TRIẾT HỌC THẾ THÂN
Tái Khảo Sát Về Sự Tri Nhận
Lê Mạnh Thát
Chúng ta đã phác thảo đại cương sự phát triển các thuyết luận lý của Thế
Thân mà đỉnh cao của nó là việc khẳng định giá trị của một chứng cứ phụ
thuộc tính liên quán của nó hơn là sự liên hệ đến một thực thể
ngoài-luận-lý, như đã được diễn đạt qua những gì sau này được biết đến
là thuyết lan truyền nội tại.
Thuyết này thực sự khiến cho luận lý của Thế Thân trở thành một luận lý
chính thức trong ý nghĩa đầy đủ nhất của nó và có thể viết chính xác ở
dạng
("x)
[A(h,x) ®
A(s,x)]
Với mọi x như A(h,x) thì
A(s,x) có thể được chứng thực theo các điều kiện do chính A(h,x) đặt ra
chứ không do bất kỳ cái gì khác. Đây là một trong những kết quả rất quan
trọng mà triết học từng đạt đến và cho thấy rõ tính chất tối ưu của
triết học Thế Thân, không chỉ vì nó góp phần thiết lập một phương pháp
dễ dàng và đơn giản để định được tính chất đúng và sai của một lập luận,
mà còn vì khả năng mở rộng phạm vi tính khả minh trong toàn bộ nội dung
biện luận của một ngôn ngữ được cho. Như vậy, trong ngôn ngữ thông
thường cũng như chuyên môn, ta có thể nói về cái vô hạn và tương tự mà
không cần phải xác định chúng như là bất kỳ loại thực thể nào cả, huống
hồ phải quan sát hay tri nhận hay diễn dịch chúng thành một loại dữ liệu
tri giác nào đó. Phạm vi tính chất khả minh của chúng, tức phạm vi chúng
được liễu giải và biện luận, nằm ở sự kiện chúng được định nghĩa và
chứng thực là nhất quán trong nội dung được cho của nó. Tuy nhiên, một
khi một thuyết như thế được thiết lập thì vấn đề vị trí của tri nhận
trong tương quan với nó tức thì xuất hiện, bởi vì phần đông đều giả định
rằng nền tảng của bất cứ lý thuyết nào rốt cùng cũng phải là sự thực
khách quan được phơi bày trước ý thức của con người, và để cho sự thực
khách quan đó được nhận thức thì phải tồn tại quan hệ nào đó giữa nó và
chủ thể, tức cái thường được gọi là sự tri nhận và tương tự. Vì thế, khi
dạng
("x)
[A(h,x) ®
A(s,x)]
được
viết ra thì một điều tất yếu là nó kéo theo một sự tái khảo sát cần có
về các quan hệ tri nhận này. Và đây là những gì thật sự xảy ra trong các
chiều hướng tư tưởng của Thế Thân.
Trong Câu Xá Luận, Thế Thân phát biểu rõ ràng rằng “tri nhận là
phương tiện quyết định nhất của nhận thức”,
một quan điểm mà ông vẫn kiên quyết duy trì trong Vādavidhi,
trong đó cũng là lần đầu tiên vấn đề tri nhận là gì được định nghĩa
chính xác. Vì thế, nếu ta có thể mô tả ông đã tiếp tục tái khảo sát
thuyết tri nhận như thế nào ngay sau những khám phá luận lý của ông và
để có thể đánh giá đúng sự tái khảo sát đó trong quan điểm luận lý của
ông thì định nghĩa được đề ra trong Vādavidhi phải là điểm khởi
đầu của chúng ta. Nó được diễn đạt như sau:
Tri
nhận là một nhận thức chỉ từ tự thân đối tượng. Khi một nhận thức sinh
khởi chỉ do đối tượng mà nó được đặt tên bởi đối tượng đó chứ không phải
do cái gì khác, thì nhận thức này là sự tri nhận. Với định nghĩa này,
những nhận thức sai bị loại bỏ, thí dụ nhận thức về xa cừ như là bạc,
bởi vì nhận thức này được đặt tên bởi bạc là nhận-thức-bạc, nhưng lại
không sinh khởi nhờ vào bạc; đúng hơn, nó được kích khởi nhờ vào xa cừ.
Một nhận thức quy ước cũng được loại bỏ bởi định nghĩa này, bởi vì một
nhận thức như thế được gọi tên là ‘nhận thức về những cái bình’, v.v.,
nhưng không khởi do những cái bình đang thật sự tồn tại, mà đúng hơn là
do các vị trí nằm kề nhau của cái được nhìn thấy hay xúc chạm được diễn
dịch là bình. Tự thân những cái bình không thể nào sinh khởi nhận thức
này, bởi vì [qua sự phức hợp của chúng] chúng là huyển ảo và như vậy
không thể dùng làm điều kiện. Sau cùng, nhận thức bằng suy luận cũng
được loại bỏ bởi định nghĩa này, vì một nhận thức như thế xảy ra nhờ vào
nhận thức về khói và sự nhớ lại về sự nối kết bất khả phân của nó với
lửa, chứ không phải nhờ vào lửa. Cái mà chỉ từ đó nhận thức sinh khởi,
và không sinh khởi, được xem là một đối tượng trong đoạn văn này.
Chúng tôi trích dẫn nguyên văn định nghĩa mở rộng này, bởi vì nó đưa ra
nhiều chứng cứ thú vị không những đối với quan điểm về nhận thức của Thế
Thân ở trong Vādavidhi mà còn đối với một số hàm ý hấp dẫn về các
thuyết luận lý của ông trong đó. Như vậy, ta có thể dẫn, thí dụ lời bàn
của ông về cái gọi là “nhận thức quy ước”, trong đó thuyết về số của ông
thật sự được mô tả chi li và tân tiến đến lạ lùng. Ông nói rằng ta có
thể có nhận thức về những cái bình, không phải qua chúng như là một thực
thể, mà như là một số các vật thể riêng rẽ nằm kề nhau. Phát biểu này ám
chỉ hai điều: thứ nhất, có một phức số của những cái bình, tức “số lượng
các số từ 1 đến bất kỳ số được cho n nào là số lượng được cho đó”, và
thứ hai, phức số đó không được định nghĩa như một thực thể “đang thật sự
tồn tại”, mà chỉ là một tổ hợp các vật thể trong đó một tổ hợp các số
được sử dụng, mỗi cái chỉ xảy ra một lần, và “số lượng các số được dùng
như những tên gọi thì cũng bằng số lượng các vật thể.”
Hai đặc tính này nay được xem
như hai khái niệm cơ bản để định nghĩa thuyết về số và nếu không có
chúng thì không thể thực hiện được điều này cho nên chúng đã được nghĩ
đến từ lâu. Tương tự, trình bày của ông về bản chất của suy luận qua sự
tri nhận về mối quan hệ giữa các hạng mục được cho nào đó trong một biểu
đồ đã cho chúng ta một cái nhìn thú vị về tư duy này đối với tiến trình
lý luận và phát biểu luận lý. Như vậy, những điểm này và các điểm khác
xuất hiện trong đoạn dẫn trên có liên quan đến tư tưởng Thế Thân nói
chung, nhưng chúng ta sẽ không xét đến ở giai đoạn này. Thay vì thế,
trước tiên chúng ta sẽ bàn đến định nghĩa của ông về tri nhận là gì.
Theo
định nghĩa trên, “tri nhận là một nhận thức chỉ từ tự thân đối tượng”,
có nghĩa là “khi một nhận thức sinh khởi do đối tượng mà nó được đặt tên
bởi đối tượng đó, chứ không phải do vật gì khác, thì nhận thức này là sự
tri nhận”. Vì vậy, tri nhận được định nghĩa qua đối tượng của sự tri
nhận mà không qua bất kỳ vật gì khác. Đây là một trong những đặc điểm
nổi bật của thuyết tri nhận của Thế Thân, và như sẽ thấy, nó có tác động
quyết định nhất đối với sự phát triển xa hơn của nó. Nếu vậy, câu hỏi tự
nhiên đặt ra là đối tượng là gì. Thế Thân trả lời điều này ở cuối đoạn
dẫn: “Cái mà chỉ từ đó nhận thức sinh khởi, và không sinh khởi, được xem
là một đối tượng”.
Như vậy, rõ ràng đối tượng
được định nghĩa là bất cứ cái gì phát khởi một nhận thức. Thế nhưng một
định nghĩa như thế về đối tượng hiển nhiên không đủ để chỉ rõ các điều
kiện đúng trong đó một vật thể có thể được xem như một đối tượng của tri
nhận mà không phải là một đối tượng của bất kỳ hoạt động tinh thần nào
khác. Khuyết điểm này chẳng bao lâu đã được chính Thế Thân nhận ra.
Trần
Na cho ta biết rằng “trong Vādavidhāna, một số điều đã được giải
thích khác hẳn” bởi Thế Thân so với những gì ở trong Vādavidhi.
Trần Na đã dành trọn một phần trong Pramāṇasamuccaya để phê phán
những điều này, trong đó ông còn đi xa hơn khi nói rằng “Vādavidhi
không phải là tác phẩm của Sư Thế Thân, hoặc Sư đã thừa nhận rằng cốt
tủy của tư tưởng Sư không được giảng giải trong đó.”
