TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số 8 - PL. 2552
[MỤC LỤC]
LÝ THUYẾT HỢP
NHẤT
CỦA
CÁC
ĐIỂM
PHÓNG CHIẾU
VỊ
và DANH TỪ
(A unified Theory of Verbal and
Nominal Projections)
PHÁP HIỀN
Như vậy thì,
cách đếm,
sẽ là nền tảng dẫn
ta đi đến cách đánh vần
hay đếm
từng chữ, kế đến là
hình vị
và rồi hình thái âm vị
như ta đã đề cập:
Tiềm năng cơ cấu điện toán của ngôn ngữ loài người, cơ cấu đúng ngữ
pháp hay nguyên lý trật tự tự nhiên của vũ trụ (universal). Và, nó,
được mã hóa thành (CHL) theo cách của G.S Yoshiky Omawa, ta có công
thức như sau:
Numeration- -
Spell-out - - Morphology - - PF.
Hệ thức này, cho ta
biết rằng, tiến trình số, numeration hay N
chi phối cho tận đến PF.
Từ đây, ta phát triển hệ thức này, bằng các lập luận rằng: “Cấu
trúc-D (Cơ cấu-Định ngữ) và cấu trúc-S (Cơ cấu-Chủ ngữ) đều bị loại
trừ, còn PF và LF chỉ là những cấp độ thuần túy về sự tái hiện trong
lý thuyết ngôn ngữ học mà thôi. PF và LF được thuyên thích tách biệt
như là các giao diện tri giác-cấu âm và định hướng - khái niệm tính
(articulator-perceptional and conceptual-intentional interfacs).
Ngôn ngữ L được quan sát như là thủ tục năng sinh-phái sinh ứng dụng
cho cách đếm N và cấu thành một biểu đạt ngôn ngữ học (ngôn
biểu-linguistic expression) (π, λ), ở đây, π là cách tái hiện (biểu
tượng) PF (hình thái âm vị - phonetic form) và, λ là cách tái hiện
LF (hình thái hợp lý – logical form). Cách đếm (N) là một tập hợp
của các cặp (LI, ι), ở đây, LI là một đơn vị của từ vựng và
i là mục lục
truy cứu của nó, được nhận thức là con số của những thời lượng để LF
được tuyển chọn. N biểu đạt sự liên hệ tương thích giữa π và λ mà
trong đó chúng sở y trên các đơn vị từ vựng đồng nhất hay cùng một
đơn vị từ vựng. Sự phái sinh khởi đầu từ N này đi đến một cách nhất
quán cho tới khi nào nó đạt được LF. Sự điện toán hóa được cấu trúc
bằng hệ thống điện toán của ngôn ngữ loài người (CHL)”.
Cách mã hóa ngôn ngữ
loài người, cũng là cách mà tâm thức dùng để chứa mọi dữ liệu di
truyền của ta, tạo nên tính đa thái của vũ trụ này, và người ta hay
chúng sinh được sinh ra chính là do cách lập trình như thế. Thuật
ngữ Duy thức gọi là vipākaḥ - quá trình xử lý, còn ngôn ngữ học gọi
là “nội tính hóa – internalizationed”, có khi cũng gọi là “nội tố -
infex” hoặc cơ cấu điện toán (computational component).
Nhờ tính chất “nội hóa” này mà người ta biểu đạt được vạn hữu và do
vậy, người ta có thể học Phật. Nếu như không thể băng qua 24 hoặc 40
chữ cái hoặc hơn nữa, tức là bảng chữ cái
của vũ trụ này, thì
ta không thể tiếp nhận “Pháp” được. Nói cách khác, khi đức Thế tôn
thành đạo dưới cội bồ-đề, Ngài đã quan sát chúng sinh và cho rằng ta
có đủ tiềm năng vươn ra khỏi “mặt hồ ái dục” theo tính cá biệt của
mỗi căn cơ. Nghĩa rằng, tuy sinh do “cách mã hóa” của 24 hoặc 40 chữ
cái đi nữa, thì chính chúng lại là phương tiện đưa ta đến Niết-bàn –
ngôn ngữ và siêu ngôn ngữ. Nghĩa rằng, Ngài phải hiện thân là
“người” với “các khoang mã hóa” như thế, và để dạy như thế đối với
chúng sinh – ngôn ngữ –hình thái chủ thể hợp lý và âm vị,
tính đúng ngữ pháp.
Khác với một hành
giả tu hành tôn giáo, nhà ngôn ngữ học, xét về mặt hành tướng, anh
ta có vẻ như là một “luận sư”, anh ta sẽ hỏi rằng, do đâu mà thức
biến, do đâu mà có sự cộng sinh trên mặt nhận thức, tuy rằng vị từ
căn – dhātu – của pari, para, pra √vṛt, đều có nghĩa là chuyển biến
triệt để, luân hồi. Nếu như, vô minh là hệ lụy tối sơ cho 12 khoang
lý tính, vậy thì làm sao mà người ta có thể phóng thích nó trên mặt
tổng thể của 12 chi này, bởi vì, nó, chính cái vô minh ấy, đã làm
nên luân hồi, đã làm nên nhận thức của chúng ta. Vô minh, là “sợi
chỉ đen” xâu suốt tiến trình sinh tử, xâu suốt tiến trình ngôn ngữ
học của chúng ta, ít ra trên mặt thường luận. Như vậy, tiềm năng gì
để “những bông sen với các căn cơ sai biệt” vươn ra khỏi mặt hồ ái
dục, cơ chế gì làm người ta đoạn tận khổ đau?
Cái học về ngôn
ngữ học thường thức mà ta được dạy, chẳng hạn, “danh từ, chủ từ, bổ
ngữ, động từ v.v...”; nếu không nói cái học đó là cái gánh nặng mà
ta phải cưu mang. Thậm chí, khi ta nói: cô ta đang đi chợ, và rằng:
có phải cô ta đang đi chợ không? Ngôn ngữ học hình thức sẽ cho rằng,
hỏi là interrogation và chỉ có thế thôi trên mặt vân vân và vân
vân─phản ứng và hành vi. Có ai hỏi rằng, do đâu mà ta có thể “hỏi”
và “nói”, “nghe” được như vậy? Do đâu mà người ta đặt vấn đề? Có thể
đây là nhiệm vụ của triết học, tuy nhiên, triết học thì đa thù, bởi
nó sinh ra từ niệm tưởng, nó “đặt tên” cho đủ mọi loại hình, còn,
ngược lại, nhà ngôn ngữ học, nhiệm vụ của anh ta là phải tìm cho ra
được nguyên lý biết tổ chức (organizationed) của cái “nói, nghe,
hỏi...” này trên cái cụ thể mà chúng ta có. Trong tư duy, triết học
và ngôn ngữ học có thể giống nhau, nhưng phương hướng thì dị biệt
hoàn toàn. Thế nên, ngay câu kệ đầu tiên của Thế thân, Ngài đã cho
rằng, triết học chỉ là “con đẻ” của thức biến và trên hết là ngôn
ngữ. Và thậm chí, sự ra đời của chư Phật, cũng là sự ra đời của cách
đảo ngược mọi lý luận của chúng sinh, mà kinh điển gọi là “chuyển
pháp luân”, tức là sự đảo ngược của mọi pháp vậy. Nếu như, có ai đó
mượn lời Phật dạy bạn rằng, chớ nên chấp ngữ, thì bạn nên trân trọng
và tin theo, tuy nhiên, bạn đừng bao giờ hỏi “niệm Phật đó là ai?”
và tiềm năng gì mà ta có được đời sống lưỡng thê, nghĩa là ta vừa có
thể sống trong sinh tử luân hồi và vừa sống trong “niệm Phật”, trừ
phi bạn chính là Phật. Trong Đại Tạng, Thiền tông chiếm hết 60
volume của tổng chuỗi 150 volume, cho dù đây là một tông phái “ít
nói” nhất.
