|
TẬP SAN NGHIÊN CỨU
PHẬT HỌC PHÁP LUÂN
Số 6 - PL. 2552
[MỤC LỤC]
CÚ PHÁP - DẪN NHẬP THUYẾT
TỐI GIẢN CỦA N. CHOMSKY
PHÁP HIỀN cư sỹ
Một trong những hệ thống di truyền tối ưu của
chúng sinh là hệ thống thuộc về khả năng quan sát và suy luận—nó dần lật
tẩy được hầu hết những bí ẩn mà vũ trụ này luôn cố dấu, đặc biệt là khả
năng ấy được trao cho con người qua công cụ ngôn ngữ và ngôn ngữ từ
hình. Tuy nhiên, các lớp động vật và thực vật, chúng cũng có một vài
tham gia trong khối khả thể này, chẳng hạn, lập trình thụ phấn của hệ
thực vật nói chung, lập trình bằng những điệu múa của bầy ong như là sự
truyền tin cho những con ong khác về địa phương có nguồn lương thực hoặc
là lập trình của các loài chim thiên di, hệ thống thông tin sóng trên bộ
râu của loài kiến, chí đến là các hướng đi có sẵn của những loài
cá khi mưa tới là mùa nhả trứng chính xác và an toàn cho thế hệ tiếp
theo của chúng v.v... Tóm lại, mỗi một chúng sinh đều bẩm thụ một loại
dị thục hay là các sở dục bẩm sinh nào đó như là một hệ di truyền
cho những gì tồn tại ở phía trước, mà cho đến giờ, sự kiện ấy vẫn là một
đề tài nóng của tư duy nhân loại. Trên các dữ kiện sắc này, các nhà ngôn
ngữ học đã tiến hành khảo sát, qua các thông tin ngay từ đầu của những
trẻ em, nhất là quá trình phát triển hệ thống “Dị thục” ngôn ngữ của
chúng. Đại diện ưu việt trong lãnh vực này, chính là N. Chomsky, qua quá
trình khảo sát, Ông đã lập thành một lý thuyết ngôn ngữ, được gọi là
Học thuyết tối giản. Tức là, cách mà một người học ngôn ngữ cần bỏ
bớt đi những gánh nặng “văn phạm” trên vai của mình, đặc biệt là, ngành
giáo dục ngôn ngữ bản ngữ cho trẻ em hay các loại ngôn ngữ khác. Một lý
thuyết mà các bạn sẽ thấy, là nó tương quan như thế nào đến bộ môn Duy
Thức của Phật giáo chúng ta. Từ quá trình thức biến đến sự hình thành và
quá trình hậu khởi của các chuỗi trong tiến trình ngôn ngữ học của các
lây lan, và cũng y như thế, Chomsky và các học trò của Ông đã mã hóa như
thế nào, tức là các trừu xuất của thức trên bình diện ngôn ngữ được mã
hóa như thế nào, để nó được xứng danh là thuyết tối giản hóa. Như vậy,
học thuyết này, chẳng những mang trong tự thân nó một luận đề về ngôn
ngữ học trên sự chuyển hóa của lý tính, mà nó còn kéo theo những quan
tâm cơ học vật lý nữa—tâm lý vật lý ngôn ngữ học và triết học.
Nhằm bổ sung những điểm còn chưa rõ trong loạt
bài viết ở những số báo trước của mình—giới thiệu lý thuyết của Chomsky
và cách phát triển lý thuyết đó qua những học trò của Ông— bản soạn thảo
này, ngoài mục đích bổ sung những gì còn mờ nhạt đã nói, nó còn gợi lên
vài khía cạnh gắn cùng ngôn ngữ học: cú pháp nội hàm nghĩa và lý thuyết
khảo sát một ngữ đoạn, câu v.v..., trong niềm hy vọng là một soạn thảo
như thế sẽ mở ra viễn cảnh cho những ai ham thích bộ môn này, trước khi
ngôn ngữ được quan niệm như là thế giới muôn màu của sắc, mà người ta
cần khám phá và lọc trừ.
Bản văn sẽ tựa trên một số tác phẩm của Chomsky
và một ít học trò của Ông, những người đã chia sẻ cùng Ông học thuyết ấy
và phát triển rộng nó ra. Do vậy, bản văn không thể gọi là một bài viết,
nếu có thể, nó chỉ là những chắp vá, song, là những chắp vá từ các bộ
phận nguyên liệu chưa bị nhuộm màu, trừ phi có nhiều sai lầm trong cách
học của người viết. Phần đó sẽ dành cho người đọc chỉ dạy. Thế nên, các
bạn hẳn sẽ nhận ra rằng, phần đông các đoạn trong bản văn là các đoạn
copy từ những phát ngôn của các vị Giáo sư ấy, đôi phần liên quan đến
Phật giáo, thì đấy chính là của riêng người soạn thảo vậy. Nếu, một
trình bày như thế mà có thể có một chút duyên lành, thì thật là may mắn
cho bản văn. Nếu có thể, vẫn chút duyên ấy, thì tiếp theo những năm
tháng về sau, sẽ là một loạt bài về hệ thống văn pháp của Paṇīni và hệ
thống này, ta thấy đã quan hệ như thế nào đối với học thuyết Miêu Tả của
đại sỹ Thế Thân, như một ít xuất hiện trong luận án tiến sỹ của G.s Lê
Mạnh Thát. Các bộ thuật ngữ như: parivṛt, paramāṇa, vikalpa, vākvikalpa,
ātmālabha, vijñāpti, avijñāpti v.v...sẽ được truy cứu theo học thuyết
miêu tả và được học theo thuyết Tối Giản của Chomsky. Đây là một bộ sưu
tập vĩ đại mà ánh sáng của chúng sẽ được xét trên quan điểm ngôn ngữ và
cách tổ chức của chúng (nếu như ta có thể thực hiện được), hơn là
nghĩa theo hướng niềm tin tôn giáo, một thái độ, mà theo tôi là chưa
thật sát với truyền thống tư duy tu
của Phật giáo. Ngôn ngữ học đặt bản thân mình bên ngoài những tư duy
siêu hình cục bộ.
Còn, về cách trình bày hay bộ khung của bản văn,
thì nó theo trình tự của G.s Andrew Radford của viện đại học Cambridge.
Tức là:
§
Văn pháp
§
Các phạm trù
§
Cấu trúc
§
Các phạm trù rỗng
§
Chuyển động dẫn đạo
§
Chuyển động thao
tác—nhân tố tạo thao tác chuyển động
§
Những chủ đề
§
Một chuyển động
§
Bộ khung ngữ đoạn vị
từ
§
Các phóng chiếu phù
ứng—tướng phần phù ứng
VĂN PHÁP
Theo truyền thống, văn pháp được tiểu phân
thành hai bộ phận sai biệt
- hình vị học và cú pháp, ngoại trừ các khu vực
nghiên cứu có liên hệ trung gian hay nội tại. Hình vị học là một khoa
nghiên cứu về các từ được hình thành bằng các đơn vị cực tiểu như thế
nào (truyền thống gọi là Hình vị, morphemes), và như vậy, những
vấn đề nhắm đến như ‘những bộ thành tố đa dạng’ (= các hình vị) của một
từ là gì, chẳng hạn cụm từ antidisestablishmentarianism và, những
đặc tính nguyên lý xác định các cách mà trong đó những bộ phận được liên
kết với nhau để thành nên cái toàn thể là gì? Cú pháp được liên hệ cùng
những cách mà trong đó các từ có thể được nối kết với nhau để hình thành
các ngữ đoạn và các câu với lại các vấn đề nhắm đến, thí như, tại sao
trong tiếng Anh phải là Ok khi nói ‘Anh thấy Mary với ai?
[see...with]’
Và người ta không Ok khi nói *‘anh thấy Mary và ai?
[see...and]’ (dấu sao [*] ở đây chỉ cho tính chất sai ngữ pháp). Các đặc
tính của những nguyên lý xác định các cách mà trong đó ta vừa có thể và
vừa không thể gắn các từ lại với nhau để hình thành những ngữ đoạn và
các câu là gì?
Tuy nhiên, theo truyền thống, thì văn pháp không
cứ gì phải liên hệ đến các nguyên lý xác định cách cấu tạo của các từ,
ngữ đoạn và câu, mà nó còn được liên hệ cùng các nguyên lý chi phối cách
giải thuyết (interpretation) của chúng nữa—tức là, theo những nguyên
lý báo cho ta biết nên giải thích (= quy nghĩa cho) các từ, các
ngữ đoạn và câu như thế nào. Chẳng hạn, bất kỳ văn pháp nội hàm nào của
tiếng Anh sẽ định nghĩa rằng, các từ ghép như man-eater (thú ăn
thịt người) và man-made
(nhân tạo), theo truyền thống thì man được cho là có một giải
thuyết bị thể (pattern interpretation), có nghĩa, man
là một nạn nhân bất hạnh / bị nạn mà hành vi bị ăn đang diễn ra phải
được hoàn thành; ngược lại, trong các từ ghép như man-made, thì
từ man được cho là có một thuyên giải tác nhân, trong ý
nghĩa man là trách nhiệm tác thể đối với hành vi sở tạo. Do vậy,
theo truyền thống, những thể cấu trúc của nghĩa, được cho là bộ phận
thống trị của văn pháp. Thế nên, ta cần định nghĩa văn pháp là khoa
nghiên cứu những nguyên lý chi phối cách cấu tạo và thuyên thích từ
ngữ, các ngữ đoạn và các câu. Liên hệ đến sự phân chia truyền thống
văn pháp trong hình vị và cú pháp, ta có thể nói rằng, hình vị là bộ môn
nghiên cứu cách cấu tạo và thuyên giải các từ, còn cú pháp thì liên quan
với cách cấu tạo và thuyên giải các câu và những ngữ đoạn.
Trong một ý nghĩa quá rõ ràng như vậy, nên bất cứ
một người nói bản ngữ nào đều được cho là anh ta hay cô ấy vốn am tường
văn pháp của bản ngữ mình. Sau hết, những người nói bản ngữ còn biết rất
rõ là mình cấu tạo và lý giải các từ, câu và những ngữ đoạn như thế nào
trong bản ngữ của họ. Chẳng hạn, bất cứ người nói bản ngữ tiếng Anh nào
đều có thể nói với bạn rằng, đối tác hay biến thể phủ định của câu I
like syntax là I don’t like syntax; và chẳng hạn, họ không
thể nói *I no like syntax; do vậy, ta thừa nhận rằng, những người
nói bản ngữ biết cách loại trừ sự bất thực của các câu trong ngôn ngữ
mình, tức là các câu sai cú pháp hay văn phạm. Tuy nhiên, tri thức văn
pháp này là ẩn thể (tacit) (tức là ở dạng tiềm thức) hơn
là hiển thể (explicit) (tức là nó không ở dạng ý thức), đây mới
là điểm quan trọng cần nhấn mạnh. Như vậy, có nên hỏi một người nói bản
ngữ tiếng Anh nào đó vấn đề là ‘bạn lập các câu phủ định như thế nào’
chăng? Bởi vì, con người không có ý thức tự tri (tự thức) về tiến trình
vật lý và tâm lý phát sinh trong khi nói và trong khi nhận thức một ngôn
ngữ. Để giới thiệu một thuật ngữ kỹ thuật, ta đã có thể cho rằng, những
người nói bản ngữ vốn có thẩm năng
(competence, ngữ năng) văn pháp trong bản ngữ của mình: do điều này, ta
muốn nói là họ có tri thức tiềm thể về văn pháp ngôn ngữ của họ—tức là,
cách thành lập và thuyên thích các từ, câu và những ngữ đoạn trong ngôn
ngữ như thế nào.
Ta biết rằng, thế giới sai biệt là sai biệt trên
ngôn ngữ, trong một phạm vi rộng, ta biết não bộ được phân làm hai như
là hai trục hay vùng đối xứng và được nối kết bằng các khu vực và những
hệ thống thần kinh phức hợp. Có nên chăng, khi cho rằng sắc pháp được
hình thành qua một chủ quan nào đó của các niệm vô thủy của chúng sinh
mà cơ sở là ngôn ngữ, như sự tương ưng giữa hai bán cầu não qua hệ thống
giao thông của các vùng ngữ học trong đó, trên hết là hữu thức và các
phóng ảnh của chủng tử tâm, hệt như là các từ ngữ phóng ảnh trong các
câu và các ngữ đoạn mà ta sẽ đề cập tới đây. Có nên chăng, khi mà tiến
trình vật và tâm lý phát sinh, thì người nói bản ngữ không thể tự tri,
thế thì muốn tiếp cận tiến trình vận hành này, Phật giáo hầu như không
màng đến các công cụ vật lý, bởi vì, các công cụ hay các tiêu điểm, chỉ
sở y trên, tối đa là vận tốc ánh sáng, tức là sự hạn chế tối hậu của sắc
pháp—vùng của những luân hồi—trong khi đó, các nhà thấu thị, biết chắc
chắn là, khi đồng xu thả xuống, nó sẽ là mặt úp hay mặt ngửa trong tuệ
giác của họ một cách chính xác và như thật và, lịch sử đã thừa nhận điều
này—tâm thức có một vận tốc nhanh hơn ánh sáng. Sát-na, trong trường hợp
này, là lý tưởng cần đạt đến của Phật giáo. Một cái gì hầu như là tấm
gương buộc bị đứng lại vĩnh viễn và vũ trụ nhân quả xuất hiện đồng một
thời điểm ở trong đó, với chính họ. Cụ thể nhất, là quá trình công phu
của những hành giả Du-già và các phạm trù vốn có của Kinh Dịch.
Tiếc thay! Con người luôn ôm tấm gương lòng ấy và chạy ngược chạy xuôi.
Thế thì, đức Thế Tôn, có một loại ngôn ngữ mà khi thuyết ra, cả ba cảnh
giới đều hiểu thấu và nó có sức lan truyền cũng như khả tính hồi quy
vĩnh cửu, không còn là chuyện hoang đường nữa. Tức là, vận tốc ánh sáng
không còn là lý tưởng của—những ai theo Phật, một cái gì khác hơn mà duy
Phật giáo mới có mà thôi. Nghĩa là, tu, là một phạm trù trọng đại của
Phật giáo. Tâm thức, thật vậy, nó biết rút ra một cách khéo léo và tuyệt
đối nhanh những dữ liệu cần thiết, bao hàm cả ba thời, để phúc đáp cho
một quy trình nào đó, mà các công cụ cho dù hiện đại nhất cũng không thể
làm nỗi. Ở mặt tương đối, tính liên hệ là thế pháp, là các phương tiện,
ở mặt tuyệt đối, tính liên hệ là trí tuệ, nó không nằm trong phạm trù
ánh sáng, như là lý tưởng hiện giờ nhân loại đang theo đuổi. Niềm kỳ
vọng của thuyết Tối giản hiện hữu trong khối vận hành của thức như ta
đang nhắm đến và đòi cho bằng được những tương quan huyết thống của nhân
loại này. Niềm kỳ vọng của những gì ngoài ánh sáng là lý tưởng bất sinh
bất diệt mà ta vốn tồn tại trong đó như nó vốn chứa đựng tính sanh diệt
vô sinh mà ta muốn chứng nghiệm. Ở đây, một nền giáo dục cụ thể được rút
ra từ việc quan sát thẩm năng (hay ngữ năng) và dụng năng (hay dụng
ngôn) của loài người, bao hàm cả việc truyền thông và ứng xử.
