|
TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số 3 - PL. 2551
[MỤC LỤC]
LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ
Surendranath Dasgupta
PHỆ-ĐÀ,
BÀ-LA-MÔN VÀ NỀN TRIẾT HỌC
Tình trạng cổ xưa của Phệ-đà
Phệ-đà (Veda), thánh điển của Ấn Độ,
thường được xem là nền văn học viết có sớm nhất của chủng tộc Ấn Âu
(Indo-European). Thật khó xác định thời gian khi những chương đầu tiên
của thánh điển này xuất hiện. Đã có nhiều dự đoán sâu sắc được đưa ra,
nhưng không
có ý nào được công nhận hoàn toàn chân xác. Max Müller cho là năm 1200
ttl., Haug cho là năm 2400 ttl. và Bāl
Gaṅgādhar Tilak cho là năm 4000 ttl. Người Hindu
thời xưa thường ít khi lưu lại những ghi chép lịch sử về văn học, tôn
giáo và thành quả chính trị của họ. Thánh điển Phệ-đà (Veda)
được truyền miệng từ một thời cổ xưa không được biết đến; và người Hindu
thường tin rằng thánh điển này không phải do con người soạn ra. Nó
thường được cho là hoặc do Thần thánh (God) dạy cho các bậc hiền triết,
hoặc chính nó được khải thị cho các bậc hiền triết, là những người thông
hiểu thể tán ca này.
Như vậy, chúng ta nhận ra rằng bởi thời gian bị khỏa lấp sau khi
Phệ-đà được biên soạn, người ta đã xem nó không chỉ là quá cổ xưa,
mà còn quá lâu đời hơn thế nữa, ít nhất về mặt lý thuyết, là không có
điểm khởi đầu, dù nó tự tiết lộ cho biết là ra đời vào một thời kỳ xa
xăm nào đó vào đầu kỷ nguyên tạo lập vũ trụ.
Vị trí của Thánh điển Phệ-đà trong tâm người
Hindu
Khi Phệ-đà ra đời, có lẽ hệ thống chữ viết
chưa phổ biến ở Ấn Độ. Nhưng với lòng nhiệt tâm đầy cẩn trọng của giới
Bà-la-môn,
những người đã thuộc nằm lòng Phệ-đà nhờ được truyền dạy từ tổ
tiên, nên thánh điển ấy đã được truyền lại một cách trung thực cho chúng
ta theo tiến trình chừng 3000 năm hoặc hơn, với rất ít hoặc không có sự
tự ý thêm thắt nào.
Lịch sử tôn giáo Ấn Độ đã chịu sự thay đổi đáng kể
vào thời kỳ sau đó, kể từ thời đại của nền văn minh Phệ-đà. Nhưng với
lòng sùng kính dành cho Phệ-đà nên họ đã duy trì như một tôn giáo
uy tín nhất cho mọi thành phần của người Hindu trong suốt mọi thời đại.
Ngay cả ngày nay, mọi nghi thức quy định của người
Hindu như sinh con, cưới hỏi, lễ tang v.v... đều phải tuân theo nghi
thức từ Phệ-đà thời cổ xưa. Lời kinh mà người Bà-la-môn tụng niệm
hằng ngày bây giờ cũng giống như các bài kệ tụng cách đây 2000, 3000
năm. Nhìn sâu bên trong sinh hoạt của một người theo đạo Hindu bình
thường ngày nay, sẽ thấy hệ thống hình tượng được tôn sùng đối với họ là
duy nhất, như đã được ghép vào trong cuộc đời của họ, là bổn phận thông
thường vốn được sắp đặt trật tự trong thánh điển Phệ-đà từ thời
cổ xưa.
Thế nên một người Bà-la-môn chính thống có thể miễn
trừ sự tôn sùng hình tượng (image-worship) trong tâm nếu họ
thích, nhưng không được làm như vậy đối với các nghi thức tụng niệm kinh
điển Phệ-đà hằng ngày hoặc các nghi lễ tôn giáo khác. Ngay cả
thời đại ngày nay, vẫn còn có người cúng dường số tiền rất lớn để tổ
chức thực hành và truyền dạy nghi lễ cũng như thánh điển Phệ-đà.
Phần lớn nền văn học Sanskrit phát khởi sau
Phệ-đà đều đặt nền tảng trên giá trị vững chắc của chính nó, và hấp
thụ Phệ-đà thành như một cứ điểm đáng tin cậy. Hệ thống triết học
Ấn Độ không chỉ trung thành riêng với Phệ-đà, mà môn đệ của mỗi
trường phái thường tranh luận nhau để duy trì ưu thế của mình bằng cách
nỗ lực chứng minh rằng họ hoặc chỉ riêng họ mới là môn đệ trung thành
của Phệ-đà, và chỉ có mình mới là đại biểu cho quan niệm đúng
đắn.
Luật tắc để điều hành xã hội, luật pháp, tập quán
gia đình và tôn giáo, nghi thức cúng tế của người theo đạo Hindu đến
ngày hôm nay, được biết đó chỉ là hệ thống lại từ ký ức của giáo lý cổ
Phệ-đà, và được lưu truyền thành bổn phận trong quyền năng tôn
giáo của họ. Ngay cả dưới thời kiểm soát của chính phủ Anh, trong luật
thừa kế tài sản, nhận con nuôi, và pháp tắc về thương mại, luật Hindu
vẫn được tuân thủ, và điều này cho biết đã lấy quyền lực từ Phệ-đà.
Không cần thiết phải đi sâu vào chi tiết. Chỉ cần
nói rằng, mãi từ khi nó được xem như là nền văn học chết trong quá khứ,
thì Phệ-đà vẫn được xem như là nguồn gốc của hầu hết mọi nền văn
học, ngoại trừ thi ca và kịch nghệ đượm màu thế gian. Vắn tắt, có thể
nói rằng dù trải qua nhiều đổi thay do thời gian, sinh mệnh của đạo
Hindu chính thống vẫn được xem là chính trong phác hoạ về dòng sống của
Phệ-đà, vốn không bao giờ ngừng toả sáng suốt từ quá khứ đến nay.
Phân loại nền văn học Phệ-đà
Người mới nhập môn khi mới được giới thiệu lần đầu
nghiên cứu văn học Phệ-đà bằng tiếng Sanskrit sau này dường như
có chút lúng túng khi tiếp xúc với các bản văn có căn cứ đích xác với
nội dung và chủ đề đa dạng, khi gặp hai tên gọi có đặc điểm tương tự
nhau, ‘Veda’ hoặc ‘Śruti
(do động từ căn śru,
có nghĩa là nghe); do Veda trong nghĩa rộng không có nghĩa là
tên một tác phẩm riêng biệt nào, mà là một kỷ nguyên đặc biệt, trải qua
một thời gian khá dài, chừng 2000 năm hoặc hơn thế. Vì nền văn học này
đại biểu cho toàn bộ những thành tựu của người dân Ấn Độ từ mọi khuynh
hướng khác nhau trong một thời kỳ dài, nên bắt buộc nó phải có những đặc
điểm đa dạng. Nếu chúng ta tạm thời phân loại tổng quát nền văn học đồ
sộ này từ quan điểm niên đại, ngôn ngữ, và chủ đề, thì chúng ta có thể
nêu lên bốn thể loại khác nhau, gọi là:
1. Phệ-đà bổn tập
(Saṃhitā)
(Saṃ: cùng nhau; hitā:
đặt)
2. Phạm thư (Brāhmanas),
3. Sâm lâm thư (Āraṇyakas)
và
4. Áo nghĩa thư
(Upaniṣad).