Không may là chúng ta chẳng biết gì về “một số điều đã được giải thích
khác hẳn” bởi Thế Thân và ông đã phê phán định nghĩa tri nhận của chính
ông như thế nào trong Vādavidhāna, bởi vì trong các mảng còn giữ
được của tác phẩm sau không có gì liên quan đến vấn đề được nói đến. Tuy
nhiên, nhờ các phê phán của Trần Na, chúng ta biết rằng nếu định nghĩa
tri nhận nói trên có thể được chính Thế Thân đánh giá thì nó phải được
đánh giá trên các cơ sở sau.
Thứ
nhất, về cách dùng chữ không rõ ràng của định nghĩa, Trần Na chỉ ra rằng
phát biểu “tri nhận là một nhận thức chỉ từ tự thân đối tượng” có thể
diễn giải khác nhau: hoặc tri nhận là một nhận thức từ bất kỳ đối tượng
nào, hoặc tri nhận là một nhận thức chỉ từ đối tượng đó. Trong cả hai
trường hợp, nó đều không phải là định nghĩa thỏa đáng, bởi vì nếu là
trường hợp đầu thì có thể lập luận rằng tri nhận lúc đó bị lẫn lộn với
các hoạt động tinh thần khác như sự nhớ lại hoặc sự ưa thích vốn cũng có
đối tượng riêng của chúng; và nếu là trường hợp sau thì nó không phải là
một định nghĩa đúng bởi lẽ ngay cả trong sự tri nhận người ta cần đến
không chỉ một đối tượng mà là nhiều hơn để có được tri nhận về đối tượng
đó.
Thứ
hai, về tính chất mơ hồ của khái niệm về đối tượng, chúng ta đã thấy Thế
Thân thử định nghĩa đối tượng là gì. Nhưng nói rằng đối tượng là “cái từ
đó nhận thức sinh khởi, và không sinh khởi” thì chẳng phải là định nghĩa
gì cả, như Trần Na đã nhận ra. Ông nói rằng “ta nên nói rõ đối tượng của
nhận thức có nghĩa là gì, có phải nó là cái mà nhận thức sinh khởi cùng
với các tướng trạng của nó, hay nó là những sự vật ‘như chúng là’ làm
nhân cho nhận thức, mặc dù chúng phơi bày trước nhận thức một tướng
trạng khác với tự thân chúng”.
Sau khi nêu ra hai trường hợp trên, Trần Na tiếp tục chỉ ra rằng không
có trường hợp nào khả quan cả. Bởi vì trong trường hợp đầu, đó là nhận
thức về hình dạng của tự thân đối tượng mà không phải đối tượng, bởi vì
đối tượng là những gì tạo thành nó, cái mà theo quan điểm của Trần Na
cũng như Thế Thân là các nguyên tử; trong trường hợp sau, nếu đó là nhận
thức về đối tượng ‘như nó là’, tức về các nguyên tử tạo thành đối tượng,
thì đó là nhận thức về các nguyên tử chứ không phải về đối tượng mà nhận
thức được đặt tên bởi đối tượng đó.
Và
cuối cùng là tính chất hàm hồ của chính định nghĩa: “nếu một nhận thức
sinh khởi chỉ do đối tượng mà nó được gọi tên theo đối tượng đó chứ
không phải bất cứ cái gì khác thì nhận thức này là một tri nhận”. Nhưng,
như thế nào là một nhận thức được gọi tên theo đối tượng? Theo lối nào?
Bằng cách gì? Và như Trần Na nhận xét, “Một nhận thức không thể được đặt
tên nếu không có liên hệ đến thực chất của đối tượng của nó.”
Và thực chất của đối tượng, như chúng ta đã thấy, không được Thế Thân
định nghĩa trong đoạn dẫn trên.
Qua
sự phân tích có phê phán của Trần Na ở trên, ít ra ta cũng có thể có một
ý tưởng nào đó về vấn đề Thế Thân có thể đã thấy và phân tích định nghĩa
về tri nhận của Vādavidhi như thế nào ở trong tác phẩm sau đó của
ông là Vādavidhāna. Nhưng sự phân tích có phê phán này không phải
là giải đáp cho câu hỏi tri nhận là gì, mặc dù nó có thể dùng làm cơ sở
cho sự tra cứu thêm. Thật ra, từ những gì sẽ được nói, chính những câu
hỏi xoay quanh định nghĩa tri nhận được đề ra trong Vādavidhi đã
góp thêm vào yêu cầu giải quyết dứt điểm tất cả những khó khăn dai dẳng
về chúng, một yêu cầu mà Thế Thân đã cảm nhận được trong cấu trúc luận
lý của ông. Vì vậy, dù rất khó khăn, nếu không phải là không thể thực
hiện được, để phát biểu rõ ràng có phải chính những câu hỏi này chứ
không phải các thuyết luận lý của ông đã thúc đẩy ông tái khảo sát quan
điểm của mình về tri nhận hay không, chúng ta vẫn có thể chắc chắn rằng
trong cả hai trường hợp thì chính các tác phẩm luận lý của ông, nhất là
Vādavidhi, đã đặt nền tảng phát triển cho nhiều quan điểm sắp
được đề ra của ông. Và điều này có thể dễ dàng nhìn thấy trong Nhị
Thập Tụng.
Trong luận thư này, Thế Thân khởi đầu bằng cách cố gắng định nghĩa một
cách minh nhiên những gì ông ám chỉ qua từ ngữ “đối tượng của tri nhận”.
Và rồi, ông cố chứng tỏ làm thế nào một thuyết về tri nhận phải được
thiết lập với một quan điểm như thế về đối tượng. Kết quả, dù
Vādavidhi đã không còn đối với mục đích hiện tại của chúng ta, chúng
ta vẫn có thể dựa vào Nhị Thập Tụng để xem Thế Thân điều động
việc tra cứu của ông như thế nào đối với vấn đề tri nhận.
Nhị Thập Tụng bắt đầu với luận đề “Một nhận thức không thuộc về đối
tượng”, một điều khiến cho các đối thủ ông phản ứng ngay: “nếu một nhận
thức không thuộc về đối tượng, thì không có sự xác định về thời gian và
nơi chốn, cũng không có xác định về dòng tâm, và kết quả của một hành
động thì không được xác minh”.
Thế Thân giải thích thêm ý nghĩa của phản ứng này. Ông nói:
Điều
đó có nghĩa gì? Nếu một nhận thức về sắc, v.v., mà không có một sắc,
v.v., làm đối tượng, được tạo ra từ những gì không phải là một đối tượng
như sắc, v.v., thì tạo sao nó được tạo ra ở một chỗ như thế-như thế mà
không phải khắp mọi nơi? Và tại sao ngay ở chỗ đó nó lại được tạo ra vào
một thời điểm nào đó mà không phải mọi lúc? Và nó được tạo ra trong dòng
tâm của tất cả những ai có mặt ở chỗ đó vào lúc đó chứ không chỉ trong
dòng tâm của một người trong số họ, như trong trường hợp sự xuất hiện
những sợi lông chỉ xảy ra trong dòng tâm của những ai bị tác động của
bệnh mắt mà không phải trong dòng tâm của những người khác? Tại sao
những sợi lông, những con ong, v.v., được những người bị bệnh mắt nhìn
thấy lại có tác dụng như những sợi lông, v.v., mà không có tác dụng như
những cái khác? Đồ ăn, đồ uống, áo quần, thuốc độc, cánh tay, v.v., mà
một người nhìn thấy trong giấc mơ đều không có ảnh hưởng đến tác dụng
của đồ ăn, v.v., trong khi ở những trường hợp khác thì không phải như
vậy? Thành phố được hóa hiện, do tính chất không tồn tại của nó, không
ảnh hưởng đến tác dụng của một thành phố, trong khi ở những trường hợp
khác thì không phải như vậy? Vì thế, [nếu một nhận thức không thuộc về
đối tượng] sự xác định về nơi chốn và thời gian, sự không-xác định về
dòng tâm và kết quả của một tác dụng thì không được xác minh.
Như
vậy, cùng với trình bày vừa dẫn, phản ứng trên phát biểu rõ ràng một đối
tượng của tri nhận phải được định nghĩa như thế nào. Nó phải được định
nghĩa bằng nơi chốn, thời gian, tính phổ quát và tác dụng. Đây là bốn
tiêu chuẩn để xét một đối tượng có thật sự là một đối tượng hay không.
Một
đối tượng là cái mà nó được tri nhận ở một nơi nào đó vào một lúc nào
đó, điều mà mọi người tình cờ có mặt ở nơi đó vào lúc đó đều thừa nhận,
và nó có khả năng gây ra một tác dụng nào đó. Vì vậy, nếu bất kỳ vật gì
đáp ứng được các tiêu chuẩn này phải được thừa nhận là một đối tượng của
tri nhận. Nay nếu ta xét các tiêu chuẩn này thì chúng đều không có khiếm
khuyết nào cả. Tôi đã nhìn thấy pho tượng Đại Phật ở Đông Đại Tự khi tôi
tình cờ có mặt ở đó vào một chuyến du lịch chứ không phải ở nơi nào
khác. Và tôi đã tình cờ đi chuyến đó vào một ngày mùa đông, vì thế tôi
đã thấy nó vào ngày đông đó chứ không phải mọi lúc cũng không phải vào
các thời điểm khác. Vào ngày đó đã tình cờ có nhiều người đi hành hương
ở đó và mọi người đã nhìn thấy nó như tôi nhìn thấy, và tôi không phải
là người duy nhất nhìn thấy nó. Và pho tượng, tôi đã thấy, đã thật sự
tạo ra một âm thanh êm dịu cho mọi người nghe thấy, khi tôi gõ nhẹ vào
nó. Như vậy, pho tượng Đại Phật ở Todaji đúng là một đối tượng thật của
tri nhận, mà không phải là một bức tượng hiện ra trong giấc mơ hay trí
tưởng tượng của tôi. Kết quả, ta phải thừa nhận rằng bốn tiêu chuẩn phán
xét một đối tượng ở trên, tức nơi chốn, thời gian, tính phổ quát và tác
dụng, không phi lý chút nào cả. Thật vậy, chúng hoàn toàn thỏa đáng ở
phạm vi rất rộng, như chúng ta đã thấy thí dụ được cho. Luận đề “nhận
thức không thuộc về đối tượng”, vì thế, bị kẹt trong tình huống phiền
toái và cần phải giải quyết.