Thế nào gọi là
“PF và LF chỉ là những cấp độ thuần túy về sự tái hiện
trong lý thuyết ngôn ngữ học mà thôi.”
PF, là hình thái âm vị, còn LF là hình thể lôgíc, nói cách khác, cả
hai, thuật ngữ ngôn ngữ học gọi là, ngữ trí
(the knowlege of
language) chỉ cho danh ngôn tập khí
hay năng lượng ngôn
tính của con người, tổng thể của cách đếm, hình thái âm
học và,
hình hệ hợp lý.
Câu hỏi này đưa ra, để người ta nhắm đến rằng” Nếu thế
gian do nghiệp sinh, và nghiệp là do chúng sinh tạo dựng,”
vậy thì, sau vụ nổ lớn những hàng tỷ năm, tế bào acit-amin mới xuất
hiện, tức là sự sống mới có trên hành tinh này. Trong khi, Phật
điển, cụ thể trong chương Nghiệp của Thế thân cho rằng “nghiệp do
chúng sinh tạo.” Sở chỉ ấy, cũng có nghĩa là “chúng sinh có trước”
vụ nổ lớn. “Có trước” mới tạo nghiệp, có song hành cùng nghiệp mới
tạo “nghiệp”. “Có trước” mới có hành vi–không có chúng sinh, thì
không có hành vi. Tuy rằng, đối với Phật giáo, thì “tính không duyên
khởi” minh định rằng, “nếu có thì có tự mảy may....” Tóm lại, cho dù
được thuyết phục bằng thuyết “Duyên khởi vĩ đại” này, thì “chúng
sinh” có trước hay “nghiệp” có trước vẫn là tiêu chí hợp lý, nghĩa
rằng, nghiệp và chúng sinh xoắn lấy nhau như các mắc xích, vẫn là
“lý thuyết ngôn ngữ học”. Nghĩa là, ngữ trí, kéo theo tiến trình
Xúc, tức là cơ cấu tạo âm hay là “các giao diện tri
giác-cấu âm và tác tạo-ý
hướng tính
(articulator-perceptional and conceptual-intentional interfacs).”
Xúc, cảm tính và trí tính, sự va chạm tạo âm, theo tiến trình hình
học, đến thọ, tưởng, hành và sau đó là cộng trí–cái biết tổng thể
của những tiến trình. Vậy, đích thị Xúc, cảm tính, là cơ sở tạo nên
âm thanh, nằm trong ngân hàng pháp giới (cosmologic-band) băng thành
tiến trình hình học và sau rốt là cộng trí, tiến trình này giao diện
cùng cái “ngân hàng” nghiệp đó, tức là giao diện của Tướng và Kiến
phần. Do vậy, Nam-mô-a di-đà Phật là đức Phật lấy kho tàng ngôn ngữ
của vũ trụ này làm ngân hàng để chúng sinh vay, làm bản thân của
mình. Đối với người Niệm Phật, có vẻ, ý tưởng ngữ học này là một cái
gì rối rắm và không có một thiết thực gì trong kết quả tu tâp của
họ. Thế nhưng, đối với nhà ngữ học, người ta không chấp nhận dễ dàng
bất cứ khái niệm nào dù là khái niệm đức tin hay tôn giáo, mà có thể
chính tự thân của nhà ngữ học ấy đã “quy y” hay “thọ giới”. Vậy,
nghiệp “có trước” hay sau vụ nổ lớn?
Nếu nghiệp có trước vụ nổ lớn,
thì cái gì để chứng minh? Còn nghiệp có sau vụ nổ lớn, thì những gì
mà Thế thân tuyên bố, không thể vượt qua thuyết
tất định.
Phật giáo sẽ sụp đổ, nhường bước cho Thượng đế ngự trị. Ngài thưởng
phạt và thu hồi
quyền được tư duy.
Hơn hết là giải thoát.
Theo I.N. Kant,
trong chương thứ hai của tác phẩm Kritik der reinen vernunft,
phẩm Diệu danh (der transscendentalen Elementarlehre – Die
transscendentale Logik
), cộng tri hay tri
kiến (Erkenntnis)–thành viên của tâm vương, tâm sở tư–
của chúng, thoát thai từ (entspringen aus) hai nguồn cơ bản
(Grundquelle – tiên thiên kinh nghiệm) trong tâm thức: 1 / khả tính
tri nhận (trí tính) hay khả tính hút lấy biểu thể (Vorstellungen)
hoặc tính thụ giải các tập khí (die Receptivität der Eindrücke. Eng:
receptivity for impression – tính cảm thụ hay sức lý giải – nội thể
hóa - những ấn tượng)–tướng phần.
2 / Nguồn tiếp theo là lực lãnh hội các biểu thể này qua (durch)
khí
hiển tập
của chúng,
kiến phần.
Như vậy, nguồn tiên thiên thứ nhất là tiến trình một đối tượng hóa
mà chúng ta được cho
(durch die erstere
wird uns ein Gegenstand gegehen),
nó mở ra từng điểm một vươn ra xa
(svabhāvatantra – y
tha khởi tính), như Chomsky đã nói. “Cấu trúc tiềm
thể này có thể là một cấu trúc trừu xuất tối thượng, nó có thể mở ra
từng điểm một (nó không phải đóng lại từng điểm từng điểm một) quan
hệ hỗ tương đưa đến sự thành tựu âm vi học. Tri thức ngôn ngữ “ngữ
năng,“hàm nghĩa kỹ thuật của thuật ngữ này đã được lược giảng trong
diễn ngôn ban đầu của bản văn kéo theo quyền kiểm soát những tiến
trình văn pháp của lý thuyết này.”
Qua nguồn thứ hai, nó là Tư lương
(Verhältniss) tức là
người ta được tư duy
liên hệ đến từng biểu thể đó, mà trên thực tế nó thuần túy là cách
hạn định khả thể của tâm thức hay “ảnh” kinh nghiệm (als blosse
Bestimmung des Gemüths) (durch die zweite wird dieser im Verhältniss
auf jene Vorstellung [als blosse Bestimmung des Gemüths]
gedacht). Do
vậy, cảm tính trực quan (Anschauung – trực cảm) và những khái niệm
(Begriffe) luôn cấu thành các tác tố (Elemente) cho mọi tư duy của
chúng ta, tức là tư duy bao gồm hay mặt tướng
và kiến
phần. Ở đây, có
một điểm cần lưu ý là, khi chuyển dịch tác phẩm Phê phán lý tính
thuần tịnh của Kant, J. M. D. Meiklejohn đã dịch sở hữu cách của
Kant (zwei Grundquellen des
Gemüths) thành
vị trí
cách – two main sources in
the mind, nghĩa rằng, tâm thức mà trong đó không chỉ có hai
nguồn–thức biến cấu trúc thành ba tầng (tridhā) của Thế Thân, hay
cấu trúc thành tầng bậc (on stepping) của Heraclitus.
Vậy thì, sự tương
quan nhất thể giữa tác tố, xúc, quá trình cấu âm, một loạt đưa đến
hành và cộng tri, là loạt nội tính hóa của chính xúc. Nói cách khác,
trong tự thân xúc, thọ vốn hàm năng chủng tính hành và tưởng – các
chủng tử, vốn hàm năng âm vị hay nói khác hơn, nó là tiến trình ngôn
ngữ hóa của đời sống chúng ta, trên hết là thọ (xác định phẩm loại
của chúng sinh, kể cả các vị trời hay Thiên chúa), nghiệp (hành –
karma) và tối hậu là cộng trí, tức là cộng nghiệp- và cộng tri -
saṃkarma // jña - của chúng ta khi quan sát đối tượng hay các biểu
thể, cảnh của đời sống.
Sức vận hành này, theo Chomsky, nó minh định như là quỷ đạo êclíp
vận hành trong không giới, được minh dụ là logos, tạo nên hằng số
hấp dẫn, tức là điểm giao diện của Danh và Vị từ hay là điểm giao
diện của 18 giới mà ở đó, “Cấu trúc-D (Cơ cấu-Định
ngữ) và cấu trúc-S (Cơ cấu-Chủ ngữ) đều bị loại trừ”.
