TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC
SỐ 20 - PL.2550 - XUÂN ĐINH
HỢI [MỤC LỤC]
BỒ TÁT THƯỜNG BẤT KHINH
Chuyển vận Pháp hoa xuyên suốt mọi thời
đại
Thích Thái
Hòa
I. Ý NGHĨA VÀ DUYÊN KHỞI:
Phẩm này tiếng Phạn Sadāparibhūta. Sadā
là thường, mọi lúc, mọi thời gian; Paribhūta là không khinh
thường. Sadāparibhūta: mọi lúc đều không khinh thường, lúc nào
cũng kính trọng. Ngài La Thập và Xà Na Quật Đa đều dịch là Bồ Tát Thường
Bất Khinh,
Pháp Hộ dịch là Thường bị khinh mạn.
Burton Watson dịch là The bodhisattva never disparaging
(Vị Bồ Tát không bao giờ xem thường).
Bồ Tát Thường Bất Khinh là tiền thân của Phật Thích
Ca Mâu Ni, đã từng thọ Tỷ khưu Bồ tát giới vào thời đại tượng pháp của
Đức Phật Oai Âm Vương cách đây trải qua vô số, vô lượng vô biên kiếp.
Phẩm này nói rõ tình trạng suy thoái về mặt tuệ
giác và giới hạnh của giới Phật Giáo lúc bấy giờ, nhưng lại rất cường
thạnh về mặt thế lực của các giới Phật Giáo trong xã hội vào thời ấy.
Và nêu rõ hình ảnh nổi bật của vị Tỷ khưu Bồ Tát
Thường Bất Khinh trong thời đại ấy, qua bốn mặt gồm Tín, Trí, Hạnh và
Quả.
- Đối với Tín: Vị Bồ Tát này có niềm tin tưởng một
cách sâu xa và vững chãi rằng: “Chính mình và hết thảy chúng sanh đều có
Phật tính và đều có khả năng thành Phật”.
- Đối với Trí: Vị Bồ Tát này biết một cách như thật
rằng: “Phật tính nơi bản thân mình và hết thảy chúng sanh đều có sẵn và
không hề sinh diệt”.
- Đối với Hạnh: Do có niềm tin và trí tuệ như vậy,
nên vị Bồ Tát này mới khởi lên hạnh nguyện rằng, dù bất cứ lúc nào, bất
cứ ở đâu và bất cứ gặp ai, cũng đều lễ bái, ca ngợi và nói như sau: "我 深
敬 汝 等 ,不 敢 輕 慢 ,所 以 者 何,汝 等 皆 行 菩 薩 道 ,當 得作 佛 = Ngã thâm kính nhữ đẳng,
bất cảm khinh mạn, sở dĩ giả hà, nhữ đẳng giai hành Bồ tát đạo, đương
đắc tác Phật".
Nghĩa là: “Tôi kính trọng quý vị một cách sâu xa, không dám khinh
thường, tại sao, vì quý vị là những người đang hành Bồ tát đạo, sẽ được
làm Phật”.
- Đối với Quả: Do Tín, trí và hạnh đối với kinh
Pháp Hoa hay giáo lý Nhất Thừa như vậy, nên sau khi đời sống kết thúc,
Bồ Tát Thường Bất Khinh, đã gặp được và trải qua hai ngàn ức đức Phật
cùng một danh hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, sống ở trong giáo lý của các
Đức Phật này, để hoằng truyền kinh Pháp Hoa. Và rồi Ngài cũng gặp hai
ngàn ức đức Phật hiệu Vân Tự Tại Đăng Vương, và cũng sống trong giáo
pháp của các Ngài này để hoằng truyền kinh Pháp Hoa và tiếp tục gặp ngàn
vạn ức Đức Phật nữa và ở trong giáo pháp của các Ngài này, mà hoằng
truyền kinh Pháp Hoa, cho đến khi công đức hoàn thành và chứng đắc quả
vị Tuệ giác vô thượng.
Do đó, phẩm này gọi Thường Bất Khinh là một vị Bồ
Tát đã đạt tới niềm tin vững chãi đối với Pháp Hoa, đã đạt tới sự hiểu
biết vững chãi đối với Pháp Hoa, đã đạt tới hạnh nguyện vững chãi đối
với Pháp Hoa và đã đạt tới tuệ giác Pháp Hoa hoàn toàn, đó là Phật quả,
do niềm tin, tuệ giác và thực hành Pháp Hoa của Ngài đem lại. Nên, chính
Bồ Tát Thường Bất Khinh thuở ấy, nay là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Phẩm này, nói rõ hạnh của Pháp Hoa là hạnh nhẫn
nhục, trong đó có nội dung của trí tuệ và từ bi và cũng nói rõ công đức
tối thượng do hạnh ấy đem lại.
Duyên khởi của phẩm này là Đức Phật gọi Bồ Tát Đại
Thế Chí mà nói.
