|
TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số 4 - PL. 2551
[MỤC LỤC]
Đọc sách
TÌM HIỂU
NHẬN THỨC &
TÁNH KHÔNG
của GS
Hồng Dương Nguyễn Văn Hai
Tuệ Sỹ
Có người nói rằng, cái lý tưởng Đại thừa được thắp
sáng trên 20 thế kỷ ấy, đã chạy suốt cả một vùng Á châu rộng lớn, nhưng
rồi, nghèo đói, bất công, áp bức vẫn là bóng tối dễ sợ đang đè nặng, mà
ở đó Trí Bát nhã chỉ là ánh lửa đom đóm lập lòe không đủ báo hiệu những
hiểm họa nào đang rập rình phía trước. Nội hàm của những khái niệm «từ
bi, bình đẳng, trí tuệ, ...» cần phải thay đổi để nhìn rõ hơn, thiết
thực hơn, những giá trị phổ quát của nhân loại.
Nhận định ấy tất nhiên không sai. Người học Phật đã
quen với tập quán tư duy của mình, thì không hoan hỷ cũng không phản đối.
Những tập quán tư duy vốn được huân tập trong nhiều kiếp, cho nên vẫn
phải nhìn thế giới theo nhãn quang của mình. Nghĩa là, «pháp nhĩ như thị.»
Pháp tính bản lai là như thị, không do Phật xuất hiện hay không xuất
hiện mà đổi khác, mà như thế này hay như thế kia. Nhưng thực sự có đổi
khác, trong từng sát-na, hay trong từng thế kỷ, hoặc thiên kỷ.
Bạn đọc sẽ gặp câu nói của Dharmakīrti được Giáo sư
Hồng Dương nhắc rất nhiều lần trong tập sách này: «Cái gì thực hữu, cái
đó có tác dụng. Cái gì có tác dụng, cái đó thực hữu.» Pháp tính mà có
thể nhận thức được, bằng hiện lượng hay bằng tỉ lượng, thì tự căn bản
pháp tính hiện thực «ở đâu đó». Thế nhưng, «nơi nào đó» có tác dụng, nơi
đó pháp tính mới được nỗ lực quán chiếu để phát hiện. Trước Newton vô
thủy, và sau Newton vô chung, trái táo, và mọi thứ trái khác,vẫn rơi; cả
tâm của chúng sinh cũng rơi. Ở phương Tây người ta thấy điều đó. Ở
phương Đông, người ta cũng thấy như vậy. Trên mặt phẳng của sự rơi, dưới
đáy hố thẳm siêu hình của sự rơi, pháp tính vẫn thường nhiên. Trong mỗi
pháp được nhận thức, có vô biên điều kỳ diệu. Nhưng chỉ tại một điểm nào
đó trong một xứ và một thời nhất định, do tác dụng của tâm trong một
định hướng tồn tại nhất định, mà một quy luật được phát hiện từ pháp
tính. Mỗi phát hiện đều có cơ làm thay đổi sắc diện của thế giới. Người
ta gieo hạt để thâu hoạch những thứ mình cần, hay muốn.
Dầu sao, biện luận như thế cũng không đủ vững để
cho biết, vì sao phương Tây, theo một ý nghĩa rất cụ thể, lại phát hiện
nhiều quy luật từ pháp tính làm cho đời sống con người «văn minh» hơn?
Phục Hy phát hiện khái niệm nhị phân bằng hai hào.
Ông chồng ba bit-hào thành một quẻ; thu hoạch được tám quẻ. Rồi chồng
nữa, ông có bộ nhớ 6 bit-hào, nhận được 64 ký tự-quẻ, nói đủ để ghi tất
cả mọi hiện tượng, từ thiên nhiên, xã hội, con người. Ghi bất cứ cái gì
mà con người có thể suy nghĩ và tưởng tượng.
Nhưng phát hiện của Phục Hy đươc thấy là hữu ích
cho việc bói toán hơn là hỗ trợ bộ óc của con người, như vi tính ngày
nay. Tại sao?
Người học Phật chỉ có thể nói: căn, cảnh, thức; ba
sự hòa hiệp xúc. Duyên xúc phát sinh thọ. Xúc dị biệt nên cảm thọ dị
biệt. Không cùng môi trường «thức ăn» thì không thể nhìn giống nhau
được. Hai bờ sông Ngân có hai chòm sao. Từ Đông hay Tây, nhìn lên đều
thấy. Ở bên này Thái Bình dương nhìn lên, đó là Ngưu lang, người chăn
bò, và Chức nữ, cô gái dệt lụa. Và một thiên tình sử não lòng. Còn bên
kia Đại tây dương nhìn lên, đó là con thiên ưng và cây đàn bảy dây.