Do vậy, tính cuốn hút đối tượng, liễu giải đối tượng tạo nên một lực
để hình thành tính “nội khởi” hay “nội thể hóa” cho tự thân mình.
Nói cách khác, lực hút là tham ái, là tham ái trong chính sắc nội
tính của tham và của xúc.
Cả hai nguồn cơ bản như thế, có thể hoặc là thuần tịnh (rein) hoặc
do tập khí
(kinh nghiệm - empirisch). Khi nào do các tập khí thì khi ấy, Xúc –
cảm tính (Empfindung) (tùy sở thuyết thực hữu của đối tượng ‘die die
wirkliche Gegenwart des Gegenstandes voraussetzt’) hàm dung trong
chúng; còn thuần tịnh, khi nào nó không bị hòa tan trong cảm tính.
Tức là tăng ích xúc, thọ, tưởng, hành
và thức
hay cộng tri
và ngược lại là sự thoái hóa của chuỗi này. Chủng tử hóa mọi đối
tượng bằng ngôn ngữ thuần tịnh hay thoái hóa. Các Xúc cảm, người ta
có thể cho rằng, chúng là Sắc chất (Materie) hay chủng tử (bīja) của
căn tri nhận
(sinnlichen Erkenntniss). Ở đây, tướng phần
của tâm thức, chính
xác là tàng thức,
phóng hình ảnh của mình cho các căn tri nhận với tư cách là
kiến phần.
Nhờ thế, “quan điểm tịnh tùy, chỉ hàm dung Sắc dưới một cái gì đó
được trực cảm (hay được quan sát trực tiếp – etwas angeshaut ist) và
tịnh niệm chỉ thuần là sắc của các hiện tượng tư duy, nói chung, về
một đối tượng. Chỉ những cảm xúc và các ý thể thuần tịnh mới là
tiền thức
(kinh nghiêm tiên thiên), còn tập khí chỉ là hậu thức
(hậu thiên kinh
nghiệm)
mà thôi.”
Quả thật, Thọ mà bản thân của nó chính là Tri trong ngữ nguyên
(vid). Nếu không là “tri”, thì tưởng (saṃjñā) không thể phát sinh
nhận thức
và không thể trả lại cái bóng của mình¾xúc,
thọ¾thành lực tác khởi cho
dòng bộc lưu
hằng chuyển
Do tính cách phóng
chiếu – hành vi phóng chiếu – Xúc - dhātu – tạo thành Danh - chủ ngữ
hay cái Tôi, quan sát đối tượng trên các điểm phóng chiếu liên tục
ấy. Mỗi một Danh và dhātu băng thành phương vị hình học như vậy, đã
trở thành các điểm hợp nhất với các bóng của kinh nghiệm trả lại.
Như tiếng “vang” của quá trình cấu âm
trong dòng sông vĩnh cửu. Thật vậy, từ các điểm phóng chiếu ấy –
tuyến tính – ta có: ‘tôi nghĩ rằng…’, ‘tôi cho rằng…’
Rằng, là cơ chế
bổ ngữ hóa của cái Tôi nhằm liên hệ đến những cái tôi khác và xác
định bằng các Định ngữ. Do vậy, giữa Danh và Vị ngữ là các điểm hợp
nhất của tuyến tính qua “that” hay “iti” này. Ngôn ngữ như sợi chỉ
đa sắc viền lấy cuộc đời ta, bao hàm mọi trường hợp: thi ca, âm
nhạc, triết học… Tuy nhiên, nhà ngôn ngữ sẽ không làm nhiệm vụ của
triết học, hay đạo học… cho dù những quan tâm về cơ chế lý tính,
trong mọi trường hợp, có vẻ tương đồng – nắm bắt cơ chế lý tính
thuần túy, cũng có nghĩa là “hàng phục” tâm hoang dã của mình. “Hàng
phục” cái biết tổ chức “hài hòa” hay trật tự của chúng. Thậm chí, đó
là “trật tự ác tính”.
Thực ra, mục đích
xác lập cơ chế hay mô hình hóa nguyên lý của tâm thức, đối với nhà
triết học, là “khống chế ý hướng tính thoái hóa của tâm thức.”
Do đó, triết gia, tiếp cận được đạo học, còn nhà ngôn ngữ, thì thiết
lập được “các cú nghĩa mới.” Tức là, mang đến cho nhân loại này,
niềm vinh quang của văn minh ngôn tính, cải biến nhân quả của cuộc
đời - quả tương lai bạn gặt, chính là nhân hiện tại bạn
gieo.
Thuật ngữ Prima facie
(Latin: chính diện), là một thuật ngữ - cụm có thể chỉ cho một nền
văn pháp của “phạm vi rộng và có sức miêu tả“ mà nó cần được tán
dương. Song, như Chomsky giải thích và như ta từng nhấn mạnh, tiến
trình của chúng ta là cách giải thích và tiến trình trong miêu tả,
không thể vượt hơn. Mỗi một bộ phận văn pháp sẽ là những khái quát
hóa tiêu biểu đơn thuần và tiết kiệm hơn những hiện tượng mà chúng
bao hàm. Đối với những khả tính như thế, trên mặt miêu tả, lý thuyết
này không chỉ rút gọn những hiện tượng quan yếu, mà còn hình thành
những tình huống tiên nghiệm và thể hiện trọn vẹn những hiện tượng
khả phân tùy hành từ những nguyên lý cơ bản đồng nhất trên mặt khác
nữa.“
"Nhờ sự khu biệt trực cảm
và khái niệm, Kant đã vượt qua hai truyền thống này, (tức là truyền
thống từ Aritotles và thuyết Duy nghiệm cũng như Duy lý), ông cho
rằng, trực quan cảm tính và khái niệm tri tính đối với kinh nghiệm
và tri thức là một tất yếu tính. Thêm nữa, sự khu biệt cho cả hai,
là sự bất đồng trên mặt chủng loại. Kant cho rằng, cảm tính không có
khả năng tư duy (Thọ cần phải băng qua Hành và Tưởng), còn trí tính
thì không có khả năng trực quan (cảm nhận sự va chạm trực tiếp để
tạo nên ngôn ngữ phái sinh). Trực quan là nguyên tố cảm tính có
trong kinh nghiệm, đồng thời nó cấu thành cái cách được tiếp nhận
của kinh nghiệm cá thể chúng ta (thế giới tồn tại là tồn tại trên
kinh nghiệm của trực quan, tức là hành của tập khí, bao gồm cộng và
biệt nghiệp, được Danh [logos] chi phối). Khái niệm là nguyên tố phổ
quát và loại biệt (đồng và dị, cộng và biệt thể) hiện hữu trong kinh
nghiệm, nếu ta tách mỗi thứ ra thì chẳng còn ý nghĩa gì (cơ cấu
tương quan này làm nên sự tồn tại của nhận thức). Như vậy, nguyên tố
kinh nghiệm không bao giờ tồn tại độc lập như ta thường sở chỉ, sự
thống nhất tương quan này là nguyên nhân hai mặt của kinh nghiệm
chúng ta. Đối với kinh nghiệm, cảm tính và trí tính, nếu cho là độc
lập thì quả là vô lý. "Trực quan vô khái niệm thì trực quan mù lòa,
khái niệm vô trực quan thì khái niệm rỗng tuếch
-
Gedanken ohne Inhalt sind
leer, Anschauungen ohne Begriffe sind blind.”
Với một quan điểm như vậy, đã đưa Kant vượt ra ngoài sở hành của
kinh nghiệm luận và duy lý luận đang tồn tại của thời kỳ bấy giờ.