Lại nữa, ở phẩm này, Đức Phật Thích Ca lại xác
chứng cho đại hội Pháp Hoa rằng, Ngài đã hành hạnh Pháp Hoa và đã thành
Phật lâu lắm rồi. Sự xác chứng như vậy, nhằm để hoằng truyền thêm những
gì mà Ngài đã nói cho Đại chúng ở trong phẩm Như Lai thọ lượng.
II. NỘI DUNG CHỦ YẾU
Đi sâu vào nội dung của phẩm này, ta thấy có những
điểm chủ yếu như sau:
1. Người tu tập chệch hướng:
Tóm tắt ý kinh như sau:
“Đức Phật dạy cách đây trải qua vô lượng, vô biên,
vô số kiếp, không thể nghĩ bàn, có hai vạn ức Đức Phật tuần tự xuất
hiện, các Ngài đều đồng một hiệu là Oai Âm Vương Như Lai.
Đức Oai Âm Vương Như Lai đầu tiên, sau khi diệt độ,
chánh pháp của Ngài ở vào thời kỳ tượng pháp, những Tỷ khưu chưa tu cho
rằng, mình đã tu, chưa thực sự chứng ngộ, tự cho rằng, mình đã chứng
ngộ, những Tỷ khưu ấy có thế lực rất lớn, và chính ngay thời đại đó, lại
có Tỷ khưu - Bồ Tát Thường Bất Khinh xuất hiện”.
Đọc đoạn kinh này, ta cảm thấy rùng mình, vì ở vào
thời đại tượng pháp của đức Phật Oai Âm Vương, các tăng sĩ không tu mà
tự cho mình là có tu, những tăng sĩ thực sự không có nội dung chứng ngộ
mà tự cho mình là chứng ngộ, những hàng tăng sĩ như vậy, lại là người có
thế lực rất lớn, đối với trong đạo và cả ngoài đời. Ở trong đạo, họ là
những người nắm cương lĩnh và ở ngoài đời, họ được các nhà quyền lực tin
tưởng, ủng hộ, giao trách nhiệm, và được quần chúng ùa theo!
Nhưng, đối với Phật đạo, họ đã đi chệch hướng, sự
chệch hướng của tăng sĩ và xã hội thời ấy, cũng có thể đã và đang diễn
ra ngay trong thời đại của chúng ta.
Vậy, chúng ta phải học hạnh của Bồ Tát Thường Bất
Khinh để chuyển vận Pháp Hoa vào thời đại của chính mình.
2. Điều chỉnh hướng đi:
Tóm tắt ý kinh như sau:
“Đức Phật nói: Này Đại Thế Chí, vì nhân duyên gì mà
gọi vị ấy là Thường Bất Khinh? Vì vị ấy hễ gặp bất cứ ai đều lễ bái, ca
ngợi và nói rằng: ‘Tôi kính trọng quý vị hết sức sâu xa, tôi không dám
xem thường quý vị. Vì sao? Vì quý vị đang đi trên con đường của Bồ Tát,
chắc chắn quý vị sẽ làm Phật’.”
Khi lễ bái và nói như vậy, dù bị mắng, chửi, mạ lỵ
là đồ vô trí, ông từ đâu đến mà dám nói như vậy, nhưng Ngài vẫn không
khởi tâm sân hận, mà vẫn cứ nói một cách cung kính rằng, quý vị sẽ thành
Phật.
Có kẻ lấy roi mà đánh, lấy đá mà ném, nhưng Ngài
vẫn đứng tránh xa và vẫn cứ lớn tiếng nói rằng: “Tôi không dám khinh
thường quý vị, quý vị đều là Phật sẽ thành”.
Do bất cứ ở đâu, lúc nào và gặp ai, Ngài cũng nói
như vậy, nên những giới chưa tu học tự cho rằng, mình đã tu học, chưa có
nội dung chứng ngộ đã tự cho mình là chứng ngộ và gọi Ngài là Thường Bất
Khinh”.
Thấy người tu đi chệch hướng Phật đạo, người thấy
ấy phải là người có niềm tin lớn, có sự hiểu biết lớn, có sự thương yêu
lớn, và có sức mạnh của sự chuyển hóa và của sự điều chỉnh lớn.
Vai trò của Bồ Tát Thường Bất Khinh xuất hiện ở
trong thời đại này là vai trò điều chỉnh lại hướng đi cho những người
tin Phật và tu Phật đúng hướng Phật đạo.
Nếu tin Phật sai và tu sai Phật, chính bản thân họ
đã là một thiệt hại lớn mà còn gây thiệt hại cho xã hội.
Muốn hoàn thành vai trò đánh thức Phật tính nơi mọi
người dậy, mở sợi dây tà kiến và danh lợi đang trói chặt và che khuất
Phật tính nơi mọi người, việc làm ấy không chỉ có trí tuệ và tình thương
mà còn phải có sức mạnh của nhẫn nhục, sức mạnh của tinh cần. Nên, Bồ
Tát Thường Bất Khinh xuất hiện trong thời đại ấy, bên trong, Ngài có sức
mạnh của trí tuệ và tình thương, bên ngoài, Ngài lại có sức mạnh của
nhẫn nhục và tinh cần.
