TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC PHÁP LUÂN
Số 2 - VU LAN - PL. 2551
[MỤC LỤC]

 

LÝ-SỰ VÀ LÝ-LÝ:
TRONG NỘI DUNG PHÁP GIỚI HOA NGHIÊM

(THỬ THIẾT ĐỊNH TẦNG PHÁP GIỚI THỨ NĂM)


Tâm Tịnh.

 

Nhất thiết pháp không” (Sarvadharmāsunyatā) có nghĩa rằng các pháp vô tự tính (Nihsvabhāva), tánh của hết thảy các pháp đều không. Tiền đề nầy của Trung Quán rõ ràng bao hàm tiến trình duyên khởi, làm cơ sở cho sự hỗ nhập, hỗ tức giữa hai trật tự: Tuyệt đối và Hiện tượng. Pháp Tạng, đệ tam tổ tông Hoa Nghiêm, một nhà Đại thừa chính thống và là một môn đồ tuyệt hảo của giáo lý Học thuyết không (Sânyatāvāda), đã xuất sắc lý giải khi quy về Lý và Sự: Nói rằng, các pháp một mặt hoàn toàn bị chi phối bởi luật tắc vô thường, hữu hạn và phàm tục; Mặt khác đương thể chúng là không, là chân như. Xuyên qua tiến trình hòa hiệp giữa hai mặt, hiện khởi đồng thời (tức câu khởi), đầy đủ, châu khắp và vô hạn thành một nhất thể, hỗ tương giao thiệp, không có mâu thuẩn giữa tác động duyên khởi (hay Lý tánh vô thường) và Lý tánh Không của các pháp ở ngay trên nền tảng vô trụ chấp, cả về phương diện hiện tượng, viễn ly thuộc cảnh giới siêu việt. Chỗ gọi là Chơn- Vọng hòa hợp, một trạng thái tồn tại hiện khởi tuy là “Như thế”, nhưng không rời phàm tục (Hiện tượng) gọi là Như lai tạng mà Pháp Tạng đồng hóa với Nhất Tâm. Từ trong kinh Thắng Man cũng có thể thấy được điều nầy. Sự hợp thành nhất thể, Nhất pháp giới, trên cơ sở quan niệm về Như Lai tạng, được xác định là “thậm thâm nghĩa là Đệ nhất nghĩa đế... là chúng sinh giới... là Như Lai tạng... là Pháp Thân”.[1]

Thực vậy, nhìn từ trên lăng kính của Như lai Tạng và Trung quán (2 trong 4 loại đặc thù của Phật học theo quan điểm phân chia của Pháp Tạng trong luận giải Đại Thừa Khởi Tín), vì pháp không tánh, tức vô tự tánh trên nền tảng duyên khởi, nên sự đồng thời hiện khởi và cộng đồng hiện hữu của chúng (các pháp), hợp thành một nhất thể hỗ tương, giao thiệp, y trên duyên sinh, nhưng hoàn toàn không ngăn ngại với tánh không của chúng. Nghĩa là sự tương duyên tương hữu hay từ duyên khởi đến sự tồn sinh của hiện thể tức tánh không và pháp hữu. Pháp Tạng đã y cứ vào nghĩa nầy xây dựng cơ sở cho lý tắc “Lý Sự Vô ngại”, tại đó, Lý, Sự chính là hai mặt của hiện thể hiện hữu trong thế giới trần tục, phi mâu thuẫn trên mọi mặt, dù là hữu hạn hay vô hạn, dù là một hay tất cả nhưng vẫn xu hướng về Đệ Nhất Nghĩa Đế. Ý nầy cũng đã được kinh Thắng Man dẫn trên Không Tánh và quy về trí Như Lai rằng “Trí của Như Lai Tạng[2] là Trí của Như lai về Không tính. Nói cho gọn theo Bát Nhã, tướng không của các pháp ấy vốn không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng không giảm...” (Hrdaya: ... Sarvadharmāh, sânyatā laksanā, anutpanannā anirudhā amalā na vimalānonā paripârnāh).[3]

Nhất Tâm hay Pháp giới hay Như lai tạng, theo minh họa của giáo lý  luận Đại Thừa Khởi Tín, thời có hai tướng: Chân Như (thể tánh Chân tâm thanh tịnh) và tướng Nhân duyên sinh diệt, nêu biểu cho thể, tướng, dụng của chơn vọng hòa hợp. Như vậy, cứ vào quan điểm chủ yếu của Trung Quán (tức quan điểm các pháp Vô tự tánh hay Không tánh) quy về Như Lai Tạng (chủ yếu là giáo lý Đại Thừa Khơi Tín Luận, Lăng Già, Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tính Luận) Pháp Tạng coi “Giáo lý Như lai Tạng là giáo lý về Lý-Sự viên dung”.

Về thể tính, Pháp giới Lý Sự vô ngại được dựa trên tính đồng nhất của các pháp hiện hữu (hay pháp hữu) và tánh không, một giáo lý nền tảng cho tất cả các Tông phái của Phật giáo Đại thừa. Sự hiện thực pháp giới nầy chiếm vào tầng thứ ba trong năm tầng được triển khai và được vạch ra  trong “Hoa Nghiêm Ngũ giáo Chỉ Quán” của Đỗ Thuận, mà chi tiết được rút ra từ nội dung của mười phép quán trong “Pháp giới Quán” của ngài (The reality-realm of mutual noninterference of noumenon and phenomena in essence refers to the identity of existence and emtiness, a teaching fundemantal to all the universalist (Mahāyāna) school of Buddhism. Realization of this realm occupies the third of five stages of development outlined in Tu Shun’s “Cessation and contemplation in the Five Teachings of Hua-yen” and is considered in detail, from ten points of view, in Tu Shun’s “Contemplation of the Reality-Realm”). (Entry Into The Inconceivable - An Introduction to Hua-Yen Buddhism, Thomas Cleary, edition 1983, p. 24)

PHÁP GIỚI QUÁN HAY MƯỜI PHÉP QUÁN LÝ SỰ VÔ NGẠI CỦA ĐỖ THUẬN.

Đỗ Thuận, khai tổ của Hoa Nghiêm Tông, dựa trên cơ sở “Pháp giới là Pháp thân thường trụ, sở y thường hằng, bất biến, nơi nương tựa chân thật cho tất cả chúng sinh, làm nguyên lý duy trì và xuất sinh mọi hiện tượng” làm cơ sở để hình thành quan niệm về bốn Pháp giới, được kế tục bổ xung cũng như quảng diễn bởi Trí Nghiễm và Pháp Tạng, để rồi thiết định chung cục được hoàn thành bởi Trừng Quán: Từ đó bốn cách nhìn Pháp giới được chuẩn định, phổ cập, đã làm sáng giá nội dung Hoa Nghiêm: Sự pháp giới, Lý pháp giới, Lý Sự vô ngại pháp giới và Sự Sự vô ngại pháp giới.

Trên cơ sở nầy, Whitehead nhận định, hiện hữu, trong nhãn kiến Hoa Nghiêm, hàm nghĩa sử dụng tác động nhân quả, mà mỗi pháp từ nguyên tử cho đến chính tự thân vũ trụ đều hoạt động như là nguyên nhân cho mọi pháp khác nghĩa là mọi “hiện hữu tại tồn” hay thực tại đều là sản phẩm của các nguyên nhân trước và tự nó là một nguyên nhân cho thực tại theo sau. Nhãn quan Hoa Nghiêm là pháp nhãn hay nhãn kiến trực giác chìm đắm trong một đại định đặc biệt và toàn vẹn trong khả năng hiển bày toàn thể chân lý, gọi là Hải Ấn Tam Muội (Sagara-Mudra Samādhi), giống như hình ảnh trong biển cả, chính là pháp giới được mô tả trên toàn thể qua nội dung giác ngộ của đức Phật, như là một sinh thể của những thành phần tương tức và tương dung trong tương quan mắt xích nhân quả vô cùng vô tận. Điều chắc rằng, với các tổ Hoa Nghiêm tông, khởi từ những gì Phật dạy về Tánh không, đặc biệt phát triển quan niệm bốn pháp giới và được Trừng Quán hoàn chỉnh. Vấn đề là vì Pháp giới nầy là sản phẩm của Tam muội, với khả năng độc hữu, thâm sâu  của loại tam muội nầy, có thể hiển bày vô ngại chân lý của đồng nhất- tương nhập và pháp duyên sinh, có nghĩa rằng, lập trường thiết định  bốn pháp giới dựa vào sở y của Hoa Nghiêm Tông, nhãn quan hướng từ tuyệt đối xuống. Chỗ nầy, theo nhận định của Francis H. Cook, thời nguồn gốc cao cấp của nhãn kiến Hoa Nghiêm không sẵn sàng cho hầu hết chúng ta, những người vẫn còn liên tục sai lầm, tán loạn, sợ hãi và khổ đau dưới áp lực khống chế của vô minh.

