TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC PHÁP LUÂN
Số 6 -  PL. 2552
[MỤC LỤC]

 

CÚ PHÁP - DẪN NHẬP THUYẾT
TỐI GIẢN CỦA N. CHOMSKY


          PHÁP HIỀN cư sỹ

 

Một trong những hệ thống di truyền tối ưu của chúng sinh là hệ thống thuộc về khả năng quan sát và suy luận—nó dần lật tẩy được hầu hết những bí ẩn mà vũ trụ này luôn cố dấu, đặc biệt là khả năng ấy được trao cho con người qua công cụ ngôn ngữ và ngôn ngữ từ hình. Tuy nhiên, các lớp động vật và thực vật, chúng cũng có một vài tham gia trong khối khả thể này, chẳng hạn, lập trình thụ phấn của hệ thực vật nói chung, lập trình bằng những điệu múa của bầy ong như là sự truyền tin cho những con ong khác về địa phương có nguồn lương thực hoặc là lập trình của các loài chim thiên di, hệ thống thông tin sóng trên bộ râu của loài kiến, chí đến là các hướng đi có sẵn của những loài cá khi mưa tới là mùa nhả trứng chính xác và an toàn cho thế hệ tiếp theo của chúng v.v... Tóm lại, mỗi một chúng sinh đều bẩm thụ một loại dị thục hay là các sở dục bẩm sinh nào đó như là một hệ di truyền cho những gì tồn tại ở phía trước, mà cho đến giờ, sự kiện ấy vẫn là một đề tài nóng của tư duy nhân loại. Trên các dữ kiện sắc này, các nhà ngôn ngữ học đã tiến hành khảo sát, qua các thông tin ngay từ đầu của những trẻ em, nhất là quá trình phát triển hệ thống “Dị thục” ngôn ngữ của chúng. Đại diện ưu việt trong lãnh vực này, chính là N. Chomsky, qua quá trình khảo sát, Ông đã lập thành một lý thuyết ngôn ngữ, được gọi là Học thuyết tối giản. Tức là, cách mà một người học ngôn ngữ cần bỏ bớt đi những gánh nặng “văn phạm” trên vai của mình, đặc biệt là, ngành giáo dục ngôn ngữ bản ngữ cho trẻ em hay các loại ngôn ngữ khác. Một lý thuyết mà các bạn sẽ thấy, là nó tương quan như thế nào đến bộ môn Duy Thức của Phật giáo chúng ta. Từ quá trình thức biến đến sự hình thành và quá trình hậu khởi của các chuỗi trong tiến trình ngôn ngữ học của các lây lan, và cũng y như thế, Chomsky và các học trò của Ông đã mã hóa như thế nào, tức là các trừu xuất của thức trên bình diện ngôn ngữ được mã hóa như thế nào, để nó được xứng danh là thuyết tối giản hóa. Như vậy, học thuyết này, chẳng những mang trong tự thân nó một luận đề về ngôn ngữ học trên sự chuyển hóa của lý tính, mà nó còn kéo theo những quan tâm cơ học vật lý nữa—tâm lý vật lý ngôn ngữ học và triết học.

Nhằm bổ sung những điểm còn chưa rõ trong loạt bài viết ở những số báo trước của mình—giới thiệu lý thuyết của Chomsky và cách phát triển lý thuyết đó qua những học trò của Ông— bản soạn thảo này, ngoài mục đích bổ sung những gì còn mờ nhạt đã nói, nó còn gợi lên vài khía cạnh gắn cùng ngôn ngữ học: cú pháp nội hàm nghĩa và lý thuyết khảo sát một ngữ đoạn, câu v.v..., trong niềm hy vọng là một soạn thảo như thế sẽ mở ra viễn cảnh cho những ai ham thích bộ môn này, trước khi ngôn ngữ được quan niệm như là thế giới muôn màu của sắc, mà người ta cần khám phá và lọc trừ.

Bản văn sẽ tựa trên một số tác phẩm của Chomsky và một ít học trò của Ông, những người đã chia sẻ cùng Ông học thuyết ấy và phát triển rộng nó ra. Do vậy, bản văn không thể gọi là một bài viết, nếu có thể, nó chỉ là những chắp vá, song, là những chắp vá từ các bộ phận nguyên liệu chưa bị nhuộm màu, trừ phi có nhiều sai lầm trong cách học của người viết. Phần đó sẽ dành cho người đọc chỉ dạy. Thế nên, các bạn hẳn sẽ nhận ra rằng, phần đông các đoạn trong bản văn là các đoạn copy từ những phát ngôn của các vị Giáo sư ấy, đôi phần liên quan đến Phật giáo, thì đấy chính là của riêng người soạn thảo vậy. Nếu, một trình bày như thế mà có thể có một chút duyên lành, thì thật là may mắn cho bản văn. Nếu có thể, vẫn chút duyên ấy, thì tiếp theo những năm tháng về sau, sẽ là một loạt bài về hệ thống văn pháp của Paṇīni và hệ thống này, ta thấy đã quan hệ như thế nào đối với học thuyết Miêu Tả của đại sỹ Thế Thân, như một ít xuất hiện trong luận án tiến sỹ của G.s Lê Mạnh Thát. Các bộ thuật ngữ như: parivṛt, paramāṇa, vikalpa, vākvikalpa, ātmālabha, vijñāpti, avijñāpti v.v...sẽ được truy cứu theo học thuyết miêu tả và được học theo thuyết Tối Giản của Chomsky. Đây là một bộ sưu tập vĩ đại mà ánh sáng của chúng sẽ được xét trên quan điểm ngôn ngữ và cách tổ chức của chúng (nếu như ta có thể thực hiện được), hơn là nghĩa theo hướng niềm tin tôn giáo, một thái độ, mà theo tôi là chưa thật sát với truyền thống tư duy tu của Phật giáo. Ngôn ngữ học đặt bản thân mình bên ngoài những tư duy siêu hình cục bộ.

Còn, về cách trình bày hay bộ khung của bản văn, thì nó theo trình tự của G.s Andrew Radford của viện đại học Cambridge. Tức là:

§         Văn pháp

§         Các phạm trù

§         Cấu trúc

§         Các phạm trù rỗng

§         Chuyển động dẫn đạo

§         Chuyển động thao tác—nhân tố tạo thao tác chuyển động

§         Những chủ đề

§         Một chuyển động

§         Bộ khung ngữ đoạn vị từ

§         Các phóng chiếu phù ứng—tướng phần phù ứng

VĂN PHÁP

Theo truyền thống, văn pháp được tiểu phân thành hai bộ phận sai biệt - hình vị học cú pháp, ngoại trừ các khu vực nghiên cứu có liên hệ trung gian hay nội tại. Hình vị học là một khoa nghiên cứu về các từ được hình thành bằng các đơn vị cực tiểu như thế nào (truyền thống gọi là Hình vị, morphemes), và như vậy, những vấn đề nhắm đến như ‘những bộ thành tố đa dạng’ (= các hình vị) của một từ là gì, chẳng hạn cụm từ antidisestablishmentarianism và, những đặc tính nguyên lý xác định các cách mà trong đó những bộ phận được liên kết với nhau để thành nên cái toàn thể là gì? Cú pháp được liên hệ cùng những cách mà trong đó các từ có thể được nối kết với nhau để hình thành các ngữ đoạn và các câu với lại các vấn đề nhắm đến, thí như, tại sao trong tiếng Anh phải là Ok khi nói ‘Anh thấy Mary với ai? [see...with]’ Và người ta không Ok khi nói *‘anh thấy Mary ai? [see...and]’ (dấu sao [*] ở đây chỉ cho tính chất sai ngữ pháp). Các đặc tính của những nguyên lý xác định các cách mà trong đó ta vừa có thể và vừa không thể gắn các từ lại với nhau để hình thành những ngữ đoạn và các câu là gì?

Tuy nhiên, theo truyền thống, thì văn pháp không cứ gì phải liên hệ đến các nguyên lý xác định cách cấu tạo của các từ, ngữ đoạn và câu, mà nó còn được liên hệ cùng các nguyên lý chi phối cách giải thuyết (interpretation) của chúng nữa—tức là, theo những nguyên lý báo cho ta biết nên giải thích (= quy nghĩa cho) các từ, các ngữ đoạn và câu như thế nào. Chẳng hạn, bất kỳ văn pháp nội hàm nào của tiếng Anh sẽ định nghĩa rằng, các từ ghép như man-eater (thú ăn thịt người) và man-made (nhân tạo), theo truyền thống thì man được cho là có một giải thuyết bị thể (pattern interpretation), có nghĩa, man là một nạn nhân bất hạnh / bị nạn mà hành vi bị ăn đang diễn ra phải được hoàn thành; ngược lại, trong các từ ghép như man-made, thì từ man được cho là có một thuyên giải tác nhân, trong ý nghĩa man là trách nhiệm tác thể đối với hành vi sở tạo. Do vậy, theo truyền thống, những thể cấu trúc của nghĩa, được cho là bộ phận thống trị của văn pháp. Thế nên, ta cần định nghĩa văn pháp là khoa nghiên cứu những nguyên lý chi phối cách cấu tạo và thuyên thích từ ngữ, các ngữ đoạn và các câu. Liên hệ đến sự phân chia truyền thống văn pháp trong hình vị và cú pháp, ta có thể nói rằng, hình vị là bộ môn nghiên cứu cách cấu tạo và thuyên giải các từ, còn cú pháp thì liên quan với cách cấu tạo và thuyên giải các câu và những ngữ đoạn.

Trong một ý nghĩa quá rõ ràng như vậy, nên bất cứ một người nói bản ngữ nào đều được cho là anh ta hay cô ấy vốn am tường văn pháp của bản ngữ mình. Sau hết, những người nói bản ngữ còn biết rất rõ là mình cấu tạo và lý giải các từ, câu và những ngữ đoạn như thế nào trong bản ngữ của họ. Chẳng hạn, bất cứ người nói bản ngữ tiếng Anh nào đều có thể nói với bạn rằng, đối tác hay biến thể phủ định của câu I like syntaxI don’t like syntax; và chẳng hạn, họ không thể nói *I no like syntax; do vậy, ta thừa nhận rằng, những người nói bản ngữ biết cách loại trừ sự bất thực của các câu trong ngôn ngữ mình, tức là các câu sai cú pháp hay văn phạm. Tuy nhiên, tri thức văn pháp này là ẩn thể (tacit) (tức là ở dạng tiềm thức) hơn là hiển thể (explicit) (tức là nó không ở dạng ý thức), đây mới là điểm quan trọng cần nhấn mạnh. Như vậy, có nên hỏi một người nói bản ngữ tiếng Anh nào đó vấn đề là ‘bạn lập các câu phủ định như thế nào’ chăng? Bởi vì, con người không có ý thức tự tri (tự thức) về tiến trình vật lý và tâm lý phát sinh trong khi nói và trong khi nhận thức một ngôn ngữ. Để giới thiệu một thuật ngữ kỹ thuật, ta đã có thể cho rằng, những người nói bản ngữ vốn có thẩm năng (competence, ngữ năng) văn pháp trong bản ngữ của mình: do điều này, ta muốn nói là họ có tri thức tiềm thể về văn pháp ngôn ngữ của họ—tức là, cách thành lập và thuyên thích các từ, câu và những ngữ đoạn trong ngôn ngữ như thế nào.

Ta biết rằng, thế giới sai biệt là sai biệt trên ngôn ngữ, trong một phạm vi rộng, ta biết não bộ được phân làm hai như là hai trục hay vùng đối xứng và được nối kết bằng các khu vực và những hệ thống thần kinh phức hợp. Có nên chăng, khi cho rằng sắc pháp được hình thành qua một chủ quan nào đó của các niệm vô thủy của chúng sinh mà cơ sở là ngôn ngữ, như sự tương ưng giữa hai bán cầu não qua hệ thống giao thông của các vùng ngữ học trong đó, trên hết là hữu thức và các phóng ảnh của chủng tử tâm, hệt như là các từ ngữ phóng ảnh trong các câu và các ngữ đoạn mà ta sẽ đề cập tới đây. Có nên chăng, khi mà tiến trình vật và tâm lý phát sinh, thì người nói bản ngữ không thể tự tri, thế thì muốn tiếp cận tiến trình vận hành này, Phật giáo hầu như không màng đến các công cụ vật lý, bởi vì, các công cụ hay các tiêu điểm, chỉ sở y trên, tối đa là vận tốc ánh sáng, tức là sự hạn chế tối hậu của sắc pháp—vùng của những luân hồi—trong khi đó, các nhà thấu thị, biết chắc chắn là, khi đồng xu thả xuống, nó sẽ là mặt úp hay mặt ngửa trong tuệ giác của họ một cách chính xác và như thật và, lịch sử đã thừa nhận điều này—tâm thức có một vận tốc nhanh hơn ánh sáng. Sát-na, trong trường hợp này, là lý tưởng cần đạt đến của Phật giáo. Một cái gì hầu như là tấm gương buộc bị đứng lại vĩnh viễn và vũ trụ nhân quả xuất hiện đồng một thời điểm ở trong đó, với chính họ. Cụ thể nhất, là quá trình công phu của những hành giả Du-già và các phạm trù vốn có của Kinh Dịch. Tiếc thay! Con người luôn ôm tấm gương lòng ấy và chạy ngược chạy xuôi. Thế thì, đức Thế Tôn, có một loại ngôn ngữ mà khi thuyết ra, cả ba cảnh giới đều hiểu thấu và nó có sức lan truyền cũng như khả tính hồi quy vĩnh cửu, không còn là chuyện hoang đường nữa. Tức là, vận tốc ánh sáng không còn là lý tưởng của—những ai theo Phật, một cái gì khác hơn mà duy Phật giáo mới có mà thôi. Nghĩa là, tu, là một phạm trù trọng đại của Phật giáo. Tâm thức, thật vậy, nó biết rút ra một cách khéo léo và tuyệt đối nhanh những dữ liệu cần thiết, bao hàm cả ba thời, để phúc đáp cho một quy trình nào đó, mà các công cụ cho dù hiện đại nhất cũng không thể làm nỗi. Ở mặt tương đối, tính liên hệ là thế pháp, là các phương tiện, ở mặt tuyệt đối, tính liên hệ là trí tuệ, nó không nằm trong phạm trù ánh sáng, như là lý tưởng hiện giờ nhân loại đang theo đuổi. Niềm kỳ vọng của thuyết Tối giản hiện hữu trong khối vận hành của thức như ta đang nhắm đến và đòi cho bằng được những tương quan huyết thống của nhân loại này. Niềm kỳ vọng của những gì ngoài ánh sáng là lý tưởng bất sinh bất diệt mà ta vốn tồn tại trong đó như nó vốn chứa đựng tính sanh diệt vô sinh mà ta muốn chứng nghiệm. Ở đây, một nền giáo dục cụ thể được rút ra từ việc quan sát thẩm năng (hay ngữ năng) và dụng năng (hay dụng ngôn) của loài người, bao hàm cả việc truyền thông và ứng xử.

