TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số đặc biệt KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN PL. 255
[MỤC LỤC]
THI CA HUYỀN KHÔNG
VÀ vỚi tuỔi thơ hỌc đẠo
Thích Phước An
Dạo ấy, vào khoảng cuối thập
niên 50 và đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Phật học viện Trung phần
Hải Đức tại Nha Trang thấy cần phải mở rộng việc đào tạo tăng tài. Ngoài
hai nơi đã có cơ sở sẵn là Báo Quốc (Huế) và Tu viện Già Lam (Sài Gòn),
ban Quản trị quyết định mở thêm một chi nhánh nữa ở Cao nguyên Trung
phần, địa điểm được lựa chọn là chùa Linh Sơn, Đà Lạt, nơi mà Hòa thượng
Mãn Giác, tức thi sĩ Huyền Không đang làm Hội trưởng Hội Phật giáo Tuyên
Đức (bây giờ là Lâm Đồng).
Hai mươi học tăng đang theo
học Trung học đệ nhất cấp (cấp 2) được chọn để đưa đi. Trong số ấy có
tôi, vừa mới học xong đệ thất (lớp 6 ngày nay) ở trường Bồ Đề Nha Trang.
Hòa thượng Trí Thủ (bấy giờ
là Thượng tọa giám viện) đích thân hướng dẫn hai mươi học tăng lên đường
đi Đà Lạt.
Hôm ấy là một ngày đầu thu,
Ban Giám đốc và toàn thể học tăng Phật học viện đều ra ga Nha Trang để
tiễn đưa chúng tôi lên đường.
Đã gần bốn thập niên trôi qua
rồi, vậy mà tôi vẫn còn nhớ như in cái buổi sáng đầu thu năm ấy. Lúc đó,
dù xì dầu, tương chao không đủ ăn, quần áo không đủ mặc, mà sao huynh
đệ, thầy trò lại thắm thiết đạo tình với nhau như thế? Tôi cứ boăn khoăn
tự hỏi, có phải vì lúc ấy cái bả lợi danh của thế gian chưa dám bén mảng
đến chốn Thiền môn như bây giờ chăng?
Tuổi thơ của chúng tôi đã lớn
lên trong không khí trong lành không hề bị bất cứ một đám mây đen nào
làm vẩn đục, nên tất nhiên chúng tôi có đủ lý do để mơ ước về một ngày
mai tươi sáng của đạo pháp và của cả chính mình.
Riêng tôi, dù lúc ấy chỉ vừa
mới học xong đệ thất (lớp 6 bây giờ) nhưng cũng đã tập tành đọc được các
tác giả của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, đặc biệt là tác phẩm Đoạn Tuyệt
của văn hào Nhất Linh, mà trong đó nhân vật chính là một thanh niên trí
thức, ảnh hưởng Tây học, đã phải hy sinh tình yêu nhỏ bé của mình để
phản đối những quy định khắt khe của xã hội phong kiến đã lỗi thời.
Người thanh niên trí thức ấy
đã lên đường đi đến những chân trời xa xôi, mà Thế Lữ đã cảm xúc ghi lại
trong một bài thơ nổi tiếng là Giây phút chạnh lòng:
Năm năm theo tiếng gọi lên đường
Tóc lộng tơi
bời gió bốn phương.
Rồi trên đường phiêu dạt, vào
một buổi chiều cuối năm dừng lại trong một gác trọ để:
Rũ áo phong sương trên gác trọ
Lặng nhìn
thiên hạ đón xuân sang.
Cái hình ảnh một thanh niên
cô độc trong gác trọ nơi đất khách quê người “lặng nhìn thiên hạ đón
xuân sang” ấy đã làm quyến rũ nhiều người trẻ tuổi dạo ấy, trong đó tất
nhiên có tôi.
