiên đứng trên núi Kalais thuộc đỉnh Tuyết Sơn hay c̣n gọi là nóc nhà thế giới đă cho biết cảm tưởng ấy như thế này:

“… Tự nhiên trong một giây phút diễm ảo kỳ lạ nào đó, cái h́nh ảnh mơ hồ ám ảnh tâm tư họ bao lâu nay bỗng nhiên trở thành sự thật. Mộng và thực hoà nhập thành một, cái ước vọng thầm kín, cái cảm giác thiếu thốn trong nội tâm họ bỗng trở nên tràn đầy, khiến họ như ngụp lặn trong một cảm giác an lạc tuyệt đối. Bắt đầu từ lúc này, cái cảm giác đó sẽ măi măi ngự trị trong tâm tư họ v́ tâm đă chuyển hóa, đă được nâng lên một b́nh diện cao hơn”[9].

Như vậy là lư do đă rơ ràng, t́nh thương chỉ toả ra từ những tâm thức đă đạt được sự b́nh an tuyệt đối, c̣n những tâm hồn hỗn loạn, những tâm hồn khao khát quyền lực th́ tất nhiên tâm thức của họ chỉ tỏa ra hận thù mà thôi.

Năm lên 7 tuổi Nguyễn Du đă rời Thăng Long theo cha về quê là làng Tiên Điền, làng nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh. Nguyễn Du bắt đầu yêu núi non từ đó. Sau này lớn lên đi bất cứ ở nơi nào hễ thấy núi dù là núi ở một đất nước xa lạ như Trung Quốc th́ Nguyễn Du cũng đều nhớ về núi Hồng Lĩnh ở quê nhà:

            Túc hữu ái sơn tích

            Biệt hậu tứ hà như

            Lai đáo Tiềm Sơn lộ

            Uyển như Hồng Lĩnh cư

            Vân hà viên khiếu ngoại

            Tùng bách hạc sào dư

            Đinh hữu sơn trung bách

            B́nh sinh bất thức dư

            Ta vốn có t́nh yêu núi

            Sau ngày xa quê nhà, nhớ biết chừng nào!

            Tưởng như đang ở trong dăy Hồng Lĩnh.

            Mây trắng bọc ngoài nơi có tiếng vượn hú,

            Cây tùng, cây bách thừa chỗ cho hạc làm tổ.

            Hẳn có người ở trong núi

            Cả đời không hề quen biết ta[10]

Trong một bài thơ khác, Nguyễn Du nói rơ hơn v́ sao ông thiết tha núi non đến như vậy:

            Mật thạch ngại xa mă

            Tạp hoa đương tuế th́

            Sơn ngoại hưng dữ phế

            Sơn trung giai bất tri

            Toán lai nhất niên trung

            Sở ưu vô nhất th́

            Sở dĩ sơn trung nhân

            Nhân nhân giai kỳ di

            Tùng hoa bách tử khẳng hứa thực

            Bạch đầu khứ thử tương an quy

            Đá đầy lối đi cản xe ngựa

            Nh́n trăm hoa, biết bốn mùa

            Những cuộc hưng phế ngoài núi

            Người trong núi đều không biết

            Tính lại suốt một năm

            Không lúc nào phải lo sợ

            Nên người trong núi, ai ai cũng sống lâu

            Hoa tùng hạc bách mà ăn được

            Khi đầu bạc, không về đây th́ về đâu?[11]

                                                            (Hoàng mai sơn thôn)

Trong nhiều bài thơ c̣n cho thấy không phải Nguyễn Du chỉ yêu núi như một người đứng xa mà nh́n, ngược lại ông c̣n là một hành giả nỗ lực để làm sao cho cái tâm của ḿnh sáng như ánh trăng và an trụ vững chắc như đỉnh núi xanh bạt ngàn trước nhà kia vậy:

            Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt

            Xử sĩ môn tiền thanh giả sơn

            Tấm ḷng của kẻ đạt nhân sáng tỏ như vầng trăng

            Trước cửa người ẩn dật ấy là sắc xanh của núi

                                                                        (Tạp ngâm 2)

Và chừng như Nguyễn Du cũng đă làm chủ được cái tâm của chính ḿnh rồi.