Trở lại công việc của mình diễn ra đến thập kỷ 1960, Chomsky đã rút được sự phân biệt giữa ngữ năng (tri thức tiềm thể của người nói bản ngữ lưu loát ngôn ngữ mình-thẩm năng) với dụng năng (performance, cái mà người ta thật sự nói bằng cái mà một ai đó còn nói nữa trên một cơ hội nhất định). Thẩm năng là tri thức nói-nghe về ngôn ngữ mình, còn dụng năng là cách sử dụng ngôn ngữ thật sự trong những tình huống cụ thể (Chomsky 1965. p. 4). Rất thường, dụng năng là một tư duy chưa hoàn chỉnh của ngữ năng. Thỉnh thoảng tất cả chúng ta vẫn nói sai (nói nhịu-slips of tongue) hoặc thỉnh thoảng giải thích sai cái mà một ai đó còn nói nữa với chúng ta. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ta không biết ngôn ngữ của mình và không sở hữu thẩm năng (tức là, nói lưu loát ngôn ngữ của ta). Những sản sinh nhầm và các thuyên giải nhầm đều là các sai lầm dụng năng, và chẳng hạn, tính mệt mỏi, buồn chán, các loại thuốc an thần, những rối loạn ngoại tại v.v… chúng có khả năng góp phần cho hình thái đa dạng của những yếu tố thẩm năng. Theo truyền thống, các văn pháp đã trình bày với bạn cái gì mà bạn cần biết để thông đạt dụng năng bản ngữ trong ngôn ngữ (tức là, bạn có thể nói ngôn ngữ nào đó như bản ngữ); do vậy, ngữ pháp tương quan đến dụng năng hơn là ngữ năng, đây chính là sự kiện quá hiển nhiên. Khi xác lập vấn đề như thế, không có nghĩa là ta đoạn ngôn sự quan tâm về dụng năng, xét như là một lãnh vực nghiên cứu, tuy nhiên, sự kiện đó được đặt ra chỉ là muốn xác định rằng, dụng năng phải được nghiên cứu chính xác hơn trong sự sai biệt—mặc dù có liên hệ—bộ môn tâm lý ngôn ngữ học mà khoa này nghiên cứu tiến trình tâm lý hạ tầng sản sinh và lãnh hội ngữ ngôn. Giả sử rằng, thẩm năng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong nghiên cứu về dụng năng, là giải pháp chí lý, vậy, bạn phải nhận thức được cái gì mà những người nói bản ngữ biết về ngôn ngữ của mình, trước khi bạn có thể nghiên cứu những hệ quả của các trạng thái như mỏi mệt, buồn chán v.v... trên tri thức này.

Nếu, ta nói khoa ngữ pháp là khoa nghiên cứu ngữ năng văn pháp, thế thì, chúng ta đang hàm ý một quan điểm tri nhận (cognitive) về bản chất của ngữ pháp vậy. Sau hết, nếu thuật ngữ thẩm năng văn pháp được sử dụng để sở thị cái mà những người nói bản ngữ biết về ngữ pháp của bản ngữ mình, thế thì, ngữ pháp là bộ phận của sự nghiên cứu tri nhận phổ quát nhiều hơn hết (tức là tri thức nhân loại). Qua thuật ngữ học được Chomsky chọn lựa (1986a, pp. 19-56), ta đang tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ như là một hệ thống tri nhận nội thể hóa (internalized) bên trong não bộ / lý tính nhân loại; tức là lộ trình tối hậu của ta là phải định tính cho được bản chất của hệ thống ngôn ngữ nội thể hóa này (hay I-language, như Chomsky định danh) mà nó là khả thể khiến cho nhân loại phát biểu và nhận thức được bản ngữ của mình. Rõ ràng là, một tiếp cận tri nhận như thế vốn có những hàm ngôn cho ngôn ngữ học miêu tả mà, một ai đó phải quan tâm trong khi cố miêu tả ngữ pháp của một ngôn ngữ cá biệt nào đó, như tiếng Anh chẳng hạn. Việc miêu tả tri thức ngữ pháp được người nói bản ngữ tiếng Anh lưu loát sở hữu, là việc mà ta đang nỗ lực thực hiện. Hiển nhiên là, thẩm năng này với chúng ta là không thể sử dụng trực tiếp được; như trên đã giải thích, chúng ta không thể yêu cầu những người nói bản ngữ nội quán về bản chất của những tiến trình mà do đó họ sản sinh và nhận thức các câu trong bản ngữ của họ. Bởi vì, họ không có ý thức tự tri những tiến trình như vậy, tức là chứng tự chứng phần là giai đoạn hậu khởi của quá trình truy cập dữ liệu đã cho, hay nói cách khác, nó là khả tính của suy diễn có dữ liệu và hơn thế, nó có thể suy ra một cái gì đó, ngoài dữ liệu, tiềm năng của các pháp hữu vi thường nằm ở đây. Từ đó, để nghiên cứu ngữ năng một cách gián tiếp, ta cần phải truy xét. Thế nhưng, bằng cách nào đây?

Có lẽ đặc tính rất giàu có chứng cứ bản hữu mà từ đó ta tiếp cận được bản chất thẩm năng văn pháp nằm trong trực giác của những người nói bản ngữ về tính đúng ngữ phápcách thuyên giải các từ, câu và những ngữ đoạn trong bản ngữ của họ. Chẳng hạn, trẻ em chưa đến tuổi đi học thường sản sinh các dạng thì quá khứ như goed, comed, seed, buyed v.v... và bất cứ người nói bản ngữ tiếng Anh trưởng thành nào (theo tiêu chuẩn hiện đại) sẽ hiểu bằng trực giác rằng, các hình thái như thế, trong tiếng Anh, là không đúng ngữ pháp và họ sẽ hiểu, biến thể (counterpart) văn phạm của các hình thái ấy là: went, came, saw, bought.

Cũng vậy, bất cứ người nói tiếng Anh bản ngữ nào sẽ nhận ra theo trực giác rằng, các câu như câu (1a) dưới đây, trong tiếng Anh là đúng ngữ pháp, còn nếu câu nào giống câu (1b) sẽ sai ngữ pháp:

(1) (a) If you don’t know the meaning of word, look it up in a dictionary

(b) * If you don’t know the meaning of word, look up it in a dictionary (dấu sao [*] đặt phía trước các câu, theo quy ước, là câu sai ngữ pháp).

Do vậy, chúng ta đã có thể nói rằng, những trực giác về tính đúng văn pháp cấu thành bộ phận thẩm năng ngữ pháp của người nói bản ngữ. Tương tự, ta có thể cho rằng, người nói bản ngữ có tính năng tạo nên những phán đoán đúng ngữ pháp về các từ, câu và ngữ đoạn trong bản ngữ của mình—tức là, tính năng đánh giá các biểu đạt cá biệt có phải là đúng hoặc sai văn phạm trong bản ngữ của họ hay không. Một hàm ý đáng quan tâm về sự kiện này là, nếu các khoa văn phạm thẩm năng mẫu mực, tức là một nền văn pháp của một ngôn ngữ không chỉ nói với bạn cái mà trong ngôn ngữ bạn có thể nói, mà còn nói với bạn cái mà bạn không thể nói (vô ngôn), bởi vì, ngữ năng người nói bản ngữ không chỉ bao hàm khả tính khiến cho họ đánh giá đúng một vài loại câu (chẳng hạn, câu 1a nêu trên) mà tính năng này còn đánh giá đúng những câu khác (chẳng hạn, câu 1b) là sai ngữ pháp. Thật thế, phần đông việc làm đương đại về cú pháp đã đi đôi cùng sự nỗ lực với mục đích là nhằm giải thích tại sao mà một vài loại hình cấu trúc là phi văn pháp (không đúng ngữ pháp).

Nguồn chứng cứ nội quan (introspective, tâm cảnh) thứ hai về bản chất thẩm năng văn pháp liên hệ đến những trực giác những người nói bản ngữ về cách thuyên giải (interpretation) các từ, ngữ đoạn và các câu trong bản ngữ của họ. Chẳng hạn, bất kỳ người nói bản ngữ tiếng Anh nào có thể cho bạn biết một câu như:

(2)        Sam loves you more than Jim

(Đây) là một câu mang tính lưỡng nghĩa và nó có hai cách thuyên giải có thể được diễn thích như trong (3a-b) dưới đây:

(3)        (a) Sam loves you more than Jim loves you

            (b) Sam loves you more than Sam loves Jim

Như vậy, có vẻ thẩm năng văn pháp của người nói bản ngữ không chỉ được phản ảnh theo các trực giác về tính đúng ngữ pháp, mà còn được phản ảnh theo các trực giác về cách thuyên thích nữa.

Đã cho rằng, một văn pháp của một ngôn ngữ là một mô thức thẩm năng của một người nói lưu loát ngôn ngữ này, và đã cho rằng, thẩm năng được phản ảnh theo các trực giác về tính đúng văn pháp và cách thuyên thích, một tiêu chuẩn quan trọng xứng lý cho nền văn pháp của bất cứ ngôn ngữ bẩm sinh nào mà nó là (ngữ pháp) thuộc về hiệu lực hay tính năng miêu tả (descriptive adequacy). Ta có thể tuyên bố rằng, văn pháp của một ngôn ngữ bẩm sinh (given language, ngôn ngữ đã cho / bản hữu) là văn pháp của hiệu năng miêu tả, nếu nó miêu tả chính xác là có phải bất kỳ tuyến (string) (tức là chuỗi-sequence) bẩm sinh nào của các từ trong ngôn ngữ là đúng ngữ pháp hoặc phi ngữ pháp hay không và nó còn miêu tả chính xác (những) cách thuyên thích chuỗi quan yếu này vốn có cái gì. Như vậy thì, chẳng hạn, ngữ pháp tiếng Anh phải có tính năng miêu tả trong những thể quan yếu, nếu nó đã nói với chúng ta rằng, những câu như câu (1a) ở trên là đúng ngữ pháp trong tiếng Anh, nhưng các câu giống như câu (1b) là phi ngữ pháp và, nếu nó cho ta biết là các câu giống như câu (2) mang tính lưỡng nghĩa xét như là có hai cách thuyên giải đã diễn thích trong câu (3a) và (3b); còn ngược lại, văn pháp của chúng ta sẽ là phi tính năng miêu tả, nếu nó nói cho chúng ta một cách sai lầm rằng, cả hai câu trong (1a-b) là đúng văn pháp trong tiếng Anh, và rằng câu (2) có thể được diễn thích như trong câu (3a), nhưng không phải như trong (3b).

Trong khi đó, sự quan hệ của ngôn ngữ học miêu tả là phải đặt ra các văn pháp của những ngôn ngữ cá biệt, sự tương quan này của ngôn ngữ học lý thuyết là phải đặt ra một lý thuyết ngữ pháp. Một lý thuyết ngữ pháp là một bộ tập hợp các giả thuyết về bản chất của các văn pháp bẩm sinh (tức là nhân loại) khả hữu hay phi khả hữu (có thể xảy ra hay không thể xảy ra). Một lý thuyết văn pháp là một lý thuyết phúc đáp cho các câu hỏi như: cái gì là những đặc tính cố hữu mà các tính văn phạm ngôn ngữ bẩm sinh phải thực hiện và không thực hiện? Đúng là có tiêu chuẩn thỏa đáng cho những nền văn pháp, có đến cả một số lượng chuẩn mực mà bất cứ lý thuyết hợp lý nào về văn pháp cần phải làm hài lòng. Một tiêu chuẩn cụ thể, chính là tiêu chuẩn phổ quát, có nghĩa là, một lý thuyết văn pháp cần cung cấp cho ta các công cụ thiết yếu để miêu tả văn pháp của bất kỳ tính năng ngôn ngữ bẩm sinh nào; sau hết, một lý thuyết văn pháp cần có một chút quan tâm, nếu, nó cho phép chúng ta miêu tả được văn pháp của tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Phạn, tiếng Ý v.v... (tức là hệ thống ngôn pháp Ấn-Âu), ngoại trừ hệ thống ngữ pháp của Swahili và tiếng Hoa. Như vậy, có nghĩa là, cái gì mà ta dự định bằng cách cho rằng, tính phổ quát là tiêu chuẩn thỏa đáng cho một lý thuyết văn pháp thì cái đó là cái mà nó phải cho phép ta đặt ra một văn pháp có tính năng hoạt thuyết (descriptively adequate) cho từng ngôn ngữ bẩm sinh: nói cách khác, lộ trình tối hậu của ta là phải phát triển một lý thuyết văn pháp phổ quát. Trong văn học ngôn ngữ học, việc viết tắt thuật ngữ Universal Grammar thành UG, là một quy ước chuẩn, và đây là lý do nói đến việc thiết lập một lý thuyết UG.

Tuy nhiên, lộ trình tối hậu của bất kỳ lý thuyết nào, chính là giải thích, song, điều này chưa đủ cho một  lý thuyết Văn phạm Phổ quát chỉ để thống kê các tập hợp những đặc trưng chung của các nền văn phạm ngôn ngữ bẩm sinh; ngược lại, để giải thích những đặc trưng quan yếu, thì thuyết UG cần được kiểm tra. Vậy, câu hỏi cốt lõi cho bất kỳ thuyết UG xứng lý nào là để trả lời: “Tại sao các tính văn phạm ngôn ngữ bẩm sinh có những đặc trưng như chúng vốn có?” Việc yêu cầu này là để một lý thuyết sẽ cần giải thích vì sao mà các tính văn pháp có những đặc trưng như chúng vốn có, mà theo quy ước, thuyết này được nhắm vào với tư cách là một tiêu chuẩn của hiệu lực giải thích.