Các tác phẩm này, bằng cả văn xuôi lẫn thi kệ, đều
được coi trọng đến mức trong thời cổ đại, được cho là phạm thượng nếu
viết ra; thế nên nó được học thuộc lòng bởi giới Bà-la-môn do sự truyền
miệng từ tổ tiên, do vậy, nó được gọi là
Śruti (có nghĩa là
những điều được nghe).
Bản tập Phệ-đà (Saṃhitā)
Bản tập Phệ-đà (Saṃhitā) gồm 4 bộ:
1. Lê-câu
Phệ-đà (Ṛg-Veda),
2. Sa-ma Phệ-đà
(Sāma-Veda),
3. Dạ-nhu
Phệ-đà (Yajur-Veda ) và
4. A-thát-bà
Phệ-đà (Atharva-Veda).
Trong 4 bộ này, Lê-câu Phệ-đà (Ṛg-Veda)
là cổ nhất.
- Sa-ma Phệ-đà (Sāma-Veda)
có một giá trị thực hành tương quan với nhau, vì nó bao gồm toàn bộ các
bài tán ca có trong Lê-câu Phệ-đà (ngoại trừ 75 bài),
dành cho việc tán tụng theo một nghi thức nhất định, có thể được gọi là
sách dành cho lễ tế tự.
- Dạ-nhu Phệ-đà (Yajur-Veda) gồm
những bài kệ được thêm vào lấy từ Lê-câu Phệ-đà với nhiều thể
thức văn xuôi từ nguyên bản chính. Sự sắp những bài tán ca trong
Sa-ma Phệ-đà là chỉ dành riêng để tham khảo và sử dụng cho lễ hiến
tế thần lửa Soma.
Nội dung của Dạ-nhu Phệ-đà được sắp đặt theo thứ tự trong có các
bài tán ca thực sự được áp dùng trong những buổi lễ tế khác nhau. Do vậy
nó được gọi là Phệ-đà của Tế tự.
Những điều này có lẽ trái ngược với sự sắp xếp trong Ṛg-Veda,
trong đó những bài tán ca này thường được sắp xếp tuỳ thuộc theo thần
thánh, chính là các vị được tôn vinh. Thế nên, chẳng hạn, trước hết ta
có được những bài tán ca dành cho Thần Agni hay là Thần lửa (Fire-god),
rồi đến bài tán ca dành cho thần Indra
và tiếp theo.
- Bộ thứ tư là A-thát-bà Phệ-đà (Atharva-Veda),
có lẽ đạt được hình thức như hiện nay phải là khá muộn so với Ṛg-Veda.
Tuy nhiên, trong ý nghĩ riêng mình, Giáo sư Macdonell cho rằng, “Nó
không chỉ hoàn toàn khác với Ṛg-Veda mà nó cọn biểu tượng cho rất
nhiều tư tưởng trong thời kỳ sơ khai. Trong khi Ṛg-Veda dành
riêng cho hầu như những vị thần cao hơn khi được nhận thức bởi một nỗ
lực thăng hoa tương đối và do được đào luyện bởi tầng lớp tăng lữ, thì
A-thát-bà Phệ-đà (Atharva-Veda), phần nội dung chính là
những thần chú và bùa phép để cầu khẩn đến thế giới thần linh, và tràn
ngập những ý niệm yêu thuật trong tầng lớp bình dân, và nó vốn có xuất
xứ từ thời thượng cổ xa xưa. Hai bộ Phệ-đà sau này, như được bổ
sung cùng nhau trong nội dung, vốn là quan trọng nhất trong 4 bộ
Phệ-đà.”
Phạm thư (Brāhmaṇa)
Sau Bản tập Phệ-đà (Saṃhitā), có
Phạm thư (Brāhmaṇa),
vốn là một dạng văn học đặc biệt khác lạ, nhằm phát triển các lý giải
mang tính thần luận (theological treatises). Phạm thư được
viết băng văn xuôi, giải thích các ý nghĩa linh thiêng trong các nghi lễ
khác nhau cho những ai chưa quen thuộc với nội dung. Giáo sư Macdonell
nói rằng, “Linh hồn của một thời đại trong đó mọi hoạt động tri thức đều
được tập trung trong lễ hiến tế, trình bày các lễ nghi, bàn luận về các
giá trị , rồi chiêm nghiệm về căn nguyên và ý nghĩa của nó.” Những tác
phẩm này đầy những quyết đoán về giáo điều, những biểu tượng kỳ lạ và
suy đoán về một sự tưởng tượng không giới hạn trong lĩnh vực hiến tế rất
chi li. Những nghi tiết thiêng liêng có lẽ chưa bao giờ tỉ mỉ như thế
vào thời gian khi các điệu tán ca cổ điển được soạn ra. Nhưng khi các bộ
sưu tập tán ca được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì nghi lễ
càng trở nên phức tạp hơn. Thế nên cần phải có sự sắp xếp các chức năng
cúng tế khác nhau trong các tầng lớp khác nhau của tăng lữ. Chúng ta có
thể cho rằng đây là thời kỳ khi hệ thống giai cấp được thành hình, và
khi chỉ một điều có thể thu hút trí tuệ và lòng sùng tín đó là cúng tế
và nghi thức trang nghiêm. Những tư tưởng phóng khoáng như vậy được xem
là thứ yếu đối với việc tế tự, và kết quả là sự sản sinh những nghi lễ
cầu phước và những hệ thống biểu tượng kỳ quái, chưa từng có nơi đâu
riêng chỉ có trong Khải huyền thư (Gnostics).
Ngày nay người thường tin rằng sát với thời kỳ Phạm thư (Brāhmaṇa)
là không lâu sau năm 500 ttl.
Sâm lâm thư (Āraṇyakas)
Sâm lâm thư là phát triển từ Phạm thư
(Brāhmaṇa), tuy
nhiên, còn có tên Sâm lâm thư (Āraṇyakas)
hay là sách dạy trong rừng. Tác phẩm đó chắc là biên soạn cho những
người già cả đã vào an dưỡng trong rừng, những người không thể thực hành
những nghi lễ hiến tế công phu tỉ mỉ đòi hỏi nhiều nghi tiết phụ trợ vốn
không cách nào kiếm được trong rừng. Trong những tác phẩm này, thiền
định tập trung vào những biểu tượng được xem là công đức lớn nhất, và
bắt đầu dần dần thay thế cho lễ hiến tế vốn là trật tự ưu việt. Chính
điều này được tìm thấy trong số những người trí thức, nghi thức rườm rà
bắt đầu bị khước từ, tư duy triết học về bản chất của sự thật dần dần
thế chỗ. Lấy minh hoạ từ thời khởi đầu của Bṛhadāraṇyaka chúng ta
thấy rằng thay vì thực hành lễ hiến tế ngựa,
thì có khuynh hướng thiền quán lúc bình minh (Uṣas) như là đầu
của con ngựa, mặt trời là mắt của con ngựa, không khí là mạng sống của
con ngựa và tiếp tục như thế. Đây quả thực là một tiến bộ đáng kể từ yêu
cầu suy nghiệm hay thiền định hơn là thực hành hiến tế với những hình
thức lễ nghi phức tạp chi li. Sự phát triển của đối tượng suy nghiệm,
nhờ có khả năng mang đến cái thiện tối cao, dần dần tạo nên kết quả
trong sự thay thế chủ trương lễ nghi hiến tế của Phệ-đà và tạo
nên yêu cầu thiền định mang tính triết học và tự tri (self-knowledge)
như là mục tiêu cao nhất của cuộc sống. Thế nên chúng ta thấy thời đại
Sâm lâm thư (Āraṇyakas),
giai đoạn mà tư tưởng tự do đã nỗ lực từ từ để thoát ra khỏi vòng tế tự
vốn đã trói cứng suốt một thời gian dài. Như vậy Sâm lâm thư có
thể đã lót đường cho Áo nghĩa thư (Upaniṣad), làm sống
động nền triết học suy nghiệm của Phệ-đà mới phôi thai, và phát
triển nó theo cách khiến cho Áo nghĩa thư thành cội nguồn của mọi
triết học phát sinh từ thế giới quan tư tưởng của đạo Hindu.