Không có dấu hiệu gì chứng tỏ con chim đang cố vượt sông Ngân để sang bờ
bên kia nghe đàn, mà được thấy là đang đi tìm trái tim của vị thần ăn
cắp lửa. Cách nhìn khác nhau vạch ra định hướng lịch sử khác nhau, và
tạo dựng những nền văn minh khác nhau.
Dù giống nhau ở điểm nào và khác nhau ở điểm nào,
ngày nay thế giới vẫn đang tuột dốc, cũng có thể đang lên dốc, theo
hướng mà văn minh phương Tây đã chọn. Giá trị phổ quát ở đây có thể rút
gọn theo một phát biểu: «Nhất thiết chúng sinh giai y thực trụ.» Tất cả
chúng sinh đều nhờ thức ăn mà tồn tại. Cho đến một thời điểm lịch sử,
thức ăn mà văn minh phương Tây cung cấp có vẻ thích hợp khẩu vị cho số
đông. Nền văn minh đó hình như phát triển theo hướng: từ định nghĩa «Con
người là một cây sậy biết tư tưởng,» cho đến định nghĩa «Con người là
loại động vật biết tiêu thụ.» Trong cả hai định nghĩa, con người là một
thực thể nhị nguyên phát triển đồng thời theo hai hướng khác nhau. Một
hướng, từ thực vật đến động vật. Hướng khác, từ khả năng tư duy đến khả
năng tiêu thụ. Còn ở phương Đông này, cái thời của «an bần lạc đạo»
không còn được kính trọng mấy.
Chân lý không nằm ở bên này hay bên kia, nhưng cần
biết điểm quy ước của thời đại nằm ở đâu, để trí tuệ quán chiếu có thể
tập trung lên đó. Không phải với ước vọng tự thân sẽ là ngọn đèn soi
đường cho thế gian. Điều khẩn thiết là tự mình thắp sáng ngọn đèn của
mình để tự nhìn thấy mình đang ở đâu trong thế giới này, và đang đi về
đâu. Đó là cần phải quán chiếu pháp giới trong phạm vi tục đế để thâm
nhập pháp tính trong chân đế. «Nhận thức và Tánh Không» là một nỗ lực
của một nhà khoa học đang cố xác định điểm đứng quy ước của mình để có
thể chiêm quan thế giới. Những «hý luận» trong đây tất nhiên không phải
là những đề tài giải trí, được dùng để tiêu khiển cho hết ngày tháng phù
du, nhạt nhẽo của đời sống. Cậu bé Tự Tại Chủ ngồi đếm cát trên bãi biển
cố nhiên chỉ là «trò chơi của trẻ con.» Nhưng không hẳn chỉ dành riêng
cho trẻ con, cho nên Thiện Tài theo dấu chỉ của Bồ tát Văn-thù đã phải
bạt thiệp hiểm nguy tìm học cho được cái trò chơi trẻ con ấy.
Một nhà toán học viết: «Nhìn vào số không, bạn
chẳng thấy gì. Nhưng hãy nhìn xuyên qua số không, bạn sẽ thấy cả thế
giới.» (Robert Kaplan, The Nothing that is). Với một người đắm
mình trong những trầm tư về tánh Không, đíều đó có thể không khiến cho
giật mình kinh ngạc. Một bài tụng trong Trung luận cũng có thể đã
nói đến một ý nghĩa nào đó gần như thế; và có thể là nói nhiều ý nghĩa
hơn thế: «Dĩ hữu Không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành.» Bạn đọc sẽ
thấy phát biểu đó xuất hiện nhiều lần trong tập sách này, và được nhận
thức từ nhiều góc cạnh khác nhau. Tần số xuất hiện như vậy rất có ý
nghĩa với một nhà toán học. Tôi nghĩ như thế. Bởi vì tác giả là một nhà
toán học.
Tuy nhiên, đối với một người chuyên học tánh Không,
thì phát biểu số không trong thế giới được nhìn như là cấu trúc của
những con số, không khỏi gây ngạc nhiên đầy hứng thú. Rồi từ đó tìm lại
những hình ảnh quen thuộc tưởng chừng như khó tìm thấy, hay tưởng chừng
như bị cố tình quên lãng, trong thế giới tư duy Phật giáo.