Sau
khi đã nói rõ làm thế nào để định nghĩa một đối tượng của tri nhận,
Nhị Thập Tụng tiếp tục đưa ra lý do tại sao tri nhận không thuộc về
một đối tượng, như vừa được định nghĩa. Hãy nhớ rằng đối tượng được định
nghĩa qua nơi chốn, thời gian, tính phổ quát và tác dụng của nó. Nhị
Thập Tụng sẵn sàng chỉ ra nếu một đối tượng của tri nhận có thật có
thể được định nghĩa như thế, thì đối tượng của một tri nhận không thật
như tri nhận tôi có trong giấc mơ về một đối tượng nào đó cũng thế.
Chẳng hạn, tôi đã nhìn thấy một cô gái xinh đẹp và gợi cảm trong giấc mơ
của tôi vào một tối mát trời mùa hè vừa rồi. Cô gái đẹp và gợi cảm đặc
biệt mà tôi nhìn thấy đó tình cờ ngồi cùng tôi trong phòng tôi, xem một
chuyện phim buồn trên truyền hình. Vì thế, tôi nhìn thấy cố ấy chỉ trong
căn phòng đó mà không phải nơi nào khác. Việc chúng tôi ngồi xem truyền
hình với nhau tình cờ xảy ra chỉ vào buổi tối mát trời đặc biệt đó mà
không phải mọi lúc. Và việc chúng tôi ngồi với nhau vào tối đó cuối cùng
đã dẫn đến sự cấu trược trong đêm tối của tôi, đồng thời cũng làm đứt
đoạn giấc mơ đẹp và gợi cảm với sự tiếc nuối về phần tôi. Như vậy, cô
gái trong mơ đó thực sự có tác động với một kết quả cụ thể, tức sự cấu
trược không thể chối cãi của chính tôi. Cuối cùng, khi tôi mô tả cô ta
cho bạn tôi, anh ta đã đồng ý là cô ta thật sự đẹp và gợi cảm. Cô gái
tôi thấy trong mơ, vì thế thật sự có tính phổ quát, như đã được định
nghĩa. Vậy thì rõ ràng đối tượng của một tri nhận không thật cũng có mọi
đặc tính của một đối tượng của tri nhận thật. Như vậy, những tiêu chuẩn
được thiết lập để phán đoán, và qua đó ngầm ý phân biệt, đối tượng của
một tri nhận thật và đối tượng của một tri nhận không thật là một thất
bại hoàn toàn. Một khi chúng đã thất bại thì việc nói rằng tri nhận
thuộc về một đối tượng cũng sẽ giống với việc nói ngược lại, một điều đã
được chỉ ra rất hiển nhiên. Nay khi đã chứng minh được rằng người ta
không thể dựa vào bốn tiêu chuẩn đó để xác định đối tượng của tri nhận
thì điều bắt buộc là phải tìm ra các chọn lựa khác để xem có thể định
nghĩa nó như thế nào.
Nhị Thập Tụng đề nghị xét vấn đề từ quan điểm cấu trúc nguyên tử của
chính đối tượng. Dĩ nhiên, điều này chẳng có gì mới vì một quan điểm như
thế đã được diễn đạt và thử đến trong Câu Xá Luận. Trong đó, Thế
Thân cho ta biết theo Tỳ Bà Sa thực thể vật lý có thể được phân tích
thành các nguyên tử và các vi trần, bao gồm mười bốn loại sau: các
nguyên tử của đất, của lửa, của nước, của gió, của màu, của thanh, của
mùi, của vị, của xúc chạm, nguyên tử mắt, nguyên tử tai, nguyên tử mũi,
nguyên tử lưỡi, và nguyên tử thân, trong đó năm cái cuối được phân biệt
trước tiên như là tác dụng của một hệ sinh vật có ý thức như ở con
người.
Trong mười bốn loại này, Tỳ Bà Sa chủ trương có ít nhất tám loại phải
kết hợp với nhau để tạo thành một phân tử cho khả năng tri nhận thật sự
về một đối tượng vật lý, và chúng là các nguyên tử của đất, lửa, nước,
gió, màu, mùi, vị và xúc chạm. Nếu phân tử có tính chất thuộc về thính
giác thì một nguyên tử thứ chín, tức nguyên tử của thanh, phải được thêm
vào số tám nguyên tử tối thiểu nói trên. Tương tự, các phân tử của các
giác quan khác phải có các nguyên tử của riêng chúng, ngoài chín nguyên
tử kể trên. Như vậy mỗi giác quan bao gồm ít nhất mười nguyên tử.
Nhưng nếu nhiều sự kết hợp khác nhau của các nguyên tử để tạo thành một
phân tử cho khả năng tri nhận thật sự về một thực thể, thì chúng sẽ như
thế nào trong những kết hợp này? Cái gì duy trì chúng để chúng khỏi tách
rời nhau?
Thật
khó trả lời những câu hỏi này cho hợp lý, nhất là khi các nguyên tử được
định nghĩa là không thể phân chia và không có thành phần. Nếu không có
thành phần, chắc chắn chúng không thể chạm nhau, và vì thế không thể có
trong bất kỳ kết tụ nào. Tỳ Bà Sa trả lời rằng đúng là “nếu các nguyên
tử chạm nhau ở bất kỳ một điểm nào đó thì chúng phải có thành phần;
nhưng theo định nghĩa thì chúng lại không có thành phần... Tuy nhiên,
nếu chúng không chạm nhau và phân tử không vỡ ra khi bị nghiền nát, thì
đó là vì môi trường của gió (phong giới) kết tụ và giữ chúng lại
với nhau. Có một loại gió có tác dụng giống như một lực phân tán như vào
thời kỳ hoại thế và một loại gió giống như lực kết tụ ở thời kỳ sáng
thế.”
Tỳ Bà Sa định nghĩa thêm phong giới là một trường của lực (force-field).
Đối với họ, mặc dù nguyên tử được định nghĩa là không thể phân chia và
không có thành phần nhưng chúng vẫn có thể kết tụ để tạo thành một phân
tử cho khả năng tri nhận thật sự một đối tượng vật lý. Những gì các
nguyên tử làm là xúc chạm nhau trong tổng thể của chúng, có nghĩa chúng
vẫn là các nguyên tử riêng rẽ nhưng trộn lẫn với nhau trong một môi
trường được cho.
Vì
vậy, nếu ta có thể tri nhận một đối tượng trong một hình dáng nào đó của
một màu nào đó, điều này hoàn toàn do “việc tự sắp xết của các nguyên tử
theo cách nào đó”,
và có thể được giải thích qua các sắp xếp này. Như vậy, các giải pháp
cho vấn đề cấu tạo nguyên tử được tìm thấy trong thuyết về trường của
lực, và các giải pháp cho vấn đề cấu trúc phân tử nằm ở thuyết về sự sắp
xếp các nguyên tử. Trong cả hai trường hợp, phải thừa nhận rằng các giải
pháp được Tỳ Bà Sa đề nghị không chỉ phức tạp mà còn rất thú vị, nhất là
xét đến khoảng cách giữa thời đại của họ với thời đại chúng ta. Bởi vì
họ làm chúng ta nhớ ngay đến thuyết kết hợp hóa học ngày nay, một thuyết
đã đóng góp rất nhiều cho việc thuyết minh nhiều sự kiện thuộc về nguyên
tử và phân tử cho đến nay vẫn không được giải thích và không thể hiểu.
Thí dụ, Tỳ Bà Sa chủ trương rằng nếu nước bốc hơi thì đó là do sự có mặt
của tính chất hủy diệt ở trong bản chất của nó, trong trường hợp này đó
là sự cân bằng của trường lực giữ nó lại với nhau. Do một thâm nhập nào
đó của năng lượng từ các nguồn bên ngoài như lửa hoặc mặt trời đã dẫn
đến sự bốc hơi của nước.
Tuy
nhiên, lý thuyết phức tạp này của Tỳ Bà Sa về cấu trúc nguyên tử phải
chịu một cú đấm chí tử từ quan điểm triết học của họ vốn cho rằng chỉ có
nguyên tử là thực trong khi phần còn lại của những gì được chúng cấu
thành chỉ là những mô tả. Quan điểm này của họ đã được chúng ta bàn đến
ở Chương III. Từ sự bàn luận trong chương đó, chúng ta đã biết rằng đối
với họ cái thực không thể bị nghiền nát hay phân tích theo bất cứ cách
nào, dù hình dạng hay thể cách.