Trở lại công việc của mình diễn ra đến thập kỷ
1960, Chomsky đã rút được sự phân biệt giữa ngữ năng (tri thức
tiềm thể của người nói bản ngữ lưu loát ngôn ngữ mình-thẩm năng)
với dụng năng
(performance, cái mà người ta thật sự nói bằng cái mà một ai đó còn nói
nữa trên một cơ hội nhất định). Thẩm năng là tri thức nói-nghe về ngôn
ngữ mình, còn dụng năng là cách sử dụng ngôn ngữ thật sự
trong những tình huống cụ thể (Chomsky 1965. p. 4). Rất thường, dụng
năng là một tư duy chưa hoàn chỉnh của ngữ năng. Thỉnh thoảng tất cả
chúng ta vẫn nói sai (nói nhịu-slips of tongue) hoặc thỉnh thoảng giải
thích sai cái mà một ai đó còn nói nữa với chúng ta. Tuy nhiên, điều này
không có nghĩa là ta không biết ngôn ngữ của mình và không sở hữu thẩm
năng (tức là, nói lưu loát ngôn ngữ của ta). Những sản sinh nhầm và các
thuyên giải nhầm đều là các sai lầm dụng năng, và chẳng hạn, tính
mệt mỏi, buồn chán, các loại thuốc an thần, những rối loạn ngoại tại
v.v… chúng có khả năng góp phần cho hình thái đa dạng của những yếu tố
thẩm năng. Theo truyền thống, các văn pháp đã trình bày với bạn cái gì
mà bạn cần biết để thông đạt dụng năng bản ngữ trong ngôn ngữ (tức là,
bạn có thể nói ngôn ngữ nào đó như bản ngữ); do vậy, ngữ pháp tương quan
đến dụng năng hơn là ngữ năng, đây chính là sự kiện quá
hiển nhiên. Khi xác lập vấn đề như thế, không có nghĩa là ta đoạn ngôn
sự quan tâm về dụng năng, xét như là một lãnh vực nghiên cứu, tuy
nhiên, sự kiện đó được đặt ra chỉ là muốn xác định rằng, dụng năng phải
được nghiên cứu chính xác hơn trong sự sai biệt—mặc dù có liên hệ—bộ môn
tâm lý ngôn ngữ học mà khoa này nghiên cứu tiến trình tâm lý hạ tầng sản
sinh và lãnh hội ngữ ngôn. Giả sử rằng, thẩm năng sẽ đóng một vai trò
quan trọng trong nghiên cứu về dụng năng, là giải pháp chí lý, vậy, bạn
phải nhận thức được cái gì mà những người nói bản ngữ biết về ngôn ngữ
của mình, trước khi bạn có thể nghiên cứu những hệ quả của các trạng
thái như mỏi mệt, buồn chán v.v... trên tri thức này.
Nếu, ta nói khoa ngữ pháp là khoa nghiên cứu ngữ
năng văn pháp, thế thì, chúng ta đang hàm ý một quan điểm tri nhận
(cognitive) về bản chất của ngữ pháp vậy. Sau hết, nếu thuật ngữ thẩm
năng văn pháp được sử dụng để sở thị cái mà những người nói bản ngữ
biết về ngữ pháp của bản ngữ mình, thế thì, ngữ pháp là bộ phận của sự
nghiên cứu tri nhận phổ quát nhiều hơn hết (tức là tri thức nhân
loại). Qua thuật ngữ học được Chomsky chọn lựa (1986a, pp. 19-56), ta
đang tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ như là một hệ thống tri nhận nội
thể hóa (internalized)
bên trong não bộ / lý tính nhân loại; tức là lộ trình tối hậu của ta là
phải định tính cho được bản chất của hệ thống ngôn ngữ nội thể hóa này
(hay I-language, như Chomsky định danh) mà nó là khả thể khiến
cho nhân loại phát biểu và nhận thức được bản ngữ của mình. Rõ ràng là,
một tiếp cận tri nhận như thế vốn có những hàm ngôn cho ngôn ngữ học
miêu tả mà, một ai đó phải quan tâm trong khi cố miêu tả ngữ pháp của
một ngôn ngữ cá biệt nào đó, như tiếng Anh chẳng hạn. Việc miêu tả tri
thức ngữ pháp được người nói bản ngữ tiếng Anh lưu loát sở hữu, là việc
mà ta đang nỗ lực thực hiện. Hiển nhiên là, thẩm năng này với chúng ta
là không thể sử dụng trực tiếp được; như trên đã giải thích, chúng ta
không thể yêu cầu những người nói bản ngữ nội quán về bản chất của những
tiến trình mà do đó họ sản sinh và nhận thức các câu trong bản ngữ của
họ. Bởi vì, họ không có ý thức tự tri những tiến trình như vậy, tức là
chứng tự chứng phần là giai đoạn hậu khởi của quá trình truy cập
dữ liệu đã cho, hay nói cách khác, nó là khả tính của suy diễn có dữ
liệu và hơn thế, nó có thể suy ra một cái gì đó, ngoài dữ liệu, tiềm
năng của các pháp hữu vi thường nằm ở đây. Từ đó, để nghiên cứu
ngữ năng một cách gián tiếp, ta cần phải truy xét. Thế nhưng,
bằng cách nào đây?
Có lẽ đặc tính rất giàu có chứng cứ bản hữu mà từ
đó ta tiếp cận được bản chất thẩm năng văn pháp nằm trong trực giác của
những người nói bản ngữ về tính đúng ngữ pháp và cách thuyên
giải các từ, câu và những ngữ đoạn trong bản ngữ của họ. Chẳng hạn,
trẻ em chưa đến tuổi đi học thường sản sinh các dạng thì quá khứ như
goed, comed, seed, buyed v.v... và bất cứ người nói bản ngữ tiếng
Anh trưởng thành nào (theo tiêu chuẩn hiện đại) sẽ hiểu bằng trực giác
rằng, các hình thái như thế, trong tiếng Anh, là không đúng ngữ pháp và
họ sẽ hiểu, biến thể (counterpart) văn phạm của các hình thái ấy là:
went, came, saw, bought.
Cũng vậy, bất cứ người nói tiếng Anh bản ngữ nào
sẽ nhận ra theo trực giác rằng, các câu như câu (1a)
dưới đây, trong tiếng Anh là đúng ngữ pháp, còn nếu câu nào giống câu
(1b) sẽ sai ngữ pháp:
(1) (a) If you don’t know the meaning of word,
look it up in a dictionary
(b) * If you don’t know the meaning
of word, look up it in a dictionary (dấu sao [*] đặt phía trước các câu,
theo quy ước, là câu sai ngữ pháp).
Do vậy, chúng ta đã có thể nói rằng, những
trực giác về tính đúng văn pháp cấu thành bộ phận thẩm năng ngữ pháp
của người nói bản ngữ. Tương tự, ta có thể cho rằng, người nói bản ngữ
có tính năng tạo nên những phán đoán đúng ngữ pháp về các từ, câu
và ngữ đoạn trong bản ngữ của mình—tức là, tính năng đánh giá các biểu
đạt cá biệt có phải là đúng hoặc sai văn phạm trong bản ngữ của họ hay
không. Một hàm ý đáng quan tâm về sự kiện này là, nếu các khoa văn phạm
thẩm năng mẫu mực, tức là một nền văn pháp của một ngôn ngữ không chỉ
nói với bạn cái mà trong ngôn ngữ bạn có thể nói, mà còn nói với bạn cái
mà bạn không thể nói (vô ngôn), bởi vì, ngữ năng người nói bản ngữ không
chỉ bao hàm khả tính khiến cho họ đánh giá đúng một vài loại câu (chẳng
hạn, câu
1a nêu trên) mà tính năng này còn
đánh giá đúng những câu khác (chẳng hạn, câu 1b) là sai ngữ pháp. Thật
thế, phần đông việc làm đương đại về cú pháp đã đi đôi cùng sự nỗ lực
với mục đích là nhằm giải thích tại sao mà một vài loại hình cấu trúc là
phi văn pháp (không đúng ngữ pháp).
Nguồn chứng cứ nội quan (introspective, tâm cảnh)
thứ hai về bản chất thẩm năng văn pháp liên hệ đến những trực giác những
người nói bản ngữ về cách thuyên giải (interpretation) các từ,
ngữ đoạn và các câu trong bản ngữ của họ. Chẳng hạn, bất kỳ người nói
bản ngữ tiếng Anh nào có thể cho bạn biết một câu như:
(2) Sam
loves you more than Jim
(Đây) là một câu mang tính lưỡng nghĩa và nó có
hai cách thuyên giải có thể được diễn thích như trong (3a-b) dưới đây:
(3) (a)
Sam loves you more than Jim loves you
(b) Sam loves you more than Sam loves Jim
Như vậy, có vẻ thẩm năng văn pháp của người nói
bản ngữ không chỉ được phản ảnh theo các trực giác về tính đúng ngữ
pháp, mà còn được phản ảnh theo các trực giác về cách thuyên
thích nữa.
Đã cho rằng, một văn pháp của một ngôn ngữ là một
mô thức thẩm năng của một người nói lưu loát ngôn ngữ này, và đã cho
rằng, thẩm năng được phản ảnh theo các trực giác về tính đúng văn pháp
và cách thuyên thích, một tiêu chuẩn quan trọng xứng lý cho nền văn pháp
của bất cứ ngôn ngữ bẩm sinh nào mà nó là (ngữ pháp) thuộc về hiệu lực
hay tính năng miêu tả (descriptive adequacy). Ta có thể tuyên bố
rằng, văn pháp của một ngôn ngữ bẩm sinh (given language, ngôn ngữ đã
cho / bản hữu) là văn pháp của hiệu năng miêu tả, nếu nó miêu tả chính
xác là có phải bất kỳ tuyến (string) (tức là chuỗi-sequence) bẩm sinh
nào của các từ trong ngôn ngữ là đúng ngữ pháp hoặc phi ngữ pháp hay
không và nó còn miêu tả chính xác (những) cách thuyên thích chuỗi quan
yếu này vốn có cái gì. Như vậy thì, chẳng hạn, ngữ pháp tiếng Anh phải
có tính năng miêu tả trong những thể quan yếu, nếu nó đã nói với chúng
ta rằng, những câu như câu (1a) ở trên là đúng ngữ pháp trong tiếng Anh,
nhưng các câu giống như câu (1b)
là phi ngữ pháp và, nếu nó cho ta biết là các câu giống như câu (2) mang
tính lưỡng nghĩa xét như là có hai cách thuyên giải đã diễn thích trong
câu (3a) và (3b); còn ngược lại, văn pháp của chúng ta sẽ là phi tính
năng miêu tả, nếu nó nói cho chúng ta một cách sai lầm rằng, cả hai câu
trong (1a-b) là đúng văn pháp trong tiếng Anh, và rằng câu (2) có thể
được diễn thích như trong câu (3a), nhưng không phải như trong (3b).
Trong khi đó, sự quan hệ của ngôn ngữ học miêu tả
là phải đặt ra các văn pháp của những ngôn ngữ cá biệt, sự tương quan
này của ngôn ngữ học lý thuyết là phải đặt ra một lý thuyết ngữ pháp.
Một lý thuyết ngữ pháp là một bộ tập hợp các giả thuyết về bản chất của
các văn pháp bẩm sinh
(tức là nhân loại) khả hữu hay phi khả hữu (có thể xảy ra hay không thể
xảy ra). Một lý thuyết văn pháp là một lý thuyết phúc đáp cho các câu
hỏi như: cái gì là những đặc tính cố hữu mà các tính văn phạm ngôn ngữ
bẩm sinh phải thực hiện và không thực hiện? Đúng là có tiêu chuẩn
thỏa đáng cho những nền văn pháp, có đến cả một số lượng chuẩn mực
mà bất cứ lý thuyết hợp lý nào về văn pháp cần phải làm hài lòng. Một
tiêu chuẩn cụ thể, chính là tiêu chuẩn phổ quát, có nghĩa là, một
lý thuyết văn pháp cần cung cấp cho ta các công cụ thiết yếu để miêu tả
văn pháp của bất kỳ tính năng ngôn ngữ bẩm sinh nào; sau hết, một
lý thuyết văn pháp cần có một chút quan tâm, nếu, nó cho phép chúng ta
miêu tả được văn pháp của tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Phạn,
tiếng Ý v.v... (tức là hệ thống ngôn pháp Ấn-Âu), ngoại trừ hệ thống ngữ
pháp của Swahili và tiếng Hoa. Như vậy, có nghĩa là, cái gì mà ta dự
định bằng cách cho rằng, tính phổ quát là tiêu chuẩn thỏa đáng
cho một lý thuyết văn pháp thì cái đó là cái mà nó phải cho phép ta đặt
ra một văn pháp có tính năng hoạt thuyết (descriptively adequate) cho
từng ngôn ngữ bẩm sinh: nói cách khác, lộ trình tối hậu của ta là phải
phát triển một lý thuyết văn pháp phổ quát. Trong văn học ngôn
ngữ học, việc viết tắt thuật ngữ Universal Grammar thành UG,
là một quy ước chuẩn, và đây là lý do nói đến việc thiết lập một lý
thuyết UG.
Tuy nhiên, lộ trình tối hậu của bất kỳ lý thuyết
nào, chính là giải thích, song, điều này chưa đủ cho một lý
thuyết Văn phạm Phổ quát chỉ để thống kê các tập hợp những đặc trưng
chung của các nền văn phạm ngôn ngữ bẩm sinh; ngược lại, để giải
thích những đặc trưng quan yếu, thì thuyết UG cần được kiểm tra.
Vậy, câu hỏi cốt lõi cho bất kỳ thuyết UG xứng lý nào là để trả lời:
“Tại sao các tính văn phạm ngôn ngữ bẩm sinh có những đặc trưng như
chúng vốn có?” Việc yêu cầu này là để một lý thuyết sẽ cần giải thích vì
sao mà các tính văn pháp có những đặc trưng như chúng vốn có, mà theo
quy ước, thuyết này được nhắm vào với tư cách là một tiêu chuẩn của
hiệu lực giải thích.
