|
TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số 2 - VU LAN - PL. 2551
[MỤC LỤC]
Thánh quẢ Thanh Văn
Trong mẮt Kim Cang Bát-nhã
Thích Thái Hòa
Bốn Thánh quả Thanh
văn, trong đôi mắt Kim Cang Bát-nhã, ta thấy có những ý nghĩa độc đáo
như sau:
1. Thánh quả
Tu-đà-hoàn trong đôi mắt Bát-nhã:
Kinh văn:
“Hỡi Tu-bồ-đề! Thầy nghĩ như thế nào? Một vị
Tu-đà-hoàn có thể nghĩ rằng: Ta đã đắc quả Tu-đà-hoàn không?
Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn! Không. Vì sao?
Tu-đà-hoàn có nghĩa là đi vào dòng, nhưng thực ra không có dòng nào để
đi vào cả. Vì không đi vào các dòng sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp,
nên gọi là Tu-đà-hoàn”.
Tu-đà-hoàn quả =
須陀洹果
là phiên âm từ tiếng Phạn là:
Srotāpattiphalaṃ.
Hán dịch là
預
流果 = Dự lưu quả
hay 入
流
果 = Nhập lưu quả
hoặc 七
來
果 =
Thất lai quả.
Dự lưu hay Nhập lưu
là dự phần vào dòng dõi bậc Thánh hay
gia nhập dòng dõi của bậc Thánh.
Dự lưu quả là quả vị đầu tiên trong Bốn Thánh quả
thuộc Thanh Văn.
Thất lai quả là vị
Thánh đạt tới quả vị nầy, tâm thức còn có khả năng biểu hiện chất liệu
sinh tử bảy lần ở trong Dục giới.
Do tu tập Tứ Thánh
Đế hiện quán vị Thánh giả nầy loại trừ ba hạ phần kiết sử, gồm:
- Loại trừ thân kiến thủ:
Do quán chiếu mà
thấy rõ sự thật về khổ, về vô thường, về duyên khởi vô tự tính và vô ngã
của vạn hữu trong từng sát na sinh diệt của hiện tiền mà hành giả buông
bỏ những nhận thức sai lầm về tự ngã, không còn cho rằng:
“Thân năm uẩn này là tôi, là của tôi. Tôi là như
thế này, là như thế kia,… Nên, gọi là buông bỏ thân kiến thủ”.
- Loại trừ nghi:
Do quán chiếu thấy rõ sự thật của Khổ, Tập, Diệt và
Đạo, đúng như lời Phật dạy, nên hành giả đoạn trừ hết thảy tâm nghi ngờ
đối với Phật, Pháp, Tăng, không còn có sự do dự đối với các pháp hành
của Đức Phật đã dạy.
- Loại trừ giới cấm thủ:
Do quán chiếu thấy
rõ sự thật của Khổ, Tập, Diệt, Đạo, nên hành giả buông bỏ mọi điều răn
dạy và tin tưởng không phù hợp
với Thánh đạo. Nên, gọi là buông bỏ giới cấm thủ.
Do quán chiếu Tứ Thánh Đế hiện tiền và hành giả
loại trừ vĩnh viễn ba loại kiết sử này, nên được tham sự vào dòng dõi
của bậc Thánh, vững chãi tiến tới đời sống giải thoát và địa vị Toàn
Giác.
Bằng cách nhìn của
nhục nhãn (mắt phàm), ta có hai dòng sống:
Một dòng sống chảy
theo sinh tử hay dòng đời. Và một dòng sống chảy theo Thánh đạo.
Không đi theo dòng
đời mà quay sang sống theo dòng sống của Thánh đạo, gọi là
Dự lưu hay Nhập lưu.
Nhưng, bằng con mắt
của Bát-nhã, Ngài Tu-bồ-đề nói rằng: “Tu-đà-hoàn có nghĩa là đi
vào dòng, nhưng thực ra không có dòng nào để vào cả. Vì không đi vào các
dòng sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, nên gọi là Tu-đà-hoàn”.