Cũng vào đầu thập niên 50 của
thế kỷ 20, thầy Huyền Không (xin được gọi như vậy để giữ một chút kỷ
niệm về tình thầy trò từ khi tôi còn để chỏm) cũng có làm một bài thơ có
tên là Dòng suối nhỏ. Bài thơ diễn tả sự vui mừng náo nức của tác
giả (hay cũng có thể là của toàn thể Phật tử Việt Nam) vào thời điểm đó,
trước thềm đại hội của Phật giáo ba miền Bắc, Trung và Nam để hợp nhất
thành một tổ chức duy nhất là Tổng hội Phật giáo Việt Nam (tiền thân của
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất) diễn ra tại chùa Từ Đàm (Huế)
vào năm 1951.
Nhưng tất nhiên có nhiều cách
để ta cảm nhận bài thơ này, chứ không đơn thuần là bài thơ chỉ để đón
chào sự kiện lịch sử trọng đại này của Phật giáo Việt Nam.
Chẳng hạn, ta có thể xem dòng
suối nhỏ đó như chính là thân phận của mỗi người trong chúng ta. Dòng
suối ấy, dù đang chảy âm thầm, phải luồn lách qua không biết bao nhiêu
là đầm lầy nước đọng, nhưng dòng suối vẫn ước mơ rằng một ngày nào đó sẽ
gặp được đại dương mênh mông.
Chúng ta cũng vậy, một hôm
nào đó trong đời chợt nghe gió mùa se thổi, thấy đời sống chẳng có ý
nghĩa gì cả, ngoài “bốn bức tường ủ rũ”, ta bỗng khát khao muốn đi đến
những chân trời xa xôi, như dòng suối nhỏ của thầy Huyền Không cũng đã
từng khát khao như vậy:
Chất chứa bao niềm hận
Chật hẹp riêng
cuộc đời
Đêm qua trời
trở gió
Tôi mơ chốn xa
vời.
(Dòng suối nhỏ)
Trong thi phẩm Kẻ lữ hành cô
độc được tái bản vào năm 2004 tại Mỹ, rồi trong tập kỷ yếu mừng khánh
thọ vào năm 2005, thầy đều có trích đăng lại bài thi kệ này:
Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Kỳ vi sanh tử sự
Giáo hóa độ xuân
thu.
Mà thầy đã dịch là:
Bình bát cơm ngàn nhà
Một thân muôn
dặm qua
Chỉ vì niềm
sống chết
Giáo hóa độ Ta
Bà.
Hồi còn ở Đà Lạt cũng như Sài
Gòn, thầy Huyền Không thường kể cho tôi nghe rằng, khi thầy còn là một
học tăng ở chùa Báo Quốc, thầy thường trốn học ra ngồi dưới gốc cây nhãn
của chùa để đọc các nhà thơ mới như Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư,
Hàn Mặc Tử, v.v... và nhất là các tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, đặc
biệt là tiểu thuyết của Nhất Linh đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến độ mà vào
cuối đời, ngồi nhớ lại một làng quê đã xa xôi của tuổi thơ, thầy vẫn còn
nhắc “... đêm nào nằm ngủ tôi cũng thường nghe tiếng sóng vỗ ngoài biển,
tiếng sóng nghe ầm ầm gặp khi trời động. Nghe tiếng sóng vỗ, tôi liên
tưởng đến anh Vọi trong truyện Trống Mái của Nhất Linh”.
Như vậy là cái “chốn xa vời
...” mà thi nhân ước mơ đó ngoài âm hưởng của “cô thân vạn lý du”, tức
là hình bóng của những kẻ xuất trần thượng sĩ tự nguyện rong ruổi một
mình trên những nẻo đường của trần gian để lay động con người của trần
gian đang ngủ mê trong đêm dài sanh tử ra, thì còn có cái lãng mạn của
một thanh niên trí thức thời đó (qua Dũng trong Đoạn Tuyệt của
Nhất Linh). Thứ lãng mạn mà các nhà văn nhà thơ thời bấy giờ đều thể
hiện trong các sáng tác của mình.
