|
TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số 7 - PL. 2552
[MỤC LỤC]
GIỚI THIỆU
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN KINH PHÁP HOA
THÍCH THÁI HÒA
Ấn Độ
Hầu hết các kinh
điển từ Nguyên thủy đến Đại thừa đều có điểm thống nhất rằng: Sau khi
Đức Thế Tôn thành đạo, Ngài không vội chuyển vận pháp luân, vì nghĩ
rằng: “Giáo pháp do Ngài vừa chứng ngộ quá thâm diệu, cao quý, siêu lý
luận, chỉ có kẻ trí mới thấu hiểu, còn đa số quần chúng thì đam mê ái
dục, chạy theo ái dục, khó mà thấy được nguyên lý duyên khởi, nguyên lý
tịch tịnh của các hành”.
Phạm
thiên Sahampati đọc được luồng sinh khí ấy, nên đã xuất hiện trước Đức
Thế Tôn, thỉnh cầu Ngài chuyển vận pháp luân.
Bấy
giờ, Đức Phật nhìn hồ sen, thấy sen trong hồ có thứ đã lên khỏi bùn,
nhưng chưa lên khỏi mặt nước, có thứ đã lên khỏi mặt nước, nhưng chưa nở
hoa, có thứ chỉ hé nụ sắp sửa nở,… Đức Phật liền nghĩ: “Hết thảy chúng
sanh ở nơi thế giới này cũng đều như thế. Có người trình độ thấp, có
người trình độ vừa, có người trình độ cao, nhưng tất cả trình độ ấy nếu
gặp được giáo lý do Ngài giảng dạy, họ cũng sẽ tu tập và được giải
thoát, giác ngộ”.
Chính suy nghĩ về điểm này, mà Đức Như Lai thiết lập phương tiện để giáo
hóa, như Ngài đã nói ở phẩm Phương Tiện kinh Pháp Hoa:
“Tư duy như vậy rồi,
liền đến Ba La Nại
các pháp tướng vắng lặng
không thể diễn bằng lời.
Nhưng dùng sức phương tiện
nói cho năm Tỷ-kheo
gọi là chuyển Pháp luân
có danh từ Niết-bàn
cùng danh A-la-hán
với danh xưng Pháp, Tăng.
Từ đó đến ngày nay
chỉ khen pháp Niết-bàn
diệt tận khổ sinh tử
Tôi thường nói như vậy”.
Và,
khi đến vườn Nai, trước hết Đức Phật khuyên năm anh em Kiều Trần Như,
nên từ bỏ hai cực đoan là ép xác khổ hạnh và buông lung trong các dục mà
thực hành Trung đạo.
Trung đạo ở đây là Bát Chánh Đạo. Sau đó, Đức Thế Tôn chuyển vận pháp
luân ba lần với mười hai hành tướng Tứ Thánh Đế cho năm anh em Kiều Trần
Như, từ đó Phật – Pháp - Tăng có mặt một cách đầy đủ cả sự và lý.
Như
vậy, theo tinh thần diễn tả trong phẩm Phương Tiện kinh Pháp Hoa, thì
phương tiện và cứu cánh của kinh Pháp Hoa đã có mặt ngay ở buổi chuyển
Pháp luân đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như qua pháp thoại Tứ Thánh
Đế.
Ở
vườn Nai, Đức Phật dạy cho năm anh em Kiều Trần Như và pháp Tứ Thánh Đế
bằng chính cái thấy, cái biết của Ngài mà ta có thể thấy rõ như sau:
Đức
Phật nói:
Đây là Khổ. Đó là “khai Phật tri kiến”.
Đây là Tập. Đó là “thị Phật tri kiến”.
Đây là Diệt. Đó là “ngộ Phật tri kiến”.
Đây là Đạo. Đó là “nhập Phật tri kiến”.
Và
ta có thể hiểu thêm khi Đức Phật chuyển vận mỗi Thánh Đế, thì trong mỗi
Thánh Đế đều có đủ cả “khai- thị- ngộ- nhập Phật tri kiến”.
Như
vậy, mục đích của Đức Phật ra đời là “khai thị ngộ nhập Phật tri kiến
cho chúng sanh”, như Ngài đã nói ở phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa.
Tuy,
Đức Phật khai thị ngộ nhập Phật tri kiến một cách bình đẳng như vậy,
nhưng tùy theo căn cơ, nhân duyên của người lãnh hội mà có sự sai thù,
dị biệt. Và cũng chính từ đó, mà có Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và
Bồ-tát Thừa. Phẩm Dược Thảo Dụ của kinh Pháp Hoa đã minh họa cho điều
này hết sức rõ ràng.
Pháp
Đức Phật dạy mang tính xuyên suốt từ khi Ngài chuyển Pháp luân tại vườn
Nai cho đến khi Ngài nhập Niết-bàn tại Sala song thọ. Như ở phẩm Phương
Tiện của kinh Pháp Hoa, Ngài nói:
“Từ đó đến ngày nay
Chỉ khen pháp Niết-bàn
Diệt tận khổ sinh tử
Tôi thường nói như vậy”.
Chúng ta biết rằng, ở vườn Nai, Đức Phật đã chuyển vận đầy đủ Tứ Thánh
Đế với mười hai hành tướng, nhưng ba hành tướng của Diệt Thánh Đế mới là
chủ chốt trong sự chuyển vận pháp luân, vì đó là Thánh Đế siêu lý luận,
thâm diệu, đến để mà thấy và tự mình chứng nghiệm.
Và
trong Tứ Đế, Diệt đế là cứu cánh. Ba Đế kia là phương tiện để đạt tới
cứu cánh. Nên, phương tiện ấy cũng là phương tiện của cứu cánh.
Khổ-Tập-Đạo được vận dụng và thiết lập từ Diệt đế. Và Diệt đế chính là
Niết-bàn của Phật, là chân lý tối hậu mà Phật muốn chỉ bày cho hết thảy
chúng sanh ngộ nhập.
Diệt
đế là bình đẳng đối với hết thảy chúng sanh, bởi hết thảy chúng sanh ai
cũng có tự tính Niết-bàn. Và Diệt đế cũng là Phật tính, nên dù cho Đức
Phật trải qua hơn bốn mươi năm thuyết pháp, bằng cách này hoặc bằng cách
khác cũng để chỉ bày Phật tính, hay tự tính Niết-bàn, hoặc Diệt đế chân
thật cho chúng sanh mà thôi.
Như
vậy, chủ điểm của kinh Pháp Hoa đã có mặt ngay ở buổi pháp thoại đầu
tiên của Đức Phật tại vườn Nai và xuyên suốt cả cuộc đời hoằng pháp của
Đức Thế Tôn, khi thì Ngài nói bằng cách này, khi thì Ngài nói bằng cách
khác, hoặc xa, hoặc gần, hoặc sâu, hoặc cạn, hoặc trực tiếp, hoặc ẩn dụ,
hoặc nhân duyên, hoặc kể chuyện…, khiến cho thính chúng tùy theo căn
tính mà thâm nhập.
Ngài
Trí Khải (537-596) - Tổ sư Thiên Thai Tông của Trung Hoa, trong bài kệ
phán giáo, Ngài cho rằng; Đức Thế Tôn thuyết kinh Pháp Hoa từ năm thứ 42
kể từ khi Ngài thành đạo. Có thể theo Ngài Trí Khải, từ năm thứ 42 sau
ngày Thế Tôn thành đạo, Ngài chỉ dạy cho đại chúng thuần giáo lý Pháp
Hoa. Nhưng, đây chỉ là sự phán giáo có tính cách tương đối.
Sự
sắp xếp tuyển chọn và hệ thống hóa các kinh điển thành A Hàm, Nikàya,
cho đến các kinh điển Đại thừa đều là của chư Tổ mà hoàn toàn không phải
là Phật.
Đức
Phật thuyết pháp là đối cơ, nhưng mà đối cơ có chủ đích. Những pháp
thoại Ngài nói ra cho các đệ tử, được các đệ tử ghi nhớ, thuộc lòng và
truyền tụng bằng nhiều loại thổ ngữ.
Sau
Đức Phật nhập Niết-bàn khoảng bốn tháng, Tôn giả Mahàkassapa (Đại Ca
Diếp) đã triệu tập một hội nghị tại núi Saptaparnaguha (Thất Diệp) ở
Rajgrha (Vương Xá) để kết tập kinh luận. Hội nghị kéo dài đến bảy tháng,
Tôn giả A-nan gom tụng những gì thuộc về Kinh tạng. Tôn giả Ưu Ba Ly gom
tụng những gì thuộc về Luật tạng. Sau đó được hội nghị giám định, gạn
lọc và thông qua.
Một
trăm bốn mươi năm, sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, một hội nghị khác
được triệu tập tại thành phố Vesàli để kết tập kinh điển. Hội nghị này
có bảy trăm Tỷ-kheo được mời tham dự và kéo dài đến tám tháng mới hoàn
thành. Mục đích hội nghị này là hợp tụng lại kinh điển và giám định mười
điều luật mới của nhóm Tỷ-kheo Bạt Kỳ đưa ra.
Hội
nghị một và hai chỉ là khẩu dịch và ngôn ngữ chính được sử dụng trong
hai hội nghị này là Ardha-magadhi. Các ngôn ngữ khác đều có thể được sử
dụng, nhưng đều chuyển thành ngôn ngữ Ardha-magadhi.
Hội
nghị thứ ba được tổ chức tại Pataliputra (Hoa Thị Thành) vào khoảng năm
244 trước Kỷ nguyên, dưới sự bảo trợ của vua Asoka (A Dục). Ngài
Moggallanaputra-tissa (Mục Kiền Liên Đế Tu), đã đứng ra triệu tập gồm
1000 vị Tỷ-kheo về hội nghị để kết tập lại kinh điển, thời gian kéo dài
đến chín tháng mới hoàn thành.
Hội
nghị kết tập kinh điển lần thứ tư của Hữu bộ tại Kashmir dưới triều đại
Kaniska (Ka Nị Sắc Ca).
Nguyên do có hội nghị này là vua Kaniska cứ mỗi ngày thỉnh một vị Tăng
vào cung thuyết pháp, nhưng vua nghe giáo nghĩa của các vị giảng không
giống nhau, vua ngờ vực, liền đem hỏi Ngài Pàrsva (Hiếp Tôn giả). Ngài
Pàrsva trình bày cho vua biết lý do Phật giáo có nhiều bộ phái khác
nhau. Nghe vậy, vua muốn thống nhất ý nghĩa của các bộ phái Phật giáo
lại, nên đã phát nguyện mở đại hội kết tập.
Hội
nghị này, tổ chức tại Tinh xá Hoàn Lâm (Kundalavana-samghàràma), với 500
vị Tỷ-kheo tham dự.
