|
TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số 3 - PL. 2551
[MỤC LỤC]
Đi
Thơ Phạm
Công Thiện
Dẫn
Anh đã ra đi từ đó, từ thời buổi hỗn mang. Trong
từng khoảnh khắc sát na, từng quãng liên tục vi tế của hạt bụi, anh từ
chối chính mình. Khi mọi người ca tụng anh như một thiên tài, anh vất bỏ
thần tượng để đi như một tên lãng tử vô lại. Khi người đời khinh miệt,
khi những người thân yêu thù ghét, căm hận, anh đốt lửa soi đường độc
hành bằng ánh sao Mai lẻ loi.
Đã đi thì đã đi rồi.
Bước chân thoạt chớm khởi hành ấy đã vấp phải âm
vang địa chấn của Long Thọ:
gataṃ na gamyate tāvad
agataṃ naiva gamyate/ MK. ii. 1a
Có gì trong những bước đi, và còn gì trong những
bước đi? Chỉ một khoảng ngắn cần vượt qua, khoảng ngắn được đo bằng
chính tự ngã của ta. Anh nhảy qua hố thẳm. Hố thẳm như là, vì chính là,
ý hướng tính của ta phóng xuất ra đó; bóng tối của thời gian tích tụ ảo
ảnh ngông cuồng của tuổi trẻ. Anh nhảy qua hố thẳm, nhảy qua cái bóng
của chính mình. Những bước nhảy vẽ thành chuỗi thất bại liên tục trong
đời, trong dòng tương tục vô hạn của thời gian, lan tràn qua biên độ vô
biên của thế giới:
Cái đã đi, một cái gì đó vô nhân, vô ngã, đã đi qua
trong tôi, trong người, trong đâu đó, hữu biên và vô biên, hữu hạn và vô
hạn; cái đã đi ấy chưa hề được thực hiện, chưa hề được đi. Khoảnh khắc
đột nhiên ngừng lại. Quá khứ biến mất. Cái đã đi, cái tôi nào đó đã đi,
con đường nào đó đã được đi, ngày tháng nào đó đã trải đi; thời gian và
thế gian ngưng tụ, ngưng đọng. Không quá khứ; phóng ảnh vị lai chợt dừng
lại, như bị đẩy lùi lại sau, đẩy lui vào quá khứ, rồi biến mất. Câu chân
ngôn xuất hiện:
Oṃ ga ga ṇa: Án nga nga nẵng.
oṃ
sarva-saṃskāra-pariśuddha dharmate gagana samudgate svabhāva:
Hết thảy hiện tượng thảy đều thanh tịnh, tự tánh
xuất hiện trong hư không pháp tánh!
Ồ, hư không! Hư không hủy diệt. Tìm dấu chim bay
trong hư không:
Có còn gì nữa mà
thương.
…
Sắt son tình cũ …
Người anh yêu, một phương trời mất dấu; như sợi
lông thiên nga phất phơ trong không gian rực lửa. Lửa soi sáng trái tim,
trong đó hiện hình Thiên nữ. Thiên nữ chuyển thân thành Thánh mẫu Bồ tát
Cứu độ Đa-la:
Án Đa La tịch mịch
hồng.
oṃ tāre tuttāre ture svāhā 
Những giọt nước mắt từ khóe mắt Đại Bi của Bồ tát
Quán Thế Âm rơi xuống; giọt nước mắt hiện thân thành Thánh nữ Đa-la.
Ngài hiện thân sức mạnh để dẫn người khốn khổ vượt qua khỏi những tai
họa hiểm nghèo. Tai họa bởi nước cuốn, bởi thú dữ, cũng như bởi sự phản
bội của người tình. Bởi vì Tāra có nghĩa là Cứu độ.
Từng âm thanh mật ngôn như những ánh sao lấp lánh –
bởi Tara cũng có nghĩa là Ngôi Sao, mờ nhạt nhưng có đủ uy lực để đưa
người đến chỗ an toàn. Tara, hay Tāra, Mẹ của Đại Bi và Đại Trí, luôn
nhìn xuống những đứa con ngu xuẩn, và yếu đuối, đang lang suốt cả đêm
dài trên mặt đất hoang vu.
Bài thơ có năm đoạn, hay một thiên thơ có năm bài,
đi theo nhịp bước chân của Bát-nhã: gate – gate – paragate –
parasaṅgate – bodhi, svāhā! Hoặc vô tình, hoặc cố ý, để cho cảm xúc
từ những hoài vọng tiếc nuối quá khứ, đã đi và đã mất, diễn theo từng
đợt sóng xô. Người lữ hành bước đi, từng con sóng của đại dương cuốn
theo, xóa sạch từng dấu chân đi. Lưu lại trong khách ảo ảnh tiền thân,
phảng phất mùi hương, và sắc màu quá khứ không phai nhạt.
yathā māyā yathā
svapno
gandharvanagaraṃ yathā/
tathotpādas tathā sthānaṃ
tathā bhaṅga udāhṛtam//MK. vii.
35.
Như huyễn tượng, như chiêm bao, như thành phố giữa
hư không, cũng vậy, những gì xuất hiện, tồn tại, rồi hủy hoại.
Đã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng đong đưa
giữa trời.
Tuệ Sỹ. |