Thực ra, chúng ta có thể rút ra từ giáo lý Phật, rằng nếu nhìn từ mặt tương đối, một thế giới có tính cá biệt (vastu), mọi thi thiết, sinh khởi, chuyển động biểu hiện như những biến cố không ngoài cái “Tâm thanh Tịnh”, viễn ly trần cấu, tịch tĩnh vô nhiễm, như mặt đại hải hoàn toàn yên lặng, không bị xao động bởi gió, trong sáng, không một hình ảnh đơn lẻ nào mà không được hiển bày trên mặt của nó, gọi là Pháp giới. Pháp giới nầy tuyệt không có giới hạn, vô biên tế, không cùng không tận, giống như được trang nghiêm bằng hoa, bằng một thứ nghệ thuật tuyệt mỹ, bất khả tư nghị. Cái mà Hoa Nghiêm gọi là Gandha, là một pháp giới hoàn toàn tự nhiên, như đã nói, vượt qua mọi giới hạn, tức vượt qua “thế” (Loka). “Thế dung nhập vào Pháp” tức “Loka nhiếp nhập vào Dharma”, Thế và Pháp bất tương ly, không rời  Dhatu (tức là giới, là cái phân biệt). Như vậy, Pháp giới hiện khởi cách nầy, không tách biệt khỏi thế giới nhưng cũng không ra ngoài mạng lưới duyên sinh trùng trùng vô tận, bao gồm mọi sự vật trong vũ trụ vô biên, cho nên Pháp giới cũng chính là thế giới và cảnh giới của nó chỉ và chỉ thị hiện trong nhãn quan không ô nhiễm, hoàn toàn thanh tịnh, đó cũng là yếu tính của viên dung tính, vô ngại tính. Do đó, một thế giới gọi là “như vậy”, là thế giới hiện thực, thực tiễn... trong cách thế như vậy; Pháp giới hiện khởi từ sự hỗ dung, hỗ tức (biểu hiện vô ngại tính) giữa “Vọng và Chơn”, giữa “Tánh không và  Duyên khởi”. Nói gọn, tức giữa Lý và Sự.

Thầy Nhất Hạnh có kể lại một câu chuyện rất lý thú. Theo đó, chúng ta có thể, một cách tương đối, đơn giản hiểu được sự dung nhập giữa Thế giới (Loka dhatu) và Pháp giới (Dharma dhatu). Chuyện kể về cuộc gặp gỡ giữa một cậu bé và một chú tiểu. Cả hai hẹn nhau vào một buổi sáng trước cổng tam quan chùa. Như mọi khi, chú tiểu thường ngồi trước cổng để đợi bạn, nhưng sáng hôm nay, bầu trời mùa thu không mây, nắng sáng chan hòa, khi tới cổng chùa, cậu bé không thấy chú tiểu đâu cả, cảnh trí lặng yên lạ thường, cỏ cây tươi mát, nhẹ nhàng, thơm mùi hoa nở, ánh sáng rực rỡ tuyệt trần, cậu bé chưa từng gặp bao giờ. Bên phải cậu bé, bây giờ là một rừng chồi xanh ngút ngàn, dưới chân cậu bé đầy những hoa thơm cỏ lạ, màu sắc chan hòa trong ánh nắng mai trải dài vô tận. Cậu bé sung sướng chạy nhảy tung tăng bỏ quên cả thời gian, càng lúc càng đi sâu vào trong khung cảnh tuyệt sắc. Bỗng dưng cậu nhớ lại giờ hẹn với chú tiểu, vụt quay trở lại thì cậu gặp phải một bờ đất, bèn nhanh chân nhảy lên. Rừng cây biến mất, con đường đất lồi lõm hiện ra trải dài tới cổng . Chú tiểu đang ngồi ở đằng kia, trên một tảng đá, cũng vừa xuất định. Tình tiết càng kỳ thú hơn ở chỗ cậu bé khi nhảy lên bờ đất xong, thời mới phát hiện là mình trong lúc lung túng đã đánh rơi một chiếc giày trong rừng chồi từ lúc nào. Câu chuyện dẫn cho thấy một ý niệm dung nhiếp tuyệt hảo giữa Thế giới và Pháp giới và hóa ra cậu bé đã lang thang vào trong pháp giới khi tình cờ bước vào cái định của chú tiểu. Nhưng khi tâm cậu bé giao động, thì pháp giới thu về thế giới, thế giới của duyên sinh đầy sai biệt. Cho nên trong mạng lưới duyên sinh đó, thế giới và pháp giới hiện hữu và dung nạp, dung nhiếp đầy đủ, vô ngại như mặt nước trong, trừng lặng, không một gợn sóng thức dấy khởi. Tuy phẳng lặng như tờ nhưng rõ ràng, minh liễu, sinh động không cùng không tận. 

Như trên đã dẫn, Sự Pháp giới bao dung tất cả các pháp thế gian, mọi sự mọi vật trong vũ trụ vô cùng tận xuyên suốt cả thời không. Điểm nầy, đã được Hồng Dương tỉ mỉ phân tích. Lý Pháp giới hay thế giới của lý tắc, chính là thực tại cứu cánh, chu biến, hàm dung bao trùm hết thảy các pháp thế và xuất thế gian, không ra ngoài những trật tự, những nguyên lý trừu tượng, các định luật chi phối sự hiện khởi và vận hành của sự vật và biến cố. Nói Lý tức nói Pháp tánh, pháp giới tánh, chân như tánh. Nói lý nhất tâm tức nói chân lý thật tánh hay thể tánh chân thật của tất cả các pháp. Hết thảy các pháp trong vũ trụ vô tận đều cùng một thể tánh, thể tánh nầy dung thông không ngại. Nói Sự, biểu tượng của Lý tức hiện tướng của lý tánh. Lý Sự hợp nhất, vô ngại, bất tương ly, hỗ tức, hỗ nhập, đồng nhất, bất nhị cũng là giáo lý Nhất thể của Đại thừa Chung giáo. Như đã nói ở trên, tam tổ Hoa Nghiêm Pháp Tạng từ chỗ nầy mà quy Lý Sự  vào giáo lý Như lai tạng.[4]

Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chỉ Quán của Đỗ Thuận đề cập tới sự đồng nhất hay tương tức của Pháp hữu (sự hiện hữu tồn tại) và Tánh không. Tại đó các pháp không có cố hữu tính, không tuyệt đối. Sự sinh khởi hay tồn tại của các pháp hoàn toàn không trái nghịch với tánh không của chúng, như trước đã nói, xuất sinh từ nền tảng của vô tượng, thị hiện trực tiếp ngay trong kinh nghiệm. Điều nầy, rõ ràng có thể thấy được Tánh không triệt để viễn ly trần cấu, tịch tĩnh, vô nhiẽm ở ngoài quan kiến trần tục, như trước cũng đã xác định là cơ sở của sự Viên dung Nhất thể. Bởi vì nếu bất kỳ một pháp nào không phải là không, có nghĩa rằng nó hiện hữu cố nhiên, không thuộc về quan hệ nhân quả, thời pháp ấy đúng là một phi thực thể (không có). Cho tới hình ảnh của cái gọi là pháp, được Pháp Tạng vẽ ra, vô cùng sinh động, đó là cách mà các pháp tồn tại. Nếu được nhìn trên quan điểm của thể trong tính chất tĩnh thời các pháp đồng nhất trong tính không của chúng; nếu được nhìn trên quan điểm của dụng trong tính chất động, thời các pháp tương nhập liên quan đến dị thể trong trường tác động của duyên sinh. Sự triển khai bổ xung của Pháp Tạng đã làm đậm nét thêm cho Ngũ Giáo Chỉ Quán của sơ tổ Hoa Nghiêm tông, Đỗ Thuận.

Sự hiện chứng của Lý sự vô ngại thuộc tầng thứ ba trong 5 tầng chia làm mười mặt cho mười phép quán được phác thảo bởi Đỗ Thuận và được tóm tắt như sau:

Thứ nhất: Lý bao hàm sự (hay lý sự viên dung): Tánh không duyên khởi có mặt nơi các pháp. Cũng có nghĩa là tánh không của một sự và tánh không của tất cả mọi sự đều đồng nhất cho nên hòa hiệp nhau.