Kinh nghiệm luận và thuyết duy lý bị gạt ra ngoài học thuyết của
Kant, khái niệm mà rời khỏi tác dụng được khởi lên trong kinh
nghiệm, thì nó không có một ý nghĩa chân thật nào cả.”
Học
thuyết “LÝ TÍNH THUẦN TÚY” của Kant tiến gần đến “DUYÊN KHỞI LUẬN”
của Phật giáo. Đức Phật dạy, “tasmin
asti idaṃ bhāvati
– trong khi cái này đang tồn tại,
thì cái kia đang trở thành.”
Theo truyền thống, người Hoa dịch cả hai vị từ asti và bhāvati quy
vào một chữ “hữu,
有”
và đồng nhất chúng về nghĩa và ta cũng thường được giảng dạy như
vậy. Thế nhưng trên mặc dụng ngôn, thì cả hai, chỉ quan hệ trên mặt
dữ liệu và sai biệt trên mặt nhận thức. Có nghĩa rằng, có một quan
hệ, thậm chí đây là một quan hệ tam giác. Nhận thức và các quan hệ
tiếp cận của các đối tượng. “Cái này tồn tại thì cái kia đang trở
thành”, bởi vì “Trực quan vô
khái niệm thì trực quan mù lòa, khái niệm vô trực quan thì khái niệm
rỗng tuếch.”
Như vậy, cái đang trở thành thuộc về khái niệm trong nhận thức có
kinh nghiệm. Chẳng hạn, ta nói ‘trồng
rừng’,
rõ ràng là ta đang trồng cây. Thế nhưng, khái niệm về rừng, chỉ
thuộc về tiền thức, nó tồn tại như một dạng giả danh, nhưng nó thực
ở cách
nương trên ‘cây’, chí đến các thuộc tính của nó “đang
trở thành”
rừng, người ta cũng tuyệt đối không thấy rừng đâu cả. Song, cho dù,
‘cây’ đang biến hoại để trở thành một cái gì đó, hoặc không phải là
cây, tro than chẳng hạn, thì kinh nghiệm tiền chỉ vẫn tồn tại. Điều
này cho ta biết rằng, “cái đang trở
thành”
là thuộc tính sở chỉ của tiên nghiệm, nó hậu thiên kinh nghiệm. Nó
đang trở thành trong một “không gian”, trong một thời gian nhất định
nào đó. Thậm chí cái đang trở thành cũng chỉ là khái niệm hòa tan
cùng nội thể của “cụm rừng”. Như vậy, asti và bhāvati, chỉ tương
quan trên mặt thời - không đồng nhất “trong
khi cái này tồn tại, thì cái kia đang trở thành”.
Nếu như có một nhận thức thứ ba chen vào, thì người đó chỉ thấy
“cây”, chớ chưa từng có ý niệm rừng, vì ta đang trồng cây mà nhận
thức thì chưa “kinh nghiệm” đến. Thế thì, cảm tính và trí tính đều
phải tương quan trên yếu tố kinh nghiệm, yếu tố tập khí đơn biệt của
mỗi một cá thể, nhưng có một trường phổ quát chung là
chứng tự chứng phần.
Có nghĩa là cái biết về cái biết, hoặc là cái biết về cái không
biết. Chuỗi ký ức của chúng ta.
Một
thí dụ sau đây sẽ rõ nét hơn. Một anh B nào đó đã từng đến một ngôi
chùa tên là T.A, chẳng hạn. Anh ta tu học ở đây hơn 10 năm, có nghĩa
rằng, anh ta thông thạo mọi ngõ ngách, hình dáng cấu trúc của ngôi
chùa này, chí đến các sư trong đó là ai, đạo đức như thế nào, và
rồi, vì một biến cố nào đó, ngôi chùa đã bị xóa mất, chỉ còn lại một
ít vết tích, gạch đá, vách tường v.v... Khi đã già nua, anh ta dẫn
cháu mình đến chỗ tu học khi xưa và nói, đây là chỗ ngày
trước
ông
đã tu học – cái chùa. Đứa cháu của ông ta sẽ chẳng có một khái niệm
gì cả, cho dù ông cố chỉ cho nó một ít tàn tích, như là các thuộc
tính hay đặc trưng của ngôi chùa: gạch, ngói, một vài mảnh vụn, cửa
sổ.... Thế nhưng, gạch cũng vẫn là gạch, đá vẫn cứ là đá...đối với
đứa bé. Vậy, ngôi chùa và các thuộc tính của nó chỉ tồn tại bằng
nhân duyên hay kinh nghiệm của ông ta, còn đối với đứa bé, nó sẽ
chẳng liên hệ được gì, dù nó tồn tại cùng sự tồn tại trong chuỗi
kinh nghiệm của ông nội mình, cả hai đồng tồn tại ở một không gian,
một thời điểm trên các điều kiện. Thế nhưng, sự tồn tại ấy và các
thuộc tính đặc trưng của ngôi chùa, chỉ có ở ông nội của nó. Nó, đứa
bé ấy, có thể tiên nghiệm được thế nào là một ngôi chùa, nhưng những
liện hệ cụ thể của kinh nghiệm trực quan về ngôi chùa là không thể.
Nó chỉ có cảm tính từ dữ liệu–danh ngôn–của cái chùa. Cả hai ông và
cháu, đồng hiện diện trên cái vừa có vừa không của cảm tính và tri
tính, cả hai đồng thời và đồng điểm hiện thân của
thức.
Thế thì, tri tính như là một điểm hiện tại, trên một không gian hiện
tại, nó sẽ tồn tại như là các tập khí: hướng về phía trước với những
kinh nghiệm–thọ, tưởng, hành và thức, thì nó là suy nghiệm, hướng về
phía sau thì nó là nội tính với các tập khí của mình–thức, hành,
tưởng, thọ và xúc. Như vậy, sự tồn tại của ngôi chùa sẽ không cần
đến các thuộc tính của nó, nó chỉ là cái vươn ra với những
chúng đồng phần
của mình, trong một thời điểm, trong một không gian nào đó có nhận
thức, có kinh nghiệm cá biệt và, nó vươn ra xa hơn nữa, với những
tương lai hữu hạn định để hoàn thành mọi năng lực
được cho
của mình. Trong trường hợp tịnh tiến của hệ hình học giải tích này,
chủ ngữ và các định ngữ không cần thiết hay bị loại trừ. Nói cách
khác, cái ngã, chỉ là kinh nghiệm với các thuộc tính bất thực của
nó. Do vậy, lý duyên khởi mà bản chất của nó là bản chất độc lập cấu
trúc, nó độc lập vì nó là tiên thiên (Grundquellen), là Hình nhi
thượng, nhưng không phải là duy
nghiệm siêu hình,
do vì độc lập cấu trúc, nên pháp ngữ “tasmin asti idaṃ bhāvati”, có
thể thay bằng 4 hay 8 cách theo hướng Hình nhi hạ, nếu như ta cho
rằng, Hình nhi hạ, là trò huyển hóa của nguyên lý độc lập này–thế
giới khách trần, thật sự chỉ là trò huyển hóa của nguyên lý tâm
duyên. Ta thay đổi theo kiểu giao hoán tương hỗ, đối với vị từ
as
và bhū
như
sau với tư cách là câu lưỡng nghĩa nội hàm bốn cách
(four-ways-ambiguous – câu nhị nguyên hàm tứ cú):
1.
Tasmin idaṃ asti, idaṃ bhāvati
2. Tasmin idaṃ
asti, idaṃ asti.
3. Tasmin
idaṃ bhāvati, idaṃ bhāvati
4. Tasmin idaṃ bhāvati idaṃ
asti v.v...
Câu
(1.) là một mệnh đề hay tiểu cú trần thuật (explainable
clause), nói lên điều kiện tất yếu của thể nghiệm. Câu (1.) cũng cho
ta biết rằng, vũ trụ hay thế giới phải phục tùng điều kiện tất yếu
của kinh nghiệm. Như vậy, tổng hợp
hai nghĩa này của câu (1.), ta có: to be = was be = will be→being.