Bởi vì, thuyết UG được tương ưng cùng cách định
nghĩa các đặc trưng của những tính văn pháp ngôn ngữ bẩm sinh (tức là lý
tính nhân loại), một câu hỏi quan trọng là, ta muốn thuyết UG của ta trả
lời: “Những gì là các sở hành yếu định của các ngôn ngữ bẩm sinh, chẳng
hạn, phân biệt giữa chúng với các ngôn ngữ nhân tạo như những từ được sử
dụng trong toán học và hệ thống máy tính (thí dụ, các từ Basic, Prolog
v.v...) hoặc là phân biệt giữa hệ thống giao hoán thông tin loài thú
(như, vũ khúc quay nhanh được các loài ong thực hiện nhằm truyền thông
địa phương có nguồn thức ăn cho các loài ong khác?)
Do đó mà, bộ công cụ miêu tả mà thuyết UG cho phép ta tạo nên cách sử
dụng trong các tính văn pháp bẩm sinh đang thiết lập không cần phải toàn
năng, đến độ nó có thể được sử dụng để, chẳng những miêu tả được các
ngôn ngữ loài thú, mà còn miêu tả được ngôn ngữ máy tính hoặc các hệ
thống liên lạc của loài thú (bởi vì, bất kỳ lý thuyết toàn năng tột bực
nào đi nữa vẫn không thể có khả năng định vị những đặc trưng chuẩn của
các ngôn ngữ bẩm sinh phân biệt giữa chúng với các loại hình của hệ
thống thông tin chung). Nói cách khác, điều kiện thứ ba mà ta phải áp
đặt lên học thuyết ngôn ngữ của mình là nó cần được hạn định một
cách tối đa: nghĩa là, ta muốn lý thuyết này cung cấp cho ta các công cụ
kỹ thuật bị cưỡng buộc như thế trong năng lực diễn cảm của chúng để
chúng chỉ có thể được quen dùng miêu tả các ngôn ngữ bẩm sinh và không
thích hợp cho sự miêu tả về các hệ thống thông tin khác. Thế thì, bất cứ
lý thuyết hạn định nào như vậy sẽ cho phép ta định tính được nhiều điều
cốt yếu của ngôn ngữ bẩm sinh.
Cơ chế vật lý học não bộ là cơ chế hạ tầng của
thẩm năng ngôn ngữ học và là tác nhân gián tiếp (thông qua các hạt giống
còn rất mờ nhạt trong kho lưu trữ từ vựng của loài người, trước khi có
sự can thiệp của ý thức phát triển theo cơ chế này. Người ta không hiểu
vì sao mà ngay khi chào đón cuộc đời, nói chung, trẻ em chọn tiếng khóc,
nếu tiếng khóc có nguồn gốc từ cảm thọ rất lâu xa của nhân loại, vậy
thì, nó cũng có thể là một trong những thành viên thông minh của lịch sử
thế giới này, và nó có thể vượt qua chính mình bằng cách xây dựng một
công cụ phá vỡ nó—Chân lý về Khổ—ở
đây, ngôn ngữ, như kinh Lăng-già dạy “nhân
dẫn đến chân lý tối thượng”. Ngôn ngữ hình thành bằng tiếng khóc, thì nó
cũng có thể tự hủy mình bằng nụ cười. Thật không may, rất nhiều bản copy
từ pháp ngữ của bậc Đại Đạo Sư “chấp ngôn”, và đã bị hậu thế sử
dụng không được khéo lắm. Quá trình hủy bỏ một lý thuyết, không có nghĩa
là lập nên một lý thuyết nào khác mà thực chất của giai đoạn hiển ngôn
này, chính là người ta nắm bắt trọn ven được bản chất bất thực của nó
(Thế Gian Giải) hình thành khả năng cho trẻ em thụ đắc ngôn ngữ
trong một giai đoạn ngắn nào đó có thể thấy được: nói chung, vào khoảng
18 tháng tuổi, trẻ em bắt đầu lập thành những cấu trúc từ đôi (two-word)
sơ bộ, và vào khoảng 30 tháng tuổi các em đã thụ đắc một phạm vi rộng
các cấu trúc văn pháp sai biệt và lúc này, các em có khả năng sản sinh
những câu phức có tính văn pháp đáng kể. Theo đó, điều kiện thứ tư mà
bất cứ lý thuyết ngôn ngữ học hợp lý nào cần phải giáp mặt: khả năng
học; lý thuyết này phải cung cấp những văn pháp mà trong một chu kỳ
tương đối ngắn, trẻ em có thể học được.
Một yêu cầu có liên hệ là việc lý thuyết ngôn ngữ
học cần cung cấp những tính văn pháp hình thành cách sử dụng bộ công cụ
(apparatus) mà bộ khí cụ này đòi hỏi cung ứng hiệu năng hoạt thuyết của
hiện tượng ngôn ngữ học: nói cách khác, những tính văn pháp sẽ phải đơn
giản như khả năng thực hiện. Hầu hết mọi công việc vận hành trong cú
pháp vào thập kỷ 1980, đã kéo theo định đề về các cấu trúc và những
nguyên lý phức hợp hơn bao giờ hết: xét như là một phản ứng cho tính
phức tạp thặng dư của đặc tính công việc này. Vào thập kỷ 1990, Chomsky
đã phát minh học thuyết Tối giản
(minimalism) (tức là sự yêu cầu tối giản hóa bộ công cụ miêu tả và lý
thuyết đã sử dụng để miêu tả ngôn ngữ) yếu kiện (cornerston) của lý
thuyết ngôn ngữ học. Trong tác phẩm Chương trình tối giản dành cho lý
thuyết ngôn ngữ học, lý thuyết này được Ông triển khai và nó là động
cơ kích hoạt cho một khu vực rộng bằng sự kỳ vọng là tối giản hóa gánh
nặng thụ đắc đặt cho trẻ em (và cho những ai muốn biến ngôn ngữ thứ hai
hay thứ ba, thứ tư ... nào đó ngoài bản ngữ của mình là của mình) và nhờ
thế mà giản lược tối đa khả tính học những tính văn phạm ngôn ngữ bẩm
sinh.
Lược ngôn của chúng ta về khả tính học dẫn
ta tự nhiên quan sát được lộ trình phát triển một lý thuyết thụ đắc
văn phạm. Một lý thuyết thụ đắc được tương ưng với vấn đề là trẻ em
đạt tới các văn phạm bản ngữ của chúng như thế nào, và từ đó mở ra một
chân trời thụ đắc những ngôn ngữ ngoài bản ngữ của mình cho những ai học
ngoại ngữ. Một trong những vấn đề cơ bản nhất mà một lý thuyết thụ đắc
đang kiểm nghiệm là nhằm trả lời: “cách gì và khi nào mà trẻ em phát
triển ngữ pháp ngôn ngữ nội tại mà chúng đang thụ dụng và cái gì là
những trạng thái hậu khởi (subsequent stages, các giai đoạn hậu khởi)
băng qua trong quá trình phát triển văn pháp của chúng?”
Nói chung, trẻ em, chẳng hạn nước Mỹ sản sinh từ
ngữ đầu tiên của chúng có thể nhận ra (thí dụ, các từ Mama hay Dada) vào
giai đoạn 12 tháng tuổi. Sáu tháng tiếp theo hoặc hơn nữa, có một chứng
cứ hiện ra tương đối nhỏ về sự phát triển văn pháp, cho dù loại hình từ
vựng phát sinh của chúng đang tăng, cứ ba từ cho một tháng, tới khi
chúng vươn đến một cặp mười từ vào khoảng 18 tháng tuổi. Suốt giai
đoạn từ đơn này, những phát ngôn của trẻ em bao gồm các từ đơn, thể
hiện một cách đơn biệt; chẳng hạn, một đứa trẻ có thể nói Apple khi cầm
trái táo trong tay, hay là UP khi muốn trao cho mẹ nó một con dao. Suốt
giai đoạn từ đơn này, người ta chưa có cứ liệu nào về việc thụ dụng ngữ
pháp, ở giai đoạn này, trẻ em không tạo sinh cách sử dụng những biến
tố (inflection) (chẳng hạn, chúng không thể thêm s cho những
danh từ thành số nhiều hay thêm vĩ tố d cho các vị từ thành thì
quá khứ) và chúng không thể kết sinh (don’t productively combine) các từ
lại với nhau để hình thành các phát ngôn có từ-đôi hay từ-ba. Vào khoảng
18 tháng tuổi, ta phát hiện các dấu hiệu ban đầu của sự thụ đắc văn
pháp: đứa trẻ khởi sự tạo sinh cách sử dụng những biến tố (chẳng hạn,
cách sử dụng danh từ số nhiều như doggies dọc theo hình thái số
ít của doggy và các phân từ như going dọc theo hình thái
vị từ phi biến tố là
go) và cũng như vậy, nó sơ bộ sản sinh các phát ngôn có từ-đôi hay
từ-ba, chẳng hạn, want teddy, eating cookie, Dolly go bed,
v.v...Từ trên điểm này, ta có một khai triển nhanh chóng vào trong sự
phát triển văn phạm của chúng, thậm chí vào lúc 30 tháng tuổi, trên mặt
điển dạng, trẻ em đã thụ dụng hầu hết những biến tố và các cấu trúc văn
pháp quan yếu đã sử dụng trong tiếng Anh, và có khả năng sản sinh những
câu giống như “người lớn”, chẳng hạn, Where’s Mummy gone? Can we go
to the zoo, Daddy? v.v...(dẩu cho hình vị hay các sai cú pháp này
thỉnh thoảng vốn dĩ xảy ra), (chẳng hạn, We goed there with Daddy,
What we can do?) v.v...
Hiện tượng cốt lõi mà bất cứ lý thuyết thụ đắc
ngôn ngữ nào cần kiểm nghiệm để giải thích, chính là điều này:”bằng cách
nào mà sau một chu kỳ nhiều tháng mà sự kiện ấy được rút ra trong đó mà
không có một dấu hiệu văn pháp hiển nhiên nào phát triển và vào khoảng
18 tháng tuổi có hiện tượng trào vọt bất ngờ thành ngữ ngôn nhiều
từ, khởi sinh ra sao và khi hiện tượng phát sinh trong phát triển ngữ
pháp xảy ra qua 12 tháng kế tiếp là như thế nào? Tính đồng nhất
và cực nhanh này (từng là sự trào vọt đã khải phát) trong mô hình
phát triển ngôn ngữ học của trẻ em, chúng là những sự kiện trung tâm mà
một lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ phải kiểm nghiệm để giải thích. Song,
bằng cách nào?
Chomsky chủ trương rằng, cách lý giải hợp lý nhất
cho tính đồng nhất và
cực tốc của sự thụ đắc ngôn ngữ ban đầu là phải ấn định tiến trình
thụ đắc được quyết định bằng tính năng ngôn ngữ nội tại tiên thiên
sinh vật học (hay là chương trình thụ đắc ngôn ngữ, ngữ đoạn
này vay mượn cách ẩn dụ phần mềm máy tính) bên trong não bộ cấp cho trẻ
em một thuật toán (chuyển hóa hệ di truyền) (tức là, sự tập hợp các thủ
tục) cho sự phát triển một ngữ pháp, trên cơ sở thể nghiệm ngôn
ngữ học [bên trong] của chúng (tức là, trên cơ sở ngõ vào ngữ ngôn
[input speech-ngữ ngôn đầu vào] mà chúng tiếp nhận). Cái cách mà Chomsky
hình dung tiến trình thụ đắc ở đó, có thể được trình bày dưới dạng biểu
đồ như sau:
(4) Thể nghiệm về L→ Tính năng ngôn ngữ→ Ngữ
pháp L (L là ngôn ngữ đang được thụ đắc và nội thể hóa).
Trẻ em trong khi thụ đắc một ngôn ngữ sẽ quan sát
mọi người quanh chúng cách sử dụng ngôn ngữ và tập hợp các biểu đạt
trong ngôn ngữ mà chúng nghe với lại các ngôn cảnh mà chúng được sử dụng
trong đó—trong tiến trình thụ đắc ngôn ngữ cấu thành sự thể nghiệm
ngôn ngữ học của trẻ em về ngôn ngữ. Sự thể nghiệm này dùng như là ngõ
vào cho tính năng ngôn ngữ của chúng, cung cấp cho chúng bằng một thủ
tục dành cho (dưới dạng tiềm thức) sự phân tích kinh nghiệm trong một
đường lối như thế với tư cách là đặt ra một ngữ pháp ngôn ngữ
đang được thụ đắc, tức là, từ hệ sinh vật người ta tiến vào lãnh vực
thức, xét như là lý tính của nhân loại. Do vậy, ngõ vào cho tính năng
ngôn ngữ là sự thể nghiệm của trẻ em, còn ngõ ra của tính năng ngôn ngữ
là ngữ pháp ngôn ngữ đang được thụ đắc.
Giả thiết rằng, tiến trình thụ đắc ngôn ngữ được
quyết định bằng tính năng ngôn ngữ và nó sở dụ là sự thi thiết có
tính nội tại trên quan điểm đại chúng. Thì, theo Chomsky, sự thụ đắc
ngôn ngữ là một hoạt động đơn nhất của chúng sinh, tự trong bản chất, nó
không giống với bất cứ loại hình học tập nào khác mà chúng sinh thể
nghiệm, thậm chí, học một ngôn ngữ là một sự học gắn liền toàn diện với
những tiến trình tâm hay lý tính (tư duy), nó tách biệt hẳn những gì gắn
liền trong, chẳng hạn, học đánh cờ, đạp xe đạp, tập ăn chơi v.v... Có
nghĩa là sự hoạt động của tâm thức trên lãnh vực ngôn ngữ (sẽ là những
lý thuyết cho các thời kỳ sau) nó vi tế hơn là các thô sắc mà ta dễ dàng
cảm nhiễm. Tuy nhiên, đầu vào cho một hình thái thô của các lý thuyết sẽ
là đầu ra cho những lý thuyết thô hành. Ở đây, ta muốn nói đến tiến
trình và thủ tục nhập dữ liệu mà một đứa trẻ, thậm chí ngay cả những
“người lớn” cần phải “lập trình” như thế nào. Bởi vì đầu vào là thô sắc,
nên đầu ra, ta có một bộ sưu tập từ vựng không thể hiểu nỗi: sân chơi
tri thức, văn hóa ẩm thực v.v... Chúng hiện hình “nguyên xi” kiểu dáng
văn hóa “luân hồi”.
Một mẫu chứng cứ mà Chomsky dẫn ra ủng hộ về cách
ấn định cho tính năng ngôn ngữ nôi tại của loài người:
“Đối với bất kỳ chứng cứ nào mà chúng ta cần có,
theo tôi là để ủng hộ cho quan điểm, rằng khả tính đạt được và sử dụng
được ngôn ngữ là một khả tính loại biệt trong những loại biệt của
nhân loại, rằng, khả thể ấy vốn quá uyên mặc và các nguyên lý hạn
định quyết định bản chất ngôn ngữ nhân loại được cắm rễ sâu vào trong
đặc tính tư duy của họ.” (Chomsky 1972, p. 102).
