TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC
SỐ 16 - PL.2549 -
XUÂN BÍNH TUẤT [MỤC LỤC]
Lịch sử phát
triển
PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA BỒ TÁT GIỚI
Thích Thái Hòa
- Ấn Độ
Sau khi đức Phật diệt
độ, kinh điển đã được kết tập nhiều lần bởi các hàng đệ tử của Ngài qua
các thời kỳ khác nhau.
Tinh thần Bồ tát giới,
không những được đề cao ở các kinh điển Bắc Phạn mà ngay ở trong kinh
điển Nam Phạn hay Pàli cũng hàm chứa tinh thần này.
Nếu chúng ta đọc kỹ
kinh Mahàpadàna (Đại bản) thuộc văn hệ kinh tạng Pàli hay Nam Phạn,
chúng ta thấy tinh thần Bồ tát giới hiện rõ ở trong kinh này.
Ngay ở trong kinh này
đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã kể lại cho các tỷ kheo về thân thế, chí
nguyện xuất gia, phương pháp tu tập, thành đạo và giáo hóa chúng sanh
của chư Phật quá khứ. Và cũng chính sự ra đời của Ngài cũng là để kế
thừa truyền thống tu tập, giác ngộ, và giáo hóa chúng sanh của chư Phật
quá khứ mà thôi.
Và ở trong kinh điển
này, đã nêu rõ tâm chí của người xuất gia rất là cụ thể, đó là "vì khéo
tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện hạnh, khéo hành công
đức nghiệp, khéo giữ gìn không hại chúng sanh, khéo có lòng từ bi đối
với chúng sanh".
Trong đoạn kinh nêu rõ
tâm chí của người xuất gia ở trên, chúng ta thấy rõ trong đó có hàm đủ
tinh thần Bồ tát tam tụ tịnh giới.
Chẳng hạn: "Khéo tu
phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh", là Nhiếp luật nghi giới.
"Khéo hành thiện
nghiệp, khéo hành công đức nghiệp", là Nhiếp thiện pháp giới.
"Khéo giữ gìn không hại
chúng sanh, khéo có lòng từ bi đối với chúng sanh", là Nhiêu ích hữu
tình giới.
Tuy nhiên, kể từ khi
đức Phật Niết Bàn, khoảng 200 năm, Phật giáo Ấn Độ đã trải qua những
thời kỳ phân hóa và chuyển hóa để phát triển đến mức độ rộng lớn, không
những về mặt tư tưởng mà còn về mặt địa dư nữa.
Nên tinh thần Bồ tát
giới không những thấm sâu vào nếp nghĩ, nếp sống của những hàng đệ tử
Phật, mà còn biểu lộ rất cụ thể trong đời sống đạo đức của dân Ấn.
Vua Asoka (A Dục) của
Ấn Độ, lên ngôi vào khoảng năm 267 trước Tây Lịch, là một vị Vua anh
hùng, đã đem quân chinh phạt các lân bang và đã thống nhất sơn hà Ấn Độ
lúc bấy giờ.
Nhưng, sau khi quy y và
thọ giới pháp của Phật, vua đã tự mình bỏ việc săn bắn, ra lệnh nhân dân
cấm sát sanh, bảo vệ các loài sinh vật, giảm bớt đời sống xa hoa, ra
lệnh kiến thiết chùa chiền, khuyến khích việc từ thiện và rất tận tụy
với việc tuyên dương chánh pháp.
Vua đã thực hiện hạnh
từ bi một cách cụ thể như: Ban bố các sắc lệnh trồng các cây dược thảo
để chữa bệnh cho nhân dân, đào giếng bên đường để lấy nước cho người và
vật uống. Thiết lập các thí liệu viện để chữa bệnh, nuôi người già yếu
và tàn tật.
Vua còn ra lệnh cho
nhân dân, quan lại phải mở "vô giá đại hội", để cúng dường cho các bậc
sa môn, bà la môn, tôn trọng tính mạng của sinh vật, tránh các việc xa
xỉ, cấm nhân dân không được bạo ác phóng đãng, phải tôn kính cha mẹ, sư
trưởng, các bậc già cả, hài hòa với những người tật bệnh, thương yêu
những kẻ nô lệ, tôn trọng và khuyến khích nhau làm điều thiện.
Đối với chính trị, Vua
đã quan niệm rất rõ ràng, Vua nói: "Làm chính trị là vì lợi ích và an
lạc cho mọi người, nếu không giúp được lợi ích cho dân, thì sao được gọi
là chính trị".
Lại có người hỏi: Thế
nào là tạo lợi ích cho nhân dân? Vua đáp: "Dân là ai? Dân là ta chứ còn
ai nữa. Mọi người dân đều là ta, mọi gia đình đều là gia đình ta, mọi
con dân đều là con ta".
Đối với địa vị quốc
vương, vua nói như sau: "Vua cũng là một chúng sanh trong hằng hà chúng
sanh, mà có khác chăng, Vua là người được hưởng ân huệ, mà chúng sanh
khác chưa hưởng".
Đối với việc tín
ngưỡng, Vua dạy như sau: "Sống trên thế gian này, cứ dốc lòng quy y Tam
Bảo, nỗ lực làm điều thiện, tránh sát sinh, là không có việc cúng tế nào
hay hơn thế nữa rồi".
Qua nội dung phát biểu
và hành động của Vua A'soka, chúng ta thấy rằng, tinh thần Bồ tát giới
thấm sâu vào nếp nghĩ và cách hành động, không những riêng bản thân Vua
mà ngay cả chính sách trị dân của Vua nữa, cũng như tinh thần Bồ tát
giới ảnh hưởng trong quảng đại quần chúng, dưới thời Vua Asoka là như
thế nào rồi?
Tinh thần Bồ tát giới
đến thời đại Ngài Mã Minh (Asraghosa) ra đời, thì phát triển và cực
thịnh hơn.
Thời đại của Ngài Mã
Minh Bồ tát ra đời là thời đại đầu thế kỷ thứ II-Tây lịch. Ngài không
những trác việt về chứng ngộ tâm linh mà còn là một nhà Phật học uyên
áo, một thi hào, một văn hào kỳ tuyệt và một nhà biện thuyết tăm tiếng
bấy giờ.
Ngài đã trước tác nhiều
tác phẩm vĩ đại, trong đó có bộ Luận Đại Thừa Khởi Tín còn truyền đạt
đến ngày nay.
Luận Đại Thừa Khởi Tín
là gì? Đó là luận chứng nói về tâm lượng rộng lớn, để phát khởi đức tin
đối với giáo nghĩa Đại thừa.
Do đó, các nhà sử học
nhận định, Ngài là nhà xiển dương và làm hưng thịnh Phật giáo Đại thừa
tại Ấn Độ vào thế kỷ thứ II-Tây lịch, không phải là không có căn cứ.
Xiển dương giáo nghĩa
Đại thừa, chính là nêu rõ cách nhìn cuộc đời, cách nhìn thân tâm và
phương pháp tu tập thích ứng rộng lớn với tâm lượng Bồ tát đạo, mà chính
ở trong bài kệ tụng mở đầu của Luận Đại Thừa Khởi Tín, Ngài Mã Minh đã
nêu rõ:
"Kính lễ hết thập phương
Bậc cứu thế đại bi,
Thân vô ngại tự tại,
Tâm tối thắng biến tri,
Và thể tướng thân ấy,
Biển pháp tánh chân như.
Cùng Bậc tu như thật,
Chứa vô lượng công đức.
Vì muốn khiến chúng sanh,
Trừ nghi bỏ tà chấp,
Khởi chánh tín Đại thừa
Dòng dõi Phật bất tuyệt".
Ngay trong nội dung bài
tựa, Ngài đã nói lên tâm nguyện chân thành quy kính Tam Bảo và mục đích
tạo luận của Ngài.
Mục đích đó là vì tâm
đại bi, thương xót chúng sanh, muốn chúng sanh không bị rơi vào đường
tà, vì muốn chúng sanh có lợi ích lớn, có đức tin và học giáo nghĩa Đại
thừa, vì muốn hạt giống Phật pháp được tung vải khắp mọi không gian và
mọi thời gian để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh và hạt giống đó không
bao giờ để cho bị khô kiệt và hư mất.
Ngay cả trong bài kệ
đó, chúng ta nhìn sâu và kỹ, thì cũng thấy ngay tinh thần thọ và trì Bồ
tát giới của Ngài Mã Minh là như thế nào rồi, chứ không cần phải bàn
luận nữa.
Đến Ngài Long Thọ
(Nàgàrjuna) ra đời, khoảng thế kỷ thứ III, Ngài có công lớn trong việc
hệ thống và khai triển giáo nghĩa Đại thừa.
Ngài là vị thông minh
tuyệt vời, không những thông hiểu giáo pháp nguyên thủy, quan điểm của
các bộ phái Tiểu và Đại thừa Phật giáo mà Ngài còn thông hiểu hết thảy
mọi triết thuyết của Ấn Độ lúc bấy giờ. Không những vậy mà ngay cả các
môn khoa học như Thiên văn, Địa lý, Lịch số và các thế pháp khác, Ngài
cũng đều thông thạo.
Do đó, Ngài đã được Vua
nước Kosa là Satvàhana ngưỡng mộ và phát tâm theo Ngài để quy y Tam Bảo,
thọ trì giới pháp.
Ngài đã trước tác rất
nhiều bộ luận nổi tiếng như Trung Quán Luận, Đại Trí Độ Luận, Thập Trụ
Tỳ Bà Sa Luận, Bồ Đề Tư Lương Luận...
Nếu đọc kỹ Bồ Đề Tư
Lương Luận, là bộ luận Ngài bàn đến Tứ vô lượng tâm, Thập ba la mật.
Hoặc Bồ Đề Tâm Ly Tướng Luận, là bộ luận Ngài giải thích về Bồ đề tâm,
và cho rằng: Bồ đề tâm là lấy tâm nguyện đại bi làm thể.
Còn ở trong tác phẩm
Khuyến Phát Chư Vương, thì Ngài khuyến khích các bậc quốc vương, ngoại
hộ Phật pháp nên thực hành Pháp Thập Thiện.
Và ở trong tác phẩm
Quảng Đại Phát Nguyện Tụng, thì Ngài nói về cảnh giới của chúng sanh là
vô tận, nên quốc độ của chư Phật cũng là vô tận. Và hễ tu tập hạnh kính
lễ chư Phật thì diệt trừ vô lượng tội lỗi, sinh trưởng vô lượng phước
đức và đem vô lượng phước đức ấy mà hồi hướng cho hết thảy chúng sanh.
Do đó, ngay ở trong tác
phẩm của Ngài Long Thọ, cũng đủ để chứng minh tinh thần tu tập Bồ tát
giới và sức truyền Bồ tát giới của Ngài đối với thời đại ấy và mai hậu.
Đến thế kỷ thứ IV, Ngài
Bồ tát Di Lặc (Maitreya) ra đời, ở xứ Ayodhya nước Magadha (Ma Kiệt Đà),
có trước tác nhiều bộ luận nổi tiếng, để xiển dương giáo nghĩa Đại thừa,
trong đó có bộ Du Già Sư Địa Luận 100 cuốn và Thập Địa Kinh Luận, hai bộ
luận này của Ngài nêu rõ tinh thần thọ trì và giới tướng của Bồ tát giới
và xiển dương tinh thần Bồ tát đạo rất triệt để.
Cũng thế kỷ này, có
Ngài Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu) cũng ra đời.
Theo tương truyền, Ngài
Vô Trước đã học giáo nghĩa Đại thừa với Bồ tát Di Lặc, sau đó Ngài đã có
nhiều tác phẩm để xiển dương giáo nghĩa Đại thừa như: Hiển Dương Thánh
Giáo Luận, Nhiếp Đại Thừa Luận, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh
Luận...
Sau đó, Ngài Vô Trước
lại chuyển hóa tâm nguyện của người em là Thế Thân hướng đến Đại thừa và
Ngài Thế Thân đã lãnh hội giáo nghĩa Đại thừa một cách sâu xa.
Về sau, Ngài Thế Thân
đã trước tác nhiều luận pháp nổi tiếng để xiển dương giáo nghĩa Đại thừa
như: Duy Thức Tam Thập Tụng, Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận, và nhất
là Phật Tính Luận, Ngài đã đề cập đến tinh thần Bồ tát giới một cách sâu
xa.
Trong Phật Tính Luận,
Ngài luận bàn về tinh thần hết thảy chúng sanh đều có Phật tính và đều
có khả năng tu tập để thành Phật.
Nói tóm lại, trong lịch
sử phát triển Phật giáo tại Ấn Độ, hễ Phật giáo Đại thừa hưng phát và
cực thịnh ở thời đại nào và ở đâu, thì ở đó và lúc đó có sự trao truyền
và học tập Bồ tát giới.
- Trung Quốc
Phật giáo từ Ấn Độ
truyền đến Trung Quốc có nhiều lập thuyết, song lập thuyết niên hiệu
Vĩnh Bình năm thứ 10 là lập thuyết được nhiều nhà sử học thế giới cho
rằng có thể tin được.
Theo lập thuyết này,
thì khoảng năm 67 sau Tây lịch, vua Hán Minh Đế có một đêm nằm mộng thấy
có một người vàng hào quang rực rỡ, đến từ phương Tây làm rạng rỡ cả
cung đình.