Tổng thể cái này, tức tồn tại là Dasein (duyên tại)
của Heidegger
và cũng là Viên trí của Phật đà - siêu tứ cú việt bách phi.
Nói chung trường hợp
này sẽ ứng dụng cho tất cả. Duyên khởi tánh không, sẽ được hiểu như
vậy (bởi vì nó không đoạn cũng không thường, nó hằng chuyển theo các
duyên biệt và cộng thể). Being
không thể bị Danh hóa, nói chung, nó không phải là sự xếp loại đồng
hàng của thế giới tương quan như ta biết. Vậy, khi dịch
Being là Hữu
thể, chẳng những nó chưa chỉ cho một cái gì rõ nét mà lại mắc phải
cái lỗi của dịch từ. Ở đây, ta sẽ minh định hệ thống song song
(parallelism) giữa v
(vị từ - verb) và Nz (danh hóa) theo cách ứng xử và phân bổ về cái
gọi là ‘những vị ngữ vựng – phi thực [pseudo-lexical verbs]’. Chẳng
hạn, be
và have.
Bất cứ nơi đâu hai vị từ này vẫn từng được kết luận hoặc hàm hay
hiển ngôn là hai khoảng cách của V là thuộc về phạm trù từ vựng. Ở
đây, V nói lên rằng, chúng là những phạm trù chức năng để dẫn đạo
vP
(ngữ đoạn vị từ). Ta hãy quan sát các cặp câu sau đây:
a.
John is certain that Bill will win the prize (John chắc rằng, Bill
sẽ giật giải này).
b.
John’s certainty that Bill win the prize (sự cả quyết của John là
Bill sẽ giật giải này).
Trên mặt lôgíc thì
câu (a.) và (b.) giống nhau, chỉ sai biệt ở chỗ có phải chúng là vị
từ hay danh tính trong các điểm phóng chiếu cực tiểu hay không. Để
khẳng định các cấu trúc kết học song song với chúng là một điều hợp
lý. Tuy nhiên, với cách làm như vậy, chúng ta sẽ đối diện với vấn đề
là cách nào phân tích vị từ - hệ ngữ be
(the copula be
– verb) không phải là hệ ngữ danh hóa:
c.
John’s bety / beness / bement certain that Bill will win the prize
(sự cả quyết / có khả năng / có tính chất là / đang hình thành của
John, rằng Bill sẽ giật giải này).
Be
phi thực là cần yếu
trong những ngữ đoạn danh từ được -ing danh vị từ dẫn đạo:
d.
John’s being certain that Bill win the prize (John đang cả quyết
rằng Bill sẽ giật giải này).
Những danh vị từ,
nói chung, được phái sinh thành các vị danh vị từ và vị danh danh từ
(verbal and nominal gerunds), và being
trong (c.) là một vị
danh vị từ, hơn là một vị danh danh từ. Như đã mong đợi, nó không
thể kết hợp cùng mạo từ the,
nó chỉ kết hợp với vị danh danh từ như sau:
e.
the fixing *(of) the sink (việc đang lắp đặt cái bồn rửa chén này).
f.
the being certain
that Bill will win the prize (việc chắc chắn [đang] xảy ra rằng,
Bill sẽ giật giải này).
Bất cứ cấu trúc nào
được nêu dưới dạng vị danh vị từ, thì nó sẽ được phân biệt với cấu
trúc nào được ta nêu ra dưới dạng cấu trúc danh từ. Nếu being trong
(d.), là phạm trù vị từ, thì tính đúng ngữ pháp của nó sẽ không thể
thể hiện là be
bị danh hóa. Hơn
nữa, y trên tính đúng ngữ pháp – ill
(bệnh) của (c.) và như vậy, khi kết luận rằng, be
không thể bị danh hóa và rằng, being
trong (d.) là một
hình thái biến tố của be
hoàn thành một cách
cơ bản vị trí kết học đồng nhất như trong (a.) là hoàn toàn hợp lý.
Sự kết luận tương tợ cũng ứng dụng cho cách sử dụng sở hữu và trợ từ
của have.
Vậy, một vấn đề phát
sinh là tại sao be
và have
không bị danh hóa. Nếu chúng thuộc về phạm trù từ vựng V, thì đáng
lẽ chúng phải bị danh hóa, bởi vì sự vận hành từ V – Nz, về cơ bản
thì được cho phép danh hóa xảy ra. Câu hỏi này có hai mặt, một mặt
thì nó hỏi trực tiếp đến vấn đề đi ra ngoài các giả thuyết danh hóa
cú pháp, nếu ta cho rằng mỗi hình thái biến tố và phi biến tố của
be và
have
có nguồn gốc trong sự dẫn đạo của vP. Nên nhớ rằng, lý thuyết của
chúng ta, danh hóa cú pháp là một kết quả từ sự di chuyển từ V hiển
– sang Nz (overt V – to – Nz), mà ở đó, Nz là một bộ phận danh tính
của phạm trù chức năng v.
Ở mặt khác, nó không bao giờ xuất hiện để Nz chọn vP làm nhiệm vụ bổ
ngữ của nó. Vậy thì, nếu have
và be
là những khoảng cách
của v,
thì việc không thể xảy ra về danh hóa của chúng đi ra ngoài cách
phân bố bổ ngữ của v
và Nz.
Sự đỏi hỏi này chỉ
để be
và have
chi phối cho vP, hơn
là VP được di chuyển một cách độc lập bởi sự kiện là cả hai không
thể bị thụ động hóa, do vậy, dưới sự kết luận tự nhiên là, chỉ những
vị từ quan trọng chi phối vP mới có thể bị động hóa mà thôi. Chẳng
hạn:
g.
A fireman is been by John (cf. John is a fireman). Một nhân viên cứu
hỏa sở thành bởi John (John là một nhân viên cứu hỏa).
h.
A car is had by John (cf. John has a car). Một chiếc xe [đã] được có
bởi John (John đã có một chiếc xe).
m.
Mary was had (to) dress in Spandex by John (John had Mary dress in
Spandex). Mary đã phải có địa chỉ trong Spandex bởi John (John đã có
địa chỉ Mary trong Spandex).
n.
The sink is had fixed by John (cf. John has fixed the sink). Bồn rửa
chén này đã có được lắp đặt bởi John (John đã lắp đặt bồn rửa chén
này).
Mô thức này cũng chỉ ra sự “khó khăn” của TH.
Stcherbatsky khi dịch “Luận Lý Học của Phật giáo”. Điểm gian khó đó
phải cần đến Kant và Chomsky trong LÝ TÍNH THUẦN TÚY và NHẬP VÀO
TÍNH PHỨC HỢP CỦA CẤU TRÚC BỀ SÂU mới được giải tỏa, như phần giải
thích tiếp theo sau của bản văn về và của hai bộ óc to lớn này.
Tuy nhiên, asti là
một tồn tại viên thành; còn bhāvati chỉ là tồn tại phụ thuộc, theo
bản chất nội tính hóa của chính asti. Asti tồn tại như hư không, còn
bhāvati, tồn tại như quỷ đạo êlíp
vậy.Vì lẽ đó, Duy thức,
còn có nghĩa là viên thành thực tính
nữa, tức là, chỉ có
chủng tử viên thành và, lúc này nó hướng theo chiều tịnh tiến. Nếu
không như thế, thì làm sao chư Phật và chư bồ tát có thể thi thiết
Đại nguyên cứu độ quần sinh, làm sao mà
ngân hàng thanh tịnh nghiệp
có thể “phát không” cho tất cả chúng sinh. Trừ trường hợp này, còn
lại, thì ta phải luôn luôn ký tên vào biên bản hợp đồng vay mượn cho
cả hai mặt: tiên và hậu nghiệm hay cảm tính và tri tính của chính
ta–ngôn tính theo chiều thoái hóa. Văn bản đó, làm nên:
tướng phần,
với các hình vị, âm tố, cú pháp, cảm tính nghĩa... và, làm nên:
kiến phần,
với nhận thức cộng, biệt v.v...giao diện hỗ tương cùng tướng phần,
chỉ cho mọi nghĩa cú và hình sai biệt của thế gian.
