TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC
SỐ 15 - PL.2549 -
ẤT DẬU
[MỤC LỤC]
thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Đông phương và Vách đá
Nói với em, giấy mòn, con
chữ nhạt
Đông phương ơi! Cây lá,
giọt sương buồn
Không gian xám, khí trời
không đủ thở
Hốc khe cùn, nước vẫn chảy
từ non
Ước mộng đi em, đời quàng
hoa nguyệt quế
Con số tính toan hiện bảy
sắc cầu vồng
Mây du tử đã bao đời hoạn
nạn
Khi trở về xa lạ một dòng
sông
Rồi xa cả dung nhan, diện
mục
Lớp lớp bên ngoài diêm dúa
điểm trang thêm
Nhìn cố quận đã mù tăm
quan ải
Giữa phố người lây lất nỗi
sầu miên
Nói với em đèn trăng không
đủ sáng
Điện soi nhoà, chấp choá
ngữ nguyên xưa
Vuốt ý nghĩa, vuốt tâm hồn
hư mục
Bụi rơi đầy, mệt mỏi giọt
ngàn mưa
Tìm đối diện, em đông
phương sầu tủi
Mẹ ca dao lủi thủi nhặt
bèo rong
Nhạc cuồng quay, len hàng
cau, bụi trúc
Rụng rơi dài, lả tả đoá
nhân văn.
Đức Phật ngồi cao, thế
gian nghi ngút khói
Lời kinh huy hoàng rơi
giữa sóng mù tăm
Chợt tiếng khóc, lưng mây
đồng vọng mãi
Vỗ vào bờ, vách đá chẳng
vang âm!
Am
Mây Tía
Mùa mưa lũ Ất Dậu.
thơ
Phổ Đồng
ĐỨc Sơn đỐt kinh
Suốt nửa bình sanh từng
cưu mang
San định giải bày lý Kim
cang
Hừng hực lửa lòng thôi
thúc mãi
Phương nam hối hả dẹp tà
man
Đường vô xa vắng Lão bà
tiếp
Nghẹn họng lối về tâm mất
tâm
Chợt tỉnh Long Đàm đêm
thăm thẳm
Kinh xưa còn lại khói phù
vân.
Ngọn đèn khuya hiu hắt dõi
sương đêm.