Nhân ở giấc mộng này,
Vua đoán biết có Phật giáo ở phương Tây tức Ấn Độ, do đó Vua sai tướng
Thái Hâm, Vương Tuân, Tần Cảnh và phái đoàn gồm 18 người, đi đến phương
Tây tức Ấn Độ để thỉnh tượng Phật về thờ.
Trên đường đi đến Ấn
Độ, ngang qua Tukhàra (Đại Nhục Chi), phái đoàn đã gặp hai Ngài Phạm
Tăng là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đang chở kinh và tượng Phật
bằng Bạch Mã đi về phía Đông, do đó phái đoàn cung thỉnh hai Ngài đến
Trung Quốc.
Khi hai Ngài và phái
đoàn về đến Trung Quốc, vua Hán Minh Đế mừng rỡ, liền xây dựng chùa Bạch
Mã để thờ Phật và làm nơi để hai Ngài dịch Kinh.
Ngài Ca Diếp Ma Đằng
(Kàsyapamàtanga) quê ở Trung Ấn, Ngài học giỏi, nhớ lâu, đạo hạnh tuyệt
vời và Ngài thường trì tụng kinh Surannaprapha'sa (Kinh Kim Quang Minh).
Ngài Trúc Pháp Lan
(Dharmaraksa), cũng là người Trung Ấn, giới luật rất tinh nghiêm, cả hai
Ngài đều ở chùa Bạch Mã ở Trung Quốc để dịch kinh. Tác phẩm của hai Ngài
dịch đầu tiên là Kinh Tứ Thập Nhị Chương, và sau đó các Ngài tiếp tục
dịch các kinh khác như: Thập Địa Đoạn Kết Kinh (8 cuốn), Pháp Hải Tạng
Kinh (1 cuốn), Phật Bản Hạnh Kinh (5 cuốn), Phật Bản Sinh Kinh
(1cuốn)...
Nhìn vào các bản kinh
của hai Ngài phiên dịch, cũng đủ để thấy rằng, Phật học Đại thừa của hai
Ngài uyên bác đến chừng nào và hạnh nguyện Bồ tát tuyên dương chánh pháp
của hai Ngài ngang đâu?
Nếu đọc kỹ Kinh Tứ Thập
Nhị Chương, do hai Ngài đã phiên dịch thì chúng ta thấy rằng, đây là một
bộ kinh không những thuần Đại thừa mà còn xuyên suốt cả giáo lý Nguyên
thỉ, trong đó không những chuyên chở tinh thần giới Đại thừa mà cũng
chuyên chở xuyên suốt hết thảy giới căn bản.
Chẳng hạn, kinh giải
thích về ý nghĩa Sa môn là "người từ bỏ thân thuộc để xuất gia, thấu rõ
đến tận nguồn gốc của tâm, biết được pháp đưa đến Niết Bàn. Vị ấy,
thường hành trì 250 giới, đi đứng trong thanh tịnh, tu hành là để đạt
đến đạo hạnh chân thật, đó là quả vị A La Hán...".
“Người làm Sa môn phải
cạo bỏ râu tóc, lãnh thọ pháp của đạo, từ bỏ tài sản thế gian, khất thực
vừa đủ, ăn một bữa giữa ngày, ngủ một đêm dưới gốc cây, cẩn thận không
trở lại nữa! Phải biết rằng, điều khiến cho con người ngu và tệ là ái và
dục".
Đối với học giới thì
kinh dạy: "Giữ vững chí nguyện, tâm tự lắng trong, mới có thể lãnh hội
và đến được chỗ mầu nhiệm của đạo".
Đối với sự quán chiếu
thì kinh nói: "Hãy quán chiếu để thấy rõ linh giác, chính là Bồ đề, biết
rõ như vậy thì thành đạo rất mau chóng".
Kinh đã đề cập đến lý
tưởng xuất gia và ý nghĩa của đạo như: "Người xuất gia làm Sa môn, là
muốn đoạn trừ dục vọng, loại bỏ khát ái, tự biết nguồn tâm, đạt đến lý
tính sâu thẳm của Phật. Giác ngộ được pháp vô vi, ở nội tâm tự mình
không thấy sở đắc, ở ngoại cảnh tự mình không có chỗ cầu, tâm hằng tự
tại, không bị buộc trói bởi đạo và nghiệp, không còn khởi niệm, không
còn tác ý, không còn pháp tu, không còn quả chứng, các địa vị tu tập
không còn phải trải qua mà tự nó là tối thượng, ấy gọi là đạo vậy".
Rõ ràng, khi hai Ngài
đến Trung Quốc để tuyên dương Phật pháp, các Ngài đã đem toàn bộ hệ
thống tu học từ thấp lên cao mà truyền bá chứ không thiên một pháp nào.
Nên, hẳn nhiên trong
tinh thần Kinh Tứ Thập Nhị Chương do hai Ngài dịch, nó gồm đủ cả tinh
thần Thanh Văn giới và Bồ Tát giới.
Tinh thần Thanh Văn
giới, Thập Thiện giới thì ở trong kinh đề cập khá cụ thể, nhưng tinh
thần Bồ Tát giới hàm chứa ở trong kinh này rất là tế nhị.
Lại nữa, theo Hậu Hán
Thư, có chép câu chuyện liên hệ đến Sở Vương Anh tin Phật như sau:
"Năm 65-Tây lịch, vua
Hán Minh Đế xuống lệnh cho phép những người nào bị tội nặng được dâng
vóc lụa để chuộc tội.
Sở Vương Anh tức là con
cùng cha khác mẹ với Vua, được phong tước Hầu Vương năm 41.
Dù năm 52, Sở Vương Anh
đã di cư ra Bành Thành, kinh đô của nước Sở. Nhưng, Sở Vương Anh khi
nghe chiếu lệnh ấy, mặc cảm rằng mình cũng có tội, nên liền dâng lên vua
Hán Minh Đế ba mươi tấm lụa.
Vua Hán Minh Đế xuống
chiếu nói rằng: "Vương không có tội gì, trái lại Vương còn có công đức,
...biết sùng thượng giáo lý cao siêu của Hoàng Lão và đức nhân từ bao
dung của Phật".
Vương liền làm lễ sám
hối, ăn chay ba tháng và tổ chức thịnh soạn cúng dường Tăng sĩ và cư sĩ.
Nếu đây là một tư liệu
có giá trị lịch sử, thì tinh thần từ bi, sám hối, ăn chay, cúng dường
của Bồ tát giới đã có rất sớm trên đất Trung Hoa, nghĩa là muộn lắm là
khoảng năm 65-Tây lịch, tinh thần Bồ tát giới đã được các hàng Tăng sĩ
và cư sĩ ở xứ này phụng hành một cách kính trọng.
Hiển nhiên, tinh thần
ăn chay, tinh thần từ bi luôn luôn gắn liền với bản chất của Bồ tát giới
trong đạo Phật.
Lại nữa, sau Ngài Ca
Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan khoảng 80 năm, tức là khoảng năm 147-Tây
lịch, thì lại có Ngài An Thế Cao đến Trung Hoa để phiên dịch kinh tạng
và tuyên dương chánh pháp.
Ngài là một vị Thái tử
của Vua Parthia nước An Tức. Sau khi xuất gia Ngài tu tập thông hiểu Tam
tạng, đến Trung Hoa năm 147, hoằng pháp và phiên dịch Kinh tạng tại đây.
Kinh điển do Ngài dịch
có 34 bộ gồm 40 cuốn.
Nhưng hiện nay trong
Đại Tạng Tân Tu chỉ thấy còn lại một ít như: Tứ Đế Kinh, Chuyển Pháp
Luân Kinh, Bát Chánh Đạo Kinh,... đây là những bộ kinh hàm chứa những
giáo lý căn bản của Phật học. Và Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Phương Đẳng
Yếu Tuệ, do Ngài dịch hàm chứa tinh thần Bồ tát đạo rất là sâu xa.
Ở trong kinh này, đức
Phật đã dạy cho Bồ Tát Di Lặc tám điểm để không bị thối chuyển đối với
pháp Đại thừa, nhằm thực hành Bồ tát đạo và nhiếp phục các ma oán, thành
tựu địa vị tối thượng của Nhất Thế trí.
Tám điểm ấy là:
1. Phải có bản chất
thanh tịnh từ bên trong (Nội tánh thanh tịnh).
2. Phải thành tựu đối
với những điều đã được phụng hành (Sở hành thành tựu).
3. Phải thành tựu các
hạnh bố thí (Sở thí thành tựu).
4. Phải thành tựu về
hạnh nguyện (Sở nguyện thành tựu).
5. Phải thành tựu lòng
từ (Từ thành tựu).
6. Phải thành tựu lòng
bi (Bi thành tựu).
7. Phải thành tựu về
phương diện thiện xảo (Thiện quyền thành tựu).
8. Phải thành tựu trí
tuệ (Trí tuệ thành tựu).
Ở trong tám điều đức
Phật dạy trên, chúng được thâu nhiếp vào tam tụ tịnh giới của Bồ tát
giới như sau:
Điều một là thuộc về
Nhiếp luật nghi giới.
Điều hai là Nhiếp thiện
pháp giới.
Và những điều còn lại
thuộc về Nhiêu ích hữu tình giới.
Sự hiện diện của Ngài
An Thế Cao trên mảnh đất Trung Quốc là sự hiện diện của một con người
thực hành Bồ tát đạo, điều này đã được Ngài Khương Tăng Hội ở thế kỷ thứ
III đã nói ở trong bài tựa của Kinh An Ban Thủ Ý như sau: "Có một vị Bồ
tát tên là An Thanh, tự là Thế Cao, con đích của vua nước An Tức, sau
khi nhường ngôi cho chú, lánh qua đất này...", chính chi tiết này cho ta
biết thêm tinh thần truyền bá Bồ tát giới của Ngài An Thế Cao lúc bấy
giờ.
Năm 250 TL, Ngài
Dharmakàla (Đàm Ma Ka La) và Dharmatràta từ Trung Ấn đến Trung Hoa mới
bắt đầu phiên dịch Luật tạng, như Tăng Kỳ Giới Bổn, Đàm Vô Đức Yết Ma...
để làm phép tắc trao truyền giới pháp.
Và bản Bồ Tát Phạm Võng
Giới Kinh, mãi đến khi Ngài Cưu Ma La Thập (Kumarajira) đến Trung Quốc
năm 386-413, mới được phiên dịch.
Bồ Tát Anh Lạc Bản
Nghiệp Kinh, do Ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần khoảng năm
317-419 TL.
Bồ Tát Địa Trì Kinh, Ưu
Bà Tắc Giới Kinh, do Ngài Đàm Vô Sấm (Dharmaksa) dịch vào đời Lương,
khoảng 412 TL.
Bồ Tát Giới Nội Kinh,
Bồ Tát Thiện Giới Kinh, do Ngài Cầu Na Bạt Na (Gunavarman) dịch khoảng
377-431 TL, Ngài còn dịch Tứ Phần Tỷ Khưu Yết Ma Pháp.
Nhờ nhiều thế hệ cao
Tăng từ Ấn Độ đến Trung Quốc hoằng hóa và phiên dịch kinh điển, làm cho
trên mảnh đất này phát sinh những vị cao Tăng rất vĩ đại như Ngài Chu Sĩ
Hành, đã xuất gia tu học, chuyên giảng dạy kinh "Đạo Hành Bát Nhã", và
là vị cao Tăng đầu tiên tu học Ấn Độ vào khoảng 260-TL.
Ngài Đạo An (312-385),
một vị danh Tăng đời Tiền Tần, học trò của Ngài Phật Đồ Trừng, 12 tuổi
xuất gia, thông minh kỳ lạ, lớn lên thọ cụ túc giới, và có công lớn
trong sự hoằng truyền Phật pháp.
Ngài đã làm bộ "Kinh
Điển Mục Lục", phụ giúp các vị Phạm Tăng phiên dịch kinh điển, Ngài
thường giảng dạy Kinh Phóng Quang Bát Nhã cho hội chúng, Ngài chú thích
nhiều bộ kinh điển, định ra các Tăng chế như các pháp "Hành Hương, Định
Tọa, Sáu Thời Hành Đạo,...thực hành pháp Bố tát và Sám hối".
Ngài dùng họ Thích là
họ chung cho những người xuất gia, để nói lên rằng, nó có gốc rễ từ đức
Thích Tôn.
- Tuệ Viễn (334-416),
Ngài người Nhạn Môn, tỉnh Sơn Tây, thưở nhỏ theo Nho học và Đạo học, năm
21 tuổi cùng với em là Tuệ Trì theo học Phật với Ngài Đạo An, Ngài là
người rất thông minh và rất được Ngài Đạo An quý chuộng.
Sau khi trưởng thành,
Ngài đến Lư Sơn để tu tập và hoằng pháp, Ngài đã cho hai vị đệ tử là
Pháp Tịnh và Pháp Vĩnh sang Ấn Độ để học về Phạn văn.