Lê-câu Phệ-đà (Ṛg-Veda) và
nền văn minh
Những bài tán ca trong Lê-câu Phệ-đà (Ṛg-Veda)
chẳng phải là sản phẩm của một người, cũng chẳng phải là thuộc về riêng
một thời đại. Có lẽ nó được biên soạn vào nhiều thời kỳ khác nhau do
nhiều bậc thánh khác nhau, và không chắc chắc rằng một số trong đó được
soạn ra trước khi người Aryan tràn tới vùng bình nguyên Ấn Độ. Lê-câu
Phệ-đà được truyền miệng và dần dần phình lớn ra nhờ những thêm thắt
vào được thực hiện bởi các nhà thơ thuộc các thế hệ hậu duệ. Bộ này đã
tăng trưởng đến mức đáng kể để có thể được sắp xếp như hình thức ngày
hôm nay, hoặc như vài hình thức trước đây mà ngày hôm nay đã kế thừa từ
nguồn gốc. Thế nên nó đã phản ánh nền văn minh của dân Aryan tại mỗi
thời kỳ cổ xưa khác nhau trước và sau khi họ đến Ấn Độ. Dấu ấn độc đáo
của một thời đại lâu đời đã biến mất là thuộc về giá trị thẩm mỹ to lớn,
và bao gồm phần nhiều là thi ca chân xác. Nó giúp cho chúng ta có một
đánh giá về xã hội nguyên thuỷ đã sản sinh ra nó–là cuốn sách cổ xưa
nhất của chủng tộc Aryan. Phương tiện chính để sinh sống là chăn nuôi
gia súc và canh tác trồng trọt bằng cày bừa, cuốc chim, tưới nước khi
khô hạn bằng kênh mương tự đào. “Thực phẩm chính gồm,” như Kaegi trình
bày, “cùng với bánh mì, và những thứ chế biến từ sữa, bánh bằng bột mì
và bơ, nhiều loại rau trái; thịt được nướng trên xiên hoặc nấu trong
nồi, ít khi được dùng đến, có lẽ chỉ được dùng trong những ngày hội lớn
và trong những dịp hội họp gia đình. Thức uống đóng vai trò quan trọng
suốt từ đầu đến cuối hơn là ăn.”
Thợ mộc làm những cỗ chiến xa và toa xe, còn có nhiều tác phẩm điêu khắc
thanh nhã và ly tách có nét nghệ thuật. Thợ kim hoàn, thợ rèn đảm nhiệm
việc trao đổi hàng hoá của mình. Phụ nữ biết đan chiếu, biết thêu thùa
may vá; họ chế tạo len từ lông cừu, làm thành y phục cho đàn ông và giữ
ấm cho súc vật. Từng nhóm riêng lẻ lập thành bộ tộc là đơn vị hành chánh
cao nhất; mỗi gia đình khác nhau thành lập bộ tộc dưới sự thống lãnh của
người cha hay của người thủ lãnh của dòng họ. Vương quyền có lẽ là do
cha truyền con nối và trong vài trường hợp thì do bầu cử. Vương quyền
không nơi nào là tuyệt đối, mà được hạn định bởi nguyện vọng của người
dân. Những ý tưởng tiến bộ về công lý, quyền lợi và luật pháp, đều có
trong trong quốc gia. Như Kaegi cho biết, “Các tán ca phát huy mạnh mẽ
làm sao thật sâu thẳm để tâm tư siêu tuyệt trong con người tin tưởng
rằng những quy định tồn tại do các nhà thống trị trên thế gian như là
điều bất khả xâm phạm về tinh thần và đạo đức cũng như trong tự nhiên
giới, và đối với mỗi hành vi sai trái, dù vô ý, đều bị xử phạt và chịu
tội.”
Như thế, hoàn toàn đúng khi cho rằng người Aryan đã đạt đến tầm văn minh
khá cao, nhưng không có chỗ nào tâm tư chân thành của người Aryan được
thể hiện rõ nét như trong tôn giáo, vốn là khía cạnh chủ yếu và trội
vượt nhất trong hầu hết các bài tán ca, ngoại trừ vài khía cạnh thế tục.
Như Kaegi cho biết, “Toàn thể ý nghĩa của Lê-câu Phệ-đà (Ṛg-Veda)
liên quan đến lịch sử tổng quát của tôn giáo, như đã được nhấn mạnh
nhiều lần trong thời hiện đại, dựa trên điều này, nó đã trình bày cho
chúng ta biết sự phát triển của các khái niệm tôn giáo từ thời cổ xưa
cho sự lĩnh hội sâu thẳm nhất về thần thánh và sự liên hệ của họ với
loài người.”
Thần thánh trong tư tưởng Phệ-đà
Các tán ca trong Lê-câu Phệ-đà hầu như được
soạn để ca tụng thần thánh. Xã hội và các thứ khác là điều quan trọng
thứ yếu, vì những mối liên hệ này chỉ được đề cập ngẫu nhiên khi cho họ
sự cảm thông qua lòng thành tâm với thần thánh. Thần thánh ở đây, tuy
vậy, chủ trì một nhân cách qua năng lực đa dạng của tự nhiên hoặc lập
thành thể tính riêng của họ. Do vậy, họ không nhất định, không có hệ
thống hoặc không có đặc tính riêng biệt như những vị thần Hy-lạp hoặc
các thần trong các tác phẩm thần thoại Ấn Độ sau này như Purāṇas.
Những năng lực tự nhiên như bão, mưa, sấm sét liên hệ với nhau rất mật
thiết, và các thần liên kết với nhau đều có đặc tính rất giống nhau.
