TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số 2 - VU LAN - PL. 2551
[MỤC LỤC]
MỘT ĐÊM SIÊU HÌNH VỚI HÀN MẶC TỬ
Phạm
Công Thiện
Tất cả những gì người ta viết và nói về Hàn Mặc
Tử, trong vòng sáu chục năm nay đều sai lầm hoàn toàn. Vì sao? Người
ta viết và nói đến cái mà Hàn Mặc Tử, đã vượt qua trọn vẹn trong mỗi
một lời, và trong mỗi một chữ mà Hàn Mặc Tử đã bỏ lại dấu vết trên
mặt đất.
Chỉ xin nói lên mười điều chính yếu sau đây về
Hàn Mặc Tử, nói mười và thực ra là một và ngay cái
một này chỉ là giả danh, vì cái một này vừa hiện ra thì
biến mất liền ngay lập tức; cái một này từ có đến
không và từ không đến có; không có cái một nào
giống y cái một nào, không có cái có nào giống hệt cái có nào, và
cũng không có cái không nào giống hẳn cái không nào.
Hàn Mặc Tử đã viết hai câu bí mật đơn giản:
Con sông này đã đi qua.
Suốt đời
ta thề không trở lại.
Hiểu được hai câu trên của Hàn Mặc Tử thì không
còn muốn hiểu nữa, vì tất cả những gì chúng ta hiểu được thì đã đi
qua rồi, cái hiểu của quá khứ không thể là cái hiểu của hiện tại, và
cái hiểu của tương lai không thể hiểu, như vậy cái hiểu của hiện tại
không thể nào có được.
Muốn hiểu và muốn được hiểu là hai trở
ngại lớn nhất, ngăn chận lại không cho mình nhảy xuống sông để bơi
lội như con rồng con, như Long Nữ tám tuổi, như con rắn nước của
linh thoại. Tất cả những gì mà người ta khoái trí và khoái chí gọi
là hermeneutics, hermeneutic và hermeneutical của giới
phê bình gia văn nghệ hiện thời, và hậu hiện thời đều sụp đổ ở nơi
đây.
Vì sao, và tại sao thế? Vì cái chữ “vì”,
vì “vì sao” và vì “tại sao”. Cái gọi là “principe
de raison suffisante”, La tinh gọi là “principium
reddendoe rationis”, Anh, Mỹ gọi là “Grundsatz vom Grumd”
là cái nguyên lý tối thượng và tối hậu điều động thống trị toàn thể
văn hóa và văn minh Tây phương, thống ngự tất cả triết học, thần
học, và khoa học, và nhất là thống trị tất cả khuynh hướng phê bình
văn nghệ hiện đại và hậu hiện thời (post modernism).
Chính nguyên lý của lý trí tự túc này đã quay
lưng lại với Hố Thẳm (Ab Grund) và đưa đẩy con người lọt vào tất cả
những dạng trạng thái khác nhau của chủ nghĩa hư vô (Nihilism,
Nihilisme, Nihilismus).
Tất cả chủ nghĩa hư vô là “hý luận” với cái
sống và cái chết; tất cả triết học, thần học, khoa học, và toán học,
tất cả văn hoá và văn minh Tây phương, tất cả phê bình văn học nghệ
thuật của Tây phương đều là những trò Hý luận với “hiện tượng” và
“bản thể”, “chân lý” và “phi chân lý”, “vật thể”, “hữu thể” và “vô
thể”, “tại thế thể” và “siêu việt thể”, “ở trên trời” và “ở dưới
đất”, “lý trí và phi lý trí”, “nghệ thuật và phi nghệ thuật”. Tất cả
đều kẹt dính vào nhị biên, nhị tướng, nhị lực, nhị tác, nhị dụng,
nhị thể, nhị tánh , nhị nhân, nhị duyên, nhị quả, nhị báo, nhị cứu
cánh, nhị hành, nhị bản mạt, nhị nguyên, nhị nhị. Dẫu đã tách rời
nhị tướng đi nữa để đến Bất Nhị đi nữa thì “để đến”
cái Bất Nhị này cũng trở thành hình thể vi tế của cái Nhị bất trị và
vô phương giải tỏa.
Sự điên loạn thần trí và tất cả ma quỉ yêu tinh
đều là hậu quả tất nhiên của sự trói buộc vào cái hai cực đoan, hai
tướng trạng, hai biên giới, hai chiều hướng đối nghịch, hai nguồn
nghịch lưu. Chỉ có sự điên loạn tòan diện mới “chuyển y” được tâm
thức bình thường, mới thay đổi trọn vẹn nền tảng cơ sở tầm thường
của ý thức phân biệt khả dĩ đưa con người đến sự giải thoát tâm linh
hoặc xô con người nhảy xuống hố thẳm của Im Lặng để được giải cứu
một cách khác trong cõi Trung Hữu Ấm (Bardo).
Chỉ có Thơ mới là khoa trị liệu thần kinh hữu
hiệu nhất để giải cứu nhân loại khỏi điên. Mâu thuẩn thơ mộng nhất
là tất cả những nhà thơ thiên tài và vĩ đại nhất của nhân loại đều
là những người điên thực sự vĩ đại đúng nghĩa. Những bác sĩ, tất cả
những bác sĩ chuyên trị bệnh điên đều là những người điên bình
thường, nếu không muốn nói là điên tầm thường, quá đỗi tầm thường
đến mức đáng thương hại. Freud và Jung, và cả Adler đều là những
người điên tầm thường, cả Laing và Cooper cũng đều điên bình thường;
điên một cách tục tĩu nhất là những bác sĩ phân tâm học, bác sĩ thần
kinh trị liệu, bác sĩ thần kinh bệnh học, bác sĩ tâm thần, bác sĩ
chuyên khoa thần kinh não bộ, bác sĩ giải phẩu não bộ, vân vân. Họ
được quyền điên một cách khoa học. Tất cả thế giới và tất cả nhân
loại hiện nay đang điên. Chỉ có nhũng người điên thực sự hơn
cả những người điên tầm thường và hơn cả những người điên tục tĩu:
đó là những thi sĩ thực sự đúng nghĩa, những nhà thơ trong sạch,
những thi nhân thuần túy.