Sở dĩ tôi muốn nhấn mạnh đến
vấn đề này là vì, chúng ta còn nhớ rằng, văn thơ của Phật giáo thời ấy
hầu như bị đóng khung hoàn toàn trong “nhà chùa”, nghĩa là hầu hết văn
hay thơ đăng trên báo chí của Phật giáo trong những thập niên đầu thế kỷ
20 và cả giữa thế kỷ nữa cũng chỉ dành cho các Phật tử đi chùa lạy Phật
đọc mà thôi. Và chắc chắn thầy Huyền Không là một trong những người tiên
phong biết kết hợp giữa các giá trị tâm linh siêu việt của Phật giáo với
nghệ thuật đương đại để có thể đưa văn thơ của Phật giáo ra khỏi cổng
tam quan của chùa vậy.
Chính nhờ thế mà hồi ấy và có
lẽ bây giờ cũng vậy, vẻ đẹp của những ngôi chùa không chỉ dành riêng cho
những Phật tử đi chùa lễ Phật nữa, mà ngôi chùa đã nghiễm nhiên trở
thành biểu tượng cho cái đẹp đầy tâm linh của dân tộc. Nếu không có
những người tiên phong như thầy Huyền Không thì có lẽ ngày nay nếu mỗi
khi chúng ta có dịp nói đến cái đẹp của những ngôi chùa thì chúng ta
phải mượn tên các thi nhân bên ngoài như Anh Thơ, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh
hay Nguyễn Bính, v.v... Nhưng chúng ta nên biết rằng, họ là những người
ở bên ngoài ngôi chùa, nên họ chỉ thấy được cái đẹp từ bên ngoài chứ
tuyệt nhiên họ chưa đi vào được cái đẹp tinh thần cũng như sứ mạng mà
ngôi chùa đã đóng góp như thế nào đối với đời sống tâm linh của dân tộc.
Đó là chưa muốn nói đôi khi
họ còn hiểu lệch lạc tinh thần của ngôi chùa. Ví dụ bốn câu sau đây của
Thanh Tịnh:
Đạo sĩ chờ tôi chán hải hồ
Tôi chờ đạo sĩ
lãng hư vô
Tôi mơ trăng
lạnh Hàn Sơn tự
Ấp ủ men tình
đội áo khô.
Trên phương diện thi ca, theo
tôi thì bốn câu trên quá hay không thể chê vào đâu được nữa. Nhưng trên
phương diện tinh thần thì Thanh Tịnh đã hiểu lầm, vì ngôi chùa không
phải là nơi để ông trở về chữa vết thương của tình yêu, rồi đợi một ngày
nào đó vết thương đã lành thì lại bỏ chùa để ra đi theo một chuyện tình
khác:
Tôi mơ trăng lạnh Hàn Sơn tự
Ấp ủ men tình
đội áo khô.
Bởi vậy phải đợi đến khi bài
thơ Nhớ chùa của thầy Huyền Không ra đời (1956) thì mới xác định
đúng vị trí của ngôi chùa đối với đời sống tinh thần của dân tộc:
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân hiền
mọi mái tranh.
hay triệt để hơn:
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn
đời của tổ tông.
Hồi nhỏ tôi đã xuất gia tại
một ngôi chùa ở miền quê nghèo khổ của miền Trung. Chùa nằm dưới một
ngọn núi hùng vĩ cách xa xóm làng. Muốn vào chùa phải lội qua một con
suối, chung quanh suối có nhiều tre mọc san sát bên nhau.
Lớn lên rời bỏ ngôi chùa quê
vào sống nơi những ngôi chùa ở thành phố, nên mỗi lần đọc bài thơ Nhớ
Chùa đến hai câu:
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Yên lặng chùa
tôi ngập nắng vàng.
thì tôi lại nhớ thương da
diết về ngôi chùa của tuổi thơ dạo ấy.