Danh hiệu chung được gán cho các vị thần khác nhau và có rất ít phẩm
tính đặc biệt để phân biệt vị này với vị kia. Trong tác phẩm thần thoại
của Purāṇas sau này, các vị thần đánh mất cá tính của mình như
năng lực siêu nhiên (hypostatic), thế nên họ trở thành những nhân
cách và cá tính thực tế, cũng có những chuyện vui buồn giống như những
con người ở dưới trần gian. Thần thánh trong Phệ-đà có lẽ khác
với điều này, họ thuộc về phần thể tánh không liên quan đến điều gì, vì
những đặc tính mà họ thể hiện hầu như chỉ là biểu hiện của năng lực tự
nhiên. Thần lửa hay thần Agni, như Kaegi đã mô tả, là nhân vật “ẩn giấu
trong gỗ mềm, như trong phòng ngủ, đến khi được gọi ra bởi sự cọ xát
trong giờ giấc sáng tinh mơ, ngài bỗng nhiên phóng vọt ra trong ánh sáng
rực rỡ. Người hiến tế đón nhận và đặt ngài trên gỗ. Khi các thầy tế rót
bơ lên trên ngài, ngài nhảy múa, kêu tanh tách và hí vang như loài
ngựa–ngài là kẻ mà loài người thích, càng muốn chiêm ngưỡng như sự thịnh
vượng của riêng mình. Họ kinh ngạc về ngài, khi ngài trang điểm cho mình
bằng sự thay đổi màu sắc như người cầu hôn, vẻ đẹp hoàn hảo từ mọi phía,
ngài thể hiện mọi nét của chân dung mình.
Điều tinh tế là chùm
ánh sáng rực rỡ của ngài,
Ngài, sự toàn mỹ, từ tia nhìn và gương mặt mỹ miều.
Ẩn hiện lung linh như trôi bồng bềnh trên dòng suối,
Tia sáng thần Agni rực chiếu không bao giờ ngừng.
(R. V.1. 143,3,)
Họ mô tả thần gió (Vāta),
tôn sùng ngài và tán thán:
Nơi nào ngài sinh
ra, từ đâu mà ngài đến?
Hơi thở sống động của thần linh, đứa con vĩ đại của thế giới.
Thần hiện diện bất kỳ nơi đâu mà ngài thích đến;
Ta nghe âm thanh cuốn đi của ngài – không ai khác, đó là hình trạng
của ngài.
(R. V. x. 168. 3,4)
Đó là sức mạnh của thiên nhiên và sự biểu hiện của
thần, ở trên mặt đất, trong không khí bao quanh và trên đầu chúng ta,
hoặc trên cõi trời, vượt qua khỏi bầu thiên không...đã kích thích lòng
dâng hiến và trí tưởng tượng của thi ca Phệ-đà. Thế nên chỉ ngoài các vị
thần trừu tượng mà chúng ta sẽ trình bày ngay và một vài vị thần mang
tính nhị nguyên (dual divinities), các thần có thể được sắp xếp đại lược
theo quốc độ, không gian và thiên giới.
Đa thần (Polytheism), và Nhất thần
(Henotheism/ Monotheism)
Số lượng phong phú các thần trong Phệ-đà có
thể dẫn đến sự tìm hiểu nông cạn để thoả mãn niềm tin của những người
theo đa thần giáo thuộc Phệ-đà. Nhưng độc giả trí thức có thể tìm thấy ở
đây chẳng có thuyết đa thần cũng như chẳng phải thuyết nhất thần mà chỉ
là giai vị ban sơ của đức tin mà cả hai thuyết này có thể được cho là
lấy đức tin ấy làm nguồn gốc.
Các thần ở đây không duy trì vị trí riêng của mình
như là trong niềm tin của đa thần giáo, những mỗi vị thu lại thành đơn
giản hoặc toả chiếu như là đấng tối cao tuỳ theo đối tượng của sự tôn
kính. Thi ca Phệ-đà là đứa con của thiên nhiên. Mọi hiện tượng tự
nhiên đều kích thích sự ngạc nhiên, niềm thán phục và lòng tôn kính.
Trong thơ đầy những ngạc nhiên như “con bò đỏ hung dữ lại cho dòng sữa
trắng ngọt ngào.” Sự xuất hiện hay vận hành của mặt trời đem đến một sự
chấn động trong tâm các bậc hiền triết Phệ-đà và với cái nhìn sâu
thẳm, họ tán thán:
Không rơi đến cõi
dưới, không trói buộc nhất định,
Làm sao mà sự xuống thấp (của mặt trời), là ẩn tàng chứ không biến
mất?”
Kẻ dẫn dắt con đường thăng hoa–ai thấy được?
(R. V. IV. 13.5.)
Các bậc hiền triết tự hỏi “Tại sao dòng nước từ mọi
con sông đều chảy vào đại dương mà không bao giờ làm đầy nó?” Tâm tư của
tín đồ Phệ-đà như chúng ta thấy trong tán ca, là rất nhạy cảm và
tinh khôi. Ở tầng bực này, thời gian không đủ chín muồi để thể nhập vào
sự hiện hữu duy nhất và rõ ràng với vô số các thần, cũng chẳng phổ biến
các thần theo tín ngưỡng nhất thần (monotheistic). Trong vô thức, họ giả
định mọi sức mạnh tự nhiên đã trùm sự sợ hãi lên họ và cho họ nhiều ân
huệ cùng niềm vui bởi từ tâm hay tính thẩm mỹ nên họ sùng kính điều ấy.
Các vị thần đã lay động lòng sùng kính hoặc tán thán trong tâm con người
là những bậc tối thượng trong thời kỳ đó. Điểm tiêu biểu độc đáo của tán
ca Phệ-đà ầy, Max Muller gọi là Henotheism hoặc là
Kathenotheism: “Niềm tin vào một vị thần duy nhất, mỗi thứ lần lượt
biểu tượng như cái tuyệt đối. Và vì các thần được tưởng tượng như là sự
chi phối riêng biệt trong cõi giới của các ngài. Nhà thơ, trong mối quan
tâm và ước nguyện đặc biệt của mình, gợi lên hầu hết các vị thần mà họ
quy cho các ngài có năng lực cao nhất. Riêng vị thần này hiện diện trong
tâm của người cầu xin; đối với anh ta, thời gian khi được thể nhập với
mọi điều có thể gọi đó là thần thánh; thần ấy là tối cao, là vị thần duy
nhất, trước đó mọi thứ đều tiêu mất, nay đều hiện hữu trong vị thần này,
tuy thế, không có sự xung đột hoặc bài xích trong các thần.”
Như Macdonell phát biểu rất chính xác trong tác phẩm Vedic Mytholog:
“Đã có sự thôi thúc đi ngược lại lý thuyết này, các thần Phệ-đà
ấy không biểu tượng cho ‘tính độc lập tự chủ của toàn thể cái còn lại,’
vì không có tín ngưỡng nào đem vị thần của mình kết hợp lại, đặt cạnh
nhau và cho xuất hiện thường xuyên, ngay cả các vị thần vĩ đại nhất
trong Phệ-đà cũng được tạo nên trong mối tương quan với các vị
khác. Như thần Varuṇa
và Sūrya
là tuỳ tùng của thần Indra (I. 101), thần Varuṇa và thần Aśvin phục tùng
quyền lực của thần Viṣṇu (I. 156)... Ngay cả vị thần tương truyền là độc
nhất hoặc thống lãnh (Eka), như là tự nhiên có đủ sự tán dương, những
lời như vậy đã làm mất năng lực nhất thời của thuyết nhất thần, thông
qua sự bổ sung hoặc điều chỉnh được cung cấp bởi ngữ cảnh hoặc nhờ các
bài tán ca tương tự.”