Theo định nghĩa, các nguyên tử đáp ứng một điều kiện như thế cho nên
chúng thực sự tồn tại. Chúng không phải là những gì cấu thành chúng bởi
vì một cấu thành như thế chắc chắn bị nghiền nát như một cái bình hay bị
phân tích bởi tâm thành các nguyên tố tối hậu như nước. Vì thế, những
cái này không thực sự tồn tại mà chỉ là một quy ước, có nghĩa là người
ta đồng ý cái bình có tồn tại, tồn tại như thế, và chẳng có gì khác nữa.
Một tồn tại như thế không có thực thể nào cả. Nó hoàn toàn tùy thuộc vào
sự quy ước trong một cộng đồng nào đó về việc gắn cho nó một nhãn hiệu
‘tồn tại’. Từ sự phân biệt như thế về cái thực và không thực, điều tất
yếu xảy ra là chỉ có các nguyên tử mới có thể và phải được xem là đối
tượng của tri nhận, bởi vì chỉ có chúng là có thực, tức các vật thực sự
tồn tại trong thế giới vật lý. Phần còn lại trong thế giới đó đều do
chúng cấu thành, và vì thế có thể bị nghiền nát hoặc tách rời thành các
nguyên tố tối hậu; vì vậy, chúng nhất định không phải là đối tượng của
tri nhận, vì lý do đơn giản là những gì không thực sự tồn tại không thể
được tri nhận thực sự.
Cần
phải lưu ý thêm là mặc dù ngày nay chúng ta không thể nói chắc có phải
thuyết trên về cấu trúc nguyên tử đã được Tỳ Bà Sa phát triển để đáp ứng
thuyết về cái gì là thực hay không, thế nhưng chúng ta vẫn có thể chắc
chắn rằng một thuyết về cái có thực như thế, vốn kéo theo nó ý nghĩa về
các lãnh vực khác như sự tri nhận, thật sự đã đặt ra những vấn đề nghiêm
trọng cho thuyết tri nhận của họ, một thuyết đã được giảng giải tiếp
theo đó.
Thật
vậy, chính vì thuyết về cái gì là thực của họ mà Tỳ Bà Sa đã cố giải
thích làm thế nào để tri nhận cái thực đó. Thí dụ, Tỳ Bà Sa ở Kaśmīra
chủ trương ta có thể tri nhận chính các nguyên tử trong điều kiện nguyên
tử-phân tử của chúng, tức các nguyên tử trong kết tụ tối thiểu của chúng
gồm tám nguyên tử hay nhiều hơn.
Lúc đó, cái ta tri nhận là các vật thật, tức các nguyên tử, chứ không
phải cái nhãn ‘tồn tại’ được gán ghép bởi quy ước như trường hợp của
phân tử hay cái bình, v.v. Hiển nhiên, đây là một quan niệm rất dễ tin.
Trong Câu Xá Luận, Thế Thân đã có những nghi ngờ trầm trọng về
điều này. Chẳng hạn, về vấn đề các nguyên tử có xúc chạm nhau hay không
khi tạo thành một phân tử, ông chỉ ra rằng nếu chúng vẫn còn riêng rẽ và
được một năng lượng giữ lại ở một điểm nào đó, tức chúng vẫn có khoảng
cách nào đó giữa chúng cho dù khoảng cách đó có nhỏ bé và hết sức vi tế
như thế nào đi nữa, thì “cái gì ngăn không cho các nguyên tử này di
chuyển trong khoảng không do khoảng cách giữa chúng tạo ra?” Khái niệm
về chuyển động của nguyên tử do Thế Thân phát biểu lại nghe có vẻ hiện
đại đến lạ lùng. Thế nhưng nó được đưa ra như một công cụ để bẻ gãy quan
niệm của Tỳ Bà Sa cho rằng người ta có thể nhìn thấy cả các nguyên tử.
Bởi vì nếu các nguyên tử di chuyển quanh trong đường giao thoa ngăn cách
chúng thì bất cứ ai cũng khó có thể tri nhận bất cứ vật gì trong vòng
xoáy của nguyên tử chuyển động. Thật không dễ dàng theo dấu cho dù chỉ
tám nguyên tử của một phân tử nhỏ nhất, tức đơn vị vốn có thể được tri
nhận thật sự, để có thể phân biệt một nguyên tử mới được đưa vào với các
nguyên tử cũ.
Ngoài ra, Thế Thân còn lưu ý rằng tại sao người ta lại phủ nhận là các
nguyên tử không chạm nhau, nếu phân tử thật sự không khác các nguyên tử
tạo thành nó và chúng thật sự chạm nhau trong tình trạng lập thành phân
tử. “Vì thế, thật phi lý khi một mặt thì phủ nhận việc các nguyên tử
chạm nhau và mặt khác lại thừa nhận chúng có chạm nhau khi ở trong một
kết hợp phân tử.” Và cuối cùng, ông nhận xét rằng vấn đề các nguyên tử
có chạm nhau hay không trong một phân tử thuộc về sự phân chia không
gian. Vì vậy, “nếu các ông thừa nhận nguyên tử có sự phân chia về không
gian thì chúng chắc chắn có thành phần, cái mà chúng có thể hoặc không
thể chạm đến; đàng khác, nếu các ông phủ nhận điều đó, thì sẽ không có
chút lý do nào giải thích tại sao các nguyên tử có thành phần, cho dù
chúng có xúc chạm nhau”.
Qua
nhận xét trên, rõ ràng Thế Thân không bằng lòng chút nào với lý thuyết
tiêu chuẩn về cái gì là thực được Tỳ Bà Sa đề ra. Thật vậy, cho dù chúng
ta chấp nhận thuyết của họ về cấu trúc nguyên tử thì một điều vẫn không
rõ ràng là làm thế nào các nguyên tử trong một phân tử có số lượng tối
thiểu lại có thể được tri nhận mà không phải ngược lại. Vấn đề này càng
rắc rối hơn khi được nhìn từ quan điểm “phân tử thì không khác gì các
nguyên tử tạo thành nó”. Có nghĩa là, nếu các nguyên tử là các vật thật
thì tại sao phân tử, vốn được tạo thành bởi các vật thật, tức các nguyên
tử, lại không thật? Thế nhưng, đáng chú ý nhất là quan niệm của Tỳ Bà Sa
cho rằng các nguyên tử xúc chạm nhau trong một cấu trúc phân tử mà không
phải nơi nào khác. Thật không đúng khi nói rằng chúng xúc chạm nhau
trong những điều kiện nào đó mà không phải trong những điều kiện khác,
giống như Thế Thân đã nói “vấn đề chỉ là chúng có chạm nhau hay không
chạm nhau”,
trong khi xúc chạm nhau lại là đặc tính có sẵn của chúng. Như vậy, những
khó khăn dường như không thể giải quyết đã được mang lại cho thuyết cấu
trúc nguyên tử của Tỳ Bà Sa bởi chính những suy luận triết học của họ về
cái có thực và cái có thể được tri nhận. Ta không thể không cảm thấy
rằng đây là những khó khăn lớn lao và hoàn toàn không thể giải quyết khi
xét từ những suy luận của họ. Như vậy, thuyết về đối tượng của tri nhận
bị bẻ gãy bởi ba nhận xét có phê phán trên của Thế Thân, mặc dù những
quan niệm có sức thu hút rộng của chúng về cấu trúc nguyên tử và phân tử
liên quan đến đối tượng đó. Tuy nhiên, những nhận xét này, đúng như ý
nghĩa của nó, không được đưa ra để chính thức bác bỏ hay chủ trương một
lý thuyết dù cho chúng có mang tính phê phán hay không. Vì thế, về việc
điểm lại lý thuyết sâu sắc của Tỳ Bà Sa về đối tượng tri nhận, ta phải
đợi đến khi Thế Thân viết Nhị Thập Tụng, trong đó có thể ông đã
thực hiện một khảo sát đầy đủ về thuyết này. Luận thư này viết:
Các nguyên tử này,
khi chúng nằm trong cấu trúc phân tử, hoàn toàn không phải là đối tượng
của tri nhận, vì nguyên tử, mỗi cái là một vật riêng rẽ, thì không được
chứng thực. Tại sao nó không được chứng thực? Vì:
Nếu các nguyên tử kết nối với nhau vào
cùng thời điểm với một số lượng là sáu, thì chúng có sáu phần/12a-b/
Nếu các nguyên tử, tất cả là sáu, kết
nối với nhau từ sáu hướng khác nhau, thì điều tất yếu là chúng có sáu
phần, mỗi cái đều có chỗ riêng của nó nơi mà cái khác không thể chiếm
cứ.
Nếu cả sáu cái cùng chiếm cứ một chỗ,
thì khối lượng của chúng sẽ là khối lượng của chỉ một nguyên tử/12c-d/
Tức là, nếu chỗ của một trong số chúng
cũng là chỗ của cả sáu, thì do tất cả chúng đều có cùng một chỗ, khối
lượng của chúng sẽ là khối lượng của chỉ một nguyên tử, và do chúng
không khác nhau, khối lượng của chúng cũng sẽ không được nhìn thấy.
Tỳ Bà Sa ở Kaśmīra chắc chắn sẽ đáp lại
điều đó, các nguyên tử không nối kết với nhau, vì theo định nghĩa, chúng
không có thành phần; và chắc chắn chúng tôi không phạm một sai lầm ngu
ngốc như thế; tuy nhiên, chúng kết nối nhau trong cấu trúc phân tử. Thế
nhưng, lúc đó phân tử của các nguyên tử là một vật thể khác với chính
các nguyên tử?