Do đó, đoạn kinh này, chủ ý là nói về hạnh môn của
Bồ Tát Thường Bất Khinh. Hạnh môn ấy, vừa là rèn luyện ý chí để đạt được
mục tiêu tu tập của mình và vừa là điều chỉnh hướng đi đúng với Phật đạo
cho mọi người bằng Pháp Hoa.
3. Tiếp nhận năng lượng tuệ giác:
Tóm tắt ý kinh như sau:
“Lúc sắp lâm chung, Tỷ khưu-Bồ Tát Thường Bất
Khinh, nghe Đức Phật Oai Âm Vương từ hư không nói lại kinh Pháp Hoa với
hai mươi ngàn vạn ức bài kệ mà chính Tỷ Khưu-Bồ Tát Thường Bất Khinh đã
từng có khả năng tiếp nhận và hành trì.
Ngay đó, Bồ Tát được sáu căn thanh tịnh và thọ mạng
của Ngài lại tăng lên hai trăm vạn ức vô số năm tuổi, Ngài diễn giảng
kinh Pháp Hoa một cách rộng rãi cho mọi người.
Bấy giờ, những người chưa tu học mà tự cho là đã tu
học, chưa chứng ngộ mà đã tự cho là đã chứng ngộ, khinh khi Ngài, nên
gọi Ngài là Thường Bất Khinh, thấy Ngài đạt được sức mạnh thần thông vĩ
đại, đạt được sức mạnh biện tài, đạt được sức mạnh yên lặng vĩ đại, nên
khi nghe được Ngài thuyết giảng, họ đều tín phục và đi theo.
Ngài lại giáo hóa cho họ, khiến tất cả đều an trú
vững chãi trong Tuệ giác vô thượng”.
Đoạn này, kinh nói rõ, Ngài Thường Bất Khinh lại
được Đức Phật Oai Âm Vương trao truyền thêm năng lượng tuệ giác của Pháp
Hoa. Do đó, Ngài thành tựu ngay các phước báo đặc biệt như:
1. Thành tựu sáu căn thanh tịnh.
2. Thành tựu thọ mạng thanh tịnh.
3. Thành tựu thần thông vĩ đại thanh tịnh.
4. Thành tựu sức mạnh biện tài thanh tịnh.
5. Quan trọng hơn hết, Ngài không những đã thành
tựu về mặt tự giác mà còn thành tựu hết sức lớn lao về mặt giác tha,
khiến mọi người bỏ đời sống tà kiến và tà mạng quay về với chánh kiến,
chánh mạng, tức là quay về với đời sống Pháp Hoa.
Như vậy, phần này ta thấy, Bồ Tát Thường Bất Khinh
đã xuất hiện trong thời đại của Ngài bằng tình thương và tuệ giác Pháp
Hoa, bằng sức mạnh kiên trì và nhẫn nhục, Ngài đã thành tựu trên bước
đường chuyển hóa và đã điều chỉnh được hướng đi đúng với tinh thần Phật
đạo trong thời đại của Ngài.
Sự thành công ấy là do đức tin, tuệ giác và hành
động Pháp Hoa ở nơi chính Ngài.
Với đức tin Pháp Hoa, Ngài tin tưởng vững chắc
rằng, chính mình có Phật tính và hết thảy chúng sanh cũng đều có Phật
tính.
Với tuệ giác Pháp Hoa, Ngài biết chắc chắn rằng, tự
thân có Phật tính và hết thảy chúng sinh cũng đều có Phật tính, Phật
tính giữa mình và người đều bình đẳng.
Với hành động Pháp Hoa, Ngài biết mình có Phật
tính, nên mình kiên trì, nhẫn nại để thọ trì, đọc, tụng, diễn giảng,
biên chép kinh Pháp Hoa, thì một ngày nào đó, hội đủ nhân duyên, Phật
tính trong mình sẽ trỗi dậy và sẽ đản sinh, và Ngài cũng đã nỗ lực chủ
động để tạo cơ duyên cho Phật tính nơi chúng sanh trỗi dậy và đản sinh.
Do có ba mặt này, Bồ Tát Thường Bất Khinh đã thành
công trên con đường chuyển hóa Pháp Hoa vào thời đại của Ngài, đó là
thời đại mà những người không tu học, tự cho là mình đã tu học, những
người không có căn bản và nội dung của sự thực nghiệm và chứng ngộ, mà
tự cho mình đã thực nghiệm và đã có nội dung chứng ngộ.