Bởi vì, thuyết UG được tương ưng cùng cách định nghĩa các đặc trưng của những tính văn pháp ngôn ngữ bẩm sinh (tức là lý tính nhân loại), một câu hỏi quan trọng là, ta muốn thuyết UG của ta trả lời: “Những gì là các sở hành yếu định của các ngôn ngữ bẩm sinh, chẳng hạn, phân biệt giữa chúng với các ngôn ngữ nhân tạo như những từ được sử dụng trong toán học và hệ thống máy tính (thí dụ, các từ Basic, Prolog v.v...) hoặc là phân biệt giữa hệ thống giao hoán thông tin loài thú (như, vũ khúc quay nhanh được các loài ong thực hiện nhằm truyền thông địa phương có nguồn thức ăn cho các loài ong khác?*) Do đó mà, bộ công cụ miêu tả mà thuyết UG cho phép ta tạo nên cách sử dụng trong các tính văn pháp bẩm sinh đang thiết lập không cần phải toàn năng, đến độ nó có thể được sử dụng để, chẳng những miêu tả được các ngôn ngữ loài thú, mà còn miêu tả được ngôn ngữ máy tính hoặc các hệ thống liên lạc của loài thú (bởi vì, bất kỳ lý thuyết toàn năng tột bực nào đi nữa vẫn không thể có khả năng định vị những đặc trưng chuẩn của các ngôn ngữ bẩm sinh phân biệt giữa chúng với các loại hình của hệ thống thông tin chung). Nói cách khác, điều kiện thứ ba mà ta phải áp đặt lên học thuyết ngôn ngữ của mình là nó cần được hạn định một cách tối đa: nghĩa là, ta muốn lý thuyết này cung cấp cho ta các công cụ kỹ thuật bị cưỡng buộc như thế trong năng lực diễn cảm của chúng để chúng chỉ có thể được quen dùng miêu tả các ngôn ngữ bẩm sinh và không thích hợp cho sự miêu tả về các hệ thống thông tin khác. Thế thì, bất cứ lý thuyết hạn định nào như vậy sẽ cho phép ta định tính được nhiều điều cốt yếu của ngôn ngữ bẩm sinh.

Cơ chế vật lý học não bộ là cơ chế hạ tầng của thẩm năng ngôn ngữ học và là tác nhân gián tiếp (thông qua các hạt giống còn rất mờ nhạt trong kho lưu trữ từ vựng của loài người, trước khi có sự can thiệp của ý thức phát triển theo cơ chế này. Người ta không hiểu vì sao mà ngay khi chào đón cuộc đời, nói chung, trẻ em chọn tiếng khóc, nếu tiếng khóc có nguồn gốc từ cảm thọ rất lâu xa của nhân loại, vậy thì, nó cũng có thể là một trong những thành viên thông minh của lịch sử thế giới này, và nó có thể vượt qua chính mình bằng cách xây dựng một công cụ phá vỡ nó—Chân lý về Khổở đây, ngôn ngữ, như kinh Lăng-già dạy “nhân dẫn đến chân lý tối thượng”. Ngôn ngữ hình thành bằng tiếng khóc, thì nó cũng có thể tự hủy mình bằng nụ cười. Thật không may, rất nhiều bản copy từ pháp ngữ của bậc Đại Đạo Sư “chấp ngôn”, và đã bị hậu thế sử dụng không được khéo lắm. Quá trình hủy bỏ một lý thuyết, không có nghĩa là lập nên một lý thuyết nào khác mà thực chất của giai đoạn hiển ngôn này, chính là người ta nắm bắt trọn ven được bản chất bất thực của nó (Thế Gian Giải) hình thành khả năng cho trẻ em thụ đắc ngôn ngữ trong một giai đoạn ngắn nào đó có thể thấy được: nói chung, vào khoảng 18 tháng tuổi, trẻ em bắt đầu lập thành những cấu trúc từ đôi (two-word) sơ bộ, và vào khoảng 30 tháng tuổi các em đã thụ đắc một phạm vi rộng các cấu trúc văn pháp sai biệt và lúc này, các em có khả năng sản sinh những câu phức có tính văn pháp đáng kể. Theo đó, điều kiện thứ tư mà bất cứ lý thuyết ngôn ngữ học hợp lý nào cần phải giáp mặt: khả năng học; lý thuyết này phải cung cấp những văn pháp mà trong một chu kỳ tương đối ngắn, trẻ em có thể học được.

Một yêu cầu có liên hệ là việc lý thuyết ngôn ngữ học cần cung cấp những tính văn pháp hình thành cách sử dụng bộ công cụ (apparatus) mà bộ khí cụ này đòi hỏi cung ứng hiệu năng hoạt thuyết của hiện tượng ngôn ngữ học: nói cách khác, những tính văn pháp sẽ phải đơn giản như khả năng thực hiện. Hầu hết mọi công việc vận hành trong cú pháp vào thập kỷ 1980, đã kéo theo định đề về các cấu trúc và những nguyên lý phức hợp hơn bao giờ hết: xét như là một phản ứng cho tính phức tạp thặng dư của đặc tính công việc này. Vào thập kỷ 1990, Chomsky đã phát minh học thuyết Tối giản (minimalism) (tức là sự yêu cầu tối giản hóa bộ công cụ miêu tả và lý thuyết đã sử dụng để miêu tả ngôn ngữ) yếu kiện (cornerston) của lý thuyết ngôn ngữ học. Trong tác phẩm Chương trình tối giản dành cho lý thuyết ngôn ngữ học, lý thuyết này được Ông triển khai và nó là động cơ kích hoạt cho một khu vực rộng bằng sự kỳ vọng là tối giản hóa gánh nặng thụ đắc đặt cho trẻ em (và cho những ai muốn biến ngôn ngữ thứ hai hay thứ ba, thứ tư ... nào đó ngoài bản ngữ của mình là của mình) và nhờ thế mà giản lược tối đa khả tính học những tính văn phạm ngôn ngữ bẩm sinh.

Lược ngôn của chúng ta về khả tính học dẫn ta tự nhiên quan sát được lộ trình phát triển một lý thuyết thụ đắc văn phạm. Một lý thuyết thụ đắc được tương ưng với vấn đề là trẻ em đạt tới các văn phạm bản ngữ của chúng như thế nào, và từ đó mở ra một chân trời thụ đắc những ngôn ngữ ngoài bản ngữ của mình cho những ai học ngoại ngữ. Một trong những vấn đề cơ bản nhất mà một lý thuyết thụ đắc đang kiểm nghiệm là nhằm trả lời: “cách gì và khi nào mà trẻ em phát triển ngữ pháp ngôn ngữ nội tại mà chúng đang thụ dụng và cái gì là những trạng thái hậu khởi (subsequent stages, các giai đoạn hậu khởi) băng qua trong quá trình phát triển văn pháp của chúng?”

Nói chung, trẻ em, chẳng hạn nước Mỹ sản sinh từ ngữ đầu tiên của chúng có thể nhận ra (thí dụ, các từ Mama hay Dada) vào giai đoạn 12 tháng tuổi. Sáu tháng tiếp theo hoặc hơn nữa, có một chứng cứ hiện ra tương đối nhỏ về sự phát triển văn pháp, cho dù loại hình từ vựng phát sinh của chúng đang tăng, cứ ba từ cho một tháng, tới khi chúng vươn đến một cặp mười từ vào khoảng 18 tháng tuổi. Suốt giai đoạn từ đơn này, những phát ngôn của trẻ em bao gồm các từ đơn, thể hiện một cách đơn biệt; chẳng hạn, một đứa trẻ có thể nói Apple khi cầm trái táo trong tay, hay là UP khi muốn trao cho mẹ nó một con dao. Suốt giai đoạn từ đơn này, người ta chưa có cứ liệu nào về việc thụ dụng ngữ pháp, ở giai đoạn này, trẻ em không tạo sinh cách sử dụng những biến tố (inflection) (chẳng hạn, chúng không thể thêm s cho những danh từ thành số nhiều hay thêm vĩ tố d cho các vị từ thành thì quá khứ) và chúng không thể kết sinh (don’t productively combine) các từ lại với nhau để hình thành các phát ngôn có từ-đôi hay từ-ba. Vào khoảng 18 tháng tuổi, ta phát hiện các dấu hiệu ban đầu của sự thụ đắc văn pháp: đứa trẻ khởi sự tạo sinh cách sử dụng những biến tố (chẳng hạn, cách sử dụng danh từ số nhiều như doggies dọc theo hình thái số ít của doggy và các phân từ như going dọc theo hình thái vị từ phi biến tố là go) và cũng như vậy, nó sơ bộ sản sinh các phát ngôn có từ-đôi hay từ-ba, chẳng hạn, want teddy, eating cookie, Dolly go bed, v.v...Từ trên điểm này, ta có một khai triển nhanh chóng vào trong sự phát triển văn phạm của chúng, thậm chí vào lúc 30 tháng tuổi, trên mặt điển dạng, trẻ em đã thụ dụng hầu hết những biến tố và các cấu trúc văn pháp quan yếu đã sử dụng trong tiếng Anh, và có khả năng sản sinh những câu giống như “người lớn”, chẳng hạn, Where’s Mummy gone? Can we go to the zoo, Daddy? v.v...(dẩu cho hình vị hay các sai cú pháp này thỉnh thoảng vốn dĩ xảy ra), (chẳng hạn, We goed there with Daddy, What we can do?) v.v...

Hiện tượng cốt lõi mà bất cứ lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ nào cần kiểm nghiệm để giải thích, chính là điều này:”bằng cách nào mà sau một chu kỳ nhiều tháng mà sự kiện ấy được rút ra trong đó mà không có một dấu hiệu văn pháp hiển nhiên nào phát triển và vào khoảng 18 tháng tuổi có hiện tượng trào vọt bất ngờ thành ngữ ngôn nhiều từ, khởi sinh ra sao và khi hiện tượng phát sinh trong phát triển ngữ pháp xảy ra qua 12 tháng kế tiếp là như thế nào? Tính đồng nhấtcực nhanh này (từng là sự trào vọt đã khải phát) trong mô hình phát triển ngôn ngữ học của trẻ em, chúng là những sự kiện trung tâm mà một lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ phải kiểm nghiệm để giải thích. Song, bằng cách nào?

Chomsky chủ trương rằng, cách lý giải hợp lý nhất cho tính đồng nhất cực tốc của sự thụ đắc ngôn ngữ ban đầu là phải ấn định tiến trình thụ đắc được quyết định bằng tính năng ngôn ngữ nội tại tiên thiên sinh vật học (hay là chương trình thụ đắc ngôn ngữ, ngữ đoạn này vay mượn cách ẩn dụ phần mềm máy tính) bên trong não bộ cấp cho trẻ em một thuật toán (chuyển hóa hệ di truyền) (tức là, sự tập hợp các thủ tục) cho sự phát triển một ngữ pháp, trên cơ sở thể nghiệm ngôn ngữ học [bên trong] của chúng (tức là, trên cơ sở ngõ vào ngữ ngôn [input speech-ngữ ngôn đầu vào] mà chúng tiếp nhận). Cái cách mà Chomsky hình dung tiến trình thụ đắc ở đó, có thể được trình bày dưới dạng biểu đồ như sau:

(4) Thể nghiệm về L→ Tính năng ngôn ngữ→ Ngữ pháp L (L là ngôn ngữ đang được thụ đắc và nội thể hóa).

Trẻ em trong khi thụ đắc một ngôn ngữ sẽ quan sát mọi người quanh chúng cách sử dụng ngôn ngữ và tập hợp các biểu đạt trong ngôn ngữ mà chúng nghe với lại các ngôn cảnh mà chúng được sử dụng trong đó—trong tiến trình thụ đắc ngôn ngữ cấu thành sự thể nghiệm ngôn ngữ học của trẻ em về ngôn ngữ. Sự thể nghiệm này dùng như là ngõ vào cho tính năng ngôn ngữ của chúng, cung cấp cho chúng bằng một thủ tục dành cho (dưới dạng tiềm thức) sự phân tích kinh nghiệm trong một đường lối như thế với tư cách là đặt ra một ngữ pháp ngôn ngữ đang được thụ đắc, tức là, từ hệ sinh vật người ta tiến vào lãnh vực thức, xét như là lý tính của nhân loại. Do vậy, ngõ vào cho tính năng ngôn ngữ là sự thể nghiệm của trẻ em, còn ngõ ra của tính năng ngôn ngữ là ngữ pháp ngôn ngữ đang được thụ đắc.

Giả thiết rằng, tiến trình thụ đắc ngôn ngữ được quyết định bằng tính năng ngôn ngữ và nó sở dụ là sự thi thiết có tính nội tại trên quan điểm đại chúng. Thì, theo Chomsky, sự thụ đắc ngôn ngữ là một hoạt động đơn nhất của chúng sinh, tự trong bản chất, nó không giống với bất cứ loại hình học tập nào khác mà chúng sinh thể nghiệm, thậm chí, học một ngôn ngữ là một sự học gắn liền toàn diện với những tiến trình tâm hay lý tính (tư duy), nó tách biệt hẳn những gì gắn liền trong, chẳng hạn, học đánh cờ, đạp xe đạp, tập ăn chơi v.v... Có nghĩa là sự hoạt động của tâm thức trên lãnh vực ngôn ngữ (sẽ là những lý thuyết cho các thời kỳ sau) nó vi tế hơn là các thô sắc mà ta dễ dàng cảm nhiễm. Tuy nhiên, đầu vào cho một hình thái thô của các lý thuyết sẽ là đầu ra cho những lý thuyết thô hành. Ở đây, ta muốn nói đến tiến trình và thủ tục nhập dữ liệu mà một đứa trẻ, thậm chí ngay cả những “người lớn” cần phải “lập trình” như thế nào. Bởi vì đầu vào là thô sắc, nên đầu ra, ta có một bộ sưu tập từ vựng không thể hiểu nỗi: sân chơi tri thức, văn hóa ẩm thực v.v... Chúng hiện hình “nguyên xi” kiểu dáng văn hóa “luân hồi”.

Một mẫu chứng cứ mà Chomsky dẫn ra ủng hộ về cách ấn định cho tính năng ngôn ngữ nôi tại của loài người:

“Đối với bất kỳ chứng cứ nào mà chúng ta cần có, theo tôi là để ủng hộ cho quan điểm, rằng khả tính đạt được và sử dụng được ngôn ngữ là một khả tính loại biệt trong những loại biệt của nhân loại, rằng, khả thể ấy vốn quá uyên mặc và các nguyên lý hạn định quyết định bản chất ngôn ngữ nhân loại được cắm rễ sâu vào trong đặc tính tư duy của họ.” (Chomsky 1972, p. 102).

Hơn thế, Ông giải thích, sự thụ đắc ngôn ngữ là một khả tính mà tất cả nhân loại sở hữu, hoàn toàn không phụ thuộc vào trí thông minh của họ:

“Ngay cả nơi trình độ trí thông minh thấp do bệnh hoạn, ta vẫn tìm thấy sự chi phối của ngôn ngữ, trạng thái này loài khỉ tuyệt đối không thể đạt đến, có lẽ, trên một bình diện khác hơn, cho dù là người đần độn, họ luôn vượt trội hơn trong hoạt động giải quyết vấn đề và hành vi thích nghi khác” (Chomsky 1972. p. 10).

