|
TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số 4 - PL. 2551
[MỤC LỤC]
THIỀN SƯ CHÂN NGUYÊN
NGƯỜI MUỐN GỞI
NHỮNG ƯỚC MƠ
ĐẾN DÂN TỘC VIỆT
THÍCH PHƯỚC
AN
Tiểu sử chép: “Năm 19 tuổi Chân Nguyên đọc quyển
Thực Lục sự tích Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang, chợt tỉnh ngộ mà
nói rằng, đến như cổ nhân ngày xưa, dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự
công danh, huống gì mình chỉ là một anh học trò”. Bèn phát nguyện đi tu.
Thế là cũng như Thiền sư Huyền Quang, Chân Nguyên
cũng leo lên núi Yên Tử để thực hiện chí nguyện xuất gia học đạo của
mình.
Và cũng giống như Huyền Quang, Chân Nguyên cũng đã
viết Thiền tịch phú khi Chân Nguyên còn đang làm trụ trì tại chùa
Long Động trên núi Yên Tử.
Dù không được đánh giá cao như Vịnh vân yên tự
phú của Huyền Quang, tức là một trong bốn bài phú nổi danh của đời
Trần, là Cư Trần Lạc Đạo Phú, Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca
của Trần Nhân Tông, Giáo Tử Phú của Mạc Đỉnh Chi, mà Giáo sư Lê
Mạnh Thát cho là “chỉ bắt đầu từ bốn bài phú ấy, nền văn học Tiếng Việt
mới có những tác phẩm đầu tiên còn được bảo tồn cho đến ngày nay”.
Mặc dù không được đánh giá cao và truyền tụng nhiều
như Vịnh Vân Yên Tự Phú của Huyền Quang, nhưng đọc Thiền Tịch
Phú, ta không những thấy lại được cảnh sinh hoạt nơi chốn Thiền môn
của Phật giáo Vịệt Nam ở cuối thế kỷ thứ 17 và những năm đầu thế kỷ 18,
từ cách thờ phụng đến tu niệm, từ đồ ăn thức uống đến chương trình giáo
dục của Thiền viện, đặc biệt ta còn thấy được ngòi bút của Chân Nguyên
gần như bay bổng và đầy niềm kiêu hãnh khi đang là hành giả thực hiện
chí nguyện cao cả của người xuất gia, dù Chân Nguyên vẫn một mực khiêm
tốn nói rằng mình không hề có ý định làm văn chương: “phúc lại thấy
tri thức bạn lành, mấy chốc mà nên, lọ là phải văn chương ngốc ngách”
Đây là cảnh Chân Nguyên tu niệm hàng ngày ở chùa
Long Động, nơi ông đang làm trụ trì: “Đêm đông trường khi mật niệm,
gióng tiếng chuông thánh thót lênh kênh; ngày hạ tiết lúc tụng kinh, nện
dùi mõ khoan mau lịch kịch”.
Đã gần 20 thế kỷ qua, nghĩa là từ khi Phật giáo du
nhập vào Việt Nam đến nay thì tiếng chuông, tiếng mõ cùng lời kinh kệ
như tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng kinh kệ của chùa Long Động này
đã an ủi không biết bao nhiêu mảnh đời bất hạnh, những tâm hồn cô đơn
lạc lõng, nhất là đã cùng vui với nỗi vui của dân tộc trong những triều
đại oanh liệt và đau theo nỗi đau của dân tộc khi người dân phải sống
chung dưới những chế độ chuyên chế hà khắc.
Còn đây là đoạn Chân Nguyên tả cách ăn mặc hàng
ngày:
“Chỉn chuộng một bề
đạo đức, miệng chẳng hiềm ăn đắng ăn cay, vốn yêu hai chữ từ bi, thân
nào quản mặc lành mặc rách.
Khi dưa dấm chua lòm
Bữa canh suông lạt thếch
Mũ viền sô nhuộm mực đen sì
Quần áo vải nâu sồng cũ rích
Tham tài ái sắc, chẳng bao màng thói tục kiêu ngoa
Cầu đạo xả thân, vốn giữ nếp nhà Thiền cục kịch.
Túi để đựng kinh chứa sách, túi nào dùng vóc cải móng rồng
Dép đi đỡ bụi cách trần, dép
chẳng chuộng da tàu hàm ếch”
Điểm khác biệt nhất để phân biệt Phật giáo với các
tôn giáo khác là Phật giáo không bao giờ chủ trương độc quyền dù là độc
quyền tư tưởng. Bởi vậy, Phật giáo nhất là Phật giáo Việt Nam mà tiêu
biểu là Phật giáo dưới hai triều đại Lý, Trần đã vận dụng triệt để tinh
thần bao dung ấy của Phật giáo và đã đoàn kết được dân tộc lại thành một
khối duy nhất.
Trong Thiền Tông Chỉ Nam, một trong những
tác phẩm quan trọng nhất của vua Trần Thái Tông, nhà vua đã phát biểu rõ
ràng ý đồ ấy của mình:
“Để dạy bảo quần chúng u mê, soi tỏ đường tắt về lẽ
sống chết, đấy là giáo lý vĩ đại của Phật, gánh vác việc cầm cân công
lý, làm ra mẫu mực tương lai, đó là trách vụ của thánh nhân Nho giáo.
Giáo lý của Phật ta lại mượn tay thánh Nho để truyền vào đời sống đoàn
thể”
Thiền sư Chân Nguyên muốn đem tinh thần ấy cho
triều đại nhà Lê nên Chân Nguyên đã viết trong Thiền Tịch Phú:
Chơi rừng Nho len
lỏi suối khe
Dạo
bể Thích luồn tuôn ngòi lạch
Và Chân Nguyên ước mơ một ngày nào đó hai hệ tư
tưởng lớn nhất này sẽ cùng đưa đất nước đến hùng mạnh như hai triều Lý
và Trần đã hùng mạnh nhờ áp dụng một cách thành công sự kết hợp này:
Sư quân tử cấy trúc
ngô đồng
Đệ
trượng phu trồng thông tùng bách
Trăm thức hoa đua nở kề hiên
Bảy
giống báu chất đầy kẻ ngạch
Ngào ngạt mùi xạ lan
Thơm tho hương trầm bạch.
Nhưng đạo Phật không dừng lại ở đó mà mục tiêu cuối
cùng của đạo Phật vẫn là phải giải thoát khỏi sự thống khổ mênh mông của
kiếp người. Nhưng Khổng giáo cũng như Lão, Trang hoàn toàn không đáp ứng
được đòi hỏi cấp thiết mà Thiền sư Cửu Chỉ của Phật giáo ở thời nhà Lý
đã chỉ cho thấy sự khiếm khuyết ấy:
“Không Mặc chấp hữu, Trang Lão nhược vô, thế tục
chi điển phi giải thoát pháp. Duy hữu Phật giáo bất hữu vô, khả liễu
sanh tử.”