Và, cũng bằng đức tin Pháp Hoa "Chân lý thì không
bao giờ bị huỷ diệt", và tuệ giác mỗi khi đã thể nhập hoàn toàn với chân
lý, thì tuệ giác ấy và chân lý là bất nhị. Nghĩa là chân lý ở đâu, thì
tuệ giác ở đó, tuệ giác ở đâu, thì chân lý ở đó. Chân lý có mặt cùng
khắp, nên tuệ giác chứng ngộ cũng có mặt cùng khắp, do đó dù Phật Oai Âm
Vương đã diệt độ lâu rồi, đó chỉ là ứng hóa thân, còn tuệ thân là thân
thể của năng lượng tuệ giác, vẫn trường tồn bất diệt, vẫn có mặt cùng
khắp và với niềm tin vững chãi của Pháp Hoa, với tình thương và tuệ giác
Pháp Hoa và sự kiên trì chuyển vận tinh thần Pháp Hoa vào thời đại của
Ngài, khiến cho Bồ Tát Thường Bất Khinh đã thiệp nhập được năng lượng
tuệ giác Pháp Hoa của Phật Oai Âm Vương, mặc dù hóa thân của Phật Oai Âm
Vương đã diệt độ trải qua vô lượng, vô số, vô biên kiếp.
Tóm lại, chân lý thì ở đâu và lúc nào mà không có,
không những có mà còn có một cách nhiệm mầu và toàn vẹn, nhưng ta có
tiếp xúc được hay không là tùy theo mức độ đức tin và sự thực tập Pháp
Hoa của ta.
Nên, từ hư không, Đức Phật Oai Âm Vương, nói kinh
Pháp Hoa cho Bồ Tát Thường Bất Khinh, khi Ngài sắp lâm chung, không phải
là chuyện huyền thoại mà là một sự thật, một sự thật của hai năng lượng
tuệ giác bất khả hoại, tiếp cận và bổ sung cho nhau, qua đức tin rộng
lớn để điều chỉnh hướng đi và tiếp tục bản nguyện chuyển vận Pháp Hoa
vào mọi thời đại.
4. Đèn tuệ trao nhau:
Tóm tắt ý kinh như sau:
“Sau khi thọ mạng kết thúc, Bồ Tát Thường Bất Khinh
được gặp hai ngàn ức Đức Phật, các Ngài đều cùng một hiệu Nhật Nguyệt
Đăng Minh, Bồ Tát Thường Bất Khinh ở trong giáo pháp của các Ngài này mà
diễn giảng kinh Pháp Hoa.
Chính do nhân duyên này, khiến cho Ngài lại gặp
thêm hai ngàn ức Đức Phật, các Ngài đều đồng một danh hiệu là Vân Tự Tại
Đăng Vương, và ở trong giáo pháp của các Đức Phật này, Bồ Tát Thường Bất
Khinh tiếp tục thọ trì, đọc tụng và diễn giảng kinh Pháp Hoa cho bốn
chúng. Ngài đạt được sáu căn luôn luôn thanh tịnh, thuyết pháp ở trong
bốn chúng tâm không có sợ hãi.
Nầy Đại Thế Chí! Đối với bao nhiêu đức Phật ở trên,
Bồ Tát Thường Bất Khinh đều cúng dường, cung kính, tôn trọng, ca ngợi,
gieo trồng các gốc rễ tốt đẹp.
Sau đó, Ngài lại còn gặp ngàn vạn ức Đức Phật nữa,
Bồ Tát Thường Bất Khinh cũng ở trong giáo pháp của các Đức Phật này,
diễn giảng kinh Pháp Hoa, thành tựu công đức và trở thành Bậc Toàn
giác”.
Phần này, kinh nói rõ, bất cứ thời đại nào, từ thời
đại của hai ngàn ức Đức Phật đồng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh cho đến
thời đại hai ngàn ức Đức Phật đồng một hiệu là Vân Tự Tại Đăng Vương và
ngay cả những thời đại của ngàn ức Đức Phật tiếp theo, Bồ Tát Thường Bất
Khinh vẫn tu học và làm một công việc duy nhất là diễn giảng kinh Pháp
Hoa ở trong các thời đại đó và khi công đức thành tựu, Ngài sẽ thành bậc
Tuệ giác vô thượng.
Hạt giống bồ đề, hay Phật tính hết thảy chúng sanh
đều có, nhưng đã bị chôn vùi sâu dưới những lớp vô minh tà kiến. Hạt
giống ấy, nơi Bồ Tát Thường Bất Khinh đã trỗi dậy trong thời đại của
Phật Oai Âm Vương và đã được nuôi dưỡng từ chất liệu chúa tể của âm
thanh oai hùng, qua đức tính nhẫn nhục và tinh cần.