Ngài đã trước tác "Pháp
Tính Luận, Sa Môn Bất Bái Vương Giả Luận, Đại Trí Độ Luận Sao,... Ngài
là vị khai sáng "Bạch Liên Xã", tức là những người tu tập tịnh độ. Ở
trong Bạch Liên Xã có những vị Tăng sĩ nổi tiếng như: "Tuệ Viễn, Tuệ
Vĩnh, Tuệ Trì, Đạo Sinh, Đàm Thuận, Phật Đà Da Xá, Phật Đà Bạt Đà La,...
và trong hàng cư sĩ có những vị nổi tiếng như: Lưu Trình Chi, Trương Dã,
Chu Tục Chi, Trương Thuyên, Tôn Bính, Lôi Thứ Tôn,...".
Như vậy, đến thời điểm
này, Phật giáo không những có gốc rễ từ những hàng Tăng sĩ bản xứ mà còn
ảnh hưởng đến hàng vua chúa quan quyền, và tầng lớp trí thức cũng như
thứ dân của xã hội Trung Hoa bấy giờ.
Các vua chúa Trung Hoa
như Phù Kiên đời Tiền Tần cho đến các vua Diêu Trành, Diêu Hưng đều
nhiệt tình ủng hộ Phật giáo về mọi mặt.
Vua Mông Tốn thế kỷ V,
đời Bắc Lương cũng rất hết lòng ủng hộ Phật giáo.
Tuy nhiên, Phật giáo từ
khi truyền vào Trung Quốc đến thế kỷ V, không phải lúc nào cũng hưng
thịnh và cũng có sự ủng hộ của vua chúa , mà trái lại Phật giáo cũng có
lúc bị suy vi bởi những nhà vua bài xích và đàn áp Phật giáo như Cao Tổ
Võ Đế nhà Tống (420-588 TL).
Nhưng đến đời nhà Lương
thì Phật giáo thịnh hành, vua Lương không những là nhà ngoại hộ và thâm
tín Phật giáo mà vua còn đem vương quyền và giáo quyền hợp nhất để trị
dân.
Vua tự mình soạn ra bài
văn "Đoạn tửu nhục" (chấm dứt sự ăn thịt và uống rượu) để quyết tâm tu
trì.
Năm 517, vua ra lệnh
cho nhân dân không được cúng tế quỷ thần bằng rượu thịt mà chỉ cúng tế
bằng hoa quả.
Vào ngày 08 tháng 4 năm
519 lễ Phật Đản, vua lại phát tâm thọ trì Bồ tát giới tại chùa Thảo
Đường với Ngài Tuệ Ước, sau đó các công khanh sĩ dân cũng noi gương mà
thọ giới pháp cả mấy vạn người. Vua còn ra lệnh mở nhiều pháp hội ở
nhiều nơi như: Vô Giá Đại Hội, Bình Đẳng Pháp Hội, Cứu Khổ Trai Đàn, Đại
Pháp Hội... để thể hiện hạnh nguyện Bồ tát vậy.
Vua chú sớ kinh Bát Nhã
và thường dạy kinh này cho các đình thần văn võ, sĩ thứ và kể cả Tăng sĩ
nữa.
- Đời Tùy (581-618),
sau khi thống nhất thiên hạ, Tùy Văn Đế lên ngôi, ngoài việc chăn dân
vua hết sức phục hưng Phật giáo, xây dựng chùa tháp khắp nơi, hết lòng
ủng hộ Tăng Ni tu học và truyền bá Phật giáo.
Trong sự nghiệp phục
hưng Phật giáo, Vua nói: "Phật lấy chánh pháp phó chúc cho Quốc vương,
Trẫm là Đấng nhân tôn, tuân theo lời phó chúc đó".
Năm 585, Vua phát tâm
thọ trì Bồ tát giới với Sa môn Pháp Kính, sau đó Vua hạ lệnh xá ngục tù
cho tất cả 24.900 người, giảm tội tử hình cho 3.700 người. Vua còn có
lòng từ bi đối với các loài vật, ngày 15-6 là ngày sinh nhật của Vua,
vào ngày đó Vua hạ lệnh cấm nhân dân không được giết hại súc vật.
Vua Tùy Văn Đế mất,
Thái tử là Tùy Dạng Đế lên ngôi, kế nghiệp Vua cha trị nước, an dân và
quảng bá Phật pháp, Vua đã thỉnh Ngài Trí Khải trao truyền Bồ tát giới.
Hết Tùy đến Đường
(618-907), Phật giáo cực thịnh, các cao Tăng xuất hiện như Ngài Nghĩa
Tịnh, Huyền Tráng, Đạo Tuyên... làm cho Phật giáo ở thời đại này vô cùng
rực rỡ.
Ngài Nghĩa Tịnh và
Huyền Tráng đều là những nhà du học Ấn Độ và rất giỏi Phạn văn, các Ngài
sau khi du học đã trở về nước phiên dịch kinh điển từ Phạn bản sang Hán,
sự nghiệp phiên dịch của các Ngài rất là vĩ đại.
Cuối đời Đường, Phật
giáo xuống dốc có nhiều lý do chính là do Tăng đoàn suy đồi, vì Tăng
đoàn đã trở nên hỗn tạp, những vị chính tâm tu tập thì ít, nhưng những
kẻ lợi dụng đạo để mưu cầu cá nhân thì nhiều, do đó Tăng đoàn không đủ
đạo lực để nhiếp hóa những kẻ ngoại hộ và ngoại đạo, nên đã đưa đến tình
trạng Võ Tôn phế Phật (842).
Hết đời Đường đến đời
Tống (960-1279), Phật giáo hưng thịnh trở lại, các bậc cao Tăng xuất
hiện, Vua Tống Thái Tổ ra lệnh phục hưng Phật giáo, độ cho 800 đồng tử
xuất gia, mời các danh Tăng về cung dạy đạo, cử 157 người đi Ấn Độ để
cầu Pháp.
Đến đời Vua Tống Thái
Tôn cũng tiếp tục phục hưng Phật giáo, vua phát tâm thọ trì Bồ tát giới.
Đến Vua Tống Nhân Tông,
cũng rất thâm tín Phật pháp,Vua đã yêu cầu Ngài Pháp Hiền mở "Cam lồ
pháp đàn" để thí giới.
Trong truyền thống giới
đàn của Phật giáo Bắc Phạn và nhất là ở Trung Hoa, phần nhiều những giới
tử cầu thọ cụ túc giới đều kèm theo thọ trì Bồ tát giới và nhiên hương ở
đỉnh đầu để cúng dường Phật, nhằm nêu cao tinh thần thực hành Bồ tát
đạo.
Sự hưng vượng hay suy
vong của Phật giáo ở trung Quốc từ những triều đại trước và kể những
triều đại sau Tống, yếu tố chính vẫn do tâm nguyện tu học của hàng Tăng
sĩ và cư sĩ có kiên cố và đạo hạnh hay không? Nếu tu học mà không có
chánh tâm là tâm Bồ đề thì Phật pháp khó mà bảo toàn chứ đừng nói là
hưng vượng.
Tóm lại, bất cứ thời
điểm nào và ở đâu, các Tăng sĩ vừa là Bậc có đạo hạnh, vừa là Bậc có tâm
huyết hoằng pháp, thì lúc đó và ở đó, Phật pháp không bị dứt tuyệt. Và
hàng cư sĩ dốc lòng hộ đạo, thọ trì Bồ tát giới, thì dù Thiên Ma có cầu
mong chánh pháp hủy diệt, chúng cũng hoàn toàn bị thất vọng.
- Việt Nam
Theo Nguyễn Lang - Nhà
Sử học Phật giáo, thì trung tâm Luy Lâu là một trung tâm Phật giáo sớm
nhất ở Việt Nam, nó được thiết lập bởi các nhà Tăng sĩ Đại thừa Phật
giáo đến từ Ấn Độ, khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch.
Điều nhận định này có
lý, nếu căn cứ vào sách Lý Hoặc Luận của Mâu Tử, đây là một tác phẩm mà
Mâu Tử đã viết vào thế kỷ thứ II, nhằm nêu lên chính lý để loại bỏ những
ngộ nhận đối với đạo Phật của một số thức giả bấy giờ.
Sách có đề cập sự ra
đời, xuất gia, thành đạo, giáo hóa và Niết Bàn của đức Phật; có đề cập
đến người Phật tử tại gia thọ trì năm giới, thì phải ăn chay một tháng
sáu ngày và phải sám hối những tội lỗi đã làm, để có những sự tiến bộ
mới trong sự tu tập tâm chí, còn các Bậc Sa môn thì hành trì 250 giới và
phải ăn chay trường, giới này không phải được nghe bởi hàng Ưu Bà Tắc,
họ đi đứng thì nghiêm túc có phép tắc uy nghi, ngày đêm thì giảng đạo,
tụng kinh và hoàn toàn không tham dự thế sự.
Sự hiểu biết về đạo
Phật của Mâu Tử vào thế kỷ thứ II như vậy là rất chính xác. Và như vậy,
thì Mâu Tử học đạo với ai? Chắc là ông ta đã học đạo với các Bậc Tăng sĩ
Đại thừa, vì chỉ có những vị Tăng sĩ này mới dạy tín đồ ăn chay kỳ, còn
các Ngài thì ăn chay trường, đúng như sách Lý Hoặc Luận đã nói.
Vì sao các Tăng sĩ Đại
thừa ăn chay trường, vì các Ngài ngoài thọ Tỷ khưu giới ra, các Ngài còn
hành trì Bồ tát giới nữa, đó là giới dựa trên nền tảng của Bồ đề tâm mà
hưng khởi Đại trí và Đại bi, có năng lực yêu thương và nhiếp hộ hết thảy
chúng sanh, không nở làm tổn hại chúng sanh dưới bất cứ hình thức nào.
Rõ ràng hành trì giới
luật của các Bậc Sa môn như Mâu Tử nói, không những có đồng thời với Mâu
Tử mà phải có trước đó, nghĩa là ít ra tinh thần giới luật như vậy, phải
có trên đất nước Việt Nam khoảng thế kỷ đầu.
Lại nữa, trong sách Lý
Hoặc Luận, Mâu Tử đã giải thích một số thắc mắc về cách thực hành Bồ tát
dạo qua hạnh thí xả của Thái tử Tu Đại Noa (Sudàna)
như sau:
"Ngoại nhân hỏi: Ở
trong kinh Phật kể rằng: Thái tử Tu Đại Noa lấy tài sản của phụ vương mà
bố thí cho người lạ, lấy voi báu mà tặng cho kẻ ghét mình, đem vợ con mà
cho người khác, thế là không quý trọng người thân, mà quý trọng kẻ khác
là trái ngược với lễ, không thương người thân mà thương kẻ khác là trái
ngược với đức hạnh. Tu Đại Noa không phải là người nhân từ, thế mà đạo
Phật rất tôn trọng ông ta, thì đâu không phải là lạ đời?
Ngài Mâu tử đáp: "Thái
tử Tu Đại Noa quán xem sự vô thường của cuộc đời, tài sản không phải là
báu vật thật sự, nên tùy ý bố thí. Nhờ vậy mà nước của cha được vận may,
kẻ oán thù không thể xâm hại”.
Qua sự thắc mắc của
ngoại nhân và sự trả lời của Mâu Tử ở trong sách Lý Hoặc Luận về sự thực
hành Bồ tát đạo như vậy, cho chúng ta thấy rằng, các kinh Bản Sinh bấy
giờ đã truyền bá sâu rộng trong quần chúng, cũng như trong thành phần
trí thức Việt Nam. Và tinh thần thọ trì Bồ tát giới, thực hành Bồ tát
đạo để thành Phật đã có mặt trên đất nước Việt Nam muộn lắm là ở thế kỷ
thứ II.
Lại nữa, căn cứ Lục Độ
Tập Kinh, một bản kinh được dịch sớm nhất trên đất Giao Chỉ bởi Tăng sĩ
Khương Tăng Hội, thì tinh thần Bồ tát giới, thực hành Bồ tát đạo có trên
đất nước Việt Nam lúc bấy giờ lại rất cụ thể.
Vì nội dung của kinh
này là thuật lại tinh thần Bồ tát đạo của tiền thân đức Phật và các vị
Bồ tát. Và chính do thực hành tinh thần ấy, mà ngày nay đức Phật Thích
ca đã thành Phật, và các vị Bồ tát rồi cũng sẽ thành Phật.
Lục Độ Tập Kinh do Ngài
Khương Tăng Hội dịch có tám cuốn, ba cuốn đầu nói về Bố thí độ, các cuốn
sau thì mỗi cuốn đều nói về một độ trong các độ còn lại.
Chỉ đọc đề kinh, chứ
chưa bàn đến nội dung cũng đủ biết rằng, đây là một bộ kinh đề cập đến
tinh thần hành Bồ tát đạo, thực hành Bồ tát giới.
Vậy tinh thần Bồ tát
giới ở trong kinh này là như thế nào?
Kinh nói: "Những kẻ
cuồng ngu bạo ngược, ưa tàn hại chúng sanh, tham lam trộm cắp của kẻ
khác, buông lung theo dâm dục, uế trược, nói lời hai lưỡi, nhục mạ thô
ác, nói lời dối trá thêm thắt. Tâm tham lẫn, sân hận và ngu si. Nguy hại
người thân, giết hại bậc Thánh, báng bổ Phật pháp, nhiễu loạn các bậc
Hiền Thánh, ăn trộm tài sản nơi tín ngưỡng, ôm lòng phản bội, tệ ác, phá
hủy Tam Bảo, đó là những tội cực ác.