“Khổng học và Mặc học chấp vào thế gian là có
thật, Trang học và Lão học lại nói không có thật. Kinh sách thế tục
chẳng phải pháp học giải thoát con người, chỉ có Phật giáo vượt lên ‘có’
và ‘không’, nên mới có thể thấu triệt lẽ sống chết.”
Bởi vậy cho nên , khi kết thúc Thiền Tịch Phú,
Chân Nguyên đã kêu gọi tất cả chúng ta nếu muốn thấu triệt lẽ sống
chết thì hãy buông bỏ tất cả. Chỉ khi nào chịu buông bỏ thì chúng ta mới
có thể mở miệng mỉm cười mà chào đón giác ngộ:
“Khuyên
người đời đừng bắt chước sự đời, trước ra không sau lại về không, nữa
luống lòng nghĩ tiết khuâng khuâng.
Bảo kẻ có chí, phải theo đòi thánh chí, nhân đã
tỏ quả đà nên tỏ, rồi đắc ý cười riêng khích khích”
Bởi thế cho nên Chân Nguyên chỉ lấy cái hay của
Khổng giáo còn cái gì dở của Khổng giáo thì phải loại bỏ. Trong Tôn
sư phát sách đăng đàn thọ giới, Chân Nguyên đã khuyến cáo giới tăng
sĩ của Phật giáo thời bấy giờ rằng đã là bậc đại sa môn, bậc đại trượng
phu thì không nên rơi vào chỗ thấp hèn như các nhà Nho:
“Cho nên, áo mũ cân đai nhà Nho là nghi phục để
chầu vua thì ca-sa tọa cụ dòng Thích là pháp phục để chầu Phật. Áo vuông
đầu tròn làm con cháu Phật tổ là để hiển dương chánh pháp xuất hiện ở
đời, làm cho Phật pháp dài lâu, lợi ích muôn loài vậy.”
Phải chăng việc lạm dụng y áo vốn được ca tụng là
“thiện tai giải thoát phục” này để khúm núm với kẻ quyền thế chắc chắn
không chỉ xảy ra dưới thời nhà Lê của Chân Nguyên mà còn xảy ra ở bất cứ
thời nào, khi thời đó còn có những tăng sĩ Phật giáo tự nguyện biến
thành công cụ để phục vụ cho quyền lực thế tục?
Thiền sư Huyền Quang của Phật giáo đời Trần, người
mà Chân Nguyên đã vô cùng ngưỡng mộ và chính sự ngưỡng mộ này đã khiến
cho Chân Nguyên phát tâm xuất gia học đạo, có làm bài thơ đặt tên là
Sơn Vũ (Nhà trong núi), như thế này:
Thu phong ngọ dạ phất
thiềm nha
Sơn Vũ
tiêu nhiên chẩm lục la
Dĩ hỷ
thành Thiền tâm nhất phiến
Cung
thanh tức tức vị thùy đa
Đêm khuya gió thu
lay động bức rèm
Nhà
núi đìu hiu gối vào lùm dây leo xanh biếc
Thôi rồi, lòng ta đã hoàn toàn vắng lặng
Nhưng sao tiếng dế vì ai mà vẫn còn rền rỉ mãi?
Hai câu cuối của bài thơ có thể giải thích cho ta
biết lý do tại sao các Thiền sư không ở yên trên núi cao để hưởng an lạc
cho riêng mình mà lại phải xuống núi vì sự thống khổ của kẻ khác; và tất
nhiên cũng sẽ giải thích tại sao những nhân vật chính trong tác phẩm của
Chân Nguyên như thái tử Đạt Na trong Đạt Na Thái Tử Hành (ĐNTTH)
hay công chúa Diệu Thiện trong Nam Hải Quan Âm Bản Hành (NHQABH)
là những nhân vật đã vì sự thống khổ của con người mà phải gánh chịu
không biết bao nhiêu là khổ nạn, bao nhiêu là bất công, oan nghiệt cũng
chỉ vì họ muốn tự nguyện chia sẻ nỗi thống khổ ấy với con người chứ
không vì bất cứ một lý do nào khác cả.
Nhưng trước khi đi vào nội dung những tác phẩm của
Chân Nguyên thì ta cũng cần biết Chân Nguyên đứng nơi nào không những
đối với văn học Phật giáo nói riêng mà còn cả nền văn học dân tộc nói
chung nữa.
Theo giáo sư Lê Mạnh Thát, tác giả Chân Nguyên
Thiền Sư Toàn Tập (CNTSTT):
“Chân Nguyên (1647-1726) là một tác giả lớn của hậu
bán thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18. Trong tình hình tư liệu hiện nay, có thể
nói ông là người đầu tiên viết truyện bằng thể tài lục bát, mở đầu cho
sự ra đời hàng loạt truyện thơ của nền văn học dân tộc ta. Do thế ông
chiếm một vị trí nhất định trong lịch sử văn học và tư tưởng dân tộc.”
Tác phẩm được cho là quan trọng nhất trong toàn bộ
những tác phẩm của Chân Nguyên là Thiền Tông Bản Hạnh (TTBH).
Tác giả CNTSTT cho biết là vì sao Thiền Tông Bản
Hạnh lại quan trọng:
“Về phương diện văn học, TTBH đã cùng với Thiên
Nam Minh Giám và Thiên Nam Ngữ Lục, khai sáng ra một thể tài
văn học mới nổi tiếng trong lịch sử, lấy chính lịch sử dân tộc làm chủ
đề phô diễn, làm khung cảnh cho khả năng sáng tạo của người viết. Do đó
TTBH quan trọng không những cho công tác nghiên cứu chính tự thân thể
tài văn học ấy, mà còn cho việc tìm hiểu tương quan văn học lịch sử cùng
tác giả của chính nó với hai tác phẩm kia, đặc biệt vì ta biết tương đối
khá tường tận về tác giả đã viết nó. Trên phương diện lịch sử và tư
tưởng, TTBH là một tác phẩm quốc âm xưa nhất hiện được biết, chuyên viết
về một giai đoạn lịch sử và tư tưởng dân tộc, đó là giai đoạn từ năm
1225 – 1357, tức là năm Trần Cảnh lên ngôi cho đến khi Trần Nhân Tông
băng hà”.
Còn đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam, thì TTBH
còn giữ một vị trí quan trọng hơn nữa:
“TTBH là một tác phẩm lịch sử của Phật giáo Việt
Nam đầu tiên bằng Quốc Âm được phát hiện. Nó giúp ta không những hiểu
biết lịch sử Phật giáo trong giai đoạn ấy, mà còn cả tình trạng kiến
thức lịch sử và quan niệm tôn giáo của những người sống vào thời nó ra
đời. Xa hơn nữa, nó đã gợi lên một số những đề án lý luận mà sau này đã
trở thành cơ sở cho một hệ tư tưởng Phật giáo Việt Nam mang tính nhất
quán được thể hiện ở những con người như Ngô Thời Nhiệm và Toàn Nhật”.