Ngài
Vasumitra (Thế Hữu) làm Thượng thủ, các Ngài Dharmatràtà (Pháp Cứu),
Gosa (Diệu Âm), Buddhadeva (Giác Thiên, và Pàrsva (Hiếp Tôn Giả), là
những vị chú thích tam tạng.
Kinh
tạng gồm mười vạn bài tụng, Luật tạng gồm mười vạn bài tụng và Luận tạng
gồm mười vạn bài tụng. Cả ba tạng gồm có 30 vạn bài tụng hàm chứa 600
vạn lời.
Kỳ
kết tập này, tam tạng được khắc vào bản đồng và mất hết 12 năm mới hoàn
thành. Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư này xảy ra vào khoảng thế
kỷ thứ hai Tây lịch.
Trong lần kết tập lần thứ hai, giáo đoàn đã có dấu hiệu phân hóa do quan
điểm hiểu Phật và tiếp cận giáo lý.
Và
sau lần kết tập này, các vị Đại đệ tử tùy theo cách nhớ, cách hiểu giáo
lý của Đức Phật và đã truyền tụng giáo lý ấy cho các hàng đệ tử tại các
trung tâm tu học.
Các
trung tâm tu học được thiết lập tại Bắc Ấn, thầy truyền tụng kinh điển
cho trò, cứ như vậy từ thế hệ này qua thế hệ khác, suốt hai trăm năm đến
thời đại vua A’soka thì khẩu truyền kinh điển Nguyên thủy mới hoàn
chỉnh.
Bấy
giờ các đệ tử của Phật có nhiều sắc dân khác nhau, nên lúc còn tại thế,
Đức Thế Tôn thuyết pháp bằng nhiều loại thổ ngữ. Và ngôn ngữ được Ngài
sử dụng nhiều nhất là Magadhi, vì đây là sắc dân chính và đa số là đệ tử
của Ngài. Do đó, trong các hội nghị kết tập kinh điển một, hai và ba,
phần nhiều đều sử dụng ngôn ngữ Magadhi để kết tập. Nên, bước đầu truyền
bá và khẩu dịch kinh điển, Tăng đoàn phần nhiều sử dụng ngôn ngữ Magadhi
này.
Như
vậy, kinh điển Nguyên thủy khởi đầu bằng tiếng Magadhi vào thời đại vua
A Dục và hoàn chỉnh bằng truyền tụng mà không phải bằng văn bản.
Kinh
tạng này truyền đến xứ Avanti (A-bàn-đề), trên bờ phía bắc sông Narmada,
thì tại đây hai loại ngôn ngữ Magadhi và Avanti đã phối hợp với nhau tạo
thành ngôn ngữ Pāli phôi thai. Và kinh điển Nguyên thủy bằng Magadhi đã
được dịch ra bằng tiếng Pāli phôi thai này tại xứ Ujjayini
(Ô-xa-diễn-ni), thủ phủ của Avanti (A-bàn-đề).
Từ
Avanti, Ngài Mahinda - hoàng tử của vua A Dục là học trò của Ngài Ca
Chiên Diên mang tạng kinh khẩu dịch bằng Pāli phôi thai này đi thuyền
dọc theo vịnh Oman đến truyền bá tại Tích Lan.
Và
cũng từ thủ phủ Ujjayini của xứ Avanti, kinh tạng khẩu truyền bằng tiếng
Magadhi lại được truyền lên phương Bắc, tiếp giáp với Ngũ Hà nơi thổ ngữ
Prakrit, đây là loại thổ ngữ cổ của Sanskrit.
Tại
vùng Ngũ Hà này, một số kinh điển được dịch ra bằng tiếng Prakrit. Ngày
nay, các nhà khảo cổ học, sử học đã phát hiện ra nhiều bản kinh nguyên
thủy được ghi lại bằng ngôn ngữ này trên lá bối.
Lại
nữa, kinh tạng Nguyên thủy bằng ngôn ngữ Magadhi lại truyền tụng đến
vùng Kashmir, là nơi quê hương của cổ ngữ Veda (Vệ-đà). Phái Hữu bộ đã
lập căn cứ hoằng pháp tại đây vào thời vua A Dục, khoảng thế kỷ thứ III
trước Tây lịch.
Tại
Kashmir, tiếng Sanskrit cổ đã được gạn lọc và chuyển hóa thành loại
Sanskrit thuần. Các Tăng sĩ đã sử dụng loại Sanskrit thuần này để phiên
dịch và san định lại kinh điển, gọi là Agāma (kinh Tạng A Hàm).
Tuy
nhiên, hiện nay các nhà sử học và khảo cổ học cũng đã phát hiện ra nhiều
bản kinh tạng nguyên thủy bằng tiếng Sanskrit tạp chủng.
Còn
tạng kinh nguyên thủy Pāli, tuy đã được truyền thừa từ xứ Avanti đến
Tích Lan bởi Ngài Mahinda thời vua A Dục, nhưng phải đến thời Ngài
Buddhaghosa (Phật Âm) ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 5, Tây lịch mới san
định bằng văn bản Pāli hoàn chỉnh và mệnh danh là Nikāya.
Kể
từ cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai, sau Phật diệt độ khoảng 140 năm,
giáo đoàn bắt đầu phân phái thành hai.
Một
là, Thượng tọa bộ (Sthavira), có khuynh hướng duy trì truyền thống.
Hai
là, Đại chúng bộ (Mahāsamghika) có khuynh hướng canh tân.
Từ
khi bị phân hóa kể từ lần kết tập thứ hai đến 300 năm sau, trong khoảng
thời gian này, từ hai bộ phái đã phát triển lên đến 18 bộ phái, hoặc 20
bộ phái hay 24 bộ phái.
Theo
tác phẩm Samayabhedopura-caracakra (Dị Bộ Tôn Luân Luận) của Ngài
Vasumitra (Thế Hữu) là vị làm Thượng thủ trong lần kết tập kinh điển thứ
tư của triều đại vua Kaniska, thì Phật giáo phân chia có 18 bộ phái.
Và
theo tác phẩm Dipavamsa của Nam truyền thì Phật giáo có đến 24 bộ phái.
Đương nhiên, trong quá trình phát triển các bộ phái, thì mỗi bộ phái đều
tìm đủ mọi cách để san định, phiên dịch, chú giải kinh, luật, luận, nhằm
phát triển quan điểm của bộ phái mình.
Như
vậy, xã hội Ấn Độ vào thời kỳ các bộ phái Phật giáo đua nhau phát triển,
cũng là thời kỳ đạo Phật bị phân hóa nghiêm trọng, tạo ra cho xã hội
nhiều sắc thái Phật giáo khác nhau, nó gây ảnh hưởng đến xã hội, khiến
cho tiềm năng của xã hội bị phân lực.
Thời
Phật còn tại thế, xã hội Ấn Độ có đến 62 luận thuyết, và hơn 90 tín
ngưỡng tôn giáo sinh hoạt, chúng đã tạo ra những phân lực về đời sống
tâm linh, dẫn đến sự phân hóa giai cấp trong xã hội, khiến cho những
sinh hoạt xã hội Ấn Độ bấy giờ trở thành co cụm lại, mất đoàn kết giữa
các đẳng cấp xã hội. Và ngay ở trong Tăng đoàn thời Phật, cũng đã có lần
bị phân hóa bởi chủ trương của Đề- bà-đạt-đa.
Đề-bà-đạt-đa đã liên kết với vua A-xà-thế với ý đồ lãnh đạo Tăng đoàn,
nhằm muốn thay thế vai trò của Phật, ông đã đưa ra năm luận điểm tương
tợ với lời Đức Phật dạy, nhưng cực đoan, khiến chệch hướng Thánh đạo.
Năm luận điểm ấy là:
1.
Tỷ-kheo phải suốt đời mang y phấn tảo, tức là lượm giẻ rách người ta vứt
bỏ mà làm y, tuyệt đối không nhận vải hay y của tín đồ cúng dường.
2.
Tỷ-kheo suốt đời khất thực, chứ không được thọ thỉnh cúng dường của tín
đồ.
3.
Tỷ-kheo suốt đời phải sống trong rừng, tuyệt đối không được đến các tụ
lạc.
4.
Tỷ-kheo suốt đời phải ngủ dưới gốc cây, tuyệt đối không được ngủ trong
nhà.
5.
Tỷ-kheo suốt đời không được ăn thịt, dù là ăn ba thứ tịnh nhục.
Với
những luận điểm cực đoan này của Đề-bà-đạt-đa đã bị Đức Phật bác bỏ, vì
nó không thích ứng với đời sống Trung đạo. Do đó, Đề-bà-đạt-đa đã liên
kết với vua A-xà-thế để chống báng Phật, gây phân hóa và chia rẽ Tăng
đoàn. Và mỗi khi Tăng đoàn đã bị phân hóa thì quần chúng trong xã hội
cũng bị mất niềm tin và chia rẽ trầm trọng.
Đây
cũng là một trong những lý do khiến Đức Phật phải giảng dạy giáo lý Pháp
Hoa để thống nhất mọi khuynh hướng tu tập của các hàng đệ tử xuất gia
cũng như tại gia thời Phật, làm tiền đề để dẫn đến thống nhất mọi khuynh
hướng xã hội.
Đối
với Phật giáo, chỉ có Pháp Vương là Phật. Phật là điểm đồng quy từ mọi
khuynh hướng tu học của các hàng đệ tử. Nên, ở các kinh điển, Đức Phật
thường dạy: Biển có một mùi vị duy nhất là mặn, cũng vậy Pháp của Như
Lai chỉ có một mùi vị duy nhất là giải thoát.
Ở
mặt xã hội, các kinh điển A Hàm và Nikāya có đưa ra hình ảnh của vị
Chuyển Luân Thánh Vương, vị vua này có khả năng thống nhất bốn châu
thiên hạ, đặt sự an bình của thiên hạ trên nền tảng của chánh pháp và
đạo đức căn bản của xã hội là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Nên, Thập Thiện
Nghiệp Đạo là điểm đồng quy đạo đức của tất cả những vị Chuyển Luân
Thánh Vương bình trị tứ châu thiên hạ dưới bất cứ thời đại nào.
Cũng
vậy, kinh Pháp Hoa đóng vai trò thống nhất chánh pháp thời Phật, không
những làm điểm đồng quy cho hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát mà còn
làm chỗ đồng quy cho cả Nhân thừa và Thiên thừa nữa. Nghĩa là Nhân thừa,
Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ-tát thừa đều có mặt ở
nơi Nhất thừa để chuyển tải đến Phật địa.