Cách nói của Ngài
Tu-bồ-đề như thế là cách nói của Tuệ giác Bát-nhã.
Với Tuệ giác Bát-nhã, dòng đời hay dòng Thánh,
chúng chỉ là hai mặt biểu hiện của một tâm thức.
Dòng đời là sự biểu
hiện của tâm thức nhiễm ô bởi tham ái, nghi ngờ, chấp ngã, chấp vào
những
nhận thức sai lầm và tuân thủ những giáo
điều hủ tục.
Dòng đạo là sự biểu
hiện của tâm thức thanh tịnh, tâm thức không còn cất chứa những chất
liệu thân kiến thủ, nghi ngờ và giới cấm thủ nữa.
Ta buông bỏ mọi ý niệm về ngã, về nhân, về chúng
sanh, về thọ mạng, thì ngay đó là ta có tâm thức của bậc Thánh, ta có
dòng tâm thức của bậc Thánh, nên ngoài dòng tâm ấy, ta không cần có dòng
Thánh nào nữa để đi vào.
Bởi vậy, Ngài
Tu-bồ-đề mới nói:
“Tu-đà-hoàn có nghĩa là đi vào dòng mà thật ra
không có dòng nào để đi vào cả”.
Lại nữa, Ngài
Tu-bồ-đề còn nói:
“Không đi vào các dòng sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, nên gọi là
Tu-đà-hoàn”.
Nghĩa của nó là thế nào?
Sắc, thanh, hương,
vị, xúc và pháp, thuật ngữ chuyên môn của Phật học gọi là “lục trần”,
tức là sáu loại bụi đời.
Sáu loại bụi đời có
thể chảy vào tâm thức chúng ta qua sáu cửa ngõ giác quan, làm thức ăn
cho các tham ái, khiến cho dòng tâm linh vốn thanh tịnh của chúng ta bị
vẩn đục.
Vì vậy, bậc Thánh
Dự lưu không đi vào dòng chảy của “lục trần” ấy. Các Ngài chỉ phòng hộ
sáu quan năng, dừng lại mọi ý nghĩ, không đi theo dòng chảy ấy, là tức
khắc dòng sông tâm linh thanh
trong, tươi mát hiện ra, nên Ngài
Tu-bồ-đề mới nói:
“Không đi vào các dòng sắc, thanh, hương, vị,
xúc và pháp, nên gọi là Tu-đà-hoàn”.
Như vậy, cách thấy
và nói của Ngài Tu-bồ-đề về Thánh quả Dự lưu là cách thấy và nói từ Tuệ
giác Bát-nhã.
Và chỉ có cách thấy và cách nói ấy, mới
là cách nói và cách thấy chính xác đối với Thánh quả dự lưu.
2. Thánh quả Tư-đà-hàm trong đôi mắt Bát-nhã:
Kinh văn:
“Hỡi Tu-bồ-đề! Thầy nghĩ như thế nào? Một vị
Tư-đà-hàm có thể nghĩ rằng: Ta đã đắc quả Tư-đà-hàm không?
Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn! Không. Vì sao?
Tư-đà-hàm là một lần đi và một lần trở lại, nhưng thực ra không có đi và
trở lại gì cả, nên gọi là Tư-đà-hàm”.
Tư-đà-hàm quả =
斯陀含果
là phiên âm từ chữ
Sakṛdāgāmi-phalaṃ của Phạn. Hán dịch
là 一
來
果 =
Nhất lai quả, nghĩa là tu tập đạt đến
quả vị này, còn phải trở lại một lần ở trong Dục giới.
Hành giả do loại
trừ hẳn thân kiến thủ,
nghi, giới cấm thủ và làm yếu liệt hai kiết sử tham lam và sân
hận, nên thành tựu phẩm tính
của bậc Thánh Tư-đà-hàm.
Nên, Ngài Tu-bồ-đề
nói: “Tư-đà-hàm có nghĩa là một lần đi và một lần trở lại, mà
thực ra không có một lần đi và một lần trở lại nào cả, nên gọi là
Tư-đà-hàm”.