Làm sao tính được điểm khởi đầu của thời gian? Làm
sao nhìn suốt tận cùng vị lai của thế giới? Rốt lại, tư tưởng con người
bị đong đưa giữa hai cực: «tiền tế vô cùng, hậu tế ninh khắc.» Để có
giải thích hợp lý, phù hợp với tri giác cảm quan thường nghiệm, người ta
đề nghị đặt các điểm vô thủy và vô chung trên một đường tròn. Nhưng các
Bồ tát trên hội Hoa nghiêm không làm thế. Các ngài đặt thế giới vô tận
vào trong một hạt cát. Nhà «toán học trẻ con» Tự Tại Chủ gật đầu: một
hạt cát là một tập hợp vô hạn vi hạt cát.
Chúng ta đang đi lần vào «Nhận thức và Tánh Không».
Đi từ thế giới trống không, không sinh, không diệt, cho đến thế giới của
lăng kính trùng trùng vô tận. Những bài viết của Giáo sư trong tập sách
này là cảnh giới tư tưởng được nỗ lực khám khá theo hai nhãn tuyến: tánh
Không và tư duy toán học. Nó là điểm giao hội của hai nguồn mạch tư
tưởng Đông và Tây, mà lịch sử nhân loại phải thừa nhận là đã đổ xuống
không biết bao nhiêu máu và nước mắt nhưng vẫn không tìm ra nghiệm cho
một phương trình vi phân chỉ vì chưa ai xác định được điều kiện ban đầu.
Cho nên, không ai xác định được văn minh loài người đang ở điểm nào trên
đường cong tuột dốc. Tuy vậy, mỗi cá nhân đều phải tự tìm cho mình một
giải đáp để có thể sống bình yên, không bị khốn quẫn bởi thực tế đời
thường, cũng không bị dày vò bởi những ám ảnh siêu hình.
Nhà triết học Hy-lạp Aristotle nói: «Tự bản chất,
mọi người đều muốn biết.» Đồng thời với ông, Trang Tử lại nói: «Sự sống
có hạn mà cái biết thì vô cùng. Đem cái hữu hạn đuổi theo cái vô cùng,
nguy thay!» Người học tánh Không đang ngồi đếm cát trên bãi biển, nhìn
ra khơi, tự hỏi: «Có cái gì không, ở bên ngoài vô tận kia?» Bất giác
nhìn lại lòng tay, giữa hai hạt cát đang đếm, giữa hai con số hay hai
điểm lân cận, là một Pháp giới vô biên, vô tận. Điều này có huyễn hoặc
chăng? Không huyễn hoặc hơn quả cam mà Stalin đang bóc vỏ để chứng minh
sự sụp đổ của thế giới vật-tự-thân của Kant.
Tuy nhiên như vậy, người học Phật, tin tưởng kho
tàng minh triết trong Kinh điển Phật giáo, thì không dâng hiến cả đời
mình cho khát vọng hiểu biết chỉ để mà hiểu biết. Dục vọng vật chất, hay
khát vọng tinh thần, đều là những vị ngọt của đời sống, là dưỡng chất
tất yếu của tồn tại. Đó là thực tại không thể từ chối. Cho nên, người
học Phật, như Thiện Tài Đồng tử, không phải suốt đời lẽo đẽo theo chân
Sư phụ Bồ tát Văn-thù; cũng không suốt đời cô độc trên đỉnh Diệu phong
với Đức Vân để mà trầm tư mặc tưởng; nhưng đã dấn thân trong mọi nẻo
đường đời. Không phải chỉ học những cái chỉ cần thiết cho mình, mà tất
cả những gì cần thiết cho thế gian. Trang nghiêm Phật độ, thành tựu
chúng sinh, không phải tự mình gầy dựng một hoa viên để rồi khép cửa
vườn hồng, an nhàn tự tại mà tiêu pha năm tháng. Người học Phật vì thế
mà không thể dửng dưng trước những phát hiện chưa biết là họa hay phúc
của loài người, trước những tiến bộ hay thoái hóa của khoa học, của tư
duy triết học, trước những thăng trầm trên con đường chính hay tà, thiện
hay ác, của các tôn giáo.
Không biết khi «nhà toán học trẻ con Tự Tại Chủ»
mang bọc cát vào chùa, làm phẩm vật cúng dường Tam bảo, có Thầy, Cô, hay
Phật tử nào cho là xúc phạm mà xua đuổi đi chăng?
T.S. |