Thêm nữa, tính đồng nhất xuất hiện trong mô hình thụ đắc đề nghị rằng, trẻ em có sự hướng đạo tổng loại (genetic guidance) trong việc phán đoán về cách cấu trúc một ngữ pháp bản ngữ của chúng.

“Chúng ta biết rằng, những tính văn pháp nằm trong sự kiện đã cấu trúc chỉ thay đổi không đáng kể giữa những người nói cùng một ngôn ngữ, bất chấp các biến hình rộng không chỉ trong trí thông minh, mà còn ở trong các duyên tố mà ngôn ngữ sở thụ.” (Chomsky 1972. p. 79).

Vả lại, còn có tính đồng nhất tương tợ trong các loại hình của những tính văn pháp được phát triển bởi những người nói sai biệt về một ngôn ngữ đã cho hay có sẵn:

“Những người nói sai biệt trong cùng một ngôn ngữ, bằng một cái gì đó thể nghiệm và thao tác sai biệt, dẩu sao thì họ thụ đắc những tính văn pháp vẫn tương tợ đáng kể.” (Chomsky. p. 13).

Hơn thế, tốc độ cực nhanh của sự thụ đắc (mà việc trào vọt ngữ pháp đã từng khải phát) cũng gợi lên cách chỉ đạo tổng loại của cấu trúc văn pháp:

“Mặt khác, để giải thích trẻ em hình thành cơ cấu các tính ngữ pháp... dưới những điều kiện thời gian hay nhập dữ liệu có sẵn là một điều bất khả.” (Chomsky 1972. p. 113).

(Chuỗi câu ‘dưới...dữ liệu có sẵn’, có nghĩa đơn giản là ‘trên thời gian ngắn và trên cơ sở của thể nghiệm ngôn ngữ học được giới hạn như thế’.) Cái gì tạo nên tính đồng nhất và cực tốc của sự thụ đắc, thì cái đó, thậm chí đáng quan tâm nhiều hơn hết, mà sự kiện là, thể nghiệm ngôn ngữ học của trẻ em thường bị thoái hóa (tức là, chưa hoàn thành), bởi vì nó sở y trên ngữ dụng (dụng năng ngôn ngữ) của những người nói trưởng thành và điều này có thể làm cho ngữ năng của chúng nghèo nàn tư duy.

Trên phát biểu của Chomsky, làm ta chợt biết rằng, một nền giáo dục khởi đi từ niệm Phật, từ ngữ ngôn của bậc Đại Trí, có lẽ nên chăng, là một nền giáo dục không bao giờ bị nhuộm đen bằng bất cứ loại lý thuyết nào mang bản chất trầm luân (sư Thích Thái Hòa có đề nghị đến một nền giáo dục Chánh Đạo có tám chuỗi trong bài viết ở báo PL, đây là một đề nghị tuyệt đối thuyết phục) và, nền tảng của cộng đồng sẽ chẳng thể, như ta thấy đã đau thương như thế này. Các nhà tâm-vật lý ngôn ngữ học đã đề nghị, khi bà mẹ đang mang thai, nên cho thai nhi nghe âm nhạc của Mozart hay Beethoven ...Song, các loại nhạc được cho là đỉnh cao của thế pháp đó, làm sao sánh bằng ‘câu niệm Phật’ của chính người mẹ như bản kinh Phổ Môn đã dạy. Câu niệm Phật cầu tự tài tuấn, là câu niệm Phật có tác dụng hơn cả tiếng nói của “chư Thiên và hơn cả tiếng rì rào vĩnh cửu của những đợt sóng trùng dương” nữa. Cũng do và thật vậy, đạo Phật chẳng những “hoằng pháp” cho những sinh linh đang hiện hữu, mà cả cho những sinh linh chưa và sắp hiện hữu. Niệm Phật là nguồn sữa duy nhất của các thiên tài về sau. Nó dành cho những sinh linh hoàn chỉnh nhất đối với những gì được thế gian quy định và, vượt qua khỏi những gì mà thế gian chưa biết để quy cho. Dẫu sao thì, chúng sinh thích chọn cõi Dục để sinh, âu cũng là “thường lý!”. Chomsky nói tiếp: “Hành vi thiện (sự ứng xử tốt) của người nói thông thường, còn bao gồm các khởi đầu xấu, những ngữ đoạn không mạch lạc và những phái sinh khác từ ngữ năng lý tưởng hóa.” (Chomsky 1972. p. 158).

Nếu phần đông những người nói là ngõ vào được trẻ em tiếp nhận là không đúng ngữ pháp (do sai lầm ngữ năng), thế thì chúng có thể sử dụng kinh nghiệm thoái hóa này để phát triển một ngữ pháp thẩm năng như thế nào, và để hình thành những câu đúng văn phạm, thì thẩm năng ấy chỉ định ra sao? Theo phép loại suy, câu trả lời của Chomsky được nêu ra như sau:

“Descartes hỏi, chính lúc ta thấy một hình thể bất thường phô ra trước mặt ta, bằng cách nào ta biết nó là hình tam giác? Ông cho là có một chênh lệch giữa dữ liệu đã trình hiện với chúng ta, tương ưng toàn diện với ý niệm mà chúng ta cấu trúc. Và Ông tuyên bố, tôi nghĩ rất đáng tin rằng, tôi thấy đối tượng là một hình tam giác vì có một cái gì đó thuộc về bản chất của những tư tưởng của chúng ta mà chúng hình thành dễ dàng một hình tam giác là do tâm dựng nên.” (Chomsky 1968. p. 687).

“Do tâm dựng nên, constructible by mind”, câu nói của Decartes gần giống như “duy tâm sở tạo” của DUY THỨC. Xét về mặt phương pháp luận, Decartes đã đóng góp cho văn minh nhân loại một hàm ngôn triết học đáng kể. Tuy nhiên, triết học nhị nguyên của Ông vẫn phải xem là một loại triết học quy ngã, một hình thái nhất nguyên trong thế giới phân đôi, khi mà thức Mạt-na, chợp bắt những phóng ảnh của các chủng tử tâm và, qua “dụng năng” của nó, nó cho rằng, cái kho dữ liệu kia đích thực là một thực thể, một hữu thể thường hằng, và cuối cùng, “tâm” là Thượng đế, cũng đồng một cách như Thắng luận và Số Luận mà thôi. DUY TÂM mà DUY THỨC nói, cũng tức là DUY LIÊN HỆ, (nhờ tính liên hệ này mà ta có thể giải thoát và có thể nghiệm chứng Niết-bàn), bởi vì công năng của chủng tử chỉ có thể phát sinh trên các nguyên nhân mà thôi và, do vậy, dòng nhân quả là không có sự bắt đầu. Thật là sai lầm khi gán cho kho dữ liệu của mình một thực thể thường hằng nào đó, như Descartes. Song le, một hàm ngôn hợp lý như thế mà, trong đa phần có cùng một cách, trên bình diện di truyền học, như ta được dự hướng là để phân tích các hình thể (tuy các hình thể này là bất nguyên tắc), sau khi định rõ các đặc trưng hình học, vậy thì, trên mặt Di truyền học ta được dự hướng hơn nữa để phân tích các câu (tuy là phi văn pháp), sau khi đã định rõ những thuộc tính đúng ngữ pháp. Hiếm khi, ta có một Descartes như thế.

Tóm lại, chúng ta không thể học để có một ngôn ngữ bẩm sinh và cũng không thể học để có thêm bất cứ thế lực nào; khả tính để đạt đến một ngôn ngữ bẩm sinh là bộ phận tiên thiên di truyền của chúng ta, giống như khả năng học đi bộ vậy. Trên mặt sinh vật học, đi bộ là của chính chúng ta, là thành viên vận hành của sát-na, chớ không là những du nhập ngoại lai.

Nếu, như Chomsky cho rằng, trên mặt sinh vật học, chúng sinh được ban cho một khả tính ngôn ngữ nôi tại, vậy thì, để hỏi những gì là định tính của tính năng ngôn ngữ này, thì đây là một câu hỏi hiển nhiên. Một điểm quan trọng để giải thích theo quan điểm này là trẻ em có thể thụ đắc bất cứ ngôn ngữ tự nhiên nào như là bản ngữ của chúng trong mội trường chủ yếu. Chẳng hạn, trẻ em V.N sinh ra ở Mỹ. Theo đó, tính năng ngôn ngữ cần phải được đa hợp với một bộ phận của các nguyên lý UG, có nghĩa là tính năng ngôn ngữ phải là như vậy để cho phép trẻ em phát triển một ngữ pháp của bất kỳ ngôn ngữ tự nhiên nào trên cơ sở ngữ nghiệm học phù hợp của ngôn ngữ này (tức là, đầu vào nói đủ). Kinh nghiệm về một ngôn ngữ L cá biệt (điển hình của những từ, ngữ đoạn và câu trong L mà ta nghe người nói bản ngữ L sản sinh) dùng như là đầu vào cho các nguyên lý UG, mà chúng là bộ phận bản hữu của tính năng ngôn ngữ của bất cứ ai, và lúc này, UG cung cấp cho ta bằng một thuật toán để phát triển một văn pháp của L.

Một tập hợp của các nguyên lý UG, có nghĩa là. một tập hợp các duyên tố để tạo điều kiện cho những ai phát triển tính năng ngôn ngữ học của họ, theo các tuyến thích hợp trong ngôn ngữ. Trong trường hợp này, nguyên lý UG chi phối luôn cả ba lãnh vực: nói, viết và dịch. Như ta biết, ba tiểu bộ phận của ngôn ngữ học này chỉ liên quan mà không tương ưng, tức là, một người nói lưu loát một ngôn ngữ nào đó ngoài bản ngữ của mình, chưa hẳn, anh ta hay cô ấy, có thể là một dịch giả, một bút giả và ngược lại. Còn một trường hợp nữa, UG là một tập hợp của các điều kiện quan yếu phù hợp với, một trong ba lãnh vực vừa nêu. Tức là, viết tốt, nói tốt, không phải là một dịch giả tốt, như trường hợp đại sư Huyền Tráng, kiến thức Phạn văn của Ngài đâu thể vượt qua La thập, tuy nhiên, khi chuyển dịch Phạn văn, so với một ít dịch bản trước đó, cơ hồ Ngài vượt qua La Thập. Song, ngược lại, khi viết chắc gì Ngài vượt qua một người Ấn-độ trưởng thành trong bản ngữ của mình, nếu người đó tinh thông cả Hoa văn, một chuyển dịch từ Hoa văn sang Phạn văn. Thêm nữa, khi xưa, tiền nhân chúng ta chưa có một hệ thống từ điển đồ sộ như chúng ta bây giờ. Do vậy đầu vào, là môi trường của một cộng đồng nói bản ngữ cho một học trò là một điều thiết yếu. Hơn thế, khi Huyền Tráng du học, thì Ngài vốn đã thừa hưởng một di sản rất lớn từ thế hệ cựu dịch, tức là đầu vào và khả tính thẩm nghiệm L của Ngài vốn đã được thẩm nghiệm rồi. Vấn đề còn lại là “đầu vào nói đủ-sufficient speech input” và điều kiện sau rốt này cũng được hoàn thành. Ở đây, cả ba: Thể nghiệm về L→ Tính năng ngôn ngữ→ Ngữ pháp L, cho một người học một hay nhiều ngôn ngữ, như Huyền Tráng đã hội đủ. Cụ thể, trong bài tụng đầu tiên của DUY THỨC, danh từ upacāra, được dịch là giả thuyết. Thế thì, nếu không có một hội nghiệm L, thì ta không thể có một danh từ hàm nghĩa rộng như thế. Một danh từ hàm nghĩa rộng, đến độ, chỉ một từ giả thuyết này thôi đã là một hệ thống triết học, nếu như ta đưa thành luận thuyết, và nếu không có một hội nghiệm UG này, thì, tính năng ngữ pháp L không thể phát huy tác dụng được. Để sưu tập hết toàn bộ dữ liệu mà Huyền Tráng đã cho, thì lộ trình ngữ pháp UG là một lộ trình duy nhất đối với chúng ta. Trong ngôn ngữ học, thẩm quyền sưu tập dữ liệu, không thuộc phạm vi của nó, thế nhưng không có nó, thì việc xử lý dữ liệu và nghĩa trong triết học cũng trở nên mù mịt.

Thật vậy, nếu sự thụ đắc thẩm năng (đúng) văn pháp được tính năng ngôn ngữ tiên thiên di truyền kết hợp cùng các nguyên lý UG thành một khối, vậy thì, tiếp theo sau là các khía cạnh thẩm năng của ta hay trẻ em được xét là vô thẩm nghiệm và do vậy, các thể này, đối với ngôn ngữ, phải là đồ họa ảnh bóng tiên thiên (blueprint) mà, trên mặt sinh vật học, đồ họa này ta được ban cho lúc mới chào đời. Những bình diện ngôn ngữ như thế sẽ không cần phải học tập, bởi vì, chúng đã thành là bộ phận kế thừa tổng loại của chúng ta hay trẻ em. Nếu ta lập nên một giả thuyết (phi bản chất, không có thẩm năng ngôn ngữ) rằng, tính năng ngôn ngữ không biến dạng theo nghĩa đặc biệt từ một người nói thông thường đến một ai khác, tức là, những thể này được xác định vốn đã bẩm sinh, thì chúng vẫn là phổ quát. Do vậy, trong khi quan sát bản chất của tính năng ngôn ngữ, trong thực tế chúng ta đang quan sát các nguyên lý phổ quát, chúng quyết định tuyệt đa số cấu trúc của ngôn ngữ—những nguyên lý chi phối các đặc tính của những thao tác văn pháp, các thao tác này được hay không được thừa nhận trong các ngôn ngữ bẩm sinh, thì những nguyên lý của các bản chất trừu xuất như thế có thể không đáng tin là từng được học rồi trên cơ sở hội nghiệm.