            Diệp lạc hoa khai nhăn tiền sự

            Tứ thời tâm kính tự như như

            Lá rơi hoa rụng việc trước mắt

            Bốn mùa tấm ḷng như gương, vẫn tự nhiên như thái không vậy

                                                                        (Tạp thi 2)

Đọc câu Tứ thời tâm kính tự như như, th́ ta có thể liên tưởng đến câu kệ của Thần Tú:

            Tâm như minh kính đài

Tâm như đài gương sáng

Nguyễn Du có rất nhiều bài để nói về cái tâm trong sáng và như như bất động của ḿnh. Rơ ràng nhất là bài Đạo ư (Nói ư ḿnh) Nguyễn Du đă ví cái tâm của ḿnh như nước trong ḷng giếng cổ, không hề bị dao động bởi những đợt sóng lao xao:

            Minh nguyệt chiếu cổ tĩnh

            Tĩnh thủy vô ba đào

            Bất bị nhân khiên xả

            Thử tâm chung bất giao

            Túng bị nhân khiển xả

            Nhất dao hoàn phục chỉ

            Trạm trạm nhất phiến tâm

            Minh nguyệt cổ tĩnh thủy

            Trăng sáng ḷng giếng cổ

            Nước giếng không ba đào

            Không bị người khuấy động

            Ḷng này không chút xao

            Đă bị người khuấy động

            Xao rồi trở yên lặng

            Vằng vặc một mảnh ḷng

            Giếng trong trăng rọi bóng[12]

Có lẽ v́ đă đạt được cái tâm như vậy nên đôi khi Nguyễn Du đă đứng lên trên mọi thứ thị phi tầm thường của cuộc đời. Như ta c̣n nhớ những năm chạy loạn về lại quê nhà ở dưới chân núi Hồng Lĩnh, Nguyễn Du đă tự nhận ḿnh là Hồng sơn liệp hộ (phường đi săn ở núi Hồng). Nhưng điều lạ lùng là đi săn, nghĩa là dù muốn dù không cũng phải bắn giết thú vật, vậy mà Nguyễn Du lại nhắc đến ḷng nhân”

            Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân

            Nhưng diệt trừ giống khác mà vẫn không hại đến đức nhân

Th́ quả thực Nguyễn Du là người đi săn có thể nói là độc đáo nhất trong những gă thợ săn xưa nay:

            Y quan đạt giă chí thanh vân

            Ngô diệc lạc ngô mi lộc quyền

            Giải thích nhân t́nh an tại hoạch

            Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân

            Xạ miên thiều thảo hương do thấp

            Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn

            Phù thế vi hoan các hữu đạo

            Khu xả ủng cái thị hà nhân

            Những người làm quan hiển đạt chí ở đường mây

            C̣n ta, ta vui với lũ hươu nai

            Đi săn, cốt sao tâm t́nh thư thái

            Chứ không cốt bắt được nhiều thú

            Mà dù có giết giống khác, cũng chẳng hại đến ḷng nhân

            Con xạ hương ngủ ở băi cỏ non, mùi thơm c̣n đượm ướt

            Con chó chạy băng qua núi, không c̣n nghe rơ tiếng sủa

            Ở đời mỗi người có một cách t́m thú vui riêng

            Lọng đón xe đưa, là ai đó nhỉ?[13]

                                                                                    (Liệp)

Có một bài thơ, mặc dù Nguyễn Du không nói ǵ đến núi non. Nhưng phải là một tâm hồn vững chắc như núi non th́ mới có được cái nh́n khoét sâu vào tận tâm hồn của những người mà tận bản chất vốn là bùn lầy nước đọng nhưng v́ được khoát bên ngoài chiếc áo quá lộng lẫy nên ít người nhận ra được con người thực của họ.

Nguyễn Du đă mượn h́nh ảnh con Công, con vật có bộ lông đẹp đẽ và múa hay để chỉ cho loại người này:

            Khổng tước phủ hoài độc

            Ngộ phục bất khả y

            Ngoại lộ văn chương thể

            Trung tàng sát phạt ky

            Nhân khoa dung chỉ thiện

            Ngă tích vũ mao kỳ

            Hải hạc diệc hội vũ

            Bất dữ thế nhân tri

            Gan phổi công dầm độc

            Ngộ độc thuốc không phương

            Trong ngầm cơ sát phạt

            Ngoài chuốt vẻ văn chương

            Người khen dáng uyển chuyển

            Ta tiếc mă huy hoàng

            Hạc biển cũng biết múa

            Không dung mắt thế thường[14]

Có vẻ như Nguyễn Du hơi thiếu tấm ḷng bao dung khi lên tiếng đả kích loại người này, loại người mà ông gọi là: “Ngoài chuốt vẻ văn chương” nhưng bên trong “Gan phổi th́ dầm đầy nọc độc” này chăng? Chính v́ t́nh thương vô hạn đối với họ mà Nguyễn Du bất đắc dĩ phải mạt sát họ như vậy th́ may ra họ mới nhả nọc độc ra, v́  nọc độc ấy không phải chỉ có nguy hiểm cho cuộc đời thôi mà c̣n nguy hiểm cho chính họ nữa. V́ chắc chắn một ngày nào đó họ cũng sẽ bị giết chết bởi chính nọc độc của họ.

