NHỊ ĐẾ

TỪ HIỆN TƯỢNG ĐẾN BẢN THỂ

 

THÍCH ĐỨC THẮNG

  

N

hị đế là từ được qui kết từ các Thánh đế (āryasatayā) qua nhân quả Khổ-Tập gọi là Tục đế (Skt: Saṃvṛti-satya, Pāli: Sammuti-sacca) hay c̣n gọi là Thế tục đế, là chỉ cho chân lư nhân quả của thế gian. Theo Nam hải Kư qui nội pháp truyện 4[1] mọi sự việc của thế tục, chúng che khuất chân lư của thế gian nên Tục đế c̣n gọi là Phú tục đế hay Phú đế. Và nhân quả Diệt-Đạo gọi là Chân đế (Skt: Paramāttha-satya, Pāli: Paramattha-sacca) c̣n gọi là Đệ nhất nghĩa đế hay Thắng nghĩa đế, là chân lư nhân quả của xuất thế gian. Vậy Nhị đế đứng về mặt hiện tượng mà xét th́ chúng được căn cứ vào nhân quả của Tứ Thánh đế để thành lập, và sự thành lập này chúng tùy thuộc vào mặt tướng dụng (sự) sinh khởi và hủy diệt của các pháp mà chúng được gán cho một tên (danh) để gọi qua ngôn ngữ, tùy thuộc vào ư nghĩa thuộc tính của chúng về cả hai mặt tương đối lẫn tuyệt đối. Nhưng ngôn ngữ như đức Phật đă dạy th́ cho dù chúng có thể bất lực trước sự diễn tả một thực tại chân lư mà chúng ta muốn nắm bắt chúng, như đoạn kinh văn dưới đây trong kinh Pháp hoa khi đức Phật nói về duyên khởi, nhưng về mặt tương đối th́ Nhị đế biểu hiện cho nhân quả thế gian và nhân quả xuất thế gian qua duyên khởi được thiết lập bởi ngôn ngữ. Theo Kinh Pháp hoa, qua ng̣i bút của La-Thập, đă nói rơ về vai tṛ của định thức duyên khởi ấy như sau: ‹Chân lư mà đức Phật tự chứng, không thể nói lên bằng ngôn ngữ, nhưng có thể đề mở ra con đường dẫn về nó, sau khi trầm tư về sự chứng ngộ của ḿnh dưới gốc cây Bồ-đề, Phật đă quyết định đến Ba-la-nại, nói về Tứ diệu đế cho năm thầy tỳ-kheo.› Tứ diệu đế được thiết lập trên tương quan của định thức duyên khởi: Khổ và Tập, nhân quả lưu chuyển. Diệt, Đạo, nhân quả hoàn diệt.[2]  Tục đế và Chân đế là hai mặt của một thực tại, mà thực tại đó chúng ta muốn đạt đến qua biểu tượng thuộc tính của nó. Một mặt, bản thể được nhận thức là nhờ vào sự hiện hữu của biểu tượng qua ngôn ngữ, và mặt khác biểu tượng khi đă mang danh rồi th́ chúng không c̣n là thực tại như chính chúng hiện khởi qua ḍng thời gian đang biến dịch nữa. Ở đây, v́ bản thể là một thực tại tuyệt đối, nên thực tại tuyệt đối luôn luôn là bất khả thuyết, nhưng ngay bản chất của ngôn ngữ biểu tượng tương đối cũng là bất khả thuyết, cho nên có một sự tương ứng giữa tiến tŕnh biểu tượng và tiến tŕnh bản thể thực tại, chúng không những không đánh mất tinh thể của ngôn ngữ, mà c̣n mang lại cho ngôn ngữ một giá trị như là một con đường đi đến tuyệt đối của bản thể. 

V́ như Kinh Pháp hoa đă dạy, chân lư không thể nói lên bằng ngôn ngữ, nhưng có thể mở ra một con đường dẫn về nó qua ngôn ngữ biểu tượng là Tứ đế trong lần thuyết giáo đầu tiên của Phật tại vườn nai. Đó chính là con đường Trung đạo vượt thoát, tránh mọi thứ lệ thuộc cực đoan trói buộc trong phiền năo sinh tử luân hồi. Con đường Trung đạo chính là con đường giải thoát khổ đau sinh tử. Con đường này chư Phật quá khứ đă từng đi, chư Phật hiện tại đang đi, và chư Phật vị lai sẽ đi.

Biểu tượng thuộc tính Nhị đế, theo kinh luận Tiểu thừa và Đại thừa chủ trương, th́ không phải là một.

I. THEO KINH LUẬN TIỂU THỪA.

1. Theo kinh điển Nguyên Thỉ - Tiểu thừa Phật giáo, th́ như kinh A-hàm phần lớn chỉ có thuyết về Tứ đế: Khổ - Tập - Diệt - Đạo, rất ít đề cập và luận về Nhị đế. Chỉ có Trung A-hàm 7 phẩm Tương ưng, trong kinh phẩm phân biệt Thánh đế [3] có nhắc đến từ Chân đế chứ không thấy đề cập đến Tục đế, hay trong kinh Tăng Nhất A-hàm 3[4] có nói đến từ Nhị đế, nhưng về nội dung th́ không thấy nói đến. Có lẽ những từ Chân đế, Nhị đế được đức Phật đề cập đến trong A-hàm 7, hay trong Tăng Nhất A-hàm 3 trong những ngày đầu, là nền tảng mở đường cho con đường Trung đạo qua Nhị đế cho sự phát triển của các tông, luận Đại, Tiểu thừa phát triển sau này.

2. Theo tông, luận Tiểu thừa, như:

- Câu Xá luận 22[5] th́ đưa ra rất nhiều tên gọi về chân tục của Nhị đế trong khi thuyết minh về ư nghĩa của chúng: Về mặt biểu tượng hiện tượng chẳng hạn như cái b́nh, y phục và mọi vật khác, về ngoại h́nh tức là biểu tượng hay trạng thái của chúng một lúc nào đó chúng có thể bị hủy hoại đi, và lúc này chúng ta không c̣n gọi tên b́nh, hay y phục của chúng nữa. V́ từ h́nh thể biểu tượng này chúng bị hủy hoại biến dịch thành h́nh thể biểu tượng khác, nên tên gọi của chúng cũng tùy thuộc vào biểu tượng hiện tại mà chúng đang mang và phải lệ thuộc vào thuộc tính của chúng. Hay như nước, lửa… nếu chúng ta dùng thắng huệ để phân tích chúng, th́ chúng sẽ thành sắc, hương, vị… hay thành những yếu tố khác; khi đă thành những yếu tố khác rồi th́ không thể gọi chúng là nước, lửa nữa… mà phải tùy thuộc vào yếu tố biểu tượng hiện tại mà có tên gọi khác. Như vậy sự hiện hữu của chúng có được chỉ là một sự hiện hữu giả danh, chúng luôn tùy thuộc vào duyên khởi biến hiện của chính chúng trong một thuộc tính mới mà chúng hiện đang là biểu tượng. Đó là những hiện tượng mà những nhận thức thông thường của thế gian quan niệm, nên gọi chúng là Thế tục đế. Ngược lại, tuy chúng luôn biến dịch hiện khởi, nhưng sắc, hương, vị… này, chúng là yếu tố tồn tại của vạn vật. Cho dù hiện tượng biểu tượng hay trạng thái của chúng có thể nghiền nát thành tro bụi, hay biến thái đến chỗ cùng cực đi chăng nữa, nhưng chúng ta dùng thắng huệ để phân tích chúng th́ cái bản chất tồn tại thường hằng của chúng vẫn bất biến. Cho nên chúng được xem như chân lư xuất thế gian của Phật giáo, nên được gọi là Thắng nghĩa đế. Với quan điểm này các nhà Câu xá luận cho rằng trên mặt hiện tượng có thể biến dịch đổi dời và luôn tuỳ thuộc vào những thuộc tính mới xuất hiện qua danh ngôn đặt để, nhưng bản chất một số pháp như sắc, thinh, hương, vị… chúng không bao giờ biến đổi, v́ chúng là yếu tố tồn tại của vạn vật, cho nên chúng luôn luôn thực hữu.

- Cũng đồng với quan điểm này, giả danh là một hiện tượng tạm thời, chúng có khả năng thay đổi hiện tượng bất cứ vào lúc nào, theo duyên và chúng luôn tùy thuộc vào thuộc tính mới nên chúng thuộc về Tục đế, trong khi bản chất của một số pháp luôn luôn hiện hữu và không bao giờ biến mất, trên cơ bản chính để h́nh thành các pháp, nên chúng thuộc về Chân đế. Theo phẩm Lập giả danh của Thành thật luận 11[6], th́ cho rằng sắc, hương, vị, pháp cùng Niết-bàn đều thuộc về Chân đế; ngược lại do sắc là yếu tố cơ bản để h́nh thành ra b́nh, nước…, nhờ nhân duyên ḥa hợp, chúng chỉ có giả danh mà không có thật thể, cho nên gọi là Tục đế. Như con người là do ngũ uẩn ḥa hợp mà thành, cho nên con người thuộc về Tục đế.