Trong phần nhập đề của tác phẩm TTBH Thiền sư Chân
Nguyên đã nhắc lại một giai thoại mà ai cũng biết đã làm rung động không
chỉ các Thiền sư mà còn cả văn nhân, thi nhân và họa sĩ từ hơn 15 thế kỷ
qua, đó là giai thoại Niêm Hoa Vi Tiếu, nghĩa là cầm hoa mỉm
cười, mà kinh Đại Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh đã ghi
lại, theo đó thay vì thuyết pháp Đức Phật lúc đó đang ở trên đỉnh núi
Linh Thứu đã cầm một đóa hoa sen mà Phạm Thiên Vương vừa dâng cúng, đưa
lên rồi mỉm cười, trong pháp hội lúc đó chẳng ai hiểu được ý nghĩa này
cả, ngoài trưởng lão Ma Ha Ca Diếp:
Thuở xưa hội cả Kỳ
Viên
Bụt
cầm một đóa hoa sen giơ bày
Ca
Diếp trí tuệ khôn thay
Liễu ngộ tự tánh bằng nay mỉm cười
Trần trần sát sát Như Lai
Chúng sanh mỗi người mỗi có hoa sen
Hoa
là bản tính tự nhiên
Bao
hàm thiên địa phương viên cùng bằng
Hậu
học đà biết hay chăng
Tâm
hoa ứng miệng nói năng mọi lời
Chân Nguyên cũng diễn tả lại tiếng quát thét đầy uy
lực của các Thiền sư trong suốt dòng lịch sử của Thiền Tông:
Đến khi phó pháp
truyền trao
Vận
dụng trí tuệ thiển thâm nhiều bề
Hoặc là nghiễm tọa vô vi
Hoặc là thuấn mục dương mi giao thần
Hoặc hiện sư tử dĩnh thân
Quát thét một tiếng xa gần vang uy
Tuệ Sỹ trong bài viết cách đây hơn ba thập niên có
nói rằng chính tiếng quát ấy mà biết bao con người khát khao chân lý,
khát khao tuyệt đối đã lên đường để tìm cho ra lẽ sống chết:
“Một thời xa xưa tại các pháp đường của các Thiền
viện, người ta nghe sang sảng những tiếng cười và tiếng thét. Bao nhiêu
lời lẽ luận bàn khúc chiết được gửi trả về cho dãy sa mạc trên miền Cao
Á, nơi đã từng ghi dấu cuộc hành trình khổ nhọc của những tâm hồn khát
khao tuyệt đối. Nơi đây sa mạc vẫn cứ thiên thu cô tịch trong cơn gió
bức bách của hư vô. Lẽ sống và lẽ chết vẫn mãi mãi bồng bềnh hư ảo. Tâm
hồn miệt mài nóng cháy, nhưng không cháy tan nổi những giấc mộng hãi
hùng của hư vô và hủy diệt. Rồi mai kia, khi thời cơ đến, tiếng thét
trổi lên làm đảo lộn cả nếp sống bình sinh.”
Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn học vẫn nghĩ rằng,
Trần Thái Tông bỏ ngôi vua lên núi Yên Tử là do chuyện buồn riêng tư.
Điều đó có thể đúng một phần nào thôi, giả như nếu Trần Thái Tông không
buồn chuyện riêng tư thì một tâm hồn như ông cũng không thể nào không
mang nặng nỗi buồn muôn thuở của kiếp người, như chính Trần Thái Tông đã
trình bày với Thiền Sư Trúc Lâm trên núi Yên Tử:
“Lại nghĩ sự nghiệp đế vương thuở trước, thay đổi
bất thường, cho nên tìm đến núi này chỉ muốn được thành Phật chứ không
cầu gì khác”
Thiền sư Chân Nguyên đã diễn tả ý đó trong TTBH:
Lòng vua những lự
đêm ngày
hai
mươi sáu tuổi hầu hay chước nào
sinh lão bệnh tử thương sao
tuổi già lập cập nan đào tử sinh
Tháng ngày bằng chớp loáng minh
Thân người ảo hóa nhiều hành khá thương
Thế
tình tham những giàu sang
Đắm
say nào biết tuổi vàng phong đô
Tam
Hoàng ngũ đế thời xưa
Lưa
lần thay đổi biết qua mấy đời
Trong NHQABH Chân Nguyên cũng đã nhắc lại ý đó qua
lời của công chúa Diệu Thiện:
Gẫm chưng sự thế
gian này
Vinh hoa phú quý xem tày phù vân
Hưng vong bỉ thái xoay vần
Đế
vương kim cổ lửa lần bao nhiêu
Nhưng xét cho cùng thì bất cứ một con người vĩ đại
nào cũng đều không nhiều thì ít đều âm thầm chịu đựng một bi kịch nào đó
trong chính mình, Trần Thái Tông chắc cũng không ngoại lệ. Nhưng những
bậc vĩ nhân khác con người nhỏ bé tầm thường chúng ta ở chỗ, hễ chúng ta
bị đau khổ thì sự đau khổ sẽ làm cho ta ngã gục và từ đó cũng làm cho ta
đâm ra thù ghét và oán hận cuộc đời, còn những bậc vĩ nhân thì ngược
lại, họ biến nỗi đau khổ riêng tư ấy thành sức mạnh tinh thần không gì
lay chuyển nổi, để từ đó họ thông cảm sâu xa hơn nữa với bao nổi đau khổ
của cuộc đời và họ lại càng quyết tâm hơn nữa trong việc cứu vớt con
người ra khỏi bao nỗi đau khổ ấy.
Những ưu tư sau đây của Trần Thái Tông, những ưu tư
mà Chân Nguyên đã căn cứ vào lời tựa trong Thiền Tông Chỉ Nam do
chính Trần Thái Tông viết thì chắc chắn không phải là ưu tư của một vị
vua tầm thường như bao vị vua tầm thường khác, mà chắc chắn phải là ưu
tư của một bậc minh quân không chỉ hiếm hoi trong lịch sử của dân tộc mà
còn cả lịch sử của nhân loại nữa:
Vua thấy Thiên hạ
sầu bi
Lòng lo thảm thiết một khi trình thầy
“Thiên hạ rước trẫm về rày
Lòng muốn tu đạo nguyện thầy dạy sao?”
Dòng dòng nước mắt nhuốm sa
Một
là tiếc đạo hai là thương dân
Thuở ấy Thiền Sư Trúc Lâm
Thấy vua thuyết vậy bội phần khá thương
Trí
khôn tâu động Thánh Hòang
Được lòng thiên hạ mới lường rằng bây.
Thiền sư Chân Nguyên qua hai câu:
Dòng dòng nước mắt
nhỏ sa
Một
là tiếc đạo hai là thương dân
Theo tôi, đã nói lên được hết tất cả sự phân vân
lưỡng lự của một tâm hồn vĩ đại. Nghĩa là hoặc chỉ vì sự an vui của
riêng cá nhân hoặc là phải xuống núi trở lại vì tiếng kêu la thống thiết
của muôn người.