Macdonell phát biểu tiếp, “Do vậy, Henotheism
là sự trình hiện đúng hơn là một thực tại, một trình hiện phát sinh bởi
tính không hạn định nhờ vào thuyết hình nhân luận (anthro-pomorphism)
chưa phát triển hoàn chỉnh, bởi sự vắng bóng vài vị thần Phệ-đà
thế chỗ cho thần Zeus
như là thủ lĩnh trung thành của điện thờ đa thần (pantheon), bời khuynh
hướng tự nhiên của các thầy tế hoặc các nhà thơ khi tán dương một vị
thần đặc biệt vào đó để cường điệu tính cách vĩ đại của ngài rồi lờ đi
các vị thần khác, và bởi đức tin về sự hợp nhất các thần mà mỗi vị trong
đó được xem như là một loại thần.”
Nhưng dù chúng ta có gọi đó là Henotheism hay chỉ là sự phóng đại
năng lực của các thần, thì điều hiển nhiên là ở phạm trù này không thể
nào chính thức gọi là đa thần (polytheistic) hoặc nhất thần
(monotheistic), nhưng ngài có khuynh hướng về cả hai, dù chưa được phát
triển đầy đủ thành đồng nhất với cả hai. Khuynh hướng thiên về sự phóng
đại được gọi là có mầm mống thiên về nhất thần, trong khi sự tương quan
của các thần khác như là độc lập với nhau, thế nên họ cùng nhau tồn tại,
thì có khuynh hướng thiên về đa thần.
Sự phát triển của khuynh hướng Nhất thần
(Monotheistic); Prajāpati, Viśvakarma
Khuynh hướng hướng này thiên về tán dương một vị
thần như là vĩ đại nhất và tối cao, dần dần đề xuất quan niệm một Đấng
chủ tể của tạo vật (s: Prajāpati; e: Lord of all beings),
chứ không do tiến trình khái quát hoá nhận thức mà như là một giai đoạn
thiết yếu của sự phát triển tâm thức, có thể tưởng tượng một vị thần như
là kho tàng chứa đựng các công hạnh cao tột và sức mạnh tự nhiên vô
song, cho dù sự biểu hiện trực tiếp không thể nào nhận ra được. Thế nên
danh hiệu Đấng chủ tể của tạo vật (s: Prajāpati; e: Lord of all beings),
vốn khởi nguyên là danh hiệu của các thần khác, trở nện được nhận thức
như một vị thần riêng biệt, cao nhất và vĩ đại nhất. Như được truyền
tụng qua R. V. x. 121.
Từ khởi nguyên của
Hiraṇyagarbha,
Sinh ra như chủ tể duy nhất của mọi hiện hữu.
Ngài ổn định thế gian này và tạo dựng cõi trời;
Còn vị thần nào để chúng ta tôn sùng và hiến cúng?
Ai cho chúng ta hơi
thở, sức mạnh
Nỗ lực của ai khiến mọi loài phải vâng theo, ngang hàng với các vị
thần sáng láng.
Cái bóng của ai chính là sự chết, Cái bóng của ai chính là sự sống
bất tử
Còn vị thần nào để chúng ta tôn sùng và hiến cúng?
Ai bằng với năng lực
của chính mình để trở thành quốc vương
Của tất cả mọi hơi thở, của sự thức tỉnh hay mê ngủ.
Của tất cả, người và thú, chủ tể hằng vĩnh
Còn vị thần nào để chúng ta tôn sùng và hiến cúng?
Sức mạnh và oai nghi
của ai phủ tuyết trắng núi này
Phô bày đại dương và những dòng suối tận xa xăm
Cánh tay ai ôm trọn hết mọi miền
Còn vị thần nào để chúng ta tôn sùng và hiến cúng?
Ai làn cho trời toả
sáng, đất kiên trì chịu đựng
Ai sắp đặt bầu trời, thiên đường của những thiên đường.
Ai đo được khoảng không gian vô cùng
Còn vị thần nào để chúng ta tôn sùng và hiến cúng?
Thuộc tính tương tự được gán cho Viśvakarma
(All-creator). Vị này được xem là cha đẻ và là tổ phụ của tất cả mọi
loài, dù chính thần ấy chẳng tạo tác. Thần này tạo ra nước từ thuở hồng
hoang. Các bậc hiền triết tán thán về ngài:
Ai là là cha chúng
ta, đấng chủ tể, đấng tạo tác,
Ai ở khắp mọi nơi tạo ra cái biết và mọi sinh thể
Bởi riêng ai mà thần thánh được đặt tên
Với các ngài, mọi sinh vật đều đến thỉnh cầu.
R. V. x. 8z. 3.
Brahma
Ý niệm về Brahman vốn đã có sự tôn xưng cao nhất
trong triết học Phệ-đàn-đa (Vedānta) sau này, vốn hầu như đã phát
khởi từ Lê-câu Phệ-đà với sự kết hợp của tâm thành kính. Ý nghĩa
mà Sayana, nhà luận giải Phệ-đà nổi tiếng đã phát biểu, được Haug
sưu tập lại, đó là:
a. Thực phẩm, sự dâng
cúng thực phẩm,
b. Tán ca của thầy tế
Sa-ma Phệ-đà (Sāma-Veda),
c. Nghi thức tế lễ.
d. Bổn phận hoàn thành
các nghi lễ.
e. Tán ca và dâng cúng
lễ vật cùng lúc.
f. Sự tụng đọc thuộc
lòng của các thầy tế (hotr priest).
g. Hoàn mãn.
Roth cho rằng nó còn có nghĩa ‘sự dâng hiến tự nó
biểu hiện như là lòng ước nguyện và thoả mãn của tâm hồn và phóng vọt
tới các thần.” Nhưng chỉ trong Phạm thư
Śatapatha, ý niệm
Brahman mới có được ý nghĩa vĩ đại như một nguyên lý tối thượng, làm
dịch chuyển sức mạnh phiá sau các vị thần.
Thế nên Phạm thư
Śatapatha nói
rằng: “Đúng vào lúc khởi thủy, (vũ trụ này) là Brahman (trung tính).
Brahman tạo ra các thần. Khi ra các thần rồi, Brahman khiến họ đến với
thế gian này: Agni là thần của thế gian (đất), Vāyu
là thần gió (không khí),
Sūrya là thần hư không... Rồi Brahman tự thăng hoa vào cõi giới
siêu việt. Khi đã đến cõi giới cao siêu đó rồi, ngài nghĩ rằng, ‘Làm sao
ta có thể trở lại trần gian này?’ Rồi ngài bước xuống lại trần gian với
hai phương tiện, Hình thể (Sắc) và Tên gọi (Danh). Bất luận cái gì có
danh xưng liền thành tên gọi cho cái ấy; lại nữa cái gì không có danh
xưng mà người ta biết nó qua hình dáng ‘cái này (có) hình dạng này, cái
kia (có) hình dạng kia’; miễn có tên gọi và hình thể là được, cứ như vậy
mà trải khắp vũ trụ này. Đây quả thực là hai năng lực vĩ đại của
Brahmaṇ. Ở một nơi khác, Brahmaṇ được xem là sự tuyệt đối trong Toàn thể
(Universe), và được đồng nhất với Prajāpati, Thần ngã (Puruṣa)
và Nguyên khí (Prāṇa).
Ở nơi khác Brahman được mô tả như là Tự sinh (Svayambhū),
hiện bày sự khổ hạnh, dâng hiến mình cho tạo vật và tạo vật ở ngay chính
trong mình. Thế nên Brahman nắm được uy thế tối cao, quyền lực khắp tạo
vật.