- Các nhà Kinh bộ[7] th́ chủ trương không như hai nhà Câu xá và Thành thật luận trên, là phải dựa vào hiện tượng và bản chất của sự vật mà đánh giá chúng là Tục hay là Chân. Trong khi các nhà Kinh bộ th́ y vào trí xuất thế gian vô lậu, cùng hậu đắc chánh trí của thế gian chấp nhận đối các pháp nên gọi là Thắng nghĩa đế; ngược lại y vào trí hữu lậu mà chấp nhận đối các pháp, nên gọi là Thế tục đế. Ở đây Chân hay là Tục cũng tùy thuộc vào trí hữu lậu hay là vô lậu đối với các pháp mà có một cái nh́n cho quan điểm của họ.

- Cũng vậy, Đại Tỳ-bà-sa luận 77[8] cũng chủ trương bằng những nhận thức thông thường, hay đạo lư được h́nh thành bởi những tập tục ước định của thế gian hữu lậu, hay y cứ vào những lư chân thật do kiến giải triệt để của các bậc Thánh trí vô lậu mà h́nh thành Thế tục đế hay Thắng nghĩa đế. V́ những lư giải về sự vật qua nhận thức thông thường của thế gian, hay đạo lư được h́nh thành bởi những tập tục ước định của thế gian, là những lư giải tương đối nên chúng thuộc về Thế tục đế; và y vào lư chân thật các kiến giải triệt để của các bậc Thánh trí vô lậu, nên chúng thuộc về Thắng nghĩa đế. 

Qua hai quan điểm lấy hiện tượng biến dịch của sự vật và không biến đổi của sự vật mà có những quan điểm về cách chủ trương như của luận Câu xá và luận Thành thật về Nhị đế, đă cho chúng ta một cái nh́n về mặt hiện tượng được thiết lập qua tương quan nhân quả duyên khởi của ‹Sự› mà thành lập Nhị đế; trong khi các nhà Kinh bộ và các nhà đại Tỳ-bà-sa luận th́ lấy lư của Thế tục hữu lậu và lư của Thánh trí vô lậu mà thành Nhị đế. Ở đây trên lư thuyết có thể có những mâu thuẫn nhau trên lập luận và nhận thức theo sự, nhưng chúng không loại bỏ nhau, v́ sự và lư chúng không ở ngoài nhau.

Ngoài ra, sự quan hệ giữa Nhị đế Chân Tục cùng Tứ đế đối với các bộ phái Tiểu thừa trong việc phán pháp cũng rất phức tạp: Như có chủ trương lấy Khổ-Tập làm Tục đế, Diệt-Đạo làm Thắng nghĩa đế; có chủ trương lấy ba đế Khổ-tập-Diệt làm thế Tục đế, lấy Đạo đế làm Thắng nghĩa đế; có chủ trương lấy hết Tứ đế làm Thế tục đế, và lấy không, phi ngă làm Thắng nghĩa đế.

Những chủ trương trên phân chia nhân quả lưu chuyển và hoàn diệt của Tứ đế để thành lập Nhị đế của các nhà Tiểu thừa. Ở đây, như Câu-xá luận chủ trương căn cứ về mặt hiện tượng để nói lên thuộc tính của chúng. Tuy trên mặt hiện tượng biểu tượng có thể bị luật vô thường chi phối, có thế biến đổi và h́nh thành theo thuộc tính của sự vật mà nó có tên gọi mới. Nhưng dù tên gọi này có thể gọi là giả danh là Thế tục đế đi nữa, mà trên mặt hiện thực bản chất của chúng th́ chúng bất biến, luôn luôn hiện hữu, nên chúng thuộc về Thắng nghĩa đế. Trong khi, Thành thật luận lấy các pháp sắc, hương, vị cùng Niết-bàn tức là các pháp hữu vi và vô vi làm Chân đế, v́ chính sắc, hương, vị, và Niết-bàn là những yếu tố cơ bản đề h́nh thành tất cả các pháp qua nhân duyên để chúng hiện hữu, nên các pháp kể trên chúng thuộc về Chân đế, và ngược lại những pháp được các pháp làm yếu tố cơ bản để các pháp đó hiện hữu qua nhân duyên, th́ các pháp này được gọi là giả danh không có thật thể. Chúng chỉ mang thuộc tính của các pháp cơ bản trên thôi, và như vậy sự hiện hữu của biểu tượng có được này chúng thuộc về Tục đế, giống như con người do năm uẩn hoà hợp mà thành nên chúng thuộc về Tục đế. C̣n, Kinh bộ th́ chủ trương lấy sự chấp nhận thuộc trí hữu lậu về các pháp cho là Thế tục đế, và lấy trí vô lậu xuất thế gian, cùng hậu đắc chánh trí thế gian làm Chân đế. Luận Đại Tỳ-ba-sa th́ lấy đạo lư ước định tục thành của thế gian, hay mọi sự vật được lư giải thông thường của thế gian cho là Thế tục đế, và lấy lư chân thật, những kiến giải triệt để của các bậc Thánh vô lậu làm Thắng nghĩa đế. Nói chung Tất cả đều y cứ vào pháp hữu lậu chỉ Thế đế và pháp vô lậu chỉ Thắng nghĩa đế để thiết lập Nhị đế, cho dù pháp đó là sự hay là lư, là tục hay là chân, là biểu tượng hay là bản thể, là thế gian hay là xuất thế gian cũng đều được qui về nhân quả của Nhị đế.

II. THEO KINH LUẬN ĐẠI THỪA.

1. Theo kinh điển Đại thừa như:

- Kinh Niết-bàn 13, phẩm Thánh hạnh[9] th́ dùng những điều hiểu biết (sở năng tri) của người thế gian làm Thế đế, và lấy những điều hiểu biết chứng ngộ của người xuất thế gian làm Đệ nhất nghĩa đế; hay lấy “Hữu danh hữu thật” (Có danh có thật) làm Đệ nhất nghĩa đế, và “Hữu danh vô thật” (Có danh không thật) làm Tục đế. Như lư của Tứ đế là Đệ nhất nghĩa đế; như sức nóng của bánh xe lửa khi quay, thành càn-thát-bà, lông rùa, sừng thỏ đều là Thế tục đế.

- Trong phẩm Nhị đế, Kinh Nhân vương Bát-nhă quyển thượng[10], đưa ra thuyết “Nhị đế tương tức, chân tục bất nhị” (Hai đế tức một, chân tục chẳng phải hai) là từ đế lư mà nói, th́ có riêng chân tục nhị đế; nhưng nếu lấy trí tuệ chân thật mà quán chiếu chúng, th́ lư của Nhị đế chẳng phải hai, siêu nhiên tự hiện.

Theo kinh điển Đại thừa như kinh Niết-bàn thuyết, th́ đứng về mặt tương đối th́ có tục, có chân, có hữu thật, vô thật; chúng là thứ ngôn ngữ biểu tượng cho những thuộc tính mà chúng muốn vươn đến. Những biểu tượng này cho dù là giả danh, nhưng chính chúng cũng có bản thể của chính nó, cho dù trên chiều tuyệt đối ngôn ngữ khó bề tiếp cận. Do đó, sự mâu thuẫn ở đây giữa Tục đế và Đệ nhất nghĩa đế dù có mâu thuẫn đến đâu đi nữa trên mặt nhân quả, nhưng trên mặt duyên khởi chúng cần sự mâu thuẫn này để tiếp cận chân lư tuyệt đối. Bởi v́ chúng không đ̣i hỏi bất cứ sự thành công nào của ngôn ngữ khi diễn giải về chúng, nếu không muốn nói là một thất bại của ngôn ngữ. V́ nếu ngôn ngữ không thất bại trong việc triển khai diễn giải th́ chúng đă đánh mất bản chất của duyên khởi, và như vậy th́ con đường Trung đạo cũng khó mà hiện hữu để đưa đến cảnh giới Niết-bàn tuyệt đối. Do đó Chân Tục bất nhị (chẳng phải hai) của kinh Nhân vương Bát-nhă chính là con đường Trung đạo từ Tục đến Chân qua bất nhị, chúng thể hiện được bản thể duyên khởi nhân quả không hai. Đó chính là con đường đưa đến tuyệt đối mà chúng không tự đánh mất hiện tượng biểu tượng của chúng qua ngôn ngữ.