Hàn Mặc Tử đã nói một câu mà sáu chục năm nay
không có ai biết lắng nghe một cách đàng hoàng cho đến độ phải quăng
ném tất cả thi ca Việt Nam hiện đại và hiện kim vào cầu tiêu công
cộng:
Người thơ là
khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo.
Tại sao là khách lạ? Tại sao đi
giữa?
Tại sao “nguồn trong trẻo”?
Có cần đọc Trakl và Hoelderlin mới hiểu thế nào
là “khách lạ”? Đó là chưa nói đến Camus hay chưa nói đến Sophocles?
Có cần đọc Kant mới hiểu thế nào là “đi giữa”, đó là chưa nói
đến Hegel và Schelling? Có cần đọc Hoelderlin và những gì Heidegger
viết về những con sông Đức trong thơ của Hoelderlin mới biết được
thế nào là “nguồn” và thế nào là “trong trẻo”? Tại sao phải đọc?
Đọc thơ cũng giống như đọc kinh.
Phải thọ, trì, đọc, tụng.
Đọc không phải để hiểu mà để biết.
Biết cái thâm mật của một giây phút
thoáng qua nhanh chóng hơn ánh sáng và biết cái thâm mật của
tam thiên đại thiên thế giới, của vô số hằng hà tỉ tỉ thiên hà trong
lòng ta và ngoài kia không gian phiêu dật. Mà lòng ta là tất cả
không gian phiêu dật.
Tại sao Nguyễn Du thường sử dụng chữ biết
trong Thơ và ít khi dùng chữ hiểu? Đây là một sự việc
quảng mật cần nên biết trong tương lai của văn hóa Việt Nam.
Thơ là cái gì mà chỉ nên biết, chứ không thể
hiểu.
May ra thì chúng ta có thể biết được cái
thâm mật, cái quảng mật và cái thâm quảng mật, có
thể biết được sơ sơ qua loa, chứ không thể nào hiểu được. Đó là diệu
nghĩa vô lượng của tam mật, tam muội trong Thơ Văn của những thiên
tài vĩ đại ở thế giới.
Mười điều chính yếu sau đây về Hàn Mặc Tử được
thoát ra từ giữa nguồn trong trẻo của tam mật tam muội (quảng
mật, thâm mật, thâm quảng mật); mười điều sau đây có thể được coi
như một thứ “Giải Thâm Mật” của cái gọi là Thi Văn Nhân Loại, và
nhất là của thiên tài Hàn Mặc Tử.
I. Điều thứ nhất:
Tất cả lịch sữ văn học và tất cả phê bình văn
nghệ đều chuyên trang điểm cho cái không bao giờ cần được hay bị
trang điểm; đứng sau nguồn hay đứng bên bờ nguồn bên đây hay bờ
nguồn bên kia để ba hoa lải nhải một cách buồn cười, thảm hại cho
chính bản thân sử gia và cho bản thân của phê bình gia; không có sử
gia văn học và không có phê bình gia văn học ở khắp thế giới từ cổ
đến kim biết được tư tưởng và tơ tưởng (chữ của Hàn
Mặc Tử) và sử linh tư tưởng (chữ của Hàn Mặc Tử) là cái gì.
Tư tưởng, tơ tưởng và sử linh tư
tưởng, đối với sử gia và phê bình gia, chỉ là
tiền tượng, hiện tưởng, tiền hiện tưởng, tiền tưởng tượng (Anh
Mỹ gọi là Representation, Tây Pháp gọi là Représentation,
Đức gọi là Vorstellung hay Vor-stellung), chính tất cả
thể điệu tiền tượng, nhãn tiền tượng, đối diện tượng, hiện tưởng,
hiện tượng, tiền hiện tượng, tiền hình tượng, hiện diện tưởng, đối
diện tưởng, tưởng tượng, hiện tưởng tượng, nhãn tiền tưởng, đối diện
tưởng vân vân (tóm lại trong một chữ Đức Vorstellung) đã đưa
loài người đảo lộn đầu nguồn với cuối nguồn; đảo ngược tất cả mọi
giá trị, đảo lộn trí tưởng tượng sáng tạo thành ra một lý
luận chặc chẽ; đảo ngược tư tưởng và đảo ngược sử linh tư
tưởng thành ra khoa học lịch sử, khoa học tôn giáo, khoa học về
lịch sử văn học, khoa học về phê bình văn nghệ, vân vân.
Chỉ có tư tưởng, tơ tưởng và sử linh
tư tưởng là xuất phát từ Hố Thẳm (Tây gọi là Abime,
Tàu gọi là Thâm Uyên, Anh, Mỹ gọi là Abyss, Đức gọi là
Abgrund;anh bạn ngày xưa ở Việt Nam, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền
đã cho rằng tôi lấy chữ Hố Thẳm từ Nietzsche, điều này đúng,
nhưng chưa đứng đắn hẳn, chính Eckhart, Kant, Hegel, Schelling
Hoelderlin và Jakob Boehme mới là những người đầu tiên đã tặng cho
tôi hai chữ Abgrund và Ungrund mà tôi đã nhắc trong
quyển Im Lặng Hố Thẳm).
Tư tưởng, tơ tưởng và sử linh tư
tưởng, trú ngụ nơi Hố Thẳm Không Đáy mới mở ra tất cả
chân trời cho Triết Học, Khoa Học, Toán Học, và Tôn Giáo.