Ý niệm về Thần ngã (Puruṣa)
trong Lê-câu Phệ-đà (Ṛg-Veda) cũng là giả định một nhân
cách siêu việt trùm khắp thế giới chỉ bằng với bốn chi phần của chính
ngài, trong khi đó vẫn duy trì ba phần để vượt lên cõi thăng hoa. Một
lúc ngài là hiện tại, quá khứ và tương lai.
Hiến tế; Nguyên lý sơ đẳng nhất của Luật nghiệp quả (Law of
karma)
Sẽ không bao giờ sai lầm
khi cho rằng những khuynh hướng nhất thần (monotheistic) này dần dần
thay thể cho lễ hiến tế của đa thần giáo (polytheistic). Mặt khác, tính
phức tạp của chủ nghĩa nghi thức dần dần phát triển thành chi tiết tinh
vi. Song kết quả trực tiếp của sự phát triển này góp phần vào sự xếp
loại các thần thành một vị trí tương đối thứ yếu, và phát sinh những giá
trị của những yếu tố hấp dẫn trong lễ hiến tế như là một thể chế mà có
thể ban tặng kết quả hằng ao ước của chính họ. Phẩm vật dâng cúng trong
lễ hiến tế được người thành tâm dâng cúng một cách tự nguyện không bắt
buộc giống như lễ nghi chịu ảnh hưởng của Cơ-đốc giáo hoặc Vaiṣṇava.
Lễ hiến tế chiếm toàn thể mọi ý niệm như Haug ghi lại “như là một cỗ máy
trong đó mọi bộ phận phải ăn khớp với nhau,” chỉ một chút thiếu nhất
quán trong khi thực hiện dù một nghi tiết rất nhỏ, như khi tưới bơ lỏng
trên lửa, hoặc vị trí chính xác của các dụng cụ dùng trong lễ hiến tế,
hoặc ngay cả việc để sai chỗ cái nón rơm ngước với lời chỉ dạy là đủ để
làm hỏng toàn bộ lễ tế với bất kỳ lòng tha thiết để thực hiện. Chỉ một
lời phát âm sai thì kết quả xấu nhất sẽ theo sau. Thế nên khi Tvaṣṭṛ
tổ chức lễ hiến tế cho vị thần mà sẽ giúp giết hại kẻ địch của mình là
thần Indra, do vì đọc sai dấu nhấn một âm tiết mà mục tiêu bị đảo ngược,
vị thần bị giết bởi Indra. Nhưng nếu sự hiến tế được thực hiện đúng đắn
đến từng chi tiết, thì sẽ không có sức mạnh nào bị cầm giữ hay trì hoãn
việc đem đến mục đích kết quả. Thế nên mục đích hiến tế được thành tựu
không phải do ân huệ của các thần, mà là kết quả tự nhiên của lòng
thành. Sự thể hiện các nghi thức phát sinh vô số kết quả mầu nhiệm do
đức hạnh mà mục tiêu mong cầu của người dâng cúng tựu thành theo đúng
khoá lễ như sự thành tựu của luật tắc tự nhiên trong thế giới phàm trần.
Sự hiến tế được tin là tồn tại từ hằng vĩnh như chính tư tưởng Phệ-đà.
Sự tạo dựng thế giới chính nó còn được xem như kết quả của hiến tế được
thực hiện bởi Đấng tối cao (supreme Being). Nó hiện hữu như Haug phát
biểu “như một vật vô hình trong mọi thời gian và giống như sức mạnh tiềm
tàng của dòng điện trong máy phát, chỉ cần sự vận hành của những cơ phận
thích hợp là có tác dụng.” Lễ hiến tế không phải là dâng lên cho thần
một cái nhìn để làm lành với ngài hoặc để nhận từ ngài sự thịnh vượng
trên cõi trần hay sự lạc phúc trên cõi trời; những phần thưởng này trực
tiếp phát sinh bởi chính sự hiến tế thông qua sự thể hiện đúng đắn các
lễ nghi phức tạp và liên kết với nhau đã cấu thành lễ tế. Dù mỗi lễ hiến
tế đều có mỗi vị thần nhất định được cầu khẩn đến và để nhận vật phẩm
dâng cúng, chính các thần không chỉ là công cụ dẫn đến lễ hiến tế hoặc
cho sự hoàn thành các khoá lễ huyền bí. Hiến tế do vậy được xem như có
một tiềm năng mầu nhiệm siêu tuyệt ngay cả đối với các thần, là người có
khi tuyên bố là đã đạt được giai vị thần thánh qua phương tiện hiến tế.
Hiến tế được xem hầu như chỉ là một loại bổn phận, và còn được gọi là
hành nghiệp (karma hay kriyā)
và luật tắc không thể thay đổi được là, những nghi lễ mầu nhiệm này dành
cho cái thiện hay cái ác, đạo đức hay phi đạo đức (vì đã có rất nhiều
loại nghi lễ được thực hiện để triệt hạ kẻ thù của mình hay giành lấy
của cải hoặc quyền lực thế gian từ sự mất mác của người khác) đều được
trù định từ trước để đưa đến kết quả. Rất hay khi lưu ý ở đây rằng sự
thừa nhận ban sơ về trật tự vũ trụ hay luật tắc phổ biến trong tự nhiên
dưới sự bảo hộ của các vị thần tối cao đã được tìm thấy trong cách dùng
của từ Ṛta.
Từ này như Macdonell đã khảo sát, là vẫn được dùng, để chỉ rõ “ ‘trật
tự’ trong lĩnh vực đạo đức như là chân lý và ‘thiện’; trong lĩnh vực tôn
giáo như là hiến tế hoặc ‘lễ nghi’”
cùng với luật tắc không thể thay thế dẫn đến kết quả. Rất đáng lưu ý
rằng trong mối liên hệ này là chính ở nơi đây mà chúng ta tìm thấy mầm
mống đầu tiên của luật nghiệp quả, vốn áp dụng như một quyền lợi trùm
lên tư tưởng người Ấn Độ mãi cho đến ngày nay. Thế nên chúng ta nhận ra
niềm tin đơn giản và sự thành kính trong tán ca Phệ-đà từ một
mặt, đã thay thế qua sự phát triển của một hệ thống phức tạp của nghi
thức hiến tế; và mặt khác, hướng tiến trình của họ về phía thuyết nhất
thần (monotheistic) hoặc nhận thức triết học về thực tại tuyệt đối của
vũ trụ.
Nguồn gốc vũ trụ – huyền thoại và triết học
Nguồn gốc vũ trụ trong Lê-câu Phệ-đà (Ṛg-Veda)
có thể được nhìn từ hai phương diện, huyền thoại và triết học. Phương
diện huyền thoại thường có hai chiều hướng, như Giáo sư Macdonell cho
biết, “Một chiều hướng xem vũ trụ như là kết quả của tiến trình sản xuất
một cách máy móc, như tài nghệ tinh xảo của người thợ mộc và thợ lắp
ráp; chiều hướng kia cho rằng điều ấy như là kết quả của sự phát triển
tự nhiên.”