Hơn thế, Ông giải thích, sự thụ đắc ngôn ngữ là
một khả tính mà tất cả nhân loại sở hữu, hoàn toàn không phụ thuộc vào
trí thông minh của họ:
“Ngay cả nơi trình độ trí thông minh thấp do bệnh
hoạn, ta vẫn tìm thấy sự chi phối của ngôn ngữ, trạng thái này loài khỉ
tuyệt đối không thể đạt đến, có lẽ, trên một bình diện khác hơn, cho dù
là người đần độn, họ luôn vượt trội hơn trong hoạt động giải quyết vấn
đề và hành vi thích nghi khác” (Chomsky 1972. p. 10).
Thêm nữa, tính
đồng nhất xuất hiện trong mô hình thụ đắc đề nghị rằng, trẻ em có
sự hướng đạo tổng loại (genetic guidance) trong việc phán đoán về cách
cấu trúc một ngữ pháp bản ngữ của chúng.
“Chúng ta biết rằng, những tính văn pháp nằm
trong sự kiện đã cấu trúc chỉ thay đổi không đáng kể giữa những người
nói cùng một ngôn ngữ, bất chấp các biến hình rộng không chỉ trong trí
thông minh, mà còn ở trong các duyên tố mà ngôn ngữ sở thụ.” (Chomsky
1972. p. 79).
Vả lại, còn có tính đồng nhất tương tợ trong các
loại hình của những tính văn pháp được phát triển bởi những người nói
sai biệt về một ngôn ngữ đã cho hay có sẵn:
“Những người nói sai biệt trong cùng một ngôn
ngữ, bằng một cái gì đó thể nghiệm và thao tác sai biệt, dẩu sao thì họ
thụ đắc những tính văn pháp vẫn tương tợ đáng kể.” (Chomsky. p. 13).
Hơn thế, tốc độ cực nhanh của sự thụ đắc (mà việc
trào vọt ngữ pháp đã từng khải phát) cũng gợi lên cách chỉ đạo tổng
loại của cấu trúc văn pháp:
“Mặt khác, để giải thích trẻ em hình thành cơ cấu
các tính ngữ pháp... dưới những điều kiện thời gian hay nhập dữ liệu có
sẵn là một điều bất khả.” (Chomsky 1972. p. 113).
(Chuỗi câu ‘dưới...dữ liệu có sẵn’, có nghĩa đơn
giản là ‘trên thời gian ngắn và trên cơ sở của thể nghiệm ngôn ngữ học
được giới hạn như thế’.) Cái gì tạo nên tính đồng nhất và cực tốc của sự
thụ đắc, thì cái đó, thậm chí đáng quan tâm nhiều hơn hết, mà sự kiện
là, thể nghiệm ngôn ngữ học của trẻ em thường bị thoái hóa (tức
là, chưa hoàn thành), bởi vì nó sở y trên ngữ dụng (dụng năng ngôn ngữ)
của những người nói trưởng thành và điều này có thể làm cho ngữ năng của
chúng nghèo nàn tư duy.
Trên phát biểu của Chomsky, làm ta chợt biết
rằng, một nền giáo dục khởi đi từ niệm Phật, từ ngữ ngôn của bậc Đại
Trí, có lẽ nên chăng, là một nền giáo dục không bao giờ bị nhuộm đen
bằng bất cứ loại lý thuyết nào mang bản chất trầm luân (sư Thích Thái
Hòa có đề nghị đến một nền giáo dục Chánh Đạo có tám chuỗi trong bài
viết ở báo PL, đây là một đề nghị tuyệt đối thuyết phục) và, nền tảng
của cộng đồng sẽ chẳng thể, như ta thấy đã đau thương như thế này. Các
nhà tâm-vật lý ngôn ngữ học đã đề nghị, khi bà mẹ đang mang thai, nên
cho thai nhi nghe âm nhạc của Mozart hay Beethoven ...Song, các loại
nhạc được cho là đỉnh cao của thế pháp đó, làm sao sánh bằng ‘câu niệm
Phật’ của chính người mẹ như bản kinh Phổ Môn đã dạy. Câu niệm
Phật cầu tự tài tuấn, là câu niệm Phật có tác dụng hơn cả tiếng nói của
“chư Thiên và hơn cả tiếng rì rào vĩnh cửu của những đợt sóng trùng
dương” nữa. Cũng do và thật vậy, đạo Phật chẳng những “hoằng pháp” cho
những sinh linh đang hiện hữu, mà cả cho những sinh linh chưa và sắp
hiện hữu. Niệm Phật là nguồn sữa duy nhất của các thiên tài về sau. Nó
dành cho những sinh linh hoàn chỉnh nhất đối với những gì được thế gian
quy định và, vượt qua khỏi những gì mà thế gian chưa biết để quy cho.
Dẫu sao thì, chúng sinh thích chọn cõi Dục để sinh, âu cũng là “thường
lý!”. Chomsky nói tiếp: “Hành vi thiện (sự ứng xử tốt) của người nói
thông thường, còn bao gồm các khởi đầu xấu, những ngữ đoạn không mạch
lạc và những phái sinh khác từ ngữ năng lý tưởng hóa.” (Chomsky 1972. p.
158).
Nếu phần đông những người nói là ngõ vào được trẻ
em tiếp nhận là không đúng ngữ pháp (do sai lầm ngữ năng), thế thì chúng
có thể sử dụng kinh nghiệm thoái hóa này để phát triển một ngữ pháp thẩm
năng như thế nào, và để hình thành những câu đúng văn phạm, thì thẩm
năng ấy chỉ định ra sao? Theo phép loại suy, câu trả lời của Chomsky
được nêu ra như sau:
“Descartes hỏi, chính lúc ta thấy một hình thể
bất thường phô ra trước mặt ta, bằng cách nào ta biết nó là hình tam
giác? Ông cho là có một chênh lệch giữa dữ liệu đã trình hiện với chúng
ta, tương ưng toàn diện với ý niệm mà chúng ta cấu trúc. Và Ông tuyên
bố, tôi nghĩ rất đáng tin rằng, tôi thấy đối tượng là một hình tam giác
vì có một cái gì đó thuộc về bản chất của những tư tưởng của chúng ta mà
chúng hình thành dễ dàng một hình tam giác là do tâm dựng nên.” (Chomsky
1968. p. 687).
“Do tâm dựng nên, constructible by mind”, câu nói
của Decartes gần giống như “duy tâm sở tạo” của DUY THỨC. Xét về
mặt phương pháp luận, Decartes đã đóng góp cho văn minh nhân loại một
hàm ngôn triết học đáng kể. Tuy nhiên, triết học nhị nguyên của Ông vẫn
phải xem là một loại triết học quy ngã, một hình thái nhất nguyên trong
thế giới phân đôi, khi mà thức Mạt-na, chợp bắt những phóng ảnh của các
chủng tử tâm và, qua “dụng năng” của nó, nó cho rằng, cái kho dữ liệu
kia đích thực là một thực thể, một hữu thể thường hằng, và cuối cùng,
“tâm” là Thượng đế, cũng đồng một cách như Thắng luận và Số Luận mà
thôi. DUY TÂM mà DUY THỨC nói, cũng tức là DUY LIÊN HỆ, (nhờ tính liên
hệ này mà ta có thể giải thoát và có thể nghiệm chứng Niết-bàn), bởi vì
công năng của chủng tử chỉ có thể phát sinh trên các nguyên nhân mà thôi
và, do vậy, dòng nhân quả là không có sự bắt đầu. Thật là sai lầm khi
gán cho kho dữ liệu của mình một thực thể thường hằng nào đó, như
Descartes. Song le, một hàm ngôn hợp lý như thế mà, trong đa phần có
cùng một cách, trên bình diện di truyền học, như ta được dự hướng là để
phân tích các hình thể (tuy các hình thể này là bất nguyên tắc), sau khi
định rõ các đặc trưng hình học, vậy thì, trên mặt Di truyền học ta được
dự hướng hơn nữa để phân tích các câu (tuy là phi văn pháp), sau khi đã
định rõ những thuộc tính đúng ngữ pháp. Hiếm khi, ta có một Descartes
như thế.
Tóm lại, chúng ta không thể học để có một ngôn
ngữ bẩm sinh và cũng không thể học để có thêm bất cứ thế lực nào; khả
tính để đạt đến một ngôn ngữ bẩm sinh là bộ phận tiên thiên di truyền
của chúng ta, giống như khả năng học đi bộ vậy. Trên mặt sinh vật học,
đi bộ là của chính chúng ta, là thành viên vận hành của sát-na, chớ
không là những du nhập ngoại lai.
Nếu, như Chomsky cho rằng, trên mặt sinh vật học,
chúng sinh được ban cho một khả tính ngôn ngữ nôi tại, vậy thì, để hỏi
những gì là định tính của tính năng ngôn ngữ này, thì đây là một câu hỏi
hiển nhiên. Một điểm quan trọng để giải thích theo quan điểm này là trẻ
em có thể thụ đắc bất cứ ngôn ngữ tự nhiên nào như là bản ngữ của chúng
trong mội trường chủ yếu. Chẳng hạn, trẻ em V.N sinh ra ở Mỹ. Theo đó,
tính năng ngôn ngữ cần phải được đa hợp với một bộ phận của các
nguyên lý UG, có nghĩa là tính năng ngôn ngữ phải là như vậy để cho
phép trẻ em phát triển một ngữ pháp của bất kỳ ngôn ngữ tự nhiên
nào trên cơ sở ngữ nghiệm học phù hợp của ngôn ngữ này (tức là, đầu vào
nói đủ). Kinh nghiệm về một ngôn ngữ L cá biệt (điển hình của những từ,
ngữ đoạn và câu trong L mà ta nghe người nói bản ngữ L sản sinh) dùng
như là đầu vào cho các nguyên lý UG, mà chúng là bộ phận bản hữu của
tính năng ngôn ngữ của bất cứ ai, và lúc này, UG cung cấp cho ta bằng
một thuật toán để phát triển một văn pháp của L.
Một tập hợp của các nguyên lý UG, có nghĩa là.
một tập hợp các duyên tố để tạo điều kiện cho những ai phát triển tính
năng ngôn ngữ học của họ, theo các tuyến thích hợp trong ngôn ngữ. Trong
trường hợp này, nguyên lý UG chi phối luôn cả ba lãnh vực: nói, viết và
dịch. Như ta biết, ba tiểu bộ phận của ngôn ngữ học này chỉ liên quan mà
không tương ưng, tức là, một người nói lưu loát một ngôn ngữ nào đó
ngoài bản ngữ của mình, chưa hẳn, anh ta hay cô ấy, có thể là một dịch
giả, một bút giả và ngược lại. Còn một trường hợp nữa, UG là một tập hợp
của các điều kiện quan yếu phù hợp với, một trong ba lãnh vực vừa nêu.
Tức là, viết tốt, nói tốt, không phải là một dịch giả tốt, như trường
hợp đại sư Huyền Tráng, kiến thức Phạn văn của Ngài đâu thể vượt qua La
thập, tuy nhiên, khi chuyển dịch Phạn văn, so với một ít dịch bản trước
đó, cơ hồ Ngài vượt qua La Thập. Song, ngược lại, khi viết chắc gì Ngài
vượt qua một người Ấn-độ trưởng thành trong bản ngữ của mình, nếu người
đó tinh thông cả Hoa văn,
một chuyển dịch từ Hoa văn sang Phạn văn. Thêm nữa, khi xưa, tiền nhân
chúng ta chưa có một hệ thống từ điển đồ sộ như chúng ta bây giờ. Do vậy
đầu vào, là môi trường của một cộng đồng nói bản ngữ cho một học trò là
một điều thiết yếu. Hơn thế, khi Huyền Tráng du học, thì Ngài vốn đã
thừa hưởng một di sản rất lớn từ thế hệ cựu dịch, tức là đầu vào và khả
tính thẩm nghiệm L của Ngài vốn đã được thẩm nghiệm rồi. Vấn đề còn lại
là “đầu vào nói đủ-sufficient speech input” và điều kiện sau rốt này
cũng được hoàn thành. Ở đây, cả ba: Thể nghiệm về L→ Tính năng ngôn
ngữ→ Ngữ pháp L, cho một người học một hay nhiều ngôn ngữ, như Huyền
Tráng đã hội đủ. Cụ thể, trong bài tụng đầu tiên của DUY THỨC, danh từ
upacāra, được dịch là giả thuyết. Thế thì, nếu không có
một hội nghiệm L, thì ta không thể có một danh từ hàm nghĩa rộng như
thế. Một danh từ hàm nghĩa rộng, đến độ, chỉ một từ giả thuyết
này thôi đã là một hệ thống triết học, nếu như ta đưa thành luận thuyết,
và nếu không có một hội nghiệm UG này, thì, tính năng và
ngữ pháp L không thể phát huy tác dụng được. Để sưu tập hết toàn
bộ dữ liệu mà Huyền Tráng đã cho, thì lộ trình ngữ pháp UG là một lộ
trình duy nhất đối với chúng ta. Trong ngôn ngữ học, thẩm quyền sưu tập
dữ liệu, không thuộc phạm vi của nó, thế nhưng không có nó, thì việc xử
lý dữ liệu và nghĩa trong triết học cũng trở nên mù mịt.
Thật vậy, nếu sự thụ đắc thẩm năng (đúng) văn
pháp được tính năng ngôn ngữ tiên thiên di truyền kết hợp cùng các
nguyên lý UG thành một khối, vậy thì, tiếp theo sau là các khía cạnh
thẩm năng của ta hay trẻ em được xét là vô thẩm nghiệm và do vậy, các
thể này, đối với ngôn ngữ, phải là đồ họa ảnh bóng tiên thiên
(blueprint) mà, trên mặt sinh vật học, đồ họa này ta được ban cho lúc
mới chào đời. Những bình diện ngôn ngữ như thế sẽ không cần phải học
tập, bởi vì, chúng đã thành là bộ phận kế thừa tổng loại của chúng ta
hay trẻ em. Nếu ta lập nên một giả thuyết (phi bản chất, không có thẩm
năng ngôn ngữ) rằng, tính năng ngôn ngữ không biến dạng theo nghĩa đặc
biệt từ một người nói thông thường đến một ai khác, tức là, những thể
này được xác định vốn đã bẩm sinh, thì chúng vẫn là phổ quát. Do
vậy, trong khi quan sát bản chất của tính năng ngôn ngữ, trong thực tế
chúng ta đang quan sát các nguyên lý phổ quát, chúng quyết định
tuyệt đa số cấu trúc của ngôn ngữ—những nguyên lý chi phối các đặc tính
của những thao tác văn pháp, các thao tác này được hay không được thừa
nhận trong các ngôn ngữ bẩm sinh, thì những nguyên lý của các bản chất
trừu xuất như thế có thể không đáng tin là từng được học rồi trên cơ sở
hội nghiệm.