Tâm Bồ Đề của Bồ Tát Thường Bất Khinh càng lớn mạnh
và vững chãi, lại gặp hai ngàn ức Đức Phật đồng một hiệu Nhật Nguyệt
Đăng Minh giáo hóa, bấy giờ Bồ đề tâm hay Phật tính của Bồ Tát Thường
Bất Khinh, không những được đánh thức và thúc giục bởi âm thanh chân
thật và hùng tráng của Phật Oai Âm Vương, mà còn được nuôi dưỡng và soi
chiếu bởi những ánh sáng tuệ giác bao la và thường trực, như ánh sáng
của mặt trời soi chiếu ban ngày, ánh sáng mặt trăng soi chiếu ban đêm và
ánh sáng ngọn đèn soi chiếu trong nhà, và với những nơi hóc hiểm bởi tuệ
giác của Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh.
Bồ đề tâm hay Phật tính của Bồ Tát Thường Bất Khinh
lúc bấy giờ ban ngày được ôm ấp và soi chiếu bởi tuệ giác mặt trời, ban
đêm được ôm ấp và soi chiếu bởi tuệ giác mặt trăng và trong nhà hay
những nơi hóc hiểm được ôm ấp và soi chiếu bởi tuệ giác ánh đèn.
Như vậy, không lúc nào và không ở đâu, Bồ đề tâm
hay Phật tính của Bồ Tát Thường Bất Khinh không được tuệ giác của Chư
Phật ôm ấp và soi chiếu để sinh khởi và tiếp tục tỏa sáng.
Rồi, Bồ Tát Thường Bất Khinh lại tiếp tục gặp hai
ngàn ức đức Phật đồng một hiệu Vân Tự Tại Đăng Vương, như vậy Bồ đề tâm
hay Phật tính của Bồ Tát Thường Bất Khinh lại được ánh sáng của tình yêu
vô ngại rọi vào, ôm ấp, và nuôi dưỡng khiến cho những vô minh vi tế bị
xóa sách, Bồ đề tâm hay Phật tính của Bồ Tát Thường Bất Khinh bấy giờ
biểu hiện giữa cuộc đời với phong cách của một Bậc giác ngộ hoàn toàn.
Như vậy, từ khi Bồ đề tâm hay Phật tính của Bồ Tát
Thường Bất Khinh được đánh thức và trỗi dậy từ âm thanh hùng tráng của
Đấng giác ngộ Oai Âm Vương, trải qua vô số thời kỳ, thực hành nhẫn nhục
và tinh cần để chuyển vận Pháp Hoa vào mọi thời đại và nhờ vậy, mà Bồ
Tát Thường Bất Khinh đã thành bậc giác ngộ hoàn toàn. Bậc giác ngộ ấy,
chính là đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiện nay.
Ngày xưa, Bồ Tát Thường Bất Khinh chuyển vận Pháp
Hoa vào thời đại của mình, bằng chính sự nhẫn nhục và tinh cần, ngày nay
Đức Phật Thích Ca cũng đã kham nhẫn để giáo hóa chúng sanh nơi cõi Ta
Bà. Ngài đã kham nhẫn thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh đủ mọi căn cơ,
trình độ, tùy nghi thiết lập giáo pháp Tam thừa để đáp ứng mọi nhu cầu
tu học cho mọi thành phần khác biệt nhau trong xã hội, và cũng để từ nơi
sự khác biệt ấy, mà đưa về sự đồng nhất, nghĩa là từ nơi sự thiết lập
giáo pháp Tam Thừa, làm tiền đề hay duyên khởi để hiển thị giáo pháp
Nhất thừa cho chúng sinh hội nhập.
Như vậy, đèn tuệ Phật, Phật liên tục trao nhau,
xuyên suốt mọi thời đại, không bao giờ bị gián cách. Ngày nay, Đức Phật
Thích Ca lại tiếp tục chuyển vận Pháp Hoa vào thời đại của Ngài.
5. Nhân duyên và hạnh xuyên suốt:
Trong phần nhân và hạnh xuyên suốt này, có bốn ý
chính như sau:
5/1. Nói rõ nhân, hạnh và quả báo tốt đẹp Pháp
Hoa:
Đức Phật nói: "Nầy Đại Thế Chí! Bồ Tát Thường Bất
Khinh ngày xưa ấy, đâu có ai khác, chính là báo thân của Như Lai.
Nếu Như Lai đời trước không đọc, tụng, thọ trì và
vì mọi người mà diễn thuyết kinh Pháp Hoa, thì đã không thành tựu Tuệ
giác vô thượng một cách nhanh chóng.
Do Như Lai ở nơi chư Phật quá khứ thọ trì, đọc
tụng, vì mọi người mà giảng thuyết kinh nầy, nên Như Lai đã thành bậc Vô
thượng giác một cách nhanh chóng.
Đây là đoạn kinh mà Đức Phật "Dĩ thân tác chứng".
Nghĩa là Ngài lấy nhân, hạnh và quả Pháp Hoa của bản thân mà làm chứng
cứ cho đại chúng. Nhân hạnh tu tập là do thọ trì, đọc tụng, vì người
khác mà diễn giảng kinh Pháp Hoa, đưa tới quả chứng là thành tựu Bậc Vô
thượng giác.