Nếu các nguyên tử không kết nối nhau,
thì cái gì kết nối chúng trong trường hợp của cấu trúc phân tử?/13a-b/
Hoặc vì các nguyên tử không có thành
phần cho nên không có sự kết nối của chúng với nhau. [Trong cả hai
trường hợp, nguyên tử, mỗi cái đều là vật riêng rẽ] thì không được chứng
thực/13c-d/
Tức là, nếu các phân tử không kết nối
chúng với nhau, thì chắc chắn ta không nên nói rằng do chúng không có
thành phần nên chúng không được chứng thực là kết nối với nhau. Thật
vậy, chứng cứ của các ông cho thấy rằng phân tử kết nối với nhau do nó
có thành phần. Vì vậy, nguyên tử như là một vật riêng rẽ thì không được
chứng thực. Vì thế, ta phải thừa nhận rằng các nguyên tử hoặc kết nối
với nhau, hoặc không. [Trong trường hợp trước].
Một khi có sự phân chia khác nhau về
không gian [khi các nguyên tử kết nối với nhau từ các hướng khác nhau],
thì tính chất không thể phân chia của các nguyên tử là không hợp
lý/14a-b/
Nếu các nguyên tử có các vị trí không
gian khác nhau như ở phía trước, v.v cho đến vị trí không gian ở phía
dưới, nếu có sự phân chia như thế của các vị trí không gian, thì tính
chất không thể phân chia của chính các nguyên tử làm sao có thể hợp lý
được?
Và cái bóng của chúng và sự chiếu bóng
của chúng thì như thế nào?
Nếu không có sự phân chia các vị trí
không gian của mỗi nguyên tử, thì làm sao lúc mặt trời mọc lại có bóng ở
một nơi, và ánh sáng ở một nơi khác? Thật vậy, sẽ không có bất kỳ chỗ
nào khác hơn chỗ nơi có ánh sáng, [nếu không có sự phân chia các vị trí
không gian của mỗi nguyên tử]. Và sự chiếu bóng của một nguyên tử bởi
một nguyên tử khác thì như thế nào, nếu sự phân chia các vị trí không
gian của nguyên tử không được thừa nhận? [Nếu không được thừa nhận,] một
nguyên tử thật sự sẽ không có phần phía sau để từ đó ngăn cản các phần
khác khỏi tiến về phía trước. Và nếu không có sự ngăn ngại như thế, tất
cả các nguyên tử sẽ cùng ở một chỗ, và phân tử sẽ có khối lượng của chỉ
một nguyên tử, như đã nói. Nếu vậy, ta có thể hỏi tại sao không thừa
nhận rằng cái bóng và sự chiếu bóng là thuộc về khối lượng chứ không
thuộc về nguyên tử? Nhưng rồi người ta có thừa nhận rằng khối lượng thì
khác hơn các nguyên tử? Chúng ta hỏi. Ông ta đáp: Không.
Nếu khối lượng không khác hơn các nguyên
tử, thì cái bóng và sự chiếu bóng không thuộc về khối lượng/14d/
Nếu không thừa nhận rằng khối lượng khác
hơn các nguyên tử, thì cái bóng và sự chiếu bóng không phải là các đặc
tính của nó; điều đó được lập thành. Nhưng sự cân nhắc này về quan niệm
có nguyên tử hay phân tử thì có ích gì để suy nghĩ, nếu không phải để
bác bỏ đặc tính của chúng như là một thực thể vật lý? Vậy thì đặc tính
của chúng đã là gì? Có phải đó là trường hợp làm đối tượng của mắt,
v.v., và trường hợp là màu xanh, v.v.? Đó là vấn đề phải được xem xét.
Nếu chủ trương rằng bất kỳ cái gì mà đối
tượng của mắt, v.v., phải có đặc tính là màu xanh, vàng, v.v., thì vật
đó không thể phân chia hay có thể phân chia? Lúc đó là cái gì? Nếu có
thể phân chia, sẽ có khó khăn chúng ta vừa bàn đến.
Nếu không thể phân chia, lúc đó sẽ không
có chuyển động từng bước, cũng không có sự nắm bắt và, đồng thời, sự
không nắm bắt, cũng không có hoạt động đa dạng của nhiều sắc thái khác
nhau, cũng không có sự không nhìn thấy các vi khuẩn/15/
Nếu chừng nào mà
đối tượng của mắt được nghĩ đến như một vật không thể phân chia, không
có thành phần và không có sự đa dạng thì sẽ không có chuyển động từng
bước trên mặt đất. Ý nghĩa là như thế. Đó là vì người ta di chuyển mọi
nơi nhờ có chuyển động liên tục của hai bàn chân. Cũng sẽ không có sự
nắm bắt phần trước mà không có sự không nắm bắt phần sau của nó cùng
lúc, vì không hợp lý khi vừa nắm bắt vừa không nắm bắt cùng một đối
tượng trong cùng một lúc. Cũng sẽ không có hoạt động ở nhiều chỗ khác
nhau của cái đa dạng và có thể phân chia như con voi, con ngựa, v.v., vì
nơi nào có cái này thì cũng có cái kia. Vì thế làm sao có thể thừa nhận
sự khác biệt của chúng? Hơn nữa, làm sao một vật không thể phân chia nào
đó có thể tồn tại ở nơi có hai cái cộng thêm một điểm giao thoa của
khoảng không nằm giữa chúng nơi chúng không tồn tại? Và cuối cùng, sẽ
không có các lý do tại sao các vi khuẩn trong nước không được nhìn thấy,
vì chúng đúng là các đối tương vật lý giống như bất kỳ vật gì thô hơn,
nếu chỉ do chúng có các đặc tính khác nhau làm cho chúng trở thành các
vật khác nhau, mà không phải vì bất kỳ lý do nào khác. Vì vậy, khi nói
về các nguyên tử, chúng ta nhất định phải tưởng tượng ra một loại phân
chia nào đó. Và vì thế, nguyên tử như một vật riêng rẽ không được chứng
thực.
Phê
bình rất dài của Thế Thân về thuyết đối tượng tri nhận của Tỳ Bà Sa được
dẫn đầy đủ ở đây, không chỉ vì đó là trình bày chi tiết nhất và trọn vẹn
nhất quan điểm của ông về vấn đề trên, mà còn vì sự bất đồng của chúng
ta ở một số điểm với bản dịch Nhị Thập Tụng duy nhất hiện nay của
Lévi. Đó là chứng cứ trực tiếp cho những ai có ý so sánh bản dịch của
chúng tôi với bản của Lévi, và là điều mà chúng tôi không có ý bàn đến ở
đây do thiếu chỗ và không hợp lúc. Trong phê phán dài của mình, Thế Thân
cho thấy rõ thuyết đối tượng tri nhận của Tỳ Bà Sa đã lâm vào những khó
khăn nghiêm trọng và không thể giải quyết như thế nào.
Trước tiên, như chúng tôi đã
nói, do lý thuyết của họ về cái có thực mà Tỳ Bà Sa chủ trương chỉ các
nguyên tử là thực và xứng đáng làm đối tượng của tri nhận, vì không thể
có cách nào nghiền nát hoặc phân tích chúng, và vì thế chúng không thể
phân chia và không có thành phần. Nhưng theo Tỳ Bà Sa, để có thể được
tri nhận thật sự thì chúng phải quy tụ ít nhất là tám loại trong số
chúng để tạo thành một phân tử nhỏ nhất. Vì thế, Tỳ Bà Sa buộc phải giải
thích làm thế nào một tình hưống dường như mâu thuẩn như thế lại có thể
xảy ra, tức làm thế nào chỉ có nguyên tử mới có thể là đối tượng của tri
nhận, và làm thế nào chúng chỉ được tri nhận trong một cấu trúc phân tử
nào đó? Và giải thích của họ là trong cấu trúc phân tử của chúng, các
nguyên tử vẫn là các vật thật riêng rẽ và không thể phân chia như chúng
đã được định nghĩa, nhưng chúng lại được tri nhận trong điều kiện đó bởi
vì chúng kết nối với nhau ở trong đó, có nghĩa là chúng trộn lẫn với
nhau. Thật không may, một giải thích như thế không những không loại bỏ
nhiều khó khăn khác nhau đối với họ, mà còn làm vấn đề trở nên phức tạp
thêm đến độ ta có thể nói rằng nó đang tăng thêm gánh nặng cho những gì
họ đã có sẵn.