Tuy nhiên, ta có thể khám phá những gì mà các
nguyên lý phổ quát trừu xuất này cưỡng chế phạm vi của các thao tác đã
thừa nhận trong các tính văn phạm của ngôn ngữ tự nhiên như thế nào? Câu
trả lời là, vì các nguyên lý quan yếu được đặt ra phải là phổ quát, do
đó mà chúng sẽ cưỡng chế cách ứng dụng của từng thao tác trong
từng ngôn ngữ. Do vậy, cách quan sát được chi tiết hóa của ngay
một thao tác văn phạm trong một
ngôn ngữ sẽ lộ ra chứng cứ về cách thao tác của các nguyên lý UG. Bằng
cách minh họa, ta hãy quan sát những câu hỏi yes-no được hình
thành trong tiếng Anh như thế nào (tức là, những câu hỏi mà với yes
và no được tiếp cận như là các câu trả lời một-từ). Nếu ta chia
một câu tuyên bố đơn (= mệnh đề trần thuật) giống như (câu 5a) dưới đây
theo biến thể nghi vấn của nó (câu 5b) (tức là câu hỏi):
(5) (a) Memories will fade away (Những trí
nhớ sẽ tàn phai)
(b)Will
memories fade away? (Những trí nhớ sẽ tàn phai chăng?)
Ta thấy câu hỏi
yes-no hiện hữu trong câu (5b) được hình thành bằng từ will
nhấn mạnh giới hạn trước memories (cách thao tác đúng ngữ pháp cá
biệt này thường sở chỉ cho cách đảo câu hỏi, từ đảo này
dùng chỉ cho sự chuyển đổi trật tự từ). Do vậy, ta cần hình dung rằng,
từ đảo này kéo theo một vài thao tác như sau:
(6) Hãy chuyển từ thứ nhì trong câu đặt trước từ
thứ nhất
Tuy nhiên, để thể hiện theo lời đề nghị ở (6)
thành hiệu năng miêu tả hay hoạt thuyết là quá dễ. Chẳng hạn, biến thể
câu hỏi của (7a) dưới đây thành (7b) sẽ là dự báo sai lầm:
(7) (a) Memories of happiness will fade way
(b) of memories
happiness will fade away?
Tại sao (6) lại sai? Câu trả lời chủ yếu nhất mà
ta có thể nêu lên là, các tính ngữ pháp của những ngôn ngữ tự nhiên
không vận hành giống như lời đề nghị ấy. Nhất là, ta cần thấy là đề nghị
(6) theo một thao tác sai lầm, đấy là một phụ thuộc cấu trúc
(structure-dependent), trong ý nghĩa là nó thao tác một cách phụ
thuộc của (tức là, không hình thành sở chỉ cho) cấu trúc câu đúng ngữ
pháp. Đến độ, ta không cần biết cái gì mà cấu trúc đúng ngữ pháp của câu
là (tức là những từ thuộc về các phạm trù ngữ pháp, hay các từ bổ nghĩa
[trang sức] mà các từ khác v.v...) để biết các từ đảo như thế nào.
Trên thực tế, không có nền ngôn ngữ học nào từng
yêu cầu là phải tìm ra bất cứ cách thao tác văn pháp giống như (6) thao
tác trong một hình thái phụ thuộc hoàn toàn ở bất cứ ngôn ngữ tự nhiên
nào. Do đó, giả thuyết là, ta muốn loại đi các thao tác phụ thuộc-cấu
trúc như đề nghị (6) từ lý thuyết văn pháp của ta, điều này có vẻ là hợp
lý. Một đường hướng sở hành như vầy sẽ phải đa hợp trong lý thuyết UG
của ta, một nguyên lý, chẳng hạn (8) dưới đây:
(8) Nguyên lý độc lập-cấu trúc
Mọi thao tác đúng văn pháp đều độc lập-cấu trúc.
Cái gì mà thuộc về nghĩa này là cái mà các thao
tác đúng văn pháp chỉ ứng dụng cho một vài loại hình của cấu trúc ngữ
pháp và không thể ứng dụng cho các loại hình khác. Xin quan sát một cách
tóm lược ngôn cảnh vừa nêu bằng cấu trúc đúng văn pháp.
Truyền thống cho rằng, những câu được cấu trúc
không thuộc về các từ, các ngữ đoạn, tức là mỗi một câu phải thuộc về
một phạm trù ngữ pháp loại biệt và mỗi một câu đáp ứng cho một
chức năng văn pháp loại biệt trong câu chứa nó. (Chúng ta sẽ quan
sát trở lại bằng chi tiết các phạm trù trong chương tiếp theo sau, như
vậy, ta sẽ đỡ mất thời gian, trừ phi bạn chưa quen với các thuật ngữ
được dùng ở đây).
Để thấy những gì mà ta vừa nêu, xin quan sát cấu
trúc văn pháp câu (7) mang tính bi quan của chúng ta: Memories of
happiness will fade away. Trong phân tích văn pháp truyền thống, mỗi
một từ trong câu sẽ đánh dấu cho một phạm trù loại biệt, chẳng hạn,
Memories và happiness
thuộc về phạm trù danh từ, fade là một vị từ, còn
will là một phụ ngữ hay trợ từ (cái được gọi như thế là vì
nó cung cấp tính chất cộng thêm vào (bổ sung), do vậy được cho là phụ
ngữ—thông tin về hành vi hay tiến trình được vị từ miêu tả, có nghĩa là
trong trường hợp này, đang dần phai sẽ xảy ra (phai hẳn) ở tương
lai), of là một giới ngữ và away, theo truyền thống
được định loại là tính ngữ (mặc dù nó được cho là có tư cách của
một tiểu từ giới ngữ).
Một vài từ trong câu này câu sinh với nhau để
hình thành các ngữ đoạn và mỗi một ngữ đoạn này tuần tự thuộc về một
phạm trù loại biệt: chẳng hạn, chuỗi
Memories of happiness là một ngữ đoạn danh tính, và chuỗi
will fade away là một ngữ đoạn vị từ. Hai ngữ đoạn này
được tương cấu bằng phụ ngữ will, nhờ thế mà câu Memories of
happiness will fade away được hình thành trọn vẹn. Mỗi một thành
tố đa dạng (constituent) (tức là các bộ phận thành tố) cũng đáp ứng
một chức năng văn phạm loại biệt. Dụ như, ngữ đoạn danh tính (noun
phrase) Memories of happiness làm chức năng đúng ngữ pháp của
hiện hữu chủ ngữ (suject) của trợ ngữ will, trong khi đó,
fade away làm chức năng hiện thực bổ ngữ (complement) của
will.
Sau khi đã khảo sát theo một vài thi thiết truyền
thống về cấu trúc văn pháp, giờ thì chúng ta hãy trở lại diễn ngôn vừa
rồi và thấy rằng mình phải phát triển một tiếp cận độc lập-cấu trúc cho
các hiện tượng đảo từ thành câu hỏi (interrogative inversion, đảo từ
thành nghi vấn cú). Khi nắm lấy những đề nghị mà truyền thống văn pháp
quy định. Ta giả thiết rằng, sự đảo từ này đang kéo theo một thao tác
như sau:
(9) Hãy chuyển một phụ ngữ và đặt trước một
biểu đạt danh tính tiền diện có các chức năng như là chủ ngữ của nó (phụ
ngữ này).
(Một biểu đạt danh tính [the noun expression]
có thể được lý giải là ‘một biểu đạt bao gồm một danh từ câu hữu
cùng bất cứ những biểu đạt nào trang sức cho danh từ ấy’.) Một đặc trưng
hóa như thế là một độc lập cấu trúc hiển nhiên, có nghĩa rằng, đây là
yếu tố tiền giả định cho tri thức về cấu trúc đúng ngữ pháp của một câu
đã cho—tri thức về những gì mà các phạm trù ngữ pháp những biểu đạt khác
nhau trong câu thuộc về (chẳng hạn, biểu đạt danh tính và phụ ngữ) và
những gì mà chức năng văn pháp, chúng dùng làm (chẳng hạn, chủ ngữ).
Kết quả là, để nhận thức được là có phải cách đảo từ có thể ứng dụng
trong một câu đã cho hay không, thế thì, ta cần biết có phải câu đó chứa
đựng một chủ ngữ biểu đạt danh tính đã tùy hành bởi một vị từ phụ ngữ
(auxiliary verb) hay không. Trong (5a), Memories là một biểu đạt
danh tính (bao hàm danh từ đơn Memories) và làm chức năng văn
pháp của hiện thể chủ ngữ của phụ ngữ will. Do vậy, đặc trưng hóa
độc lập-cấu trúc của ta về cách đảo từ trong (9) dự tri một cách chính
xác rằng, (5b) Will memories fade away? Là một biến thể nghi vấn
cú của (5a) Memories will fade way. Cũng vậy, biến thể nghi vấn
của (7a) là Will memories of happiness fade away?, trong đây, ta
có một phụ ngữ là
(will) đảo ngược bằng một biểu đạt danh tính (ngữ đoạn danh tính
memories of happiness) có những chức năng như là chủ ngữ của nó. Do
vậy, sự thông tri độc lập-cấu trúc tạo thành những dự tri chính xác về
hai tập hợp của các câu.
Song le, sự miêu tả độc lập cấu trúc của ta về
cách đảo từ không kém phần quan trọng, nó cũng dự tri chính xác là không
thể xảy ra trong các trường hợp như:
(10) (a) Down
will come taxes (các mức thuế tới sẽ giảm)
(b)*
Will down come taxes?
(11) (a) John
received a prize
(b) *Received
John a pize?
Trong (10b), ta có tiểu tố giới từ down bị
đảo ngược bằng phụ ngữ will, và trong (11b), ta có một biểu đạt
danh tính John bị đảo ngược bằng vị từ received. Do vì
trong hai trường hợp, ta không phải đảo ngược biểu đạt danh tính chủ ngữ
bằng một phụ ngữ, đặc trưng hóa độc lập cấu trúc của ta về đảo từ tiếng
Anh dự tri chính xác rằng, cách đảo từ ở đây là không thể xảy ra. Ngược
lại, đặc trưng hóa phụ thuộc-cấu trúc về cách đảo từ ở (6) dự tri sai
lầm rằng, sự đảo từ là sẽ xảy ra trong cả hai trường hợp.
Như vậy, hiện tượng đảo từ trong câu hỏi cung cấp
cho chúng ta chứng cứ rõ ràng ủng hộ cách đa hợp trong lý thuyết văn
pháp của ta nguyên lý độc lập cấu trúc (8), nguyên lý này định rõ
là các thao tác văn pháp đều diễn cảm với cấu trúc văn pháp của những
câu mà chúng ứng dụng cùng. Cho rằng, (8) là nguyên lý nền tảng của UG,
đến độ (8) giúp cho mọi
tính văn pháp của mọi ngôn ngữ tự nhiên, có vẻ như hoàn toàn hợp
lý. Nếu như thế và nếu ta thừa nhận là, những nguyên lý văn pháp trừu
xuất là phổ quát, là bộ phận tiên thiên sinh vật học của ta, là mã di
truyền từ hữu thức hay lý tính của ta, khi đó, sự đúc kết tự nhiên rằng,
nguyên lý (8) được buộc chặc trong tính năng ngôn ngữ và rằng, do nó mà
bộ phận đồ họa ảnh sắc di truyền (tổng loại) của trẻ em hay của ta được
hình thành. Điều này có ý nghĩa trình tự là, tính năng ngôn ngữ nôi tại
đa hợp cùng một tập hợp của các nguyên lý UG, chẳng hạn, nguyên lý độc
lập-cấu trúc. Theo đó, ta có thể tái xét mô hình thụ đắc vừa rồi của ta
trong (4) đã nêu, thành trong (12) dưới đây:
(12) Thẩm nghiệm của L→UG→Văn pháp của L
Trong mô hình đã đảo ngược này, sự hội nghiệm của
chúng ta hay trẻ em được xử lý bằng tổ hợp đơn nguyên UG (UG module), nó
là một bộ phận tất yếu của tính năng ngôn ngữ.
Lý thuyết văn pháp đặt ra rằng, cấu trúc văn pháp
nội tại của các từ, các ngữ đoạn và những câu trong ngôn ngữ tự nhiên
được quyết định bằng các nguyên lý nội tại của UG làm nhân cho bước tiến
quan trọng là tối giản gánh nặng học ngữ pháp áp đặt trên chúng ta. Đây
là một sự cân xét sinh động, bởi, ta vừa thấy rằng, khả tính học là một
tiêu chuẩn thỏa đáng cho bất cứ lý thuyết văn pháp nào—nghĩa rằng, bất
cứ thuyết văn phạm nào mà có khả năng giải thích như thế nào mà ta có
thể học thành công văn pháp (những) ngôn ngữ bẩm sinh của mình một cách
nhanh chóng và đồng nhất, thì học thuyết ấy sẽ cho là hợp lý. Lý thuyết
UG tối giản tình trạng tải trọng học tập áp đặt lên chúng ta và nhờ thế,
tối giản khả tính học về những văn pháp ngôn ngữ tự nhiên.
Xa hơn thế nữa, ta đã tuyên bố rằng, tính năng
ngôn ngữ đa hợp cùng một tổ hợp các nguyên lý UG, chúng là nguyên lý bất
biến băng qua các ngôn ngữ và quyết định bản chất và sự thụ đắc của cấu
trúc ngữ pháp. Tuy vậy, rõ ràng là ta không thể cho là mọi khía cạnh về
cấu trúc ngữ pháp của các ngôn ngữ đều bị quyết định bởi các nguyên lý
ngữ pháp nội tại; nếu là thế, thì mọi ngôn ngữ sẽ có độ chính xác đồng
một cấu trúc ngữ pháp, và lúc này, người ta sẽ không cần học cấu trúc đã
được yêu cầu trong sự thụ dụng ngôn ngữ (tức là, người ta sẽ không học
bất cứ cái gì về cấu trúc ngữ pháp của các câu trong ngôn ngữ mà ta đang
thụ đắc), chỉ học từ vựng của ngôn ngữ thôi. Tuy là có những nguyên lý
phổ quát quyết định những phát thảo rộng của cấu trúc ngữ pháp về các
từ, câu và ngữ đoạn trong từng ngôn ngữ tự nhiên và cũng có các khía
cạnh cá biệt-ngôn ngữ của cấu trúc văn pháp mà ta phải học như là bộ
phận nghĩa vụ đang thụ đắc ngôn ngữ bẩm sinh của chúng ta là việc thật
quá rõ ràng. Do thế, sự thụ đắc ngôn ngữ đòi hỏi không chỉ học từ vựng
mà còn học một số cấu trúc nào đó nữa. Sự quan tâm chủ yếu của ta ở đây
là khảo sát sự học cấu trúc, và nó nói cho ta biết những gì về tiến
trình thụ đắc ngôn ngữ.