Nên,
kinh Pháp Hoa đóng vai trò then chốt trong việc thống nhất chánh pháp
thời Phật và sau khi Phật nhập diệt. Phẩm Phương Tiện và phẩm Như Lai
Thọ Lượng của kinh Pháp Hoa cho ta thấy rõ điểm này.
Các
nhà nghiên cứu Phật học Pháp Hoa như Winternitz hoặc Vaidya căn cứ vào
một số dịch bản Pháp Hoa của Hán tạng, và những trích dẫn Pháp Hoa ở
trong Đại Trí Độ Luận của Ngài Long Thọ để đưa ra sự đoán chừng niên đại
hình thành văn bản kinh Pháp Hoa khoảng thế kỷ đầu Tây lịch hoặc muộn
lắm là khoảng năm 150 sau Tây lịch.
Burton Watson ở trong lời giới thiệu của The Lotus Sutra, dịch phẩm của
ông bằng Anh ngữ từ bản Hán của Ngài La Thập, cũng nói rằng, không thể
biết kinh Pháp Hoa được hình thành bằng văn bản ở đâu và lúc nào, nhưng
chắc chắn phải trước năm 255 sau Tây lịch.
Tuy
nhiên, ta nên biết rằng, từ sự hình thành Pháp Hoa khẩu truyền cho đến
hình thành Pháp Hoa văn bản hoàn chỉnh cũng phải mất hết vài ba thế kỷ.
Nên,
nếu văn bản Pháp Hoa hình thành từ thế kỷ đầu Tây lịch, thì Pháp Hoa
khẩu truyền hoàn chỉnh phải xuất hiện muộn lắm phải vào thời kỳ Asoka,
nghĩa là khoảng thế kỷ thứ ba trước Tây lịch.
Như
vậy, ở Ấn Độ kinh Pháp Hoa đã đóng vai trò thống hợp giáo lý của Phật về
một điểm cho tất cả các bộ phái. Điểm ấy chính là Phật Thừa. Và vì vậy,
kinh Pháp Hoa làm chủ đạo cho việc thống nhất Phật giáo. Pháp Hoa khẩu
truyền và Pháp Hoa văn bản hình thành để đáp ứng nhu cầu ấy, nhằm đưa
Phật giáo bộ phái trở về lại với nguồn gốc chính thống của chính nó.
Sự
có mặt của Phật và tuệ giác vô thượng của Ngài, không có một trường phái
nào có thể phủ nhận, nên phải lấy Phật làm gốc. Bỏ Phật là bỏ gốc. Bỏ
Phật là bỏ đại nguyện độ sinh, để thỏa mãn những nhu cầu giải thoát
riêng tư thì phải nghèo nàn; do nghèo nàn hiểu biết và nghèo nàn vật
chất mà sinh ra tranh chấp; do tranh chấp mà bị phân hóa, dẫn đến chia
rẽ tôn giáo và xã hội.
Bởi
vậy, kinh Pháp Hoa không những đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền
Phật giáo thống nhất và không những trong thời đại của Phật mà ngay cả
những thời kỳ sau khi Phật Niết-bàn.
Kinh
Pháp Hoa với vai trò quan trọng như vậy, nên nhất định phải ảnh hưởng
đến những vị Luận sư vĩ đại của Ấn Độ như Ngài Mã Minh, Long Thọ vào
những thế kỷ đầu, sau Tây lịch; Vô Trước và Thế Thân, khoảng thế kỷ thứ
tư, sau Tây lịch.
Ngài
Long Thọ đã trích dẫn kinh Pháp Hoa để làm luận chứng cho tác phẩm Đại
Trí Độ Luận của mình và Ngài Thế Thân đã giảng luận Pháp Hoa qua tác
phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu-ba-đề-xá, tác phẩm này đã được
Lặc-na-ma-đề và Tăng Lãng dịch sang Hán văn đời Nguyên Ngụy và Bồ Đề Lưu
Chi, Đàm Lâm dịch sang Hán văn vào thời đại Hậu Ngụy.
Ngày
nay, các nhà nghiên cứu Phật học Ấn Độ phần nhiều dựa vào các kinh bản
đã được tuyển dịch bằng Pàli của Phật giáo Tích Lan, Hán bản của Phật
giáo Trung Hoa, Tạng bản của Phật giáo Tây Tạng và một ít văn bản
Sanskrit, hoặc Prakrit phát hiện được ở vùng Karmir hoặc Nepal, trên các
trụ đá hoặc lá bối, nên khó định vị được nguyên trạng và chính xác những
gì của Phật giáo Ấn Độ thời Phật tại thế và suốt cả chiều dài lịch sử
mười mấy thế kỷ của Phật giáo Ấn Độ tiếp diễn sau đó. Bởi lẽ thế kỷ
XIII, Ấn Độ đã bị xâm lăng từ Ba Tư khiến tôn giáo bản địa bị quét sạch
bởi thế lực sắc máu của tôn giáo thực dân.
Phật
giáo gần như bị tuyệt chủng tại Ấn Độ, chùa chiền, tu viện, kinh sách bị
đập phá, thiêu hủy toàn bộ, vắng bóng trên đất Ấn đến bảy trăm năm.
Và
lại nữa, Phật giáo Ấn Độ cũng bị kỳ thị bởi Bà la môn giáo. Chính những
bi kịch lịch sử chính trị và tôn giáo này, khiến cho chúng ta ngày nay
khó mà nhận ra nguyên trạng kinh điển Phật giáo của Ấn Độ thời Phật.
Và
cũng vì vậy, khi các nhà Phật học nghiên cứu kinh Pháp Hoa đưa ra những
câu hỏi rằng: Hội đồng phiên dịch kinh Pháp Hoa ở Ấn Độ bằng khẩu truyền
và văn bản gồm những ai và sự kiện ấy xảy ra lúc nào, do ai chủ xướng?
Đấy là những câu hỏi mà không bao giờ có câu trả lời chính xác.
Nhưng, căn cứ vào kinh bản Pháp Hoa, ta đã biết một cách chắc chắn rằng,
tạo thành văn bản Pháp Hoa không ai khác hơn, chính là những vị phân
thân của Phật Thích Ca dưới hình thức chư Tổ.
Trung Quốc:
Phật
giáo truyền đến Trung Quốc có bảy thuyết, trong đó thuyết khẩu truyền
Phật giáo của Y Tồn cho rằng, niên hiệu Nguyên Thọ năm thứ nhất của thế
kỷ thứ II trước Tây lịch, đời vua Ai Đế nhà Tiền Hán, có Y Tồn sứ giả
nước Đại Nhục Chi, đem đạo Phật truyền miệng cho Trần Cảnh Hiên.
Và
thuyết, niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 (67 T.L), đời vua Minh Đế nhà Hậu
Hán, cho rằng: Vua Hán Minh Đế nằm mộng thấy người vàng có hào quang rực
rỡ, tới từ phương Tây (Ấn Độ) làm sáng rõ cả cung đình. Vì vậy, vua đoán
biết có Phật giáo ở Ấn Độ, liền sai các tướng Thái Hâm, Vương Tuân, Tần
Cảnh, phái đoàn gồm có 18 người sang Tây Vức (Ấn Độ) để thỉnh tượng
Phật.
Phái
đoàn trên đường đi Ấn Độ, nửa đường gặp Ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc
Pháp Lan đang chở kinh tượng đi về phía Đông, phái đoàn liền cung thỉnh
hai Ngài đến Trung Quốc. Bấy giờ vua Minh Đế rất mừng, liền chiếu sắc
dựng chùa Bạch Mã để thờ Phật và làm nơi phiên dịch kinh điển cho hai
Ngài.
Hai
thuyết này được nhiều nhà Phật học công nhận tính tương đối chính xác so
với năm thuyết kia.
Kinh
Tứ Thập Nhị Chương
được hai Ngài Ca Diếp Ma Đằng (Kàsyapamàtangà) và Trúc Pháp Lan
(Dharmaraksa) phiên dịch và lưu truyền sớm nhất tại Trung Quốc.
Các
từ ngữ A-la-hán, Bích Chi Phật, Bồ-tát, Phật đã được các Ngài chuyển tải
ở trong kinh này. Lại nữa, kinh này dã sử dụng các từ ngữ như Vô niệm,
vô trụ, vô tu, vô chứng, để diễn tả Pháp thân Phật, Phật thể hay Phật
tính.
Như
vậy, ta thấy giáo lý Đại thừa đã đến với Phật giáo Trung Hoa rất sớm.
Nhất là giáo lý Phật tính hay Phật pháp thân.
Lại
nữa, bản kinh Tứ Tập Nhị Chương là bản kinh có gạn lọc để tuyển dịch,
nên nó bao quát hết thảy các giáo lý từ Nguyên thủy đến Đại thừa, và từ
Nhân thừa đến Phật thừa, do đó nếu ta nghiên cứu và phân tích kỹ càng
hơn thì giáo nghĩa kinh Pháp Hoa cũng đã hàm chứa ở trong bản kinh này.
Và
theo thuyết khẩu truyền của Y Tồn, ta cũng có thể suy đoán rằng; các câu
chuyện như: “ba cõi là nhà lửa, hóa thành dụ, hạt minh châu trong chéo
áo,…” của kinh Pháp Hoa có thể đã được khẩu truyền đến Trung Hoa trước
bản dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương một vài thế kỷ, nghĩa là trước kỷ
nguyên Tây lịch.
Bởi
lẽ, cách đây hơn hai ngàn năm, việc hình thành một văn bản và văn bản ấy
phổ cập đến mọi thành phần xã hội không đơn giản chút nào, nên việc khẩu
truyền là phương tiện chuyển đạt đến mọi người rất nhanh chóng.
Do
đó, tôi nghĩ rằng, khẩu truyền về kinh điển Đại thừa, trong đó có kinh
Pháp Hoa truyền đến Trung Hoa trước cả kinh Tứ Thập Nhị Chương là điều
mà chúng ta có thể tin được.
Kinh
Pháp Hoa dịch từ Phạn sang Hán có sáu bản:
1.
Pháp Hoa Tam muội: Sáu cuốn, do Chi Cương Lương Tiếp dịch năm
258, tại Giao châu. Bản dịch này hiện nay hiện không còn.
2.
Tát-đàm-phân-đà-lỵ kinh: Phiên âm từ chữ
Saddharma-pundarikasutra. Bản này không ghi tên người dịch, hiện có
trong Đại chính 9, tr 197, số ký hiệu 265.
3.
Chánh Pháp Hoa kinh: Mười cuốn, Trúc Pháp Hộ dịch vào thời
Tây Tấn, năm 286. Bản dịch này hiện có ở trong Đại chính 9, tr 63, số ký
hiệu 263.
4.