Thế nên trong Lê-câu Phệ-đà (Ṛg-Veda) chúng ta thấy trong
một đoạn tán ca nói rằng, “Ngoài gỗ và cây rừng, các ngài lấy gì để tạo
nên thiên đường và mặt đất?” Câu trả lời cho vấn đề này là trong Phạm
thư Taittirīya (Taittirīya-Brāhmaṇa),
“Brahman là gỗ, và Brahman là cây rừng, từ đó thiên đường và mặt đất
được tạo nên.”
Thiên đường và Mặt đất có khi được mô tả là được chống đỡ bởi các cột
trụ.
Có khi nó được truyền đạt như là cha mẹ của vũ trụ, và nguồn gốc tổ tiên
có khi được gán cho Aditi
và Dakṣa.
Từ phương diện triết học này, bán phiếm thần
Manhymn thu hút sự chú ý nhiều nhất. Thần ngã (s: prakti; e:
supreme man) như chúng ta đã lưu ý ở trên thì ở đây cho là toàn thể vũ
trụ, bất luận cái gì đã hiện hữu và cái gì sẽ thành. Thần ngã là chủ tể
của bất tử đã trở nên phổ biến khắp mọi nơi trong loài hữu tình và vô
tình, và tất cả mọi loài sinh ra từ ngài; từ rốn của ngài sinh ra không
khí; từ đầu của ngài phát sinh bầu trời, từ chân ngài sinh ra đất, từ
tai ngài sinh ra bốn phương hướng.
Lại có những tán ca trong đó Mặt trời được gọi là
linh hồn (ātman)
của tất cả các loài di động và bất động.
Còn có những phát biểu với ý nghĩa là Hiện hữu
(Being) là duy nhất, dù nó được gọi bằng nhiều tên của nhiều vị hiền
triết.
Sự hiện hữu tối thượng có khi được tán dương như là chủ tể tối cao của
thế giới được gọi là Trứng vàng (s: hiranyagarbha; e: golden
egg).
Trong vài đoạn có nội dung: “Brahmaṇaspati thổi sự sống vào những hài
nhi này như là thợ rèn. Trong thời đại sớm nhất của các thần, sự hiện
hữu (hữu thể) xuất phát từ cái không hiện hữu (vô thể), sau đó các tầng
lớp khí quyển xuất hiện, về sau, từ Uttānapada.”
Tán ca nổi bật và tuyệt vời nhất trong đó mầm mống đầu tiên của triết
học suy nghiệm quan tâm đến sự mầu nhiệm của nguồn gốc vũ trụ được tìm
thấy trong bài tán ca thứ 129, chương X của Lê-câu Phệ-đà (Ṛg-Veda):
-
Thuở ấy chưa có hữu thể, cũng chẳng có vô
thể.
Chẳng có không khí và bầu trời trên cao
Cái gì bao trùm tất cả? Ở đâu? Do cái gì chống đỡ?
Phải chăng đó là nước từ vực sâu thăm thẳm?
2.
Thuở ấy chưa có cái chết, cũng chẳng có sự bất tử .
Chưa có sự phân biệt ngày và đêm
Chỉ riêng thở bằng sự yên lặng và tự hộ trì
Ngoài Ngài ra chẳng còn ai, chẳng có gì trên Ngài.
3.
Thuở ban sơ bóng tối ẩn mình trong bóng tối;
Vũ trụ chỉ là nước mênh mông
Trong đó ẩn chứa cái trống không rỗng lặng
Riêng bằng sức mạnh của nhiệt tình mà Ngài sinh ra.
4.
Rồi lần đầu tiên ham muốn nổi lên,
Mầm mống ban sơ đã nàm trong đó.
Các hiền triết nhận ra nó từ trong tâm mình.
Trong Vô thể đã kết thắt Hữu thể.
-
...
6.
Ai là người biết được? Ai truyền đạt chân thực cho chúng ta?
Từ đâu mà vũ trụ này sinh khởi?
Và không biết cái gì sinh ra sau khi các thần hiện hữu?
Rồi ai biết vũ trụ có từ đâu?
7.
Cội nguồn nào mà vũ trụ sinh ra?
Ngài tác thành hay tạo dựng nó chăng?
Từ trời cao, chỉ riêng Ngài biết được
Đấng quyền năng, thấy khắp–hay không. Ngài có biết?
Lời dẫn giải về đoạn văn này có lẽ là một đoạn
trong Phạm thư Śatapatha
Brāhmaṇa (x. 5.3.
1), nói rằng “Từ khởi thuỷ (vũ trụ) như là chẳng có Hữu cũng chẳng có
Vô: lúc ấy chỉ có Tâm (Mind). Do đó điều ấy được tuyên bố bởi Rishi
trong Lê-câu Phệ-đà (Ṛg-Veda x. 129. 1), ‘Lúc ấy chẳng có
Vô cũng chẳng có Hữu’ vì Tâm đang hiện hữu như nó vốn là vậy, nó chẳng
hiện hữu chẳng phải không hiện hữu. Tâm này khi được tạo ra, có ý hướng
mong mọi loài đều hiện hữu –, rõ nét hơn, có thực hơn: nó được tìm thấy
trong bản ngã (một thân thể); nó có được tính kiên định trước sau như
một.”
Trong A-thát-bà Phệ-đà (Atharva-Veda),
chúng ta còn tìm thấy được lời tuyển bố rằng mọi hình tướng của vũ trụ
đều được lĩnh hội qua thần Skambha.
Như vậy chúng ta nhận thấy rằng ngay trong thời kỳ
Phệ-đà đã phát sinh một khuynh hướng triết học, ít nhất là trong
số những người đặt vấn đề vũ trụ rốt ráo có phải do sự tạo dựng hay
không, những người nghĩ về căn nguyên thế giới như là bị bao phủ trong
huyền thoại của tính bất biến ban sơ của hiện hữu và phi hiện hữu, và
nghĩ rằng chính là cái Nhất thể uyên nguyên (primal One), bằng sự thừa
hưởng nhiệt tâm (s: tapas; e: fervour) khiến phát ra lòng ham muốn sáng
tạo như là sự thể hiện ban đầu hạt giống tâm thức, từ đó vũ trụ phóng
xuất ra qua một loạt từng bước một những tiến trình huyền nhiệm. Trong
Phạm thư, do vậy, chúng ta thấy rằng quan niệm nguồn gốc vũ trụ thường
đòi hỏi một chủ thể tạo tác, tuy đó chẳng phải là vị luôn luôn có vị trí
khởi đầu, và chúng ta thấy rằng thuyết tiến hoá (theory of evolution)
được kết hợp với thuyết (chủ thể) tạo tác, thế nên prajāpati
có khi được truyền đạt như là chủ thể tạo tác, trong khi ở nơi khác thì
chủ thể tạo tác được trình bày như là trôi bồng bềnh trong biển nước
nguyên sinh (primeval water) vốn là Kim thai tạng (Cosmic golden egg)
của vũ trụ.