Thà đến chỗ triều đình,
phố thị chịu nỗi khổ róc thịt, thân chịu ướp muối phơi khô, chứ đã tín
kính Tam bảo, thề nguyện tế độ cùng khắp chúng sanh, đền trả bốn ân thì
trọn đời không thể nào làm những tội ác ấy.
Qua nội dung đã dẫn ở
trên, cho chúng ta thấy rằng, giới tướng của Bồ tát lúc bấy giờ vẫn lấy
Thập Thiện giới làm căn bản và có thêm những điều răn cần thiết như sau:
- Không được làm nguy
hại người thân.
- Không được giết hại
Bậc Thánh.
- Không được báng bổ
Phật pháp.
- Không được nhiễu loạn
các Bậc Hiền Thiện.
- Không được ăn trộm
tài sản nơi tín ngưỡng.
- Không ôm lòng tệ ác,
phản bội.
- Không phá hủy Tam
Bảo.
Kinh còn nêu rõ mục
đích và lý tưởng trì giới của Bồ tát như sau:
"Bồ tát đời đời thực
hành giáo pháp để thành tựu Như Lai là Bậc Vô sở trước Chánh chơn, là
Bậc Chánh giác tối thượng của đạo, là Bậc Thầy của trời và người".
Chính trong Lục Độ Tập
Kinh còn nêu rõ những tấm gương trì giới kiên cố, cao khiết của các vị
Bồ tát, kể cả tiền thân đức Phật Thích ca Mâu Ni trong thời kỳ đang thực
hành Bồ tát đạo.
Như vậy, Lục Độ Tập
Kinh do Tăng sĩ Khương Tăng Hội, dịch vào thế kỷ thứ III-TL, trên đất
Giao Chỉ đã làm cho chúng ta thấy rằng, vào thời kỳ này tinh thần thọ
trì Bồ tát giới đã phát triển và phổ biến trên đất Giao Chỉ lúc bấy giờ
là như thế nào.
Khương Tăng Hội là
người Việt gốc Ấn, vì cha mẹ Ngài là người Sogdiane (Khương Cư) - Ấn Độ,
đến cư ngụ tại Giao Chỉ. Ngài rất giỏi Phạn ngữ và Hán ngữ, tu tập tinh
cần, đã dịch nhiều kinh điển từ Phạn sang Hán.
Theo sách Cao Tăng
truyện, Ngài đã đến Kiến Nghiệp tức thủ đô nước Ngô (Nam Kinh ngày nay)
vào năm Xích Ô thứ 10, tức là năm 255, và Ngài đã tịch trên đất Trung
Hoa năm 280 TL.
Kể từ Ngài Khương Tăng
Hội đến các Tăng sĩ về sau trên đất Giao Chỉ, chắc chắn các Ngài không
những là các Tăng sĩ hành trì giới Thanh Văn mà còn hành trì giới Bồ tát
nữa.
Vào thế kỷ thứ VI, khi
Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến Việt Nam ở tại chùa Pháp Vân, thì bấy giờ đã
có Thiền sư Quán Duyên là vị thông hiểu và đã dạy Phật pháp cho đồ chúng
tại đó. Trong đồ chúng ấy có Ngài Pháp Hiền đã đắc pháp với Tổ Tỳ Ni Đa
Lưu Chi, và Tổ đã nhận định về Ngài Pháp Hiền như sau:
"Nay lại có Pháp Hiền
Thượng Sĩ, đắc pháp với Tỳ Ni Đa Lưu Chi, truyền bá tông chỉ Tam Tổ, là
một vị Bồ tát sống, cư trú tại chùa Chúng Thiện, dạy dỗ giáo hóa đồ
chúng có hơn 300 người, không thua kém gì Phật giáo ở Trung Quốc".
Lại nữa, Kinh Tượng Đầu
Tinh Xá là bản kinh do Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch và truyền dạy vào thế
kỷ thứ VI, đã đề cập đến tên Bồ đề, tức là bản chất của Bồ tát giới như
sau:
"Đức Phật bảo Ngài Văn
Thù Sư Lợi rằng: Bồ đề siêu việt tam giới, siêu việt ngôn ngữ, siêu việt
văn tự, không còn địa điểm nương tựa.
Lại nữa, Văn Thù! An
trú vào nơi không an trú là an trú Bồ đề, an trú ở nơi không chấp trước
tức là an trú Bồ đề; an trú ở nơi pháp không tức là an trú Bồ đề; an trú
ở nơi pháp tính tức là an trú ở nơi Bồ đề; an trú ở nơi chân lý tất cả
các pháp không có thể tướng là an trú Bồ đề, an trú nơi vô lượng tín là
an trú ở nơi Bồ đề, an trú ở nơi không tăng, không tăng giảm là an trú
Bồ đề...".
Thế kỷ thứ X, Ngài Đỗ
Pháp Thuận ngoài việc hướng dẫn vua trị nước, an dân, Ngài còn biên tập
cuốn Bồ Tát Hiệu Sám Hối Văn, tiếc rằng cuốn sách này hiện nay không
còn, nhưng với đầu đề của sách cũng cho chúng ta đoán chắc rằng, nội
dung có thể nói lên tinh thần sám hối bằng cách kính lễ hoặc trì tụng
hoặc thực hành theo tinh thần Bồ tát.
Cũng thế kỷ này, Thiền
sư Viên Chiếu (998-1090), Ngài tu tập không những giỏi về pháp Tam Quán
của kinh Viên Giác, mà Ngài còn rất giỏi ngôn ngữ của thi ca, và chính
Ngài là một bậc thi tài bấy giờ.
Ngài đã soạn các tác
phẩm:
- Tán Viên Giác Kinh.
- Thập Nhị Bồ Tát Hạnh
Tu Chứng Đạo Tràng.
- Tham Đồ Hiển Quyết.
- Dược Sư Thập Nhị
Nguyện Văn.
Bấy giờ, vua Lý Nhân
Tông cho đem cuốn Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn tặng Vua Triết Tông nhà
Tống. Vua Tống giao cho các Thiền sư chùa Tướng Quốc xem và bảo rằng, có
chỗ nào đáng sửa thì sửa lại. Nhưng, các Thiền sư đã thưa với Vua rằng:
"Đây là Đấng hóa thân Đại sĩ ra đời ở phương Nam, giảng giải kinh điển
rất tinh vi, chúng tôi không dám thêm bớt gì nữa".
Nhìn vào hai tác phẩm -
Thập Nhị Bồ Tát Tu Chứng Đạo Tràng và Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn, cũng
để thấy rằng, tinh thần hành trì Bồ tát giới và phổ biến Bồ tát đạo của
Ngài Viên Chiếu vào thời bấy giờ, trong thiền viện cũng như trong tầng
lớp xã hội.
Thiền sư Trí Bảo
(?-1190) là cậu của Thái úy Tô Hiến Thành, thời vua Lý Anh Tông. Theo
Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục, thì Ngài Trí Bảo xuất gia tu học
tại chùa Thanh Tước, ở núi Du Hỷ. ngài tu học đạt đạo nhưng rất khiêm
tốn, gặp bất cứ ai dù giàu hay nghèo đều chắp tay cung kính và tránh
đường cho họ đi, Ngài thường thực hành hạnh Bồ tát bằng cách bắt lại cầu
cống, sửa sang đường sá, hoặc xây tháp làm chùa cho mọi người tu tập,
Ngài còn giỏi về thi ca. Câu thơ:
"Tương tức mãn thiên hạ
Tri âm năng kỷ nhân".
(Quen biết đầy thiên hạ
Tri âm được mấy người.)
Tác giả chính là Ngài.
Và tinh thần tu tập Bồ
tát giới, hành trì Bồ tát đạo của Ngài, chúng ta có thể thấy rất rõ qua
bài kệ sau đây:
"Bồ tát tư tài tri chỉ túc,
Ư tha từ bi bất xâm dục.
Thảo diệp bất dữ, ngã bất thủ,
Bất tưởng tha vật đắc như ngọc.
Bồ tát tự thê phương tri túc,
Như hà tha thê khởi tham dục?
Ư tha thê thiếp tha sở hộ,
An nhẫn tự tâm khởi tâm khúc".
Dịch:
Tài sản đối với Bồ tát
thì luôn biết đủ và ngừng lại, lòng từ bi đối với người thì không xâm
phạm đến sắc dục; dù chỉ là chiếc lá ngọn cỏ mà người không cho thì
không nên lấy, không nghĩ tưởng đến tài vật của kẻ khác, thì đức sáng
như ngọc kim cương.
Hàng Bồ tát tu tại gia,
thì đối với vợ mình nên biết đủ; đối với vợ của người khác, thì có người
khác bảo hộ, tại sao tự tâm mình lại khởi lên ý tưởng tà vạy?
Bài kệ này, Ngài Trí
Bảo đã giảng dạy cho Tăng sĩ và cư sĩ lúc bấy giờ đã theo học với Ngài.
Trong suốt thế kỷ đầu
cho đến đời Lý, thọ trì Bồ tát giới có thể nằm trong hàng Tăng sĩ, còn
hàng cư sĩ chỉ có thể hành trì pháp Tam quy, Ngũ giới mà thôi và nếu có
vị nào trong hàng cư sĩ muốn tiến xa trong sự tu tập, thì cũng có thể
hành trì thêm Thập thiện giới.
Đối với hàng vua chúa,
quan quyền suốt những thế kỷ này, có những vị có đức tin đối với Phật
pháp một cách sâu xa và có tâm nguyện hộ trì, nhưng sự học tập Phật pháp
và sự đạt ngộ tâm linh không bằng các vua quan đời Trần.
Vua Trần Thái Tông
(1218-1277), vượt thành với mộng xuất gia không thành, vua phải nghe lời
Thầy là Trúc Lâm Quốc Sư, xuống núi để lo việc chăn dân, lấy dân ý làm ý
của mình trong sứ mệnh điều hành đất nước.
Mặc dù, vua rất bận rộn
việc đời, nhưng không xao lãng việc đạo, vua nói: "Ròng rã trong mười
năm trời, mỗi khi có cơ hội việc nước nhàn rỗi, Trẫm lại tụ họp các bậc
Kỳ-Đức để học hỏi Đạo Thiền, các kinh điển của các hệ thống giáo lý
chính, không có kinh nào là Trẫm không nghiên cứu".
Nếu chúng ta đọc các
tác phẩm của Vua còn để lại trong Khóa Hư Lục, thì chúng ta thấy rằng;
Vua không phải chỉ là một vị minh quân hiểu đạo, hộ đạo, ái đạo mà còn
là bậc hành đạo rất thâm sâu, có sự chứng ngộ của tâm linh cao tuyệt, có
lòng từ bi đối với hết thảy mọi người và chúng sanh.
Những điều này đã hiện
rất rõ trong bài văn Giới Sát Sanh của Vua như sau:
"Xét đến bản chất đồng
nhau của loài noãn sinh, thai sinh, thấp sinh và hóa sinh, thì tính
thấy, nghe, hiểu biết của họ đâu có gì khác nhau!
Nguyên nhân chỉ là do
họ tạo nghiệp tích tụ những điều oan trái, do đó mà nhận lấy những danh
hiệu khác nhau đó thôi; nhưng thật ra những loài ấy cũng có gốc rễ đạo
lý từ nơi loài người.
Ngày nay họ sanh ra nơi
quần loại lớn bé có khác nhau, hoặc họ từng là bạn bè, anh em, bây giờ
thay áo, đổi mũ, biến thành những loài có lông, có cánh, có vảy, chừ vợ
quên chồng, chồng quên vợ, con trái với cha mẹ, cha mẹ trái với con,
thấy chúng khác đầu, khác mặt, liền bắt vào chặt chân mổ ruột, chúng
cũng tham sống, sợ chết có khác gì chúng ta, nhưng phải chịu đau thương
thống thiết, không nói được nên lời!
Nay, quý vị giết chúng
rồi chúng sẽ trở lại giết quý vị, chúng ăn thịt quý vị, quý vị ăn thịt
chúng, cứ như vậy mà vĩnh viễn đắm chìm trong sự oán trách thù hận, lâu
dài, đời đời vay trả nợ nhau, kiếp kiếp trả thù oán nhau.
Người biết phản tỉnh,
thì còn trở lại với quê hương, xứ sở, kẻ buông lung tâm tính, thì vĩnh
kiếp trầm luân địa ngục.
Sách Nho thì bảo: Hãy
thể hiện tính nhân từ, ban rải tâm đức hạnh. Đạo Đức kinh thì khuyên:
Hãy yêu thương những loài vật ham sống. Còn đức Phật thì dạy: Hãy phụng
trì giới ngăn ngừa sự giết hại".
Và trong bài văn Khuyến
Phát Bồ Đề Tâm của Vua, Vua đã nói rất rõ giá trị của vàng bạc, của thân
thể và đạo lý.
Đối với vàng bạc thì
con người bảo nó là quý, nhưng nó không quý bằng thân mạng con người, và
thân mạng con người là nhờ sinh ra và lớn lên trong xứ sở có văn hóa, có
đầy đủ các căn.