Tất cả nền tảng đều sụp đổ, ngay đến Hố Thẳm
Không Đáy cũng sụp đổ, và cả đến Hố Thẳm của Hố Thẳm cũng phải sụp
đổ, tất cả mọi sự sụp đổ đều phải sụp đổ ngay lập tức, còn nói chi
nữa đến những cái gọi là những kiến thức ý niệm, những xây dựng lý
tưởng, những hệ thống ý thức và những tập đại thành của ý tưởng, tất
cả những thứ này chỉ là những trò hý luận của những tên hề tài tử,
những tên hề tập sự không còn có khả năng để làm cho nhân loại cười
to tiếng hay cười nhỏ tiếng.
Một người hề duy nhất thơ mộng làm cho mình mỉm
cười sầu mộng mênh mông siêu việt, một người hề đừa giỡn với Hố
Thẳm, nhập một với Hố Thẳm, đó là người hề của truyện Smile at
the Foot of the Ladder của Henry Miller, nhưng đây là chuyện
khác.
II. Điều thứ hai:
Chỉ là lặp lại điều thứ nhất trên một bình diện
bất ngờ khác.
Phải viết lại toàn thể lịch sử văn học thế
giới, và toàn thể văn học thế giới và toàn thể văn học Việt Nam từ
khởi thủy cho đến hiện nay và cho cả tương lai.
Viết như thế nào? Viết về cái không thể viết
được, nói về cái không thể nói được, tư tưởng và tơ tưởng về cái gọi
tạm là “Bất Khả Tư Nghị”.
Từ cái “bất khả tư nghị” của Hố Thẳm mới xuất
hiện ra những hợp thể phức tạp được gọi tên là “thiên tài”, “văn
hào”, “thi hào”, và tất cả những gì gọi là “tác phẩm”, “nghệ thuật”,
“kỹ thuật” là sự “thành tựu”, “hoàn thành”, “toàn thiện”, “toàn
chân”, “toàn mỹ”, “nhất thiết chân pháp”, “nhất thiết thiện pháp”,
“nhất thiết mỹ pháp”.
Sự im lặng rùng rợn của Thi Ca và Văn Chương là
cái “bất khả tư nghị” của tất cả những đỉnh cao nhất của Thi Ca và
Văn Nghệ Nhân Loại.
Im Lặng là gì? Là sự Lặng Im của tất cả câu
hỏi, của tất cả nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, của tất cả sắc thanh
hương vị xúc pháp, của cả nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức và ý thức. Đó là sự Lặng Im tinh mật của tất cả hình sắc,
tất cả hình tượng, của tất cả màu sắc, của tất cả tình cảm, của tất
cả cảm giác, của tất cả xúc động, của tất cả ba động giác quan, của
tất cả ba động cực vi tế của một ý tưởng, của bất cứ một sự phân
biệt nào đó, của tất cả mọi sự tri nhận và trực nhận; sự Lặng Im của
tất cả ý muốn và ý chí, sự im lặng của tất cả ý thức, linh thức,
thần thức và vô thức.
Còn lại cái gì?
Hoelderlin, một nhà thơ đã điên trong ba bốn
chục năm còn lại của đời mình, đã tuyên bố lặng lẽ cho toàn thể loài
người rằng:
Nhà thơ phôi dựng cho những gì còn lại . . .
Hoelderlin là tiêu chuẩn để viết lại toàn thể
lịch sử văn học Đức, và toàn thể lịch sử văn học Tây phương, cũng
như Nguyễn Du và Hàn Mặ Tử là tiêu chuẩn để viết lại toàn thể lịch
sử văn học Việt Nam và toàn thể lịch sử văn học Á Đông.
III. Điều thứ ba:
Tất cả triết học và thẩm mỹ học Tây phương từ
Plato cho đến Hegel đều trở thành sai lầm, nếu mình sống được trên
nền tảng không nền tảng của Hố Thẳm Không Đáy mà không rơi lọt vào
chủ nghĩa hư vô vũ trụ. Tôi nói gì? Muốn nói một cái gì thì đã kẹt
vào những phạm trù của logos. Như thế nào? Như vầy: không có
một triết gia, một tư tưởng gia, một lý thuyết gia, một con người
hành động tích cực hay một phê bình gia vĩ đại nào mà không dính kẹt
vào những cái này.
a)
Nói hay viết, viết để nói hay nói để viết để nói hay viết về một cái
gì đó; (nói theo điệu Triết Học Hy Lạp là: logos như logos
tinos)
b)
Chính cái được nói hay được viết, chính câu nói hay câu viết lại
chính là một cái gì đó; (nói theo điệu Triết Học Hy Lạp là:
logomenon là một cái ti, tức là một cái hiện thể, cái chữ
Triết Hy Lạp: on);
c)
Người nói hay người viết là một cái gì đó.
Con người là một cái gì đó, lời nói hay câu
viết là một cái gì đó, cái được viết hay cái được nói là một cái gì
đó: như thế, chúng ta có ba cái.
Thơ có nghĩa là phá vỡ ba cái trên; Thơ không
nói về bất cứ cái gì cả, như vậy mới là tất cả; Thơ chỉ là Thơ và
Thơ tự nói về Thơ từ trong Thơ đến trong Thơ: cả cao và thấp, cả
trong và ngoài, ở trên và dưới mặt đất, tất cả chỉ là Thơ.
Thơ là Nguồn Trong Trẻo nuôi dưỡng tất cả
“thượng thanh khí” của tất cả mọi sự, và của cả hư vô, vì Hư vô
không phải chỉ có nghĩa rằng chẳng có gì hết.
Nếu quan niệm Thơ là một cái gì đó, nhà thơ
(thi sĩ) là một cái gì đó, bài thơ là một cái gì đó, tác phẩm thi ca
là một cái gì đó, người thưởng ngoạn thi ca là một cái gì đó, người
làm nghề phê bình văn học là một cái gì đó, ngôn ngữ là một cái gì
đó, âm nhạc là một cái gì đó, màu sắc là một cái gì đó, sự im lặng
là một cái gì đó. Nếu quan niệm như thế, thế thì quan niệm cái gì?
Vậy cái gì đó là cái gì?