2. Theo các tông, luận Đại thừa như:

- Theo Pháp tướng tông[11], ngài Khuy Cơ viết trong Đại thừa pháp uyển nghĩa chương 2[12]  căn cứ vào bốn loại Thế tục đế trong Du-già-sư-địa luận 64[13],  và bốn loại Thắng nghĩa đế trong luận Thành duy thức 9[14] mà quy nạp lại thành «Tứ chân tứ tục» (bốn chân, bốn tục) của bốn loại Nhị đế như sau.

a/ Theo Du-già-sư-địa luận th́ ‹cái b́nh› cùng ‹ngă› cả hai đều không có thật thể tồn tại, nhưng v́ phàm phu t́nh mê nên thấy là thật có, bèn một mặt y chiếu vào kiến giải thế gian giả danh cung cấp cho mà gọi là Thế gian Thế tục đế, hay là ‹Hữu danh vô thật đế› (sự thật về có danh không có thật). Ngược lại, theo Thành duy thức luận th́ các pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức, ngũ uẩn do nhân duyên sinh ra, tuy chúng sẽ bị băng hoại, nhưng v́ có thật thể cùng tác dụng, bậc Thánh có thể y cứ vào hậu đắc trí để có thể biết rơ được, nên gọi là Thế gian Thắng nghĩa đế, hay là ‹Thể dụng hiển hiện đế›. (Sự thật về thể và dụng hiển hiện) Ngài Khuy Cơ đă dùng hai thuyết trên mà qui nạp lại ‹Hữu› và ‹vô› làm thể của Nhị đế, làm thành Nhị đế riêng gọi là Nhị đế ‹danh-sự›. Danh chỉ cho ‹Hữu danh vô thật› (có danh không có thật) như sự hiện hữu của huyễn hoá; Sự chỉ cho ‹Hữu danh hữu thật› (có danh có thật) là sự tồn tại của mọi hiện tượng.

b/ Theo Du-già-sư-địa luận th́ đạo lư ngũ uẩn cùng mọi sự xưa nay vốn có sự sai biệt, nên tướng của chúng có thể phán đoán phân biệt được, nên gọi là đạo lư Thế tục đế, hay ‹Tuỳ sự sai biệt đế› (Sự thật về theo việc sai khác). Ngược lại, theo Thành duy thức luận cho rằng lư của Tứ đế tuy có sự sai biệt của nhân quả mê ngộ, nhưng nếu y vào trí vô lậu th́ có thể biết rơ, nên gọi là Thắng nghĩa đế đạo lư, hay ‹Nhân quả sai biệt đế› (sự thật về nhân quả sai khác). Ở đây ngài Khuy Cơ y cứ vào ‹sự› và ‹› mà thành lập ra Nhị đế riêng gọi là Nhị đế ‹sự-lư›.

c/ Theo Du-già-sư-địa luận th́ lư của Tứ đế có thể khiến cho người tu hành đi vào Niết-bàn, nhưng cần phải tạm mượn ngôn thuyết để tŕnh bày về sự sai biệt của nhân quả mê ngộ, mới có thể biết rơ tướng của chúng, nên gọi là Chứng đắc Thế tục đế, hay là ‹Phương tiện an lập đế› (sự thật về phương pháp an lâp). Ngược lại, theo Thành duy thức luận th́ cho rằng, hai cái không chân như của ‹Ngă không› cùng ‹pháp không› cần phải nhờ trí tuệ của bậc Thánh quán chiếu mới có thể hiển hiện lư chân thật của chúng, ngoài ra phàm phu không thể nào có thể biết rơ được, nên gọi là Chứng đắc Thắng nghĩa đế, hay là ‹Y môn hiển thật đế› (sự thật về nương vào cửa mà hiển hiện thật). Ở đây, ngài Khuy Cơ y cứ vào chỗ ‹cạn› và ‹sâu› của đạo lư mà thiết lập ra Nhị đế riêng gọi là Nhị đế thiển-thâm (cạn-sâu).

d/ Theo Du-già-sư-địa luận th́ Chân như nhị không siêu việt tất cả pháp hữu vi, rất ít do trí tuệ các bậc Thánh chứng biết, nên tạm mượn tên Nhị không, mà dùng ngôn ngữ để thể hiện sự giải thích rơ ràng về đạo lư của chúng, nên gọi là Thắng nghĩa Thế tục đế, hay là ‹Giả danh phi an lập đế› (sự thật về giả danh chẳng cần phải thiết lập an vị). Ngược lại, theo Thành duy thức luận th́ cho rằng ‹Nhất chân pháp giới›[15] của phi an lập (chẳng cần phải an lập), chỉ cần siêu việt cảnh giới tuyệt đối của ngôn ngữ tư duy, th́ sẽ đạt đến chỗ chứng ngộ trí vô phân biệt căn bản của bậc Thánh, nên gọi là thắng nghĩa Thắng nghĩa đế, hay là ‹Phế thuyên đàm chỉ đế› (sự thật về bỏ giải thích, bàn về yếu chỉ). Ở đây, ngài Khuy Cơ y cứ vào ‹Ngôn thuyên› (lời giải thích) cùng ‹Siêu ngôn thuyên› (vượt lên trên lời giải thích), mà thiết lập Nhị đế riêng gọi là Nhị đế Thuyên-chỉ (giải thích, yếu chỉ ‹im lặng›).

Thế gian Thế tục đế trong bốn Thế tục đế là «Duy tục phi chân» (chỉ có tục không có chân); và thắng nghĩa Thắng nghĩa đế trong bốn Thắng nghĩa đế là «Duy chân phi tục» (chỉ có chân không có tục). C̣n ba Thế tục đế, ba Thắng nghĩa đế khác kia cũng giống như vậy, chỉ do từ hai mặt của chân tục mà quán, nên có chỗ sai biệt.

Một sự kết hợp trong Đại thừa Pháp uyển nghĩa chương, ngài Khuy Cơ đă cho ra bốn chủng loại Nhị đế qua biểu tượng ngôn ngữ tên gọi mang những thuộc tính của chính nó trong việc đánh giá hỗ tương duyên khởi nhân quả qua việc lập danh, đă mang lại cho Nhị đế một cách nh́n khác, qua ngôn ngữ chúng trở thành những biểu tượng của hiện tượng khác ngang qua thuộc tính của chính nó, theo đó chúng có được những giá trị nào đó trên đường hướng về tuyệt đối, mà chúng như là những đối tượng được nhận thức qua ngôn ngữ biểu tượng, ngoài những ngôn ngữ tên gọi và thuộc tính của Du-già sư-địa luậnThành duy thức luận. Sự h́nh thành tứ trùng Nhị đế (bốn lớp hai sự thật) này do sự kết hợp bốn chủng loại thế gian Thế tục đế trong Du-già-sư-địa luận và bốn chủng loại thế gian Thắng nghĩa đế trong Thành duy thức luận để cho ra bốn chủng loại Nhị đế gọi là ‹Danh sự Nhị đế›, ‹Sự lư Nhị đế›, ‹Thâm thiển Nhị đế›, ‹Thuyên chỉ Nhị đế› của Thế gian. Như vậy ở đây ngài Khuy Cơ chỉ căn cứ vào tục-chân của Thế gian để thiết lập Nhị đế chứ không căn cứ vào xuất thế gian để thiết lập Nhị đế.

- Lớp thứ nhất danh sự Nhị đế, ngài Khuy Cơ dùng ‹hữu› ‹vô› để thiết lập thể của Nhị đế. Danh ở đây chỉ cho nghĩa ‹hữu danh vô thật› (có danh không thật). Theo Du-già-sư-địa luận th́ mọi sự vật được hiện hữu nhờ vào tên đặt cho chúng, như cái nhà, cái b́nh, ngă, hữu t́nh v.v…, và tên đặt này luôn tuỳ thuộc vào nhân duyên mà có sự hiện hữu, do đó chúng không có thật thể, chúng chỉ là một giả danh mà thôi, nên chúng có được chỉ là một tên giả đặt, nên chúng được gọi là thế gian Thế tục đế (hay hữu danh vô thật đế) (sự thật về có danh không có thật), chúng thuộc vào vế thứ nhất của Nhị đế. Đối lại thể ‹Danh› là ‹Sự›, tức chỉ cho nghĩa ‹Hữu danh hữu thật› (có danh có thật). Theo Thành duy thức luận th́ các pháp sắc, thọ, tưởng, hành, thức của năm uẩn do nhân duyên sinh khởi, tuy chúng sẽ bị băng hoại biến đổi trên mặt hiện tượng được gọi là thế gian, nhưng mọi sự vật này đều có thực thể và được hiện hữu qua tác dụng nhờ vào hậu đắc trí của các bậc Thánh giả để có thể biết được nên chúng được gọi là thế gian Thắng nghĩa đế (hay c̣n gọi là Thế dụng hiển hiện đế) (sự thật về thể dụng hiển hiện), chúng thuộc vào vế thứ hai của trùng thứ nhất. Sự kết hợp giữa thế gian Thế tục đế và thế gian Thắng nghĩa đế của ‹Hữu danh vô thật› Địa luận và ‹Hữu danh hữu thật› của Thành duy thức luận. Ngài Khuy Cơ căn cứ vào mặt hiện tượng hiện hữu của mọi sự vật qua tên gọi; nhưng những tên gọi này chúng có danh mà không có thực thể, v́ sự hiện hữu của chúng có được là nhờ vào nhân duyên giả hợp, nên chúng chỉ mang một cái tên giả tạm để phân biệt với những tên khác cùng lúc hiện hữu với chúng qua nhân duyên. Do đó muốn đạt được bản thể của những hiện tượng qua tên gọi giả danh này, th́ theo ngài Khuy Cơ là cần phải vay mượn chủ trương ‹Hữu danh hữu thật› (có danh có thật) của Thành duy thức luận để thành lập vế thứ hai cho Nhị đế, như trên đă nói qua hậu đắc trí của các bậc Thánh trong việc thông đạt và liễu tri chúng. Đây là biện chứng pháp lớp thứ nhất từ tục qua chân của Nhị đế.