Tuy nhiên, thân thể ấy,
vẫn không quý báu bằng chỗ tột cùng của Đạo. Vua nói: Chính đức Thế Tôn
cầu Đạo mà Ngài đã xả thân để cứu khổ.
Vua còn nói: "Than ôi!
Thân mệnh là rất trọng mà còn nên bỏ để mong cầu đạo quả Vô Thượng Bồ
Đề, huống chi là những của báu tầm thường như vàng bạc, ngọc ngà lại
tiếc nuối làm chi".
Bởi do tinh thần tu tập
hiểu đạo và có những chứng ngộ tâm linh sâu xa của Vua Trần Thái Tôn như
vậy, nên đã làm cho Phật giáo vào thời đại này, có những đường nét độc
đáo và thâm sâu vào lòng quần chúng hơn so với Phật giáo đời Lý.
Vào thời đại này, không
những mở ra cho Phật giáo Việt Nam một thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang
tính nhập thế tích cực, mà còn mở ra cho Phật giáo Việt Nam những đường
nét độc đáo như: Tín ngưỡng, văn hóa, giáo dục, triết học,... và đồng
thời tạo nên sức mạnh đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân để bảo vệ và phát
triển về ý thức độc lập dân tộc.
Vua Trần Nhân Tông đã
có tâm nguyện xuất gia từ nhỏ, nhưng không được Phụ hoàng là Trần Thánh
Tông cho phép, bởi vậy Vua phải miễn cưỡng lên ngôi, sau đó truyền ngôi
lại cho con là Trần Anh Tông và xuất gia.
Khi chưa xuất gia tu
học, Vua đã học Phật với Tuệ Trung Thượng Sĩ, tức là một vị cư sĩ có sở
học rất độc đáo và uyên bác về đạo Phật, nhất là Thiền tông.
Mặc dù chưa xuất gia,
nhưng Vua đã có nếp sống rất thanh tịnh, Vua đã giữ gìn giới hạnh và ăn
chay trường.
Có lần, Vua mời Văn Túc
- Vương Đạo Tái (con của Trần Quang Khải) đến chơi, ăn cơm ở Dưỡng Đức
Điện, Vua nhìn Đạo Tái ăn và làm bài thơ:
"Món quay cước đỏ thắm
Món Mã yên vàng thơm.
Sơn Tăng giữ tịnh giới,
Cùng ngồi không cùng ăn".
Mặc dù, đến năm 1299,
Vua mới thực hiện hạnh nguyện xuất gia, nhưng thời gian trước đó Vua đã
tự ví mình là một Sơn Tăng hành trì trai giới rất nghiêm tịnh.
Sau khi xuất gia, Vua
có đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng, đã nỗ lực tu tập và truyền bá Phật
pháp trong nhân gian, Vua dạy dân chúng phải hành trì Thập Thiện giới,
đây là giới học làm nền tảng đạo đức để xây dựng hạnh phúc và an lạc cho
chư Thiên và loài người trong tinh thần Phật giáo.
Năm 1304, Vua Trần Anh
Tông đã thỉnh Ngài Điều Ngự Giác Hoàng vào Đại Nội và xin thọ tại gia Bồ
tát giới.
Năm 1305, Vua Trần Nhân
Tông tức Điều Ngự Giác Hoàng đã tổ chức lễ truyền thọ Tỷ khưu và Bồ tát
giới cho đệ tử của mình là Pháp Loa.
Trước khi Điều Ngự Giác
Hoàng mất, Ngài đã trao truyền tâm ấn cho Pháp Loa, bấy giờ Ngài Pháp
Loa kế thừa Ngài Điều Ngự Giác Hoàng, lãnh đạo Phật giáo Trúc Lâm và đã
làm nhiều Phật sự quan trọng như:
- Năm 1319, Ngài đã
trao truyền giới pháp tại gia cho Hoa Dương Công chúa.
- Năm1320, Ngài đã trao
truyền Bồ Đề Tâm Giới cho Tuệ Nhân Đại Vương và Quốc Phụ Thượng Tể là
Quốc Chẩn.
- Năm 1323, Văn Huệ
Vương và Tuy Huệ Vương đến chùa Báo Ân xin thọ Bồ Đề Tâm Giới và Pháp
quán đỉnh.
- Năm 1324, Chiêu Hoàng
Thái Phi xuất gia, thọ Bồ tát giới... và con cháu trong Hoàng tộc phát
tâm xuất gia tu tập rất nhiều.
Ngài Pháp Loa đã có
những bản nguyện rộng lớn như sau:
"Chư Phật và Bồ tát
có những hạnh nguyện nào, tôi đều tha thiết cầu xin tìm học và làm theo.
Dù chúng sanh có khen chê, kính trọng, dù kẻ bố thí hay xâm đoạt, nhưng
khi mắt thấy tai nghe sự khổ đau của họ, thì đều xin cứu độ, khiến cho
hết thảy đều bước lên nấc thang giác ngộ".
Do Ngài có những đại
nguyện rộng lớn như vậy, nên trong cuộc đời tu tập và hoằng pháp, Ngài
đã làm những Phật sự đưa lại những lợi ích cho chúng sanh.
Kế thừa Ngài Pháp Loa
là Ngài Huyền Quang, ngài này cũng tiếp tục phát huy tinh thần Phật giáo
Đại thừa, trong đó gồm cả Thiền học, Tịnh độ và Mật tông.
Nhưng, sau khi Ngài
Huyền Quang viên tịch, Phật giáo ở giai đoạn này đã bắt đầu xuống dốc
bởi nhiều lý do:
1. Tăng sĩ đông đảo
phát sinh nhiều quan điểm dị biệt.
2. Người xuất gia tu
đạo không hẳn là người hảo tâm, không hẳn là người vì sự nghiệp giải
thoát, mà trong đó lắm người vì danh lợi, lắm người giới hạnh bị khuyết
tật và trở nên hèn mạt.
3. Các vua chúa sau
Trần Anh Tông không còn có sự hiểu biết và hành trì Phật pháp một cách
sâu xa như các vua chúa trước đó.
4. Các Nho sĩ lợi dụng
một số khuyết tật của một số Tăng sĩ để xuyên tạc Phật giáo trong triều
đình, cũng như ngoài quần chúng.
5. Các Bậc chân tu thì
ẩn cư.
Khi đất nước bước qua
thế kỷ XIV, vào triều đại Hậu Lê, một triều đại có xu hướng học tập,
hướng đến khoa bản, danh vọng, chứ không phải học hỏi để khai phóng tâm
linh.
Lại nữa, tinh thần vô
ngã, vị tha trong đạo Phật không được các nhà trí thức Phật giáo bấy giờ
khai triển triệt để, nhằm phụng sự con người, mà trái lại tinh thần ấy
bị xuyên tạc méo mó bởi các Nho sĩ bấy giờ.
Đất nước từ Hậu Lê đến
Trịnh-Nguyễn phân tranh, và triều Nguyễn thống nhất sơn hà, trị vì cho
đến thời Pháp thuộc, mãi đến khi Vua Bảo Đại bị truất phế, đất nước bị
chia hai vào năm 1954.
Suốt chiều dài năm thế
kỷ của đất nước, Phật giáo Việt Nam cũng thăng trầm trong những nỗi
thăng trầm của lịch sử dân tộc.
Nhưng, điều đáng nói ở
đây, là sự suy đồi của Phật giáo ở giai đoạn này là sự suy đồi về đạo
hành và trí hành, về văn hóa và tư tưởng, chứ không hẳn suy đồi về mặt
tín ngưỡng.
Các Vua Lê cũng như Vua
chúa triều Nguyễn cũng đều sùng mộ Phật giáo, vẫn xây chùa, đúc chuông,
đúc tượng, vẫn mời các Tăng sĩ đến cung đình để cầu mưa, giải hạn.
Chính mùa hạ năm 1434,
Vua Lê Thái Tông sai các quan rước Phật từ chùa Pháp Vân về kinh đô để
làm lễ cầu mưa, và dựng trai đàn chẩn tế ngay ở điện Cần Chánh để tu tạo
công đức. Rằm tháng bảy năm ấy, Vua lại cho tổ chức đại hội Vu Lan, mời
chư Tăng đến cầu nguyện, rồi cúng dường chư Tăng, ân xá năm mươi tù
nhân.
Năm 1448, có nạn hạn
hán, Vua Lê Nhân Tông xuống chiếu cho các quan văn võ phải ăn chay và
giữ gìn trong sạch đến chùa Báo Ân để làm lễ cầu mưa. Vua đích thân lạy
Phật, các Nho thần chẳng ưa chi Phật, nhưng cũng lạy theo. Vua còn sai
Thái úy Lê Khả đến chùa Pháp Vân ở xã Cổ Châu, rước tượng Phật ở chùa
này đem về tôn trí tại chùa Báo Thiên ở kinh thành, rồi thỉnh chư Tăng
đến tụng kinh, sám hối và cầu nguyện. Vua và Hoàng hậu đều đích thân lạy
Phật, đích thân tổ chức trai Tăng cúng dường để cầu nguyện cho mưa thuận
gió hòa.
Vua lại còn xuống chiếu
tự trách mình như sau:
"Từ năm trước đến nay,
tai dị xảy ra luôn, như lũ lụt, hạn hán, sâu bọ không năm nào không có.
Hoặc là chính trị của Trẫm, trên không thuận lòng trời, dưới chưa thỏa
chí dân, mà sinh ra thế chăng? Hoặc có đại thần giúp đỡ, không phải là
người giỏi, điều hòa trái phép, xếp đặt sai lễ mà sinh ra chăng?
Nay, các ngươi, trên từ
thần liêu trong ngoài, dưới đến sĩ dân, có người nào vì Trẫm dám nói,
chỉ ra những việc của Trẫm và tể thần hại đến nhân dân chính sự chăng?”.
Mặc dù, Vua xuống chiếu
như vậy, nhưng kẻ trung thực với quốc dân thì ít mà người nịnh hót với
Vua thì nhiều; kẻ trung thành với điều phải thì ít, nhưng những kẻ a
tùng dối trá thì lắm, do đó các Nho sĩ vẫn tìm cách xuyên tạc Phật giáo
đủ điều, đến nỗi đẩy các Tăng sĩ vào chỗ ẩn cư.
Các Ngài đã ẩn cư
thiệt, nhưng không phải vì vậy mà để cho những kẻ Nho sĩ, mặc tình thao
túng triều đình và thao túng nhân dân.
Hai tác phẩm Quán Âm
Thị Kính và Quán Âm Nam Hải đã được phổ biến rộng rải từ triều Lê và ảnh
hưởng sâu rộng về mặt đạo đức tín ngưỡng trong lòng nhân dân, không
những vào buổi đương thời mà ngay cả bây giờ nữa.
Chuyện Quán Âm Thị Kính
ra đời vào lúc nào và do ai sáng tác thì không biết, nhưng nó rất phổ
biến vào đời Lê và chắc chắn nó được hình thành từ những nhà bác học
Phật giáo.
Nội dung của truyện như
sau: "Có một chàng trai xuất gia, tinh tấn tu hành liên tiếp trong chín
kiếp, đến kiếp thứ mười là kiếp cuối cùng để thành Phật, chàng thác sinh
làm con gái nhà họ Mãng, huyện Hồ Nam, quận Lũng Tài, thành Đại Bang,
nước Cao Ly.
Nàng tên là Thị Kính,
có tài, có sắc, đầy đủ đức hạnh, lớn lên cha mẹ gã cho chàng Thiện Sĩ họ
Sùng.
Thiện Sĩ lo việc đèn
sách, nàng lo việc nội trợ. Nhân một đêm đọc sách Thiện Sĩ thấy mệt, nằm
ngã lưng xuống ngủ, Thị Kính ngồi may vá một bên, trông thấy sợi râu mọc
ngược bên cạnh cằm của Thiện Sĩ, nàng cầm dao lên định cắt sợi râu,
không ngờ Thiện Sĩ cựa mình tỉnh dậy, tưởng là vợ giết mình, liền la
làng chuyển xóm lên. Thị Kính cố sức giải bày, nhưng Thiện Sĩ không tin,
cuối cùng nàng bị đuổi về nhà cha mẹ.
Sau đó, Thị Kính cải
dạng thành nam xin đi tu, ở một chùa thật xa tên là chùa Vân, với pháp
danh Kỉnh Tâm, dù ăn mặc nâu sòng đơn giản, nhưng chú tiểu Kỉnh Tâm rất
đẹp lạ thường.
Thị Mầu - con gái của
Ông Phú hộ trong làng thường đến chùa và đem lòng thương yêu trộm, rồi
tìm đủ mọi cách quyến rũ, nhưng chú Kỉnh Tâm một mặt khước từ.
Thị Mầu đã tìm cách có
thai với tên đầy tớ trong nhà, sau đó hô hoán là có thai với chú Kỉnh
Tâm, niềm oan đó chú Kỉnh Tâm phải gánh chịu mọi sự bôi bác, phỉ nhổ,
mọi hình phạt cay đắng của dân làng.
Chùa phải cho chú Kỉnh
Tâm ở ngoài cổng Tam Quan, Thị Mầu sau khi sinh con đã đem con đến cổng
chùa giao cho chú Kỉnh Tâm, Kỉnh Tâm phải đi xin sữa để nuôi cậu bé mỗi
ngày, và mỗi ngày chú đều bị dân làng mắng nhiếc thậm tệ, cứ như vậy mỗi
ngày qua, chú Kỉnh Tâm nuôi dưỡng chú bé lớn khôn.