5/2. Nói rõ quả báo xấu do kiêu mạn và hủy báng
Pháp Hoa:
“Này Đại Thế Chí, gồm các Tỷ khưu, Tỷ khưu ni, Ưu
bà tắc, Ưu bà di sân hận, khinh tiện Bồ Tát Thường Bất Khinh ấy, họ đã
trải qua hai trăm ức kiếp, thường không gặp Phật, không nghe Pháp, không
thấy Tăng, đã trải qua ngàn kiếp chịu khổ đau ghê gớm nơi địa ngục vô
gián. Khi họ hết tội báo, lại gặp Bồ Tát Thường Bất Khinh đem tuệ giác
vô thượng mà giáo hoá cho”.
5/3. Nói rõ sự chuyển hóa Pháp Hoa :
“Này Đại Thế Chí, bốn chúng thường khinh vị Bồ Tát
ấy, đâu có phải là những ai khác, hiện trong chúng hội này là chúng Bồ
Tát 500 vị do Hiền Thủ
đứng đầu, chúng Tỷ khưu ni 500 vị, do Sư Tử Nguyệt
đứng đầu và chúng Ưu bà di
500 vị do Thiện Tư
đứng đầu, nhưng những
vị ấy hiện nay đều là không thối chuyển đối với Tuệ giác vô thượng bồ
đề”.
Phần này, kinh nói rõ sự chuyển hóa do hạnh môn của
Pháp Hoa, khiến cho những vị trước đó, vì tâm kiêu mạn hủy báng đối với
Pháp Hoa, nay phát khởi niềm tin đối với Pháp Hoa và vững chãi đi tới
Tuệ giác vô thượng.
5/4. Nói rõ lợi ích và khuyến khích lưu thông:
“Này Đại Thế Chí, Người phải biết, kinh Pháp Hoa là
lợi ích lớn lao cho các vị Đại Bồ tát, có năng lực khiến quý vị đạt tới
Tuệ giác vô thượng.
Do đó, sau khi Như Lai diệt độ, phải nên thọ trì,
đọc, tụng, giải thuyết, sao chép kinh này”.
Phần này, Đức Phật nói rõ lợi ích của kinh và khích
lệ những hành giả Pháp Hoa phổ biến kinh này, qua nhiều phương pháp để
lợi ích cho mọi người.
Như vậy, ta thấy tiền thân của Phật Thích Ca là Bồ
Tát Thường Bất Khinh. Bồ Tát Thường Bất Khinh do thực hành hạnh Pháp Hoa
mà thành tựu địa vị Toàn giác là Đức Phật Thích Ca ngày nay.
Cũng chính kinh Pháp Hoa, đã giới thiệu tiền thân
của Đức Phật Thích Ca là vị Sa di cũng đã từng tu học và diễn giảng kinh
Pháp Hoa từ thời Đức Phật Đại Thông Trí Thắng, do công hạnh ấy mà Ngài
thành Phật và giáo hóa ở cõi Ta Bà.
Như vậy, ta thấy hạnh môn Pháp Hoa của Phật Thích
Ca trải qua vô số thời đại của Chư Phật Oai Âm Vương, cho đến gặp hai
ngàn ức Đức Phật đồng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, rồi lại gặp hai
ngàn ức Đức Phật đồng một hiệu Vân Tự Tại Đăng Vương, và rồi tiếp tục
gặp ngàn vạn đức Phật nữa, nhưng dù gặp Phật nào, thời đại nào đi nữa,
Ngài cũng xuất gia tu học, hành trì, diễn giải, đọc tụng kinh Pháp Hoa
một cách miên mật và đem kinh Pháp Hoa truyền dạy làm lợi ích cho đời.
Bởi vậy, qua cách nhìn và cách dẫn chứng của Pháp
Hoa, ta thấy Pháp Hoa là hạnh môn duy nhất, xuyên suốt của Phật Thích
Ca, trải qua vô số thời đại, cho đến khi hạnh mãn quả thành.
Và thành quả Pháp Hoa của Phật Thích Ca không phải
mới thành đời này, mà đã từ vô lượng, vô số kiếp, như phẩm Như Lai thọ
lượng đã nói.
III. BỒ TÁT THƯỜNG BẤT KHINH VỚI CON ĐƯỜNG CHUYỂN
VẬN
Đọc và tụng phẩm Bồ Tát Thường Bất Khinh ở trong
kinh Pháp Hoa, ta có thể học tập ở Ngài với bốn chất liệu: Đức Tin -
Lòng Chân Thật - Sự Nhẫn Nhục và Hạnh Bất Khinh. Chính bốn chất liệu
này, Ngài đã làm cho Pháp Hoa sáng chói ở nơi chính đời sống của Ngài và
Ngài đã chuyển vận ánh sáng ấy xuyên suốt vào mọi thời đại mà Ngài hiện
hữu.