Thuyết mạt thế (Eschatology), học thuyết về Ngã
(Ātman)
Dường như có niềm tin trong tư tưởng Phệ-đà
rằng linh hồn có thể tách lìa khỏi thân xác trong trạng thái bất tỉnh,
và linh hồn ấy vẫn tồn tại sau khi chết, dù chúng ta không thể tìm thấy
dấu tích nào của học thuyết luân hồi sinh tử trong dạng đã được phát
triển. Phạm thư Śatapatha
nói rằng những ai không thực hiện nghi thức hiến tế với sự hiểu biết
đúng đắn thì sẽ tái sinh trở lại sau khi chết và chết trong đau khổ một
lần nữa. Trong một tán ca của Lê-câu Phệ-đà (x. 58), thần thức (manas)
của một người dường như là vô thức, được mời trở lại với người ấy từ cây
rừng, thảo mộc, hư không, mặt trời, v.v... Trong nhiều tán ca, còn có
niềm tin về sự hiện hữu của các thế giới khác, nơi mà niềm vui vật chất
cao nhất có được như là kết quả của sự thực hiện hiến tế, còn trong ngục
tối thì người ác chịu hình phạt. Trong Phạm thư
Śatapatha, chúng
ta thấy người chết qua lại giữa hai hoả ngục trừng phạt kẻ ác, nhưng lại
để cho người thiện đi qua;
trong đó cũng nói rằng mọi người đều phải sinh lại sau khi chết, được đo
bằng cái cân, và nhận phần thưởng hay hình phạt tuỳ theo những việc làm
tốt hay xấu của mình. Dễ dàng nhận ra rằng những ý tưởng rải rác như thế
này qua cách nhìn vận mệnh linh hồn của con người tuỳ theo họ có thực
hành lễ hiến tế hoặc những việc làm tốt xấu hay không? Đó là nguyên lý
sơ đẳng của thuyết luân hồi
sau này. Ý tưởng con người sung sướng hay đau khổ, trong thế giới khác
hoặc ở trong cõi giới này là tuỳ thuộc vào việc làm tốt hay xấu của họ,
là khởi nguyên của tư tưởng đạo đức, dù trong thời đại của Phạm thư,
việc thiện thường thuộc về bản chất cuả bổn phận hiến tế hơn là những
việc tốt thông thường. Những ý tưởng có liên quan tất yếu đến vui buồn
của con người với việc thiện ác của họ khi kết hợp với ý niệm trật tự
hoặc luật tắc bất khả xâm phạm, mà chúng ta đã thấy qua sự phát triển
dần dần với ý niệm Ṛta, và luật tắc không thể thay thế làm phát
sinh kết quả của việc hiến tế, đã dẫn đến Luật Nghiệp quả (Law of Karma)
và học thuyết luân hồi. Thuật ngữ biểu thị cho linh hồn (soul) trong
Lê-câu Phệ-đà là manas,
ātman và asu.
Tuy nhiên, chữ ātman
về sau trở nên thông dụng trong tư tưởng Ấn Độ khi được dùng với
nghĩa ‘hơi thở sinh động–vital breath.’ Manas được xem như
là cứ điểm của tư tưởng và tình cảm, và Manas được xem là, như
Macdonell nói, cư ngụ trong trái tim.
Tuy nhiên, khó để hiểu ra tại sao
ātman là ‘hơi thở
sinh động–vital breath,’ hay là phần tách biệt ra khỏi người chết
lại được xem là phân tinh tuý hoặc thực nhất trong con người và trong vũ
trụ. Song có ít nhất một đoạn trong Lê-câu Phệ-đà, trong đó thi
ca đã xuyên thật sâu từ hơi thở sinh động–asu, đến máu huyết, từ
đó xuyên qua ātman
như là cái ngã sâu cùng nhất của thế giới;
Ai biết làm sao loài
có xương
(hình dáng của vũ trụ) lần đầu tiên được sinh ra,
Là từ loài không có xương
( vũ trụ vô hình)?
Đâu là hơi thở sinh động, máu, tự ngã (ātman)
của thế giới?
Ai hỏi ngài có biết được chăng?
Trong Sâm lâm thư Taittirīya
Aranyaka I, 23, tuy vậy, nói rằng sau khi Thế chủ (Prajāpati)
tạo lập chính mình xong (như là thế giới) bằng chính cái ngã của mình
nhập vào trong đó. Trong Phạm thư Taittirīya,
ātman được gọi
là có mặt khắp mọi nơi (omnipresent), và được cho là ai biết được ngài
sẽ không còn bị nhiễm bởi ác nghiệp. Thế nên chúng ta thấy rằng trong
văn học Phệ-đà thời tiền Áo nghĩa thư, có lẽ lần đầu tiên ngã (ātman)
được dùng để chỉ cho “hơi thở sinh động” trong con người, rồi chỉ
cho cái ngã của vũ trụ, và rồi chỉ cho cái ngã của con người. Từ giai
đoạn sau cùng này, chúng ta tìm ra được dấu tích khuynh hướng phát triển
để quán sát tự ngã con người như là nguyên lý tối cao phổ biến của vũ
trụ, sự hiểu biết về điều ấy khiến cho con người không bao giờ phạm tội
và trở nên thanh tịnh.
Kết luận
Nhìn vào sự phát triển của tư tưởng trong Lê-câu
Phệ-đà (Ṛg-Veda), đầu tiên chúng ta thấy rằng cấu trúc tư
tưởng dần dần phát triển không chỉ xem vũ trụ như là phần tương quan của
cấu trúc đã hình thành ra nó, nhưng tìm kiếm cách giải thích nó như đã
toát ta từ một nhân cách vĩ đại đôi khi được mô tả như đồng nhất với vũ
trụ và trội vượt trên nó, và vào lúc khác thì như là thực thể tách rời
ngoài nó. Thuyết tinh thần bất khả tri (agnostic) là mẹ của tư tưởng
triết học, lúc ấy được xem là rất táo bạo khi diễn tả sự hoài nghi ngay
trong vấn đề nền tảng nhất của sự tạo lập – “Ai biết thế giới này có
được tạo dựng hay không?”
Thứ đến, sự phát triển của hiến tế đã giúp cho
chúng ta thiết định tính chất không thể thay đổi của luật tắc mà nhờ đó,
hành vi hiến tế tự phát sinh ra kết quả. Nó cũng giảm trừ tính quan
trọng của các thần như là chủ tể tối cao của thế giới và số phận chúng
ta, cùng khuynh hướng Độc thần (Henotheism)
dần dần giảm trừ đặc tính phức tạp của nó và tiến lên khuynh hướng Nhất
thần (Monotheistic) trong một vài địa phương.
Thứ ba, linh hồn con người được mô tả như là thực
thể tách rời khỏi thân xác và chủ thể để hưởng sự vui và khổ nơi thế
giới khác tuỳ theo nghiệp thiện hay ác của nó; học thuyết linh hồn con
người có thể tái sinh thành thực vật, v.v... hoặc có thể đầu thai lại
trên thế gian, cũng được gợi ý trong các doạn văn khác; và điều này được
xem như gieo hạt giống đầu tiên cho thuyết luân hồi sau này. Ngã (ātman)
được xem là một vị trí quan trọng của thế giới, và khi chúng ta truy tìm
ý tưởng này trong Phạm thư (Brāhmaṇa)
và Sâm lâm thư (Āranyaka),
chúng ta sẽ thấy rằng Ngã (ātman)
ấy bắt đầu có nghĩa là thể tính tối thượng (supreme essence) trong con
người cũng như trong vũ trụ, thế nên có sự tiếp cận với thuyết Đại ngã
trong Áo nghĩa thư (Upaniṣad).
Thích Nhuận Châu
(Dịch từ A History of INDIAN PHILOSOPHY)
|