Diệu Pháp Liên Hoa kinh: Bảy cuốn, do Cưu Ma la Thập dịch,
vào thời Diêu Tần, năm 404. Hiện có ở trong Đại chính 9, tr 1, số ký
hiệu 262.
5.
Phật Thuyết Pháp Hoa Tam Muội Kinh: Một cuốn, do Trí Nghiêm
dịch, vào thời Lưu Tống (420-479). Hiện có ở Đại Chính 9, tr 285, số ký
hiệu 269.
6.
Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh: Bảy cuốn, do Xà Na Quật
Đa và Cấp Đa dịch, vào đời Tùy, năm 601. Hiện có ở trong Đại chính 9, tr
134, số ký hiệu 264.
Trong các dịch bản ấy, bản dịch của Ngài La Thập, đuợc lưu truyền rộng
rãi và thường được các Nhà Phật học Pháp Hoa dựa vào để chú giải.
Trong lịch sử phát triển kinh Pháp Hoa tại Trung Hoa, vào đời Tùy, năm
538 Tây lịch có Trí Khải đại sư, đã làm ba bộ luận để chú giải kinh Pháp
Hoa gồm:
- Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa: Nói về
nghĩa lý mầu nhiệm của kinh Pháp Hoa. Hai mươi cuốn. Hiện có ở trong
Đại chính 33, tr 681, số ký hiệu 1716.
- Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú: Giải thích từng
câu từng chữ của kinh Pháp Hoa. Hai mươi cuốn. Hiện có ở trong Đại
chính 34, tr 1, số ký hiệu 1718.
- Ma Ha Chỉ Quán: Nói về pháp Chỉ và Quán theo
kinh Pháp Hoa, hai mươi cuốn, hiện có ở Đại Chính 46, tr
- 01, số ký hiệu 1911.
Ngài
Trí Khải đã thành lập Pháp Hoa Tông, lấy kinh Pháp Hoa làm tông chỉ cho
sự tu tập và hành đạo. Bấy giờ Tông phái này có ảnh hưởng rất lớn tại
Trung Hoa.
Ngoài Trí Khải ra, ở Trung Hoa cũng đã có rất nhiều Nhà Phật học chú
giải kinh Pháp Hoa như:
- Pháp Vân, đời Lương, soạn Pháp Hoa Kinh Nghĩa
Ký, tám cuốn, hiện có ở Đại Chính 33, tr 572, số ký hiệu 1715.
- Trạm Nhiên, đời Đường, thuật Pháp Hoa Huyền
Nghĩa Thích Thiêm, hai mươi cuốn, hiện có ở Đại Chính 33, tr 815, số
ký hiệu 1717.
- Trạm Nhiên, đời Đường, thuật Pháp Hoa Văn Cú
Ký, ba mươi cuốn, hiện có Đại Chính 34, tr 157, số ký hiệu 1719.
- Cát Tạng, đời Tùy, soạn Pháp Hoa Huyền Luận,
mười cuốn, hiện có ở trong Đại Chính 34, tr 361, số ký hiệu 1720;
soạn Pháp Hoa Nghĩa Sớ, mười hai cuốn, hiện có ở Đại Chính 34, tr
451, số ký hiệu 1721; và tạo Pháp Hoa Du Ý, một cuốn, hiện có ở Đại
Chính 34, tr 633, số ký hiệu 1722.
- Khuy Cơ, đời Đường, soạn Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh Huyền Tán, hai mươi cuốn, hiện có ở Đại Chính 34, tr 651, số ký
hiệu 1723.
- Tuệ Chiếu, đời Đường, soạn Pháp Hoa Huyền Tán
Nghĩa Quyết, một cuốn, hiện có ở Đại Chính 34, tr 854, số ký hiệu
1724.
- Nguyên Hiểu, Tân La, soạn Pháp Hoa Tông Yếu,
một cuốn, hiện có ở Đại Chính 34, tr 870, số ký hiệu 1725.
Kinh
Pháp Hoa đã ảnh hưởng rất nhiều trong đời sống tâm linh, đạo đức, tín
ngưỡng và văn hóa Trung Hoa, và còn rất nhiều bản chú, giải và sớ kinh
Pháp Hoa của những Pháp sư và học giả Trung Hoa ở trong các thời kỳ
Minh, Thanh và cận đại nữa.
Vào
thời cận đại, Ngài Thái Hư Đại Sư đã viết Kinh Pháp Hoa giảng lục, và
hiện nay tại Pháp Cổ Sơn, trung tâm tu học của Tăng Ni phật tử Trung Hoa
Đài Bắc, do Ngài Thánh Nghiêm xây dựng năm 1992, trên ngọn núi Kim Sơn,
có một đại hồng chung bằng đồng 25 tấn, cao 4,5m đường kính rộng 2,6m đã
khắc đầy đủ 28 phẩm kinh Pháp Hoa bằng chữ Hán.
Điều
này chứng tỏ rằng, kinh Pháp Hoa đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân
Trung Hoa suốt cả chiều dài lịch sử truyền bá của nó cho đến ngày nay.
Nhật
Bản:
Nhật
Bản kể từ thế kỷ thứ ba đến thế kỷ thứ bảy sau Tây lịch là thời kỳ phát
triển thành một quốc gia thống nhất, phát triển về văn hóa và có một nhà
nước tương đối hoàn chỉnh ra đời. Phật giáo chính thức truyền vào Nhật
Bản từ thế kỷ thứ sáu Tây lịch.
Thánh Đức Thái Tử (Shòtoku Taishi 574- 622) nhiếp chính Nhật Bản là vị
hộ pháp đắc lực đối với chánh pháp. Năm 577, Kinh Pháp Hoa bản dịch của
Ngài La Thập, truyền đến Naniwa, nay là Osaka ở Nhật bản.
Năm
614, Thánh Đức Thái Tử giảng kinh Pháp Hoa cho Vương triều và biên soạn
Pháp Hoa Nghĩa Sớ (Hokke-gisho), đây là bản kinh Pháp Hoa Nghĩa Sớ xưa
nhất của Nhật Bản, hiện có bốn cuốn, ở trong Đại Chính 56, tr 64, số ký
hiệu 2187.
Thánh Đức Thái Tử đã ban hành Hiến Pháp Thất Thập điều, dựa vào giáo
nghĩa của kinh Pháp hoa. Kinh Pháp Hoa làm tư tưởng chủ yếu cho Hiến
Pháp Thập Thất Điều của Nhật Bản và từ Hiến Pháp này, Thánh Đức Thái Tử
đã soạn bộ luật đầu tiên cho Nhật bản. Kinh Pháp hoa và tinh thần luật
do Thánh Đức Thái tử soạn hiện nay vẫn còn ảnh hưởng trong cách sinh
hoạt của nhân dân Nhật.
Những cao tăng Nhật Bản như Minh Nhất, đã biên soạn Pháp Hoa Lược Sao,
một cuốn, hiện có ở trong Đại Chính 56, tr 129, số ký hiệu 2188. Trung
Toán?, đã biên soạn Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Thích Văn, ba cuốn, hiện có
ở trong Đại Chính 56, tr 144, số ký hiệu 2189. Không Hải, biên soạn Pháp
Hoa Kinh Khai Đề, một cuốn, hiện có ở trong Đại Chính 56, tr 172, số ký
hiệu 2190. Giác Khâm? biên soạn Pháp Hoa Kinh Bí Thích, một cuốn,
hiện có ở Đại Chính 56, tr 184, số ký hiệu 2191. Viên Trân, biên soạn
Nhập Chân Ngôn Môn Trú Như Lai Thật Kiến Giảng Diễn Pháp Hoa Lược Nghi,
hai cuốn, hiện có ở Đại Chính 56, tr 189, số ký hiệu 2192.
Kinh
Pháp Hoa không những chỉ được các bậc cao tăng Nhật Bản biên chép dịch
thuật, trước tác mà còn diễn giảng và tạo thành những tông chỉ cho những
tông phái Phật giáo tại Nhật Bản nữa.
Đại
Sư Tối Trừng (Saichò 767-822), là vị lập Thiên Thai Tông đầu tiên ở Nhật
Bản. Năm hai mươi tuổi, Tối Trừng đến Nara học giáo lý Thiên Thai mà
nhất là ba tác phẩm của Trí Khải tổ thứ ba của Thiên Thai Tông Trung Hoa
(Tổ thứ nhất của Thiên Thai Tông Trung Hoa là Huệ Văn (505-577); Tổ thứ
hai là Huệ Tư (514-577), với những Phật học Nhật Bản bấy giờ. Sau đó Tối
Trừng sang Trung Hoa theo học Thiên Thai Tông với Đạo Toại, Chân Ngôn
tông với Thuận Giáo và Thiền Tông với Tu Nhiên.
Sau
một năm Tối Trừng về lại Nhật Bản, lập Thiên Thai Tông Nhật Bản và giảng
kinh Pháp Hoa. Không những vậy, Tối Trừng còn lập Chân Ngôn Mật Giáo,
Thiền Tông và Luật Tông. Trung tâm giảng dạy của Tối Trừng là ở núi Hiei
(Tỉ Duệ) là Trung Tâm giáo dục lớn nhất của Phật giáo Nhật bản bấy giờ.
Đại
Sư Nhật Liên (Nichiren 1222-1282), xuất thân trong một gia đình ngư phủ
ở Kaminato, Awa (An phòng Tiểu ấu), ở miền nam duyên hải nước Nhật. Lớn
lên 15 tuổi được gởi đến Thanh Từng (Kiyozumi), một Tu viện gần nhà để
hành điệu.
Trong thời gian hành điệu, sự thắc mắc lớn nhất của Nichiren là “Thế nào
là sự thật mà đức Phật đã giảng dạy?” Sự thắc mắc ấy của Ngài không được
giải quyết thỏa đáng ở Thanh Từng. Nichiren tìm đến Kiếm Thương và học
đạo ở núi Tỷ Duệ, Nichiren liễu ngộ được kinh Pháp Hoa, theo cách nhìn
của Thiên Thai Tông và Nichiren tuyên bố: “Pháp Hoa là pháp duy nhất cứu
độ chúng sanh ra khỏi thời đại suy đồi”. Sự hành trì theo Pháp Hoa là
luôn luôn trì tụng đề kinh Pháp Hoa đừng đề gián đoạn. Theo Nichiren, đề
kinh Pháp Hoa bao gồm đầy đủ cả lý nghĩa và hành sự của Pháp Hoa, nên
chỉ cần niệm “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”, bất cứ lúc nào và ở đâu
là toàn thể kinh Pháp Hoa đều có mặt. Theo Nichiren, kinh Pháp Hoa là
thông điệp chân thật sau cùng của đức Phật. Nichiren đã diễn giảng Pháp
Hoa với tinh thần mới và thành lập Pháp Hoa Tông mới, để truyền bá tinh
thần Pháp Hoa theo cách nhìn của ông, người ta gọi Tông phái Pháp Hoa
mới của ông là Nhật Liên Tông để gắn liền với tên ông. Ông cũng đã bị
chống đối rất nhiều và cũng đã gặp nhiều khó trên con đường hoằng pháp
và mất tại Ikegami, gần Tokyo, năm 1282.