Chính hai câu nói của vị sư già trên núi Yên Tử:
“Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ có trong tâm, khi nào tâm vắng
lặng thì đó là chân Phật”, và “Hễ là bậc nhân quân, tất phải lấy tấm
lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình, lấy cái ý muốn của thiên hạ làm
ý muốn của mình” mà lịch sử của dân tộc đã mở ra một triều đại oanh
liệt. Oanh liệt không phải chỉ trong việc đánh đuổi ngoại xâm mà còn
oanh liệt trong việc xây dựng và phát triển đất nước trên mọi bình diện.
Kinh nghiệm lịch sử của đời Trần cho ta thấy rằng hễ triều đại nào biết
tôn trọng những giá trị tâm linh thì triều đại ấy sẽ phát triển rực rỡ
trên mọi mặt chứ không phải chỉ có một mặt là đánh đuổi ngoại xâm thôi.
Bây giờ ta tiếp tục xem thử TTBH đã thuật lại việc
Trần Thái Tông vâng lời Trúc Lâm Thiền sư “Nghiên cứu kinh điển, không
quên rửa lòng, rèn tính” như thế nào?
Vua ngồi tức lự trầm
ngâm
Hốt
nhiên đại ngộ mới thâm vào lòng
Ngộ
được Bát Nhã tâm tông
Vạn
pháp diệu dụng tự tính hiển dương
Bản
lai thanh tịnh chân thường
Viên minh phổ chiếu đường đường tịch quang
Khi
thời ngồi ngự ngai vàng
Khi
thời tọa tịnh thiền sàng bóng cây
Lòng thiền nghiêm cẩn ai hay
Quả
Bồ Đề chín đến ngày thâu công
Thiên hạ nam bắc tây đông
Thấy vua đắc đạo trong lòng vui thay
Đọc đoạn thơ trên khiến ta có thể liên tưởng đến sự
hân hoan náo nức của toàn thể nhân dân nước Đại Việt lúc bấy giờ khi
nghe tin Trần Thái Tông đã đánh bại đội quân Nguyên Mông xâm lược nước
ta vào ngày 24 tháng Chạp năm Đinh Tị (1258) tại Đông Bộ Đầu.
Vậy là Trần Thái Tông đã chiến đấu không phải chỉ
trên chiến trường với kẻ thù xâm lược thôi mà còn phải chiến đấu cả trên
mặt trận tâm linh nữa, và cả hai mặt trận Trần Thái Tông đều chiến thắng
một cách oanh liệt.
Nhưng sở chứng của Trần Thái Tông là gì mà lại lay
động được không biết bao nhiêu tâm hồn của người dân nước Đại Việt đương
thời? Chân Nguyên đã diễn lại câu hỏi của Đức Thành, một vị thiền sư của
nước Tống đến tham vấn Trần Thái Tông như sau:
Đức Thành lại hỏi
căn nguyên
Đế
vương ngộ đạo nhân duyên như hà
Này
lời Trần Thái Tông thưa ra
“Lưỡng mộc đồng hỏa đôi ta khác gì?”
Đương cơ đối đáp thị thùy
Thực tính ứng dụng cùng thì nhất ban
Phóng ra một bọc càn khôn
Thâu lại nhập nhất mao đoan như là
Ma
Ha Bát Nhã Ba La
Tam
thế chư Phật chứng đà nên công
Bách giang vạn thủy triều đông
Ngộ
đạo giáo lý thực cùng tề nhau
Phật tiền Phật hậu trước sau
Bát
Nhã huyền chỉ đạo mầu truyền cho
Ai
ai đạt giả đồng đồ
Mỗi
người mỗi có minh châu trong nhà
Dường như nơi con người của Chân Nguyên lúc nào
cũng khát khao vươn lên khỏi thân phận bi thảm của kiếp người một cách
vô cùng mãnh liệt. Cho nên ta chẳng lấy gì làm lạ hễ khi nào có dịp đề
cập đến những vấn đề triết học quan trọng của Phật giáo như Chân Như, Bồ
Đề, Phật Tánh, Bát Nhã v.v… thì ngòi bút của Chân Nguyên có dịp bay
bổng.
Đây là đoạn Chân Nguyên diễn lại cảnh Tuệ Trung
Thượng Sĩ chỉ cho Trần Nhân Tông thấy diệu dụng cái tâm của chính mình
và của cả mọi người:
Tuệ Trung trỏ bảo
liền tay
Tức
tâm thị Phật xưa nay Bụt truyền
Tâm
là bản thể căn nguyên
Tâm
là nhật tự pháp môn thượng thừa
Tâm
bao bọc hết thái hư
Tâm
năng ứng dụng tùy cơ trong ngoài
Tâm
hiện con mắt lỗ tai
Hay
ăn hay nói mọi tài khôn ngoan
Tâm
năng biến hóa chư ban
Vạn
pháp cụ túc lại hoàn như như
Và dưới đây là cảnh tượng đầy hùng tráng mà đệ nhất
tổ Trần Nhân Tông đã phó chúc cho Thiền sư Pháp Loa làm đệ nhị tổ dòng
Thiền Trúc Lâm Yên Tử:
Pháp Loa ta đã
truyền lòng
Làm
đệ nhị tổ nối dòng Như Lai
Đèn
Bụt như lửa mặt trời
Hỏa
tinh vô tận mỗi người mỗi cho
Bảo
Sát hãi chúng môn đồ
Ai
ai cũng có minh châu trong mình
Pháp thân nghiêm hỷ, trường linh
Tì
Lô thượng đảnh tung hoành thái hư
Thánh phàm vô khiếm, vô dư
Đường đường đối diện như như thể đồng.
Nhưng ta có thể thắc mắc tại sao Chân Nguyên lại
ngồi cặm cụi viết lại bằng thể thơ lục bát một giai đoạn hào hùng nhất
của lịch sử dân tộc? Phải chăng ông muốn gởi gắm tâm sự của mình với
giai đoạn lịch sử đầy hào hùng nhằm tìm một lối thoát cho dân tộc và cho
cả thời đại mà Chân Nguyên đang sống chăng?
Tác giả TSCNTT đã lý giải một cách rất cảm động
rằng:
“Chân Nguyên sinh năm 1647 và mất năm 1726, như vậy
sống hoàn toàn vào hậu bán thế kỷ XVII và phần tư đầu thế kỷ XVIII. Vào
giai đoạn đó trong đời sống kinh tế của nhân dân nói chung đã phát triển
lên một bước, nhưng chế độ phong kiến vẫn cố sức kềm hãm đà phát triển
ấy, nên đã để mình lao nhanh vào cuộc khủng hoảng với những mâu thuẫn
không thể giải quyết nổi của bản thân nó. Đất nuớc vẫn qua phân, nhân
dân vẫn đói khổ. Do thế, một bộ phận trí thức dân tộc đã băn khoăn suy
nghĩ đi tìm cách để cứu nước, cứu dân. Vì vậy, họ đã quay về những thời
kỳ vàng son của đất nuớc, những anh hùng của dân tộc, tra soát lại lịch
sử để hiểu xem nhân tố nào đã tạo nên những thời kỳ vàng son và những
anh hùng dân tộc đó (…).