Câu nhị nguyên tứ cú
này có thể được cho là “siêu tứ cú, việt bách phi”, bằng cách hiểu
trong tính khả nghiệm của “nhị nguyên tứ cú”. Nên nhớ là, trong Phạn
văn, không có vị từ have,
chỉ có vị từ tương đương chỉ cho “năng trì”, tức là sở hữu (dhā).
Hình thái này như hệ thống ngôn ngữ của Bồ-đào-nha (Portuguese).
Trong ngôn ngữ Bồ-đào-nha, SER có ý nghĩa như
to be
của tiếng Anh hay as
của Phạn văn. Nó chỉ cho một tính chất cố hữu, hay một phẩm chất phổ
biến của “being – đang tồn tại”. Nó cũng chỉ cho nghề nghiệp, khuynh
hướng, hoặc tình trạng của cuộc sống, thậm chí nó còn chỉ cho một
tình huống tạm thời. Chẳng hạn: sou um
turiste
“tôi là một du khách”, sou um aluno
“tôi là một học sinh”, hoặc sou solterio
“tôi là người độc thân”. Còn chỉ cho sở hữu thì, vị từ là TER (to
have) và, TER cũng sử dụng chỉ cho trạng thái cảm xúc. Như,
ter fome
(nổi giận), ter sede
(bị khát), ter frio
(bị lạnh cóng), ter calor
(bị nóng bức)… như to be.
Lý tính chúng ta
phải cải biến đúng văn pháp (grammatical transformation), nếu bất cứ
cơ cấu tổ chức nào của nó lệch đường ray, thì vũ trụ sẽ không thể có
được sự hài hòa như ta thấy ngày hôm nay, thế thì cơ cấu chủ ngữ và
định ngữ không nhất thiết phải tồn tại trong lý thuyết ngôn ngữ
đương đại. Trên tính tương quan, chẳng hạn, “cái xe”, chỉ tồn tại
trên mặt danh cách và có thể không cần đến cơ cấu định ngữ, bởi, các
yếu tố đang trở thành cũng có nghĩa là đang biến hoại, thế thì “ngôi
chùa” là không thể biến hoại, cái đang tồn tại và cái đang trở thành
quan hệ trên mặt chất liệu, nhưng không quan hệ trên mặt tồn tại phổ
quát, thậm chí, cộng nghiệp không thể là biệt nghiệp, nó tách biệt
trên mặt kinh nghiệm cá biệt và phổ quát trong “nghiệp”. Cả hai “ông
cháu” tồn tại cùng với sự tồn tại kinh nghiệm của người lớn tuổi bên
nó, nó kinh nghiệm với cái chưa kinh nghiệm của mình về sự bất thực
của ngôi chùa hay “cái xe”, cho dù các mảnh vỡ của cứ liệu được
người lớn sở thị. Vậy thì chủ thể (S) không tồn tại, định ngữ (D)
không tồn tại. Tuy nhiên, trong cấu trúc chiều sâu, thì S và D phải
xuất hiện một cách cần và đủ như bản chất của toán học, bởi vì không
đúng và đủ, thì nghiệp không thể hình thành, theo bản chất đúng và
đủ của nó. Cái tập khí này tồn tại, không có nghĩa là nó kéo theo
cái tập khí nào khác, nó phải chúng đồng phần như một thí dụ vừa
nêu. Đây là... của chùa T.A,... tất cả những cái mất đi là
của chùa T.A.
Thế thì, những gì mất đi vẫn tồn tại là của chùa
T.A, trong
nội nghiệm cá biệt
và hình thành trong kinh nghiệm phổ quát nữa. Ở đây, lý thuyết ngữ
pháp tạo sinh đã hình thành và nó nhường chỗ lại cho lý thuyết cải
biến đúng văn pháp, hay học thuyết tối giản bằng cơ chế cách đếm
v.v... đã nêu.
Qua một loạt lý thuyết như vậy, ta thấy, sự tồn
tại của một đơn nguyên là một tồn tại ảo giác, nó được thọ thổi
phòng thành các hình vị hay cú nghĩa, nó bất thực vì nó không có tác
dụng, nó là kinh nghiệm cá biệt của các phóng ảnh có mục đích, nó
không thể chi phối cho bất cứ nhận thức phổ quát nào. Cái gì không
phổ quát, thì cái đó không thể là chủ thể được, cái gì không đơn
biệt, thì cái đó không thể độc lập cấu trúc. Bất cứ học thuyết ngôn
ngữ nào không nêu lên được lý thuyết văn phạm phổ quát thì lý thuyết
đó được cho là không hoàn chỉnh, cũng vậy, bất cứ lý tính nào mà
không cấu thành mô thức thuần tịnh phổ quát, thì vẫn được xem là phi
lý, bởi, người ta không kiểm soát được tính hoang dã của nó. Nó
hướng hạ và biến hoại, nguy hiểm hơn, nó sẽ là một tổ chức phá hoại.
Nó không có kinh nghiệm bề sâu. Nghiệp duyên khởi cả hai chiều cộng
và biệt, nhưng, cộng không thể duyên với biệt, cho dù từng đơn vị
“cộng” là phải cộng từng đơn vị, nhưng là của “cộng”, chẳng hạn:
be-ty, be-ness, be-ment, be-ing, chớ không thể là: have-bety,
have-bement…
Kinh nghiệm toàn diện (một đối tượng), tất
nhiên là phải có một trình tự xác định hoặc là có một mô hình tiên
thiên. Kant, sở y trên hai nguồn tiên thiên của tâm thức
(Grundquellen des Gemüths) nói cách khác, đó là hai nguồn của
kiến và tướng phần: biểu thể (nội tính hóa (cảm tính hóa
đối với) ấn tượng – Receptivität der Eindrücke) và sức lãnh hội các
biểu thể bằng công cụ hữu biểu tiềm tại ấy. Lập ra mô hình này, Kant
dùng để khảo sát sự bất đồng giữa cảm tính trực quan và trạng thái
khái niệm. Và, dĩ nhiên cả hai đều hiện hữu trong mô hình đã cho như
vậy. Kant nói,
“Ta cần ứng dụng hạn từ cảm
tính (Receptivität) để tiếp nhận các ấn tượng (Vorstellungen)
của tâm thức mình, trong một chừng mực theo một cách nào đó mà tâm
sở tác (afficirt wird), bởi sự đối ứng của tri tính
(Sinnlichkeit) này, tức là tính năng tự sinh của chính ta đối với
các biểu thể (phát khởi) ấy, hoặc nói khác hơn, (nó là) cách tri
nhận nội tính hóa, thức tính (Verstand). Bản tính của chúng
ta luôn bị giới hạn trong những đối tượng năng tác (có nghĩa là nó
tương ưng với những đối tượng được cho trong cảm tính). Nói cách
khác, tính năng tư duy đối tượng của cảm tính trực quan là thức
tính…Trực quan vô khái niệm tức mù lòa, khái niệm vô trực quan
thì rỗng tuếch. Cả hai tính năng – năng trì (Vermögen – năng
tàng – khả năng chấp trì) hoặc năng thuyên (Fähigkeit) này mà hành
chức của chúng đều tùy duyên bất biến, (giao diện nhưng) không thể
tương dung (beide Vermögen oder Fähigkeiten können auch ihre
Functionen nicht vertauschen). Thức (Verstand) không thì
(cảnh) bất thành, căn (Sinne) không, thì
thức bất khả tri.”