Với đức tin, Bồ Tát Thường Bất Khinh tin tưởng
tuyệt đối vào khả năng thành Phật ở nơi chính mình và mọi người. Ngài
tin như thế, nên Ngài sống như thế, Ngài nói như thế và Ngài làm như
thế, chứ không thể nào sống khác, nói khác và làm khác.
Với tấm lòng chân thực, Bồ Tát Thường Bất Khinh đã
thiết lập tấm lòng này trên căn bản của đức tin Phật thừa. Do tin như
vậy, nên Ngài sống như vậy và trải tấm lòng như vậy, với mọi người bất
cứ lúc nào, và bất cứ ở đâu.
Với sự kiên trì nhẫn nhục, Bồ Tát Thường Bất Khinh
cũng đã thiết lập chất liệu này trên nền tảng của đức tin Phật thừa, với
sự soi rọi của tuệ giác và từ bi. Nên, sự kiên trì, nhẫn nhục của Ngài
không phải là một kẻ bất lực, hèn yếu và thua cuộc. Trái lại, sự kiên
trì, nhẫn nhục ấy là sức mạnh của tuệ giác và năng lượng của từ bi.
Nhẫn nhục mà có nội dung của sự chịu đựng khổ đau,
sự nhẫn nhục ấy không phải là sự nhẫn nhục của Bồ Tát Thường Bất Khinh.
Vì sao? Vì sự nhẫn nhục như vậy, chứng tỏ rằng, những khổ đau của mình
đang bị đàn áp. Hễ có đàn áp tức là có phản ứng. Như vậy, mình đang
chiến tranh với chính mình dưới một tác dụng khác âm ỉ và sẽ khốc liệt
hơn khi có cơ hội.
Trái lại, nhẫn nhục mà có nội dung của tuệ giác và
tình thương, thì sự nhẫn nhục ấy sẽ tạo nên chất liệu an lạc và hạnh
phúc, tạo nên chất liệu vững chãi và hùng tráng.
Thực hiện hạnh nhẫn nhục tức là phải biết mở to đôi
mắt ra để nhìn sâu rộng vào mọi vấn đề, chứ không phải nhẫn nhục là co
lại không dám nhìn bất cứ một cái gì.
Sự hiểu biết sâu và rộng, thì không còn có bất cứ
một sự đối kháng nào về mặt kiến thức, tri thức và tranh luận.
Ví như, sự sâu rộng của biển là làm chỗ cho mọi con
sông đổ về, dù bao nhiêu con sông có đổ về, thì biển cũng dung chứa mà
không hề phản ứng, giận dữ hay tranh cãi gì với chúng.
Nên, thực hành hạnh nhẫn nhục là mở to đôi mắt để
nhìn sâu và rộng vào mọi vấn đề, để mỗi khi mọi vấn đề khúc mắc của bản
thân và xã hội đi vào trong đời sống của ta, thì chúng đều bị sự hiểu
biết sâu rộng ở trong ta chuyển hóa.
Và thực hành hạnh nhẫn nhục, không nên hiểu là sự
chịu đựng, khi bị con dao đâm vào trái tim, theo ngôn ngữ biểu tượng của
Hán, mà thực hành hạnh nhẫn nhục là phải mở tung trái tim ra, mở tung
cõi lòng ra. Cõi lòng càng khép lại, khi gặp sự đối kháng, thì tiếng nổ
và tiếng vang dội càng lớn.
Bởi vậy, người càng ích kỷ bao nhiêu, thì sự sân si
và giận dữ của họ, lại càng bén nhạy bấy nhiêu và họ là đối tượng cho
mọi con dao thế gian đâm vào.
Thực hành hạnh nhẫn nhục là sống với đôi bàn tay và
tấm lòng chân thực mở rộng. Nên, nhẫn nhục là hạnh khó làm bậc nhất.
Hạnh ấy là một trong những hạnh căn bản của sự thực
tập, để thành tựu tuệ giác vô thượng và làm lợi ích cho đời. Hạnh ấy là
phép lạ của mọi sự thành công. Nhưng, nhẫn nhục thành công là nhờ luôn
luôn có mặt của hạnh Bất Khinh, nên với hạnh Bất Khinh, Bồ Tát Thường
Bất Khinh đã biểu lộ sự cẩn trọng tuyệt đối của mình, ngay trong từng
giây phút của sự sống, nghĩa là Bồ Tát không khinh suất, bất cứ ai, dù
người đó đã từng hủy báng mình, đã từng ném đá vào mình. Và quan trọng
hơn hết là Bồ Tát không khinh suất bất cứ một động tác nào của mình, nên
bất cứ động tác nào của Bồ Tát cũng là động tác của sự cẩn trọng. Đi,
đứng, nằm, ngồi, nói năng hành xử, kính lễ đều an trú một trăm phần trăm
trong sự cẩn trọng. Do thực hành hạnh bất khinh hay hạnh cẩn trọng, mà
Bồ Tát đã thành tựu về các mặt Tín, Tấn, Niệm, Định và Tuệ, và cũng do
thực hành hạnh bất khinh và cẩn trọng, mà Bồ Tát đã không làm cho ai bị
khổ đau bởi một cử chỉ nhỏ nhặt của Ngài.