Một hữu thể? Một vật thể? Một sự thể? Một hiện
thể? Một tánh thể? Hay vô thể? Hay “cái không có gì cả” cũng là một
cái gì?
Còn cái gì của cái gì ấy là cái gì?
Phải chăng đây chỉ là những câu hỏi trừu tượng?
Hàn Mặc Tử đã từng nói :
Triết lý và Văn Thơ là những danh từ chết.
Những chữ đáng lưu ý ở trên là “những danh
từ” và những danh từ, tất cả những danh từ đều đã chết, đang
chết và sẽ chết.
Tất cả những trận chiến tranh tàn khốc của nhân
loại đã bùng nổ vì những danh từ. Bao nhiêu thế hệ người Việt Nam đã
chết vì “những danh từ đã chết”.
Triết lý và Văn Thơ là những danh từ chết.
Khi Hàn Mặc Tử nói như trên thì chỉ có nghĩa
Triết lý và Văn Thơ không phải chỉ là “những danh từ”. Triết Lý
và Văn thơ thì khác hẳn, một cái gì không hẳn là một cái gì, cái gì
khác hẳn hoàn toàn tất cả mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hữu thể và
mọi vật thể.
Hàn Mặc Tử: “Tôi không cần ai giảng triết
lý.”
Giảng Triết Lý là trói buộc Triết Lý vào những
danh từ đã chết.
Hàn Mặc Tử: “Triết Lý là vun trồng, nuôi
nấng thi văn, mà thi văn là để cắt nghĩa ra Triết Lý”.
Hố Thẳm vun trồng và nuôi nấng thi văn. Phải
chăng cái (nghĩa xưa của chữ Mẹ, Má) đã từng “vun
trồng nuôi nấng” tất cả thi văn Việt Nam? Không phải Triết Lý cắt
nghĩa ra thi văn, như tất cả lý thuyết gia phê bình văn nghệ tầm
thường (tất cả lý thuyết gia phê bình văn nghệ đều là những kẻ tập
tành hành nghề suy tư qua những ý niệm triết học chưa học hành được
đàng hoàng). Hàn Mặc Tử xác nhận rõ ràng: “thi văn là để cắt nghĩa
ra triết lý”. Như thế chỉ có nghĩa rằng Thi Văn cắt nghĩa ra tất cả
mọi sự việc, vì Triết Lý chính là: Một là tất cả, và Tất cả là Một
(từ Heraclitus đến Kant, Hegel, Nietzche và tất cả Triết Học Tây
Phương chỉ là thế, nếu không muốn nói đến cái gì khác mà cái
gì khác cũng vẫn là một cái gì trong nghĩa Triết Học Hy Lạp
to on của ta onta).
Văn chỉ là văn vì có Mẹ là Thi.
Chính Thi ca xây dựng tất cả linh thoại, thần
thoại, sử thoại của toàn thể nhân loại. Không có Thi Ca thì chẳng có
Lịch Sử; không có THƠ thì loài người đã bị tiêu diệt từ lâu. Thi Ca
phôi dựng tất cả Sử Linh tư Tưởng.
VI. Điều thứ tư:
Thơ là cái gì?
Tất cả sự nghiệp thi văn của Hàn Mặc Tử là đã
sống trọn vẹn với câu hỏi trên. Cả một cuộc đời hai mươi tám năm của
Hàn Mặc Tử là sống hoàn toàn hết mình, xoáy tròn vào cơn bão tố rùng
rợn của Thơ và chỉ nhìn thấy Thơ trên trời, thơ ở dưới đất, Thơ
trong tim, Thơ trong óc não, Thơ trong mạch máu, Thơ trong hơi thở,
Thơ trong đời sống, Thơ trong cái chết, thơ trong hiện thể, Thơ
trong vô thể, Thơ trong hư vô.
Hàn Mặc Tử: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy
đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã
phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn
đến gần đứt sự sống.”
Chúng ta phải nhập tâm, phải để năm tiếng của
Hàn Mặc Tử in dấu sâu thẳm vào tận lòng mình:
“Đến Gần Đứt Sự Sống”
Khi nào “đến gần đứt sự sống” rồi mới biết Thơ
là cái gì, mới biết làm thơ, mới biết đọc thơ. Khi mình chưa “đến
gần đứt sự sống” rồi thì không được quyền nói bất cứ điều gì về Thơ,
về Thi Ca, về Thi Nhân, về Điên Loạn, về Tình Yêu, về Hồn, về Nguyễn
Du, về Hàn Mặc Tử hay về bất cứ “một con sông này đã đi qua” trong
đời mình.
Hàn Mặc Tử đã sử dụng mấy chữ “cụ tượng” và
“trừu tượng” và nhất là câu tuyệt vời: “Cái Thơ Trên Cái Thơ Khác
Nữa”.
Thế nào là cụ thể? Hai chữ “cụ tượng”
của Hàn Mặc Tử thực là tinh mật, hai chữ “cụ tượng” nói lên
tinh túy rực ngời của tất cả những gì chúng ta vẫn gọi là “cụ thể”.
Ở đây, chính Thi Văn đã cắt nghĩa ra Triết Lý; Hàn Mặc Tử chỉ là một
nhà thơ mà còn triết lý hơn tất cả các triết gia nhà trường và các
triết gia nhà nghề. Không có gì thực là “cụ thể” mà chỉ có “cụ
tượng”. Dẫu không đọc Kant, nhưng Hàn Mặc Tử đã nhảy vào trung tâm
của Triết Học Kant ở đây (Trước khi chết Hàn Mặc Tử thường đọc đi
đọc lại Rousseau, một người đã từng ảnh hưởng mãnh liệt đến Kant).
Hàn Mặc Tử đã cho dân tộc Việt Nam một “định
nghĩa” phi thường nhất và tuyệt vời nhất về Thể Tính của Thơ: “Màu
sắc cụ tượng rất dễ tìm, dễ kiếm, trái lại màu sắc trừu tượng rất
khó sáng tạo, vì đây là cái đẹp của thơ, và phải có con mắt của thi
nhân, của một kẻ siêu phàm thoát tục mới nhận thấy cái đẹp thiêng
liêng, phép tắc ấy, và mới thấu triệt hết tinh hoa của nó.”