Nói cách khác, nếu tâm không có lực hút, thì
không có kinh nghiệm trực quan, và cơ cấu tầng sâu. Nếu không có ấn
tượng tầng sâu, thì nhận thức không thể khả thi. Lực hút hay thức
luôn tồn tại, cho dù đối thể hay cảnh có thể băng hoại. Thế nên, thế
giới khách quan chỉ là thế giới ảo hóa, nó luôn là viễn cảnh của cảm
tính nội quan và tri tính. Ta nói, Duy Thức, chẳng hạn.
“Trái đất quay chung quanh mặt trời” là kinh
nghiệm hậu thiên, “cái gì không quay quanh mặt trời, thì không phải
là trái đất” là kinh nghiệm tiên thiên. Kant muốn nói đến điều này.
“Cái này có, thì cái kia đang trở thành.” Và
tất nhiên là, “cái gì không có, thì cái kia không thể đang trở
thành”. Vậy thì, “cái này” và “cái kia” dù không và đang không có,
vẫn “có”
trong tâm thức “tịnh tiến” của đấng Đại bi. Phật nói duyên khởi là
vậy. Duyên khởi mà trạng thái tịch tịnh của nó “diệu hữu” trên các
cách phan duyên của pháp. Ta nói Duy thức, chẳng hạn.
Y trên nguồn tiên thiên (Grund), Kant khảo sát
cảm tính trực tri, trong đó là các liên hệ của thời không (Raum und
Zeit). Chẳng hạn, ta nói “cái này tồn tại, thì cái kia đang trở
thành.” Thế thì “tồn tại”, phải tồn tại trên một điểm không gian và
trên một điểm thời gian nào đó và nhất là kinh nghiệm. “Cái kia đang
trở thành”, có nghĩa là nó kéo theo những liên hệ thời không nữa.
Bản kinh Lăng-già dạy rằng, “hình bóng của cái cây in dưới nước, nó
phụ thuộc vào dáng đứng của cái cây”, tức chỉ cho ý nghĩa này. Sự
tồn tại của đối tượng kéo theo sự tồn tại của thời không và các quan
năng liên hệ nhận thức, thâm chí có cả hai nguồn tiên thiên nữa.
Trong mục Luận về Không gian của chương
Diệu cảm (Transscendentalen Æsthetik) Kant nói:
“Y trên các căn tri nhận (đến từ)
ngoại diện (nét đặc trưng tâm thức của chúng ta – cảnh tác động lên
căn), ta tự mình cấu trúc các đối tượng (cảnh – thức cấu trúc nghĩa
của đối tượng) xét như là ngoại thân mình và nhập tất cả vào Không
gian tiền diện này. Trong đó, nào là hình hài (tướng) của chúng, sự
to lớn (kích cỡ) và nào là các mối quan hệ đã xác định hay khả năng
xác định chúng lại. Cái tính nội tri này mà nhờ đó tâm thức tự chứng
lấy mình hay là tự chứng trạng thái nội quan của mình, nói đúng hơn
nội tính ấy không nêu lên cảm tính trực tri nào về linh hồn như là
một khách thể; vẫn chỉ có một hình thái xác định, vẫn chỉ có thể xảy
ra dưới cảm tính trực tri của trạng thái nội thức của chúng ta. Vậy,
mọi thứ đều hạn cuộc vào những xác định của tâm thức và được biểu
hiện trong các liên hệ về thời gian. Chúng ta tuyệt không có cảm
tính ngoại tri nào về thời gian, không hơn bất cứ cảm tính trực tri
nào mà ta có được nội cảm về không gian vậy.”
Trong chương luận về LÝ TÍNH, Kant nghiên cứu
hình thức tiên thiên của lý tính, tức là thời gian và không gian.
Qua sự phân tích này, Kant khảo sát hình thái tiên thiên của TRI
TÍNH, tức các phạm trù. Điều này đã khẳng định hình thái xác quyết
chương phê phán đầu tiên của ông. Tiếp đến, trong chương Biện Chứng
luận, ông đã kịch liệt đã kích tính độc đoán của Siêu Hình học hay
Hình Nhi Thượng học (metaphysische). Điều
này cũng đã cấu thành sự phê phán của loại quan năng ấy; cũng tức là
sự phê phán đối với LÝ TÍNH, ta có:
Phân tích có phê phán Hình thức tiên thiên
Quan năng
Cảm tính luận Thời gian và Không gian
Cảm
tính
Phân tích luận Phạm trù
Tri tính
Biện chứng luận
Lý tính”
Tuy nhiên, ở đây, ta
sẽ không đi sâu vào triết học Kant, một ít trích dẫn về Kant
để ta biết rằng Kant “gần” Phật giáo như thế nào và hệ thống triết
học của triết gia ấy ra sao về cơ cấu lý tính. Và thật sự, nó có ảnh
hưởng hay không đối với ngôn ngữ học nói chung và nói riêng, đối với
Chomsky. Trong mọi trường hợp, một hành giả tôn giáo có thể là một
triết gia, thế nhưng một triết gia không thể là một hành giả.
Nếu như cho rằng, Kant là “người đầu tiên
trong lịch sử loài người đã đứng ra nghiên cứu về khả năng cũng như
giới hạn của tri thức con người”, như G.s học giả Trần thái Đỉnh
đã nêu trong tác phẩm Triết học Kant của mình, thì quả là một
sai lầm nghiêm trọng. Bởi vì, cơ cấu lý tính con người, thâm chí chư
thiên và luôn cả trí năng của các đại Thanh văn, Bồ-tát đều đã được
đức Phật chỉ dạy tường tận trong hầu hết Tam tạng thánh điển, và ở
đây được nhấn mạnh bởi bản kinh Lăng-già, và, nhất là Câu-xá luận và
Thành Duy thức luận của tôn giả Thế thân. Bởi vì, sự giới hạn về
Phật giáo của Trần thái Đỉnh kể cả cách nhìn phổ quát về và của tri
thức nhân loại, nên Trần thái Đỉnh đã dám tuyên bố như vậy. Xét về
triết học của Kant qua Duy thức, ta thấy Kant có rất nhiều hạn chế.
Thứ nhất quan niệm về Tiên thiên, thứ hai về Lý tính thuần túy
...tất cả chỉ là Thức biến, thức biến trên phạm trù danh ngôn tập
khí, cho dù qua đó, Kant tạm thời thấy được tính thuần tịnh của
chủng tử hiện hành và huân tập. Cả tác phẩm Phê phán Lý Tính của
Kant, chỉ quay quần trong “chủng tử hiện hành, hiện hành huân chủng
tử” mà thôi. Hai nguồn cơ bản như Kant quan niệm, thực chất chỉ là
Kiến phần và Tướng phần, nó là tướng vì là cấu trúc của Nghiệp, nó
Kiến vì được tưới nhuần bằng ái dục, nó luôn muốn thấy nó, nên cả
hai mới hiện ra thế gian và vũ trụ này với những hình dạng, chủng
tính đa thù. Cả Kiến và Tướng chảy vào trong các khoang ý niệm của
chúng sinh đưa đến những hiểu biết giới hạn của mình theo từng phẩm
loại. Nếu như Kant là “người đầu tiên trong lịch sử loài người đã
đứng ra nghiên cứu về khả năng cũng như giới hạn của tri thức con
người”, thì “loài người”, theo Trần thái Đỉnh, thì điều
đó chỉ riêng đối với Tây phương thôi. Ta là những người học Phật,
không có nghĩa là ta thần tượng hóa chư tổ, cũng như đức Bổn sư của
mình, ta “Đông độ” hóa Phật độ của ta. Thế nhưng, cho rằng Phật giáo
với tính phổ biến của mình, trên hết là một tôn giáo dạy ta con
đường thoát khổ, thì, mọi tri thức nhân loại đều phải được
đặt trên tấm gương trong lành này, thỉnh thoảng, người ta gọi Phật
giáo là “Thiền như ảnh dụ”, là vì lý do như vậy. Và cũng vì
lý do như vậy, khi chuyển dịch một vài tiểu đoạn của Kant, ta
đã không làm theo cái cách Việt dịch “thuật ngữ” khổng lồ của các
dịch giả “chuyên Kant”, ta làm theo cách phổ biến của một người học
Phật – minh định Lý tính qua bộ thuật ngữ của chư tổ sư, ngữ thì bất
nhất, nhưng nghĩa thì tương đồng. Đúng như thầy Tuệ sỹ dạy: “Học
Duy thức mà không đọc Hegel và nhất là Kant, thì ta không thể nào
hiểu được Duy thức.”