Lý
do là nếu các nguyên tử không thể phân chia và không có thành phần hay
kích cỡ thì làm sao chúng có thể kết nối với nhau cho dù là trong cấu
trúc phân tử của chúng? Kết nối, hay trộn lẫn hay bất kỳ từ ngữ gì Tỳ Bà
Sa dùng đến đều phải dự kiến một kích cỡ và vị trí nào đó trong không
gian, như Thế Thân đã chỉ ra trong cả Câu Xá Luận và Nhị Thập
Tụng. Nếu các nguyên tử không nối kết với nhau thì cái gì nối kết
chúng lại với nhau trong cấu trúc của chúng để có thể khẳng định rằng
chúng có nối kết với nhau trong cấu trúc đó? Trong bất cứ trường hợp
nào, sự nối kết đều giả thiết sự tồn tại của một không gian có thể chia
cắt nào đó, và các nguyên tử như đã định nghĩa sẽ không có cách nào đáp
ứng điều kiện đó. Vì thế, chúng thường xuyên bị lên án chỉ là các vật
thật riêng rẽ không thể phân chia, và chẳng còn gì khác hơn. Hơn nữa,
nếu nói rằng đó là kết luận mà Tỳ Bà Sa có ý nhắm đến và mong đạt được
thì vấn đề này sẽ rơi ngay vào vấn đề chứng thực cách mà các nguyên tử
này có thể trở thành đối tượng của tri nhận. Thế nhưng, như Thế Thân đã
nói ở phần đầu của trích dẫn trên, “nguyên tử như một vật thật riêng rẽ
không thể phân chia thì không được chứng thực”, vì vậy, sẽ không có gì
ngạc nhiên nếu ta có thể nhận ra rằng việc chứng thực nó là đối tượng
của tri nhận lại càng khó hơn. Một điều chắn chắc là nếu như những gì ta
thấy là các nguyên tử, và tự thân các nguyên tử này, do định nghĩa trên
về chúng, có thể giản lược thành chỉ một nguyên tử trong mọi phương
diện, cho dù về mặt khối lượng hay bất cứ cái gì khác, thì một giản lược
như thế một khi đã xảy ra, điều tất yếu là mọi kết quả sẽ theo sau. Sẽ
không có chuyển động trên trái đất, vì mọi nguyên tử đã được giản lược
thành một nguyên tử, và nguyên tử độc nhất này sẽ không có thành phần và
kích cỡ nào cả trong không gian. Cũng sẽ không có sự khác nhau giữa
nhiều hoạt động khác nhau được thực hiện bởi nhiều phần thân thể khác
nhau và bởi nhiều sinh vật khác nhau; bởi vì, nếu mọi thứ đều giản lược
thành một nguyên tử thì chỉ có hoạt động duy nhất của một mình nguyên tử
đó và sẽ không có hoạt động nào khác để tạo ra sự khác nhau. Cũng sẽ
không thể giải thích tại sao các vi khuẩn trong nước không được nhìn
thấy, qua sự giản lược này, trong cùng một vị thế giống như bất kỳ vật
thể nào khác thô hơn và lớn hơn. Thế nhưng, đó không phải là cái thật sự
xảy ra. Vì thế, đối với bất cứ giá trị gì mà thuyết cấu trúc nguyên tử
của Tỳ Bà Sa có thể có, nó vẫn không thể nào góp phần giải quyết vấn đề
đối tượng tri nhận của Tỳ Bà Sa, vốn được khảo sát trước tiên trong
thuyết về cái có thực của họ.
Chúng ta đã lưu ý rằng những khó khăn nghiêm trọng sinh khởi từ giải
pháp của Tỳ Bà Sa về vấn đề đối tượng tri nhận chính yếu và trước tiên
là do thuyết về cái có thực của họ. Nếu không thì, như Thế Thân đã chỉ
ra, ta có thể đưa ra một chủ trương đại loại như “bởi vì phân tử được
tạo thành bởi các nguyên tử vốn là ‘vật thật’ cho nên nó cũng là một vật
thật có khả năng và xứng đáng làm đối tượng của sự tri nhận theo đúng
nghĩa của nó chứ không chỉ theo sự thỏa thuận được quy ước.” Kết quả, sẽ
có hai loại giải pháp dành cho những khó khăn nghiêm trọng đó tùy theo
ta có chấp nhận thuyết về cái có thật của Tỳ Bà Sa hay không. Nếu ai
không chấp nhận tiền đề về cái có thật trong giới hạn được quan niệm của
nó thì họ có thể đề nghị một tiền đề mới như Thế Thân đã cho trong
Câu Xá Luận, qua phát biểu rằng phân tử nhất định phải có thật vì nó
được tạo thành bởi các nguyên tử vốn cũng có thật. Nhưng rồi như chính
Thế Thân có thể đã nhận ra sau này trong các tác phẩm luận lý của ông,
đề ra một khả năng như thế sẽ dẫn đến tuyệt lộ bởi vì nó đòi hỏi phải
xét lại định nghĩa về cái có thật. Bởi vì trong trường hợp đó, thực thể
của một phân tử chỉ là một thực thể vay mượn từ các nguyên tử, và vì lẽ
đó chẳng phải là thực thể gì cả khi các nguyên tử lấy lại thực thể cho
mình. Hơn nữa, dù ta có phí công gán ghép cho phân tử một thực thể đi
nữa thì cũng không có gì bảo đảm rằng sự tri nhận về nó đích thực là sự
tri nhận về một phân tử có thật chứ không phải một phân tử ta nhìn thấy
trong mơ chẳng hạn, cái mà chúng ta đã mô tả trước đây. Vì thế, nếu ta
có bác bỏ thuyết của Tỳ Bà Sa về cái có thật thì ta cũng không có tiến
bộ gì khả quan hơn, nếu không phải là bi đát hơn.
Mặt
khác, nếu ta thừa nhận tiền đề về cái có thật của họ dưới bất kỳ hình
thức có cải đổi nào thì ta buộc phải đối mặt thẳng với những khó khăn
nghiêm trọng mà nó gây ra như đã thấy. Những khó khăn này có thể dễ dàng
tóm tắt như sau: nguyên tử là vật thật vì chúng không thể bị phân thành
bất kỳ nguyên tố nào khác; nhưng để có thể được tri nhận thật sự thì
chúng phải tạo thành một phân tử có ít nhất tám nguyên tử; tuy nhiên,
phân tử lại được định nghĩa là không thật vì nó có thể được phân tích
một cách tự nhiên thành các thành tố của nó vốn là các nguyên tử, và như
thế phân tử có thể hủy; vì thế cái khó là làm thế nào ta có thể tránh
được kết luận phiền phức là cái ta tri nhận thì chẳng thực chút nào cả.
Thế nhưng, như Thế Thân đã chỉ ra ở trên, với lý thuyết thường nghiệm
của họ cho rằng người ta không dễ dàng nhìn thấy một sợi tóc nhưng lại
có thể nhận ra tức khắc một mớ tóc cho nên người ta cũng có thể nhận ra
ngay một phân tử trong khi không dễ gì nhìn thấy một nguyên tử.
Dù
không thành công nhưng nó đã chứng tỏ có đủ khả năng thách thức nhiều
người khác để rồi một số các giải pháp thay thế khác đã được đề ra,
trong đó nổi bật nhất là lý thuyết về cái toàn thể (holism) của Thắng
Luận (Vaiśeṣika), nói rằng có một tổng thể dùng để kết hợp các phần và
nó tồn tại như một thực thể độc lập và tách rời với các phần cấu tạo,
mặc dù nó không thâm nhập vào chúng.
Nói cách khác, nếu để có thể được tri nhận thật sự mà các nguyên tử phải
kết tụ thành một phân tử có thể được tri nhận nhưng không thật trong
cùng một vị thế giống như các nguyên tử, thì sẽ có một thực thể sinh
khởi ở bất cứ nơi nào có trên một nguyên tử kết tụ và thực thể này có
thể được tri nhận để nhận ra bất cứ vật gì mà các nguyên tử tạo thành và
có thể được tri nhận.
Thắng Luận thật sự tán thành thuyết nguyên tử theo cách diễn giải của Tỳ
Bà Sa ngoại trừ chỉ hai điểm, đó là, đối với Thắng Luận thì các nguyên
tử không chỉ thật mà còn thường hằng và hoàn toàn không thể tri nhận
được; trong khi đối với Tỳ Bà Sa thì chúng có thật nhưng (1) không phải
thường hằng và (2) không phải hoàn toàn không thể tri nhận.
Vì vậy, thuyết toàn bộ của họ đề ra một số đặc điểm rất thú vị không thể
bỏ qua. Điều kỳ lạ là mặc dù Thế Thân đã nói rõ đó là thuyết của Thắng
Luận nhưng Vaiśeṣikasūtra của Kanāda không hề nhắc đến từ
avayavin, “tổng thể”; thay vì thế, chính trong Nyāyasūtra mà
từ này và thuyết này lần đầu tiên được công bố và thảo luận công khai.
Trước tiên, Nyāyasūtra nêu ra vấn đề về cái tổng thể cùng với
thảo luận của nó có phải tri nhận chỉ là một dạng suy luận hay không.
Nó chỉ ra rằng khi ta tri nhận một cái cây, thì tất cả những gì ta thấy
không phải là toàn thể cái cây mà chỉ một vài phần của nó, bất kể ta
đứng ở đâu và nhìn bằng cách nào; luôn luôn có một phần nào đó hoàn toàn
thoát khỏi cái nhìn của ta. Thế nhưng, nếu thấy cái cây ta dễ dàng nhận
ra nó ngay. Vậy, cái gì tạo thành cái cơ cấu cho phép ta nhận ra lập tức
như thế? Câu trả lời hiển nhiên duy nhất là sự tri nhận đó về cái cây
chỉ là một dạng suy luận có cùng loại như sự phán đoán nơi nào có lửa
thì nơi đó có khói. Ta đã từng thấy lửa và khói quyện vào nhau trong
bếp; vì thế, khi ta tình cờ thấy khói bốc lên từ đỉnh núi, ta có thể kết
luận một cách hợp lý là thật sự có lửa trên ngọn núi đó, một điều mà ta
không nhìn thấy từ chỗ đang đứng. Tương tự, luôn luôn có một phần nào đó
của cái cây thường xuyên thoát khỏi cái nhìn của ta; thế nhưng, nếu có
một cái cây mà ta tình cờ nhìn thấy thì ta không khẳng định là chỉ nhìn
thấy một ít phần của cái gì đó mà là ta thấy một cái cây, và đó là nó.