Và sau đây là định nghĩa về thiên Tài của Thiên
Tài Hàn Mặc Tử: “Bắt cái vô hình trở nên hữu hình, khiến cái
chết trở nên sống, cho vật câm không còn là câm nữa. Đấy là tất cả
nghệ thuật và trí tưởng tượng phi thường của thi nhân, nếu thi nhân
là một thiên tài”.
Cái cụ tượng của Thi Ca, ai cũng hiểu, nhưng
cái Trừu Tượng của Thơ thì chỉ có Thiên Tài mới biết được Thiên Tài.
Cái Trừu Tượng ở đây “vượt khỏi ra ngoài hư
linh”(Hàn Mặc Tử). Tính Thể và Thể Tính của Trừu Tượng Tính là
gì?
Chính là cái gì mình gọi là “cụ thể”, “cụ
tượng” lại là “trừu tượng” nhất và cái gì mình gọi là “trừu tượng”
lại là “cụ thể”, “cụ tượng” nhất. Nhà thơ, nói một cách khác, là con
người thực tế nhất; và tất cả con người khác, những kẻ gọi là thành
công nhất trong xã hội, đều là những loài súc sinh biết nói mà không
hề biết thế nào là “cụ thể”, thế nào là “cụ tượng”, huống chi đề cập
đến bất cứ điều gì liên hệ tới “trừu tượng”.
Thơ là trừu tượng trong cụ tượng, và cụ tượng
trong trừu tượng; Thơ vừa cụ vừa trừu để rồi chỉ còn
tượng. Sau cùng, tinh túy của Thơ là chuyển hóa tất cả
tượng thành ra vô tượng: chính vô tượng mới đánh
thức dậy Vô Tướng của tất cả hình tượng màu sắc. Đây là Vô Tướng của
Thực Tướng Trong Thơ Mộng trong tất cả sự “rung rinh một làn ánh
sáng” (Hàn Mặc Tử).
Có biết được như trên, chúng ta mới biết được
tại sao một người Công Giáo thuần thành ngoan đạo như Hàn Mặc Tử mà
vẫn tư tưởng và tơ tưởng được sử linh tư tưởng
như câu nói sau đây của Hàn Mặc Tử:
“Và tôi sẽ ký thuyết minh một cách rất nhà
Phật là sắc cũng như không, chết cũng như sống, gần cũng như xa và
hư cũng như thực... Những điều phản trái ấy dầu thế nào, cũng có
liên lạc mật thiết và thông cảm với nhau.”
Loài người, hạng người phàm phu tục tử, thường
bị trói buộc vào cái có và cái không suốt một đời này
và vô số kiếp sau nữa; họ điên mà không biết rằng mình điên. Chỉ có
thi nhân là tự biết rằng mình điên và được điên thực sự, vì nhà thơ
đã trừu tượng hóa tất cả mọi sự: “Tôi vừa thoát ly ra khỏi cực
lạc giới, toàn thân tôi rung động như một sợi đường tơ” (Hàn Mặc
Tử). Đó cũng là lý do cắt nghĩa tại sao “Thi sĩ rơi xuống cõi
đời, bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Không có lấy một người hiểu mình”
(Hàn Mặc Tử).
Vì không có lấy một người hiểu mình, cho
nên thi sĩ mới còn được là thi sĩ.
V. Điều thứ năm:
Hàn Mặc Tử đã sử dụng ít nhất hai lần trong
toàn thể thi văn của mình: “một đêm siêu hình” (Chơi giữa
mùa trăng: Nghĩa là trăng rằm trung thu: một đêm siêu hình,
vô lượng, tượng trưng của một nguồi khoái lạc chê chán...)
Cái đêm siêu hình ở đây không có dính
líu gì với Siêu Hình Học cả mà lại có nghĩa ngược lại tất cả Siêu
Hình Học và Siêu Thể Học Tây Phương, vì Siêu Hình Học Tây Phương vẫn
chỉ đặt nền tảng trong một căn bản tối thượng và tối hậu: Hiện Thể
(hay hiện hữu) có tính cách hiện thể nhất, Hiện Thể trong Toàn Thể,
Hiện Thể như là Hiện Thể, Hiện Thể như là Hiện Thể cao nhất, hiện
thể đầu tiên , hoặc Siêu Việt Thể.
“Bắt cái vô hình trở nên hữu hình”, đây
là ý nghĩa cụ tượng hóa trừu tượng của Hàn Mặc Tử trong mấy
chữ “một đêm...” (nếu nhấn mạnh vào mấy chữ “hữu hình”
trong câu “bắt cái vô hình trở nên
hữu hình”, hoặc nhấn mạnh vào mấy chữ “một đêm” trong
“một đêm siêu hình”), ngược lại “Bắt cái vô hình trở nên
hữu hình”, đây là ý nghĩa trừu tượng hóa cụ tượng của
Hàn Mặc Tử trong mấy chữ “siêu hình”, (nếu nhấn mạnh vào mấy
chữ “vô hình” trong câu “Bắt cái vô hình trở nên hữu hình”,
hoặc nhấn mạnh mấy chữ “siêu hình” trong “một đêm siêu
hình”).
Thực ra, tất cả đêm tối đều là siêu hình, và
tất cả ngày đều hữu hình mà vô hình hoặc đều vô hình mà hữu hình.
Nói một cách triết lý thơ mộng như triết gia Đức Kant thì “Đêm
tối thì cao siêu, ban ngày thì tuyệt đẹp” (Die Nacht ist
erhaben, der Tag is schoen). Đây là câu nói tuyệt đẹp nhất và
cao siêu nhất được thốt ra từ miệng của một triết gia đúng nghĩa.