Khổng Tử ngày xưa cũng đă từng cảnh giác cho ta đối với loại người “Mă huy hoàng” này:

            Xảo ngôn lệnh sắc, tiễn hỷ nhân

            Người dùng lời nói khéo léo, làm ra sắc mặt hiền lành,

            th́ ít có ḷng nhân

Nhưng ngọn lửa t́nh thương ấy Nguyễn Du đă nhen nhúm tự bao giờ?

Trong bài Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, đă được Nguyễn Du viết từ khi c̣n rất trẻ, ta đă thấy Nguyễn Du bắt đầu nhắc đến Ḷng Bồ Đề hay Từ bi hỷ xả rồi:

            Tiếp đăi mấy đêm một mực

            Ḷng Bồ Đề hỷ xả từ bi

            Xôn xao một khắc ngàn vàng

            Đàn chẩn tế Ba La Bát Nhă

Vậy là không c̣n hồ nghi gĩ nữa, tất cả tấm ḷng, tất cả t́nh thương nồng nàn của Nguyễn Du đối với bao nhiêu thống khổ của con người thể hiện từ Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sanh, đến ba tập thơ chữ Hán là Thanh hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm đến Bắc hành tạp lục đều khởi đầu từ ḷng Bồ Đề hỷ xả từ bi, từ những ngày c̣n rất trẻ vậy.

Ḷng từ bi ấy Nguyễn Du vẫn thường ước mơ rằng phải làm sao cao chất ngất trong hồn ḿnh như ngọn núi Hồng Lĩnh của quê nhà, ngọn núi mà đă in sâu đậm trong tâm hồn và nuôi dưỡng tấm ḷng của Nguyễn Du từ những ngày c̣n thơ ấu:

            Hồng sơn cao ngất mấy trùng

            Đ̣ cài mấy trượng th́ ḷng bấy nhiêu

                                                (Thác lời trai phường nón)

Có nhiều bản viết là Đ̣ cài mấy trượng th́ t́nh bấy nhiêu, nhưng chữ ḷng mới là chữ Nguyễn Du thường sử dụng nhiều nhất, chẳng hạn như trong Truyện Kiều:

            Ḷng thơ lai láng bồi hồi

Hoặc:

            Thiện căn ở tại ḷng ta

            Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Hay:

            Cội nguồn cũng bởi ḷng người mà ra

Cũng có khi trong một câu mà Nguyễn Du nhắc đến những hai lần chữ ḷng, như trong Văn tế thập loại chúng sanh, một trường thi tuyệt tác mà Nguyễn Du đă viết cho Rằm tháng bảy, ngày xá tội vong nhân theo truyền thống của dân tộc ta:

            Ḷng nào ḷng chẳng thiết tha

            Cơi dương c̣n thế nữa là cơi âm…

Có lẽ chữ ḷng trong hai câu này th́ hợp lư hơn là chữ t́nh vậy.

 

Lời kết:

Trong tác phẩm Nhớ nghĩ chiều hôm, quyển sách mà theo Đào Duy Anh đă cưu mang “Từ những đêm mất ngủ v́ tuổi già, ôn lại những quăng đường ḿnh đă trải qua để ghi lại những đắc thất của ḿnh…”. Nơi b́a sau của sách có in bốn câu thơ mà Đào Duy Anh muốn đáp lại hai câu thơ của Nguyễn Du lúc c̣n sanh tiền cứ băn khoăn tự hỏi không biết 300 năm sau nữa có c̣n ai khóc thương ḿnh hay không? Đáp lại Nguyễn Du nhưng thực ra ta phải hiểu Đào Duy Anh cũng nhân đó mà gởi gắm chút tâm sự của ḿnh cho những thế hệ đi sau:

            Ông hỏi ngày sau ai khóc ḿnh

            Mà nay bốn bể lại lừng danh

            Cho hay tất cả đều mây nổi

            C̣n với non sông một chút t́nh

Năm 1966, Phạm Công Thiện, một thi sĩ trẻ tuổi của Việt Nam, đến sau Đào Duy Anh đến gần nửa thế kỷ. Lúc đó đang lang thang tại Paris, trong Nỗi nhớ quê hương, Phạm Công Thiện đă viết mấy lời mở đầu trong tác phẩm Im lặng hố thẳm: “Gởi về Nguyễn Du, người cha tóc trắng của thi ca và tư tưởng Việt Nam, ngồi im lặng trên mây núi Hồng, già với gió thu, trở thành một trong năm nhà thơ vĩ đại nhất của phương Đông”.