Tinh
thần truyền bá Pháp Hoa ở Nhật Bản theo Nhật Liên Tông được tiếp tục một
thời gian bởi các đệ tử của ông, nhưng sau đó lại bị phân hóa và lu mờ
trên đất Nhật. Tuy vậy, Nhật Liên Tông vẫn còn duy trì trên đất Nhật cho
đến ngày nay.
Vào
thời cận đại và hiện đại, các Nhà học giả Nhật Bản như: Susuki, cũng đã
nghiên cứu kinh Pháp Hoa và đã trình bày kinh này ở trong tác phẩm Thiền
luận của ông; Junjiro Takakusu cũng đã nghiên cứu kinh Pháp Hoa và đã
trình bày kinh Pháp Hoa trong tác phẩm The Essentials of Buddhism
Philosophy nghiên cứu của ông và đã được Đại học Hawaii, Honolulu xuất
bản đầu tiên năm 1947 và tái bản vào những năm 1949, 1956; Nikkyo Niwano
ông đã nghiên cứu ba bộ kinh Pháp Hoa, gồm Kinh Vô lượng nghĩa
(Muryògi-kyò), Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Myòhò Renge-kyò) và Kinh Quán
Bồ-tát Phổ Hiền Hạnh Pháp (Kan-fugen-bòsutsugyòbò-kyò), dưới cách nhìn
mới và tác phẩm nghiên cứu của ông đã được Kòjiro Miyasaka dịch ra tiếng
Anh với tên là Buddhism For Today.
Ba
bộ kinh Pháp Hoa này, là bản dịch của Bunnò Katò, Yoshirò Tamura và
Kòjorò Miyasaka, với sự hiệu đính của W.E. Soothhill, Wilhem Schiffer,
Pier P. Del Campana và Risshò Kòsei Kai vào các năm 1971, 1974, 1975 và
do Kòsei Publishing Company, Tokyo xuất bản 1975.
Kinh
Pháp Hoa được dịch ra tiếng Nhật hiện nay có ít nhất là năm bản:
1.
Phạn Hán Đối Chiếu Tân Dịch Pháp Hoa kinh: Do Hàn Lâm Đại Học Sĩ Nanjoo
dịch bằng sự đối chiếu giữa Hán và Phạn vào năm 1913.
2.
Phạn Bản Hòa Dịch Pháp Hoa Kinh: Do hai giáo sư Sakamoto và Iwamoto
dịch từ bản Phạn ngữ Nespal và nguyên bản của Kimarajiva.
3.
Phạn Tạng Truyền Dịch Quốc Dịch Pháp Hoa Kinh: Do giáo sư Kawaguchi so
sánh bản tiếng Phạn và bản Tây Tạng mà dịch sang Nhật ngữ.
4.
Hòa Dịch Pháp Hoa Kinh: Do giáo sư Yamagawa kê cứu các hán bản mà dịch
sang Nhật ngữ.
5.
Hán Hòa Đối Chiếu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh: Do giáo sư Shimachi và một số
học giả khác so sánh và kê cứu các bản kinh đang lưu hành để giám giám
định lại kinh Pháp hoa Nhật ngữ.
Như
vậy, kinh Pháp Hoa có mặt ở Nhật bản vào thế kỷ thứ sáu đã tạo ra một
nguồn sinh lực lớn cho những sinh hoạt tín ngưỡng, đạo đức, văn hóa,
nghệ thuật, giáo dục và chính trị, góp phần rất lớn vào những văn minh
nước Nhật ngày nay.
Việt
Nam:
Bản
Pháp Hoa Tam Muội Kinh là bản kinh do Đạo Hinh - Cương Lương Lâu Tiếp
dịch sang Hán tại Giao Chỉ, năm 258 và lưu truyền tại Việt Nam sớm nhất,
nhưng văn bản của kinh đã bị thất lạc.
Các
dịch bản Kinh Pháp Hoa khác, cũng đã truyền đến Việt Nam muộn lắm là
khoảng 450 TL, vì trong lá thư Đạo Cao gởi cho Lý Miểu có trưng dẫn kinh
Pháp Hoa bàn về sự có mặt của Đức Phật tại Linh Sơn khoảng trong thời
gian này.
Đọc
các tác phẩm văn học Lý Trần về mặt Phật học hiện có, ta thấy giáo lý
Bát Nhã và Kim Cang có ảnh hưởng rất lớn đối với những tác phẩm này hơn
kinh Pháp Hoa.
Tuy
vậy, nhưng đọc tháp bia Sùng Thiện – Diên Linh của chùa núi Long Đội
(nay thuộc xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà, tháp bia này hiện
nay vẫn còn), của vua Lý Nhân Tông (1072 – 1128), ta thấy văn bia có
nhắc đến Thí dụ người cùng tử quên ngọc minh châu trong chéo áo của kinh
Pháp Hoa, với văn phong: “Y trung vong bảo nhi bất tự tri = quên mất
châu báu ở trong chéo áo mà không tự biết”.
Ví
dụ này là nằm ở phẩm Thọ Ký năm trăm đệ tử của kinh Pháp Hoa, ở phẩm này
đức Phật dùng ví dụ quên hạt minh châu trong chéo là để dụ rằng: “Người
tu tập quên mất đại nguyện Đại thừa, thì nghèo nàn phước đức và trí tuệ,
nếu nhớ lại đại nguyện Đại thừa thì tức khắc trở nên giàu có. Cũng vậy,
viên ngọc minh châu vốn nằm trong chéo của kẻ cùng tử, do quên viên ngọc
trong chéo áo mà nghèo cùng, nếu có người nhắc nhỡ, chỉ bày liền nhớ lại
là tức khắc giàu có và có thể tùy nghi lấy dùng.
Vua
Lý Nhân Tông đã nhắc lại Thí dụ này ở trong văn bia Tháp Sùng Thiện –
Diên linh, chứng tỏ rằng, kinh Pháp Hoa vào Triều Lý đã được các vua am
hiểu, hành trì và đã có ảnh hưởng nhất định trong hành xử đối với việc
trị nước an dân vua.
Và
đọc Tham đồ hiển quyết của Thiền sư Viên chiếu (999 – 1091) đời Lý, ta
thấy câu chuyện Long nữ hiến châu ở phẩm Đề-bà-đạt-đa của kinh Pháp Hoa,
đã được một vị Tăng hỏi Viên Chiếu rằng:
“Long nữ hiến châu thành phật quả
Đàn na xả thí phúc như hà?”.
Nghĩa
là:
“Long nữ hiến châu thành quả Phật,
Phước người bố thí như thế nào?”.
Thiền
sư Viên chiếu trả lời:
“Vạn cổ nguyệt trung quế
Phò sơ tại nhất luân”.
Nghĩa
là:
“Cây quế vạn đời ở trong trăng
Hiểu thấu giúp nhau tại một vòng”.
Cách
trả lời của Thiền sư Viên Chiếu đối với vị Tăng là cách trả lời mang
tính Thiền học hơn là Giáo học. Việc hiến châu của Long nữ để thành
Phật, chẳng khác nào cây quế vạn đời ở trong trăng. Quế ở trong trăng
cũng như chúng sanh vốn ở trong Phật tính vậy. Trăng và ảnh tượng của
trăng hay vành trăng tuy là hai, nhưng chính là một vậy. Nên, Viên Chiếu
nói: “Phò sơ tại nhất luân = Hiểu thấu giúp nhau tại một vòng”. Do đó,
phước đức trong việc hiến châu của Long nữ và phước đức của người bố thí
đồng thể với nhau về tâm xả và đồng với một mục đích như nhau là thành
Phật, tức là chứng nhập Phật tính.
Như
vậy, ta chưa tìm ra, bản chú giải nào của kinh Pháp Hoa ở triều Lý,
nhưng giáo lý Pháp Hoa đã có ảnh hưởng nhất định đối với nền Phật học
đời Lý như ta đã thấy ở văn bia tháp Sùng thiện – Diên linh, chùa núi
Long Đội của vua Lý Nhân Tông và Tham đồ hiển quyết của Thiền sư Viên
Chiếu.
Đọc
bài thơ thị tịch của Ngộ Ấn Thiền sư (1020 -1088) đời Lý, ta thấy bản
thể tịch diệt của kinh Pháp Hoa được Thiền sư khai thị qua bài kệ bốn
câu như sau:
“Diệu tính hư vô bất khả phan
Hư vô tâm ngộ đắc hà nan.
Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
Liên phát lô trung thấp vị can”.
Nghĩa
là:
“Bản tính nhiệm mầu rỗng lặng không thể vin vào
Tâm giác ngộ được thể tính rỗng lặng khó làm sao?
Trên núi viên ngọc bị thiêu đốt mà màu sắc vẫn tươi
thắm
Hoa sen nở ra trong lò lửa mà chưa hề bị khô héo”.
Đối
với Ngộ Ấn Thiền sư, hoa sen không phải nở ra trong bùn mà nở ra trong
lò lửa. Lò lửa ấy là chỉ cho ba cõi mà kinh Pháp Hoa gọi là “tam giới do
như hỏa trạch”. Chúng sanh ở trong ba cõi ngày đêm bị lửa phiền não đốt
cháy, nhưng một người có hạnh nguyện Đại thừa hay hạnh nguyện Pháp Hoa,
thể nhập được bản thể vắng lặng xưa nay của vạn hữu, cho dù vị ấy đang ở
trong lửa sinh tử, vẫn không bị lửa ấy đốt cháy mà chính lửa ấy lại làm
cho hạnh nguyện Đại thừa, hạnh nguyện Pháp Hoa càng thêm kiên cố, càng
thêm sáng chói, tươi nhuần, bất khả hoại.
Như
vaäy, ở đời Lý, dù ta chưa tìm thấy có một tác phẩm chú giải nào về kinh
Pháp Hoa, nhưng qua một số thi ca hiện còn của các Thiền sư, ta thấy về
mặt chứng ngộ, quí vị đã xâm nhập bản môn của kinh này một cách sâu sắc
và đầy thi vị.
Ở
đời Trần, Thí dụ Nhà Lửa của kinh Pháp Hoa đã được vua Trần Thái Tông
nêu lên ở trong Khuyến Phát Tâm văn như sau:
“Ái hà xuất một kỷ thời hưu
Hỏa trạch ưu tiên hà nhật liễu”.