Hành động nhìn thấy một cái cây vì thế có cùng thứ tự như hành động biết
đến sự có mặt của lửa ở trên núi. Trong cả hai trường hợp, đối tượng của
nhận thức chỉ được biết đến một phần. Ta chỉ nhìn thấy vài phần của cái
cây ở bất kỳ thời điểm nào đó, giống hệt như ta chỉ tri nhận được khói
bốc lên từ đỉnh núi. Vì thế, cả sự tri nhận về cây cũng như kết luận có
lửa đều mang tính chất suy luận; trường hợp đầu là sự suy luận về cây từ
sự hiểu biết các phần của nó; trường hợp sau là sự suy luận về lửa từ sự
nhận ra khói. Vậy thì tri nhận nhiều lắm chỉ là một dạng suy luận.
Để
đáp lại kết luận khó tránh được này, Nyāyasūtra theo ngôn ngữ của
Vātsyāyana nêu ra câu hỏi nếu tri nhận thật sự là một dạng suy luận thì
có phải đối tượng được suy luận trong trường hợp của cái cây chỉ là phần
không nhìn thấy của nó hay là cái toàn thể của nó, tức là cái khác với
các phần của nó nhưng đồng thời lại là cái toàn thể của các phần của nó.
Trong trường hợp đầu, nếu cái ta suy luận là những phần không nhìn thấy
của cây thì không thể nào có sự hiểu biết về nó, vì lý do đơn giản là
cái cây không phải là phần phía trước được nhìn thấy và cũng không phải
phần không nhìn thấy mà chỉ suy luận. Từ khói ta có thể suy luận và có
sự hiểu biết về lửa trong một tình huống được cho. Nhưng, không giống
như lửa, cái cây không thể được biết chỉ nhờ vào suy luận về phần không
được nhìn thấy. Vì lẽ đó, trong trường hợp này ta có thể kết luận cái
cây không được tri nhận mà cũng không được suy luận. Trong trường hợp
sau, nếu từ những gì được nhìn thấy về một cái cây mà ta suy luận không
phải cái không được nhìn thấy mà là toàn thể cái cây, thì sự hiểu biết
ta có về cây không phải là cái được nhìn thấy cũng không phải là cái
không được nhìn thấy của cây mà là sự hiểu biết về cây như một tổng thể,
bởi vì từ cái được nhìn thấy, ta có thể suy luận cái không được nhìn
thấy chứ không phải cả hai trong số chúng. Vì thế, cái cây như một tổng
thể thì khác biệt và độc lập với những gì được nhìn thấy cũng như không
được nhìn thấy về nó. Một khi đạt đến một kết luận như thế, ta cũng có
thể tiếp tục không cần đến sự suy luận và chủ trương rằng cây như một
tổng thể được tri nhận cùng lúc với sự tri nhận về những gì được nhìn
thấy của nó. Vậy thì, theo Nyāyasūtra cái toàn thể là một thực
thể có thể được tri nhận độc lập và khác biệt với các phần của nó; và
chính cái toàn thể này khiến cho ta có thể tri nhận những gì tồn tại.
Chính cái toàn thể cho phép chúng ta có sự tri nhận về cái cây, cho dù
có sự kiện rằng những gì ta thực sự nhìn thấy chỉ là một vài phần của nó
mà ta tình cờ nhìn thấy.
Lý
thuyết thú vị về cái toàn thể này, theo cách nào đó không khác biệt lắm
với thuyết gestalt của tâm lý học ngày nay, về sau đã được phát
triển thêm trong Nyāyabhāṣya của Vātsyāyana và
Padārthadharmasaṃgraha của Prasastapāda, hay còn được biết đến như
Vaiśeṣikasūtrabhāṣya hoặc Prasastapādabhāṣya trong dạng
đơn giản hơn của nó. Và từ đó nhiều tác phẩm khác có thể đã rút ra các
tư liệu và các vấn đề của chúng để tuyên chiến với những người phê phán
chúng. Thí dụ, chúng ta có Nyāyavārttika của Uddyotakara,
Nyāyavārttikatātparyaṭīkā của Vacaśpatimiśra, Nyāyakandalī
của Śrīdhara, Nyāyamañjarī của Jayantabhatta, v.v. Nhưng vì
Prasastapāda rất có khả năng đã sống sau Thế Thân, và có thể cả
Vātsyāyana cũng vậy,
cho nên ta có thể giả định rằng những gì họ trần thuật trong các tác
phẩm của họ về thuyết toàn thể hẳn đã được phổ biến ít nhất cũng một vài
lần trước khi được họ ghi chép lại. Chúng ta phải lưu ý một trường hợp
như thế, vì như đã nhắc đến ở trên, Thế Thân công khai cho rằng thuyết
đó là của Thắng Luận, trong khi nó thật sự bắt nguồn với Nyāyasūtra
như đã thấy, chứ không phải với Vaiśeṣikasūtra như đã tưởng. Do
ngày nay không còn một bình giải nào về tác phẩm sau cho đến thời của
Prasastapāda, tức ít ra là đến thời của Trần Na, chúng ta không thể hoàn
toàn chắc chắn rằng một phát biểu như thế về nguồn gốc của thuyết toàn
thể có thể đúng ở chừng mực nào và ta nên hiểu nó theo ý nghĩa gì. May
mắn là mặc dù trong Nhị Thập Tụng Thế Thân loại bỏ cái gọi là
thuyết toàn bộ của Thắng Luận chỉ với một nhận xét duy nhất, nhưng trong
Câu Xá Luận, tác phẩm sớm hơn của ông, ông đã dành một chỗ đáng
kể để bàn về nó, cho dù với một kết luận đầy miệt thị của ông, trong đó
ông gọi cái ông đã bàn đến là “một thuyết ấu trĩ”.
Nhờ nó, ta biết rõ ông đã nghĩ gì khi đề cập đến Thắng Luận với thuyết
mà các tư liệu ta có được ngày nay sẽ cho thấy một cách khác. Lời bàn
này xảy ra liên quan đến trình bày của ông về khả năng có thể diệt của
các nguyên tử vào một thời khoảng nào đó theo Tỳ Bà Sa. Nó được viết như
sau:
Khi chúng sinh đã
quy tụ ở một cõi dhyāna nào đó thì một sự bằng phẳng xảy đến cho thế
giới này, đó là những gì được gọi là ‘diệt’. Diệt xảy ra do sức nóng của
bảy mặt trời, do nước mưa, do gió từ sự khuấy động của nguyên tố-năng
lượng. Hậu quả của sự hủy diệt này là ngay cả một phần nhỏ của cái toàn
thể cũng bị hủy diệt. Tuy nhiên, về điểm này, một số Tīrthaṅkara chủ
trương rằng các nguyên tử, do tính chất thường hằng của chúng, lúc đó sẽ
vẫn còn ‘sống’. Tại sao họ chủ trương như vậy? Họ nói, nếu không như vậy
thì thế giới của nhiều vật thể thô khác nhau sẽ xuất hiện mà không cần
đến bất kỳ hạt giống nào còn được giữ lại.
Nay, ta đã nói rằng chính hạt giống của
gió, sinh ra từ hành động của chúng sinh, đặc biệt tác động đến sự xuất
hiện của một thế giới mới, và tác nhân sinh khởi gió này là loại gió còn
lại sau sự hủy diệt. Bản kinh của Mahīśāsakā nói rằng các hạt giống được
gió đưa vào từ một thế giới khác.
Dù thế, họ không
thừa nhận mầm mộng, v.v., nảy sinh từ hạt giống. Tại sao? Bởi vì, họ
nói, các vật đó khởi từ các phần của chúng, và đến lượt các phần này lại
khởi từ các phần riêng của chúng, và cứ thế cho đến các nguyên tử tối
hậu.
Vậy thì, tiềm lực của các hạt giống,
v.v., đối với mầm mộng, v.v., là gì?
Họ nói, không có tiềm lực nào cả ngoài
cái khiến cho các nguyên tử đến gần với nhau.
Lại nữa, tác nhân sinh khởi sự đến gần
mà họ thừa nhận là gì?
Họ nói rằng thật không hợp lý khi một
cái gì đó lại sinh từ một cái khác loại với nó.
Tại sao không hợp lý?
Họ nói, vì sẽ không cần thiết. Vì thế,
sẽ không cần đến năng lực sản sinh, giống hệt như sự xuất hiện của một
tiếng động được sinh khởi từ việc nấu nướng. Đó là vì một guṇadharma
có thể được sinh từ một vật khác với nó, nhưng đối với một vật thật thì
không như vậy. Thật vậy, một vật thật phải được sinh từ các vật thật
cùng loại, giống như tấm thảm cỏ được sinh từ cỏ, tấm vải từ sợi.
Nhưng điều đó cũng không hợp lý.
Tại sao không hợp lý ở đây?
Bởi vì cái được giới thiệu như một luận
đề không được chứng thực.
Cái gì không được chứng thực ở đây?