Đương nhiên, học cấu trúc sẽ không yêu cầu ta học
các thể này của cấu trúc được UG quyết định. Hơn thế, học cấu trúc sẽ
được giới hạn theo các tham số này (tức là, các thông số, hay các
thể-aspects) của cấu trúc văn phạm, chúng là chủ ngữ cho sự biến dạng cá
biệt ngôn ngữ (tức là, thay đổi từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác). Nói
một cách khác, học cấu trúc sẽ được giới hạn theo các thể tham biến
(parametrized aspect) của cấu trúc (tức là, các thể của cấu trúc này làm
chủ ngữ cho sự biến dạng tham tố từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.) Do
vậy, để quyết định đúng những gì mà người ta hay trẻ em phải học là khảo
sát lãnh vực thay đổi tham tố trong cấu trúc ngữ pháp những ngôn ngữ tự
nhiên (trưởng thành) sai biệt.
Ta có thể minh họa một loại hình thay đổi tham tố
băng qua những ngôn ngữ về sự mâu thuẫn dưới đây, giữa các dẫn chứng
ngôn ngữ Ý trong (13) và các biến thể hay đối thể tiếng Anh trong
(13c-d):
(13) (a) Maria parla francese
(b) parla francese
(c) Maria
speaks French (d)* Speaks French
Ta thấy, từ (13a / c), trong hai ngôn ngữ Ý và
Anh, các vị từ hữu hạn định (những vị từ đóng vai thì hiện tại, quá khứ
v.v...) như parla, speaks cho phép (có thể có) một chủ ngữ ẩn (over
subject) như Maria; tuy là hai ngôn ngữ khác nhau, nhưng các vị từ hữu
hạn định ấy cũng cho phép chủ ngữ không xuất hiện [...parla] (không hiện
hữu nhưng được nhận biết) trong tiếng Ý (như trong (13b-parla), tương
ứng với tiếng Anh ‘she, he speaks french’), nhưng không tương ưng
với tiếng Anh trong (13d, thậm chí 13d không trúng ngữ pháp của tiếng
Anh). Do vậy, các vị từ hữu hạn định, trong một ngôn ngữ chủ ngữ bất
hiện như tiếng Ý (giống như Phạn văn), cho phép chủ vị ẩn hay hiện cũng
được, nhưng trong tiếng Anh là tuyệt đối không thể như vậy. Ta phải miêu
tả những dị biệt giữa hai ngôn ngữ này, bằng cách cho rằng, tiếng Ý là
ngôn ngữ có chủ vị bất thực, còn tiếng Anh là ngôn ngữ có chủ ngữ
thực hữu. Tổng quát hơn, ở đó hình thành sự thay đổi tham tố giữa các
ngôn ngữ xét như là, dù chúng cho phép các vị từ hữu hạn định có chủ ngữ
bất thực hay là không chủ ngữ. Tham tố quan yếu này (được gọi là tham
tố chủ ngữ zero-null subject parameter) sẽ thành ra là một hình thái
lưỡng phân (binary one), chỉ với những tập hợp song hữu (two possible
settings), nghĩa rằng, does / doesn’t allow finite verbs to have null
subjects. Thành ra, ở đó sẽ là “no language”, nó cho phép một vài
chủ ngữ của các vị từ hữu hạn định là zero, nhưng ở các ngôn ngữ khác là
không thể, chẳng hạn, ta có thể nói Ok trong Drinks weine, nghĩa
là (anh ấy / cô ấy đang uống rượu), nhưng không thể nói Ok trong
Eats pasta (anh / cô ấy ăn mì ống). Thành ra, lãnh vực biến hình ngữ
pháp đã thấy là băng qua ngôn ngữ sẽ bị giới hạn hoàn toàn: Ở đó có vẻ
vừa là hai khả hữu—hoặc là các ngôn ngữ phải có hoặc không có hệ thống
mà ở đây cho phép các vị từ hữu hạn sở hữu các chủ ngữ ẩn, tức là, có
một chủ ngữ được hiểu ngầm nhưng không biểu đạt một cách hiển ngôn.
Một thể quen thuộc nhiều của cấu trúc đúng ngữ
pháp được tham hóa chính xác liên hệ đến trật tự từ, ở các loại
hình sai biệt đó của các ngôn ngữ có những trật tự từ sai biệt trong
những loại hình loại biệt của việc cấu trúc. Một loại biến dạng trật tự
từ có thể được minh họa liên hệ đến sự tương phản giữa tiếng Anh và
tiếng Hoa như sau và trật tự này ít sai biệt trong các hệ thông ngôn ngữ
hệ Ấn-Âu:
(14) (a) What is his name?
(b)
kinnāmadhaḥ saḥ
(c)
你名是何?hoặc
你是何名?
(d)
Bạn tên gì? Tên của bạn là gì?
Trong tiếng Anh, các câu hỏi-wh, tức là
biểu đạt-wh được đặt ở đầu câu (như what / where / when / why bắt
đầu bằng wh), về hình vị, nó tương ưng với hàng loạt các hệ thống ngôn
ngữ Ấn-Âu như ta biết, Phạn văn cũng thế, nhưng biến tố theo tiếp chạm
âm của nó (e.g –m+n→nn-) và vẫn không đảo vị. Xét theo vị trí hình vị ở
mặt đứng, so với tiếng Anh và Phạn, vị trí câu hỏi của Hoa và Việt có
tính chất biểu đạt phi vấn, nghĩa rằng, bổ ngữ của một vài ngôn ngữ
Á-đông thường được đặt sau vị từ.
Như vậy, các “bước sóng tâm” theo một hệ di
truyền nào đó quyết định nhận thức đối tượng của chủ thể—tham tố-tâm
(mind-parameter). Trường hợp này, UG sẽ là hạt nhân giữa hội nghiệm L và
văn pháp L như biểu đồ nêu trên. Biểu đồ này có tầm quan trọng chí đến
việc biên dịch các văn bản từ hệ thống Ấn-Âu sang hệ ngôn ngữ Á-đông, UG
chi phối tính phổ quát của các tham tố tâm trong quá trình lịch nghiệm L
và văn pháp L.
Như vậy, vị từ (verb) là từ nói về đối tượng nhân
thức, như là bản thể, cái tôi và các đối tượng của cái tôi có được thể
hiện hay không là do vị từ này. Việc dịch verb là động từ, là hoàn toàn
hợp
lý theo truyền thống, thế nhưng,
người ta sẽ ngộ nhận “động từ” này chỉ thuần túy là hình thái “hoạt động
trên lãnh vực cơ bắp” mà thôi, chẳng hạn, “một thời đức Phật trú
tại…”. Trú, là vùng cấm của hoạt động cơ bắp, cho dù, ở đó chúng
sinh vẫn đang “doing” hay “act”, vả lại, (verb= krīyā=dhātu→18 giới) của
Phạn văn, chỉ cho quả hay tác quả (sát na tạo nên kết quả), thuộc lãnh
vực nghiệp, nhất là khẩu nghiệp, tổng cơ cấu của vũ trụ, bao hàm cả sắc
vi tế lẫn tâm. Hơn thế, verb, trong tiếng Hy-lạp, verb=λογος=ρηματικος,
nghĩa rằng, đây là một từ chỉ cho sự hoạt động của ngôn ngữ hay lý
thuyết và verbum (=verb) trong Latin, cũng có nghĩa là, từ ngữ, lời lẽ,
sự biểu đạt; cả trong tiếng Đức, verb vẫn theo nghĩa này, do vậy, riêng
trên tinh thần bản văn, verb, ở đây xin chọn theo Hán dịch là
vị từ¾một
thứ tác sự hay một giới nào đó đi với ta đến hết đời này
sang đời khác mà thuật ngữ ngôn ngữ học hay gọi là thể (aspect)
vậy. Ta biết, trong Phạn văn, hầu như rất ít thực danh từ, chúng đều là
các từ phái sinh, theo đó, danh từ upacāra không hiểu vì sao là
lại được
dịch là giả thuyết, tức là một danh tính nói về trạng thái của
một chủ đề cấu trúc ẩn về một cái gì đó hiện hữu do tương quan (giả假-tương
quan), như—giả thuyết
(假
說,
ngôn ngữ hay luận đề cấu trúc tương quan đến...)— của đại sư Huyền
Tráng. Ở đây, “sắc” của ngôn ngữ đã được thẩm và hội nghiệm trên cơ sở
UG vậy. Hơn thế, người ta sẽ hỏi là, vì sao mà ngữ đoạn
vijñānapariṇāme với tư cách là định vị cách mà, Đại sư dịch
là “bỉ y”, bởi vì định vị cách, cũng có nghĩa là “ở trong”, tuy
nhiên theo nguyên lý thẩm nghiệm L qua UG, ta biết “cái gì có tính
giả thi thiết [ngôn ngữ cấu trúc, vākvikalpa], thì cái đó
phải dựa trên cái gì đó [duyên sinh]”, không thể ở trong
được. Vậy, vijñānapariṇāme vừa có tư cách là định vị cách,
vừa có tư cách là danh cách, chi phối toàn diện thi kệ của Thế
Thân—thức biến, cụ thể là của Huyền Tráng. Ở đây, nguyên lý UG
vẫn là phổ quát. Một cách tự nhiên, UG cho ta một thuật toán phát
triển bản ngữ của mình, học từ vựng hay môi trường cộng đồng không còn
là hạt cơ bản nữa, bởi vì giờ đây, tất cả đã có trên “máy tính”, ta được
nhẹ đi gánh nặng của đầu vào.
Như vậy, tham tố biến dạng tương phản giữa các
ngôn ngữ là tham tố-wh, tức là, tham tố này mà biểu đạt-wh
có phải đặt trước cấu trúc câu hỏi ẩn đang chứa chúng hay là không. Đáng
quan tâm hơn, tham tố này, lại thành ra là một song đối (binary)
trong bản chất, ở đó nó cho phép chỉ có hai khả tính—một ngôn ngữ hoặc
nên hay không nên cho phép vận hành-wh, tức là, đem các biểu
đạt-wh đặt trước câu. Đối với sự di chuyển-wh, nhiều khả tính
không chỉ vì lý do nào đó mà chúng xuất hiện trong ngôn ngữ tự nhiên.
Chẳng hạn, người ta Ok khi nói
”Who did you see?” Nhưng không Ok khi nói “What did you see?”
Cũng có trường hợp, người ta Ok khi nói “What did you see?”
Nhưng không Ok khi nói “What did you hear?” Nghĩa là, không
có trường hợp nào mà trong đó không có ngôn ngữ biến thể của Who? Và
ngược lại của What? Trong âm nhạc Việt Nam, có một nhạc sỹ viết rằng,
“em nghe gì không em, con chim nó hót trên đầu cành.” Ở đây, ta có Ok
What
không? Người nghệ sỹ “bắt em nghe hay thấy?”, trong cái thấy-nghe của
mình. Tất nhiên là, theo nguyên tắc UG, thì đoạn nhạc trên là không thể
Ok , trường hợp này phải kể đến rất nhiều đoạn nhạc của Trịnh công sơn
mà, theo nguyên lý UG là không thể chấp nhận. Tuy nhiên, nghệ sỹ là
“người chế tác văn pháp chưa được thừa nhận”. Song, một “thể” văn Trường
hàng nào đó trong nghiệm tính tự tại của đức Phật, được Ngài “dịch”
thành thi kệ, và ngược lại, các nhà biên tập thể rút gọn này được dãn
rộng ra thành Trường hàng, những gì mà ở đó đức Đại bi và chư đệ tử Ngài
đã thẩm nghiệm phổ quát và phổ quát rút gọn lại, không thể ở trên
cái cách “em nghe gì không em” hay “nghe lá thu mưa rơi mòn gót
nhỏ” trong thẩm dịch của ta. Tôn giáo được nội hóa trên thẩm
nghiệm phổ quát, chớ không thể “lan man” như âm nhạc được. Có phải do
lan man mà nghệ sỹ “nổi tiếng” chăng?
Trong tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ khác, các từ
trung tâm như: những danh từ, vị từ, giới ngữ, tính ngữ, v.v... đều đứng
trước các bổ ngữ của chúng, tuy nhiên, cũng có nhiều ngôn ngữ, như tiếng
Hàn quốc, các từ trung tâm theo sau các bổ ngữ của chúng. Do vậy, trong
các thuật ngữ không chính thức, ta đã có thể nói, tiếng Anh là một
ngôn ngữ (trung) tâm-đi trước
(head-first language), trong khi đó tiếng Hàn quốc là loại ngôn ngữ-
tâm đi sau (head-last language). Các dị biệt giữa hai ngôn ngữ có
thể được minh họa bằng cách phân tích những dẫn chứng tiếng Anh trong
(15) dưới đây với các biến thể của tiếng Hàn:
(15) (a) Close the
door (b) desire for change
(c) Moonul dadala (d)
byunhwa-edaechan kalmang
door close
change-for desire
Trong tiếng Anh, ngữ đoạn vị từ Close the door
(15a), vị từ tâm là close đứng trước phụ ngữ của nó là door; nếu ta giả
định rằng, the door là một ngữ đoạn định ngữ, khi đó từ tâm của ngữ đoạn
này (=định ngữ the) đứng trước phụ ngữ của nó (=danh từ door).
Cũng vậy, trong tiếng Anh đã cho, ngữ đoạn danh tính (desire for
change trong 15b), danh từ tâm desire đứng trước phụ ngữ của nó là
for change; phụ ngữ for change tuần tự là ngữ đoạn giới ngữ mà trong đó
giới ngữ tâm for cũng đi trước phụ ngữ của nó là change. Do vậy, dứt
khoát là các từ tâm mà những vị trí của nó trong tiếng Anh là cố định
trước các phụ ngữ, cho nên ta nói tiếng Anh là ngôn ngữ tâm đi trước.
Và qua phân tích theo lược đồ nêu trên, ta thấy tiếng Hàn là ngôn ngữ
tâm đi sau, tức là các ngôn ngữ tâm đi sau những phụ ngữ của chúng,
như trường hợp ta đã phân tách tiếng Anh.
Tuy nhiên, ta cần nhớ rằng, sự đảo vị trật tự từ
gắn cùng vị trí liên hệ của những từ tâm và các phụ ngữ rơi vào trong
các giới hạn bị hạn chế nghiêm nhặt. Có nhiều loại đảo vị trật tự từ có
thể hợp logích, nó xuất hiện trong ngôn ngữ tự nhiên mà không có lý do.
Chẳng hạn, ta có thể tưởng tượng rằng, một vài vị từ của ngôn ngữ bẩm
sinh nào đó sẽ đứng trước và một vài vị từ sẽ đứng sau các phụ ngữ
(complement) của chúng, chí như, nếu hai vị từ có tính giả thuyết mới là
scrunge và plurg do ta bịa ra, chắc là khi ấy, scrunge sẽ theo sau phụ
ngữ, và plurg sẽ đứng trước phụ ngữ của nó. Tuy nhiên lúc này, thì sự
kiện đó không có lý do gì để xảy ra cả (đúng hơn là mọi vị từ, trên mặt
hình thể vẫn chiếm lấy cùng một vị trí trong một ngôn ngữ đã cho liên
quan đến loại hình của phụ ngữ đã cho).