Cái đi mà đi là do
có hành động đi, có hành động đi là do có ý chí muốn đi, như vậy cái đi
không thể tự đi, mà chúng đi trong một dòng chảy của nhân duyên không tự
thể.
Bản tính của nhân
duyên là Không.
Nên, trong bản tính ấy, không có cái đến, không có cái đi; không có cái
sinh và cũng không có cái diệt.
Bởi vậy, mọi hiện
hữu khi hội đủ nhân duyên, thì nó biểu hiện và khi nhân duyên ly tán,
thì nó ẩn tàng.
Cũng vậy, vị Thánh
giả Tư-đà-hàm, khi tâm thức vắng bặt các hạt giống thân kiến thủ, nghi,
giới cấm thủ và các hạt giống tham ái, sân hận yếu liệt, thì phẩm tính
giải thoát của bậc Thánh Tư-đà-hàm từ nơi tâm thức tự biểu hiện, và
những phẩm
chất nơi tâm của vị ấy tự chuyển hóa
sang Thánh chất.
Vì vậy, Ngài
Tu-bồ-đề nói: “Tư-đà-hàm là một lần đi và một lần trở lại, mà
thực ra không có một sự đi hay một sự trở lại nào cả”.
Do đó, không có sự đi hay sự trở lại nào cả, mà chỉ
có sự biểu hiện hay ẩn tàng của những hạt giống tham ái, sân hận và các
chấp thủ nơi tâm thức vị ấy. Và vì vậy, ở Kim Cang Bát-nhã, Ngài
Tu-bồ-đề gọi vị ấy là Tư-đà-hàm.
3. Thánh giả A-na-hàm trong đôi mắt Bát-nhã:
“Hỡi Tu-bồ-đề! Thầy
nghĩ như thế nào? Một vị A-na-hàm có thể nghĩ rằng: Ta đã đắc quả
A-na-hàm không?
Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn! Không. Vì sao?
A-na-hàm có nghĩa là không còn trở lại, nhưng thực ra không phải là
không trở lại, nên gọi là A-na-hàm”.
A-na-hàm quả =
阿
那
含
果
là phiên âm từ chữ Anāgāmiphalaṃ
của tiếng Phạn. Hán dịch là
不
來果 =
Bất lai quả; nghĩa là vị Thánh đạt tới
quả vị giải thoát không còn trở lại ở trong Dục giới nữa.
Hành giả do tu tập Tứ Thánh Đế hiện quán đoạn trừ
hoàn toàn năm hạ phần kiết sử gồm: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham
dục và sân hận, nên thành tựu phẩm tính giải thoát của bậc Thánh
A-na-hàm. Nghĩa là khi hành giả thành tựu phẩm chất của vị Thánh này,
thì không còn trở lại trong cõi Dục giới nữa, mà lưu trú ở cõi trời Sắc
giới, tiếp tục tu tập đoạn trừ sắc ái và vô sắc ái để tiến tới địa vị
giải thoát sinh tử của vị A-la-hán.
Thánh giả A-na-hàm, tuy đã đoạn trừ năm hạ phần
kiết sử thuộc Dục giới, nhưng trong tâm thức của họ vẫn còn những chất
liệu của sắc ái và vô sắc ái, họ vẫn chưa vượt thoát khỏi sinh tử của
hai thế giới này, nên Ngài Tu-bồ-đề nói: “Bạch Đức Thế Tôn! A-na-hàm
có nghĩa là không còn trở lại, nhưng thực ra không phải là không trở
lại, nên gọi là A-na-hàm”.
Câu nói này của
Ngài Tu-bồ-đề, theo bản tiếng Phạn ta có: “Na
hi sa bhagavan kaścid dharmo yo’nāgāmitvam āpannaḥ / Tenocyate anāgāmīti
//”.
Nghĩa là:
“Bạch Thế Tôn! Không có pháp gì đi
mà không trở lại, nên gọi là A-na-hàm”.