Chỉ có một người suốt đời sống thường trực bên bờ Hố Thẳm, bên cạnh
cơn điên loạn lúc nào cũng rình rập bùng vỡ trong ý thức, chỉ có một
người như thế, như Kant và ngay chính cả Hegel, mới hiểu thế nào là
sức mạnh hữu hình của “nguyên lý về lý do tự tại, nguyên lý về lý
trí tự túc”, mới hiểu thế nào:
Đêm cao siêu
Và Ngày tuyệt sắc.
(Kant)
Hay dí dỏm hơn như Hegel:
Ban đêm thì tất cả
bò nghé đều đen thui.
Tuy nhiên, có một màu đen khác mà Hegel chưa
biết tới hay không chịu biết đến, đó là màu đen sáng ngời lóng lánh
của Hoelderlin, người bạn thân nhất “tự mùa đầu tiên” của Hegel.
Hoelderlin đã viết sầu mộng như sau trong cơn loạn: “Phải giải quyết
tất cả những mâu thuẫn, những lạc điệu, những lệch lạc, những bất
hòa bằng cách khác”. Không thể giải quyết những vấn đề bằng trật tự
phân hai hoặc phân ba (bằng Tri Thức Tuyệt Đối, hoặc bằng Kỹ Thuật
Cơ Khí Vạn Năng). Nói một cách khác, một cách mơ mộng như
Hoelderlin:
Những ai hãy đưa cho tôi
Tràn trề ánh sáng đen tối,
Chén rượu thơm ngát.
Cái ánh sáng đầy đen tối, cái hào quang tối tăm
ấy, chính là cái “đêm siêu hình” của Hàn Mặc Tử. Cái tối là cái thâm
mật của cái sáng, cái tối “vun trồng nuôi duỡng” cái sáng, và cái
sáng “cắt nghĩa ra” cái tối. “Đó là lý do tại sao cái tối có được
cái sáng chính yếu của chính nó” (Heidegger, “Những Nguyên Lý của
Tư Tưởng” đăng trong jahrbuch fuer Psychologie und
Psychotherapie, tập 1/3, năm 1958, Verlag Karl Alber, Freiburg
và Munich).
“Một đêm siêu hình” của Hàn Mặc Tử chính là một
đêm “tràn trề ánh sáng đen tối” của Hoelderlin.
Có một thứ ánh sáng rực chiếu một cách tối tăm,
cũng như có một đêm tối lóng lánh ánh sáng rực ngời, có một màu đen
óng lên ánh sáng lộng lẫy, cũng như có một thứ ánh sáng tràn trề đen
tối thâm mật.
VI. Điều thứ sáu:
Tất cả ý nghĩa cụ tượng mà trừu tượng, hữu hình
mà vô hình, thơ mộng mà triết lý, của tất cả thi nghiệp, tất cả sự
nghiệp văn thơ của Hàn Mặc Tử được thu gọn lại trong bốn chữ:
một đêm siêu hình
Phải nhìn hai chữ siêu hình này trong
một chớp mắt thu gọn lại thiên thu vĩnh cữu, thu tóm lại tam thiên
đại thiên thế giới, phải nhìn hai chữ siêu hình này ngoài tất
cả siêu hình học, ngoài tất cả thần học, và ngoài tất cả hữu tượng
và vô tượng.
VII. Điều thứ bảy:
Có đi vào một đêm siêu hình với
Hàn Mặc Tử thì mới biết rằng những bài thơ tình yêu và những
bài thơ tôn giáo của Hàn Mặc Tử không phải chỉ là những bài
thơ lãng mạn về tình yêu và những bài thơ xuất thần về tôn giáo, vì
ở đây những bài thơ chỉ là Thơ, có nghĩa là thơ Thuần Túy mà Thơ vốn
là Nguồn Trong Trẻo cho Tình Yêu và cho Tôn Giáo. Vì Thơ là Nguồn
Trong Trẻo cho tất cả, cho nên Hàn Mặc Tử mới có thể nói:
Bay từ Đao Lỵ đến trời Đâu Suất
VIII. Điều thứ tám:
Nếu nói Hàn Mặc Tử là nhà thơ của Lãng Mạn, của
Tình Yêu, của Sầu Mộng, của Điên Loạn, của Huyền Bí, của Tôn Giáo,
của Triết Học, vân vân, thì chúng ta vẫn có thể ung dung nói và viết
một cách tầm thường và bình thường như vậy. Bất cứ nhà thơ nhà nghề
nào hiện nay cũng đều là những thi sĩ nhà nghề về Lãng Mạn, Tình
Yêu, Sầu Mộng, Điên Loạn, Huyền Bí, Đạo Giáo (kể cả thơ Chúa và thơ
Thiền), nhưng chỉ có Hàn Mặc Tử là thi sĩ; tất cả Hàn Mặc Tử đều là
thi sĩ, nhưng tất cả thi sĩ không thể nào là Hàn Mặc Tử. Tất cả
những thi sĩ thiên tài đều là người điên, nhưng tất cả những người
điên không thể nào và không thể là thi sĩ; tất cả những thi sĩ thiên
tài đều là người cùi, người hủi, người phung (trong mọi ý nghĩa đen,
bóng, xám, trắng) nhưng tất cả những người cùi không thể là thi sĩ
được (tất cả vẫn có ngoại lệ như thế tất cả mới có ý
nghĩa là tất cả; tuy nhiên người bệnh hủi mà thành thi sĩ,
thì bệnh hủi ấy đã mất ý nghĩa, và không còn là bệnh nữa, mà là ơn
phúc hay phúc đức nghịch hành của đêm thiêng liêng, đêm vô lượng,
đêm siêu hình).
Chính cái đêm siêu hình đã làm cho Hàn
Mặc Tử làm thơ tình mà không phải là thơ tình, làm
thơ ly biệt mà không phải ly biệt, làm thơ
trăng mà không phải là trăng, làm thơ đạo mà
không phải chỉ là đạo, làm thơ về hồn mà không phải là
hồn, về Chúa mà không phải Chúa, về Đức Mẹ
mà không phải Đức Mẹ, về Phật mà không phải
Phật, về tất cả những người con gái đẹp mà không phải chỉ
là những người con gái đẹp.