Thứ hai: Sự bao hàm Lý (hay sự dung thông lý), có nghĩa là lý nơi bất kỳ cá biệt nào của một sự đều tương đồng với lý nơi tất cả các sự. Bởi lý vốn ở nơi tất cả mọi pháp, đồng bao quát với toàn thể pháp giới cũng như không gian cực vi trong một nguyên tử vốn là một với toàn thể không gian; cũng tương tợ như lý vô thường nơi một pháp cũng là lý vô thường nơi tất cả các pháp.

Thứ Ba: Sự y vào Lý mà hiện khởi, phép nầy y vào đặc tính không có yếu tính quyết định của sự vật hiện hữu. Bởi một khi, sự vật đã là tự có và tuyệt đối thời không thể nương vào bất cứ cái gì khác nó. Do ở ở trong nhân duyên, một sự vật nếu có tự tính thời không thể tồn tại. Ngài Long thọ nói: Dĩ thử không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành (Do không hay không tánh mà tất cả các pháp đều thành tựu hợp lý).

Thứ tư: Do Sự mà Lý được hiển bày. Khi Lý Sự nhiếp nhập, thời “Sự” hóa “không” (gọi là ẩn), và Lý hiển bài (gọi là Hiện). Như tính vô thường ẩn trong các pháp.

Thứ năm: Do Lý mà Lìa bỏ Sự. Về mặt thể, có thể vượt qua sự chấp trước về tướng. Như dòng chảy đơn nhất của vô thường đi qua đời người, một chuỗi riêng biệt về sự  hay những hệ quả, những cảm thức xuất sinh từ vô thường, có thể bị xóa bỏ mà ta chỉ thấy chúng sinh vốn từ từ đi vào cõi chết.

Thứ sáu: Lý có thể bị che lấp bởi Sự. Dáng vẻ bên ngoài của các pháp có thể che mờ Lý. Như kinh nói, tất cả chúng sinh đều có tri kiến Phật nhưng vì đắm chấp và ảo tưởng, nói chung, vì vô minh che lấp nên họ không ý thức được 

Thứ bảy: Lý đồng nhất Sự . Như Sóng là nước. Sóng và nước đồng nhất. Có nghĩa rằng Lý không ở ngoài các pháp (Sự). Điều nầy cũng hàm ý, “Tánh không” không hề có sự tồn tại của riêng nó, chỉ là tương đối tính hay lý duyên sanh của các pháp hiện hữu tồn tại.

Thứ tám: Sự đồng nhất Lý. Sóng tức là nước. Cái một dung nhập vào cái tất cả. Như nhà bao hàm cột. Như “Sự” hay pháp, thành tựu qua duyên sinh là sản phẩm của các nhân và duyên, không tự hữu, không tự tính, cũng không có thực tính riêng nghĩa là đồng nhất với Tánh Không

Thứ chín: Lý không phải là Sự. Nước không phải là sóng. Nhà không phải là cột. Có nhà là có cột. Như Tánh không đích thực là tánh không, không phải là tướng của sắc pháp. Cũng như bề ngoài của các pháp là hư vọng, thể tánh của hư vọng là Tánh Không. Nhưng Tánh không không phải là hư vọng.

Thứ mười: Sự không phải là Lý. Như cột không phải là nhà. Không cột nhà không thành. Nhưng cột không phải là nhà. Như các tướng hay hình dáng bề ngoài của pháp không phải là bản thể.

Hai phép quán sau cùng xét trên Lý và Sự, tuy là hai cực đoan nhưng trên nền tảng, chúng tương tự nhau, không đối chọi nhau. Trong toàn bộ mười mặt của vô ngại pháp giới, Lý, Sự tự thân là tương duyên, mặt nầy hàm ngụ mặt kia tương dung tương nhiếp nhau trong một nhất thể vô ngại.

Theo Đỗ Thuận, trí óc con người không thể nào hiểu được nguyên lý Lý Sự vô ngại, đúng như Francis. H. Cook đã nhận xét. Chỉ có thể phương tiện lĩnh hội qua thí dụ trên tương đối, toàn thể đại dương thị hiện trong một sóng, một sóng dung thông cả đại dương bao la. Trong dòng hiện khởi và dung nạp, đại dương không hề thu hẹp lại mà sóng nhỏ cũng không phồng lớn thêm. Lớn nhỏ tương nhiếp tương dung đồng thời. Đại dương tuy hiện khởi khắp tất cả sóng, nhưng không vì vậy mà đại dương phân tán thành nhiều. Chỗ nầy ngài Đỗ Thuận giải thích, đại dương là biểu tượng Lý và sóng là biểu tượng Sự. Bởi đại dương bất khả phân nên có thể chứa trong một sóng. Bởi Lý không thể bị chia cắt nên Lý bao la có thể chứa trong một sự. Cũng bởi một sóng đồng nhất với đại dương nên một sóng dung thông toàn thể đại dương. Bởi vi trần và Lý là một nên một vi trần có thể dung thông toàn lý, nên nói vũ trụ vạn hữu có thể đặt trên đầu của một hạt cải là vậy.

Để lý giải vấn đề,[5] thay vì sở y trên nhãn quan viên dung Hoa Nghiêm vượt thoát mọi khung ý niệm không gian và thời gian để đi tới chỗ gọi là thông suốt tính hỗ nhập, hỗ tức, bình đẳng bất nhị (kể cả các hạn tính nghịch đảo: đồng thời sinh khởi và hoại diệt, hợp tác và đối chọi, hòa hơp và phân cách...) trong tương giao toàn diện mà vị trí tương đối của cả Lý lẫn Sự  đều không bị phá hoại. Cho nên, Khi lập cước, Đỗ Thuận đã dựa trên thuyết Tánh Không (Sunyāta), hoàn toàn vượt ngoài mọi kiến chấp các pháp độc lập, có tự tính (Svabhāva) riêng biệt.

Nói cách khác, lập trường của Đỗ Thuận cho rằng trí óc con người thông thường dựa trên cơ sở phàm tục, bị lệ thuộc vào khung sinh diệt của thời gian và không gian. Phương pháp của ngài được quan sát trên cơ sở đồng dị qua hai cách nhìn. Thứ nhất nhìn Sự từ Lý theo 4 nguyên lý. a)- Lý không khác sự tức toàn lý an trú trong sự. b)- Lý Sự không đồng nhất, nên toàn lý trải rộng vô cùng tận. c)- Lý Sự phi nhất phi dị, nên Lý thể vô biên (dụ như toàn không gian) an trú trong một Sự (dụ như không gian trong một nguyên tử). d)- Lý Sự phi dị phi nhất, nên lý thể của một Sự (dụ như không gian trong một nguyên tử) là vô biên (là tất cả toàn không gian) và không phân hóa; Thứ hai, nhìn Lý từ Sự cũng theo 4 nguyên lý. a)- Sự Lý không khác, nên một Sự bao dung trong toàn Lý. b)- Sự Lý không đồng nhất, nên cá thể Sự (nguyên tử) không tổn hại. c)- Sự Lý phi nhất phi dị, nên một Sự (không gian trong một nguyên tử cực vi) bao trùm toàn thể vô hạn của Lý (Toàn không gian vô biên). d)- Sự Lý phi dị phi nhất, nên một Sự (nguyên tử cực vi) không trương dãn khi bao trùm Lý vô hạn. Tóm tắt, vì không khác nên một là tất cả; Vì không đồng nên tất cả là một (không tổn hại); Vì phi nhất nên một là tất cả (cái lớn không thu nhỏ); Vì phi dị nên tất cả là một (cái nhỏ không trương dãn).[6]  

Thực ra, từ khả tính viên dung vô ngại trong nhãn quan Hoa Nghiêm người ta có thể lý hội trên trong một cấp độ đơn giản nào đó, về cái “Một” và cái “Tất cả” (tức là Nhất và Nhất thiết) trên cả hai mặt Lý và Sự. Về phương diện tương đối, có thể hiểu một cách đơn giản qua hai câu chuyện được dẫn ra sau đây:

Khổng tử, một ngày nọ dẫn một đoàn đệ tử đến thăm một thác nước. Trên đỉnh thác bỗng xuất hiện một người thanh niên dường như chán đời, Khổng tử bảo với các đệ tử, một người chán đời sắp tự tử kia, các con hãy chờ giúp hắn vớt xác đem chôn. Quả thật từ giữa thác trên cao, hắn ta nhảy xuống. Đoàn đệ tử giăng hàng chờ vớt xác. Xác trôi lăn lộn xuống thác qua ghềnh, khi xuống gần đến đám người đang giăng ngang, người thanh niên kia đứng dậy vuốt tóc đến bái kiến trước mặt Khổng Tử. Khổng Tử vô cùng ngạc nhiên hỏi: “Ủa, tại sao ngươi không chết?” người kia đáp: “Thưa ngài, con không thể chết được”. Tại sao?- “Bạch ngài, khi con nhãy xuống thác, thời con với nước là một”. Đây thật là câu chuyện lý thú, không những chỉ ra cho chúng ta có thể hiểu được lý thể của cái đồng nhất giữa cái một và cái tất cả mà còn nhận hiểu một cách đơn giản về khả tính vô ngại của pháp giới nữa. Ý nghĩa rằng, cái “một” hay pháp đơn lẻ, trong mạng lưới nhân duyên tương tác với các pháp đơn lẻ khác, nội hàm một khả năng làm tăng thắng cho kết quả hay cái “tất cả”, đó là năng lực toàn thể, năng lực vô cùng sinh động trong tương quan nhân quả.