Và tôi cứ thắc mắc tự hỏi là
có phải ngôi chùa mà thầy nhớ trong bài thơ Nhớ Chùa đó là chùa
Thiên Minh ở Thành phố Huế, nơi thầy đã xuất gia học đạo hay là ngôi
chùa Linh Sơn ở Thành phố Đà Lạt nơi thầy đã từng sống và làm việc trong
nhiều năm? Nếu là những ngôi chùa ở hai thành phố ấy thì làm gì có cảnh
“mỗi tối dân quê đón gió lành” và làm gì có hàng tre để thầy “gợi hồn
sông núi”. Nỗi thắc mắc ấy đến mấy thập niên sau mới được giải đáp nhờ
tôi đọc được một tùy bút ngắn là Phương Lan, quê tôi của thầy:
“Quê hương Quảng Trị
của tôi làng nào cũng giống nhau, cũng mái tranh, cũng khói lam chiều.
Mùi rơm, mùi rạ, mùi trâu bò, mùi gia súc mang lại cho ta một thứ tình
quê mặn nồng, không ai có thể dễ dàng quên trong cuộc đời nếu thời ấu
thơ của chúng ta đã từng sống ở làng quê”.
Khi chiến tranh bất ngờ ập
đến, không thể về quê được, cũng như nhiều người khác thầy cũng nhớ da
diết: “... Tình quê của tôi nó thâm nhập như vậy, nên chi trong thời
chiến tranh về thăm làng không được, vào năm 1956 tôi đã sáng tác bài
thơ Nhớ Chùa. Ở nhà quê, làng nào cũng có chùa, chùa nào cũng có hương
hỏa phụng thờ, nơi gửi gắm bao đời của tổ tiên”.
Như vậy là thầy đã không lấy
cảm hứng từ chùa Thiên Minh ở Huế hay chùa Linh Sơn ở Đà Lạt, tức là
những ngôi chùa ở nơi phồn hoa đô hội, mà thầy đã lấy cảm hứng từ những
ngôi chùa ở tận những thôn làng nghèo khổ để sáng tác ra bài thơ Nhớ
Chùa.
Những ngôi chùa nghèo khổ này
vẫn đứng đó trong âm thầm lặng lẽ để chia sẻ, để an ủi những mảnh đời
bất hạnh, những mảnh đời lầm than cơ cực của những người nông dân chân
lấm tay bùn, từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác vậy.
Và theo tôi, chẳng phải một
bài thơ hoặc một tác phẩm được cho là hay, có nghĩa là bài thơ ấy, tác
phẩm ấy đọc vào ai cũng phải thấy thấp thoáng có bóng dáng hay tâm tư
của chính mình trong đó hay sao?
Bởi vậy, dù phiêu dạt ở chân
trời góc bể nào đi nữa, thì thầy vẫn nhớ về những ngôi chùa tận những
miệt miền quê nghèo khổ ấy, nói theo cách nói của thầy thì “... vì
nỗi nhớ thì quá nao nao, cho nên tôi đã phải liều mà trồng hoa trong mùa
bão tố:
Biết đến bao giờ trở lại quê
Phân vân lòng
gởi nhớ nhung về
Tang thương dù
có bao nhiêu nữa
Cũng nguyện
cho chùa khỏi tái tê”.
Xin được trở lại với chuyến
đi Đà Lạt của ngày đầu thu dạo ấy.
Khi xe lửa bắt đầu móc từng
móc sắt chậm chạp leo lên đèo Sông Pha để tiến vào Thị trấn Đơn Dương
thì không khí khác hẳn, nghĩa là mát mẻ vô cùng. Có lẽ vì 20 người trong
chuyến đi ấy hầu hết đều được sinh ra và lớn lên ở dưới đồng bằng nên
tất cả đều có cảm giác là đã vừa vứt lại sau lưng cái nóng bức của mười
mấy năm đầu tiên trên mặt đất này. Hai bên đường ray xe lửa là rừng
thông xanh, là suối chảy róc rách, là hoa dại đủ màu sắc, nhưng đặc biệt
nhất là hoa dã quỳ đang nở rộ làm vàng rực cả núi rừng.
Em đi lên vói bắt mấy hương màu
Miền đất
thượng có mấy bờ hoa mọc.