Nên, Bồ Tát xuất hiện giữa cuộc đời để giúp đời
bằng chất liệu bất khinh và sự cẩn trọng của chính mình. Bất khinh là bố
thí cho đời bằng sự cẩn trọng và sự khiêm tốn, nên bất khinh là thực
hành Bố thí độ; bất khinh thì không có điều ác nào là không nhiếp phục,
không có điều thiện nào là không khởi sinh, nên bất khinh là thực hành
Trì giới độ; bất khinh thì không có gì để sơ suất giận dữ, để oán ghét
và chịu đựng, nên bất khinh là thực hành Nhẫn nhục độ; bất khinh thì chỉ
có đi tới, không còn có sự thối lui, nên bất khinh là thực hành Tinh tấn
độ; bất khinh thì không mất chánh niệm, không mất định tĩnh khi tiếp xúc
với mọi đối tượng thuận nghịch, nên bất khinh là thực hành Thiền định độ
và bất khinh thì không còn ngộ nhận, không còn thiếu sót, không còn sân
hận, không còn sai lầm, nên bất khinh là thực hành Trí tuệ độ.
Bất khinh thì không còn kiêu mạn. Kiêu mạn không
còn là ngã chấp đã đoạn. Bất khinh thì sự phân biệt kỳ thị không còn. Sự
phân biệt và kỳ thị không còn là pháp chấp đã đoạn.
Chấp ngã và chấp pháp không còn, là ta đã thể nhập
vào thực tại vô biên của sự sống, đó là đời sống hay thọ mạng của Như
Lai.
Nên, bất khinh là khởi đầu cho hạnh thực tập và
thường bất khinh là kết quả viên mãn của sự thực tập. Thường bất khinh
là Phật tính, thực tập hạnh bất khinh là đi về và sống với Phật tính.
Nói rõ hơn, thực tập hạnh bất khinh là thực tập
hạnh Pháp Hoa và Thường Bất Khinh chính là đời sống của Pháp Hoa vậy.
Hạnh ấy là phép lạ của mọi sự hoàn thiện, và đời
sống ấy là đời sống diệu thường giữa những sinh hoạt bình thường của thế
gian và của con người.
Bồ Tát Thường Bất Khinh đã có đức tin tuyệt đối vào
khả năng thành Phật của chính mình và khả năng thành Phật của mọi người,
nên đem hết tấm lòng chân thật mà kính lễ, ca ngợi đức tính ấy của mọi
người và dập tắt lòng kiêu mạn ở nơi chính mình bằng hạnh bất khinh.
Nên, hạnh Thường Bất Khinh là con đường chuyển hóa,
khiến cho đời sống của Bồ Tát ấy sáng rực Pháp Hoa, và Ngài đã chuyển
vận ánh sáng ấy xuyên suốt mọi thời kỳ và đến nay vẫn còn bất diệt, vẫn
tiếp tục dẫn lối đưa đường cho mỗi chúng ta và là hướng đi cho mọi thời
đại.
Thời đại ngày nay của chúng ta có nhiều sự kỳ thị
và bất công là do trong thời đại của chúng ta có quá nhiều người ích kỷ
và cao ngạo. Cao ngạo về giàu có, cao ngạo về khoa học kỹ thuật, cao
ngạo về vũ khí, cao ngạo về trí thức, cao ngạo về chủ thuyết, cao ngạo
về văn hóa, cao ngạo về tôn giáo. Do những cao ngạo ấy, mà trong thế
giới của chúng ta ngày nay có nhiều kỳ thị, bất công và bạo động, và đã
có nhiều người, nhiều quốc gia hành xử với con người, với thế giới bằng
sự ích kỷ và cao ngạo như vậy, nên sông hận sôi mãi, lửa hận cháy mãi,
khói hận bốc mãi.
Nên, ta hãy biến Bồ Tát Thường Bất Khinh ở trong
kinh Pháp Hoa, thành Bồ Tát Thường Bất Khinh ở trong đời sống của mỗi
chúng ta, cũng như trong thời đại của chúng ta, để cho chúng ta không bị
lung lay về đức tin, nghèo nàn về tuệ giác, bạc nhược về ý chí, cạn cợt
về thương yêu, sơ suất trong hành xử và để cho đời sống của chúng ta,
cũng như thời đại của chúng ta, sông hận lắng yên, lửa hận tắt ngúm,
khói hận trở thành mây lành, mọi hành xử của chúng ta không bị rơi vào
ngõ cụt, mà cùng nhau sống trong tính thể bất khinh, hòa điệu và sáng
đẹp vô cùng.
T.T.H.
|