Họ nói rằng tấm
thảm cỏ thì khác cỏ và tấm vải thì khác với các sợi. Nhưng [điều đó
không đúng]. Khi cỏ và sợi sắp xếp theo cách nào đó, thì ta có khái niệm
về tấm thảm và tấm vải. Nó giống hệt như một đàn kiến. Làm sao điều đó
xảy ra? Bởi vì khi [con mắt] của ta tiếp xúc một sợi vải, thì ta không
tri nhận được tấm vải. Nếu tấm vải thật sự hiện hữu, tại sao nó không
được tri nhận cùng thời? Nếu vì nghĩ rằng tấm vải không hiện hữu hoàn
toàn ở mỗi sợi vải, thì điều tất yếu là tấm vải chỉ là một tập hợp các
sợi [sắp xếp theo cách nào đó]. Lúc đó, phần nào của tấm vải khác với
các sợi vải? Nếu cho rằng nhiều sợi vải dùng làm nền cho tấm vải phải
được tri nhận để cho tấm vải cũng được tri nhận, thì khi ta tri nhận chỉ
một diềm vải, ta phải tri nhận cả tấm vải, [điều này không đúng]. Mặt
khác, tấm vải sẽ không được tri nhận, vì các giác quan của ta không bao
giờ có thể tri nhận các phần ở giữa và ở biên cùng một lúc. Nếu các phần
này phải được tri nhận lần lượt qua sự tiếp xúc giữa chúng với mắt ta,
thì sẽ không có sự nhận biết toàn bộ. Vì vậy, nếu được tri nhận lần lượt
thì cái toàn thể chắc chắn chỉ là một sự nhận biết về các phần, và khái
niệm về nó thì giống hệt như khái niệm về vòng quay của một ngọn đuốc.
Hơn nữa, trong trường hợp các sợi có màu khác nhau, thuộc các loại khác
nhau và sắp xếp theo cách nào đó, thì lúc đó tấm vải sẽ không có màu,
v.v. Nếu nó thật sự có các màu, v.v khác nhau, thì ta nên thừa nhận rằng
ngay cả [đối với một vật thật như cái toàn thể] nó vẫn có thể được tạo
ra từ các vật khác loại. Và nếu một mặt vải không có màu khác nhau thì
khi nhìn nó ta hoặc không thấy tấm vải hoặc thấy tấm vải như có các màu
khác nhau. Hơn nữa, nếu tấm vải làm bằng các sợi sắp xếp theo các cách
khác nhau, thì nó có quá nhiều cách khác nhau cho nên không thể gọi là
tấm vải. Và sẽ không có sự nhận ra màu sắc hoặc tính chất xúc chạm của
ánh lửa bởi vì có sự khác nhau về sức nóng và lực chiếu sáng từ đầu đến
cuối.
Tương tự, dù siêu
việt tri giác, các nguyên tử vẫn có thể được tri nhận khi chúng kết hợp
thành hình dạng. Giống hệt như các nhân tố hiện hành của mắt, v.v., phải
kết hợp để hoạt động; và giống như sự tri nhận một đám tóc rối bởi những
người bị tác động của bệnh mắt. Đối với những người này, các nguyên tử,
giống hệt như những sợi tóc, là siêu tri giác khi chỉ có một trong số
chúng.
Bởi vì khái niệm
về nguyên tử được quyết định bởi màu sắc, v.v., của nguyên tử cho nên
khi có sự diệt của màu, v.v., thì nguyên tử cũng bị diệt. Họ nói rằng vì
nguyên tử là một vật thật, và là vật thật nên nó khác với màu, v.v; vì
thế sự không-diệt của nguyên tử được chứng thực, ngay cả khi có sự diệt
của màu, v.v. Nhưng một sự phân biệt như thế thì không hợp lý, vì không
có ai phân biệt: đây là đất, nước, lửa, và kia là màu, v.v., của chúng.
Cái được tri nhận bởi mắt thì được biết đến vì khi len, bông vải, hoa,
sợi hồng hoa, v.v., bị đốt thì khái niệm về chúng cũng đang trở thành
không hiện hữu; vì vậy, khái niệm về chúng chỉ được tìm thấy ở màu sắc,
v.v. Khi một cái bình chịu các hoạt động của lửa, nó vẫn được nhận ra là
bình nhờ đặc điểm phổ quát của nó, đó là đặc điểm về hình dạng, giống
hệt như [sự nhận ra] một đàn kiến. Nếu không có một đặc điểm như thế
được tri nhận, sẽ không có sự nhận biết.
Nhưng có ích gì để
bàn mãi về các thuyết ấu trĩ này. Vì thế, ta hãy dừng ở đây khi mà không
còn phản bác gì nữa.
Qua
những phê bình trên của Thế Thân về thuyết toàn thể dựa vào liên hệ của
nó đối với các phần, ta có thể thấy tại sao ông loại bỏ nó chỉ với một
nhận xét duy nhất trong Nhị Thập Tụng. Phải thừa nhận rằng những
phê bình trên không những chi tiết mà còn toàn triệt như người ta muốn.
Thế Thân đã chọn tấm vải và sợi vải như một trợ huấn cụ để bàn về thuyết
toàn thể và liên hệ của nó với các phần, một trợ huấn cụ mà chính Thắng
Luận rất thích dùng để minh họa quan niệm của họ.
Chúng ta đã nói rằng Thắng Luận tán thành một thuyết về nguyên tử rất
giống với thuyết của Tỳ Bà Sa. Vì thế, họ buộc phải giải quyết những khó
khăn mà thuyết sau gặp phải. Phần lớn những khó khăn trước tiên nằm ở
yêu cầu giải thích lý do tính chất khả tri của sự vật hàng ngày, nếu họ
cho rằng trong thế giới này chỉ có các nguyên tử và các nguyên tử này
đều không thể được tri nhận.
Như
Thế Thân đã chứng minh, Tỳ Bà Sa đã không thể đưa ra một trả lời thỏa
đáng cho vấn đề này. Thắng Luận, đến lượt họ, đã tách khỏi Tỳ Bà Sa và
đề ra một giải pháp, theo đó tính chất khả tri của sự vật hàng ngày được
giải thích bằng sự tồn tại một thực thể mới mà họ gọi là cái toàn thể
tồn tại độc lập và tách biệt với các thành phần và có khả năng khiến cho
các phần này xuất hiện với một sự thống nhất khả tri nào đó. Như vậy,
nếu các nguyên tử là bất khả tri nhưng khối lượng của chúng lại khả tri
thì đó là vì có tồn tại một tổng thể khiến cho khối lượng đó trở nên khả
tri đối với người tri nhận. Vì lẽ đó cái toàn thể này phải là một thực
thể độc lập và khác với các nguyên tử, bởi vì chỉ có nó được tri nhận
trong khi các nguyên tử thì không. Cũng giống như tấm vải đối với các
sợi vải. Tấm vải không phải là các sợi vải, và các sợi vải cũng không
phải là tấm vải. Mỗi cái đều là một thực thể tồn tại độc lập và tách
biệt nhau.
Vì
thế, về mặt lý luận, giải pháp của Thắng Luận dường như không phải hoàn
toàn không thỏa đáng. Không may cho họ, sáng kiến về một thực thể mới
như cái được gọi là toàn thể đó lại đặt ra những nghi ngờ nghiêm trọng
trong đầu các nhà phê bình về họ, đặc biệt là Thế Thân. Khi viết Câu
Xá Luận, Thế Thân vẫn đồng ý với chủ trương của Tỳ Bà Sa cho rằng
giống như tấm vải chỉ là những sợi vải tự sắp xếp theo một cách nào đó
thì các sự vật hàng ngày cũng thế. Chúng chỉ là các nguyên tử tự sắp xếp
theo một cách nào đó. Kết quả, đối với Thế Thân không có một thực thể
như cái toàn thể được Thắng Luận định nghĩa. Căn cứ vào trợ huấn cụ về
tấm vải và sợi vải, Thế Thân chỉ ra các lý do sau để bác bỏ sự tồn tại
một thực thể gọi là cái toàn thể.
Trước tiên, nếu có một thực thể là cái toàn thể thì nó hoặc tồn tại
trong mỗi một phần của nó hoặc không. Trong trường hợp đầu, khi thị giác
của chúng ta hướng đến sợi vải thì nó không tri nhận được tấm vải; như
vậy, tấm vải không tồn tại trong mỗi sợi vải. Tương tự, nói rằng cái
toàn thể thật sự tồn tại trong mỗi một phần của nó vì thế rõ ràng là sai
lầm. Nếu cái toàn thể không tồn tại trong mỗi phần của nó, thì như Thế
Thân đã nói, cái toàn thể chỉ là “một tập hợp” các phần của nó, giống
hệt như “tấm vải chỉ là một tập hợp các sợi vải” tự sắp xếp theo một
cách nào đó. Thứ hai, nếu lập luận rằng cái toàn thể thật sự tồn tại
trong mỗi phần của nó, nhưng nó đòi hỏi một số phần của nó phải được tri
nhận để chính nó cũng được tri nhận, thì khi ta tri nhận đường diềm của
tấm vải, vốn có nhiều hơn một sợi vải, thì ta sẽ có thể tri nhận toàn bộ
tấm vải, điều này không đúng. Thứ ba, nếu nói rằng sự tri nhận về cái
toàn thể phụ thuộc sự tri nhận không chỉ một đường biên của cái toàn thể
mà phải nhiều hơn, thì một cái toàn thể như thế sẽ không bao giờ được
tri nhận, vì ta không bao giờ có thể nhìn thấy cùng lúc đường biên và
phần giữa của tấm vải. Sau hết, nếu cho rằng cái toàn thể được tri nhận
lần lượt, thì một cái toàn thể như thế không khác gì thực thể của một
vòng lửa được tạo ra bằng cách quay một ngọn đuốc đi hết một đường vòng
cung. (còn tiếp)
dịch Việt: Đạo Sinh
|