Một câu chuyện khác được dàn dựng trong cuốn phim có tựa đề là Samsara (Luân Hồi Sinh Tử) do giáo hội Phật giáo Tây Tạng hợp tác với một hãng phim tư nhân, nhằm lý giải về một khía cạnh đi tới giác ngộ trong tông mật thuộc Phật giáo Tây tạng, rằng“ Nơi nào con tiếp cận, thời con hãy từ chỗ đó mà hành”. Đây chính là chìa khóa dẫn đến pha triệt ngộ giáo lý “Một” là Tất cả, “Tất cả” là Một của Hoa Nghiêm.

Phim kể, một Lạt Ma trẻ tuổi tên Tashi được tìm thấy là đã nhập định từ lâu trong một động đá, khi được đánh thức cho xuất định và mang về Thánh địa Lhasa để tiếp tục giáo hóa. Con đường giác ngộ của Tashi được một bậc thầy phát hiện là vẫn còn có một sở chướng, đó là “Ái dục” (thuộc dục triền cái), một hạt giống còn đang ngủ ngầm, đang tác động âm ĩ nhưng vô cùng mãnh liệt bên trong tâm thức sâu thẳm của Tashi. Chính ái dục, một trong 12 mắt xích của 12 nhân duyên nầy không ngừng thúc động chúng sinh vào con đường luân hồi sinh tử, khổ đau tiếp nối vô cùng vô tận. Hạt giống nầy chỉ có thể phá vỡ, chỉ có thể làm cho nó tiêu nha bại chủng, khi lăn xả, chao lộn vào cuộc sống mới có thể giác ngộ. Kinh Hoa Nghiêm xác nhận, Phật pháp bất ly thế gian giác. Nghĩa là giác ngộ nằm ngay trong thế gian. Vị thầy vô cùng sáng suốt đã mở ra điều kiện (nhưng việc nầy, đối với tự thân Tashi có thể là một liều lĩnh vì nó còn tùy thuộc vào cấp độ tu tập mà Tashi sở đắc) để cho người đệ tử đi vào cuộc đời trước những trùng điệp khổ đau đang chực sẵn, những khát vọng đang ray rức khống chế nội tâm nhưng đó cũng là giai trình thiết yếu để giải minh cho công án được khắc trên đá đặt trên đường ngoài cổng tu viện: “Giữa lòng sinh diệt, làm thế nào giữ cho một giọt nước không bị tiêu pha?”. Khát ái thuộc yếu tố nữ tính, là biểu tượng của sự xung đột nội tâm vô cùng vi tế. Nhưng, tại đó cũng là giềng mối của giác ngộ nếu con người biết phản tỉnh triệt để sâu sắc về bản chất đích thực của nó. Quả thật, sự đau khổ đã đánh vào thức giác của một vị Lạt Ma khi mà cánh chim tung bay tuyệt vời trên bầu trời xanh mở ra vô biên vô tận, chính khả tính đánh thức con người từ sự đau khổ trước nguy cơ của sự lưu chuyển vô tận hiện thực giữa lòng đại dương sanh tử là một nhân tố tăng thắng, trong đó “Khổ đau” và “Giác ngộ” là pha tương ngộ ở chỗ cực điểm của giây phút tuyệt vời, lúc mà hoa trái của công án “giữ cho một giọt nước thường trụ” dâng hiến từ một nguồn chất liệu giác ngộ “hãy đem giọt nước nầy nhỏ vào lòng đại dương”. Một giọt nước dung nhập vào nước của tất cả đại dương, cũng như cái bi tâm nhỏ nhoi của một chúng sinh hòa nhập vào biển Đại Bi của chư Phật. Đây là cách đơn giản để hiểu để tiếp cận với giáo lý Lý Sự vô ngại của pháp giới Hoa Nghiêm bằng trí óc còn bị ràng buộc trong ô nhiễm, phàm tục. Nghĩa là hiểu và tiếp cận khởi từ tục đế, từ bờ mé phản diện của chân lý tuyệt đối. Chỗ nầy chính là chìa khóa mà Ngài Long Thọ đã mở cánh cửa khi bước vào Trung Quán.

Còn cơ sở lý giải của khai tổ Hoa Nghiêm tông, Đỗ Thuận và tiếp nối qua các đệ tử của Ngài như Trí Nghiễm, Pháp Tạng, Trừng Quán... soi vào pháp giới từ mặt chính diện (tức Chân đế). Nó vượt lên trên cấp độ bình thường. Nó đối mặt với nhãn quan phải được thiết định và phải được nhìn từ trên nền tảng của “Thực Tánh của Vạn Pháp”. Thực tế, đối với chúng sinh, với trí óc phàm tục, tất cả mọi diễn đạt về cái thấy, cái biết y vào thực tính vạn pháp đều là nghịch lý. Chính điểm then chốt nầy mà sau 21 ngày Hoa Nghiêm đức Thế Tôn đã mở bày 45 năm tuyên thuyết và chính ngài Long Thọ đã bén nhạy khi tập trung toàn tư tưởng để hình thành Biện Chứng Trung Quán của mình.

Tính sâu sắc của giáo pháp là đánh thức hạt giống giác ngộ nơi mỗi chúng sinh, đưa chúng sinh từ phàm tục (hay mặt phản diện của tuyệt đối) bước vào đại dương của chân lý giải thoát. Trên cơ sở nầy khả tính viên dung của nhãn quan Hoa Nghiêm quả thực là tối thiết yếu. Ngoi lên từ thực trạng đang là, dù vẫn còn đầy những vô minh tham ái, chồng chất những khổ đau hệ lụy nhưng thực tiễn và đích thực sinh động. Phật pháp không phải là cái gì từ trên cao phả xuống như là cái phải là. Bởi vì phật pháp không diễn tả cái phải là, mà Phật pháp khai thị thế là giải thoát, thế là không giải thoát và Phật pháp thị hiện ngay trong thế pháp. Con đường nhập pháp giới tham vấn cầu Bồ Tát đạo của Thiện Tài trong kinh Hoa Nghiêm, là con đường để thành tựu hậu đắc trí, cùng với tục đế bất tương ly.[7] Nghĩa là Hoa Nghiêm và 45 năm tuyên thuyết của đức Thế Tôn là một. Ngài Long Thọ đã để lại hậu bối chúng ta một pháp bảo vô giá mà chính ngày rút ra từ giáo pháp của đức Thế Tôn :   

Nếu không khởi từ Tục Đế   (Sự)

Không thể hiểu Chân Đế     (Lý)

Nếu không hiểu Chân Đế    (Lý-Sự)

Không thể thể nghiệm được Niết Bàn (Viên dung)

Nhược bất y tục đế

Bất đắc đệ nhất nghĩa

Bất đắc đệ nhất nghĩa

Tất bất đắc Niết Bàn

Quán Tứ Đế- Bài Tụng 10, Trung Quán Luận.        

(Câu 1 liên hệ về sự, câu 2 liên hệ về lý; câu I và 2 thuộc phạm trù của GIẢI. Câu 3 liên hệ về Lý-Sự ; thuộc phàm trù của HÀNH. Câu 4 liên hệ về CHÂN LÝ; thuộc phạm trù của CHỨNG).                                          

CÓ HAY KHÔNG CÓ TẦNG PHÁP GIỚI THỨ NĂM?