Sau đó, chú Kỉnh Tâm
sức khỏe yếu dần, biết mình không còn sống được bao lâu nữa, nên đã viết
bức thư để lại dặn cậu bé rằng, sau khi ta chết thì trao bức thư này cho
vị trú trì.
Đến khi chú Kỉnh Tâm
chết, mọi người mới vỡ lẽ ra Kỉnh Tâm là gái giả trai để tu hành.
Trong lúc chùa và dân
chúng lập đàn làm chay cầu siêu độ cho chú Kỉnh Tâm, thì Phật Thiên Tôn
hiện ra trên mây ngũ sắc, truyền cho Kỉnh Tâm thành Phật hiệu là Quán
Âm.
Khi thành Phật Quán Âm,
Ngài đã cứu độ cả cha mẹ, người tình cũ, con thơ và cả hằng hà sa chúng
sanh khác".
Qua cốt truyện của Quan
Âm Thị Kinh, một tác phẩm Phật giáo rất phổ biến ở triều Lê chúng ta
thấy gì?
Hẳn nhiên, tùy theo góc
độ mà mọi người đứng nhìn để phát hiện vấn đề theo cách thấy của mình.
Nhưng, ở đây chúng tôi
đứng từ tinh thần Bồ tát giới, tu tập Bồ tát đạo để nhìn, thì cốt truyện
có những tinh thần như sau:
1. Nêu cao tinh thần
nhẫn nhục độ trong Bồ tát đạo.
2. Tinh thần tu tập là
phải ở trong nghịch cảnh, ở trong sự bạc bẻo khó khăn. Nói cách khác, sự
thành tựu đạo quả là sự thành tựu ở ngay nơi mảnh đất sinh tử đầy ngang
trái và khổ đau này.
3. Đạo Phật không hèn
yếu như một số Nho sĩ xuyên tạc và hiểu lầm, đạo Phật đủ khả năng để
chịu đựng mọi ngang trái, mọi bạc đãi đối với mình, đạo Phật còn trung
hiếu hơn cái trung hiếu mà Nho sĩ đang đề cao cho triều đình trong sách
lược trị dân.
4. Tinh thần trung hiếu
trong đạo Phật rất bao la, siêu việt, chứ không phải trung hiếu một cách
tầm thường như các Nho sĩ đã học được từ giáo lý Khổng - Mạnh là tam
cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức.
Bởi vậy, sau khi nghe
đức Phật Thiên Tôn truyền trao cho Kỉnh Tâm làm Phật, thì Sư cụ ở chùa
Vân liền ngâm:
"Nay bà Thị Kính hóa duyên,
Nam mô Phật, độ vô biên hằng hà.
Hóa thân được cả mẹ cha,
Kìa là bạn cũ, nọ là con thơ.
Thế gian trông thấy sờ sờ".
Nên, tinh thần Quan Âm
Thị Kính là tinh thần thực hành Bồ tát giới, thành tựu Bồ tát đạo của
Phật giáo trong triều Lê đó vậy.
Lại chuyện Quan Âm Nam
Hải, do một vị Tăng đời Nguyên sáng tác, truyền vào Việt Nam khoảng thế
kỷ XIV-XV và đã lưu truyền trong dân gian rất phổ biến suốt triều
Nguyễn.
Nội dung cốt truyện
Quan Âm Nam Hải như sau:
"Vua Diệu Trang ở nước
Hưng Lâm sinh ba công chúa, công chúa thứ nhất là Diệu Thanh, công chúa
thứ hai là Diệu Âm và công chúa thứ ba là Diệu Thiện.
Hai công chúa chị vâng
lệnh vua cha đi lấy chồng, còn công chúa thứ ba là Diệu Thiện chỉ muốn
đi tu thôi.
Vua cha tức giận bắt
công chúa Diệu Thiện giam ở ngoài vườn, hai chị và hoàng hậu lén vua ra
thăm công chúa và khuyên công chúa nên đi lấy chồng, nhưng nàng có tâm
nguyện dứt quyết đi tu thôi.
Vua cha liền bày mưu
kế, sắp đặt cho công chúa đến tu một chùa lớn, nhưng mật lệnh cho vị trú
trì trong chùa là phải hành hạ công chúa, bắt công chúa làm những việc
nặng nhọc, để công chúa thối tâm tu hành, nhưng công chúa vẫn không nản
lòng, vẫn siêng năng ngày đêm, ngồi thiền, niệm Phật, lao tác mọi công
việc.
Nhiều tuần lễ trôi qua,
thấy Diệu Thiện không bỏ chùa, vua nghi là vị trú trì không tuân theo
lệnh mình để đày đọa công chúa, nên đã ra lệnh đốt chùa.
Diệu Thiện biết rằng,
chính vì do sự tu tập của chính mình mà chùa bị đốt, liền cắn ngón tay
ngửa mặt lên trời mà cầu nguyện.
Vua hạ lệnh đem công
chúa ra xử chém, nhưng lưỡi gươm khi đến cổ của Diệu Thiện thì bị gãy
hai. Đột nhiên trời tối sẫm xuống và có một con mãnh hổ nhảy vào mang
Diệu Thiện đi lên núi để Diệu Thiện nằm ở đó rồi bỏ đi.
Diệu Thiện nằm thiêm
thiếp, hồn nàng đi xuống âm phủ, chứng kiến bao nhiêu cảnh tượng khổ đau
rùng rợn của những người đã tạo ác nghiệp khi còn sống.
Trong khi chứng kiến
những cảnh tượng đó, Diệu Thiện rất đau xót. Nàng liền nhất tâm trì chú,
niệm Phật. Do công đức từ bi ấy, cảnh giới địa ngục liền thay đổi. Diêm
Vương ban xá tất cả tội nhân trong mười tám địa ngục.
Hồn Diệu Thiện trở lại
nhân gian nhập vào xác, người tỉnh dậy phân vân chưa biết đi đường nào,
thì Phật Tổ Như Lai hóa thân làm chàng trai tuấn tú, tới gần để thử tâm
công chúa, nhưng Ngài thấy Diệu Thiện tâm nguyện tu hành vững chắc, nên
chỉ đường cho về núi Hương Tích ở Việt Nam, sau nhiều năm tu hành ở núi
này, công chúa đã trở thành Phật Quan Âm tại đây.
Sau này, Vua Diệu Trang
bị bệnh nan y, Vua yết bảng cầu lương y, hứa rằng nếu ai chữa lành bệnh
thì sẽ được trao ngôi. Bấy giờ, không có ai chữa lành, thì Quan Âm là
Diệu Thiện hóa thân làm lương y vào chữa bệnh cho Vua, xem mạch xong,
lương y nói: Bệnh này không thể chữa trị, nếu không xin được một tay và
một mắt của một vị Tiên nữ trên núi Hương Tích và cam quyết rằng, Vua
cho người đến xin thì Tiên nữ chắc sẽ sẵn lòng bố thí.
Vua giữ lương y lại và
cho sứ thần đi qua nước Đại Việt đến núi Hương Tích, xin được một mắt
một tay của Tiên nữ đem về để chữa, nhưng bệnh chỉ thuyên giảm một nữa
thân hình.
Lương y bảo phải xin
nốt một mắt và một tay còn lại của Tiên nữ để làm thuốc chữa lành hoàn
toàn.
Mọi người thấy rằng đi
xin như vậy là quá đáng, nhưng lương y nói rằng, vị Bồ tát xả thân cứu
người nên thế nào lên xin cũng được toại nguyện.
Kết quả là Tiên nữ bố
thí tiếp phần còn lại, đem về chữa Vua khỏi bệnh, Vua định truyền ngôi
cho lương y, nhưng chưa kịp làm lễ thì lương y đi mất.
Sau khi lành bệnh, Vua
đến núi Hương Tích để tạ ơn Tiên nữ.
Hoàng gia trên đường
đến núi Hương Tích, thì tại kinh đô Hương Lâm có cuộc đảo chánh. Phật
Quan Âm tức hóa thân Diệu Thiện sai người đem pháp thuật cứu nguy tình
thế, giải cứu Diệu Thanh và Diệu Âm.
Sau đó, Diệu Thanh và
Diệu Âm cùng đi đến núi Hương Tích với phái đoàn hoàng gia. Lúc đó Quán
Âm hiện thân trở lại làm công chúa Diệu Thiện đứng thẳng giữa động, hai
mắt bị móc, hai tay bị cắt, máu chảy ròng ròng, Vua và Hoàng hậu nhận ra
là con gái của mình, Hoàng hậu lăn ra khóc và bất tỉnh.
Tiếp đến, Diệu Thiện
nói: Mình đã móc mắt, cắt tay để cứu cha, nhưng nếu cha mẹ phát nguyện
bỏ ác làm lành, tu hành theo đạo Phật, thì bà sẽ có mắt, có tay nguyên
vẹn trở lại.
Vua và Hoàng hậu phát
nguyện tu tập bỏ ác làm lành theo đạo Phật, lập tức tay và mắt của Ngài
Quan Âm hóa thân Diệu Thiện trở lại như cũ. Lúc ấy cả gia đình đều ở lại
tu tập tại núi Hương Tích.
Sau đó, công chúa Diệu
Thanh được thành tựu hạnh Văn Thù Bồ Tát, cưỡi con voi Sư tử xanh. Công
chúa Diệu Âm trở thành hạnh Phổ Hiền Bồ tát cưỡi con voi trắng”.
Cốt truyện Quan Âm Diệu
Thiện như vậy, được phổ biến sâu rộng, suốt trong triều đại nhà Lê và cả
nhà Nguyễn nữa.
Qua cốt truyện, chúng
ta thấy rằng, tinh thần tu tập cầu đạo quả bồ đề, giáo hóa chúng sanh,
độ song thân và quyến thuộc, hiếu nghĩa trung tín của đạo Phật rất là
siêu việt, rất là rộng lớn, những tinh thần ấy mà có được là chính nhờ
tinh thần Bồ tát giới, thực hành Bồ tát đạo đó vậy.
Như vậy, qua cốt truyện
Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Nam Hải là những truyện mang tinh thần xả
kỷ, nhẫn nhục, trung hiếu, đầy tinh thần từ bi và trí tuệ của Phật giáo
Đại thừa, tức là đạo lấy tinh thần Bồ tát đạo làm nền tảng cho sự tu tập
và hoằng pháp lợi sanh.
Tinh thần tu tập và
hoằng pháp ấy, không những đã được sâu rộng trong quần chúng Việt Nam
lúc bấy giờ tiếp nhận và thực hành, mà ngay cả ngày nay đạo Phật được
phát triển lớn mạnh trên toàn cầu, cũng chính là nhờ tinh thần của những
người Phật tử tại gia cũng như xuất gia thực hành Bồ tát đạo vậy.
Chúng ta có thể nói
rằng, sau khi Phật giáo bị tuột dốc ở cuối đời Trần và bị bài xích bởi
các Nho sĩ triều Lê, nhưng Phật giáo vẫn tiếp tục có mặt, vẫn tiếp tục
tồn tại, dù là sự có mặt của Phật giáo ở thời đại này không như thời đại
Lý-Trần, nhưng tinh thần Bồ tát đạo đã ăn sâu trong tầng lớp quần chúng.
Và nhờ tinh thần Bồ tát đạo ấy, mà bên ngoài đạo Phật in tuồng như suy
vi, nhưng kỳ thực đạo Phật vẫn hưng thịnh trong lòng những ai có tâm
nguyện thực hành Bồ tát đạo.
Vào hậu bán thế kỷ
XVII, Thiền sư Chân Nguyên xuất hiện, nỗ lực tu tập, tham học với Thiền
sư Minh Hương, Ngài đã thọ Bồ tát giới, đốt hai ngón tay, thệ nguyện
thực hành Bồ tát đạo, Ngài đã nỗ lực gây dựng lại những gì đã bỏ quên
đối với truyền thống Phật giáo Việt Nam trước đó.
Năm 1692, Vua Lê Hy
Tông đã mời Ngài vào cung để tham vấn đạo Phật. Nhà Vua đã phục tài đức
của Ngài và tặng mỹ hiệu là Vô Thượng Công.
Năm 1722, Ngài được Vua
Lê Dụ Tông quý trọng và hiến tặng danh hiệu Tăng Thống.
Năm 1726, vào tiết
tháng mười Ngài ngồi kiết già mà tịch, thọ 80 tuổi, Vua quan đều kính
nể, liền xây dựng hai tháp hiệu là Tịch Quang ở chùa Long Đông và chùa
Quỳnh Lâm để thờ Ngài.
Cùng thời với Ngài Chân
Nguyên có Ngài Minh Châu-Hương Hải, sau những ngày xuất gia tu học và
hoằng pháp, năm 1683, Ngài Hương Hải đến giữ Phật pháp ở Sơn Nam, làm
cho Phật pháp không bị đứt đoạn.
Bấy giờ, ở Đàng Trong,
Chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) đã dựng xây nhiều chùa chiền làm cơ sở tín
ngưỡng cho quần chúng.