- Lớp thứ hai sự lư Nhị đế, ngài Khuy Cơ dùng đạo lư Thế tục đế (hay tùy sự sai biệt đế) (Sự thật về tùy theo việc sai khác) của Du-già sư-địa luận làm ‹sự›, v́ theo các nhà Du-già-sư-địa luận chủ trương đạo lư xưa nay của năm uẩn cùng mọi sự vật, chúng vốn có sự sai biệt trên mặt hiện tượng, cho nên chúng ta có thể căn cứ vào tướng của chúng mà định danh phân biệt. Đây là vế thứ nhất của lớp thứ hai Nhị đế. Ngược lại ‹sự› là ‹lư›, ngài Khuy Cơ dùng đạo lư Thắng nghĩa đế (hay nhân quả sai biệt đế) (sự thật về nhân quả sai khác nhau) của Thành duy thức luận làm ‹lư›, v́ theo các nhà Thành duy thức luận th́ lư Tứ đế tuy có sự sai biệt giữa nhân quả mê ngộ, nhưng nếu căn cứ vào trí vô lậu th́ có thể hiểu biết rơ ràng. Đây là vế thứ hai của lớp thứ hai Nhị đế theo chủ trương của Ngài Khuy cơ dựa vào nhân quả sự-lư tục-chân của Du-già-sư-địa luậnThành duy thức luận mà thành lập lớp thứ hai lư sự Nhị đế của ḿnh. Theo ngài Khuy Cơ dù trên mặt hiện tượng ‹sự› bị chi phối bởi mọi hiện tướng sai biệt của con người cùng sự vật theo đạo lư Thế tục đế của các nhà Du-già-sư-địa luận, nhưng về mặt lư th́ vẫn khó tiếp cận cho dù nhân quả mê ngộ của lư Tứ đế có sự sai biệt, song vẫn phải y cứ vào trí vô lậu của đạo lư Thắng nghĩa đế của Thành thật luận mới có khả năng nhận thức rơ ràng về chúng. Đây là biện chứng pháp lớp thứ hai từ tục qua chân của Nhị đế.

- Lớp thứ ba thiển thâm (cạn, sâu) Nhị đế, ngài Khuy Cơ dùng chứng đắc Thế tục đế (hay phương tiện an lập đế) (sự thật về phương pháp thiết lập an vị) của Du-già-sư-địa luận làm ‹thiển› (cạn), v́ theo các nhà Du-già-sư-địa luận chủ trương th́ lư của Tứ đế có khả năng khiến cho hành giả tu hành có thể thâm nhập vào Niết-bàn, qua cách vay mượn ngôn ngữ, dùng đế thuyết minh về sự sai biệt của nhân quả mê ngộ, th́ mới có thể biết rơ được tướng của chúng, nếu không nhờ chúng th́ chúng ta khó mà thâm nhập. Đây là vế thứ nhất của lớp thứ ba Nhị đế. Ngược lại ‹thiển› (cạn) là ‹thâm› (sâu), ngài Khuy Cơ dùng chứng đắc Thắng nghĩa đế (hay y môn hiển thật đế) (sự thật về y cửa hiển hiện thật) của Thành duy thức luận  làm ‹thâm› (sâu), v́ theo các nhà Thành duy thức luận th́ hai cái không chân như của ‹nhơn không› cùng ‹pháp không›, muốn lư chân thật của chúng hiển hiện thật sự th́ cần phải nhờ đến trí tuệ quán chiếu của các bậc Thánh giả th́ mới có khả năng, c̣n không th́ đối với những kẻ phàm phu như chúng ta th́ không thể nào nhận thức rơ ràng được. Đây là vế thứ hai của lớp thứ ba Nhị đế theo chủ trương của ngài Khuy Cơ dựa vào chỗ thâm nhập cạn sâu của Du-già-sư-địa luận và Thành duy thức luận mà thành lập lớp thứ ba thiển thâm (cạn sâu) Nhị đế của ḿnh. Theo ngài Khuy Cơ lư Tứ đế có khả năng khiến cho người thực hành thông đạt Niết-bàn, nhưng cần phải vay mượn ngôn ngữ và lời nói để nói rơ về sự sai biệt của nhân quả mê ngộ th́ chúng ta mới có thể nhận rơ ra được bộ mặt sai biệt qua hiện tượng của chúng nhờ vào chứng đắc Thế tục đế của Du-già-sư-địa luận, nhưng c̣n Chân như của hai không ‹nhơn không› và ‹pháp không› khó mà đạt được qua việc vay mượn vào ngôn thuyết, mà phải nhờ vào trí tuệ quán chiếu của các bậc Thánh mới có thể làm hiển hiện lư chân thật của chúng qua chứng đắc Thắng nghĩa đế của Thành thật luận. Đây là biện chứng pháp lớp thứ ba từ cạn ‹tục› qua sâu ‹chân› Nhị đế của ngài Khuy Cơ.

- Lớp thứ tư thuyên chỉ (giải thích, yếu chỉ) Nhị đế, ngài Khuy Cơ dùng thắng nghĩa Thế tục đế (hay giả danh phi an lập đế) (sự thật về giả danh chẳng cần thiết lập an vị) của Du-già-sư-địa luận làm ‹thuyên› (giải thích), v́ theo các nhà Du-già-sư-địa luận th́ hai cái không chân như siêu việt khỏi tất cả các pháp hữu vi, chỉ có một ít trí tuệ Thánh giả chứng biết mà thôi, nên chúng ta cần phải vay mượn tên của hai cái không mà dùng ngôn ngữ biểu trưng để giải thích (biểu thuyên) đạo lư của chúng. Đây là vế thứ nhất của lớp thứ tư Nhị đế. Ngược lại ‹thuyên› là ‹chỉ›, ngài Khuy Cơ dùng thắng nghĩa Thắng nghĩa đế (hay phế thuyên đàm chỉ đế) (sự thật về bỏ giải thích, bàn nói yếu tính) của Thành duy thức luận làm ‹chỉ› (yếu tính), v́ theo các nhà Thành duy thức luận th́ Nhất chân pháp giới không cần an lập nó, v́ nó là cảnh giới tuyệt đối vượt ra ngoài ngôn ngữ tư duy, là nơi của trí căn bản vô phân biệt chứng ngộ. Đây là vế thứ hai của lớp thứ tư Nhị đế, theo chủ trương của ngài Khuy Cơ dựa vào tương đối qua việc vay mượn ngôn thuyết tên gọi của nhị không ‹nhơn không› và ‹pháp không› của Du-già-sư-địa luận và mặt tuyệt đối của của nhị không là cảnh giới siêu việt ngôn ngữ tư duy của Thành duy thức luận mà thành lập lớp thứ tư thuyên chỉ Nhị đế của ḿnh. Đây là biện chứng pháp lớp thứ tư của nhị đế từ tục qua chân.

- Theo chủ thuyết của Địa luận tông[16] th́ như Đại thừa nghĩa chương q.1, ngài Tuệ Viễn[17] phán lập ra bốn tông: Lập tánh tông, Phá tánh tông, Phá tướng tông, Hiển thật tông để thuyết minh về nghĩa sâu cạn không đồng của Nhị đế như sau:

a/ Lập tánh tông, là nghiên cứu về Tỳ đàm tông[18] giáo thuyết của Hữu bộ. Tỳ-đàm tông chủ trương sự lư tương đối, dùng sự làm Thế đế, dùng làm Chân đế. Như ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới, mọi sự chướng ngại nhau, làm Thế đế; vô thường, các khổ, mười sáu Thánh đế tương thông tất cả là Chân đế. Tông này dùng sự lư tương đối để lập giáo thuyết của họ, cho nên c̣n gọi là Nhân duyên tông thuộc chủ thuyết các căn cơ thấp (thiển) của các nhà Tiểu thừa. Ngài Tuệ Viễn y cứ vào giáo thuyết Tỳ-đàm tông ‹sự lư› tương đối của Hữu bộ[19] làm Thế đế và Chân đế. Sự chỉ cho các pháp hữu vi có h́nh tướng có chướng ngại với nhau, như sự hiện hữu của con người (ngũ uẩn), con người và đối tượng chung quanh cuộc sống con người (thập nhị xứ), nhân sinh quan và vũ trụ quan của con người (thập bát giới), chúng chướng ngại nhau, mâu thuẫn sai biệt nhau qua từng biểu tượng tuỳ theo thuộc tính của chúng. Lư chỉ cho các pháp vô vi tương thông với mọi giá trị nhân quả duyên khởi của vô thường, khổ thuộc mười sáu Thánh đế. Đây là thuyết tương đối qua sự lư Nhị đế  căn cơ thấp (thiển, cạn) của các nhà Tiểu thừa.

b/ Phá tánh tông, chỉ cho Thành thật luận. Tông này lấy ‹Giả hữu của nhân duyên sinh› (giả có của nhân duyên sinh khởi) làm Thế đế, lấy ‹Không của vô tự tánh› (không của không có tự tánh) làm chân đế, c̣n gọi là Giả danh tông, thuộc chủ thuyết thuộc căn cơ cao (thâm) của các nhà Tiểu thừa. Ngài Tuệ Viễn y cứ vào mọi hiện tượng hiện hữu của nhân duyên sinh khởi có được cho là giả hữu, v́ chúng chỉ hiện hữu được do nhân duyên sinh khởi, nên sự hiện hữu của chúng không thật có, mà chúng là giả có. Sự giả có này được gọi là Thế đế. Và lấy không của không tự tánh làm Chân đế, v́ sự hiện hữu của các pháp do nhân duyên sinh nên tánh của chúng là không, không có tự tánh. Ở đây ‹Giả hữu của duyên sinh›, cùng ‹không của vô tự tánh› chúng cũng thuộc vào hệ thống nhân quả sự lư tương đối của tục-chân Nhị đế thuộc căn cơ cao của Tiểu thừa.