Những gì mà tất cả điều này đề xuất là cái mà có
các tương phản phổ quát trên phạm vi đảo vị tham tố đã thấy là băng qua
các ngôn ngữ gắn cùng trật tự liên hệ của các từ-tâm và các phụ ngữ. Sẽ
xem như, nếu chỉ có hai khả năng sai biệt mà lý thuyết ngữ pháp cho phép
đối với, thậm chí, một ngôn ngữ đã cho có thể cũng là ngôn ngữ tâm-đi
trước và như vậy vị trí cố định tất cả từ-tâm là đứng trước tất cả phụ
ngữ của chúng hoặc ngược lại, có các từ-tâm đi sau các phụ ngữ của chúng
một cách dứt khoát. Tuy nhiên, vị trí ấy vẫn có thể tìm thấy không nhất
thiết là ở trong các tính văn pháp của ngôn ngữ tự nhiên, và câu hỏi
hiển nhiên đặt ra là, tại sao sự kiện này lại có thể xảy ra.
Chomsky trả lời rằng, lý thuyết UG được xâu suốt
trong tính năng ngôn ngữ, nó áp đặt các tương phản tổng loại lên trên
lãnh vực đảo vị tham tố đã thừa nhận trong các tính văn pháp ngôn ngữ tự
nhiên. Với trường hợp tham tố tâm, tức là tham tố quyết định vị trí liên
hệ của các từ-tâm (ngữ trung tâm) gắn cùng các phụ ngữ của chúng, UG chỉ
cho phép một tập hợp lưỡng phân của những khả thể, nghĩa là, một ngôn
ngữ có thể có ngữ tâm-đi trước một cách cố định, và ngữ tâm-đi sau cố
định. Nếu là vậy, thì chỉ học cấu trúc duy nhất mà ta nắm được khi học
những đặc trưng trật tự từ về tầng lớp quan yếu của các cấu trúc phải
chọn trên cơ bản thẩm nghiệm ngôn ngữ của ta, việc thẩm nghiệm này là
một trong hai tập hợp nội tại của tham tố được UG cho phép (tức là
ngữ-tâm đi trước hay đi sau và đây là sự tiếp cận duy nhất cho ngôn ngữ
đang được thụ đắc).
Ta có thể khái quát hóa diễn ngôn của mình về
điểm này bằng các thuật ngữ tiếp theo sau. Nếu, tham tố-tâm
(head parameter) buộc phải chọn một chọn lựa lưỡng phân đơn thuần và
nếu tham tố-wh và tham tố chủ ngữ zero (null subject
parameter) cũng yêu cầu những chọn lựa, thế thì, thật đáng ngờ rằng,
tính lưỡng phân có thể là những đặc tính ngẫu nhiên của các tham tố cá
biệt này. Hơn thế, hầu như rất có thể rằng, đây là một đặc trưng bản hữu
của các tham tố mà chúng tương phản với lãnh vực đảo vị cấu trúc giữa
các ngôn ngữ và đặc trưng này làm giới hạn một chọn lựa lưỡng phân. Sự
khái quát còn đi xa hơn nữa, ta xin đề nghị rằng, mọi đảo vị văn pháp
giữa các ngôn ngữ có thể đặc trưng hóa liên hệ đến một tập hợp của các
tham tố và điều đó dành cho mỗi một tham tố, UG định rõ các giá trị khả
hữu đối với tham tố này. Nếu là thế, thì việc học cấu trúc duy nhất mà
ta đối diện trong khi thụ đắc bản ngữ của mình là trách nhiệm xác định
giá trị tiếp cận cho riêng từng tham tố cấu trúc quan yếu theo những
ngôn ngữ biến dạng. (Tất nhiên là trẻ em cũng đối diện với nhiệm vụ dữ
dội của việc học từ vựng, tức là dựng nên vốn từ vựng của chúng
trong ngôn ngữ quan yếu này).
Nếu, ở đây lý lẽ của ta theo những tuyến chính
xác, thế thì nó dẫn chúng ta đến quan điểm theo sau về tiến trình thụ
đắc ngôn ngữ.
Nhiệm vụ trung tâm mà ta hay trẻ em đối mặt trong
khi thụ đắc một ngôn ngữ là phải cấu trúc một văn pháp của ngôn ngữ này.
Ta nói rằng, tính năng ngôn ngữ đa hợp cùng một lý thuyết UG gồm có: (1)
một tập hợp các nguyên lý phổ quát của cấu trúc văn phạm, và (2) một tập
hợp những tham tố cấu trúc áp đặt cho đôi ba tương phản trên cách
đảo vị cấu trúc đã thừa nhận trong các ngôn ngữ tự nhiên, mà có thể đôi
ba tương phản này làm giới hạn phạm vi đảo vị cho một chuỗi những lựa
chọn lưỡng phân. Bởi vì, các nguyên lý phổ quát của cấu trúc văn pháp
không buộc phải học, nhiệm vụ học cấu trúc của ta được giới hạn theo bộ
phận của tập hợp-tham tố, tức là xác định một tập hợp tiếp
cận cho từng tham tố cấu trúc quan yếu. Vì những lý do chính xác này, mô
hình đã vạch ra ở đây đã trở thành tri thức với tư cách là những
nguyên lý-và lý thuyết từng tham tố (=PPT) của ngôn ngữ.
Lý thuyết PPT rõ ràng có hàm ý ưu điểm cho bản
chất của tiến trình thụ đắc ngôn ngữ; chính xác hơn, một mô hình như vậy
sẽ lảm giảm rộng sự phức hợp của nhiệm vụ thụ đắc mà ta đối diện. Mô
hình PPT sẽ cho ta niềm hy vọng rằng, các nguyên lý cấu trúc này của
ngôn ngữ là cố định băng qua các ngôn ngữ mà trẻ em không buộc phải học,
bởi vì chúng sẽ là bộ phận tiên thiên di truyền của các em và cả của
chúng ta: ngược lại tất cả điều đó, ta hay các em phải học, chính là các
đặc trưng văn phạm này mà chúng làm chủ ngữ cho cách đảo vị tham tố băng
qua các ngôn ngữ.
Để kết luận, trong chương này, ta đã được liên hệ
cùng bản chất và sự thụ đắc của
văn pháp. Ta bắt đầu bằng cách tranh luận rằng, một văn pháp của một
ngôn ngữ là một mô hình của thẩm năng đúng văn pháp của người nói bản
ngữ lưu loát đúng văn pháp của bản ngữ này, và rằng, thẩm năng văn pháp
được phản ảnh trong các trực giác của người nói bản ngữ về mặt ngữ pháp
và sự thuyên giải. Ta đã đề nghị rằng, tiêu chuẩn hợp lý chủ yếu cho các
tính văn pháp là cái thuộc về hiệu lực miêu tả, tức là, cách liệt
kê chính xác đối với mặt văn pháp và thuyên thích. Ta đã giải thích
rằng, một lý thuyết văn pháp được tương quan cùng sự đặc trưng hóa các
thuộc tính phổ quát và cách tổ chức những văn pháp về những ngôn ngữ tự
nhiên; ta đã đề nghị rằng, bất cứ lý thuyết ngôn ngữ thỏa đáng nào sẽ
cần phải có tính phổ quát, tính minh bạch, và tính giới
lược và nên cung cấp những văn pháp mang tính phức hợp tối giản.
Ta đã tiến hành quan sát ở những giai đoạn đầu của việc thụ đắc ngôn ngữ
và đã tranh luận là vấn đề cơ bản nhất cho bất cứ lý thuyết thụ đắc ngôn
ngữ nào là trả lời vì sao mà sau thời kỳ một năm và nửa năm tiếp đến
(của trẻ em) không có chứng cứ của bất kỳ sự phát triển văn pháp nào,
hầu hết văn phạm của ngôn ngữ được thụ đắc sẽ diễn ra tiến trình của năm
sau đó. Ta đã phát thảo giả thuyết nội tính được Chomsky đưa ra
bên dưới tiến trình thụ đắc ngôn ngữ mà trên mặt di truyền, nó được dự
báo bằng tính năng ngôn ngữ nội tại. Ta giải thích yêu cầu của Chomsky
rằng, tính năng ngôn ngữ đa hợp với một tập hợp của các nguyên lý UG.
Ta đã tranh biện rằng, nếu những nguyên lý của UG xác định bản chất của
mỗi thao tác văn pháp và cấu trúc trong mỗi ngôn ngữ bẩm sinh hay tự
nhiên, thì hãy chốt chặt lại cách kiểm tra về bất cứ một loại hình cấu
trúc văn pháp hay thao tác nào trong bất cứ một ngôn ngữ nào sẽ làm lộ
ra chứng cứ cho thao tác của các nguyên lý UG; và ta thấy rằng hiện
tượng đảo vị trong tiếng Anh cung cấp cứ liệu cho yêu cầu nguyên lý
độc lập cấu trúc. Ta đã đưa đến đề nghị rằng, các ngôn ngữ sai biệt
trong cấu trúc của chúng theo một phạm vi của các tham tố văn pháp
sai biệt. Ta nhìn vào ba tham tố như vầy: tham tố-wh, tham tố chủ
ngữ zero và, tham tố-tâm. Ta tranh luận rằng, từng tham tố
này là lưỡng phân cố hữu trong bản chất và rằng, vì thế mà học cấu trúc
phải đối diện với các yêu cầu tập hợp tham tố, nghĩa là xác định
hai tập hợp được UG cung cấp mà việc cung cấp này là một tiếp cận cho
mỗi tham tố trong ngôn ngữ hiện đang thụ đắc. Ta tranh luận hơn nữa
rằng, học cấu trúc duy nhất đã yêu cầu trong thụ đắc ngôn ngữ là tập
hơp-tham tố. Ta cần yêu cầu là tìm thấy cứ liệu mà trẻ em tập hợp tham
tố chính xác từ sự khởi đầu mạnh mẽ của ngữ ngôn đa từ và ta đã trình
bày cứ liệu để đề nghị rằng, phát xuất từ các phát ngôn đa ngữ tối sơ
của trẻ em, chúng đang thụ đắc tiếng Anh hay bất cứ ngôn ngữ nào như là
tiếng mẹ đẻ của chúng là đặt chính xác tham tố-tâm ở sự tiếp cận
giá trị ngữ tâm-đi đầu, chẳng hạn, đối với tiếng Anh hay Phạn văn. (còn
tiếp)
P.H.
Thuật ngữ và
lược ngữ
A
(xem adjective)
A-bar-movement:
Thao tác di chuyển A-dấu ngang.
Thao tác di
chuyển (A-) dấu ngang chuyển di một phóng chiếu cực đại trong một vị trí
A- (chẳng hạn, một vị trí phi tham tố, hoặc trên hết là, một vị trí được
các biểu đạt chiếm giữ mà chúng không phải là tham tố). Như vậy, tác
tử di chuyển, sự tái bổ [một tiến trình tái bố trí những phóng chiếu
cực đại nội tại trong các tiểu cú, di chuyển chúng xa hơn về phía trước
của tiểu cú. Xem scrambling] và chủng thao tác phụ
mà nhờ đó, đặc tính ứng xử này được liên kết với một tiểu cú chứa
nó như trong câu, thứ hành vi này ta không thể khoan dung,
đều thuộc về tất cả loại hình khu biệt của thao tác di chuyển A-
cả.
Absorption: Hiện
tượng rớt âm tiết. Hiện tượng hấp thu.
Một phân từ quá
khứ được cho là hấp thu hay giữ vai tham tố (theta-role)
mà, trong khi đó, một vị từ có thể chỉ định cho chủ ngữ của nó (nhờ đó
mà nó có khả năng phủ định thao tác hóa chủ ngữ-dethematizing the
subject) và để đóng vai cách bổ ngữ, trong khi, một vị từ ngoại động
(transitive verb) chỉ định cho bổ ngữ của nó (nhờ thế mà có sự phủ định
thao tác hóa nội động vị từ) để cho các phân từ quá khứ thành ngoại động
vị từ.
Accusative.
Xem
case.
Active: Chủ động,
năng động.
Theo truyền
thống, một đối nghịch phát sinh giữa các cặp câu, chẳng hạn, câu (i) và
câu (ii) sau đây:
(i) Những kẻ cắp đã lấy trộm đá quý
(ii) Đá quý bị những kẻ trộm lấy cắp
Thí dụ (i) được
cho là một tiểu cú (hay câu) năng động, và câu (ii) được cho là đối tác
bị động của nó. Cũng vậy, vị từ stole
được cho là một vị từ năng động (hay vị từ trong dạng thái năng động)
ở câu (i) và trong câu (ii), vị từ stole luôn luôn được cho là vị
từ bị động (hay là vị từ ở dạng thái bị động)—nhất là,
(một phân từ bị động) trong câu (ii), giống như thế, phụ ngữ were
trong câu (ii) được cho là một phụ ngữ bị động.
Adjacency
condition: Điều kiện trực cận.
Điều kiện yêu cầu
rằng, hai biểu đạt cần phải trực tiếp cận nhau (chẳng hạn, điều kiện
này, tiếp cận với điều kiện khác) để một thao tác nào đó ứng dụng. Chẳng
hạn, tiểu từ to chỉ có thể đính trên want
(thành hình thái wanna), nếu cả hai là trực cận.
Adjective: Tính
ngữ.
Đây là một phạm
trù từ [ngữ trù] thường biểu thị những trạng thái (chẳng hạn, happy,
sad), điển hình là có một đối tác + ly (sở chỉ sad / sadly),
điển hình là có những hình thái so sánh / so sánh cực cấp (superlative)
bằng + er / + est (sở chỉ sadder / saddest). Tính
ngữ này vẫn có thể gắn vào tiền tố un (tham chiếu unhappy)
và vẫn có thể hình thành một danh từ bằng cách bổ sung (+ ness)
(tham chiếu sadness, cái có tính buồn rầu).
Ajoint.
Xem
adjointion.
Adjunct: Phụ ngữ
Một cách mà thuật
ngữ này được dùng, biểu thị một kết cấu tùy chọn, điển hình là cách sử
dụng để hiển nghĩa, chẳng hạn, chỉ cho thời gian, vị trí,
thể cách mà một dữ kiện nội phát (chẳng hạn, in the pub,
trong quán rượu, đây là một phụ ngữ trong một câu, chẳng hạn, We
had a drink in the pub, chúng ta có thức uống trong quán rượu
này). Một cách khác mà nó được sử dụng để chỉ cho một thành phần đã
được liên kết hay phụ kết với một thành phần khác để lập
thành một thành phần mở rộng (xem adjunction bên dưới).
Adjunction: Cách
gia kết
hay cách ghép
thêm vào
Đây là một tiến
trình mà qua đó một từ được gia kết (= luyến kết, tương
kết-attached) với một từ khác để lập thành một hợp từ (compound word)
hoặc, một ngữ đoạn và ngữ đoạn này được gia kết với ngữ đoạn khác để
hình thành một dữ kiện ngữ đoạn tương đối rộng. Chẳng hạn, trong một
câu, chúng ta có thể nói rằng, He shoudn’t go, not-chắc là anh ấy
không đi (trong sự ngoại hiện của hình thái rút gọn n’t) và nó
được phụ kết với phụ ngữ should (auxiliary should) để hình thành
một phụ ngữ phủ định shouldn’t. Cũng thế, chẳng hạn, trong một
câu như vầy: You know that such behavior we cannot tolerate (anh
biết rằng, chúng ta không thể nào mặc nhận [khoan dung] cách ứng xử như
thế đâu), ta có thể tuyên bố rằng, such behavior đã được phụ kết
với tiểu cú we- (xem A-bar-movement).