Thánh giả A-na-hàm tu tập, tuy đã đi ra khỏi tâm
thức Dục giới, nhưng vẫn đang còn bị trói ở trong nhân duyên của tâm
thức Sắc giới và Vô sắc giới, nên việc Thánh giả A-na-hàm không còn trở
lại là không còn trở lại với đời sống thuộc tâm thức Dục giới, nhưng vẫn
còn trực diện và lại tiếp tục chuyển hóa với những hạt giống thuộc tâm
thức Sắc giới và Vô sắc giới.
Nên, Ngài Tu-bồ-đề
đã nói: “A-na-hàm có nghĩa là không còn trở lại, nhưng thực ra không
phải là không trở lại”.
4. Thánh giả
A-la-hán trong đôi mắt Kim Cang Bát-nhã:
“Hỡi Tu-bồ-đề! Thầy
nghĩ như thế nào? Một vị A-la-hán có thể nghĩ rằng: Ta đã đắc đạo
A-la-hán
không?
Tu-bồ-đề thưa: Bạch
Thế Tôn! Không. Vì sao? Vì thực ra không có pháp nào tên là A-la-hán.
Bạch Thế Tôn! Nếu
vị A-la-hán khởi lên ý niệm rằng: Ta đã đắc quả A-la-hán, là chính vị ấy
còn mắc kẹt vào ngã, nhân, chúng sanh và thọ mạng.
Bạch Thế Tôn! Ngài
nói trong những người đạt được Thiền định bất tranh,
con là số một và con cũng là vị A-la-hán ly dục số một.
Bạch Thế Tôn! Con
không nghĩ rằng, con là vị A-la-hán ly dục.
Bạch Thế Tôn! Nếu
con còn nghĩ rằng, con đã đắc đạo A-la-hán, thì Ngài không nói Tu-bồ-đề
là người thích hạnh an tịnh; vì Tu-bồ-đề không còn khởi lên tâm hành
nào, nên Như Lai gọi con là người ưa sống trong hạnh an tịnh”.
A-la-hán =
阿羅漢
là phiên âm từ chữ
Arhat của Phạn ngữ. Hán dịch có ba
nghĩa:
- Sát tặc: Nghĩa là vị Thánh này có khả năng
giết sạch hết các loại giặc phiền não, sinh khởi do ngã chấp.
- Vô sanh:
Trong đời sống của vị Thánh này các loại vô minh và phiền não thuộc về
ngã chấp không còn sinh khởi trở lại ở trong tâm thức.
Nên, vị Thánh giả
này tự tại đối với phân đoạn sinh tử.
- Ứng cúng:
Do vị Thánh này có khả năng đoạn trừ các lậu hoặc đối với sinh tử trong
ba cõi, nên đời sống của vị ấy, ví như mảnh ruộng phì nhiêu, xứng đáng
cho chư Thiên và loài người kính lễ, phụng sự và gieo trồng phước đức vô
lậu.
Các Thánh giả từ
Tu-đà-hoàn đến
A-na-hàm, tuy đã đoạn trừ năm hạ
phần kiết sử gồm: tham dục, sân nhuế, nghi ngờ, thân kiến thủ,
giới cấm thủ, nhưng còn phải tiếp
tục tu tập để đoạn trừ năm thượng phần kiết sử thuộc về Sắc giới và Vô
sắc giới như:
“Hữu ái, vô hữu ái, kiêu mạn, trạo
cử và vô minh”.
Thánh giả do tu tập
Thánh đế hiện quán, không những đã đoạn tận dục ái mà còn đoạn tận sắc
ái và vô sắc ái, không những đoạn tận kiêu mạn mà còn đoạn tận ngã si,
ngã mạn, ngã ái và vô minh ái nữa.
Do đoạn tận hết thảy những loại phiền não ấy, mà
thành tựu phẩm chất của vị Thánh A-la-hán, sống an nhiên và tự tại giữa
phân đoạn sinh tử.