c/ Phá tướng tông, chỉ cho Tam luận tông[20]. Tông này lấy ‹Hữu của tướng vọng tất cả các pháp› làm Thế đế, lấy ‹Không của vô tướng› làm chân đế, c̣n gọi là bất chân tông (tông chẳng phải chân), thuộc chủ thuyết căn cơ thấp của các nhà Đại thừa. Sự hiện hữu của tất cả các pháp được h́nh thành qua biểu tượng đều thuộc tướng vọng. Tướng vọng này có được cũng từ nhân duyên sinh, do đó chúng thuộc về giả tướng, hay là giả danh theo thuộc tính của chính nó qua duyên khởi. V́ chúng hiện hữu như vậy, nên sự hiện hữu này thuộc về Thế đế, không thật có mà chỉ có trong vọng tưởng, chúng như sương mai, như điện chớp, như giấc mộng. Từ sự hiện hữu như vọng tưởng của các pháp qua duyên khởi, chúng như là thật có đối với các tâm hồn mê mờ, trong khi bản chất của chính chúng là không v́ chúng không có thực thể, là không tướng của giả hợp do nhân duyên h́nh thành, và sẽ biến chuyển khi duyên không c̣n đủ, và cứ như thế chúng kết hợp chúng tan ră tuỳ thuộc vào duyên đủ ‹không của vô tướng› mà ngài Tuệ Viễn dùng làm Chân đế cho chủ trương của ḿnh về Nhị đế. Ở Tục đế và Chân đế vẫn được coi như là một sự kết hợp của tương đối của chủ thuyết thuộc căn cơ thấp của các nhà Đại thừa.

d/ Hiển thật tông, chỉ cho tông Địa luận của Tuệ Viễn, yếu chỉ của chúng có thể phân ra làm hai nghĩa Y tŕDuyên khởi. Theo nghĩa Y tŕ mà nói th́ dùng pháp tướng vọng làm năng y, nên lấy vọng hữu (vọng có), lư vô (lư không) làm Thế đế, dùng chân như làm sở y, tướng của chúng tuy không nhưng vẫn tồn tại thật thể, nên lấy làm chân đế. Theo nghĩa duyên khởi mà nói th́ tự thể của Chân như tức là Chân đế, chúng y cứ vào duyên khởi mà hiển hiện thế giới mê ngộ nên gọi là Thế đế. V́ Tông này nói rơ về thể của Chân như, nên gọi là Chân tông, thuộc chủ thuyết căn cơ sâu trong Đại thừa. Đây chính là tông Địa luận của ngài Tuệ Viễn được y cứ vào hai nghĩa y tŕ duyên khởi mà thiết lập Nhị đế. Ở đây y tŕ dùng tướng vọng của các pháp làm năng y, lấy vọng hữu, lư vô làm Thế đế, và tướng vọng của các pháp tuy là không, trên mặt hiện tượng qua giả hợp, nhưng thật thể của chúng vẫn tồn tại, nên lấy chúng làm Chân đế; c̣n đối với nghĩa duyên khởi th́ tự thể của chân như tức là Chân đế. Từ tự thể này chúng y cứ vào duyên khởi mà hiện khởi ra mọi sai biệt trên tướng mê ngộ ở giữa thế gian này qua nhân quả trong hiện tướng, nên lấy chúng làm Thế đế. Qua hai nghĩa của y tŕ và duyên khởi cho ra hai cặp Nhị đế, chúng vẫn căn cứ vào sự hiện khởi tương đối của các pháp mà thiết lập Nhị đế của Hiển thật tông theo chủ thuyết căn cơ cao của các nhà Đại thừa.

- Theo Pháp hoa Huyền nghĩa q. 2[21] của Trí Khải Đại sư[22] Thiên thai tông[23] chủ trương trong Hoá pháp Tứ giáo[24] và ba loại liên hệ nhau[25] mà phán lập ra bảy loại Nhị đế như sau:

a/ Nhị đế của Tạng giáo[26], lấy các pháp là pháp thật có của các pháp thật sinh thật diệt làm Tục đế, và lấy pháp thật có này sau khi diệt rồi qui về lư không-vô làm Chân đế. Chúng thuộc về chủ thuyết của Tiểu thừa giáo, c̣n gọi là Nhị đế sinh-diệt. Đây chính là quan điểm Nhị đế thuộc Tạng giáo của các nhà Tiểu thừa, căn cứ vào nhân quả duyên khởi để thiết lập Chân Tục Nhị đế qua sinh-diệt.

b/ Nhị đế của Thông giáo[27], lấy ‹Các pháp là pháp huyễn có do nhân duyên sinh.› làm Tục đế, và lấy ‹V́ chẳng phải thật có, nên tức không.› làm Chân đế. Đây là chủ thuyết chung cho cả ba giáo Thinh văn, Duyên giác, và Bồ-tát, c̣n gọi là Nhị đế vô sinh.

c/ Nhị đế của Biệt giáo[28] liên hệ Thông giáo, lấy ‹Các pháp là huyễn có› làm Tục đế, lấy ‹Huyễn hữu tức không, bất không.› (huyễn có tức không, chẳng phải không) làm Chân đế. Đây là Nhị đế chủ thuyết chung cho cả biệt giáo và thông giáo, c̣n gọi là Nhị đế hàm trung (bao hàm cả trung đạo), hay Nhị đế đơn Tục phức Chân (một tục hai chân).

d/ Nhị đế của Viên giáo[29] liên hệ Thông giáo, lấy ‹Các pháp là huyễn có› làm Tục đế, lấy ‹Huyễn có tức không mà chẳng phải không, các pháp về không mà chẳng phải không› làm Chân đế. Đây là chủ thuyết Nhị đế cho cả Viên giáo và Thông giáo, cùng Nhị đế biệt giáo cho cả Thông giáo cùng gọi là Nhị đế hàm trung (bao hàm cả trung đạo).

e/ Nhị đế của Biệt giáo, lấy ‹Huyễn có, huyễn có tức không› làm Tục đế, lấy ‹B́nh đẳng pháp giới của chẳng phải có, chẳng phải không› làm Chân đế. Đây là Nhị đế của giáo thuyết dành riêng cho Bồ-tát Đại thừa, c̣n gọi là Nhị đế phức Tục đơn trung (hai tục, một trung đạo), hay Nhị đế vô lượng.

g/ Nhị đế của Viên giáo liện hệ với Biệt giáo, lấy ‹Huyễn có, huyễn có tức không› làm Tục đế, và lấy ‹chẳng phải có, chẳng phải không, các pháp hướng vào chẳng phải có, chẳng phải không› làm Chân đế. Đây là chủ trương Nhị đế của Viên giáo liện hệ với Biệt giáo, cùng Nhị đế Biệt giáo đồng gọi là Nhị đế phức tục đơn trung (hai tục, một trung đạo).

h/ Nhị đế của Viên giáo, lấy ‹Huyễn có, huyễn có tức không› làm Tục đế, lấy ‹Các pháp hướng vào có, hướng vào không, hướng vào chẳng phải có chẳng phải không› làm Chân đế. Hay ngoài hữu-không, lập riêng Trung đạo, ba đế Hữu-không-trung đạo riêng nhau, làm Tục đế; không thiên về Hữu-không-trung đạo, ba đế tương tức, viên dung vô ngại, là chân đế. Đó là Nhị đế của Viên giáo Thiên thai, c̣n gọi là Nhị đế vô tác, Nhị đế hoà hợp, Nhị đế bất khả tư nghị. Nhị đế chân tục kia, hỗ tương làm một thể, viên dung bất nhị, thể của nó là Trung đạo.

Ư nghĩa Nhị đế theo Mạt pháp đăng minh kư chuyên dụng[30] gọi Phật pháp là Chân đế, Vương pháp là Tục đế. Tịnh độ Chân tông[31] của Nhật bản cũng noi theo thuyết này cho rằng về mặt tín ngưỡng tôn giáo là Chân đế, về đạo đức thế gian là Tục đế.

- Theo Tam luận tông của ngài Cát Tạng cho rằng, từ khi Thành thật luậnTrung luận được triển khai giảng giải, th́ nhất là Nhị đế rất được bàn luận và nghiên cứu một cách nghiêm túc và thịnh hành. Trong chương Nhị đế  quyển hạ[32] ngài Cát Tạng đă tường thuật về mười bốn tác gia từ xưa tới nay nói về thể của Nhị đế. Trong sự sai biệt này, được Ngài tóm thâu và chia ra làm 3 khuynh hướng chủ trương theo những thuộc tính cách nh́n của từng khuynh hướng một. a/ Thể của Nhị đế là một, b/ Thể của Nhị đế khác nhau, c/ Thể của Nhị đế là Trung đạo. Cũng trong chương Nhị đế, Cát Tạng dẫn xuất từ Đại thừa huyền luận q. 1[33], chủ thuyết ‹Nhị đế Ư-giáo› cùng ‹Nhị đế tứ trùng › (Nhị đế bốn lớp) dùng để tóm thâu các giáo thuyết của Nhị đế.