(Bùi Giáng)
Có lẽ phải nhờ hai câu thơ ấy
mới có thể diễn tả hết sự náo nức của tôi trong chuyến đi này. Náo nức
vì không phải được đi Đà Lạt mà còn náo nức cho cả những ngày tươi đẹp
còn dài trước mắt chúng tôi, tươi đẹp như thành phố ngàn hoa mà chúng
tôi đang sắp sửa bước vào đây.
Khi tàu lửa vào ga Đà Lạt thì
trời đã xế chiều. Thầy Huyền Không đã đứng chờ sẵn ở đó để nghênh đón
Thượng tọa Giám viện và học tăng chúng tôi.
Nhìn
thầy và nhìn những tia nắng mong manh của buổi chiều tà đang xuống chậm
giữa đồi núi chập chùng, tôi liên tưởng đến bài thờ Một ngày qua
của thầy. Bài thơ mà vào khoảng cuối thập niên 50 và những năm đầu thập
niên 60 (thế kỷ 20) một nhạc sỹ nào đó đã phổ nhạc, và được một ca sỹ
Phật tử nổi tiếng là Duy Khánh hát, rồi trong các ngày lễ Phật lại được
các em thiếu nhi gia đình Phật tử áo lam hát vang lên trong các sân chùa
vào mỗi chiều Chủ nhật của miền Nam thời đó. Chúng ta nên biết rằng, chỉ
sau năm 1963 thì văn nghệ Phật giáo mới bắt đầu và sau đó nở rộ vào
những năm từ 1967 đến 1974. Nhắc lại như vậy, để thấy rằng thầy Huyền
Không là một trong những người đã có công đưa văn nghệ Phật giáo bắt đầu
ảnh hưởng đến xã hội thời bấy giờ, chứ không chỉ giới hạn trong nhà chùa
như trước đó nữa.
Bài thơ đó tôi nhớ loáng
thoáng như thế này:
Ngày tàn theo
gót hoàng hôn
Bóng chiều đổ xuống tâm hồn ai đây
Thông xanh rải rác phấn vàng
Nghe trong gió thoảng cung đàn biệt ly.
hay một đoạn khác:
Chiều xuống
giữa rừng dâu
Chân bước đi về đâu?
Tìm cái gì đã mất
Không thấy lại hôm sau.
...
Lá vàng lác
đác gió bay
Còn đâu đây nữa một ngày đã qua.
Thời gian tàn phá và hủy diệt
mọi sự, nhưng đau đớn thay là tất cả chúng ta đều gần như trơ lì và
chẳng hề biết rằng mình đang trên con đường đi đến hủy diệt.
Chỉ có Thiền sư và thi nhân
là những kẻ biết rất rõ rằng mình cũng sẽ bị hủy diệt trong một ngày nào
đó không xa.
Bài thơ Một ngày qua,
được Thầy Huyền Không sáng tác lúc còn trẻ, chỉ khoảng trên 30 tuổi, cái
tuổi còn chan chứa mộng đời, cho nên nếu có buồn thì cũng chỉ buồn man
mác mà thôi.
Nhưng đến tuổi xế chiều thì
khác, không thể nói là buồn nữa, mà dù muốn hay không cũng phải chấp
nhận nó như một sự thật hiển nhiên vì theo Thầy : “Không ai có thể
đưa tay níu lại thời gian để giữ cho mình không thay đổi. Thôi thì hãy
hài hòa chấp nhận và thảnh thơi sống với cái thời gian thực sự; đó là
cách tìm sự an tâm trước mọi đổi thay”.
Và vì vậy cho nên lúc 55 tuổi
Thầy có viết:
Cây tùng năm
lăm tuổi
Trên đầu lá còn xanh
Thiền sư già cằn cỗi
Môi nở nụ cười lành.
(Cây tùng)
Có lúc nhìn thời gian trôi
qua nhanh không chỉ “môi nở nụ cười lành” thôi, mà còn “cười vang suốt
đêm trường” nữa:
Thiền sư đi
trên đường
Áo rộng đầy tình thương
Thời gian không níu lại
Cười vang suốt đêm trường.