Năm 1601, Chúa cho
trùng dựng chùa Thiên Mụ, sau đó Chúa làm lễ Vu Lan, lập trai đàn và làm
lễ bố thí tại đây.
Chúa cho dựng chùa Sùng
Hóa trên nền chùa cổ ở xã Triêm An, huyện Phú Vang.
Năm 1607, Chúa cho lập
chùa Bảo Châu ở Trà Kiệu, Quảng Nam.
Năm 1609, Chúa cho lập
chùa Kính Thiên, ở Thuận Trạch, Quảng Bình...
Trong thế kỷ XVII, ở
Đàng Trong, đã có mặt các Tăng sĩ như:
- Ngài Viên Cảnh và
Viên Khoan ở Quảng Trị.
- Ngài Minh Hoằng-Tử
Dung khai sơn chùa Ấn Tôn, tức chùa Từ Đàm-Huế ngày nay.
- Ngài Giác Phong khai
sơn chùa Thiên Thọ, tức chùa Báo Quốc-Huế ngày nay.
- Ngài Từ Lâm, khai sơn
chùa Từ Lâm-Huế ngày nay.
- Ngài Hưng Liên, chùa
Tam Thai-Quảng Nam.
- Ngài Pháp Hóa, chùa
Thiên ấn -Quảng Ngãi.
- Ngài Tế Viên, khai
sơn chùa Hội Tông- Phú Yên.
- Ngài Nguyên Thiều,
khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định, chùa Quốc Ân và chùa Hà Trung
ở Huế...
Nhờ có mặt của các vị
cao Tăng, mà Phật giáo Đàng Trong ở thế kỷ XVII, XVIII được trổi dậy và
làm cho chánh pháp không bị mai một.
Lại nữa, các Chúa
Nguyễn phần nhiều đều hâm mộ Phật pháp và muốn dùng Phật pháp làm nền
tảng tín ngưỡng cho nhân dân.
Vào năm 1695, Chúa
Nguyễn Phúc Chu đã cho người đến tỉnh Quảng Đông để thỉnh Ngài Thạch
Liêm sang Thuận Hóa dạy đạo, Chúa đã thọ Bồ tát giới với Ngài Thạch
Liêm, có pháp danh là Hưng Long, đạo hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân.
Quốc mẫu, Công chúa và
các anh em trong phủ Chúa đã phát tâm thọ Bồ tát giới với Ngài Thạch
Liêm cả.
Năm 1695, giới đàn được
tổ chức tại chùa Thiền Lâm vào ngày mồng 8 đến ngày 12 tháng 04. Trong
giới đàn này có đến ba ngàn giới tử vừa là xuất gia vừa là tại gia.
Giới tử xuất gia thọ Sa
di và Tỷ khưu giới lên đến 1400 vị, Ngài Liễu Quán đã thọ Sa di trong
giới đàn này. Và ngày mồng chín tháng 04 là ngày trao truyền Bồ tát giới
cho các vị Tỷ khưu.
Có lần Ngài Thạch Liêm
đã giảng hai chữ "trai giới" cho Chúa Nguyễn Phúc Chu nghe như sau:
"Trai giới không phải
là chỉ để cho sạch miệng, sạch mình và sạch tư tưởng thôi đâu. Vua mà
thọ trì trai giới là làm cho quốc gia từ trên xuống dưới đều được thanh
lý chỉnh tề, không một người nào không ngồi đúng chỗ, không một việc nào
không giải quyết thỏa đáng. Làm được như vậy mới là sự hành trì trai
giới viên mãn của một ông Vua".
Sau đó Chúa được Ngài
Thạch Liêm đề nghị thực hiện trai giới bằng cách:
"Trả tự do cho những
người bị giam cầm oan ức, phóng thích bớt những tù nhân bị giam cầm
trong ngục thất, chẩn cấp cho những kẻ đói nghèo, tháo gỡ cho những kẻ
bị đè nén ép uổng, bãi bỏ bớt những điều lệ quá nghiêm khắc, dễ dãi cho
những người buôn thúng bán lưng và cho những thợ thuyền".
Ngài còn khuyên Chúa bỏ
Luật "tượng hình", là bắt tội nhân phạm trọng giao cho voi quật đến
chết, những đề nghị này của Ngài Thạch Liêm đều được Chúa nghe lời.
Nhờ vào sự giáo hóa của
Tăng sĩ ở Đàng Trong vào thế kỷ này, cũng như nhờ có đức tin đối với
Phật pháp của các Chúa Nguyễn mà nhất là Chúa Nguyễn Phúc Chu, nên đạo
Phật Đàng Trong có những sắc thái hưng vượng.
Ngài Liễu Quán
(1670-1742), ra đời từ Phú Yên, về đất Thuận Hóa tu tập, thọ Sa di giới
với Ngài Thạch Liêm tại giới đàn Thiền Lâm năm 1695, thọ Tỷ khưu Bồ tát
giới với Ngài Từ Lâm tại chùa Từ Lâm-Huế, tham vấn lý thiền với Ngài
Minh Hoằng-Tử Dung ở chùa Ấn Tôn, rồi chứng ngộ và hoằng pháp, mở bốn
giới đàn để làm bậc Hòa thượng thí giới, nhờ vậy mà mạng mạch Phật pháp
được lưu chảy đến bây giờ trên đất thần kinh Huế.
Đạo hạnh của Ngài rất
được Chúa Nguyễn Phúc Khoát quý trọng, thiền vị của Ngài lại mang hương
vị đậm đà sắc thái dân tộc, do đó mà đã được phát triển mạnh mẽ trong
những thế kỷ qua và hiện nay vẫn còn tiếp tục vậy.
Sau khi thống nhất sơn
hà, các Vua nhà Nguyễn cũng có lòng tín ngưỡng đạo Phật.
Vào năm 1815, Vua Gia
Long ra lệnh tu bổ lại chùa Thiên Mụ.
Năm 1826, Vua Minh Mạng
sắc lệnh xây dựng lại chùa Thánh Duyên ở biển Tư Hiền-Thừa Thiên Huế.
Năm 1830, Vua cấp chứng
đạo độ điệp cho 53 vị cao Tăng cả nước để các Ngài tự do hành đạo.
Năm 1844, phụng hành di
chúc của Vua Minh Mạng. Vua Thiệu Trị xây dựng tháp Từ Nhân, sau đổi là
tháp Phước Duyên ở chùa Thiên Mụ và cũng năm này Vua Thiệu Trị xây dựng
lại chùa Diệu Đế.
Các bậc cao Tăng ở thời
buổi này, như Ngài Mật Hoằng đang hành đạo tại Gia Định, đạo phong rất
nổi tiếng, Vua Gia Long triệu thỉnh về cung năm 1815 để làm trú trì chùa
Quốc Ân và hoằng pháp tại đây.
Năm 1808, Ngài Phổ Tịnh
ở Quảng Nam được bà Hoàng Thái Hậu rước về trú trì chùa Thiên Thọ tức
Báo Quốc ngày nay.
Thiền sư Thanh Đàm đạo
hạnh rất nổi tiếng, lại thêm uyên bác Phật học, trú trì thiền viện
Nguyệt Quang, hoằng hóa Phật pháp ở Ninh Bình và đã chú giải nhiều kinh
điển Đại thừa như Pháp Hoa Đề Cương, Bát Nhã Trực Giải...
Thiền sư An Thiền trú
trì chùa Đại Giác ở Bắc Ninh, tại đây Ngài đã hoằng pháp và sáng tác
nhiều tác phẩm như Phụng Chiếu Cầu Pháp, Bản Quốc Thiền Môn Kinh, Đại
Nam Thiền Học Sơ Khởi...
Thiền sư Nhất Định, trú
trì chùa Thiên Thọ, sau đó trú trì Linh Hựu Quán và chùa Giác Hoàng,
Ngài rất được Vua Chúa và nhân dân kính nể, về sau ưa yên tĩnh, nên Ngài
đã từ bỏ các chức vị trú trì, tìm đến núi Dương Xuân lập thảo am An
Dưỡng, tức là chùa Từ Hiếu ngày nay.
Thiền sư Giác Ngộ, ở xã
Đồng Xuân, huyện Phú Yên, Ngài xuất gia tu tập ở núi Long Sơn, đạo hạnh
của Ngài rất kỳ vĩ, Vua Minh Mạng rất ngưỡng mộ, đã thỉnh Ngài về kinh
đô trú trì chùa Giác Hoàng, sau đó Ngài đã xin rút lui về núi ẩn tu.
Thiền sư Diệu Nghiêm,
hiệu là Pháp Chuyên, trú trì chùa Từ Quang-Núi Đá Trắng ở Phú Yên. Đạo
hạnh của Ngài rất nghiêm mật, thông suốt kinh luận, đã viết và chú giải
nhiều tác phẩm như: Sự Nghĩa Luật Yếu Lược, Sự Nghĩa Quy Nguyên, Kinh
Báo Ân... Ngài đã viết một bài tựa ở sách Đại Học Hoằng Giới, có đoạn
nói về Đại thừa giới như sau:
"Sách Đại Học mới là
đại pháp của chúng sanh có thiện căn phát Bồ đề tâm xuất gia học Phật.
Trong đó có phân ra Đại thừa, Tiểu thừa.
Đại thừa chính là do
đức Phật Lô Xá Na, lúc mới thành tựu Vô Thượng Chánh Giác dưới cây bồ
đề, vì các vị Bồ tát Đại thừa mà truyền tụng mười trọng giới và bốn mươi
tám giới khinh, nên giáo huấn và khiến họ hành trì tam tụ tịnh giới".
Lại nữa, cũng trong
bài tựa này, Ngài có nói: "Người xuất gia đầu tiên phát Bồ đề tâm
là muốn thành Phật, trước hết là cần phải khiêm hạ thân tâm, để phá trừ
tính kiêu mạn nhằm mong cầu gặp được vị Minh sư trì luật để thiết tha
thọ giới”.
Kinh dạy: "Chúng
sanh thọ giới của Phật tức là đi vào địa vị của chư Phật, địa vị đồng
đẳng với Đấng Giác Ngộ mà Ngài đã tiếp tục trao truyền cho hết thảy
chúng sanh.
Do đó, đức Lục Tổ ở
Tào Khê, theo thể Đại thừa đã được truyền tâm ấn của Phật để kế thừa ngũ
Tổ Hoằng Mai, thế mà sau đó Lục Tổ còn phải mong cầu thọ giới.
Vậy, Giới há đâu
phải là nhỏ? Nên Giới gọi là Đại Học..."
Qua bài tựa của sách
Hoằng Giới Đại Học, chúng ta cũng đủ để biết, tinh thần thọ và trì Bồ
tát giới của Ngài Diệu Nghiêm lúc bấy giờ là như thế nào?
Năm 1808, Ngài Viên Ngộ
dựng chùa Lan Nhã và hành đạo tại làng Thanh Ba, tỉnh Gia Định. Ngài
thường phát nguyện thực hành theo hạnh của Bồ Tát Trì Địa, chuyên chặt
gai dọn đường để cho dân chúng qua lại.
Năm 1820, bệnh đậu mùa
phát sinh trong vùng dân chúng bị lây nhiễm mắc bệnh. Ngài nhịn ăn để
trì chú, tụng kinh và cầu nguyện cho đến khi bệnh hết hoành hành, dân
chúng sống bình yên ngài mới ăn trở lại.
Năm 1846, Ngài tuyệt
thực 49 ngày và viên tịch.
Vào những tháng năm đất
nước bị Pháp thuộc, các Vua Thành Thái, Duy Tân... bị nạn, nhân dân gặp
nhiều tai ương, Phật giáo cũng cùng chung số phận.
Tuy nhiên, trong thời
này cũng có nhiều bậc cao Tăng xuất hiện, như ở Huế có Ngài Tuệ Pháp, mở
trường dạy học ở chùa Thiên Hưng, Ngài Tâm Tịnh ở chùa Từ Hiếu, Ngài
Viên Giác ở chùa Ba La Mật, Ngài Viên Thành ở chùa Trà Am..., ở Bình
Định có Ngài Phước Huệ, Ngài Phổ Tế..., ở chợ Lớn có Ngài Từ Phong, ở
Bến Tre có Thiền sư Khánh Hòa, ở Châu Đốc có Ngài Chí Thành, ở Trà Vinh
có Ngài Huệ Quang, Ngài Khánh Anh, ở Gò Vấp có Ngài Tâm Thông, ở Gò Công
có Ngài Huệ Tịnh,…
Ở Bắc có Ngài Thanh
Hanh, Thanh Tường, Thanh Ất, Doãn Hài, Quang Nghiễm... chính các Ngài đã
được nêu danh ở trên là những hạt nhân để chấn hưng Phật giáo sau này.
Từ những hạt nhân ấy
phát sinh ra các bậc cao Tăng ở Trung như: Ngài Giác Nhiên, Giác Nguyên,
Giác Tiên, Tịnh Khiết, Tịnh Hạnh, rồi đến các Ngài Đôn Hậu, Phước Hộ,
Trí Thủ, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Chánh Thống, Thiện Trí, Trí
Nghiêm, Trí Quang, Thiện Minh, Huyền Quang, Thiện Siêu, Thanh Trí, Đức
Tâm, Nhất Hạnh,...