- Nhị đế Ư-giáo, tức chỉ cho ‹Ư chi Nhị đế› (hai sự thật nói về nơi nương tựa) tức là ư đế cùng với ‹Giáo chi Nhị đế› (hai sự thật nói về nương tựa) tức chỉ cho giáo đế. Nói một cách dễ hiểu hơn th́:

a/ ‹Ư› có nghĩa là chỉ cho chỗ nương vào (sở y), là đối tượng để chư Phật nói pháp, tức chỉ cho cảnh giới lục trần, là cảnh giới hiện thực trước mặt chúng ta. Sắc h́nh cùng cảnh giới lục trần, phàm phu thấy chúng, nh́n kỹ cho là có thực, nên gọi là ‹ư Tục đế›; nhưng đối với bậc Thánh th́ xét soi rơ biết chúng là không nên gọi là ‹ư Chân đế›. Ư đế lại phân làm hai loại bổn-mạt (gốc, ngọn) thời gian chư Phật chưa xuất hiện trở về trước th́ ‹bổn› này tức tồn tại, chư Phật y vào đó mà tuyên thuyết giáo pháp, đó chính là ‹sở y ư đế› (bổn); thời gian nghe chư Phật thuyết pháp, mà chúng sanh được lư giải, đó là ‹mê giáo ư đế› (mạt).

b/ ‹Giáo› có nghĩa là nương tựa (năng y), chỉ cho chư Phật y vào cảnh giới lục trần nói ra giáo pháp. Giáo thuyết chân không diệu hữu, gọi là ‹Giáo tục đế›; tuyên thuyết lư vô sở đắc siêu việt ngôn ngữ tư tưởng tư duy, gọi là ‹Giáo chân đế›. Ở đây, nếu hiệp hai loại bổn-mạt ‹Ư Nhị đế› ghi trên cùng ‹Giáo chi Nhị đế› lại th́ có ba loại Nhị đế.

- Tứ trùng Nhị đế (bốn lớp Nhị đế), được ngài Cát Tạng rút ra từ các chủ trương của các nhà Tỳ-đàm, các nhà Thành thật luận, các nhà Đại thừa Địa luận tông, cùng của các nhà Đại thừa Nhiếp luận. Hai chủ trương trên là chủ trương của các nhà Tiểu thừa, c̣n hai chủ trương dưới là của các nhà Đại thừa. Sau đây là Tứ trùng (bốn lớp) Nhị đế được khai triển qua biện chứng pháp vô thường duyên khởi theo dạng từ thấp lên cao; từ nhân quả đến duyên khởi; từ tiểu lên đại; từ hữu đến không của sự và lư; từ có không đến chẳng có chẳng không; từ có không, chẳng có chẳng không đến chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không; từ hai, chẳng hai, chẳng phải hai chẳng phải chẳng hai đến ngôn ngữ tiêu mất suy nghĩ dứt luôn (ngôn vong lự tuyệt):

a/ Lớp thứ nhất Nhị đế của các nhà Tỳ đàm chủ trương, lấy ‹Hữu› (có) tức ‹sự› làm Tục đế, lấy ‹không› tức ‹› làm Chân đế. Các nhà Tỳ-đàm dùng sự-lư, hữu-không của đạo lư nhân quả thế gian mà thành lập Tục đế và Chân đế, theo biểu tượng và thuộc tính của chúng để cho ra Nhị đế tục chân. Ở đây chỉ sử dụng có hữu của tục và không của chân để thiết lập Nhị đế nên chúng được gọi là một lớp (nhất trùng) Nhị đế.

b/ Lớp thứ hai Nhị đế của các nhà Thành thật luận chủ trương, lấy ‹Hữu-không› làm Tục đế, lấy ‹chẳng phải có chẳng phải không› làm Chân đế. Ở đây, ngoài hữu của tục đế c̣n thêm không, và được gọi là hữu-không của tục đế làm vế thứ nhất, và vế thứ hai phủ nhận hữu-không của vế thứ nhất để cho ra chẳng phải có chẳng phải không làm chân đế của vế thứ hai. Chủ trương này của các nhà Thành thật luận Tiểu thừa cũng đứng trên mặt hiện tượng tương đối nhân quả mà thành lập theo sự hiện khởi của mọi vật và sự huỷ diệt của chúng mà chấp nhận cả có lẫn không trên mặt nhận thức về hiện tượng tương đối thế gian thuộc tục đế, nên được gọi là hai lớp (nhị trùng) Nhị đế.

c/ Lớp thứ ba Nhị đế của các nhà Đại thừa Địa luận tông chủ trương, lấy ‹Hữu-không, chẳng phải có chẳng phải không› của nhị[34] (hai), bất nhị (chẳng hai) làm Tục đế, lấy ‹chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không› của phi nhị (chẳng phải hai), chẳng phải chẳng hai), làm Chân đế. Đây là chủ trương của các nhà Đại thừa Địa luận tông, họ chấp nhận hai sự kiện vừa có vừa không, và thiết lập hai sự kiện vừa chẳng phải có (tức là không) vừa chẳng phải chẳng không (tức là có) để thiết lập Tục đế và, đối lại với vế trên bằng cách phủ định hai sự kiện vừa chẳng phải có (tức không, mặt trái của phủ định là xác định) vừa chẳng phải không (tức là có, mặt trái của phủ định là xác định), vừa chẳng phải chẳng có (tức là chấp nhận không) vừa chẳng phải chẳng không (chấp nhận có) để thiết lập Chân đế. Đây là một cách luận lư vừa phủ định cái này để xác định cái kia theo dạng nhân quả duyên khởi để thành lập biện chứng pháp trên con đường tiến về tuyệt đối của các nhà Đại thừa Địa luận tông trong việc thiết lập theo ba lớp (tam trùng) Nhị đế.

d/ Lớp thứ tư Nhị đế của các nhà Đại thừa Nhiếp luận chủ trương, lấy ba lớp (tam trùng) trước làm Tục đế, và lấy ‹Ngôn vong lự tuyệt› (ngôn ngữ tiêu mất suy nghĩ dứt luôn) thuộc cảnh giới tuyệt đối làm Chân đế. Đây là lớp thứ tư (tứ trùng) Nhị đế của các nhà Đại thừa Nhiếp luận, họ căn cứ vào ba lớp Nhị đế trước làm tục đế. Ở đây, nếu dùng ba lớp trước làm tục đế tức là chấp nhận đạo lư nhân quả duyên khởi tương đối của ba trùng trước, như là một biện chứng pháp đưa đến ngôn ngữ tiêu mất suy nghĩ dứt luôn (ngôn vọng lự tuyệt) thuộc cảnh giới tuyệt đối mà ngôn ngữ không thể nào với tới được như họ đă chủ trương. Vậy làm sao có thể nhận thức và thâm nhập được vào cảnh giới tuyệt đối đó bằng ba lớp trên, trong khi ngôn ngữ và tư duy đều bị cắt đứt?   

- Nhưng theo phẩm quán Tứ đế Trung luận 4[35] thuyết th́, tất cả mọi sự vật không có bản tính nhất định bất biến, nó là Không của không sinh không diệt; nếu chúng ta nhận thức nắm bắt một cách rơ ràng lư Không này, th́ chính nó là Đệ nhất nghĩa đế, v́ lư không này theo ngài nó không liên hệ ǵ đến Nhị đế như các nhà Tiểu thừa và Đại thừa chủ trương, và theo ngài nếu có thể quan niệm được th́ Nhị đế tương đối, hoàn toàn thuộc về Tục đế, c̣n đệ nhất nghĩa đế vượt ra ngoài Tục đế, nó chính là tánh không. Hơn nữa tánh không của tất cả mọi sự vật, v́ muốn bảo tŕ tác dụng của tánh không trên mặt hiện tượng của mọi sự vật th́ cần phải tạm mượn mọi sự liên hệ cùng nương vào nhau, cùng đối đăi với nhau để thể hiện qua nhân duyên của chính chúng mà sản sinh ra nhận thức tác dụng; khi biết rơ được pháp giả danh tạm mượn này, th́ nó chính là Thế tục đế (Samvṛti). Thế tục đế tuy là pháp không có cứu cánh, nhưng có thể mượn nó làm phương tiện tham cứu, mà tiếp cận Thắng nghĩa đế. Ví như ngôn ngữ, tư tưởng, quan niệm của chúng ta đều thuộc về Thế tục đế, song nếu không mượn ngôn ngữ, tư tưởng, quan niệm của Thế tục đế, th́ Thắng nghĩa đế chúng ta sẽ không với tới được, và sẽ không giải thoát siêu việt được Thế tục đế. Không có pháp để hiểu được Đệ nhất nghĩa đế (Paramārtha), th́ sẽ không có pháp để chứng đắc Niết-bàn được. Do đó, theo ngài trước hết, cần phải làm sáng tỏ Pháp không (Dharmaśùnyatà), qua chủ trương mọi vật đều không (sarvaṃ śūnyam) như đức Phật đă từng dạy: «Mọi vật đều vô thường, mọi vật đều vô ngă» như trong ba pháp ấn, chúng không có tự tính, nên các pháp hiện hữu có được là do duyên sinh, ngay cả Tứ đế cũng chỉ là một hiện hữu do duyên, nên chúng cũng không thật hữu, chỉ là sự hiện hữu giả danh; và sau đó mới hiểu thấu được tại sao hai vế của Nhị đế thuộc về tục đế  mà không liên hệ ǵ đến chân đế? «Ngài không phủ nhận Nhị đế mặc dù ngài đă liệt nó vào hàng Tục đế trên phương diện mê. Song không thể không chấp nhận giáo lư này trên cái nh́n của bậc Thánh, v́ giữa sanh tử và Niết-bàn không có sự sai khác. V́ khi mê Nó là  tục, khi ngộ Nó là chơn; chỉ khác nhau  ở chỗ mê nó và ngộ nó, như bài kệ ngài viết :

            Nếu chẳng y  Tục đế

            Chẳng được Đệ nhất nghĩa

            Không được Đệ nhất nghĩa

Thời không đạt Niết-bàn[36][20] .