Dựa vào tính tương tức, tương nhập mà không hề có sự ngăn ngại hay hủy diệt lẫn nhau tức vô ngại tính giữa cái “Một” và cái “Tất cả” (hay giữa Sự và Lý), Pháp Tạng đã nêu ra được 10 pháp môn vô ngại.[8]

Thực ra, đời sống là một trường xung đột, là những pha tương tục đối đầu về Lý và hình thành cái gọi là “cá thể lý” trong thế giới sinh diệt, cho nên hệ lụy, cho nên tương quan giữa lý và lý mang tính xung đột luôn luôn có mặt trong thế tục, thế giới của chúng ta, vốn xuất sinh từ những mâu thuẩn nội tại ngay trong hoàn cảnh (tức y báo) và tự thân mỗi cá thể (tức chánh báo). Từ đó, chúng ta thử tìm hiểu xem có thể nào đạt tới một tính viên dung vô ngại giữa Lý><Lý[9] dưới một dạng thức nào đó hay không? Tất cả thế pháp, xét trên mặt nổi, mỗi mỗi đều ở trong một vị trí tương đối, kể cả cái gọi là Lý><Lý đang được đề cập ở đây, vì đối đãi, xung đột cho nên chúng được áo lên bằng những lớp tương đãi, thù hằn, đấu tranh, tham vọng. Vì thành tựu hay xuất sinh do nhân duyên hòa hợp, từ trong thế giới hư vọng, thế giới đầy mâu thuẩn, từ tâm thức ô nhiễm của cộng đồng, do đó, chúng là “pháp” làm nhân cho cái khổ ở trong thế giới phàm tục (tức thế pháp). Do vì đối đãi, vì hư vọng, vì mâu thuẩn cho nên chướng ngại và vì thế cho nên xung đột. Thật vậy, đây chính là nguyên nhân của những tình huống khổ đau, của thù hận, của thảm trạng chiến tranh, khủng bố, tàn sát lẫn nhau... đang xảy ra trên khắp thế giới hiện nay.

Pháp giới, theo quan điểm của Pháp Tạng, học giả Yusugi Ryòei nhận định, nếu đặt vào phạm trù không tính và soi sáng bằng tuệ giác, thời trong đó các pháp được nhìn qua nhãn quan của đồng nhất tính (hay tương tức) vì tính không và hiện hữu tồn tại, tự nhiên bẩm sinh hàm chứa tất cả các tính chất; ở một mặt khác, tức dị thể, từ một pháp đơn lẽ gọi là pháp nguyên nhân, do sự thu hút, chiếm đoạt các tính chất và năng lực của các pháp nhân duyên, vô hình trung hiện thực các tính hữu lực và vô lực[10] làm nổi bậc pháp nguyên nhân trong quá trình thành tựu kết quả, Pháp tạng gọi tiến trình nầy là sự tương nhập của các pháp hữu trên mặt dị thể. Đây là tính phụ thuộc của năng lực nhân quả. Do đó, để lý giải vấn đề trên cơ sở nầy, Pháp Tạng đưa ra khái niệm về tính tương nhập của các pháp tạo ra kết quả, tất cả mọi dị biệt được hóa giải toàn triệt, không có xung đột, không có sai khác cũng không hề chống đối nhau, mà chúng vô ngại tương nhập tương dung với  nhau. Cho nên, đối với cặp lý>< lý được thiết định, sự xung đột tuyệt đối phải được hóa giải ngay từ căn bản, ngay trong môi trường đầy hệ lụy, do tâm thức ô nhiễm cộng đồng đem lại. Phát biểu nầy hàm ý rằng, để đi tới chỗ đồng nhất trên mặt đồng thể và tương nhập trên mặt dị thể, chỉ có thể bằng cái “Tâm thanh tịnh” (Cittādrisyadhāra-visuddhi), bằng chất liệu “Đại bi” (Karunā) được thực tiễn tưới nhuận xuống cái thế giới vốn khổ đau, xung đột và đầy bất trắc trước mắt. Từ đó, chúng ta mới thấy được vì sao Đức Thế Tôn đã phải dành đến 22 trong 45 năm thuyết giảng về Bát Nhã. Đây có thể nói, là đã có một sự  chuyển hướng sâu sắc, đầy ý nghĩa và đầy trí tuệ của ngài trên lộ trình khai đạo với mục đích tối thượng là khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho tất cả chúng sinh, qua nội dung giác ngộ và sau khi ngài giảng kinh Hoa Nghiêm dưới cội Bồ đề. Khi đẩy mạnh bánh xe Chánh pháp, ngài đã y trên Tục Đế hiển bày Chân Đế, thay vì ngược lại. Điều nầy có nghĩa rằng, Phật tuyên nói 45 năm Chánh pháp, từ Tứ đế, A hàm, Phương đẳng... cho đến Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn, cũng chỉ là phương tiện quyền xảo do căn cơ bất đồng của chúng sinh. Bởi vì qua nội dung giác ngộ của ngài, ngài liễu triệt rằng chân lý mà ngài chứng ngộ, có cơ sở trên hiếu đạo, và có nền tảng của Đại bi hướng về sự giải thoát cho tất cả chúng sinh; Điều nầy, hoàn toàn cùng với chân lý ba đời chư Phật viên dung vô ngại, nó siêu việt mọi hình thái diễn đạt của ngôn từ, vượt ngoài mọi uẩn khúc của tâm tưởng. Đó là chân lý của ngôn ngữ đạo đoạn Tâm hành xứ diệt, là chân lý vô ngôn, chân lý vô tượng. Bởi vì Bát Nhã giác ngộ ngay trên thực tướng của vạn pháp. Bởi vì tất cả pháp có đặc tướng là không tính, không khứ lai chuyển động, bằng lý luận người ta không thể tới được “Không”, mà có tới được đi chăng nữa cũng chỉ có thể tới được một chân trời vô tự tính nào đó phản chiếu qua tâm thức phàm tục nghĩa là chỉ thấy bằng thức mà thôi. Thế giới mà chúng ta đang sống, đang đương đầu với mọi bất trắc, mọi xung đột từ mọi hướng, là một thế giới biến diệt và tái sanh trong từng sát na, trong từng khoảnh khắc. Nó là thế giới hiện tượng bị nhìn méo mó, sai lạc dưới lăng kinh sai biệt, hư vọng và liên tục bị khống chế bởi ba độc, Tham Sân Si. Kỳ thực, kinh Phật dạy pháp nhĩ như thị, điều nầy ngụ ý rằng thế gian là thế gian, nó là nó, cái như nó là (chỗ mà kinh Pháp Hoa, phẩm Phương tiện đã biểu đạt được: thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ). Nhưng vì chúng sinh không nhận thức đúng thật tính, thật tướng của nó chính là duyên sinh, vô ngã, (do duyên sinh nên vô ngã, vô ngã nên duyên sinh), cho nên nhận lầm nó, rằng thế giới nầy là một thế giới đầy vọng tưởng, ở ngoài luật tắc nhân quả, nên bất chấp phương tiện, đem tâm thức ô nhiễm, tạo tội, gây bất an, gieo rắc khổ đau cho chúng sinh.

 “Thế gian ly sinh diệt/ Do như hư không hoa// Trí bất đắc hữu vô/Nhi hưng đại bi Tâm”(Thế gian liễu triệt bản chất của sinh diệt/ Rằng tất cả pháp thế gian cũng như là hoa đốm giữa hư không// Do trí không đắm trước có-không/ Mà hưng khởi lên tâm đại bi//). Ý nầy gợi lên từ kinh Lăng Già, có nghĩa rằng do chỗ giác tỉnh trên lý sinh và diệt, tất cả thế gian như giọt sương mai đầu cành, như ảo ảnh trên sa mạc, như bóng vang huyễn hóa, như nước chảy hoa trôi, như thành Càn thác bà... mà liễu được cái có cái không trong khung thời gian và không gian sinh diệt. Nếu an trú vào Tánh không của vạn pháp sẽ liễu triệt chân như, thật tướng, thật tánh, là chỗ đồng có mặt của chân không, diệu hữu, của Lý của Sự thì tại đó tâm đại bi mênh mông sẽ mở ra vô tận. Cũng như khi trả lời câu hỏi của Lý Thái Tông, Thiền sư Huệ Sinh nói, “Pháp bản như vô pháp/ Phi hữu diệc phi không/ Nhược nhân tri thử pháp/ Chúng sanh dữ Phật đồng/” (Trong cái bản nhiên chân thật của các pháp, vốn không, không có thứ gì có thể dung chứa trong đó, kể cả cái có và cái không. Nếu ai liễu được lý nầy thời đồng với chư Phật không khác), cũng không ra ngoài chủ ý của bài kệ trong kinh Lăng Già nói trên.