Tuy nhiên, ta có thể khám phá những gì mà các nguyên lý phổ quát trừu xuất này cưỡng chế phạm vi của các thao tác đã thừa nhận trong các tính văn phạm của ngôn ngữ tự nhiên như thế nào? Câu trả lời là, vì các nguyên lý quan yếu được đặt ra phải là phổ quát, do đó mà chúng sẽ cưỡng chế cách ứng dụng của từng thao tác trong từng ngôn ngữ. Do vậy, cách quan sát được chi tiết hóa của ngay một thao tác văn phạm trong một ngôn ngữ sẽ lộ ra chứng cứ về cách thao tác của các nguyên lý UG. Bằng cách minh họa, ta hãy quan sát những câu hỏi yes-no được hình thành trong tiếng Anh như thế nào (tức là, những câu hỏi mà với yesno được tiếp cận như là các câu trả lời một-từ). Nếu ta chia một câu tuyên bố đơn (= mệnh đề trần thuật) giống như (câu 5a) dưới đây theo biến thể nghi vấn của nó (câu 5b) (tức là câu hỏi):

(5) (a) Memories will fade away (Những trí nhớ sẽ tàn phai)

      (b)Will memories fade away? (Những trí nhớ sẽ tàn phai chăng?)

Ta thấy câu hỏi yes-no hiện hữu trong câu (5b) được hình thành bằng từ will nhấn mạnh giới hạn trước memories (cách thao tác đúng ngữ pháp cá biệt này thường sở chỉ cho cách đảo câu hỏi, từ đảo này dùng chỉ cho sự chuyển đổi trật tự từ). Do vậy, ta cần hình dung rằng, từ đảo này kéo theo một vài thao tác như sau:

(6) Hãy chuyển từ thứ nhì trong câu đặt trước từ thứ nhất

Tuy nhiên, để thể hiện theo lời đề nghị ở (6) thành hiệu năng miêu tả hay hoạt thuyết là quá dễ. Chẳng hạn, biến thể câu hỏi của (7a) dưới đây thành (7b) sẽ là dự báo sai lầm:

(7) (a) Memories of happiness will fade way

      (b) of memories happiness will fade away?

Tại sao (6) lại sai? Câu trả lời chủ yếu nhất mà ta có thể nêu lên là, các tính ngữ pháp của những ngôn ngữ tự nhiên không vận hành giống như lời đề nghị ấy. Nhất là, ta cần thấy là đề nghị (6) theo một thao tác sai lầm, đấy là một phụ thuộc cấu trúc (structure-dependent), trong ý nghĩa là nó thao tác một cách phụ thuộc của (tức là, không hình thành sở chỉ cho) cấu trúc câu đúng ngữ pháp. Đến độ, ta không cần biết cái gì mà cấu trúc đúng ngữ pháp của câu là (tức là những từ thuộc về các phạm trù ngữ pháp, hay các từ bổ nghĩa [trang sức] mà các từ khác v.v...) để biết các từ đảo như thế nào.

Trên thực tế, không có nền ngôn ngữ học nào từng yêu cầu là phải tìm ra bất cứ cách thao tác văn pháp giống như (6) thao tác trong một hình thái phụ thuộc hoàn toàn ở bất cứ ngôn ngữ tự nhiên nào. Do đó, giả thuyết là, ta muốn loại đi các thao tác phụ thuộc-cấu trúc như đề nghị (6) từ lý thuyết văn pháp của ta, điều này có vẻ là hợp lý. Một đường hướng sở hành như vầy sẽ phải đa hợp trong lý thuyết UG của ta, một nguyên lý, chẳng hạn (8) dưới đây:

(8) Nguyên lý độc lập-cấu trúc

Mọi thao tác đúng văn pháp đều độc lập-cấu trúc.

Cái gì mà thuộc về nghĩa này là cái mà các thao tác đúng văn pháp chỉ ứng dụng cho một vài loại hình của cấu trúc ngữ pháp và không thể ứng dụng cho các loại hình khác. Xin quan sát một cách tóm lược ngôn cảnh vừa nêu bằng cấu trúc đúng văn pháp.

Truyền thống cho rằng, những câu được cấu trúc không thuộc về các từ, các ngữ đoạn, tức là mỗi một câu phải thuộc về một phạm trù ngữ pháp loại biệt và mỗi một câu đáp ứng cho một chức năng văn pháp loại biệt trong câu chứa nó. (Chúng ta sẽ quan sát trở lại bằng chi tiết các phạm trù trong chương tiếp theo sau, như vậy, ta sẽ đỡ mất thời gian, trừ phi bạn chưa quen với các thuật ngữ được dùng ở đây).

Để thấy những gì mà ta vừa nêu, xin quan sát cấu trúc văn pháp câu (7) mang tính bi quan của chúng ta: Memories of happiness will fade away. Trong phân tích văn pháp truyền thống, mỗi một từ trong câu sẽ đánh dấu cho một phạm trù loại biệt, chẳng hạn, Memorieshappiness thuộc về phạm trù danh từ, fade là một vị từ, còn will là một phụ ngữ hay trợ từ (cái được gọi như thế là vì nó cung cấp tính chất cộng thêm vào (bổ sung), do vậy được cho là phụ ngữ—thông tin về hành vi hay tiến trình được vị từ miêu tả, có nghĩa là trong trường hợp này, đang dần phai sẽ xảy ra (phai hẳn) ở tương lai), of là một giới ngữaway, theo truyền thống được định loại là tính ngữ (mặc dù nó được cho là có tư cách của một tiểu từ giới ngữ).

Một vài từ trong câu này câu sinh với nhau để hình thành các ngữ đoạn và mỗi một ngữ đoạn này tuần tự thuộc về một phạm trù loại biệt: chẳng hạn, chuỗi Memories of happiness là một ngữ đoạn danh tính, và chuỗi will fade away là một ngữ đoạn vị từ. Hai ngữ đoạn này được tương cấu bằng phụ ngữ will, nhờ thế mà câu Memories of happiness will fade away được hình thành trọn vẹn. Mỗi một thành tố đa dạng (constituent) (tức là các bộ phận thành tố) cũng đáp ứng một chức năng văn phạm loại biệt. Dụ như, ngữ đoạn danh tính (noun phrase) Memories of happiness làm chức năng đúng ngữ pháp của hiện hữu chủ ngữ (suject) của trợ ngữ will, trong khi đó, fade away làm chức năng hiện thực bổ ngữ (complement) của will.

Sau khi đã khảo sát theo một vài thi thiết truyền thống về cấu trúc văn pháp, giờ thì chúng ta hãy trở lại diễn ngôn vừa rồi và thấy rằng mình phải phát triển một tiếp cận độc lập-cấu trúc cho các hiện tượng đảo từ thành câu hỏi (interrogative inversion, đảo từ thành nghi vấn cú). Khi nắm lấy những đề nghị mà truyền thống văn pháp quy định. Ta giả thiết rằng, sự đảo từ này đang kéo theo một thao tác như sau:

(9) Hãy chuyển một phụ ngữ và đặt trước một biểu đạt danh tính tiền diện có các chức năng như là chủ ngữ của nó (phụ ngữ này).

(Một biểu đạt danh tính [the noun expression] có thể được lý giải là ‘một biểu đạt bao gồm một danh từ câu hữu cùng bất cứ những biểu đạt nào trang sức cho danh từ ấy’.) Một đặc trưng hóa như thế là một độc lập cấu trúc hiển nhiên, có nghĩa rằng, đây là yếu tố tiền giả định cho tri thức về cấu trúc đúng ngữ pháp của một câu đã cho—tri thức về những gì mà các phạm trù ngữ pháp những biểu đạt khác nhau trong câu thuộc về (chẳng hạn, biểu đạt danh tính và phụ ngữ) và những gì mà chức năng văn pháp, chúng dùng làm (chẳng hạn, chủ ngữ). Kết quả là, để nhận thức được là có phải cách đảo từ có thể ứng dụng trong một câu đã cho hay không, thế thì, ta cần biết có phải câu đó chứa đựng một chủ ngữ biểu đạt danh tính đã tùy hành bởi một vị từ phụ ngữ (auxiliary verb) hay không. Trong (5a), Memories là một biểu đạt danh tính (bao hàm danh từ đơn Memories) và làm chức năng văn pháp của hiện thể chủ ngữ của phụ ngữ will. Do vậy, đặc trưng hóa độc lập-cấu trúc của ta về cách đảo từ trong (9) dự tri một cách chính xác rằng, (5b) Will memories fade away? Là một biến thể nghi vấn cú của (5a) Memories will fade way. Cũng vậy, biến thể nghi vấn của (7a) là Will memories of happiness fade away?, trong đây, ta có một phụ ngữ là (will) đảo ngược bằng một biểu đạt danh tính (ngữ đoạn danh tính memories of happiness) có những chức năng như là chủ ngữ của nó. Do vậy, sự thông tri độc lập-cấu trúc tạo thành những dự tri chính xác về hai tập hợp của các câu.

Song le, sự miêu tả độc lập cấu trúc của ta về cách đảo từ không kém phần quan trọng, nó cũng dự tri chính xác là không thể xảy ra trong các trường hợp như:

(10) (a) Down will come taxes (các mức thuế tới sẽ giảm)

        (b)* Will down come taxes?

(11) (a) John received a prize

        (b) *Received John a pize?

Trong (10b), ta có tiểu tố giới từ down bị đảo ngược bằng phụ ngữ will, và trong (11b), ta có một biểu đạt danh tính John bị đảo ngược bằng vị từ received. Do vì trong hai trường hợp, ta không phải đảo ngược biểu đạt danh tính chủ ngữ bằng một phụ ngữ, đặc trưng hóa độc lập cấu trúc của ta về đảo từ tiếng Anh dự tri chính xác rằng, cách đảo từ ở đây là không thể xảy ra. Ngược lại, đặc trưng hóa phụ thuộc-cấu trúc về cách đảo từ ở (6) dự tri sai lầm rằng, sự đảo từ là sẽ xảy ra trong cả hai trường hợp.

Như vậy, hiện tượng đảo từ trong câu hỏi cung cấp cho chúng ta chứng cứ rõ ràng ủng hộ cách đa hợp trong lý thuyết văn pháp của ta nguyên lý độc lập cấu trúc (8), nguyên lý này định rõ là các thao tác văn pháp đều diễn cảm với cấu trúc văn pháp của những câu mà chúng ứng dụng cùng. Cho rằng, (8) là nguyên lý nền tảng của UG, đến độ (8) giúp cho mọi tính văn pháp của mọi ngôn ngữ tự nhiên, có vẻ như hoàn toàn hợp lý. Nếu như thế và nếu ta thừa nhận là, những nguyên lý văn pháp trừu xuất là phổ quát, là bộ phận tiên thiên sinh vật học của ta, là mã di truyền từ hữu thức hay lý tính của ta, khi đó, sự đúc kết tự nhiên rằng, nguyên lý (8) được buộc chặc trong tính năng ngôn ngữ và rằng, do nó mà bộ phận đồ họa ảnh sắc di truyền (tổng loại) của trẻ em hay của ta được hình thành. Điều này có ý nghĩa trình tự là, tính năng ngôn ngữ nôi tại đa hợp cùng một tập hợp của các nguyên lý UG, chẳng hạn, nguyên lý độc lập-cấu trúc. Theo đó, ta có thể tái xét mô hình thụ đắc vừa rồi của ta trong (4) đã nêu, thành trong (12) dưới đây:

(12) Thẩm nghiệm của L→UG→Văn pháp của L

Trong mô hình đã đảo ngược này, sự hội nghiệm của chúng ta hay trẻ em được xử lý bằng tổ hợp đơn nguyên UG (UG module), nó là một bộ phận tất yếu của tính năng ngôn ngữ.

Lý thuyết văn pháp đặt ra rằng, cấu trúc văn pháp nội tại của các từ, các ngữ đoạn và những câu trong ngôn ngữ tự nhiên được quyết định bằng các nguyên lý nội tại của UG làm nhân cho bước tiến quan trọng là tối giản gánh nặng học ngữ pháp áp đặt trên chúng ta. Đây là một sự cân xét sinh động, bởi, ta vừa thấy rằng, khả tính học là một tiêu chuẩn thỏa đáng cho bất cứ lý thuyết văn pháp nào—nghĩa rằng, bất cứ thuyết văn phạm nào mà có khả năng giải thích như thế nào mà ta có thể học thành công văn pháp (những) ngôn ngữ bẩm sinh của mình một cách nhanh chóng và đồng nhất, thì học thuyết ấy sẽ cho là hợp lý. Lý thuyết UG tối giản tình trạng tải trọng học tập áp đặt lên chúng ta và nhờ thế, tối giản khả tính học về những văn pháp ngôn ngữ tự nhiên.

Xa hơn thế nữa, ta đã tuyên bố rằng, tính năng ngôn ngữ đa hợp cùng một tổ hợp các nguyên lý UG, chúng là nguyên lý bất biến băng qua các ngôn ngữ và quyết định bản chất và sự thụ đắc của cấu trúc ngữ pháp. Tuy vậy, rõ ràng là ta không thể cho là mọi khía cạnh về cấu trúc ngữ pháp của các ngôn ngữ đều bị quyết định bởi các nguyên lý ngữ pháp nội tại; nếu là thế, thì mọi ngôn ngữ sẽ có độ chính xác đồng một cấu trúc ngữ pháp, và lúc này, người ta sẽ không cần học cấu trúc đã được yêu cầu trong sự thụ dụng ngôn ngữ (tức là, người ta sẽ không học bất cứ cái gì về cấu trúc ngữ pháp của các câu trong ngôn ngữ mà ta đang thụ đắc), chỉ học từ vựng của ngôn ngữ thôi. Tuy là có những nguyên lý phổ quát quyết định những phát thảo rộng của cấu trúc ngữ pháp về các từ, câu và ngữ đoạn trong từng ngôn ngữ tự nhiên và cũng có các khía cạnh cá biệt-ngôn ngữ của cấu trúc văn pháp mà ta phải học như là bộ phận nghĩa vụ đang thụ đắc ngôn ngữ bẩm sinh của chúng ta là việc thật quá rõ ràng. Do thế, sự thụ đắc ngôn ngữ đòi hỏi không chỉ học từ vựng mà còn học một số cấu trúc nào đó nữa. Sự quan tâm chủ yếu của ta ở đây là khảo sát sự học cấu trúc, và nó nói cho ta biết những gì về tiến trình thụ đắc ngôn ngữ.

Đương nhiên, học cấu trúc sẽ không yêu cầu ta học các thể này của cấu trúc được UG quyết định. Hơn thế, học cấu trúc sẽ được giới hạn theo các tham số này (tức là, các thông số, hay các thể-aspects) của cấu trúc văn phạm, chúng là chủ ngữ cho sự biến dạng cá biệt ngôn ngữ (tức là, thay đổi từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác). Nói một cách khác, học cấu trúc sẽ được giới hạn theo các thể tham biến (parametrized aspect) của cấu trúc (tức là, các thể của cấu trúc này làm chủ ngữ cho sự biến dạng tham tố từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.) Do vậy, để quyết định đúng những gì mà người ta hay trẻ em phải học là khảo sát lãnh vực thay đổi tham tố trong cấu trúc ngữ pháp những ngôn ngữ tự nhiên (trưởng thành) sai biệt.