Sống vào một thời đại như vậy, Chân Nguyên không
thể không có những đóng góp mang tính thời đại của mình. Ông đã trở về
truyền thống dân tộc, tìm lại những mẫu người điển hình của quá khứ vẻ
vang để suy niệm và sáng tác. Ông đã viết TTBH, mô tả lại cuộc đời của
hai vị vua anh hùng đời Trần, từng vào sanh ra tử, quyết chiến, quyết
thắng kẻ thù Nguyên Mông xâm luộc hùng mạnh hung hãn nhất thế giới thời
bấy giờ và đã chiến thắng một cách lừng lẫy vang dội khắp loài người, đó
là Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông”.
Nhưng nhân dân vào thời đại Chân Nguyên đã sống như
thế nào? Dù là một cốt truyện lấy từ truyện tiền thân của Phật giáo,
nhưng qua cái nhìn của thái tử Đạt Na ta thấy được phần nào bức tranh vô
cùng ảm đạm mà người dân thời Chân Nguyên đã phải gồng mình lên để gánh
chịu:
Từ Anh ra chơi ngoài
đường
Bần
nhân kêu khóc dậy đường van lơn
Anh
xem thấy nó khôn hàn
Trần truồng khỏa lộ cơ hàn thiết thay
Cơm
thời chẳng có ăn rày
Áo
thời thuở này chẳng có che thân
Cùng là gầy guộc tay chân
Tối
thui què quặt muôn phần xót xa
Có
người Chốc lịch càng gia
Nằm
lăn hòa khóc ở ca bên đường
Đêm
ngày dãi nắng dầm sương
ốm
đau yếu đuối mình bằng cọng tơ
Cơm
áo chẳng có ai cho
Lấy
chi mà uống mà hồ sống nay
Tác giả CNTSTT đã nhận định rất đúng rằng: “Đọc
những câu thơ vừa dẫn, ta thấy ngay Chân Nguyên không thể tả một thế
giới nào khác hơn là thế giới của thời đại ông đang sống”.
Chân Nguyên đã sống vào thời đại nhà Lê (Trung
hưng). Vậy các sử gia đã đánh giá thế nào về nhà Lê, tức là thời đại mà
Chân Nguyên đang sống?
Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược
viết rằng: “Nhà Lê, kể từ vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) cho đến vua Cung Hoàng
vừa đúng một trăm năm (1428 – 1527), được mười ông vua. Nhưng trong bấy
nhiêu ông, trừ vua Lê Thái Tổ, thì chỉ có vua Lê Thánh Tông và Hiếu Tông
là đã lớn tuổi mới lên ngôi, còn thì ông nào lên làm vua cũng còn trẻ
cả. Vì thế cho nên việc triều chính mỗi ngày mỗi suy kém, lại có những
ông vua hoang dâm, làm lắm điều tàn bạo để đến nỗi trong nước xảy ra bao
nhiêu biến loạn.
Sống giữa những ông vua như vậy, nên ta chẳng lấy
gì làm lạ khi chân Nguyên đã để cho công chúa Diệu Thiện trong NHQA đã
nói thẳng với cha mình mà đồng thời cũng là vị vua đang cai trị đất nước
rằng:
Sao cha ám muội hôn
mê
Tâm
tà xí thạnh nào còn biết chi
Gẫm
mình da bất năng trì
Sao
cho trị quốc xứng vì thánh quân
Chân Nguyên sinh năm 1647 và mất năm 1726, nghĩa là
sống trong giai đoạn mà hai tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn đang tranh
giành nhau một cách quyết liệt. Sống trong không khí chính trị đầy ngột
ngạt như vậy nên Chân Nguyên tất nhiên phải ước mơ một ngày nào đó đất
nước sẽ phải thu về một mối, để người dân không còn phân biệt kẻ Bắc
người Nam nữa:
Lòng tôi chẳng muốn
Bắc Nam
Lấy
làm bốn bể anh tam một nhà
Thu
về hội họp quốc gia
Địa
lợi nhân hòa lẽ ấy càng hơn.
Có lẽ ta cũng cần bàn thêm ở đây là bốn câu trên
cùng với hai câu này:
Tích lấy tài sản làm
chi
Cho
hay của ấy thật thì của chung
Trong tác phẩm DNTTH của Chân Nguyên chẳng liên hệ
gì đến thứ triết lý về kinh tế cũng như xã hội đã xuất hiện ở Tây phương
từ những năm hậu bán thế kỷ XVIII và đã tồn tại cho đến những năm cuối
thế kỷ XX.
Khi Chân Nguyên chủ chương “Không tích lũy tài sản”
vì “Của ấy thật là của chung” thì chắc chắn Chân Nguyên không đứng trên
một chủ thuyết nào cả mà ông chỉ vì lòng từ bi của Phật giáo như ông đã
xác nhận:
Lòng tôi cảm đức từ
bi
Thấy người đói rách tôi thì càng thương
Bởi vậy, cách giải quyết của Chân Nguyên là kêu gọi
những người đang cai trị tức là những kẻ đang nắm giữ tài sản khổng lồ
của quốc gia hãy bỏ tánh tham lam đi để mọi người dân đều được quyền
hưởng thụ tài sản mà chính họ đã từng bỏ công sức ra để đóng góp. Vì quả
thật đó là tài sản chung của mọi người chứ không phải của riêng ai kể cả
giai cấp đang thống trị:
Dám khuyên bệ hạ từ
rày
Thi
nhân bố chính cho hay ở mình
Chớ
hề ngược đãi thương sinh
Văn
vũ triều đình ái quốc ưu quân
Nhưng khi mơ ước một xã hội công bằng bởi lòng từ
bi, cũng như việc thái tử Đạt Na thực hiện ước mơ đó bằng cách bố thí
tất cả, kể cả vợ và con mình thì không ít người đã thắc mắc phải chăng
thái tử Đạt Na đã vi phạm chính ngay phẩm giá của con người?
Bây giờ ta xem thử tác giả CNTSTT đã giải đáp vấn
đề cực kỳ quan trọng này như thế nào?
“Theo chúng tôi nghĩ, xuất phát từ chủ nghĩa nhân
đạo ước mơ mà nó nhắm tới, trong khi việc nó gây ra nhiều nghi vấn lại
bắt nguồn từ phương thức để thực hiện chủ nghĩa nhân đạo ước mơ đó. Nói
khác đi, người ta dẫn chuyện Đạt Na, vì nó nói lên được giấc mơ về một
thế giới lý tưởng thực sự chân chính của con người. Nhưng người ta vẫn
thắc mắc về những hành động của Đạt Na, bởi vì người ta biết rằng những
hành động ấy không phải là những phương thức thực tế để thực hiện thế
giới ước mơ đó một cách hữu hiệu. Cử chỉ bố thí có thể là một cử chỉ
nhân đạo, nhưng nó không đủ để xây dựng một thế giới nhân đạo.