Như vậy, liễu được pháp sinh diệt cũng tức là liễu được bản chất đích thực của vạn pháp, trên mặt thể, tức chân tướng của vũ trụ nhân sinh, tại đó, tánh không và hiện hữu tồn tại, tự nhiên bẩm sinh hàm chứa tất cả các tính chất, dẫn tới một khái niệm về tính đồng nhất. Mặt khác, khi liên quan tới “dụng” (hay chức năng), tức trên mặt dị thể, làm phát sinh cùng lúc hai năng lực tác động “hữu lực” và “vô lực” chiếm đoạt các tính chất và năng lực của các nhân duyên, dẫn tới một khái niệm về tính tương nhập. Do đó nếu liên kết Pháp với pháp trên cả hai mặt làm hiển thị tính tương nhập tương tức hay viên dung vô ngại, nhất định phải bằng chất liệu của Đại Bi, xuất sinh từ tuệ giác siêu việt Bát Nhã, có điều là, tuyệt đối nó không bao giờ viễn ly thực tại. Bởi vì một khi liễu triệt được Tánh không của vạn pháp, trên mặt dụng như đoạn trước đã nói, thời từ đó chất liệu đại bi sẽ tuôn chảy bất tận.[11] 

Vậy thì từ trên cơ sở đó, chúng ta thử thiết định một pháp giới Lý- Lý vô ngại ngay trong thế giới hiện tượng, một thế giới không ngừng sinh diệt, không ngừng bị chi phối bởi mạng lưới duyên sinh trùng trùng vô tận. Nghiêm túc mà xét, thời pháp giới nầy, có thể khám phá, có thể thấy được ngay trên Tục đế, nếu và chỉ nếu (if and only if) sự xung đột của của các phần tử gọi là Lý><Lý, phải được hóa giải ngay từ căn bản, phải được thăng hoa từ chất liệu Đại Bi, hoa trái của Bát Nhã mà thôi.

Thực vậy, cuộc nhân sinh là một trường tương ngộ phức hợp, do đó đời sống cũng vô cùng đa dạng, cho nên, những cá thể Lý trong thế giới sinh diệt có tính xung đột (có thể dùng ký hiệu Lý >< lý để hình dung), khi đối đầu nhau, nếu hành xử trong chiều tác động của vô minh, tham sân si, khát ái, danh vị, quyền lực khống chế thời viễn cảnh của một hệ quả tàn khốc ắt sẽ gieo rắc. Chúng ta có thể chứng nghiệm điều nầy trong chiều sa đọa của thế giới trong vòng mười năm qua. Nhưng nếu hành xử theo chiều tác động của trí tuệ, của tỉnh thức nghĩa là từ trên tính thể (essence) của đại bi mà hành, chắc chắn nhân loại sẽ cùng gặp nhau ở trong một bình diện, đó là bình diện của vô tranh. Con người sẽ gần lại nhau và cùng chia sẻ nhau, không những cho con người mà còn cho các loài chúng sinh khác kể cả vô tình, ân triêm cái tài bảo lớn nhất, có ý nghĩa cao đẹp nhất khả dĩ trang nghiêm cho cuộc tương hội tạm thời trên hành tinh không ngừng bị tàn phá, không ngừng bị băng hoại, đang khao khát hồi sinh nầy. Lý- Lý vô ngại Pháp Giới được đề thăng từ những xung đột, hư vọng thế tục như thế (tức từ mặt phản diện của Tuyệt đối), phải là một “Pháp Giới Vô Tranh”, phải được chuyển hóa,  phải được thiết định trên tính thể đại bi, đấy là cơ sở mà chính đức Thế Tôn đã dành ra 22 năm để tuyên nói và cũng là nỗ lực tuyệt đỉnh của Bồ Tát Long Thọ, Nguyệt Xứng, của các tổ Hoa Nghiêm tông nói riêng, cũng như của chư liệt đại Tổ sư nói chung.

Thế nên cuộc sống an vui, hạnh phúc của chúng sinh hữu tình và vô tình chính là món quà Bát Nhã, món quà phải được bố thí, ban phát rộng khắp trong nhân gian một cách kiên trì, không bao giờ chán mỏi, theo một tỉ lệ mà đức thế Tôn đã từng thực hiện, ít nhất là 22 trên 45 ngay trong thời đại nầy của chúng ta.

PHỤ GIẢI TRÊN MÔ THỨC TOÁN HỌC

Thử tìm hiểu xem có thể lý giải vấn đề trên mô thức của Toán học hay không? Trong viễn cảnh nầy, một chuẩn mực lý tưởng nào đó phải được thi thiết ngay trong tục đế. Ở một cấp độ chừng mực thuộc phạm trù của tri thức, qua lĩnh vực toán học, có thể đơn giản đơn cử một thí dụ về định nghĩa cơ bản của tích phân (Integration). Trong đó một chuỗi dữ kiện (Vastu) hay biến cố có tính xung đột được biểu thị bằng ký hiệu của một hàm số f(n), chu biến dưới hình thái sinh diệt qua bất kỳ một biến cố các số thực n nào đó ("n ª R ) và do đó, f (n) sẽ tiến dần tới một giới hạn được biểu thị bởi công thức:

Lim [ f(n) ].    (Lim = gh= giới hạn)

                        nà a

(Đây là công thức giới hạn biểu trưng cho tính cách cục bộ của tri thức. Nó không tiến dần về 0 mà dần về một số thực n ("n ª R), nhưng một số thực a ª (n) (hiểu như là một biến cố sinh diệt) vốn hư vọng. Cho nên cần phải quy về cực vi để tiến tới 0.

Giới hạn chân thật của hàm số nầy (như là là biểu hiện của Lý) chỉ có thể đích thực đạt tới, khi từng biến cố sinh diệt ðf(n).∆n (như là biểu tượng của một Sự) tùy thuộc vào một chuỗi bao gồm tổng số các biến cố ∑ giới hạn trong khoảng xác định (Domain) từ a đến b, ở trong một tương hệ nhân duyên tương tục tác động. Ký hiệu [∆nà 0] có ý nghĩa rằng nhãn quan phải được trải ra từ trên nền tảng bản chất của các pháp mà không có một sự chấp trước nào tồn tại (nghĩa là tương tự như nội dung Tánh Không của Bát Nhã). Tính cách toàn hảo nầy bao gồm một tràng dữ kiện qua tiến trình tích phân 5 bụớc(12), sự kiện nầy toán học biểu thị bằng một công thức dưới dạng tích phân, liên hệ đến thể tích (sự chiếm hữu của vật thể trong không gian 3 chiều) như sau:

            V=Lim ðf(n).∆n   =  ðdn         

                        ∆nà 0

Trong đó f(n). ∆n dữ kiện biểu thị một biến cố cực vi hay một Sự; Số ð là hằng số tùy thuộc chân lý tục đế; Còn ∆n à 0 ký hiệu được dùng để dụ cho nền tảng Không Tánh. Và Ký hiệu { Lim ð f(n).∆n}, dụ như là năng lực nguyên nhân, bao gồm cả hữu lực, vô lực, biểu thị cho khả năng hợp nhất, thành tựu kết quả về một tổng thể nhìn từ mặt phản diện của chân đế. Nếu quy chiếu về ∆n à0 hay tánh không, thời toàn bộ các biến cố, do đó, quy về một nhất thể tích phân (biểu trưng cho cái “tất cả” cái toàn thể hay lý ).

V=Lim  ð f(n).∆n   =  ð  dn 

                                           ∆nà 0

Nếu  không có f(n) và nà0  (tức là vô hạn các số thực tiến dần tới 0 mà  n ª {0,+∞ }), thời không có Lim ð f(n).∆n ,  do đó không có sự

                                ∆nà 0

thành tựu nào của  V= ð dn. trong tương quan hiện hữu.

Ngay trong nội dung của sự thành tựu, chúng ta có thể thấy được khái niệm về một tổng thể ∑ (gọi là năng lực toàn thể hay khả năng vận hành chức năng tạo ra kết quả). Nó bao hàm một tiến trình của các biến cố bên trong một chuỗi biến cố quy về cái “toàn thể” trên mặt hiện tượng (Phenomenon) hay duyên sinh (Pratĩtyasamutpãda), nó bao gồm vô số phần tử cực vi, mỗi phần tử gọi là pháp (hay Sự ), hay pháp nhân cơ bản vô cùng thiết yếu ngay khi ∆nà 0 (ký hiệu dụ cho Không tính) có hiệu lực tác dụng để tiến tới cái gọi là toàn thể (Lý hay cái Tất cả ):

                                     V= ð dn.