Ta có thể minh họa một loại hình thay đổi tham tố băng qua những ngôn ngữ về sự mâu thuẫn dưới đây, giữa các dẫn chứng ngôn ngữ Ý trong (13) và các biến thể hay đối thể tiếng Anh trong (13c-d):

(13) (a) Maria parla francese    (b) parla francese

        (c) Maria speaks French   (d)* Speaks French

Ta thấy, từ (13a / c), trong hai ngôn ngữ Ý và Anh, các vị từ hữu hạn định (những vị từ đóng vai thì hiện tại, quá khứ v.v...) như parla, speaks cho phép (có thể có) một chủ ngữ ẩn (over subject) như Maria; tuy là hai ngôn ngữ khác nhau, nhưng các vị từ hữu hạn định ấy cũng cho phép chủ ngữ không xuất hiện [...parla] (không hiện hữu nhưng được nhận biết) trong tiếng Ý (như trong (13b-parla), tương ứng với tiếng Anh ‘she, he speaks french’), nhưng không tương ưng với tiếng Anh trong (13d, thậm chí 13d không trúng ngữ pháp của tiếng Anh). Do vậy, các vị từ hữu hạn định, trong một ngôn ngữ chủ ngữ bất hiện như tiếng Ý (giống như Phạn văn), cho phép chủ vị ẩn hay hiện cũng được, nhưng trong tiếng Anh là tuyệt đối không thể như vậy. Ta phải miêu tả những dị biệt giữa hai ngôn ngữ này, bằng cách cho rằng, tiếng Ý là ngôn ngữ có chủ vị bất thực, còn tiếng Anh là ngôn ngữ có chủ ngữ thực hữu. Tổng quát hơn, ở đó hình thành sự thay đổi tham tố giữa các ngôn ngữ xét như là, dù chúng cho phép các vị từ hữu hạn định có chủ ngữ bất thực hay là không chủ ngữ. Tham tố quan yếu này (được gọi là tham tố chủ ngữ zero-null subject parameter) sẽ thành ra là một hình thái lưỡng phân (binary one), chỉ với những tập hợp song hữu (two possible settings), nghĩa rằng, does / doesn’t allow finite verbs to have null subjects. Thành ra, ở đó sẽ là “no language”, nó cho phép một vài chủ ngữ của các vị từ hữu hạn định là zero, nhưng ở các ngôn ngữ khác là không thể, chẳng hạn, ta có thể nói Ok trong Drinks weine, nghĩa là (anh ấy / cô ấy đang uống rượu), nhưng không thể nói Ok trong Eats pasta (anh / cô ấy ăn mì ống). Thành ra, lãnh vực biến hình ngữ pháp đã thấy là băng qua ngôn ngữ sẽ bị giới hạn hoàn toàn: Ở đó có vẻ vừa là hai khả hữu—hoặc là các ngôn ngữ phải có hoặc không có hệ thống mà ở đây cho phép các vị từ hữu hạn sở hữu các chủ ngữ ẩn, tức là, có một chủ ngữ được hiểu ngầm nhưng không biểu đạt một cách hiển ngôn.

Một thể quen thuộc nhiều của cấu trúc đúng ngữ pháp được tham hóa chính xác liên hệ đến trật tự từ, ở các loại hình sai biệt đó của các ngôn ngữ có những trật tự từ sai biệt trong những loại hình loại biệt của việc cấu trúc. Một loại biến dạng trật tự từ có thể được minh họa liên hệ đến sự tương phản giữa tiếng Anh và tiếng Hoa như sau và trật tự này ít sai biệt trong các hệ thông ngôn ngữ hệ Ấn-Âu:

(14) (a) What is his name?

        (b) kinnāmadhaḥ saḥ

        (c) 你名是何?hoặc 你是何名?

        (d) Bạn tên gì? Tên của bạn là gì?

Trong tiếng Anh, các câu hỏi-wh, tức là biểu đạt-wh được đặt ở đầu câu (như what / where / when / why bắt đầu bằng wh), về hình vị, nó tương ưng với hàng loạt các hệ thống ngôn ngữ Ấn-Âu như ta biết, Phạn văn cũng thế, nhưng biến tố theo tiếp chạm âm của nó (e.g –m+n→nn-) và vẫn không đảo vị. Xét theo vị trí hình vị ở mặt đứng, so với tiếng Anh và Phạn, vị trí câu hỏi của Hoa và Việt có tính chất biểu đạt phi vấn, nghĩa rằng, bổ ngữ của một vài ngôn ngữ Á-đông thường được đặt sau vị từ.

Như vậy, các “bước sóng tâm” theo một hệ di truyền nào đó quyết định nhận thức đối tượng của chủ thể—tham tố-tâm (mind-parameter). Trường hợp này, UG sẽ là hạt nhân giữa hội nghiệm L và văn pháp L như biểu đồ nêu trên. Biểu đồ này có tầm quan trọng chí đến việc biên dịch các văn bản từ hệ thống Ấn-Âu sang hệ ngôn ngữ Á-đông, UG chi phối tính phổ quát của các tham tố tâm trong quá trình lịch nghiệm L và văn pháp L.

Như vậy, vị từ (verb) là từ nói về đối tượng nhân thức, như là bản thể, cái tôi và các đối tượng của cái tôi có được thể hiện hay không là do vị từ này. Việc dịch verb là động từ, là hoàn toàn hợp lý theo truyền thống, thế nhưng, người ta sẽ ngộ nhận “động từ” này chỉ thuần túy là hình thái “hoạt động trên lãnh vực cơ bắp” mà thôi, chẳng hạn, “một thời đức Phật trú tại…”. Trú, là vùng cấm của hoạt động cơ bắp, cho dù, ở đó chúng sinh vẫn đang “doing” hay “act”, vả lại, (verb= krīyā=dhātu→18 giới) của Phạn văn, chỉ cho quả hay tác quả (sát na tạo nên kết quả), thuộc lãnh vực nghiệp, nhất là khẩu nghiệp, tổng cơ cấu của vũ trụ, bao hàm cả sắc vi tế lẫn tâm. Hơn thế, verb, trong tiếng Hy-lạp, verb=λογος=ρηματικος, nghĩa rằng, đây là một từ chỉ cho sự hoạt động của ngôn ngữ hay lý thuyết và verbum (=verb) trong Latin, cũng có nghĩa là, từ ngữ, lời lẽ, sự biểu đạt; cả trong tiếng Đức, verb vẫn theo nghĩa này, do vậy, riêng trên tinh thần bản văn, verb, ở đây xin chọn theo Hán dịch là vị từ¾một thứ tác sự hay một giới nào đó đi với ta đến hết đời này sang đời khác mà thuật ngữ ngôn ngữ học hay gọi là thể (aspect) vậy. Ta biết, trong Phạn văn, hầu như rất ít thực danh từ, chúng đều là các từ phái sinh, theo đó, danh từ upacāra không hiểu vì sao là lại được dịch là giả thuyết, tức là một danh tính nói về trạng thái của một chủ đề cấu trúc ẩn về một cái gì đó hiện hữu do tương quan (giả-tương quan), như—giả thuyết ( , ngôn ngữ hay luận đề cấu trúc tương quan đến...)— của đại sư Huyền Tráng. Ở đây, “sắc” của ngôn ngữ đã được thẩm và hội nghiệm trên cơ sở UG vậy. Hơn thế, người ta sẽ hỏi là, vì sao mà ngữ đoạn vijñānapariṇāme với tư cách là định vị cách mà, Đại sư dịch là “bỉ y”, bởi vì định vị cách, cũng có nghĩa là “ở trong”, tuy nhiên theo nguyên lý thẩm nghiệm L qua UG, ta biết “cái gì có tính giả thi thiết [ngôn ngữ cấu trúc, vākvikalpa], thì cái đó phải dựa trên cái gì đó [duyên sinh]”, không thể ở trong được. Vậy, vijñānapariṇāme vừa có tư cách là định vị cách, vừa có tư cách là danh cách, chi phối toàn diện thi kệ của Thế Thân—thức biến, cụ thể là của Huyền Tráng. Ở đây, nguyên lý UG vẫn là phổ quát. Một cách tự nhiên, UG cho ta một thuật toán phát triển bản ngữ của mình, học từ vựng hay môi trường cộng đồng không còn là hạt cơ bản nữa, bởi vì giờ đây, tất cả đã có trên “máy tính”, ta được nhẹ đi gánh nặng của đầu vào.

Như vậy, tham tố biến dạng tương phản giữa các ngôn ngữ là tham tố-wh, tức là, tham tố này mà biểu đạt-wh có phải đặt trước cấu trúc câu hỏi ẩn đang chứa chúng hay là không. Đáng quan tâm hơn, tham tố này, lại thành ra là một song đối (binary) trong bản chất, ở đó nó cho phép chỉ có hai khả tính—một ngôn ngữ hoặc nên hay không nên cho phép vận hành-wh, tức là, đem các biểu đạt-wh đặt trước câu. Đối với sự di chuyển-wh, nhiều khả tính không chỉ vì lý do nào đó mà chúng xuất hiện trong ngôn ngữ tự nhiên. Chẳng hạn, người ta Ok  khi nói ”Who did you see?” Nhưng không Ok khi nói “What did you see?” Cũng có trường hợp, người ta Ok  khi nói “What did you see?” Nhưng không Ok  khi nói “What did you hear?” Nghĩa là, không có trường hợp nào mà trong đó không có ngôn ngữ biến thể của Who? Và ngược lại của What? Trong âm nhạc Việt Nam, có một nhạc sỹ viết rằng, “em nghe gì không em, con chim nó hót trên đầu cành.” Ở đây, ta có Ok What không? Người nghệ sỹ “bắt em nghe hay thấy?”, trong cái thấy-nghe của mình. Tất nhiên là, theo nguyên tắc UG, thì đoạn nhạc trên là không thể Ok , trường hợp này phải kể đến rất nhiều đoạn nhạc của Trịnh công sơn mà, theo nguyên lý UG là không thể chấp nhận. Tuy nhiên, nghệ sỹ là “người chế tác văn pháp chưa được thừa nhận”. Song, một “thể” văn Trường hàng nào đó trong nghiệm tính tự tại của đức Phật, được Ngài “dịch” thành thi kệ, và ngược lại, các nhà biên tập thể rút gọn này được dãn rộng ra thành Trường hàng, những gì mà ở đó đức Đại bi và chư đệ tử Ngài đã thẩm nghiệm phổ quát và phổ quát rút gọn lại, không thể ở trên cái cách “em nghe gì không em” hay “nghe lá thu mưa rơi mòn gót nhỏ” trong thẩm dịch của ta. Tôn giáo được nội hóa trên thẩm nghiệm phổ quát, chớ không thể “lan man” như âm nhạc được. Có phải do lan man mà nghệ sỹ “nổi tiếng” chăng?

Trong tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ khác, các từ trung tâm như: những danh từ, vị từ, giới ngữ, tính ngữ, v.v... đều đứng trước các bổ ngữ của chúng, tuy nhiên, cũng có nhiều ngôn ngữ, như tiếng Hàn quốc, các từ trung tâm theo sau các bổ ngữ của chúng. Do vậy, trong các thuật ngữ không chính thức, ta đã có thể nói, tiếng Anh là một ngôn ngữ (trung) tâm-đi trước (head-first language), trong khi đó tiếng Hàn quốc là loại ngôn ngữ- tâm đi sau (head-last language). Các dị biệt giữa hai ngôn ngữ có thể được minh họa bằng cách phân tích những dẫn chứng tiếng Anh trong (15) dưới đây với các biến thể của tiếng Hàn:

(15)      (a) Close the door        (b) desire for change

            (c) Moonul dadala        (d) byunhwa-edaechan kalmang

            door close                                change-for desire

Trong tiếng Anh, ngữ đoạn vị từ Close the door (15a), vị từ tâm là close đứng trước phụ ngữ của nó là door; nếu ta giả định rằng, the door là một ngữ đoạn định ngữ, khi đó từ tâm của ngữ đoạn này (=định ngữ the) đứng trước phụ ngữ của nó (=danh từ door). Cũng vậy, trong tiếng Anh đã cho, ngữ đoạn danh tính (desire for change trong 15b), danh từ tâm desire đứng trước phụ ngữ của nó là for change; phụ ngữ for change tuần tự là ngữ đoạn giới ngữ mà trong đó giới ngữ tâm for cũng đi trước phụ ngữ của nó là change. Do vậy, dứt khoát là các từ tâm mà những vị trí của nó trong tiếng Anh là cố định trước các phụ ngữ, cho nên ta nói tiếng Anh là ngôn ngữ tâm đi trước. Và qua phân tích theo lược đồ nêu trên, ta thấy tiếng Hàn là ngôn ngữ tâm đi sau, tức là các ngôn ngữ tâm đi sau những phụ ngữ của chúng, như trường hợp ta đã phân tách tiếng Anh.

Tuy nhiên, ta cần nhớ rằng, sự đảo vị trật tự từ gắn cùng vị trí liên hệ của những từ tâm và các phụ ngữ rơi vào trong các giới hạn bị hạn chế nghiêm nhặt. Có nhiều loại đảo vị trật tự từ có thể hợp logích, nó xuất hiện trong ngôn ngữ tự nhiên mà không có lý do. Chẳng hạn, ta có thể tưởng tượng rằng, một vài vị từ của ngôn ngữ bẩm sinh nào đó sẽ đứng trước và một vài vị từ sẽ đứng sau các phụ ngữ (complement) của chúng, chí như, nếu hai vị từ có tính giả thuyết mới là scrunge và plurg do ta bịa ra, chắc là khi ấy, scrunge sẽ theo sau phụ ngữ, và plurg sẽ đứng trước phụ ngữ của nó. Tuy nhiên lúc này, thì sự kiện đó không có lý do gì để xảy ra cả (đúng hơn là mọi vị từ, trên mặt hình thể vẫn chiếm lấy cùng một vị trí trong một ngôn ngữ đã cho liên quan đến loại hình của phụ ngữ đã cho).