Đúng là những ước mơ của thái tử Đạt Na không đủ để
xây dựng một thế giới nhân đạo, nhưng theo tôi cuộc đời sẽ tăm tối biết
là bao nếu những ước mơ của con người về một thế giới sẽ tốt đẹp hơn
trong ngày mai sẽ không bao giờ còn hiện hữu trong giấc mơ của con người
nữa. Bởi thế, con người cứ nên tiếp tục nuôi dưỡng giấc mơ đó dù biết
rằng những giấc mơ đó sẽ chẳng bao giờ thực hiện được trên đời này.
Thiền sư Chân Nguyên mất năm 1726 thì cũng chính
trong năm đó Lê Quý Đôn, một nhà Nho lỗi lạc đã chào đời. Trong tác phẩm
Thiền Dật Kiến Văn , Lê Quý Đôn đã chỉ trích những nhà Nho của
triều Lê, tức là triều đại mà ông đang sống và phục vụ như thế này:
“Ngô Nho chấp bỉ thử chi kiến, mỗi mỗi biện bác
báng cập Tiên, Thích hà kỳ chất dã”.
Bọn nhà Nho chúng ta chấp quan điểm này quan
điểm kia, mỗi mỗi biện bác, nhạo báng cả đạo Tiên, đạo Thích, sao mà lú
lẫn đến thế?
Thật ra, việc các nhà Nho nhạo báng đạo Phật thì
chẳng có gì quan trọng, vì chỉ cần một câu nói ngắn gọn nhưng vô cùng
súc tích của Thiền sư Cửu Chỉ ở đời Lý đã được trích dẫn ở trên:
Khổng học và Mặc học chấp vào thế gian là có thật, Trang học và Lão học
chủ trương là không có thật. Nhưng kinh sách thế tục đó chẳng phải là
những môn học để giải thoát con người, chỉ có Phật giáo là không chấp
“có” và “không”, nên mới hiểu rỏ lẽ sống chết, thì đã có thể trả lời
một cách thỏa đáng cho bất kỳ nhà Nho nào ở đời Lê nuôi dưỡng tham vọng
độc tôn chân lý của họ rồi.
Nhưng dù sao thì đó cũng chỉ là sự tranh chấp trên
bình diện tư tưởng. Nhưng khi đem những tư tưởng mà họ muốn “Độc tôn” đó
áp dụng vào xã hội thì họ mới thực sự là những kẻ đã gây ra tai họa cho
xã hội.
Cố giáo sư Nguyễn Đăng Thục đã nêu trong Lịch Sử
Tư Tưởng Việt Nam (Tập 6 ) sự tai hại ấy như thế này: “Chế độ phụ hệ
của Nho giáo coi rẻ con gái, vì họ quan niệm “Bất hiếu hữu tam, Vô hậu
vi đại”, nghĩa là “Điều bất hiếu lớn nhất là không có con trai để nối
dõi tông đường”. Điều ấy trái với chế độ mẫu hệ tôn trọng phụ nữ ở xã
hội nông nghiệp Việt Nam.
Hai bà Trưng đã mở đầu trang lịch sử dân tộc, bà Lý
Chiêu Hoàng nối ngôi triều Lý, bà Thần Phi Ỷ Lan nhiếp chính được nông
dân tôn làm “Quan Âm nữ”.
Chính trong trong hoàn cảnh ấy mà Thiền sư Chân
Nguyên của Phật giáo phải viết NHQABH. Nhưng điều đáng buồn là, tác phẩm
này theo giáo sư Lê Mạnh Thát “Từ trước tới nay những người viết văn học
sử thường nhất trí với nhau coi nó như một tác phẩm vô danh, hay khuyết
danh, của nền văn học nhân gian”.
Và nhiều tác giả còn cho rằng những tác phẩm có
tính cách bình dân đó là của những “Nho sĩ nghèo” và xem họ “Có vai trò
lớn trong sự phát triển của văn học dân tộc”. Tác giả CNTSTT cho rằng
điều đó chỉ đúng một phần thôi. Vì sao? “Trên thực tế tầng lớp Nho sĩ
bình dân chỉ là một bộ phận trí thức dân tộc. Ngoài nó ra, và ngoài bộ
phận Nho sĩ hiển đạt, còn có một bộ phận khác nữa, quan trọng và đông
đảo hơn nhiều đã đóng một vai trò tích cực rất lớn ở nông thôn với quá
trình hình thành, phát triển và bảo lưu của nền văn học dân gian. Đó là
những vị Thiền sư, những trí thức xuất thân từ chùa chiền Việt Nam.
Chúng tôi nghĩ rằng, chính tầng lớp trí thức này đã viết ra và cải biên
phần lớn những tác phẩm, mà ngày nay ta xếp vào loại khuyết danh. Nhưng
với sự phát hiện bản in năm Tự Đức thứ ba (1850) với lời ghi rõ ràng là
NHQA do Trúc Lâm Tuệ Đăng Hòa thượng Chánh Giác Chân Nguyên diệu soạn”,
ý nghĩa trên bây giờ đã thành sự thật. Sự phát hiện này do đó không
những giúp ta xác định một cách chắc chắn ai là tác giả NHQA vào thời
điểm nó xuất hiện, mà còn đóng góp vào việc tìm hiểu nguồn gốc và thành
phần sáng tác những truyện Nôm hiện đang khuyết danh, chỉ cho ta hướng
nghiên cứu, phải tiến tới trên con đường dựng lại lịch sử văn học dân
tộc. Nó cũng làm cho ta suy nghĩ phải chăng truyện Nôm từ nguyên ủy đã
xuất phát từ các chùa chiền Việt nam do yêu cầu thuyết giảng của giáo lý
đạo Phật, rồi dần dà trở thành một nơi bảo lưu tiếng nói, tình tự và
nhận thức của dân tộc? phải chăng nó tồn tại như một chứng nhân để xác
minh cho ý kiến nói rằng vì nguồn gốc chùa chiền của chúng mà hầu hết
các truyện Nôm Việt Nam ít nhiều đều mang màu sắc Phật giáo”.