Nghĩa
là:
Sông ái nổi trôi bao giờ hết
Đốt thiêu nhà lửa ngày nào xong?
Ví
dụ Nhà Lửa của kinh Pháp Hoa, vua cũng đã nêu lên ở trong văn Khải bạch
buổi sáng như sau:
“Trường vi hỏa trạch phanh tiên
Vĩnh bị ái hà một nịch’’.
Nghĩa
là:
“Bị Nhà Lửa mãi hoài thiêu đốt;
Bị sông yêu muôn thuở nhận chìm”.
Và
ví dụ này, vua cũng đã nêu lên trong lời văn bạch buổi chiều như sau:
Kính khải:
“Thập phương Đại giác,
Tam thế hùng sư.
Huy tuệ kiếm ư tà lâm;
Duệ từ phong ư hỏa trạch”.
Nghĩa
là:
Kính bạch:
“Bậc Đại Giác mười phương;
Đấng Hùng Sư ba đời.
Vung kiếm tuệ nơi rừng tà;
Thổi gió từ nơi Nhà Lửa”.
Và
cũng trong Khuyến Phát Tâm Văn, ý nghĩa Nhất thừa của kinh Pháp Hoa đã
được vua xem là con đường tắt để thoát ly sinh tử, vua nói:
“Dục siêu lục đạo chi chu lưu
Duy hữu Nhất thừa chi tiệp kính”.
Nghĩa
là:
“Muốn vượt vòng luân hồi lục đạo
Con đường tắt, chỉ có Nhất thừa”.
Những chứng cứ ấy cho ta biết rằng, kinh Pháp Hoa đã được vua Trần Thái
Tông nghiên cứu, học hỏi và trở thành nếp chiêm nghiệm tu tập của mình,
trong mỗi lúc dâng hương cúng dường Tam bảo, hay mỗi lúc tĩnh tọa thiền
quán.
Ngài
Pháp Loa (1284-1330), đệ nhị Tổ Thiền Phái Trúc lâm Yên Tử cũng đã viết
Pháp Hoa Khoa Sớ, để dạy cho Tăng Ni Phật tử đời Trần.
Và
trong bài thơ tặng Tổáư Huyền Quang, vua Trần Minh Tông đã nói đến Nhà
lửa ở kinh Pháp Hoa và hạnh nguyện liên hệ đến nhà lửa ấy với Tổ sư như
sau:
“Cố ngã hỏa trạch trung
Cái thị hữu túc duyên”.
Nghĩa
là:
“Nhìn lại trong nhà lửa của ta
Bởi do có nhân duyên đời trước”.
Và
cũng trong bài thơ này, vua Trần Minh Tông đã ca ngợi tâm hạnh của Ngài
Huyền Quang đệ Tam Tổ Trúc Lâm liên hệ đến Phật Oai Âm Vương ở kinh Pháp
Hoa, phẩm Bồ-tát Thường Bất Khinh như sau:
“Côn- sơn đại Đạo sư
Vị ngã tác phước điền
Vương Thần tất quy kính
Phật đạo tục hoàn liên.
Pháp kế nhị Tổ hậu
Cứu cánh Oai Âm tiền
Bất trước văn tự tướng
Diễn thuyết Như lai thiền.
Nghĩa
là:
“Đạo Sư lớn Côn-sơn
Vì ta làm ruộng phước
Vua quan đều kính trọng
Phật đạo liên tiếp mãi.
Kế thừa Pháp nhị Tổ
Cuối cùng trước Oai Âm
Không kẹt tướng chữ nghĩa
Diễn thuyết Thiền Như lai”.
Ở
kinh Pháp Hoa, Đức Phật Oai Âm Vương đã từng chứng minh và hộ trì cho
đại nguyện hành trì kinh Pháp Hoa của Bồ-tát Thường Bất Khinh trải qua
vô lượng kiếp không gián đoạn và Bồ-tát Thường Bất Khinh thực hành đại
nguyện Pháp Hoa ngày xưa trước Phật Oai Âm Vương ấy, ngày nay chính là
Đức Phật Thích Ca.
Vua
Trần Minh Tông đã sử dụng đại nguyện Pháp Hoa này để ca ngợi hạnh nguyện
của Tổ sư Huyền Quang vậy.
Việc
dẫn chứng Thí dụ Nhà lửa trong kinh Pháp Hoa của vua Trần Thai Tông,
Trần Minh Tông và viết Pháp Hoa Khoa Sớ của Ngài Pháp Loa đệ nhị Tổ của
Thiền phái Trúc lâm Yên Tử, những điều này chứng tỏ rằng, giáo nghĩa
Pháp Hoa đã có những ảnh hưởng nhất định vào thời đại Phật giáo thời
Trần.
Vào
đời Lê, Minh Châu- Hương Hải (1628-1715), đã chú giải kinh Pháp Hoa đầu
tiên bằng tiếng nôm. (Hương Hải Thiền Sư Ngữ Lục, Cảnh Hưng Bát Niên,
Tuế Thứ Đinh Mão, Ngũ Nguyệt, Cát Nhật Từ Pháp Soạn Thuật – Cảnh Hưng 8
– 1747).
Minh
Dung- Pháp Thông đời Lê Thuần Tông (1732 – 1735), đã khắc in Đại Thừa
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh vào năm 1734. Bản gỗ này hiện đang tàng trữ tại
chùa Phật Quang, thị xã Phan Thiết.
Ở
Triều Gia Long (1802 – 1819), có Thanh Đàm Tỷ kheo và Giác Đạo - Minh
Chánh Thiền sư đã viết Pháp Hoa Ðề Cương. Trong phần Diệu Pháp Liên Hoa
kinh Tông Chỉ Đề Cương Tự, Sa môn Thanh Nguyên, đã ghi bài kệ chứng minh
cho Pháp Hoa Đề Cương như sau:
“Đề cương ngọc trụ diệu liên hoa
Năng sử ngô vi tích biện hòa
Nhị thập bát châu uyên nguyện hải
Đại thiên sa giới hội tâm cơ.
Năng nhân Hòa thượng minh tương thọ
Đa bảo Như lai mật hộ gia
Khiển ngã tâm lai minh tá sử
Tán dương Diệu pháp, tán Liên hoa”.
Nghĩa là:
“Diệu liên hoa đề cương kinh ngọc
Khiến ta thấy rõ báu Biện Hòa
Biển nguyện thâm sâu hai tám phẩm
Đại thiên sa giới hội tâm cơ.
Hòa thượng Năng nhân thầm thọ ký
Đa bảo Như lai mật gia hộ
Khiến rõ tâm ta từ đâu đến
Ngợi ca diệu pháp với Liên hoa”.
Và
Sa môn Thanh Nguyên đã nói về kinh Pháp Hoa rằng: “Kinh Pháp Hoa là việc
làm chân thực và duy nhất của chư Phật, là pháp môn chủ yếu của Bồ-tát,
là pháp chân như bình đẳng của Như lai, do thương chúng sanh mà khai mở,
chỉ bày, chứng ngộ và hội nhập. Lúc chư Phật diễn thuyết pháp này,
thường chẳng báo trước. Khi chúng sanh tu tập thường xuyên đối với pháp
này, thì sẽ được thọ ký quả vị giác ngộ tương lai”.
Và
Sa môn Thanh Nguyên giải thích ý nghĩa Diệu Pháp và Liên Hoa như sau:
“Diệu Pháp là huyền vi khó diễn bày và là pháp rộng lớn cao vời. Liên
hoa là tại bùn bất nhiễm, hương thơm ngào ngạt. Diệu Pháp Liên Hoa, rộng
lớn chứa hàm pháp giới, bao trùm các cõi nước của Đức Như Lai, nhiều như
vi trần. Sáng tròn, chiếu khắp hà sa, Bát nhã, Bồ đề đều đầy đủ. Chư Tổ
vì nghĩ đến chúng sanh, thương họ tha thiết, nên mới mở bày văn cú, giúp
biết ngôn âm. Nhưng than ôi, chẳng khác nào xuống biển mò châu, đào non
lấy ngọc!”. (Hoàng Triều Gia Long, thập bát niên, bát nguyệt cốc nhật =
Triều Hoàng Đế Gia Long, năm thứ mười tám (1819), tháng 8, ngày lành).
Ở
trong phần Tổng Tiêu Pháp Dụ Kinh Đề Mục của Pháp Hoa Đề Cương, Sa môn
Thanh Đàm và Thiềớnư Minh Chánh đã giải thích đề kinh Pháp Hoa như sau:
“Diệu Pháp là chỉ cho pháp chân thực. Pháp ấy chính là tâm thanh tịnh
xưa nay. Tâm ấy xưa nay vốn không sanh, không diệt, không sạch, không
nhớp, không thêm, không bớt, tại phiền não không loạn, tại trần lao
không nhiễm. Vì vậy, gọi tâm ấy xưa nay thanh tịnh là vậy.
Lại
nữa, tâm này là bản nguyên của chư Phật, là Phật tính của chúng sanh.
Tròn đồng thái hư, lớn không bờ mé. Linh linh lặng lặng, suốt kim suốt
nay. Yên yên lắng lắng, chính là không, chính là sắc. Tâm thức không thể
phân biệt, nghĩ lường mà có thể biết được.
Đức
Thế Tôn, muốn dùng một việc lớn duy nhất là đem tâm này mà trao cho
Bồ-tát, tạo thành hạt nhân tâm địa, và làm căn bản cho tác nhân tu tập,
về sau tu chứng mới có thể thành tựu địa vị của đạo quả giác ngộ. Vì
vậy, gọi là Diệu pháp”. (Tổng Tiêu Pháp Dụ Kinh Đề Mục- Pháp Hoa Đề
Cương – Việt Nam Phật Điển Tùng San Chi Tam).
Như
vậy ta thấy, vào Triều Gia Long, kinh Pháp Hoa đã được giảng dạy và
truyền bá rộng rãi trong những thành phần học Phật, tu Phật và họ đã
thâm nhập diệu pháp một cách sâu xa.
Triều Minh Mạng (1820 – 1840), Ngài Tánh Thiên - Nhất Định (1784 –
1847), đã được vua Minh Mạng cung thỉnh làm Tăng Cang Linh Hựu Quán và
chùa Giác Hoàng ở Đại nội và là vị Tổ khai sơn Tổ đình Từ Hiếu, Huế, vào
thời Thiệu Trị, năm 1843, sau khi đã gởi thư đến vua Thiệu Trị (1840 –
1847), xin từ nhiệm chức vụ Tăng Cang của các chùa quốc gia, Ngài đã thọ
trì đọc tụng miên mật kinh Pháp Hoa, đến nỗi Tương An Công – Miên Bửu
hoàng tử thứ bảy con vua Minh Mạng vô cùng kính mến và có bài thơ tặng
như sau:
“Dạ tụng Pháp Hoa kinh
Chân tâm bạch luyện tinh
Phòng vô phiến trần nhập
Bích quải điểm đăng minh.