Ở Nam phát sinh những
vị cao Tăng như Ngài Trí Thiền, Hiển Thụy, Hành Trú, Thiện Hoa, Thiện
Hòa, Trí Tịnh, Nhật Liên, Quảng Liên,...
Ở Bắc phát sinh những
Ngài cao Tăng như Ngài Tuệ Tạng, Trí Hải, Tâm ứng, Tâm Bảo, Tố Liên,
Thanh Hoán, Thanh Hậu, Giải Ngạn, Tuệ Chiếu, Đức Nhuận, Quảng Độ, Tâm
Châu, Thanh Kiểm,...
Đối với những hàng cư
sĩ tận tâm hộ đạo ở những thời điểm chấn hưng Phật giáo thời này có
nhiều vị ở Bắc như: Lệ Thần-Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Vĩnh,
Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Thiều Chửu, Đỗ Nam Tử, Nguyễn Trọng
Thuật, Nguyễn Hữu Tiến,...
Ở miền Trung có cư sĩ
Tâm Minh-Lê Đình Thám, Ưng Bàng, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Khoa Tân, Viễn
Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Ưng Bình, Bửu Bác, Trần Đăng Khoa, Lê Thanh Cảnh,
Lê Thanh Khiết, Trương Xướng, Tôn Thất Tùng, Tôn Thất Hàng,...
Ở miền Nam có các vị
như: Phạm Ngọc Vĩnh, Huỳnh Văn Quyền, Trần Nguyên Chấn, Trần Văn Khuê,
Nguyễn Văn Nhơn, Lê Văn Phổ, Nguyễn Gia Cần, Nguyễn Văn Khỏe, Chánh
Trí-Mai Thọ Truyền,...
Tiếp nối dòng máu chánh
pháp của bao thế hệ đi trước, phong trào chấn hưng Phật giáo tiền bán
thế kỷ XX ra đời dưới sự lãnh đạo của các Bậc cao Tăng và sự tận tình hộ
đạo của các hàng cư sĩ đương thời, Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học ra đời
năm 1931, do Ngài Khánh Hòa đề xướng và Ngài Từ Phong làm Chánh hội
trưởng. Tiếp theo là Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ra đời và có giấy phép ký
ngày 13/08/1934, do Ngài An Lạc chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho làm Chánh hội
trưởng.
Năm 1937, Hội Phật Học
Kiêm Tế ra đời, đặt trụ sở tại chùa Tam Bảo ở Rạch Giá do Ngài Trí Thiền
làm Chánh tổng lý.
Năm 1932, Hội An Nam
Phật Học ra đời, do Ngài Giác Tiên khởi xướng, và cư sĩ Tâm Minh-Lê Đình
Thám làm Chánh hội trưởng đầu tiên.
Năm 1934, Bắc Kỳ Phật
Giáo Hội thành lập, do Ngài Trí Hải, Tâm Ưng, Tâm Bảo khởi xướng và bầu
Nguyễn Năng Quốc làm Chánh hội trưởng đầu tiên.
Bấy giờ bên cạnh các
Hội Phật Học còn có ba Giáo Hội Tăng Già Trung-Nam-Bắc làm những Bậc Đạo
Sư chứng minh và hướng dẫn sự tu tập và hoằng pháp của các Hội.
Đến ngày 06/05/1951,
các vị đại biểu của sáu tập đoàn Phật giáo Trung-Nam-Bắc đã cùng nhau
quần tụ về chùa Từ Đàm-Huế để hội nghị, đưa Phật giáo Thống nhất ba miền
với danh hiệu là Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam.
Trong Đại hội, bản
tuyên ngôn được công bố, mang tinh thần Bồ tát giới, thực hành Bồ tát
đạo như sau:
"Bánh xe chánh pháp
xoay vần trên khắp quốc độ Việt Nam đến nay đã gần 20 thế kỷ. Nhân tâm,
phong tục, văn hóa, chính trị trong nước đều đã ảnh hưởng sâu xa của
Phật giáo. Tăng đồ và thiện tín từ Bắc vào Nam, một lòng quy ngưỡng Đức
Điều Ngự Thích Ca Mâu Ni, sống trong tinh thần Từ-Bi-Hỷ-Xả và luôn lo
toan xây dựng hòa bình.
Nhưng sự đời không
hòa hợp với lòng mong mỏi, hoàn cảnh trước đây, chia ranh giới ba phần,
nên Phật sự cũng phải tùy duyên, mặc dù Phật pháp là bất biến, sự tướng
mỗi phần mỗi khác, làm cho mắt bàng quan xem như có phần chia rẽ.
Nay, cơ duyên thuận
tiện, Phật Giáo Việt Nam phải được thống nhất. Hơn nữa, họa chiến tranh
đang gieo rắc khắp nơi, nhân loại đang lâm vào cảnh lầm than phiền não.
Chính là lúc Đạo Từ Bi và Vô Thượng phải đem nước Cam Lồ mà rưới tắt lửa
sân si để xây dựng cảnh hòa bình cho nhân loại".
Mặc dù, Phật giáo đã
thống nhất với sáu tập đoàn vào năm 1951, nhưng không phải vì vậy, mà có
sự êm xuôi để hoằng pháp, vẫn còn có những khả năng và những mâu thuẫn
nội tại đến ngoại tại, nên cũng năm 1951 này, Giáo Hội Phật Giáo Tăng
Già Toàn Quốc ra đời, suy cử Ngài Tuệ Tạng làm Thượng Thủ.
Đạo dụ số 10 của chính
quyền bảo hộ soạn ra ép buộc Quốc trưởng Bảo Đại ký năm 1950, đặt ra các
tổ chức tôn giáo là một hiệp hội thông thường, ngoại trừ tổ chức Thiên
Chúa Giáo là vượt lên trên thể chế Hiệp Hội.
Mọi vận động đưa đến
Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam vô cùng khó khăn, khó khăn từ phía nội bộ,
vì có những Tăng sĩ tuy tu tập nhưng mang đầy ngã tính và ngã sở, lại
khó khăn bên ngoài là các thế lực chính trị lợi dụng tôn giáo để phục vụ
cho mưu đồ đảng phái và cũng tìm cách phân hóa nội bộ Phật giáo thành
từng nhóm như Thuyền Lữ, Cổ Sơn Môn, Lục Hòa Tăng,... để thống trị.
Năm 1963, lệnh triệt hạ
cờ Phật giáo của chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm và đã bắn chết các
Phật tử tại Đài Phát Thanh-Huế, và từ đó làm phát khởi phong trào đấu
tranh đòi hỏi bình đẳng tôn giáo và yêu cầu chính quyền của Tổng Thống
Ngô Đình Diệm đáp ứng năm nguyện vọng của Phật giáo đồ như sau:
1. Yêu cầu chính phủ
Việt Nam Cộng Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt hạ Giáo kỳ Phật
giáo.
2. Yêu cầu Phật giáo
phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các Hội truyền giáo Thiên Chúa
giáo đã được ghi trong Đạo dụ số 10.
3. Yêu cầu chính phủ
chấm dứt tình trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ Phật giáo.
4. Yêu cầu cho Tăng Ni
Phật giáo được tự do truyền đạo và hành đạo.
5. Yêu cầu chính phủ
đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ chết oan vô tội và kẻ chủ mưu
giết hại phải đền tội xứng đáng.
Năm nguyện vọng Phật
Giáo Việt Nam đòi hỏi, chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm không
đáp ứng, lại còn đán áp Phật giáo một cách mãnh liệt, khiến xu thế thời
đại phải dẫn đến cuộc cách mạng ngày 01/11/1963, chính quyền của Tổng
thống cai trị miền Nam cáo chung.
Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất ra đời, sau bốn ngày đại hội kể từ ngày 31/12/1963 đến
ngày 04/01/1964, với một bản Hiến Chương bao gồm hai Viện: Viện Tăng
Thống và Viện Hóa Đạo.
Viện Tăng Thống do Ngài
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Tăng Thống, Viện Hóa Đạo do Ngài Hòa
thượng Thích Tâm Châu làm Viện Trưởng, văn phòng của hai Viện đầu tiên
đều đặt trụ sở tại chùa Ấn Quang - Chợ Lớn - Sài Gòn.
Lời mở đầu của bản Hiến
Chương có nội dung như sau:
"Công bố lý tưởng
hòa bình của giáo lý đức Phật, hai tông phái Phật giáo (Bắc tông và Nam
tông) tại Việt Nam, thực hiện nguyện vọng thống nhất thật sự hoài bão từ
lâu để phục vụ nhân loại và dân tộc. Đó là lập trường thuần nhất của
GHPGVNTN.
GHPGVNTN không đặt
sự tồn vong của mình nơi nguyên vị cá biệt mà đặt sự tồn tại ấy trong sự
tồn tại của nhân loại và dân tộc.
Quan niệm thống nhất
Phật Giáo Việt Nam được thể hiện theo chủ trương điều hợp, nghĩa là giáo
lý, giáo luật và nếp sống của hai tông phái cũng như hai giới Tăng sĩ và
cư sĩ chẳng những được tôn trọng mà còn phải nỗ lực phát triển trong sự
kết hợp có chỉ đạo.
Chính đó là sắc thái
đặc biệt của nền Phật Giáo Thống Nhất tại Việt Nam".
GHPGVNTN là kế thừa kết
quả của một quá trình tu tập và hành đạo, trên bản nguyện thượng cầu, hạ
hóa của lịch Đại Tổ Sư Việt Nam.
Nếu hàng Tăng sĩ và cư
sĩ Phật giáo không có tâm nguyện tu tập và hoằng pháp lợi sinh, dựa trên
nền tảng Bồ đề tâm, thì ngày nay không những không có đạo Phật trên đất
nước Việt Nam đã đành, mà nền văn hóa và tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam
không biết sẽ như thế nào, nhưng chắc chắn rằng, không như ngày nay,
nghĩa là không có một niềm tự hào gì xứng đáng cho nền văn hóa và tôn
giáo dân tộc.
Mặc dù, lịch Đại Tổ Sư
đã kế tục nhau truyền trao chánh pháp qua bao thời đại thăng trầm của
lịch sử và các vị cư sĩ đã có công tâm tận tình hộ đạo không kể cả gian
nguy, nếu không phát khởi đại nguyện, không kiên tâm trì chí, không khéo
vận dụng và ứng xử thì ngày nay Phật giáo Việt Nam, có còn chăng chỉ là
một món đồ cổ để trang hoàng ở bảo tàng viện cho khách tham quan.
Thế mới biết, trải qua
bao sự thăng trầm, đạo Phật vẫn còn đó, vẫn hiển lộ ra đó, với bất cứ ai
có tâm nguyện rộng lớn, lấy Bồ đề tâm làm bản chất, lấy Bồ tát giới làm
bản nguyện hoằng pháp độ sinh, thì dù ma quân có tàn hoại Đạo Pháp đi
nữa, nhưng Đạo Pháp vẫn sáng ngời, không hề bị tổn hại một sợi lông.
Trái lại, người tu tập
và hộ đạo mà không dựa trên Bồ đề tâm, thọ trì Bồ tát giới, thực hành Bồ
tát đạo, đã không như vậy mà lại còn mang đầy ngã tính và ngã tướng, thì
dù cho Thiên thần có ủng hộ, thì Đạo Pháp vẫn đắm chìm như mặt nhật rơi
xuống rừng sâu.
Viết đến đây, lòng tôi
nghẹn ngào, xúc động vô cùng quý kính các bậc cao Tăng và Phật tử quá
khứ đã dày công xây dựng đạo, đời và vô cùng thương tưởng đến thế hệ
tương lai, đồng thời làm lời sách tấn cho chính bản thân mình đang hành
đạo trong thời buổi hiện tại.
Nhân loại hiện tại và
tương lai muốn sống trong tinh thần hòa bình, cộng tác và hiểu biết, thì
các nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới, không những chỉ xem đạo Phật
như là một phần tín ngưỡng trong cuộc sống của nhân loại, mà phải hiểu
biết thêm rằng, giềng mối cho sự ổn định thế giới, bảo vệ công bằng lẽ
phải cho xã hội, yêu mến loài người, loài vật và thiên nhiên lại là
những điều then chốt về Đức hành và Trí hành của Phật giáo, mà tiêu biểu
nhất là tinh thần thọ trì Bồ tát giới.
"Nếu một vị quốc chủ
thọ trì Bồ tát giới, thì chỉ cần một giọt mực nơi ngọn bút của họ rơi
xuống trên mảnh giấy, cũng đủ sức làm cho ngọn sóng triều nhân ái trào
dâng làm tươi nhuận cả sơn hà đại địa.
Giọt mực ấy, chẳng
khác nào giọt nước cam lồ đầu cành dương liễu của Bồ Tát Quán Thế Âm,
rảy xuống trần gian làm cho vạn cây khô hồi sinh trở lại thành sức sống
của mùa xuân và chuyển hóa cõi uế độ trở thành tịnh độ".
Bất cứ lúc nào và ở
đâu, có những vị thọ trì, thực hành Bồ tát giới, thì ở đó có đạo Phật
thật sự, ở đó có tinh thần hòa bình và an lạc, ở đó có tinh thần vị tha,
vô ngã, ở đó đang và sẽ có cõi Tịnh Độ vậy.
T.T.H.
|