Ở đây, có sự sai biệt nhau trên b́nh diện mê, nên có Tục đế-Đệ nhất nghĩa đế-Niết bàn. Nhưng khi ngộ th́ chính ba cái sai biệt đó không khác nhau. V́ những lư do đó cho nên ngài Long Thọ không phủ nhận giáo lư Nhị đế trong quan điểm của ḿnh, và chỉ coi nó như là một phương tiện cần cho giai đoạn chuyển mê khai ngộ. Theo ngài, nếu không nhờ những ngôn thuyết của Tục đế thời Đệ nhất nghĩa không nói được, và nếu không đạt được Đệ nhất nghĩa th́ làm sao chúng ta có thể đạt được Niết bàn? V́ vậy, nó được coi như là một phương tiện chuyên chở cho sự thành công của một cứu cánh. Nhưng khi cứu cánh đă  đạt được, và nó nh́n lại chính nó, th́ chính nó là phương tiện chứ không ǵ khác. Từ những lập luận này cho chúng ta thấy rằng: quan điểm Sūnyatā của ngài Long Thọ không phủ nhận giáo lư Nhị đế. Quan điểm của ngài Long Thọ này cũng đồng quan điểm của đức Phật trong kinh Pháp Hoa, TT. Tuệ Sỹ trong Triết học về tánh không tr. 29 đă viết và trích dẫn: «Kinh Pháp hoa, qua ng̣i bút của La-Thập, đă nói rơ về vai tṛ của định thức duyên khởi ấy như sau: ‹Chân lư mà đức Phật tự chứng, không thể nói lên bằng ngôn ngữ, nhưng có thể đề mở ra con đường dẫn về nó, sau khi trầm tư về sự chứng ngộ của ḿnh dưới gốc cây Bồ-đề. Phật đă quyết định đến Ba-la-nại, nói về Tứ diệu đế cho năm thầy tỳ-kheo.› Tứ diệu đế được thiết lập trên tương quan của định thức duyên khởi: Khổ và Tập, nhân quả lưu chuyển. Diệt, Đạo, nhân quả hoàn diệt.» Như đức Phật đă dạy chân lư mà Ngài đă tự chứng, không thể nói lên bằng ngôn ngữ, nhưng chúng ta có thể mở ra một con đường dẫn về nó đó chính là giáo lư Tứ diệu đế mà Ngài đă dạy cho năm thầy tỳ-kheo. Và các đế này được thiết lập trên tương quan định thức duyên khởi qua Nhị đế. Định thức duyên khởi này chính là một phương tiện quyền xảo để khai thông con đường giữa (Trung đạo) mà tương đối là đại diện cho Tục đế thuộc thế giới hiển nhiên của tri thức và chân lư tuyệt đối, siêu nghiệm thuộc về Chân đế. Hai thế giới này luôn luôn mâu thuẫn nhau trong việc thành lập Nhị đế như những chủ trương của các nhà Tiểu thừa và Đại thừa nêu trên. Vậy th́ làm sao duyên khởi có thể bao hàm cả tương đối hiển nhiên của Tục đế và tuyệt đối siêu nghiệm của Chân đế?  Trong khi Tục đế và Chân đế luôn mâu thuẫn nhau trong kết cấu văn tự của thế giới hiển nhiên Tục đế qua Nhị đế. Sự mâu thuẫn này không những trong h́nh thức kết cấu văn tự của ngôn ngữ mà ngay trong bản thể nội dung tư tưởng của chúng cũng khó mà giải quyết được. Vấn đế bản thể của Nhị đế là một hay là khác cũng khó mà phân định một cách rành mạch, v́ chúng không vượt qua khỏi hàng rào ngôn ngữ luận chứng logic học. Một thực tại tuyệt đối của hai mặt Tục và Chân v́ thế khó mà lộ diện được, nếu chúng ta chưa giải quyết được vấn đề mâu thuẫn này! Vấn đề mâu thuẫn này, như trong quyển “Triết học về tánh Không” của TT.Tuệ Sỹ, trang 30-31-33 có đề cập trường hợp Chân đế và Tục đế nhất thể hay dị thể? Trong nhất thể cho rằng theo nguyên tắc luận lư th́ khi chúng ta đứng bên này của Tục đế mà nh́n th́ chúng ta chỉ có thể biết và nhận thức rơ về chính nó thôi chứ không thể quán chiếu qua bên kia của Chân đế được, và ngược lại khi chúng ta đứng bên kia của Chân đế để nh́n th́ chúng ta cũng chỉ có thể biết và nhận thức rơ về Chân đế mà thôi. Như vậy th́ đây cũng chỉ là cái nh́n tương đối bị lệ thuộc vào hiển nhiên của một mặt thực tại, chứ không phải là một cái nh́n toàn thể của một thực tại mà chúng ta muốn vươn đến, nếu có chăng nữa th́ đó cũng chỉ là một nhận thức qua suy luận chứ không phải là cái nh́n hiện quán toàn diện. Trong dị thể th́ cho rằng hai sự thể độc lập nhau, làm sao có thể hợp nhất được, trong khi muốn nói duyên khởi bao hàm cả hiển nhiên và Tuyệt đối? và đưa ra thí dụ của hai sự thể khác nhau qua ánh sáng và bóng tối. Sự phối hợp của chúng sẽ không hiện thực được trong một toàn thể. Về thể đồng nhất và dị biệt chúng trở nên mâu thuẫn và được ngôn ngữ thể hiện qua cách nh́n nhận trong hiện quán được đánh giá qua thời gian và không gian. Một sự thể dù là quá khứ hay vị lai, một khi chúng trở thành đối tượng để hiện quán th́ bấy giờ, nó cũng hiện hữu như hiện tại. (Trong hiện tại cái đă qua không có tác dụng, cái chưa đến cũng không có tác dụng, sự thể như thế không có tác dụng, không có tác dụng tức là không hiện hữu, và không phải là đối tượng của hiện quán.) Đó là quan niệm theo luận lư thông thường bị lệ thuộc vào thời gian. Nhưng theo Trung quán th́ hiện tại là cái sắp đến và sắp đi chúng chỉ là ước lệ nếu không muốn nói là không có, hiện quán ở đây cả chủ thể lẫn đối tượng, chúng không bị tác động và lệ thuộc vào thời gian. Do đó, nhất thể như là một toàn thể không thể hiện hữu bằng hai khía cạnh cùng lúc ở đây tức là bằng hiện quán được. Cũng vậy, dị thể là hai sự thể độc lập, vậy làm sao ánh sáng và bóng tối chúng có thể hợp nhất, trong khi duyên khởi lại có thể bao hàm cả hiển nhiên và tuyệt đối? Ở đây cũng cần không gian và thời gian để ánh sáng và bóng tối hiện hữu. Vậy lúc nào là lúc cả hai cùng hiện hữu? Chúng ta nói, có ánh sáng là v́ có bóng tối, và ngược lại. Như vậy, cho dù là dị thể, cả hai đều biểu thị cho một thực tại. Như Ngài Long Thọ trong Trung luận đă nói th́ đó chỉ là ảo giác tri thức và dựa vào kinh nghiệm hồi tưởng qua hai giai đoạn nối tiếp trong ḍng liên tục của thời gian đă xảy ra: khi ánh sáng bắt đầu hiện diện th́ bóng tối bắt đầu ra đi. Việc hiện diện và ra đi chúng xảy ra trong hiện tại cùng trong một vị trí thời gian và không gian. Nhưng khi ánh sáng hiện diện ở đây, th́ bóng tối là quá khứ, và khi bóng tối đang hiện diện ở đây, th́ ánh sáng đang là vị lai; như vậy th́ không bao giờ cả hai hiện hữu cùng lúc, cùng chỗ được. Trong trường hợp như vậy th́ Nhị đế phải được thành lập như thế nào để nói duyên khởi bao hàm cả hai?