Chỗ nầy, theo Pháp Tạng, thời mỗi một phần tử cực vi hay một pháp đơn lẻ, được coi là có tương hệ với một chuỗi vô tận các pháp đơn lẻ khác xét trên cả hai mặt: Tồn tại và tác dụng. Trong đó, nếu chiếu cái “Một” (hay phần tử cực vi hay pháp 1) vào 2, chiếu pháp 2 vào 3... và tương tục cho đến một chuỗi vô tận các phần tử cực vi và tới chỗ thành tựu cái “Tất cả” tức là cái nhiều. Như vậy tạo thành một huân tập tất cả các pháp đơn lẽ nhập vào cái một, tức “Tất cả” dung chứa “Một” và cái “Một” đồng nhất với cái “Tất cả”. Xa hơn, nếu tiếp diễn tương tự, lấy cái tất cả nầy làm 1, nhiếp vào cái tất cả 2, cái tất cả 2 nhiếp vào cái tất cả 3... cho đến vô tận. Đây là pháp nhiếp Nhiều đồng nhất Một, Một đồng nhất Nhiều.

Thực tế, nếu quan sát, từ một số thực a nào đó tiến tới 0, thời đó chỉ là một hình thành của khái niệm triệt tiêu, nhưng nếu quan sát [(a + ∆n) à a] thời trong đó bao hàm ∆n à 0 là khái niệm về Không nhưng ở một cấp độ sâu hơn (tạm dụ như  là biểu hiện của tánh không, dùng làm cơ sở để có thể hiểu được khái niệm về cái pháp giới nằm ẩn đằng sau 4 tầng pháp giới: lý pháp giới, sự pháp giới, lý-sự vô ngại pháp giới, sự sự vô ngại pháp giới). Bởi vì trong tác động tương tục giữa vô số các biến cố, xu hướng [∆n à 0] không bị xóa bỏ, nó vô ngại ẩn vào cái toàn thể, chan hòa trong toàn thể và do đó cái Nhất thể có mặt. Đây chính là hình ảnh của cái gọi là Lý><Lý vốn có tính xung đột, hiện hữu trong lòng của hư vọng, do ảnh hưởng của tham, sân và si, tuy nó vẫn tùy thuộc vào tục đế nhưng không rời ∆n à 0 như là nền tảng Bát Nhã qua tính thể Đại Bi, một chất liệu ưu tiên và tối thiết yếu để cho Lý><Lý viên dung với Lý-Lý vô ngại pháp giới nằm ẩn phía sau 4 tầng pháp giới như đã nói.

Có thể đối chiếu ý niệm nầy vào thực trạng của thế giới, mỗi một nhà lãnh đạo của một quốc gia đều có một cơ sở riêng về lý. Nó có tính cá biệt và được đặt trên quyền lợi của riêng quốc gia mình. Ấy là chưa nói tới cái ngã, cái tham vọng hoặc xung đột, tranh chấp tự bên trong nội tình của xứ đó nghĩa là lý nầy được trưởng dưỡng, bảo thủ bởi hư vọng và đầy phân biệt hình thành từ tâm thức ô nhiễm của cộng đồng. Đó là một lý tưởng được vẽ ra bất chấp phương tiện, thiếu cơ sở từ bi, nếu có đi chăng nữa cũng chỉ là một danh xưng núp sau một tràng hư vọng, một thứ niết bàn được vẽ ra trong cơn ác mộng, bất chấp phương tiện, miễn là đạt được cứu cánh. Và cũng thế đối với nhiều nhà lãnh đạo khác trên toàn thế giới là cả một tràng xung đột đối đầu với nhau trong từng sát na. Đó chính là giềng mối bất an cho nhân loại và là sự đe dọa tàn khốc đối với các loài chúng sinh khác kể cả các loài vô tình. Sự băng hoại của trái đất, sự thống khổ của muôn loài, và lòng thù hận lớp lên các cuộc khủng bố tàn sát không ngừng xảy ra đều bắt nguồn từ sự ngăn ngại của Lý ><Lý khi đối đầu nhau giữa một thế giới có chiều hướng sa đọa.

Đến cùng mà xét, nguyên do bởi đâu? Một tập hợp gồm các nhân tố hoạt động dưới sự chỉ đạo của tri kiến, mầm mống nẩy sinh từ mảnh đất của vô minh gọi là “Kiến nhất xứ trụ địa”; vì là vô minh nên nhận thức của nó, về hiện thực, đều là sai lầm và do đó Lý trên cơ sở nầy luôn luôn xung đột và hậu quả luôn luôn là khổ đau. Trong cái ồn náo cộng sinh của cộng đồng thế giới, có vô vàn tác nhân, phiền não “kiến nhất xứ trụ địa” nầy, do đó cũng nhiều vô kể. Nhưng khi thấy được sự thực hay “kiến đế”[12] thời những yếu tố nầy đồng loạt bị tận diệt. Cơ sở đối trị nầy chỉ có Bát Nhã mà tính thể đại bi là nhân tố tăng thượng. Cho nên, nếu tất cả đều đặt nhãn quan của mình trên nền tảng Bát nhã. Tất cả đều hành xử trên nền tảng đó, nghĩa là từ trên tính thể của Đại Bi: Sự băng hoại của một quốc gia, sự khổ đau của một chúng sinh, nếu thấy đó cũng chính là hình ảnh của chính quốc gia mình, là nỗi thống khổ và nước mắt của chính mình, và thấy rằng tất cả mọi người, ngay cả kẻ thù với nhau trên chiến trận... đều từng là người thân trong liên hệ cha mẹ, anh em... 

Câu chuyện sau đây được kể rằng: “Trên cánh đồng Kuruksetra, dũng tướng Arjuna cùng với Krsna, người điều khiển chiến xa, tập họp quân đội, chuẩn bị một cuộc chiến quyết liệt. Khi tù và của cả hai cánh quân vang lên, trống thúc quân bắt đầu trổi, Arjuna nhìn lại bên kia phía đối địch, đấy tất cả đều là những thân thích, những bằng hữu của mình; và cả hai sẽ bắt đầu cuộc chiến huynh đệ tương tàn, Arjuna chợt tiêu tan ý chí quyết thắng, toàn thân ông run lên, lông tóc dựng đứng, cây cung thần Gãndiva đang tuột khỏi tay, toàn thể da đang bốc cháy: Vương quốc để làm gì; hạnh phúc và cả sự sống nầy là gì; tất cả có ý nghĩa gì để những người thân thích nầy phải tàn sát nhau”[13] cho thấy kẻ thù với nhau đang trong cơn thịnh nộ nếu tiếp tục bị chi phối bởi cái tự ngã thấp hèn, bởi ba độc khống chế, bởi những tham vọng gay gắt, bởi ý chí háo thắng, ý thức muốn thống trị... nếu từ trên tính thể của Đại Bi mà hành thời tại đó, mọi xung đột, mọi dị biệt, đấu tranh, áp bức... sẽ bị đẩy lùi bằng năng lực viên dung của Lý-Lý vô ngại thuộc pháp giới Hoa Nghiêm... thì hoa trái của tầng pháp giới thứ năm, đã nỗ lực thi thiết và gợi ra trong  nội dung của bài viết nầy, sẽ có cơ hội dâng hiến, cúng dường cho cộng đồng thế giới kể cả vô tình, một niềm an lạc vô cùng tận, một niềm hạnh phúc vô biên với ý nghĩa tuyệt vời cho sự hiện hữu của mỗi cá thể trên hành tinh đang trong cơn sốt, đang trong cơn khủng hoảng trầm trọng nầy.

KẾT LUẬN:                                    

Để có thể truy nghiệm được chân lý nầy, lộ trình đơn giản nhất, không gì khác hơn là con đường A Di Đà Phật, được vạch ra từ trong nội dung của Hoa Nghiêm. Bởi tại đó, xuất sinh một pháp giới Vô Tranh, vô ngại, không xung đột tức là pháp giới của “Lý-Lý vô ngại” ẩn kín đằng sau 4 tầng pháp giới. Dù sao, cũng cần phải xác minh vấn đề “Lý đối đầu với Lý” (tức Lý><Lý) ngay trong tục đế: Vì mọi pháp đều là nhân duyên sở sinh mà bản chất của tự thân của chúng cũng là tuyệt đối (như kinh Pháp Hoa nói “Thi pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ”), cho nên có thể vô ngại quy chiếu chúng vào cả hai mặt Chân Đế và Tục Đế, mà không ra ngoài tính viên dung của pháp giới Hoa Nghiêm.