Tích hữu Uyên Minh thức
Tâm như Huệ Viễn thinh
Chúng nhân đồ ngột ngột
Yên đắc thấu sinh sinh”.
Nghĩa
là:
“Đêm tụng kinh Pháp Hoa
Chân tâm tinh luyện đa
Không còn vi trần hoặc
Vách treo ánh đèn pha.
Dấu tích Uyên Minh biết
Tâm đồng Huệ Viễn xưa
Người đời nhiều phiền lụy
Khó hiểu lẽ sinh ra”.
(Đặc
San Kỷ Niệm 150, Ngày Tổ Khai sơn chùa Từ Hiếu Viên tịch, ấn bản Pl 2541
– 1997).
Qua
bài thơ của Tương An Công – Miên Bửu cũng đã giới thiệu cho ta biết
rằng, Kinh Pháp Hoa không phải chỉ có ảnh hưởng ở trong từng lớp Tăng sĩ
bấy giờ mà còn ảnh hưởng đến những giai từng quí tộc và trí thức của xã
hội đương thời nữa.
Triều Tự Đức (1847 - 1883), có Ngài Pháp Liên dịch Kinh Pháp Hoa bằng
thể thơ Lục bát, gọi là Pháp Hoa Quốc Ngữ Kinh, xong năm 1848 và in năm
1856.
Triều Thành Thái (1889 – 1907) và Khải Định (1916 – 1925), Ni trưởng
Diên Trường, sinh năm 1863, con của cụ Hồ đắc Tuấn và bà Công nữ Thức
Huấn, ở làng An truyền, Thừa Thiên, năm 36 tuổi đầu sư xuất gia với Ngài
Hải Thiệu- Cương Kỷ chùa Từ Hiếu, sau đó đã được bổn sư cho thọ Sa di
ni, với pháp danh Thanh Linh, tự Diên Trường. Bà tu tập rất tinh cần,
nên đến năm Duy Tân thứ 4 ( 1910), được bổn sư cho thọ Tỷ kheo ni,
Bồ-tát giới tại giới đàn Quảng nam, do Hòa thượng Vĩnh Gia làm đàn đầu.
Bà
là vị Tỷ kheo ni đầu tiên trên đất Thuận Hóa vàoTriều Duy Tân. Năm Ất
sữu (1925), bà đã cung thỉnh Ngài Tâm Tịnh chùa Tây Thiên và Ngài Huệ
Pháp chùa Thiên Hưng, đến chùa Trúc Lâm, Huế, để chứng minh lễ khai kinh
cho bà tụng kinh Pháp Hoa, tụng xong bộ kinh Pháp Hoa đúng ngày rằm
tháng tư, bà làm lễ tạ ơn hai Ngài chứng minh và Đại chúng xong là an
nhiên thị tịch.
Việc
Ni trưởng Thanh Linh - Diên Trường cung thỉnh Hòa thượng Tâm Tịnh và Huệ
Pháp chứng minh lễ khai kinh Pháp Hoa cho bà thọ trì, trước khi viên
tịch, đã giúp cho ta biết rằng, kinh Pháp Hoa vào thời kỳ này không phải
chỉ là học thuật, hay nghiên cứu mà đã trở thành tín ngưỡng và cuộc sống
tâm linh cho Tăng Ni và Phật tử ở thời kỳ này.
Trường Phật học đầu tiên ở trên đất Thuận Hóa vào các Triều Thành Thái
(1889 – 1907); Duy Tân (1907 – 1916); Khải Định (1916 – 1925) là trường
Phật học Thiên Hưng, do Ngài Huệ Pháp làm chủ giảng, gồm các môn học
như: Luật Tứ Phần, Giới kinh Phạm võng, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh Pháp
Hoa,… và Ma ha Chỉ Quán của Trí Khải ( 531 – 597).
Triều Bảo Đại (1925 – 1945), các Hội Phật Học Nam, Trung và Bắc ra đời
vào những năm đầu Thập niên ba mươi, để chấn hưng Phật giáo, các trường
Phật học được mở ra để đào tạo Tăng tài.
Năm
1934, Kinh Pháp Hoa đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình Đại học
Phật giáo năm thứ tư, tại trường An nam Phật học Trung Kỳ, cơ sở đặt tại
chùa Trúc Lâm và kinh Pháp Hoa Huyền Nghĩa, kinh Pháp Hoa Khoa Chú được
đưa vào chương trình hậu đại học cho các nghiên cứu sinh vào năm thứ ba.
Năm
1944, kinh Pháp Hoa Văn Cú được đưa vào giáo trình dạy năm Cao Đẳng thứ
hai, tại Đại Tòng Lâm Kim Sơn ở làng Lưu Bảo, Hương Trà, Thừa Thiên.
Vào
ngày 10, tháng 4, Bảo Đại năm thứ 9 (1933), Hòa thượng Thanh Hanh, chùa
Vĩnh Nghiêm ở Bắc Kỳ đã viết lời dẫn tựa của Pháp Hoa Đề Cương để khắc
in.
Trong lời dẫn tựa, Hòa thượng Thanh Hanh viết về kinh Pháp Hoa như sau:
“Chư Phật xuất hiện trong đời, vì một đại sự nhân duyên là muốn cho
chúng sanh khai, thị, ngộ, nhập sự thấy biết của Phật. Nhưng đoạn kinh
trên cũng là cương lĩnh chủ yếu của toàn bộ, các nhà chú giải lấy yếu
chỉ này để giải thích rộng rãi kinh này.
Do
đó, biết rằng chư Phật nói ba câu hỏi, chín ví dụ, hội tam thừa về nhất
thừa, dẫn quyền thừa vào thật đạo là để khai thị, khiến chúng sanh biết
được mặt mũi xưa nay, mà ngộ nhập cái thấy, cái biết của Phật.
Quán
xem thời Phật còn tại thế, hàng Thanh văn nghe lần thứ hai liền giác ngộ,
liền được Đức Phật thọ ký, cho đến tất cả chúng sanh nghe một câu, một
bài kệ của kinh này, khởi một niệm tùy hỷ, đức Phật liền huyền ký cho họ.
Đó là một đại sự nhân duyên rốt ráo vậy”. Qua lời tựa ấy, ta biết rằng,
kinh Pháp Hoa ở thời kỳ này, các Tăng sĩ đã thâm nhập và hành trì hết
sức uyên áo.
Ở
Bắc Kỳ, năm 1934, Hội Phật Giáo Bắc Kỳ được thành lập, kinh Pháp Hoa đã
được đưa vào trong giáo trình Phật học, để giảng dạy cho học Tăng Trung
học năm thứ nhất, Pháp Hoa Tri Âm năm thứ hai.
Năm
1937, Cư sĩ Đoàn Trung Còn đã dịch kinh Pháp Hoa từ bản tiếng Pháp Le
Lotus de la Bonne Loi của Học sĩ Hàn Lâm Viện E. Burnouf. Bản Pháp ngữ
này là dịch từ bản Phạn ngữ của Népal phát hiện năm 1925.
Năm
1943, Pháp Hoa Đề Cương của Thanh Đàm, do Hội Bắc kỳ Phật Giáo khắc in
và ấn hành.
Năm
1964, kinh Pháp Hoa Huyền Nghĩa do Chánh Trí – Mai Thọ Truyền dịch,
giảng và ấn hành.
Vào
những năm 1977 đến 1980, kinh Pháp Hoa Giảng Lục của Thái Hư Đại Sư đã
được Hòa thượng Thích Đôn Hậu giảng dạy tại Phật Học Viện Báo Quốc, Huế
và kinh này cũng đã được Hòa thượng Thích Trí Nghiêm dịch ra tiếng Việt
và ấn hành trước 1975.
Trước 1975, kinh Pháp Hoa bản của Ngài Cưu Ma La Thập đã được Hòa thượng
Thích Trí Tịnh, Sư bà Thể Quán dịch ra Việt văn. Bản dịch của Hòa thượng
Trí Tịnh được rất nhiều Tăng Ni và Phật tử biết đến để nghiên cứu và đọc
tụng.
Năm
1983, kinh Pháp Hoa đã được Hòa thượng Thích Trí Thủ và Hòa thượng Thích
Thiện Siêu giảng dạy tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam, Sài Gòn.
Hòa
thượng Thích Thanh Kiểm đã viết Đại ý Kinh Pháp Hoa và Thành Hội PG T.P
Hồ Chí Minh đã ấn hành 1990.
Bản
dịch Pháp Hoa và lược giải của Hòa thượng Thích Trí Quang, do Nhà xuất
bản T.P Hồ Chí Minh 1998, văn phong hết sức sáng sủa, cô đọng, sắc bén,
lột gần hết ý nghĩa của các thuật ngữ và quan trọng hơn hết là có toát
yếu từng phẩm.
Hòa
thượng Thích Trí Thủ rất tâm đắc phẩm Bồ-tát Thường Bất Khinh ở kinh
Pháp Hoa. Ngài đã dịch phẩm này và đã lưu hành trước năm 1975.
Năm
2000, Hòa thượng Tịnh Hạnh, Chủ trương Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh,
do Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản, đã xuất bản đầy đủ ba
bản Việt dịch kinh Pháp Hoa từ bản Diệu Pháp Liên Hoa Kinh của Ngài La
Thập; bản Chánh Pháp Hoa Kinh của Ngài Trúc Pháp Hộ và bản Thiêm Phẩm
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh của Ngài Xà Na Quật Đa và Cấp Đa ở Tập 34.
Bản
Pháp Hoa của Ngài La Thập ở Việt Nam đã có rất nhiều bản dịch Việt,
nhưng bản Pháp Hoa của Ngài Trúc Pháp Hộ và Xà Na Quật Đa, Cấp Đa là bản
dịch Việt đầu tiên được ấn hành ở trong Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh.
Ở
trong Đại Tạng này, bản Tát Đàm Phân Đà Lợi Kinh (Kinh Pháp Hoa), số ký
hiệu 265, ở Đại Chính Tân Tu, mất tên dịch giả cũng đã được dịch ra Việt
văn. Pháp Hoa Tam Muội Kinh, do Trí Nghiêm người xứ Lương Châu dịch vào
đời Tống, số ký hiệu 269, ở Đại Chính Tân Tu cũng đã được dịch ra Việt
văn.
Hòa
thượng Thích Thiện Siêu đã Lược Giải kinh Pháp Hoa và sau khi Ngài viên
tịch năm 2001, kinh lại được Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Huế, ấn
hành năm 2003.