Những nhận định trên hoàn toàn hợp lý, vì ta có thể
giả thuyết, nếu là một nhà Nho dù là một nhà Nho cấp tiến và phóng
khoáng đi nữa thì cũng không thể hạ bút viết đề cao người đàn bà một
cách tuyệt đối như thế này:
Này trong bể nước Nam ta
Phổ Môn có
đức Phật Bà Quan Âm
Trong khi đó chính cái quan niệm của Nho giáo như
“Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, một con trai mới là có con,
mười con gái thì coi như không có, hoặc “Bất hiếu hữu tam, Vô hậu vi
đại”, đã tạo ra những người đàn ông độc ác và nhẫn tâm như vua Diệu
Trang vương trong NHQA khi nghe tin sanh đứa con gái đầu lòng:
Nọ ngày kết tử khai
hoa
Được một công chúa đặt là Diệu Thanh
Lòng vua ngần ngại đôi phen
Phán rằng nữ tử hầu nên giống gì
Nhưng đến khi nghe tin hoàng hậu sanh người con thứ
ba vẩn là con gái nữa thì Diệu Trang Vương đã nói trắng ra rằng nếu là
con gái nữa thì đem giết quách đi:
Trang Vương phán hỏi
toác nanh
Phải hoàng thái tử ắt dành thế ngôi
Nhược mà con gái thì hoài
Đem đi ém tử cho vùi là bây
Nhờ có sự can gián của các quan cận thần nên Diệu
Trang Vương không giết vì họ đã đưa cho ông một tia hy vọng mong manh:
Nguyện sinh bệ hạ
an ngôi
Rầy mai ân trời công chúa cả lên
Vô nam dụng nữ cũng nên
Tuyển tài phò mã nài quyền đông cung.
Nên cơn giận của Diệu Trang Vương cũng giảm bớt.
Nhưng đến khi trưởng thành thì hai chị là Diệu Thanh và Diệu Âm đều đồng
ý lấy chồng đến lượt nhà vua cũng muốn gã chồng cho Diệu Thiện với hy
vọng là chồng Diệu Thiện sẽ là một người tài trí để có thể trao ngôi báu
thì một lần nữa Diệu Thiện lại làm cho Diệu Trang Vương thất vọng là đã
“Mến tin đạo Bụt đêm ngày” nên “thấy bề gia thất lòng rày dửng dưng”.
Diệu Trang Vương giận quá nói với Diệu Thiện những
lời đầy thô bỉ:
Tao làm nhà vua cửu trùng
Bát man chư
quốc phục tùng hàm lai
Con đâu cho
ra bề ngoài
Đi cùng sãi
vãi dong dài nhuốt nha
Đúng là cái giọng trịch thượng muôn đời của kẻ ỷ
quyền cậy thế.
Diệu Trang Vương lập tức đày Diệu Thiện ra ở vườn
hoa một mình. Rồi sau vì quá nhớ con nên lại ra lệnh Diệu Thiện phải trở
về hoàng cung ngay.
Nhưng một lần nữa Diệu Thiện đã từ chối và nhất
định thực hiện chí nguyện đi tu.
Diệu Trang Vương tức quá đến nổi chẳng những mắng
chửi Diệu Thiện mà còn chế nhạo khinh miệt các tăng sĩ Phật giáo, dù
những người này chẳng thù oán gì với ông cả.
Phen chi phó kẻ hạ ngu
Khó khăn đói
rách ở chùa kiếm ăn
Tụng nào kệ
ấy đặt vần
Làm cho sãi
vãi xa gần đua nhau
Sau đó Diệu Thiện xin vào tu trong một ngôi chùa,
Diệu Trang Vương liền sai lính đến chùa bắt Diệu Thiện phải hồi cung.
Nhưng tất cả mọi biện pháp đều không thể nào lay chuyển được ý chí của
Diệu Thiện, vì kể cả cái chết thì Diệu Thiện cũng chấp nhận miễn là có
thể thực hiện được lý tưởng mà mình đã lựa chọn:
Dung nhan nào có ủ ê
Chứng rằng
sống gởi thác thì siêu sanh
Giết thời mỗ
giáp càng mừng
Chớ để mà
nhọc đến thân ghê này
Diệu Trang Vương không còn cách nào hơn là sai quân
đến đốt chùa và giết tăng ni trong chùa:
Đến chùa vây kín bằng thành
Sát tăng
thiêu tự tan tành tôi pha
Vạn toàn nhất
mạng không tha
Tăng ni eo ốc
kêu hòa đòi thương
Và Diệu Thiện cũng không còn cách nào hơn là mắng
thẳng vào mặt cha mình mà đồng thời cũng là một vị vua đang ngồi trên
ngai vàng:
Sao cha ám muội hôn mê
Tâm tà xí
thạnh nào còn biết chi
Gẫm mình gia
bất năng tề
Sao hay trị
quốc xưng vì thánh quân
Bị mắng Diệu Trang Vương hận quá liền sai áp giải
Diệu Thiện ra pháp trường để hành hình, nhưng trời đất lúc đó bỗng dưng
tối tăm mù mịt, một con hổ không biết từ đâu đến đem Diệu Thiện vào
rừng. Khi tỉnh dậy thấy mình đang ở giữa núi rừng mênh mông Diệu Thiện
không biết là mình đang ở nơi nào?
Bơ vơ chưa biết tử sinh
Mờ mịt bằng
hình dường thưở chiêm bao
Chẳng hay đây
là nơi nào
Biết ai để
hỏi nẻo vào đường ra
Trong lòng đang hoang mang thì bỗng thấy có người
dưới âm phủ cầm bảo cái tràng phan đến theo lệnh của Diêm Vương rước
Diệu Thiện xuống “Vãng mười tám cửa ngục tù”. Đứng giữa địa ngục, Diệu
Thiện thấy đủ thứ tội nhân, những tội nhân này khi còn sống ở dương gian
đã gây ra đủ thứ tội ác mà chẳng những ở thời xưa thôi mà thời nay cũng
chẳng thiếu gì:
Người ấy thuở ở trên đời
Chẳng xứng
đạo trời làm quân bất nhân
Khóc kêu
chẳng hỏi cho dân
Của thì bắt
bội muôn phần ai đôi
Người ấy lẻo
mách đà thay
Một lòng siểm
đố sàm nay tinh nghề
Bên cạnh đám quan lại đang bị tra khảo, Diệu Thiện
còn thấy những tên cường hào ác bá cậy thế, cậy thần, cậy của cải, sống
đời sống buông thả dâm ô trụy lạc; rồi lại còn đi ngăn sông cấm chợ,
giết hại kẻ thế cô và tàn nhẫn với cả các loài súc vật.