Những mâu thuẫn được thể hiện qua bằng kết cấu văn tự như trên, như những lời dạy của đức Phật trong kinh Pháp hoa, tuy ngôn ngữ bất lực trước việc diễn tả cảnh giới tự chứng của đức Phật, nhưng Phật vẫn đến Ba-la-nại nói pháp Tứ diệu đế cho năm thầy tỳ-kheo tại vườn nai cũng bằng vào ngôn ngữ vào lúc bấy giờ. Như vậy ngôn ngữ văn tự, giờ này đă trở thành một khí cụ chuyên chở một ư niệm về thực tại, mà Ngài muốn phát biểu nó qua ngôn ngữ văn tự. Ở đây, dù trên mặt ngôn ngữ chúng thể hiện sự mâu thuẫn qua kết cấu, v́ những lệ thuộc của chúng vào không gian và thời gian, tự thân chúng không thoát khỏi sự ràng buộc của nguyên tắc luận lư thông thường của h́nh thức, mà ngay đến nội dung tri thức chúng cũng không tránh khỏi những cái lỗi mâu thuẫn trong nhận thức. Và như vậy, cho đến khi nào chúng ta giải quyết được những mâu thuẫn này, tức là chúng ta giải quyết được con đường bằng vào ngôn ngữ văn tự tiến về tuyệt đối qua định thức duyên khởi, th́ mọi vấn đề sẽ được giải quyết tiếp theo đó qua duyên khởi. V́ nhờ vào duyên khởi mà con đường ngôn ngữ không bị lệ thuộc vào bất cứ điều kiện nào trong đó có cả mâu thuẫn. Khi con đường nào không bị lệ thuộc th́ con đường đó mới là con đường Trung đạo, là con đường của vượt cách, là con đường giải thoát để đạt đến thực tại tuyệt đối. Ngôn ngữ chúng chỉ bày cho chúng ta một con đường nào đó để tiến về chân lư tuyệt đối, th́ lúc đó ngôn ngữ chính là h́nh thức của con đường được biểu hiện qua cái danh để biểu tượng cho cái thực. Ở đây cái danh không phải là cái thực. V́ danh không phải là thực, nên một sự thể có khả năng mang nhiều tên gọi (danh) khác nhau; và ngược lại mỗi tên gọi là một tổng hợp, hay tổng thể của những thuộc tính nào đó. Một sự thể có thể hiện hữu qua các thời gian, ở quá khứ nó tuỳ thuộc vào một số thuộc tính có thế là như thế kia; trong hiện tại, nó có thể là như thế này, và trong tương lai, nó có thể là như thế nọ. Qua những thời gian này, sự thể không thường tại ở trong bản thân, mà chúng bộc lộ theo tên gọi của chúng theo từng thời gian. Chúng bị lệ thuộc vào vô thường, nhưng vô thường th́ không có tự hữu như một đối tượng. Do đó tên gọi mới là đối tượng của tri thức, và cũng từ đây ngôn ngữ văn tự trở nên cần thiết trong việc tiếp cận với chân lư. Bản thân của thực tại th́ luôn luôn biến thiên bất tuyệt, nên nó là hiện tượng đa thù sai biệt, trong khi tên gọi của nó th́ lại bất biến không thay đổi. Như sắc chẳng hạn, lúc nào cũng là sắc trong khi sự thể của sắc luôn biến thiên theo sự chi phối biến thiên của vô thường qua duyên khởi. Cho nên nó là một hiện tượng nhất thể không sai biệt. Trong kết cấu văn tự, tên gọi của một sự thể là cái không sai biệt của những sai biệt, tức là bất dị, và ngược lại sự thể là những sai biệt của cái không sai biệt, tức là bất nhất. Ở đây bất nhất, bất dị tức trung đạo.

Cái danh biểu thị cho cái thực, nhưng cái danh này là duy nhất, không đổi, nó khoác lên cái thực một thuộc tính quyết định, hoặc thường, hoặc đoạn, hoặc nhất hoặc dị. Nhưng cái danh này khi chúng ta soi chiếu qua duyên khởi th́ nó là một cái danh giả, và cũng chính cái danh giả này lại biểu tượng cho cái thực, cho nên nó chính là Trung đạo.

Tóm lại, Nhị đế là nhất thể, hay dị thể, khi chúng ta giải quyết những mâu thuẫn cấu kết ngôn ngữ qua danh và giả danh này rốt ráo th́ con đường trung đạo của Nhị đế sẽ hiển hiện ra dưới dạng không nhất không dị. Khi mà tự ngôn ngữ phủ định những xác định trói buộc cũng do ngôn ngữ tạo ra, th́ lúc đó con đường trung đạo sẽ tự hiện. Trước hết sự hiện hữu của bản thể có được là nhờ vào sự hiện hữu của biểu tượng ngôn ngữ qua cái danh. V́ bản thể là một thực tại tuyệt đối, nên thực tại tuyệt đối luôn luôn là bất khả thuyết, nhưng ngay bản chất của ngôn ngữ biểu tượng cũng là bất khả thuyết, cho nên có một sự tương ứng giữa tiến tŕnh biểu tượng và tiến tŕnh bản thể thực tại, chúng không những không đánh mất tinh thể của ngôn ngữ, mà c̣n mang lại cho ngôn ngữ một giá trị như là một con đường đi đến tuyệt đối của bản thể qua giả danh.  

 

T.Đ.T.


 

[1] Nam hải Kư qui nội pháp truyện 4,  . Theo Phật quang đại từ điển,  quyển 1, tr. 244b

[2] Triết học về Tánh Không, Tuệ Sỹ, An Tiêm xuất bản, Saig̣n 1970, tr. 29.

[3] Kinh Trung A-hàm 7, tương ưng  phẩm, phân biệt Thánh đế  , 含,相 應品, 經,Đ. 1, N026 tr. 0469a.

[4] kinh Tăng Nhất A-hàm 3, 壹阿 含經,Đ. 2, tr. 561a,  phẩm A-tu-luân 8, kinh 3.

[5] Câu xá luận,  phân biệt Hiền Thánh phẩm, 品, Đ. 29 , N0. 1558,  tr.

[6] Thành thật luận , 論,Skt . Satyasiddhi-śāstra, Phật quang đại từ điển 1,  Tr. 224c.

[7] Kinh bộ, , (Sūtra-vādin), c̣n gọi là Kinh lượng bộ (Sautrāntika), hay Tăng-già-lan-đề-ca (Saṃkrāntika), là một trong những phái Tiểu thừa phát triển mạnh đồng thời với Nhứt thiết hữu bộ sau khi đức Phật vào Niết-bàn. Bộ phái này chủ trương nhị nguyên luận tâm vật, phủ định thuyết thật hữu đối với vạn vật của Hữu bộ, chỉ có chấp nhận có tâm cùng với tứ đại là thực tại, và chỉ có hiện tại mới là thật hữu, c̣n quá khứ đă qua đi, vị lai th́ chưa đến, và ngay đến hiện tại cũng chỉ là tồn tại trong chốc lát, chỉ có chủng tử mới tồn tại thật sự. Đây là nền tảng cơ sở của các nhà Duy thức sau này khi chủ trương về chủng tử.

[8] Đại Tỳ-bà-sa luận , 論,Abhidharmamahāvibbhāṣā-śāstra. Đ. 27   Tr. 399c.

[9] Kinh Niết-bàn, (Mahā-parinirāaṇa), phẩm Thánh hạnh  經,聖 品, Đ. 12, tr. 0443a - 0444a.

[10] Kinh Nhân vương Bát-nhă-ba-la-mật  . Đ. 8, Tr. 0839a.

[11] Pháp tướng tông, 宗,c̣n gọi là Du-già tông,   hay Duy thức tông, 宗,Hữu tướng tông v.v… Tông này căn cứ vào tướng tánh các pháp làm yếu chỉ cho giáo nghĩa của ḿnh. Nhưng thường là chỉ cho tông Duy thức nhiều hơn, nó là một trong 13 tông phái Phật giáo Trung quốc, cũng là một trong 8 tông ở Nhật bản. Tông này do ngài Huyền Trang là tổ khai tông đầu tiên, dựa vào năm vị bách pháp để phán quyết phân biệt các pháp nào là hữu vi, pháp nào là vô vi. Chủ trương của tông phái này cho rằng tất cả chỉ có Thức là yếu chỉ. Họ y cứ vào các kinh Hoa Nghiêm, Giải thâm mật, Như lai xuất hiện công đức, Đại thừa A-tỳ-đạt-ma, Nhập lăng già, cùng Du-già-sư-địa luận, Hiển dương Thánh giáo luận, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Nhiếp đại thừa luận, Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận v.v… và nhất là đă dùng kinh Giải thâm mật, cùng thành Duy thức luận làm cơ sở y cứ để thành lập ra yếu chỉ của tông này.

[12]  Đại thừa pháp uyển nghĩa chương ,大 章。

[13] Du-già-sư-địa luận (Yogacārabhūmi), Đ. 30 N0. 1579.

[14] Thành duy thức luận,成 (Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra) Đ. 31, N0. 1585 Tr. 0048a.

[15] Nhất chân pháp giới, 界,Tức chỉ pháp thân chư Phật b́nh đẳng, từ xưa tới nay không sinh không diệt, chẳng phải không chẳng phải có, xa ĺa danh tự xa ĺa h́nh tướng, không trong không ngoài, hoàn toàn duy nhất chân thật, không thể nào nghĩ bàn, nên gọi là “Nhất chân pháp giới”.

[16] Địa luận tông là một trong 13 tô