Nhưng đúng 30 năm sau, tức là vào năm 1996, Phạm Công Thiện đă đổi lại “Không phải Năm mà là Ba, và không phải chỉ có phương Đông mà của cả toàn thế giới: Nguyễn Du là một trong ba nhà thơ vĩ đại nhất của nhân loại”.

Nhưng với tôi điều quan trọng nhất vẫn là lời tự, tức là lời mở đầu cho tác phẩm Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc, gần 500 trang của Phạm Công Thiện. Xin được trích mấy ḍng sau đây để thay cho lời kết:

“… Từ năm 1966 cho đến năm nay (1996), ba chục năm tang hoang dâu bể, nhưng Hạo nhiên chi khí của bậc đại thi hào dân tộc vẫn nuôi dưỡng liên tục tinh anh thanh khí của tâm thức dân tộc Việt; tính mệnh của Việt Nam đang trong thể chuyển động bất ngờ.

            … Trong cơ âm cực dương hồi khôn hay

Nguyễn Du đă từng dạy dân tộc Việt Nam như vậy và c̣n dạy rất nhiều bài học Thiền mật thơ mộng khác.

Tất cả những ǵ vĩ đại nhất mà con người có thể vươn tới được thể hiện rơ ràng dứt khoát trong toàn thể thi nghiệp của bậc đại thiên tài dân tộc:

            … Mùi Thiền đă bén muối dưa

            Màu Thiền ăn mặc đă ưa nâu ṣng

Chỉ từng đă sống qua thời gian viễn ly mănh liệt như vậy th́ mới hiểu câu hỏi lạ lùng của Kim Trọng:

            Tẻ vui bởi tại ḷng này

            Hay là khổ tận đến ngày cam lai

Từ đó chúng ta mới có khả năng trong sạch để hiểu thế nào là Vô tự trong toàn thể thi nghiệp của bậc đại thi hào dân tộc”[15].

Vậy là dù có khác nhau về hoàn cảnh, vị thế hay quan điểm v.v... nhưng qua h́nh bóng của “Người cha tóc trắng của thi ca và tư tưởng Việt Nam, ngồi yên lặng trên mây núi Hồng” những người con ưu tú nhất của dân tộc Việt vẫn tiếp tục trở về và bày tỏ tấm ḷng thương nhớ của ḿnh đối với bao nhiêu thăng trầm của quê cha đất tổ vậy.

 

T.P.A.

Nha Trang mùa Vu Lan 2547


 

[1] Nguyễn Du, niên phổ và tác phẩm,  Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính, NXB Văn hoá thông tin, 2001,

tr. 29 – 30

[2] Nguyễn Du toàn tập, Mai Quốc Liên chủ biên, NXB Văn học 1996, tr. 553.

[3] Tố Như thi, Quách Tấn dịch, NXB An Tiêm, Sài G̣n 1973, tr. 53.

[4] Nguyễn Du toàn tập, Mai Quốc Liên chủ biên, NXB Văn học 1996, Tr. 8.

[5] Nguyễn Du, niên phổ và tác phẩm, Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính, NXB Văn hoá thông tin, 2001, tr. 241

[6] Thơ gởi người thi sĩ trẻ tuổi, Hoàng Thu Uyên dịch, NXB An Tiêm, SG 1969, tr. 15.

[7] Tố Như thi, Quách Tấn dịch, NXB An Tiêm, Sài G̣n 1973, tr. 241 – 242.

[8] Tố Như thi, Quách Tấn dịch, NXB An Tiêm, Sài G̣n 1973, tr. 170

[9] Đường mây qua xứ tuyết, Nguyên Phong dịch, tr. 202 – 203.

[10] Nguyễn Du toàn tập, Mai Quốc Liên chủ biên, NXB Văn học 1996, tr. 562.

[11] Nguyễn Du, niên phổ và tác phẩm, Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính, NXB Văn hoá thông tin, 2001, tr. 901.

[12] Tố Như thi, Quách Tấn dịch, NXB An Tiêm, Sài G̣n 1973, tr. 80,

[13] Nguyễn Du, niên phổ và tác phẩm, Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính, NXB Văn hoá thông tin, 2001, tr. 574.

[14] Tố Như thi, Quách Tấn dịch, NXB An Tiêm, Sài G̣n 1973, tr. 86.

[15] Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc, của Phạm Công Thiện, Nxb Viện triết lư Việt Nam và triết học thế giới, California, Hoa Kỳ 1996, tr. 15 – 16.