Riêng tôi, thì có lẽ chưa đủ
nội lực như Thầy để “cười vang suốt đêm trường” dù có thể đó chỉ là cái
cười chua xót. Nhưng ngược lại, mỗi lần đọc bốn câu mà theo tôi rất là
lạ lùng sau đây trong bài Kẻ lữ hành cô độc của Thầy:
Trong đêm vắng
kêu vang
Tiếng vọng khắp xóm làng
Ai biết kêu gì nhỉ
Trên trời mây lang thang.
Nhất là vào những đêm khuya
khoắt chợt thức giấc, thì những mảnh đời đã ly tán lại trở về chập chờn
trong ký ức mịt mù của tôi; đó là những ngày ấu thơ nơi một làng quê
nghèo khổ nhưng lại có rất nhiều mây trắng và còn có cả ngôi chùa xưa
tịch mịch lúc nào cũng tràn ngập nắng vàng. Rồi những năm tháng được
sống bên cạnh Thầy tại chùa Linh Sơn ở Đà Lạt. Cái thành phố sương mù
thơ mộng này dường như đã nuôi dưỡng hồn thơ của Thầy từ những ngày còn
trai trẻ. Có lẽ con người chỉ thực sự sống với chính mình, khi con người
biết ngồi một mình để hồi tưởng lại những ngày còn ấu thơ của chính
mình. Chỉ những lúc ấy, ta mới chợt nhận ra rằng, dù hiện tại ta có là
gì đi chăng nữa, thì cuối cùng ta cũng sẽ chỉ là một kẻ bơ vơ lạc lõng
bước đi một mình trên mặt đất hoang vu này mà thôi, hay một Kẻ lữ
hành cô độc, nói theo ngôn ngữ thi ca của Thầy. Vì sao? Vì chẳng
phải Saint Exupéry đã từng nói cho chúng ta biết rằng: “...bóng tùng
quân nghìn tầm xiêu đổ, thì cái con người trơ trụi sẽ chỉ còn nghe rõ
trong hoang liêu mối ngậm ngùi xuân xanh xa mất”
đó sao?
Còn một điều nữa, không thể
không nói đến trong thi ca của thầy Huyền Không. Đó là tấm lòng của
Thầy, một kẻ tha hương nhưng lúc nào cũng ngóng trông về cố quốc:
Chiều nay mưa
lòng ai
Tâm hồn chìm xa vắng
Ra đi đất nước người
Nhìn nhau đầy thầm lặng.
(Tiễn đưa)
Ở nơi xứ người, dù mỗi năm
mùa xuân vẫn đến, nhưng làm sao vui cười được nhỉ ?
Thương Xuân
tuyết trắng trên đầu núi
Nhớ nước làm sao nở nụ cười.
Có lẽ hai câu thơ trên đã đủ
để nói lên hết tất cả tấm lòng của Thầy đối với quê hương đất nước rồi
chăng?
Trong hơn 20 năm qua, mỗi lần
viết thư cho tôi, lúc nào Thầy cũng nói lên cái mong ước của Thầy là,
một ngày nào đó sẽ về thăm lại quê nhà, thăm lại những ngôi chùa có con
đường đỏ chạy lang thang. Và mỗi khi hồi âm cho Thầy, tôi cũng đều chép
hai câu thơ của Thầy, hai câu thơ mà tôi đã thuộc nằm lòng từ khi còn ở
với Thầy ở chùa Linh Sơn (Đà Lạt):
Tiếng chim hót
ngoài xa
Vui như ngày trở lại.
Dù bây giờ có lẽ chim đã bắt
đầu hót ngoài xa, nhưng tôi nghĩ trong ngậm ngùi, mai này trong những
người trở về thăm lại quê nhà đó sẽ không bao giờ có Thầy trong đó nữa
...
Nha Trang,
những ngày cuối Xuân Đinh Hợi (2007)
T.P.A.
|