Đức Thế Tôn hỏi
Ngài Tu-bồ-đề rằng: “tat
kiṃ manyase Subhūte api nu arhata evaṃ bhavati mayā arhattvaṃ prāptaṃ
iti? Subhūtỉr āha. Nohīdaṃ bhagavan / nārhata evaṃ bhavati mayā
arhattvaṃ prāptam iti / tat kasya hetoḥ? Na hi sa bhagavan kaścid dharmo
yo’rhannāma / Tenoeyate – arhanniti / = Nầy Subhūti, Người nghĩ như thế
nào? Một vị A-la-hán có thể nghĩ rằng: Ta đã đắc đạo A-la-hán không?
Ngài Subhūti thưa: Dạ không. Không một vị
A-la-hán nào nghĩ rằng, ta đắc quả A-la-hán. Bạch Thế Tôn, Vì sao? Vì
thực ra không có pháp nào tên là A-la-hán cả. Nên, mới gọi là A-la-hán”.
Tên gọi của các vị Thánh giả Thanh Văn nêu lên khác
nhau, là do khả năng chuyển hóa phiền não và mức độ an tịnh sâu cạn của
tâm, vì vậy mà không có pháp nào nhất định là pháp của Tư đà hoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm và ngay cả A-la-hán.
Tự tánh của tâm vốn
thanh tịnh, không sanh diệt, ta không thể gọi nó là gì và ta không thể
diễn tả nó là gì trong ý niệm và ngôn ngữ quy ước.
Tánh ấy của tâm xưa
nay vốn vậy, tại Thánh không tăng, tại phàm không giảm, càng Thiền quán
sâu sắc, tâm càng an tịnh, thì tính ấy hiện ra một cách tự nhiên, nên
đối với tính ấy, chẳng có gì là được, là không được; chẳng có gì là đạo,
chẳng có gì là phi đạo; chẳng có gì là A-la-hán và chẳng có gì là phi
A-la-hán, bởi vậy mà Ngài Tu-bồ-đề, bằng Tuệ giác Bát-nhã đã nói:
“Không có pháp nào tên A-la-hán cả”.
Thực ra, A-la-hán
là tên mượn để gọi một vị tu tập đã đạt tới tâm thức vắng lặng, không
còn khởi lên và không còn bị ảnh hưởng bởi những ý niệm về ngã, và tên
gọi ấy chỉ thích ứng cho vị nào,
khi tâm thức
của vị ấy không còn khởi lên bất
cứ cái ý niệm nào về ngã.
Và trong quá trình
thành tựu đời sống giải thoát và giác ngộ, phẩm tính A-la-hán không thể
tồn tại cá biệt, mà nó tồn tại trong sự gắn liền với các phẩm tính giác
ngộ như: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn
Sư, Phật - Thế Tôn.
A-la-hán gắn liền với tất cả chất liệu của tâm Toàn
Giác như thế, nên không có một tên gọi A-la-hán nào cá biệt. Nếu có một
tên gọi A-la-hán nào cá biệt với tâm Toàn Giác, thì đó không phải là tên
gọi A-la-hán đích thực.
Bởi vậy, Tôn giả
Tu-bồ-đề đã trả lời với Đức Thế Tôn, khi được Ngài hỏi rằng:
“Này Tu-bồ-đề, người nghĩ như thế nào? Một vị
A-la-hán có thể nghĩ rằng: Ta đã đắc đạo A-la-hán không?
Ngài Tu-bồ-đề, thưa không. Vì không có pháp nào
tên là A-la-hán cả”.
Như vậy, các Thánh quả Thanh Văn đã được Tôn giả
Tu-bồ-đề giải trình với Đức Thế Tôn bằng Tuệ giác Kim Cang Bát-nhã.
Với tuệ giác này,
Tôn giả Tu-bồ-đề đã chặt đứt mọi lạm dụng ý niệm và danh ngôn, đưa ta đi
thẳng vào tự tánh giác ngộ.
Đó là ý nghĩa Thánh quả Thanh văn trong con mắt của
Tuệ giác Kim Cang.
T.T.H.
|