Tất cả đều là cụ tượng cho Tính Thể Trừu
Tượng Hóa của Thể Tính Thi ca: “Tất cả trong thế gian này,
hay cả một cõi xuất thế gian nào nữa, những thứ gì đã trụ trong hai
thế gian ấy (cõi hữu hình và cõi vô vi) đều là hình ảnh của Thơ cả”(Hàn
Mặc Tử).
Nói tóm lại, Thơ là nguyên lý chuyển động tất
cả mọi sự, nguyên lý của nguyên lý này lại chuyển động cả
Thượng Đế, chuyển động cả cái gì vượt lên trên Thượng Đế, chuyển
động cả “đường ngạ quỷ phơi nhiều trang gấm vóc”: Thơ là
nguyên lý chuyển động cả trời và đất, chuyển động cả những gì “vượt
khỏi ngoài hư linh” (Hàn Mặc Tử).
Nói một cách dễ hiểu theo điệu triết học của
Aristotle (Aristote) thì đối với Hàn Mặc Tử thì Thơ là cái arkhé
kinéseos hay arché kinéseos, tức là cái arkhé (arché) cho
kinesis (động tính) của tất cả vạn hữu và vạn đại, cho tất cả
phusis (physis); cái gọi là “thơ” (poiesis) không còn ý nghĩa
“việc làm” “cái làm”, “tác tính”, “tạo tính” hay “kỹ thuật tạo tác”
mà “poiesis” lại trở thành “phusis” và không còn đối kháng lại
“phusis” (chữ Hy Lạp phusis còn có ý nghĩa sâu rộng hơn cả
chữ “nature” của La Tinh, hơn chữ “nature” của Anh,
Pháp, và hơn cả “thiên nhiên” của Việt và Tàu;
“phusis” có nghĩa: tất cả những gì chuyển động, tất cả những gì
mọc lên, tất cả những gì trưởng thành và thành tựu, ngay đến Thượng
Đế và tất cả những Thần linh điều lệ thuộc vào “phusis” của
Triết Học Hy Lạp tiền thượng cổ. Như vậy, cái gọi là Thơ
(poiesis) được thiên tài Việt Nam Hàn Mặc Tử chuyển hóa toàn
triệt thành ra phusis; poiesis thường tách biệt khỏi
phusis, nhưng ở đây poiesis nâng đỡ phusis và trở
thành chính phusis (phusis = poiesis). Thơ là nguyên uyên hay
uyên nguyên của tất cả động tính (uyên nguyên: arkhé,
arché; động tính, chuyển tính, chuyển động tính: kinésis).
Arché kinéseos (arkhé kinéseos) có nghĩa là “uyên nguyên
của tất cả chuyển động tính”. Đó là ý nghĩa thâm diệu của mấy chữ
“Nguồn Trong Trẻo” của Hàn Mặc Tử, nhà thơ được Thơ đưa trở về làm
“khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo”
IX. Điều thứ chín:
Chỉ cần một chữ thôi cũng nói lên được “một
đêm siêu hình” là gì, chỉ cần một chữ thôi cũng nói hết tất cả ý
nghĩa thâm mật của Thi Ca và Văn Chương của Hàn Mặc Tử.
Đó là chữ Tây: diaphane (xuyên minh,
xuyên quang, thấu minh, thấu quang)
Chữ diaphane đã được Hàn Mặc Tử sử dụng
trong một bài văn cuối cùng viết thẳng bằng tiếng Pháp La Pureté
de l’Âme (Hồn Trong Veo), bài được viết vào đêm 24 tháng 10 năm
1940 (Hàn Mặc Tử mất vào ngày 11 tháng 11 năm 1940, sống được 28
tuổi trong veo trên đời.)
Trần Thanh Mại dịch “diaphane” là “trong mờ” (lueur
diaphane: “ánh sáng trong mờ”, cách dịch lờ mờ của Trần Thanh
Mại). Trần Thanh Mại dịch đúng theo tự điển Tây và tự điển Tây Việt,
nhưng diaphane không phải chỉ có nghĩa tự điển là “trong mờ”
mà thôi, mà còn mang một ý nghĩa xuyên ngữ, và cái nghĩa
tuyệt vời thơ mộng là “xuyên qua ánh sáng, thấu qua ánh sáng, đâm
qua ánh sáng, xuyên qua cái hiện, xuyên qua cái chiếu, xuyên qua cái
hiện chiếu, thấu qua cái chiếu hiện” (Chữ Hy Lạp: diaphanés:
xuyên minh, đâm qua, thấu qua, xuyên qua: dia; phaínein:
hiện, chiếu, chiếu hiện; diaphaínein: xuyên qua, thấu qua,
đâm qua cái hiện, cái chiếu, cái chiếu hiện; chữ phaínein có
liên hệ trực tiếp với gốc chữ Hy Lạp là phós: ánh sáng). Dịch
theo tinh thần Hàn Mặc Tử thì diaphane có nghĩa là “trong
trẻo”; có thể dịch lại “Nguồn Trong Trẻo” của Hàn Mặc Tử ra
chữ Pháp là source diaphane hay origine diaphane.