Người ấy ở nết chẳng lành
Cậy cả tranh
hành, thấy bé dễ duôi
Mình nhiều,
dễ kẻ mồ côi
Cậy giàu dễ
loài đói khổ người chê
Vì chưng phụ
mệnh, phụ tài
Phao tán mễ
cốc mọi nơi đạp giày
Bởi hay làm
tổn mọi loài
Thấy chưng
vật mạng giết hoài chẳng thương
Bởi ở dương
thế gian vòng
Thuở người
lấp giếng bủa sông đòi ngày
Mặc dù những tội nhân này khi còn ở trên đời đã gây
ra không biết bao nhiêu là đau khổ cho người khác nhưng với tâm từ bi
không nỡ cứ để họ nheo nhóc mãi trong cảnh tối tăm nên Diệu Thiện đã
tụng Kinh Lòng (Bát Nhã Tâm Kinh). Khi tiếng kinh sấm sét vừa
vang lên thì bao nhiêu xiềng xích nơi địa ngục bỗng vỡ tung và lập tức
ánh sáng tuôn tràn vào xóa hết bao tối tăm:
Công chúa thấy thế thương song
Bèn chuyển
kinh lòng động đến hoàng thiên
Bảo hoa bay
khắp bốn bên
Hòa quang
thấu lọt dưới trên cửa thành
Thiết già
giải tích tan tành
Nhất thiết tù
rạc siêu sanh một giờ
Khi trở về lại dương gian Diệu Thiện lại được chính
đức Phật Thích Ca đích thân dẫn đến núi Hương Tích gần biển Nam Hải nước
Việt rồi sau lại được vua trời sai mang sắc lệnh đến phong là Đấng Đại
Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Còn Diệu Trang Vương thì do tội:
Bạo ngược tung hoành
đốt chùa giết con
Nên bị ghẻ lở mọc khắp cả cơ thể không thuốc gì có
thể chữa khỏi. Cuối cùng nhờ có vị Hòa thượng vô danh từ phương xa đến
cho thuốc thì mới hết bệnh. Khi hết bệnh Diệu Trang Vương muốn trả ơn vị
Hòa thượng này bằng cách nhường ngôi, nhưng vị Hòa thượng đã khiêm tốn
từ chối với lý do là đã quen với tháng ngày núi rộng sông dài. Tuy nhiên
trước khi giã biệt vị Hòa thượng không quên dặn dò Diệu Trang Vương
rằng:
Dám khuyên bệ hạ từ rày
Thi nhân bố
chính cho hay ở mình
Chớ hề ngược
đãi sinh linh
Văn vũ triều
đình ái quốc ưu quân
Rồi Diệu Trang Vương gặp lại Diệu Thiện con mình ở
núi Hương Tích. Diệu Trang Vương quyết định ở lại luôn trên núi này để
tu hành, và yêu cầu các quan hãy trở về tự lo liệu chuyện quốc gia đại
sự:
Trẫm rày ơn Bụt ơn trời
Phụng các
long đài thiên hạ vạn duyên
Để mặc văn võ
quần thần
Trở về giữ
lấy xa gần quy mô
Bèn vời Triệu
Chấn trao cho
Vua tôi cả
khóc lăn xồ đòi chôm
Tác giả CNTSTT cho rằng: “Đây hẳn là một hình thức
cổ điển biểu tượng cho ý niệm cách mạng mới manh nha, một ý niệm đòi hỏi
phải thay thế kẻ đại diện một chế độ sụp đổ bằng một tập thể lãnh đạo
mới, thể hiện được xu thế đi lên của thời đại”.
Trong đoạn kết Chân Nguyên giải thích tính diệu
dụng của Đức Bồ Tát Quan Thế Âm trong sứ mạng cứu khổ, cứu nạn của Ngài
đối với chúng sanh như thế này:
Tán ra khắp hết càn khôn
Người ta được
biết Bụt Tiên ở lòng
Pháp thân
trạm tịch viên thông
Tịch quang
phổ chiếu viên đồng thái hư
Tùy hình ứng
vật tự như
Hóa thân bách
ức độ chư muôn loài
Như vậy, muốn được cảm ứng, muốn được Ngài cứu khổ
cứu nạn thì không cầu Ngài ở bên ngoài mà phải cầu Ngài ở trong chính
mỗi người như lời khuyên của Chân Nguyên:
Niệm Ngài thì niệm tại tâm
Khi tâm ta đã thanh tịnh thì lập tức ta sẽ thấy
Ngài thị hiện ngay:
Khắp hòa dưới đất trên trời
Phổ môn thị
hiện độ loài chúng sanh
Trí giả quán
kỳ âm thanh
Giác tri tự
tánh phân minh ròng ròng
Bản lai diện
mục chân không
Nào có chấp
tướng đàn ông đàn bà
Cửu liên đài
thượng khai hoa
Như vậy sau khi đã viết TTBH ca tụng Trần Thái Tông
và Trần Nhân Tông, hai vị vua đã oanh liệt đánh tan ba cuộc xăm lăng của
đế quốc Nguyên Mông rồi sau đó lại còn đưa một đất nước từ sự tàn phá
của chiến tranh để trở thành một nước có nền văn minh rực rỡ nhất ở khu
vực Đông Nam Á vào thế kỷ XIII, và viết ĐNTTH với mục đích là làm sao
cho lòng con người bớt chật hẹp, không còn phân biệt Bắc Nam để con
người có thể nhìn nhau như tình huynh đệ bao la:
Lòng tôi chẳng muốn Bắc Nam
Lấy làm bốn
bể anh tam một nhà
Thu về một
hội quốc gia
Địa lợi nhân
hòa lẽ ấy càng hơn
Và rồi viết Nam Hải Quan Âm để chỉ trích lại
quan niệm của Nho giáo “Nhất nam viết hữu, Thập nữ viết vô” hay “Bất
hiếu hữu tam, Vô hậu vi đại” với lời tuyên bố dõng dạc:
Vô nam dụng nữ cũng nên
Để rồi cuối cùng công bố bản tuyên ngôn nói lên
tính bình đẳng tuyệt đối của Phật giáo:
Bản lai diện mục chân không
Nào có chấp
tướng đàn ông đàn bà
Vậy thì những ước mơ của Chân Nguyên là gì? Trong
TTBH ta thấy Chân Nguyên cầu mong:
Muôn đời diễn tợ quốc gia
Nước có Phật
cốt sanh ra thánh hiền
Nước Nam dẹp
được bốn bên
Vì có Phật
báu hoàng thiên hộ trì
Đời đời Phật
đạo quang huy
Quốc gia đảnh
thạnh càng thì tăng long
Và hy vọng cho người dân trong cả nước đều:
Đời đời noi đạo Thiền tông
Chánh pháp
truyền lòng ai được thời hay
Tổ đà đắp nấm
trồng cây
Mộng Bồ Đề nở
sau này càng cao
Khai hoa kết
quả xao xao
Dõi truyền
đất Việt tháp cao trùng trùng
Sau khi đã ước mơ “Quốc gia đảnh thạnh”, “Nước Nam
dẹp được bốn bên”, hay “Dõi truyền đất Việt tháp cao trùng trùng” thì
trên cả những ước mơ đó là ước mơ gì?
Chợ quê vui thú trẻ già
Cùng trông về
đạo từ bi làm lành
Thơ vân tích
thiện rành rành
Tu nhân tích
đức đã thanh một lòng
Ai ai nhàn
nhạ thong dong
Nhân sơn trí
thủy cùng ngong giáo Thiền
Nằm sau những câu thơ giản dị và có vẻ quê mùa này,
ta vẫn thấy được sự khát khao vô cùng mãnh liệt của Chân Nguyên cho một
nước Việt thái bình và thạnh trị ở ngày mai!
Phải chăng đó là ước mơ mà Thiền Sư Chân Nguyên
muốn gởi đến không những thời đại ông, mà còn cả những thế hệ mai sau
của nước Việt?
Nha Trang, mạnh Đông Đinh Hợi
T.P.A.
|