Adv. Adverb:
Trạng ngữ, trạng từ.
Đây là một phạm
trù từ mà trên mặt hình loại chỉ định thể cách (chẳng hạn, wait
patiently-kiên nhẫn đợi chờ), hoặc là chỉ
định cấp độ (chẳng hạn, exeedingly patient-cực kỳ
kiên nhẫn). Trong tiếng Anh, hầu hết (nhưng không tuyệt đối), các trạng
ngữ có đuôi kết thúc + ly, (sở chỉ quckly-nhưng còn là
almost nữa).
Affix: Gia tố,
phụ tố.
Là một hình vị
văn pháp, mà tự thân nó không thể đứng một mình, xét như là một từ độc
lập, nó chỉ được gắn với một đơn vị của một (từ) loại thích hợp
nào đó. Ta có một gia tố luyến kết cùng sự bắt đầu của một từ, (chẳng
hạn, un + trong unhappy) và như vậy, un được gọi là
tiền tố, trong khi đó, một gia tố luyến kết với sự kết thúc của
một từ, (chẳng hạn, + s trong chases, những sự săn
đuổi), trong trường hợp này, nó gọi là hậu tố.
AGENT: Tác thể,
tác nhân
Là một dụng ngữ
(thuật ngữ thường dùng) để miêu tả vai trò ngữ nghĩa học (= thematic
tham tố, từ cán, luận đề) mà một loại hình tham tố (argument)
cá biệt diễn vai trong một câu đã cho. Điển hình là, nó biểu thị một
nhân vật thận trọng khiến cho một tình huống nào đó về những giao dịch
phát sinh- do vậy, chẳng hạn, john đóng vai tham tố của một tác
thể trong câu như, John smashed the bottle, John đã đập nát cái
chai. Thuật ngữ ACTOR (tác giả) và CAUSER (tác nhân giả), đôi khi được
sử dụng trong những câu tương tợ như vậy.
Agreement: Hô
ứng, phù ứng.
Là hai từ (hoặc
các biểu đạt) được cho là tương ưng với một (vài-s) nét văn pháp, nếu
chúng có cùng một giá trị đối với các nét (feature [s]) quan yếu; như
vậy, trong câu, chẳng hạn He smokes, Anh ấy hút thuốc, vị từ
smokes được cho là hô ứng với chủ ngữ He của nó, bởi
vì cả hai là hai biểu đạt ngôi ba số ít.
AgrIO / AgrO-bar/
AgrOP Kết cấu phù ứng bổ ngữ gián tiếp, cơ cấu bổ ngữ gián tiếp phù ứng.
AgrIO
là một kết cấu phù ứng bổ ngữ gián tiếp, có một phóng chiếu trung gian
trong /
AgrIO-bar (dấu gạch /
AgrIO), và một phóng chiếu cực độ trong AgrIOP, tức là ngữ
đoạn bổ ngữ gián tiếp phù ứng.
AgrO / /
AgrO-bar / AgrOP Ngữ đoạn bổ ngữ phù ứng / dấu gạch ngang bổ ngữ phù
ứng.
AgrO
là một cơ cấu bổ
ngữ phù ứng có một phóng chiếu trung gian trong
/
AgrO-bar và một phóng chiếu cực độ trong AgrOP, tức là một ngữ đoạn
bổ ngữ phù ứng.
AgrS / /
AgrS / AgrS-bar / AgrSP Ngữ đoạn chủ ngữ phù ứng
AgrS
là một cơ cấu chủ ngữ phù ứng hay hô ứng, mà nó có một phóng chiếu trung
gian trong /
AgrS và có một phóng chiếu cực độ trong AgrSP, tức là một ngữ đoạn
chủ ngữ phù ứng.
Algorithm: Toán
thuật.
Đây là một thuật
ngữ vay từ toán học, sở thị một tập hợp hiển ngôn của các chỉ lệnh minh
định bằng chi tiết thấy được chuỗi các bước chính xác mà bạn phải
kinh qua, nhằm hoàn thành một thao tác nào đó.
Altruism: Thuyết
lợi tha.
Xem
enlightened self-interest Tự thân minh bạch hóa.
Ambiguos: Tiểu cú
lưỡng nghĩa, ngôn trung lưỡng nghĩa.
Một diễn đạt gọi
là lưỡng nghĩa, nếu nó có nhiều hơn một thuyên giải (interpretation).
Chẳng hạn, trong câu He loves her more than you, Anh ta yêu cô ấy
nhiều hơn bạn, đây là một tiểu cú lưỡng nghĩa, bởi vì thực kiện rằng, nó
hàm dung hai thuyên giải, tức là, một, khả thể phỏng nghĩa
(paraphraseable) xét như là ‘Anh ấy yêu cô ta nhiều hơn là yêu bạn’, và
hai là ‘Anh ấy yêu cô ta nhiều hơn là bạn yêu cô ấy’.
A movement: Di
chuyển, chuyển vị
Là sự di chuyển
từ một vị trí này đến một vị trí khác (trên mặt hình loại, là
chuyển vị từ chủ ngữ hay từ vị trí bổ ngữ vào trong vị trí chủ ngữ
khác).
Anaphor: Trùng
phục pháp, hồi chỉ pháp
Pháp hồi chỉ hay
trùng phục là một diễn đạt mà diễn đạt này phải có sở chỉ phụ thuộc (như
tự thân anh ấy), tuy nhiên nó phải giữ lấy sở chỉ của nó từ một tiền
sở chỉ (antecedent) (chẳng hạn, sự diễn đạt mà nó nhắm đến)
trong cùng một ngữ đoạn hay một câu. Do vậy, trong khi chúng ta có thể
nói John is deluding himself, John đang tự dối mình (ở đây,
himself hồi chỉ cho John) , Chúng ta không thể nói Himself
is waitting, bởi vì hồi chỉ himself, ở đây, không có tiền sở
chỉ.
Antecedent: Tiền
sở chỉ. Từ tiền chỉ.
Đây là một biểu
đạt sở thị bằng một đại danh từ hay là hồi chỉ của một chủng loại nào
đó. Chẳng hạn, trong câu, John cut himself shaving, ở đây, John
là tiền sở chỉ của pháp hồi chỉ himself, bởi vì himself
hồi chỉ cho John. Chẳng hạn, trong câu, He is someone whom we respect,
tiền sở chỉ của đại danh từ whom là someone.
Antonym: Từ phản
nghĩa, từ trái nghĩa.
Đây là một thuật
ngữ quen dùng biểu thị một diễn đạt phản nghĩa với một diễn đạt khác;
chẳng hạn, tall-cao là từ phản nghĩa của short-lùn
(và ngược lại). Do vậy, tall và short là những từ trái
nghĩa.
Argument: Tham
tố.
Là một thuật ngữ
được ngôn ngữ học vay từ triết học (nhất là, từ phép tính vị từ / toán
thuật vị từ) nhằm miêu tả vai trò đã đóng bằng các loại hình cá biệt
(biệt dạng) của các biểu đạt trong cấu trúc nghĩa của những câu. Trong
một câu như, John hit Fred, John đánh Red. Toàn bộ câu này
được cho là một mệnh đề [proposition] (hạn từ này quen
dùng để miêu tả nội dung nghĩa của một tiểu cú-clause) và chủ yếu là ở
vị từ hit và hai tham tố của nó là John và Fred. Cả
hai tham tố này trình hiện hai chức cấp tham gia (participant)
trong hành vi đánh, và vị từ là sự biểu đạt (trường hợp ở
đây là vị từ hit) miêu tả hành động mà cả hai được tham gia trong
đó. Bằng cách mở rộng ra, trong một câu, chẳng hạn, John says he
hates syntax, John nói mình không ưa cú pháp. Ở đây,
predicate (thuật từ-từ ngữ trần thuật) là vị từ say và hai
tham tố của nó là John và tiểu cú he hates syntax; tuần
tự, tham tố thứ nhì he hates syntax là một mệnh đề mà
predicate của nó là hates và hai tham tố của nó, trong bản
chất hay nội tại, là he và syntax được định vị trong V-bar
(V-có dấu gạch ngang) và trong khi chủ ngữ của một vị từ phải đặt bên
ngoài V-, thì những bổ ngữ vẫn được hồi chỉ cho các tham tố nội tại. Các
biểu đạt mà không có chức năng tham tố được gọi là phi tham tố.
Cấu trúc tham tố của một predicate cung ứng sự miêu tả về cách
tập hợp những tham tố đã tương ưng với predicate (thuật từ) và
vai tham tố, mỗi vai thực hiện qua liên hệ với predicate.
Aspect: Dạng tử,
thể, cục diện.
Trên mặt điển
dạng, đây là một hạn từ quen dùng để biểu thị thời lượng (duration) hay
khoảng thời gian của một hành vi được một vị từ miêu tả (chẳng hạn, có
phải hành vi này đang diễn tiến hoặc đã hoàn thành hay không). Chẳng
hạn, trong các câu sau đây:
(i) He has
taken the medicine (Anh ấy đã uống thuốc rồi)
(ii)
He is taking the medicine (Anh ấy đang uống thuốc)
Phụ ngữ [trợ từ]
has được cho là một bổ ngữ đánh dấu thể hoàn thành
(perfective aspect). Do vì nó đánh dấu sự hoàn thành (trong ý nghĩa
‘xong rồi’ hay ‘kết thúc’) của hành vi uống thuốc; do những lý do như
thế, nên taken được cho là một hình thái vị từ (quá khứ) hoàn
thành (cho dù, theo truyền thống văn pháp, nó được quy là quá khứ
phân từ). Cũng thế, nó cũng được cho là một (phụ ngữ) đánh dấu
thể vị thành hay thể diễn tiến trong câu (ii), bởi vì, nó
liên hệ đến một hành vi chưa được kết thúc (tức là chưa được hoàn hành)
và do vậy, nó đang diễn ra hay trong tiến trình, (với lý do này), is
trong câu (ii) vẫn được quy là phụ ngữ diễn tiến hay phụ ngữ
vị thành; trong cùng một cách như vậy, vị từ taking trong câu
(ii), được cho là hình thái (phân từ) vị thành hay phân từ
diễn tiến
của một vị từ (cho dù, theo truyền thống văn pháp, nó được minh dụ là
hiện tại phân từ).
Attraction: Hấp
lực, hình thái đồng hóa.
Sự chuyển vị một
tập hợp của những nét từ vị trí phạm trù này đến vị trí phạm trù khác.
Attributive
adjectives: Các tính ngữ làm định ngữ
Là những tính ngữ
đươc quen dùng để trang sức (modify, bổ ngữ) cho một diễn đạt danh từ
theo sau—chẳng hạn, màu đỏ, trong câu, John has a red Ferrari
(John có một chiếc Ferrari màu đỏ), ở đây red quy vào các thuộc
tính mà màu đỏ sẽ có cho danh từ Ferrari. Các tính ngữ làm phụ ngữ này
khác với những tính ngữ vị từ, đây là những tính ngữ được quen
dùng trong các cấu trúc, chẳng hạn, the house was red, They
painted the house red, v.v... (ở đây, thuộc tính sẽ thành màu đỏ
[being red], được cho là vị từ hóa của biểu đạt ngôi nhà).
Aux. / Auxiliary:
Phụ ngữ, trợ từ
Một thuật ngữ
quen dùng để miêu tả những yếu tố hay các đơn vị, chẳng hạn, will,
would, can, could, shall, should, may, might, must, ought, và một
vài sử dụng của have, be, do, need, dare. Những đơn vị như thế
sai biệt từ những vị từ của loại hình từ vựng, chẳng hạn, vì chúng là
đối tượng chịu tác động đảo câu (inversion) (tham chiếu,
Can I help you?).
Auxiliary
inversion. Xem inversion.
Auxiliary
selection: Tuyển chọn phụ ngữ, tuyển trợ từ
Thuật ngữ này
liên hệ đến hình loại vị từ mà một phụ ngữ đã nêu, chọn lọc với tư cách
là bổ ngữ (túc từ) của nó, chẳng hạn, trong nhiều ngôn ngữ, (đối tác
của) be khi quen dùng như là một trợ từ hoàn thành chỉ tuyển chọn
một túc từ được vị từ phi đối cách dẫn đầu (nhu come, go
v.v...) trong khi đó, (đối tác của) have chọn ra một túc từ
đã được dẫn đầu bằng những loại hình vị từ khác.
-bar Dấu gạch
ngang – dùng sau chữ cái (như X-)
Một X- (X có dấu
gạch ngang, chữ cái nào đó có dấu gạch ngang) / kết cấu X là một phóng
chiếu trực tiếp của trung tâm X- nào đó, nghĩa là, một phóng chiếu mà nó
có độ rộng hơn X- nhưng nhỏ hơn XP (xem projection). Một cách sử
dụng khác của hạn từ này, (ở đó, hậu tố -bar có nhiều chức năng như tiền
tố non-. Một A-bar / vị trí Ā là một vị trí phi tham tố (xem
Argument ở trên).
Thư mục tham
khảo
Luận thành duy
thức /
Tuệ Sỹ (Tập một)
Tự điển thuật ngữ
ngôn ngữ học đối chiếu
/ Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng.
Những phương pháp
của ngôn ngữ học cấu trúc
/ Z.S Harris /
Cao Xuân Hạo dịch giải.
Ngữ nghĩa và tính
khoa học của tiếng Anh
/ Trần Hữu Kỳ
Deutsch als
premdsprach / Langenscheidt
(L)
現代漢語六百詞 /
商務印書館
The penguin
dictionnary of language
Kompaktwörterbuch
neugriechisch
/ Pons.
Italien grammar
and verb
/ Berlitz
Syntax
/ A. Radford
Language and
problems of knowledge
/ Chomsky
Aspects of the
theory of syntax
/ Chomsky
Language and
thought
/ Chomsky
New horizons in
the study of language and mind
/ Chomsky
Essays on
grammatical theory and universal grammar
/ Doug Arnold, Martin Atkinson, Lousia Sadler.
Semantic analysis
linguistics
/ H.G Widdowson.
Classical world
an epic history of Greec and Rome
/ Robinlane Foxs
Context and
content
/ Stal Naker
An introduction
to descriptive linguistics
/ H.A. Gleason
Performance and
competence in second language acquisition
/ Goalien Brown, John Williams.
Grammaire
française syntaxe de la phrase
/ Trần Thế Hùng
Précis de
grammaire historique de la française
/ Clarles Bourneau.
La linguistique
/ Jean Perrot.
|