Tất cả Thi Ca Á Đông đều là Hồi Quang, Phản
Quang, Phản Chiếu Quang, Tương Phản Quang, Tương Chiếu Quang, Tương
Phản Quang Chiếu, Viên Dung Phản Chiếu Quang… Tất cả Thi Ca Tây
phương đều là Đăng Quang, cái ánh sáng của bó đuốc hay của cái đèn
dầu hay đèn điện, đúng hơn nên gọi là: cốc đăng quang, tức là
cái ánh sáng của cái bó đuốc hay của cái đèn dầu trong hang, như cái
hang trong triết học của Plato chỉ có Homer, Pindar, và Sophocles là
ở ngoài hang. Cái hồi quang, phản quang và phản chiếu quang, và
tương phản quang chiếu của Thi Ca Đông phương là cái “phản ảnh” và
cái “phục chiếu” của mặt trời và mặt trăng. Nói theo ngôn ngữ của
Hoelderlin, Tây phương là chốn mặt trời chìm lặn, do đó, Hoelderlin
réo gọi trở về “Nguồn Trong Trẻo” là Đông phương (Ấn Độ với dòng
sông Indus), sông Indus chảy từ vùng núi miền Tây của tây Tạng; Hy
Mã Lạp Sơn, núi cao nhất của Tây Tạng, sông Cữu Long cũng chảy từ
Tây Tạng đến Hố Thẳn không đáy là miền Nam Việt Nam và miền Nam của
Đông Nam Á Châu. Hố Thẳm và Núi Cao là một; ánh sáng từ thượng thanh
khí đâm thấu xuyên qua từ đỉnh núi cao im lặng đến âm hưởng rì rào
bất tận của tất cả con sông Á Đông, tính cách xuyên quang của Núi
Cao đã chuyển thành hồi quang, phản chiếu quang của tất cả
dòng sông của Thơ ở Hố Thẳm.
Con sông này đã
đi qua
Suốt đời ta thề không trở lại
Hàn Mặc Tử đã muốn nói khác đi: cái đã đi
qua thì đã đi qua rồi và cái không trở lại thì không bao giờ
trở lại nữa. Tất cả hồi quang, phản quang, phản chiếu quang,
phục chiếu quang, tất cả xuyên quang, thấu quang đều xảy ra chỉ một
lần duy nhất. Một lần, chỉ một lần thôi, một lần duy nhất thôi
(R.M.Rilke)
Tuy nhiên, tất cả thơ nằm trong hai chữ “tuy
nhiên, tuy thế, thế mà”. Tất cả đều đã đi mất, tất cả không bao giờ
trở lại, tất cả đều chỉ xảy ra một lần. Dẫu thế, tuy thế, tuy nhiên,
dù thế, thế thì… Et pourtant / And yet… Thơ bắt đầu chuyển
động sau ba chấm lửng lơ…
X. Điều thứ mười:
Bất cứ bài thơ nào của Hàn Mặc Tử cũng đều là
thơ hay, dù bài nào mà thiên hạ cho rằng dở nhất của Hàn Mặc Tử cũng
vẫn là thơ hay mà ít người thấy được tính cách “xuyên quang” và
“phản chiếu quang” của một thiên tài vĩ đại của Việt Nam trải qua
“một đêm siêu hình” ở dương thế. Bây giờ chúng ta hãy xóa đi chín
điều trên, và chỉ còn lại điều thứ mười; tất cả những gì đã nói hay
đã viết về Hàn Mặc Tử đều sai lầm, kể cả chín đều trên. Chỉ còn lại
tiếng thơ của Hàn Mặc Tử, không cần dẫn chứng dài dòng, và không cần
phải chọn nhiều bài thơ khác của Hàn Mặc Tử, chỉ cần thọ, trì, đọc,
tụng một bài thơ duy nhất này của Hàn Mặc Tử thì đủ thấy “cái thơ
trên cái thơ khác nữa”:
I.
Chửa gặp nhau mà đã biệt ly
Hồn anh theo dõi bóng em đi
Hồn anh sẽ nhập trong luồng gió
Lưu luyến bên em chẳng nói gì
II.
Thơ em cũng giống lòng em vậy
Là nghĩa thơm tho như ánh trăng
Mềm mại như lời tơ liễu rủ
Âm thầm trong áng gió băn khoăn
III.
Anh đã ngâm và đã thuộc làu
Cả người rung động bởi thương đau
Bởi vì mê mẩn vì khoan khoái
Anh cắn lời thơ để máu trào
IV.
Lời thơ ngậm cứng không rền rĩ
Mà máu tim anh vọt láng lai
Thơ ở trong lòng reo chẳng ngớt
Tiếng vang tha thiết dội khắp nơi
V.
Em đã nghe qua em đã hay
Tình anh sao phải chứng mê say
Anh điên anh nói như người dại
Vạn lạy không gian xóa những ngày
VI.
Những ngày đau khổ nhuộm buồn thiu
Những áng mây lam cuốn dập dìu
Những mảnh nhạc vàng rơi lả tả
Những niềm run rẩy của đêm yêu
VII.
Anh đứng cách xa hàng thế giới
Lặng nhìn trong mộng miệng em cười
Em cười anh cũng cười theo nữa
Để nhắn hồn em đã tới nơi
(Hàn
Mặc Tử, Lưu Luyến)
*
Ở phần đầu, tôi đã trích dẫn câu của Hàn Mặc Tử:
Con sông này đã
đi qua
Suốt đời ta thề không trở lại
Đoạn văn của Hàn Mặc Tử trước hai câu trên là:
“Nhà nghệ sĩ bao giờ cũng điên. Tài năng thì có giới hạn. Dám đem
tài mọn làm rộn nước mây. Sẽ bị mạng trời đánh ngã. Than ôi! Tài hoa
là một điều tai hại.” Hàn Mặc Tử gặp lại Nguyễn Du: “Trăm năm trong
cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc
bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng.” Hồi quang của Thơ là
thế, nhưng xuyên quang vẫn là Nguyễn Du: “Tưởng bây giờ là bao
giờ, rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao” hay thấu quang qua “nguồn
trong trẻo” (source diaphane) như Hàn Mặc Tử: “Anh đứng
cách xa hàng thế giới, lặng nhìn trong mộng miệng em cười”.
Nguyễn Du và Hàn Mặc Tử hai người “khách lạ”
chỉ cần để lại đời hai câu thơ giản dị như trên thôi thì chúng ta
cũng sẳn sàng van lạy thời gian xóa hết tất cả những bài thơ khác
trên mặt đất.
Long
Beach, California
P.C.T.