Những gì mà tất cả điều này đề xuất là cái mà có các tương phản phổ quát trên phạm vi đảo vị tham tố đã thấy là băng qua các ngôn ngữ gắn cùng trật tự liên hệ của các từ-tâm và các phụ ngữ. Sẽ xem như, nếu chỉ có hai khả năng sai biệt mà lý thuyết ngữ pháp cho phép đối với, thậm chí, một ngôn ngữ đã cho có thể cũng là ngôn ngữ tâm-đi trước và như vậy vị trí cố định tất cả từ-tâm là đứng trước tất cả phụ ngữ của chúng hoặc ngược lại, có các từ-tâm đi sau các phụ ngữ của chúng một cách dứt khoát. Tuy nhiên, vị trí ấy vẫn có thể tìm thấy không nhất thiết là ở trong các tính văn pháp của ngôn ngữ tự nhiên, và câu hỏi hiển nhiên đặt ra là, tại sao sự kiện này lại có thể xảy ra.

Chomsky trả lời rằng, lý thuyết UG được xâu suốt trong tính năng ngôn ngữ, nó áp đặt các tương phản tổng loại lên trên lãnh vực đảo vị tham tố đã thừa nhận trong các tính văn pháp ngôn ngữ tự nhiên. Với trường hợp tham tố tâm, tức là tham tố quyết định vị trí liên hệ của các từ-tâm (ngữ trung tâm) gắn cùng các phụ ngữ của chúng, UG chỉ cho phép một tập hợp lưỡng phân của những khả thể, nghĩa là, một ngôn ngữ có thể có ngữ tâm-đi trước một cách cố định, và ngữ tâm-đi sau cố định. Nếu là vậy, thì chỉ học cấu trúc duy nhất mà ta nắm được khi học những đặc trưng trật tự từ về tầng lớp quan yếu của các cấu trúc phải chọn trên cơ bản thẩm nghiệm ngôn ngữ của ta, việc thẩm nghiệm này là một trong hai tập hợp nội tại của tham tố được UG cho phép (tức là ngữ-tâm đi trước hay đi sau và đây là sự tiếp cận duy nhất cho ngôn ngữ đang được thụ đắc).

Ta có thể khái quát hóa diễn ngôn của mình về điểm này bằng các thuật ngữ tiếp theo sau. Nếu, tham tố-tâm (head parameter) buộc phải chọn một chọn lựa lưỡng phân đơn thuần và nếu tham tố-whtham tố chủ ngữ zero (null subject parameter) cũng yêu cầu những chọn lựa, thế thì, thật đáng ngờ rằng, tính lưỡng phân có thể là những đặc tính ngẫu nhiên của các tham tố cá biệt này. Hơn thế, hầu như rất có thể rằng, đây là một đặc trưng bản hữu của các tham tố mà chúng tương phản với lãnh vực đảo vị cấu trúc giữa các ngôn ngữ và đặc trưng này làm giới hạn một chọn lựa lưỡng phân. Sự khái quát còn đi xa hơn nữa, ta xin đề nghị rằng, mọi đảo vị văn pháp giữa các ngôn ngữ có thể đặc trưng hóa liên hệ đến một tập hợp của các tham tố và điều đó dành cho mỗi một tham tố, UG định rõ các giá trị khả hữu đối với tham tố này. Nếu là thế, thì việc học cấu trúc duy nhất mà ta đối diện trong khi thụ đắc bản ngữ của mình là trách nhiệm xác định giá trị tiếp cận cho riêng từng tham tố cấu trúc quan yếu theo những ngôn ngữ biến dạng. (Tất nhiên là trẻ em cũng đối diện với nhiệm vụ dữ dội của việc học từ vựng, tức là dựng nên vốn từ vựng của chúng trong ngôn ngữ quan yếu này).

Nếu, ở đây lý lẽ của ta theo những tuyến chính xác, thế thì nó dẫn chúng ta đến quan điểm theo sau về tiến trình thụ đắc ngôn ngữ.

Nhiệm vụ trung tâm mà ta hay trẻ em đối mặt trong khi thụ đắc một ngôn ngữ là phải cấu trúc một văn pháp của ngôn ngữ này. Ta nói rằng, tính năng ngôn ngữ đa hợp cùng một lý thuyết UG gồm có: (1) một tập hợp các nguyên lý phổ quát của cấu trúc văn phạm, và (2) một tập hợp những tham tố cấu trúc áp đặt cho đôi ba tương phản trên cách đảo vị cấu trúc đã thừa nhận trong các ngôn ngữ tự nhiên, mà có thể đôi ba tương phản này làm giới hạn phạm vi đảo vị cho một chuỗi những lựa chọn lưỡng phân. Bởi vì, các nguyên lý phổ quát của cấu trúc văn pháp không buộc phải học, nhiệm vụ học cấu trúc của ta được giới hạn theo bộ phận của tập hợp-tham tố, tức là xác định một tập hợp tiếp cận cho từng tham tố cấu trúc quan yếu. Vì những lý do chính xác này, mô hình đã vạch ra ở đây đã trở thành tri thức với tư cách là những nguyên lý-và lý thuyết từng tham tố (=PPT) của ngôn ngữ.

Lý thuyết PPT rõ ràng có hàm ý ưu điểm cho bản chất của tiến trình thụ đắc ngôn ngữ; chính xác hơn, một mô hình như vậy sẽ lảm giảm rộng sự phức hợp của nhiệm vụ thụ đắc mà ta đối diện. Mô hình PPT sẽ cho ta niềm hy vọng rằng, các nguyên lý cấu trúc này của ngôn ngữ là cố định băng qua các ngôn ngữ mà trẻ em không buộc phải học, bởi vì chúng sẽ là bộ phận tiên thiên di truyền của các em và cả của chúng ta: ngược lại tất cả điều đó, ta hay các em phải học, chính là các đặc trưng văn phạm này mà chúng làm chủ ngữ cho cách đảo vị tham tố băng qua các ngôn ngữ.

Để kết luận, trong chương này, ta đã được liên hệ cùng bản chất và sự thụ đắc của văn pháp. Ta bắt đầu bằng cách tranh luận rằng, một văn pháp của một ngôn ngữ là một mô hình của thẩm năng đúng văn pháp của người nói bản ngữ lưu loát đúng văn pháp của bản ngữ này, và rằng, thẩm năng văn pháp được phản ảnh trong các trực giác của người nói bản ngữ về mặt ngữ pháp và sự thuyên giải. Ta đã đề nghị rằng, tiêu chuẩn hợp lý chủ yếu cho các tính văn pháp là cái thuộc về hiệu lực miêu tả, tức là, cách liệt kê chính xác đối với mặt văn pháp và thuyên thích. Ta đã giải thích rằng, một lý thuyết văn pháp được tương quan cùng sự đặc trưng hóa các thuộc tính phổ quát và cách tổ chức những văn pháp về những ngôn ngữ tự nhiên; ta đã đề nghị rằng, bất cứ lý thuyết ngôn ngữ thỏa đáng nào sẽ cần phải có tính phổ quát, tính minh bạch, tính giới lược và nên cung cấp những văn pháp mang tính phức hợp tối giản. Ta đã tiến hành quan sát ở những giai đoạn đầu của việc thụ đắc ngôn ngữ và đã tranh luận là vấn đề cơ bản nhất cho bất cứ lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ nào là trả lời vì sao mà sau thời kỳ một năm và nửa năm tiếp đến (của trẻ em) không có chứng cứ của bất kỳ sự phát triển văn pháp nào, hầu hết văn phạm của ngôn ngữ được thụ đắc sẽ diễn ra tiến trình của năm sau đó. Ta đã phát thảo giả thuyết nội tính được Chomsky đưa ra bên dưới tiến trình thụ đắc ngôn ngữ mà trên mặt di truyền, nó được dự báo bằng tính năng ngôn ngữ nội tại. Ta giải thích yêu cầu của Chomsky rằng, tính năng ngôn ngữ đa hợp với một tập hợp của các nguyên lý UG. Ta đã tranh biện rằng, nếu những nguyên lý của UG xác định bản chất của mỗi thao tác văn pháp và cấu trúc trong mỗi ngôn ngữ bẩm sinh hay tự nhiên, thì hãy chốt chặt lại cách kiểm tra về bất cứ một loại hình cấu trúc văn pháp hay thao tác nào trong bất cứ một ngôn ngữ nào sẽ làm lộ ra chứng cứ cho thao tác của các nguyên lý UG; và ta thấy rằng hiện tượng đảo vị trong tiếng Anh cung cấp cứ liệu cho yêu cầu nguyên lý độc lập cấu trúc. Ta đã đưa đến đề nghị rằng, các ngôn ngữ sai biệt trong cấu trúc của chúng theo một phạm vi của các tham tố văn pháp sai biệt. Ta nhìn vào ba tham tố như vầy: tham tố-wh, tham tố chủ ngữ zero và, tham tố-tâm. Ta tranh luận rằng, từng tham tố này là lưỡng phân cố hữu trong bản chất và rằng, vì thế mà học cấu trúc phải đối diện với các yêu cầu tập hợp tham tố, nghĩa là xác định hai tập hợp được UG cung cấp mà việc cung cấp này là một tiếp cận cho mỗi tham tố trong ngôn ngữ hiện đang thụ đắc. Ta tranh luận hơn nữa rằng, học cấu trúc duy nhất đã yêu cầu trong thụ đắc ngôn ngữ là tập hơp-tham tố. Ta cần yêu cầu là tìm thấy cứ liệu mà trẻ em tập hợp tham tố chính xác từ sự khởi đầu mạnh mẽ của ngữ ngôn đa từ và ta đã trình bày cứ liệu để đề nghị rằng, phát xuất từ các phát ngôn đa ngữ tối sơ của trẻ em, chúng đang thụ đắc tiếng Anh hay bất cứ ngôn ngữ nào như là tiếng mẹ đẻ của chúng là đặt chính xác tham tố-tâm ở sự tiếp cận giá trị ngữ tâm-đi đầu, chẳng hạn, đối với tiếng Anh hay Phạn văn. (còn tiếp)

P.H. 

Thuật ngữ và lược ngữ

A (xem adjective)

A-bar-movement: Thao tác di chuyển A-dấu ngang.

Thao tác di chuyển (A-) dấu ngang chuyển di một phóng chiếu cực đại trong một vị trí A- (chẳng hạn, một vị trí phi tham tố, hoặc trên hết là, một vị trí được các biểu đạt chiếm giữ mà chúng không phải là tham tố). Như vậy, tác tử di chuyển, sự tái bổ [một tiến trình tái bố trí những phóng chiếu cực đại nội tại trong các tiểu cú, di chuyển chúng xa hơn về phía trước của tiểu cú. Xem scrambling] và chủng thao tác phụ mà nhờ đó, đặc tính ứng xử này được liên kết với một tiểu cú chứa nó như trong câu, thứ hành vi này ta không thể khoan dung, đều thuộc về tất cả loại hình khu biệt của thao tác di chuyển A- cả.

Absorption: Hiện tượng rớt âm tiết. Hiện tượng hấp thu.

Một phân từ quá khứ được cho là hấp thu hay giữ vai tham tố (theta-role) mà, trong khi đó, một vị từ có thể chỉ định cho chủ ngữ của nó (nhờ đó mà nó có khả năng phủ định thao tác hóa chủ ngữ-dethematizing the subject) và để đóng vai cách bổ ngữ, trong khi, một vị từ ngoại động (transitive verb) chỉ định cho bổ ngữ của nó (nhờ thế mà có sự phủ định thao tác hóa nội động vị từ) để cho các phân từ quá khứ thành ngoại động vị từ.

Accusative. Xem case.

Active: Chủ động, năng động.

Theo truyền thống, một đối nghịch phát sinh giữa các cặp câu, chẳng hạn, câu (i) và câu (ii) sau đây:

            (i) Những kẻ cắp đã lấy trộm đá quý

            (ii) Đá quý bị những kẻ trộm lấy cắp

Thí dụ (i) được cho là một tiểu cú (hay câu) năng động, và câu (ii) được cho là đối tác bị động của nó. Cũng vậy, vị từ stole được cho là một vị từ năng động (hay vị từ trong dạng thái năng động) ở câu (i) và trong câu (ii), vị từ stole luôn luôn được cho là vị từ bị động (hay là vị từ ở dạng thái bị động)—nhất là, (một phân từ bị động) trong câu (ii), giống như thế, phụ ngữ were trong câu (ii) được cho là một phụ ngữ bị động.

Adjacency condition: Điều kiện trực cận.

Điều kiện yêu cầu rằng, hai biểu đạt cần phải trực tiếp cận nhau (chẳng hạn, điều kiện này, tiếp cận với điều kiện khác) để một thao tác nào đó ứng dụng. Chẳng hạn, tiểu từ to chỉ có thể đính trên want (thành hình thái wanna), nếu cả hai là trực cận.

Adjective: Tính ngữ.

Đây là một phạm trù từ [ngữ trù] thường biểu thị những trạng thái (chẳng hạn, happy, sad), điển hình là có một đối tác + ly (sở chỉ sad / sadly), điển hình là có những hình thái so sánh / so sánh cực cấp (superlative) bằng + er / + est (sở chỉ sadder / saddest). Tính ngữ này vẫn có thể gắn vào tiền tố un (tham chiếu unhappy) và vẫn có thể hình thành một danh từ bằng cách bổ sung (+ ness) (tham chiếu sadness, cái có tính buồn rầu).

Ajoint. Xem adjointion.

Adjunct: Phụ ngữ

Một cách mà thuật ngữ này được dùng, biểu thị một kết cấu tùy chọn, điển hình là cách sử dụng để hiển nghĩa, chẳng hạn, chỉ cho thời gian, vị trí, thể cách mà một dữ kiện nội phát (chẳng hạn, in the pub, trong quán rượu, đây là một phụ ngữ trong một câu, chẳng hạn, We had a drink in the pub, chúng ta có thức uống trong quán rượu này). Một cách khác mà nó được sử dụng để chỉ cho một thành phần đã được liên kết hay phụ kết với một thành phần khác để lập thành một thành phần mở rộng (xem adjunction bên dưới).

Adjunction: Cách gia kết hay cách ghép thêm vào

Đây là một tiến trình mà qua đó một từ được gia kết (= luyến kết, tương kết-attached) với một từ khác để lập thành một hợp từ (compound word) hoặc, một ngữ đoạn và ngữ đoạn này được gia kết với ngữ đoạn khác để hình thành một dữ kiện ngữ đoạn tương đối rộng. Chẳng hạn, trong một câu, chúng ta có thể nói rằng, He shoudn’t go, not-chắc là anh ấy không đi (trong sự ngoại hiện của hình thái rút gọn n’t) và nó được phụ kết với phụ ngữ should (auxiliary should) để hình thành một phụ ngữ phủ định shouldn’t. Cũng thế, chẳng hạn, trong một câu như vầy: You know that such behavior we cannot tolerate (anh biết rằng, chúng ta không thể nào mặc nhận [khoan dung] cách ứng xử như thế đâu), ta có thể tuyên bố rằng, such behavior đã được phụ kết với tiểu cú we- (xem A-bar-movement).