Tóm lại, trên cơ sở của “biểu hiện và ẩn kín vô ngại”, một trong 10 pháp môn vô ngại của Pháp Tạng, tầng pháp giới Lý-Lý vô ngại giới thiệu trong bài viết nầy không phải được thi thiết từ trên nhãn kiến Tuyệt đối (hay Chân đế) mà sở y của nó phải ở trên tính thể đại bi, thuộc mặt dụng của Tánh không, từ hướng Tục đế nhìn lên: Có nghĩa rằng từ thực trạng khổ đau (như được biểu hiện tại rừng Thệ Đa trong kinh Hoa Nghiêm), từ trong trạng huống ô nhiễm phàm tục, sa đọa cùng cực, được tưới tẩm bằng tính thể Đại Bi, có khả tính xuyên thấu vào lòng Pháp giới Lý-Lý Vô Ngại nằm ẩn đằng sau bốn tầng pháp giới như đã biết, như là một năng lực bất khả tư nghì cho an sinh của muôn loài, nghĩa là cái Lý><Lý từ trong tục đế trở thành một “Pháp Giới Viên Dung” tương tức, tương nhập vào tầng pháp giới thứ năm:“Lý-Lý Vô Ngại Pháp Giới”. Nếu nhận rằng Sư -Sự vô ngại pháp giới là pháp giới duy nhất, thời Lý><Lý vô ngại Pháp giới được đề cập ở đây cũng là một phương tiện thuyết giảng nhằm dẫn đến Sự-Sự vô ngại Pháp giới. Tuy nhiên, Pháp giới thứ năm nầy là một pháp giới được thiết định và giải minh từ trên mặt “Dụng” của Tánh Không”, bởi vì nó là đới sống, nó cũng chính là vấn đề của hiện hữu, vấn đề của Lý của Sự, của Lý-Sự và Sự-Sự đồng thời cũng là của thế giới khổ đau của chúng ta, một trú xứ đầy những mâu thuẫn, xung đột, khát ái, thù hận, đan kết chằng chịt trong mạng lưới duyên sinh không cùng tận; tại đó, phải chăng một pháp giới vô ngại hỗ dung hỗ nhập trong tất cả các pháp giới.

T.T.



[1] Thắng Man Giảng Luận, Tuệ Sỹ, trang 119.

[2] Như hiểu là Như Như, Chân Như. Như Lai Tạng có nhĩa là cái phôi đang phát triển trở thành “Như Vậy” hay Như Như.. Tạng tức ẩn phú, nghĩa là bao phủ, che dấu., còn có nghĩa là sở nhiếp Như lai là không từ đâu đến, không đi về đâu. Như vậy Như lai tạng mang ý nghĩa đặc biệt là chúng sinh đều là cái phôi được chứa đựng bên trong trí tuệ của Như lai. Có 9 dẫn dụ về Như Lai Tạng:1- Dụ như là Hóa Phật ngự trên hoa sen héo, do tham dục phiền não che lấp nhưng Hóa Phật vẫn thanh  tịnh sáng ngời. 2- Dụ như là một đàn ong và tổ mật do sân phiền não khống chế. Muốn lấy mật ong, phải diệt dàn ong. Như muốn làm xuất hiện Hóa Phật phải diện tận phiền não. 3. Dụ như là vỏ trấu và hạt gạo, do si phiền não (hay vô minh hoặc). Hóa Phật bộc trong vỏ cứng, phải chà sát kỷ để được hạt gạo thơm. 4- Dụ như thỏi vàng và hầm xí, do vô minh thượng tâm phiền não khống chế, là tăng thượng cho tham sân si kết sử,bao gồm ba độc tố tham sân si ở mức độ độc hại. 5- Dụ như kho báu trong nhà nghèo: Do vô minh trụ địa khống chế, là vi tế phiền não còn tàng dư. Phiền não nầy dẫn đến quả báo “ý sanh thân”. 6- Dụ như mầm giống và hột xoài. 7- Dụ như bảo vật bọc trong giẻ rách. 8- Dụ như đàn bà xấu xí mang thai vua. 9-Dụ như pho tượng trong khuôn đúc.

[3] Sđd trang 122.

[4] Đọc Tập san nghiên cứu Phật Học - Thừa Thiên Huế,  số 3- Bốn Pháp Giới- Hồng Dương, trang 9-11.

[5] Sđd, tr. 14.

[6] Tham chiếu “Entry Into The inconceivable”, Thomas Cleary – Page 26-42. Đọc Tập san nghiên cứu Phật Học - Thừa Thiên-Huế, số 3, Bốn Pháp Giới - Hồng Dương, trang 15-17.

[7] Đây là cơ sở của Lý-Sự và Sự-Sự vô ngại. Đọc và nghiêm cứu thêm phẩm Nhập Pháp giới, kinh Hoa Nghiêm.

[8] Mười pháp môn vô ngại là: 1- Bản thể và sắc tướng vô ngại.2- Vi tiểu và vô lượng vô ngại. 3- Một và nhiều vô ngại. 4- Hỗ nhập vô ngại. 5- Hỗ tức vô ngại. 6- Hiển và ẩn vô ngại. 7-Vi tế vô ngại. 8- Lưới thiên đế vô ngại. 9- Mười thời vô ngại.10- Khách và chủ vô ngại.

[9] Hữu Lực, Vô Lực: Có thể hiểu qua dẫn dụ đơn giản về rui và nhà. Rui là sở hữu năng lực nguyên nhân để

hoàn thành kết quả. Trong quá trình hình thành cái nhà, năng lực nguyên nhân hay rui là hữu lực, còn các điều kiện bổ trợ khác như  đinh, ván, coat, ngói, gạch, thợ... sẽ không có năng lực tức là vô lực. Sự vô lực nầy vốn phát sinh sự thu hút các tính chất khác từ các pháp bổ trợ vào cái rui nguyên nhân để làm nổi bậc chức năng của cái rui. Nhưng nếu tập trung trên chức năng coat yếu của cây cột thì cái rui bay giờ trở thành vô lực. Tóm lại do vô lực hữu lực mà sự tương nhập được hiện thực như là nhân tố thiết yếu cho sự thành tựu kết quả.

[10] ><  dấu hiệu biểu thị cho sự xung đột.

[11] Đọc Lưới Trời Đế Thích, Francis H Cook, Thích Thiện Sáng dịch, trang 170-173.

[12] Trụ địa: Là mảnh đất tâm thức được xông ướp. Nhưng ngoài mảnh đất tâm ấy, không có tự thể tâm thức nào khác. Khi mê gọi là thức. Khi ngộ, gọi là trí. Mảnh đất tâm nếu được cải tạo tốt, được chăm bón can thận, sẽ sản xuất những thứ hoa trái tốt, không độc hại. Chuyển mê thành ngộ, chuyển thưc thành trí,đó là công phu tu tập cho quá trình chuyển y được minh giải rất chi tiết trong duy thức học về sau nầy. Kiến nhất xứ trụ địa là tập hợp tất cả các yếu tố hoạt động dưới sự chỉ đạo của tri kiến. Giống như một y sĩ nếu nhận định sai các triệu chứng bệnh và có chẩn đoán sai về nguyên nhân gây bệnh, phương thức điều trí bấy giờ thường nguy hiểm đe dọa tính mênh cho bệnh nhân. Thứ tri kiến nầy xuất sinh từ vô minh nên sai lầm, hậu quả là phiền não, khổ đau. Nhưng một khi thấy được thực tính của vạn pháp, nói rõ hơn, một khi nhãn kiến có cơ sở trên đại bi, thời cái thấy bay giờ gọi là kiến đế và tất cả mọi sai lầm dị biệt đều tận diệt.

[13] Đọc Tập san nghiên cứu Phật Học - Thừa Thiên Huế, số 10 – Cửa vào tuyệt đối – Tuệ Sỹ, trang 66-67.

cập nhật : 25-08-2007   

Google


www.phatviet.com website khác

Trao đổi ý kiến và đăng sách báo, bài viết sáng tác, dịch thuật, nghiên cứu, v.v... xin gởi đến email: Ban Tu Thư Phật Việt (hoặc bantuthu_phatviet@yahoo.com)