Hòa
thượng Thích Thanh Từ đã viết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải, Nhà xb
Tôn Giáo 2003.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã giảng kinh Pháp Hoa ở Đạo Tràng Làng Mai năm
1991, 1992 và tại Tu viện Kim Sơn ở Hoa Kỳ 1993, được ghi chép lại với
tên Sen nở trời phương ngoại, lá bối xb 19?
Hòa
thượng Trí Quảng ở chùa Ấn Quang Sài gòn, đã thành lập Đạo tràng Pháp
Hoa, sau khi du học ở Nhật về năm 1971, và đã lược giải kinh Pháp Hoa,
xuất bản năm 1999.
Hòa
thượng Thông Bửu, Trú trì chùa Quán Thế Âm, Sài gòn cũng đã thành lập
Đạo tràng Pháp Hoa, và thường giảng dạy kinh Pháp Hoa vào ngày Chủ nhật
trong thập niên 80, 90.
Hòa
thượng Nhật Quang đã dịch Pháp Hoa Đề Cương của Thiền sư Minh Chánh, đã
được Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, ấn hành 1999.
Hòa
thượng Trí Tịnh đã dịch và giảng Pháp Hoa Kinh Thông Nghĩa của Đại sư
Hám Sơn – Đức Thanh, và đã được Nhà xuất bản Tôn giáo, ấn hành 2007.
Các
Hòa thượng Từ Thông, Chơn Thiện,… cũng như những bậc cao đức khác trong
thời hiện đại cũng đã hành trì kinh Pháp Hoa và đã có chú giảng kinh
Pháp Hoa, góp phần to lớn vào nền Văn học Phật giáo nước nhà.
Như
vậy, ta thấy tại Việt Nam, từ thời Bảo Đại cho đến nay 2008, kinh Pháp
Hoa vào những thời kỳ này, không những được chư Tăng Ni ở các Tu viên,
Tự viện, Phật học viện các Đạo Tràng Pháp Hoa được thành lập khắp các
miền Trung Nam Bắc để tu tập, thọ trì, đọc tụng và diễn giảng, in ấn
kinh để truyền bá một cách rộng rãi.
Ở
Việt Nam suốt cả chiều dài lịch sử phát triển, kinh Pháp Hoa không trở
thành một Tông phái đặc thù như Trung Hoa vào thời Trí Khải (531 – 579)
và Nhật Bản vào thời Nhật Liên (Nichiren 1222 – 1282), nhưng kinh đã có
một ảnh hưởng rất lớn trong đời sống tâm linh của Tăng Ni, Phật tử Việt
Nam.
Việc
thiêu thân cúng dường của Ngài Đàm Hoằng, năm 455 TL, tại chùa Tiên Sơn,
Giao Chỉ, nay là núi Lan Kha, tỉnh Bắc Ninh (Lê Mạnh Thát, LSPGVN 1,
tr758, nxb Thuận Hóa 1999). Ngài Thiệt Thành – Liễu Đạt hay còn gọi là
Hòa thượng Liên Hoa, đã tự thiêu năm 1825, tại chùa Đại Giác, ở phố Cù
lao, tỉnh Biên Hòa (Nguyễn Hiền Đức, LSPG Đàng Trong chương 11, tr 231 –
232, nxb T.P 1995). Ngài Tuệ Pháp (1871 – 1927), ở chùa Thiên Hưng, Huế
ở năm 1927; Ngài Quảng Đức và các vị Thánh tử đạo khác như: Tiêu Diêu,
Thanh Tuệ, Nguyên Hương, Quảng Hương, Thiện Mỹ, Ni cô Diệu Quang,… vào
năm 1963, và nhiều vị khác mà lịch sử Phật Giáo Việt Nam chưa cơ hội để
ghi lại, đều đã nói lên thực hành hạnh nguyện theo Dược Vương Bồ-tát của
kinh Pháp Hoa.
Ở
kinh Pháp Hoa, việc đốt thân cúng dường của Bồ-tát Dược Vương có một ý
nghĩa hết sức thâm diệu, đó là dâng hiến toàn vẹn pháp do Bồ-tát chứng
ngộ từ đời sống Pháp Hoa lên cúng dường chư Phật, để biểu lộ lòng biết
ơn sâu xa đức giáo hóa bằng Pháp Hoa của các Ngài, cũng như giáo pháp
thâm diệu được chứa đựng ở trong kinh
Có
những vị đã lập hạnh kính lễ kinh Pháp Hoa nhất tự nhất bái, như Hòa
thượng Huệ Minh (1861 – 1939), trú trì Tổ đình Từ Hiếu, Huế; Hòa thượng
Đức Phương, trú trì chùa Tra Am, Huế. Và có những vị mỗi ngày đều thọ
trì kinh Pháp Hoa như Ni trưởng Thích Nữ Diệu Trí, Trú trì chùa Diệu
Nghiêm, Huế; Ni trưởng Thích nữ Diệu Lý, Trú trì chùa Quang Minh, Đã
Nẵng; và Cố Ni Trưởng Thích nữ Chân Nguyên, Trú trì chùa Phò Quang, Huế
và có rất nhiều vị Tăng Ni cư sĩ khác nữa, ở đây không thể dẫn chứng
hết.
Cố
Ni Trưởng Thích Nữ Chân Nguyên (1923 – 2004), mỗi khi thấy thân thể
khiếm an, hay chuyện bất ổn xảy ra ở trong gia tộc, hoặc bổn tự đều cung
thỉnh chúng Tăng thọ trì kinh Pháp Hoa và sau đó mọi việc đều được bình
ổn. Ni trưởng do hành trì kinh Pháp Hoa mà đã dự tri thời chí, dặn Ni
chúng ngày này không ai được đi đâu, rồi lên chánh điện trì kinh và
chiều viên tịch rất nhẹ nhàng, đêm ấy trong trượng thất an trí thi thể
của Ni trưởng tự tỏa ra mùi thơm của hoa sen, bấy giờ nét mặt của Ni
trưởng rất đẹp và thân thể rất mềm mại.
Chắc
chắn, kinh Pháp Hoa đã có những ảnh hưởng nhất định đối với tín ngưỡng
cũng như đời sống đạo đức, văn hóa của Tăng Ni Phật tử Việt Nam xuyên
suốt qua các thời đại mà lịch sử Phật giáo đã đi qua, cũng như trong
hiện tại và sẽ tiếp tục cả tương lai.
Kinh
Pháp Hoa đối với người Tây phương, vào thế kỷ 19, vị công sứ người Anh
tên Hamilton đã tìm thấy kinh Pháp Hoa bằng tiếng Sanskrit (Phạn), viết
trên Lá bối, thờ trong một động đá ở Nepal.
Sao
đó, có 19 bản kinh Pháp Hoa chép tay bằng tiếng Sanskrit đã được phái
đoàn người Nhật, Anh, Pháp, Đức nghiên cứu tìm thấy.
Sau
đó cả người Nhật và Anh đã yểm trợ cho Hội Nghiên cứu kinh Pháp Hoa, bốn
phái đoàn gồm Nhật, Anh, Đức và Nga đã đến vùng Trung Á, nghiên cứu và
tìm kiếm kinh Pháp Hoa, họ đã phát hiện ở vùng Kotan có sáu bộ kinh Pháp
Hoa bằng tiếng sanskrit và thêm một bộ Pháp Hoa Sanskrit ở Kucha (Qui tư
quê hương của Ngài La Thập).
Năm
1932, một bộ kinh Pháp Hoa cổ nhất được tìm thấy ở kashmir nối liền với
Afganistan, ta thường gọi là Pháp Hoa Gilgit. Bộ kinh này gồm có 1/3 chữ
Magadhi, loại chữ cổ nhất của nước Ma Kiệt Đà, ngôn ngữ đức Phật thường
sử dụng để thuyết pháp. Và 2/3 ngôn ngữ Sanskrit.
Kinh
Pháp Hoa dịch ra tiếng Anh, hiện nay có ít nhất là năm bản:
1.
The Lotus of the True Law: Do Kern, Nhà Phật học Hòa Lan dịch từ bản
Phạn văn Népal, năm 1880, gồm có 27 phẩm, hiện có ở trong The Sacred of
the East.
2.
The Lotus Scripture Essence: Bộ này là lược dịch từ bản chữ Hán của Ngài
La Thập, gồm có 28 phẩm, hiện nằm trong bộ The New Test Ament of High
Buddhism của Lichard, xuất bản năm 1900.
3.
The Lotus of the Wonderful Law: Do hai nhà học giả Soothill và Kato
dịch, gồm có 28 phẩm, xuất bản tại London năm 1930.
4.
The Lotus Sutra: Do Senchu Muarano dịch từ bản của Ngài La Thập, Nhật
Liên Tông tại Nhật xuất bản 1974.
5.
The Lotus Sutra: Do Burton Watson dịch từ bản Hán của Ngài La Thập, xuất
bản ?
Kinh
Pháp Hoa dịch ra tiếng Pháp, hiện nay chỉ thấy có một bản với tên: Le
Lotus De La Bonne Loi, do Hàn Lâm Học Sĩ E. Burnouf dịch từ bộ Phạn ngữ
Nespal vào năm 1925.
Bản
dịch này đã được Cư sĩ Đoàn Trung Còn dịch sang Việt văn năm 1937.
Ngoài ra kinh Pháp Hoa cũng đã được dịch sang tiếng Tây tạng vào thế kỷ
thứ 8, hiện có ở trong bộ Đại tạng Shar Thàn, Sde Dge, Bắc Kinh,… Kinh
Pháp Hoa cũng đã được dịch sang tiếng Triều Tiên, năm 1463, từ bản Hán
của La Thập, do sắc lệnh của vua Lý Thế Tổ Triều Tiên. Và kinh Pháp Hoa
cũng đã dịch ra tiếng Mãn Châu, từ bản Hán dịch của Ngài La Thập, hiện
nằm trong bộ Ngự dịch của Đại tạng kinh Càn Long đời Thanh.
Như
vậy, ta thấy lịch sử truyền thừa và phát triển của kinh Pháp Hoa rất
xuyên suốt và sâu rộng trong mọi thành phần của xã hội qua nhiều ngôn
ngữ của nhiều quốc gia trên thế giới, không những làm nền tảng cho tín
ngưỡng tâm linh, đạo đức vươn cao của nhân sinh, mà còn là nguồn cảm
hứng để cho các học giả nghiên cứu trước tác, sáng tác, tạo nên những
sinh lực văn học, nghệ thuật, đóng góp vào gia tài văn hóa và học thuật
của nhân loại ngày nay.
T.T.H.
|