Adv. Adverb: Trạng ngữ, trạng từ.

Đây là một phạm trù từ mà trên mặt hình loại chỉ định thể cách (chẳng hạn, wait patiently-kiên nhẫn đợi chờ), hoặc là chỉ định cấp độ (chẳng hạn, exeedingly patient-cực kỳ kiên nhẫn). Trong tiếng Anh, hầu hết (nhưng không tuyệt đối), các trạng ngữ có đuôi kết thúc + ly, (sở chỉ quckly-nhưng còn là almost nữa).

Affix: Gia tố, phụ tố.

Là một hình vị văn pháp, mà tự thân nó không thể đứng một mình, xét như là một từ độc lập, nó chỉ được gắn với một đơn vị của một (từ) loại thích hợp nào đó. Ta có một gia tố luyến kết cùng sự bắt đầu của một từ, (chẳng hạn, un + trong unhappy) và như vậy, un được gọi là tiền tố, trong khi đó, một gia tố luyến kết với sự kết thúc của một từ, (chẳng hạn, + s trong chases, những sự săn đuổi), trong trường hợp này, nó gọi là hậu tố.

AGENT: Tác thể, tác nhân

Là một dụng ngữ (thuật ngữ thường dùng) để miêu tả vai trò ngữ nghĩa học (= thematic tham tố, từ cán, luận đề) mà một loại hình tham tố (argument) cá biệt diễn vai trong một câu đã cho. Điển hình là, nó biểu thị một nhân vật thận trọng khiến cho một tình huống nào đó về những giao dịch phát sinh- do vậy, chẳng hạn, john đóng vai tham tố của một tác thể trong câu như, John smashed the bottle, John đã đập nát cái chai. Thuật ngữ ACTOR (tác giả) và CAUSER (tác nhân giả), đôi khi được sử dụng trong những câu tương tợ như vậy.

Agreement: Hô ứng, phù ứng.

Là hai từ (hoặc các biểu đạt) được cho là tương ưng với một (vài-s) nét văn pháp, nếu chúng có cùng một giá trị đối với các nét (feature [s]) quan yếu; như vậy, trong câu, chẳng hạn He smokes, Anh ấy hút thuốc, vị từ smokes được cho là hô ứng với chủ ngữ He của nó, bởi vì cả hai là hai biểu đạt ngôi ba số ít.

AgrIO­­ /AgrO­­-bar/ AgrOP Kết cấu phù ứng bổ ngữ gián tiếp, cơ cấu bổ ngữ gián tiếp phù ứng.

AgrIO là một kết cấu phù ứng bổ ngữ gián tiếp, có một phóng chiếu trung gian trong  / AgrIO-bar (dấu gạch  / AgrIO), và một phóng chiếu cực độ trong AgrIOP, tức là ngữ đoạn bổ ngữ gián tiếp phù ứng.

AgrO / / AgrO-bar / AgrOP Ngữ đoạn bổ ngữ phù ứng / dấu gạch ngang bổ ngữ phù ứng.

AgrO là một cơ cấu bổ ngữ phù ứng có một phóng chiếu trung gian trong  / AgrO-bar và một phóng chiếu cực độ trong AgrOP, tức là một ngữ đoạn bổ ngữ phù ứng.

AgrS / / AgrS / AgrS-bar / AgrSP Ngữ đoạn chủ ngữ phù ứng

AgrS là một cơ cấu chủ ngữ phù ứng hay hô ứng, mà nó có một phóng chiếu trung gian trong  / AgrS và có một phóng chiếu cực độ trong AgrSP, tức là một ngữ đoạn chủ ngữ phù ứng.

Algorithm: Toán thuật.

Đây là một thuật ngữ vay từ toán học, sở thị một tập hợp hiển ngôn của các chỉ lệnh minh định bằng chi tiết thấy được chuỗi các bước chính xác mà bạn phải kinh qua, nhằm hoàn thành một thao tác nào đó.

Altruism: Thuyết lợi tha. Xem enlightened self-interest Tự thân minh bạch hóa.

Ambiguos: Tiểu cú lưỡng nghĩa, ngôn trung lưỡng nghĩa.

Một diễn đạt gọi là lưỡng nghĩa, nếu nó có nhiều hơn một thuyên giải (interpretation). Chẳng hạn, trong câu He loves her more than you, Anh ta yêu cô ấy nhiều hơn bạn, đây là một tiểu cú lưỡng nghĩa, bởi vì thực kiện rằng, nó hàm dung hai thuyên giải, tức là, một, khả thể phỏng nghĩa (paraphraseable) xét như là ‘Anh ấy yêu cô ta nhiều hơn là yêu bạn’, và hai là ‘Anh ấy yêu cô ta nhiều hơn là bạn yêu cô ấy’.

A movement: Di chuyển, chuyển vị

Là sự di chuyển từ một vị trí này đến một vị trí khác (trên mặt hình loại, là chuyển vị từ chủ ngữ hay từ vị trí bổ ngữ vào trong vị trí chủ ngữ khác).

Anaphor: Trùng phục pháp, hồi chỉ pháp

Pháp hồi chỉ hay trùng phục là một diễn đạt mà diễn đạt này phải có sở chỉ phụ thuộc (như tự thân anh ấy), tuy nhiên nó phải giữ lấy sở chỉ của nó từ một tiền sở chỉ (antecedent) (chẳng hạn, sự diễn đạt mà nó nhắm đến) trong cùng một ngữ đoạn hay một câu. Do vậy, trong khi chúng ta có thể nói John is deluding himself, John đang tự dối mình (ở đây, himself hồi chỉ cho John) , Chúng ta không thể nói Himself is waitting, bởi vì hồi chỉ himself, ở đây, không có tiền sở chỉ.

Antecedent: Tiền sở chỉ. Từ tiền chỉ.

Đây là một biểu đạt sở thị bằng một đại danh từ hay là hồi chỉ của một chủng loại nào đó. Chẳng hạn, trong câu, John cut himself shaving, ở đây, John là tiền sở chỉ của pháp hồi chỉ himself, bởi vì himself hồi chỉ cho John. Chẳng hạn, trong câu, He is someone whom we respect, tiền sở chỉ của đại danh từ whom someone.

Antonym: Từ phản nghĩa, từ trái nghĩa.

Đây là một thuật ngữ quen dùng biểu thị một diễn đạt phản nghĩa với một diễn đạt khác; chẳng hạn, tall-cao là từ phản nghĩa của short-lùn (và ngược lại). Do vậy, tallshort là những từ trái nghĩa.

Argument: Tham tố.

Là một thuật ngữ được ngôn ngữ học vay từ triết học (nhất là, từ phép tính vị từ / toán thuật vị từ) nhằm miêu tả vai trò đã đóng bằng các loại hình cá biệt (biệt dạng) của các biểu đạt trong cấu trúc nghĩa của những câu. Trong một câu như, John hit Fred, John đánh Red. Toàn bộ câu này được cho là một mệnh đề [proposition] (hạn từ này quen dùng để miêu tả nội dung nghĩa của một tiểu cú-clause) và chủ yếu là ở vị từ hit và hai tham tố của nó là John Fred. Cả hai tham tố này trình hiện hai chức cấp tham gia (participant) trong hành vi đánh, và vị từ là sự biểu đạt (trường hợp ở đây là vị từ hit) miêu tả hành động mà cả hai được tham gia trong đó. Bằng cách mở rộng ra, trong một câu, chẳng hạn, John says he hates syntax, John nói mình không ưa cú pháp. Ở đây, predicate (thuật từ-từ ngữ trần thuật) là vị từ say và hai tham tố của nó là John và tiểu cú he hates syntax; tuần tự, tham tố thứ nhì he hates syntax là một mệnh đề mà predicate của nó là hates và hai tham tố của nó, trong bản chất hay nội tại, là hesyntax được định vị trong V-bar (V-có dấu gạch ngang) và trong khi chủ ngữ của một vị từ phải đặt bên ngoài V-, thì những bổ ngữ vẫn được hồi chỉ cho các tham tố nội tại. Các biểu đạt mà không có chức năng tham tố được gọi là phi tham tố. Cấu trúc tham tố của một predicate cung ứng sự miêu tả về cách tập hợp những tham tố đã tương ưng với predicate (thuật từ) và vai tham tố, mỗi vai thực hiện qua liên hệ với predicate.

Aspect: Dạng tử, thể, cục diện.

Trên mặt điển dạng, đây là một hạn từ quen dùng để biểu thị thời lượng (duration) hay khoảng thời gian của một hành vi được một vị từ miêu tả (chẳng hạn, có phải hành vi này đang diễn tiến hoặc đã hoàn thành hay không). Chẳng hạn, trong các câu sau đây:

(i) He has taken the medicine (Anh ấy đã uống thuốc rồi)

(ii) He is taking the medicine (Anh ấy đang uống thuốc)

Phụ ngữ [trợ từ] has được cho là một bổ ngữ đánh dấu thể hoàn thành (perfective aspect). Do vì nó đánh dấu sự hoàn thành (trong ý nghĩa ‘xong rồi’ hay ‘kết thúc’) của hành vi uống thuốc; do những lý do như thế, nên taken được cho là một hình thái vị từ (quá khứ) hoàn thành (cho dù, theo truyền thống văn pháp, nó được quy là quá khứ phân từ). Cũng thế, nó cũng được cho là một (phụ ngữ) đánh dấu thể vị thành hay thể diễn tiến trong câu (ii), bởi vì, nó liên hệ đến một hành vi chưa được kết thúc (tức là chưa được hoàn hành) và do vậy, nó đang diễn ra hay trong tiến trình, (với lý do này), is trong câu (ii) vẫn được quy là phụ ngữ diễn tiến hay phụ ngữ vị thành; trong cùng một cách như vậy, vị từ taking trong câu (ii), được cho là hình thái (phân từ) vị thành hay phân từ diễn tiến của một vị từ (cho dù, theo truyền thống văn pháp, nó được minh dụ là hiện tại phân từ).

Attraction: Hấp lực, hình thái đồng hóa.

Sự chuyển vị một tập hợp của những nét từ vị trí phạm trù này đến vị trí phạm trù khác.

Attributive adjectives: Các tính ngữ làm định ngữ

Là những tính ngữ đươc quen dùng để trang sức (modify, bổ ngữ) cho một diễn đạt danh từ theo sau—chẳng hạn, màu đỏ, trong câu, John has a red Ferrari (John có một chiếc Ferrari màu đỏ), ở đây red quy vào các thuộc tính mà màu đỏ sẽ có cho danh từ Ferrari. Các tính ngữ làm phụ ngữ này khác với những tính ngữ vị từ, đây là những tính ngữ được quen dùng trong các cấu trúc, chẳng hạn, the house was red, They painted the house red, v.v... (ở đây, thuộc tính sẽ thành màu đỏ [being red], được cho là vị từ hóa của biểu đạt ngôi nhà).

Aux. / Auxiliary: Phụ ngữ, trợ từ

Một thuật ngữ quen dùng để miêu tả những yếu tố hay các đơn vị, chẳng hạn, will, would, can, could, shall, should, may, might, must, ought, và một vài sử dụng của have, be, do, need, dare. Những đơn vị như thế sai biệt từ những vị từ của loại hình từ vựng, chẳng hạn, vì chúng là đối tượng chịu tác động đảo câu (inversion) (tham chiếu, Can I help you?).

Auxiliary inversion. Xem inversion.

Auxiliary selection: Tuyển chọn phụ ngữ, tuyển trợ từ

Thuật ngữ này liên hệ đến hình loại vị từ mà một phụ ngữ đã nêu, chọn lọc với tư cách là bổ ngữ (túc từ) của nó, chẳng hạn, trong nhiều ngôn ngữ, (đối tác của) be khi quen dùng như là một trợ từ hoàn thành chỉ tuyển chọn một túc từ được vị từ phi đối cách dẫn đầu (nhu come, go v.v...) trong khi đó, (đối tác của) have chọn ra một túc từ đã được dẫn đầu bằng những loại hình vị từ khác.

-bar Dấu gạch ngang – dùng sau chữ cái (như X-)

Một X- (X có dấu gạch ngang, chữ cái nào đó có dấu gạch ngang) / kết cấu X là một phóng chiếu trực tiếp của trung tâm X- nào đó, nghĩa là, một phóng chiếu mà nó có độ rộng hơn X- nhưng nhỏ hơn XP (xem projection). Một cách sử dụng khác của hạn từ này, (ở đó, hậu tố -bar có nhiều chức năng như tiền tố non-. Một A-bar / vị trí Ā là một vị trí phi tham tố (xem Argument ở trên).

 

Thư mục tham khảo

Luận thành duy thức / Tuệ Sỹ (Tập một)

Tự điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu / Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng.

Những phương pháp của ngôn ngữ học cấu trúc / Z.S Harris / Cao Xuân Hạo dịch giải.

Ngữ nghĩa và tính khoa học của tiếng Anh / Trần Hữu Kỳ

Deutsch als premdsprach / Langenscheidt (L)

現代漢語六百詞 / 商務印書館

The penguin dictionnary of language

Kompaktwörterbuch neugriechisch / Pons.

Italien grammar and verb / Berlitz

Syntax / A. Radford

Language and problems of knowledge / Chomsky

Aspects of the theory of syntax / Chomsky

Language and thought / Chomsky

New horizons in the study of language and mind / Chomsky

Essays on grammatical theory and universal grammar / Doug Arnold, Martin Atkinson, Lousia Sadler.

Semantic analysis linguistics / H.G Widdowson.

Classical world an epic history of Greec and Rome / Robinlane Foxs

Context and content / Stal Naker

An introduction to descriptive linguistics / H.A. Gleason

Performance and competence in second language acquisition / Goalien Brown, John Williams.

Grammaire française syntaxe de la phrase / Trần Thế Hùng

Précis de grammaire historique de la française / Clarles Bourneau.

La linguistique / Jean Perrot.



* The tail-wagging dance performed by bees to communicate the location of a food source to other bees.

cập nhật : 15-09-2009   

Google


www.phatviet.com website khác

Trao đổi ý kiến và đăng sách báo, bài viết sáng tác, dịch thuật, nghiên cứu, v.v... xin gởi đến email: Ban Tu Thư Phật Việt (hoặc hanhqua@gmail.com)