Nếu, dùng cơ chế của “tứ thiền” để phê luận
Kant, như khi hành giả nhập vào trạng thái sơ Thiền, với hình thái
Tầm và Tư, họ nhỡn nhơ như con bướm và hút lấy tinh chất của “tiên
thiên hữu nghiệm” và, vào trạng thái thứ hai, họ hút lất “tiên thiên
siêu nghiệm”, tạm thời chấm dứt quá trình kinh nghiệm hữu ngôn. Và
kế đến là trạng thái thứ ba, họ tự tại trong “tiên thiên siêu
nghiệm”, lúc này -
die Vorstellungen zu
empfangen (die Receptivität der Eindrücke), và die zweite das
Vermögen - hợp thành nhất thể. Kế đến là trạng thái thứ tư, mọi thứ
đều bị quét sạch… Trong trường hợp như vậy, LÝ THUYẾT LÝ TÍNH THUẦN
TÚY của Kant bị sụp đổ hoàn toàn. Tuy nhiên, khi một người đang giải
thích chi tiết “về đỉnh Tu-di” mà, thực tế, thì anh ta chưa từng lên
tới đỉnh ấy bao giờ. Bạn hẳn sẽ hiểu rằng, anh ta “đang tán phét”.
Anh ta, vẫn còn đang ở dưới chân của các đỉnh Tu-di như vậy. Tất cả
chỉ là những giả định, những tưởng tượng của anh ta mà thôi. Hãy đi
vào LÝ TÍNH của Kant và TỨ THIỀN của Phật giáo, thì mới có thể đánh
giá và tỷ giảo hai truyền thống này. Trừ phi bạn là một trí giả.
Thế nhưng, theo bản kinh Lăng-già, với Kant, ta
vẫn muốn kết luận rằng: “Thế gian như hoa đốm hư không, tiên thiên
vô nghiệm hay hậu thiên hữu nghiệm, đều không tồn tại trong tánh
của bậc Giác. Tất cả các pháp như huyễn ảo, tiên thiên vô
nghiệm hay hậu thiên hữu nghiệm đều không tồn tại trong trí của bậc
Giác và đại bi sinh ra từ tính giác ấy.”
Nếu hai nguồn tiên thiên của Kant vốn thuần
tịnh, thì nó phải “bất cộng” đối với các pháp; đằng này chúng chi
phối và truyền lực cho nhận thức như chương thứ hai của phẩm SIÊU
DANH đã cho: “Tri thức của chúng ta thoát thai từ hai nguồn tiên
thiên trong tâm thể. Nguồn thứ nhất là nguồn tính năng hay lực tiếp
nhận biểu thể. Nguồn thứ hai là sức tri nhận bằng chính công cụ của
các biểu thể này (hàm năng mở của những khái niệm).”
Song, để trả lời cho nạn vấn ấy, Kant nói, giả
như câu “sự vật nào xuất hiện, thì vật ấy phải do nguyên nhân dẫn
đạo.” Đây là một câu trần thuật về điều kiện tất yếu của kinh nghiệm
và tiêu đề này cho ra một tiêu đề thứ hai nữa là: trần thuật về quan
niệm tiên thiên kinh nghiệm luận. Hiển nhiên là, ta sẽ tổng hợp cả
hai lại, ta sẽ có tiêu đề thứ ba.
Như vậy thì, theo Kant, “mỗi một sự vật đều có
nguyên nhân”, là tổng hợp tiên thiên. Nó không phải là chân lý tất
nhiên của phân tích. Tại sao vậy ?
Tiêu đề thứ nhất, theo Kant, phạm trù “nguyên
nhân” là điều kiện tất yếu của kinh nghiệm. Cái nào không có nguyên
nhân thì không thể được kinh nghiệm. Tiêu đề thứ hai làm nên kết quả
tiên nghiệm quan niệm luận, cái sự kiện nào không được kinh nghiêm
thì cái đó không phải là một bộ phận của cảnh giới kinh nghiệm. Do
vậy, mỗi một sự kiện đều có nguyên nhân, “sự kiện” và “nguyên nhân”,
tuy là hai khái niệm bất đồng, nhưng có thể thông qua quan hệ khái
niệm điều kiện tất yếu của thể nghiệm mà có thể đạt đến tiên nghiệm.
Tiên thiên vô ký, vì nó “hằng”, nó không đoạn vì nó “chuyển”. Hằng
chuyển là duyên khởi của thức.
Nếu, quả thật, tiên thiên kinh nghiệm xét như
là nền tảng của học thuyết Kant, so với mô hình của mệnh đề tasmin
asti idaṃ bhāvati ở trên, thì cốt lõi “tiên thiên” của kant vẫn còn
khiếm khuyết. Tại sao ? Ta hãy lập lại mệnh đề của asti, theo công
thức như sau:
Qua công thức này, ta thấy, being của
Phật là hiện nghiệm (experiencing), siêu việt Tiên và Hậu
nghiệm của Kant. Bởi vì being, ở đây tồn tại qua ba thời.
Hiện nghiệm, trong Phật giáo là tu tập. Qua lộ trình tu tập, hành
giả hành giả sẽ chứng đắc being như là being. Lộ trình suy
nghiệm cho dù là siêu việt hay tiên thiên, thì cũng là tịnh lự trong
tâm sở tư, nó không phải là cứu cánh đưa đến Niết-bàn. Tâm sở tư còn
phải Tu nữa. Đây cũng có thể là ý nghĩa của Heidegger đã cho là
“Kant là một triết gia cân bằng cái cách để tư duy cái đang tồn tại
trong tồn tại luận…” ? Như được trích dẫn bên dưới.
Đời sống phàm tưởng của chúng, luôn đóng kín
trong hai yếu tố: tiền tố và hậu tố, như tính chất tiền và hậu tố
trong ngôn ngữ; hoặc là hồi quy quá khứ, hoặc là suy nghiệm tương
lai. Vĩ tố - ing, làm nên cái đang là, là một cái gì đó mà hầu như
ta chưa “sống” với nó.
Phật dạy, “Trong
thời mạt pháp, chỉ có niệm A-di-đà Phật, thì mới viễn ly sinh tử
luân hồi.” Niệm Phật thì đơn giản, nhưng đưa vào lôgic học siêu
nghiệm thì không đơn giản chút nào và nhất là quan niệm ngôn ngữ học
của Chomsky. Tất nhiên, “vào thời mạt pháp”, thì ta phải niệm Phật
bằng cái tâm “tâm sở tư”, tức là bằng cái tâm định hướng tính, cực
căng, chư tổ gọi là tín, hạnh, nguyện. Hành vi niệm Phật, phải phát
khởi trên sắc pháp, vì đó là tư duy và nó cũng là cảnh giới thoát
thai từ kinh nghiệm tiên thiên. Hơn thế, với tâm sở tư này, nó sẽ
rớt vào cái khoang chủng tính thanh tịnh của chúng ta, nó hút lấy
đối thể rớt và tri nhận đối thể đó. Nó nội tính hóa và đưa ta đến
cảnh giới “chim ca lời pháp, nước có tám phẩm chất diệu ngọt mát
trong”. Và rồi, khi tiếp cận đến cảnh giới tiên nghiệm này, ta lại
được nội tính hóa toàn diện để vào “thường tịch quang tịnh độ”, đúng
như bản nguyên của đấng Đại bi. Tuy nhiên, niệm Phật, còn phải nhờ
đến đôi cánh của thực hành bồ-tát đạo, thì mới đúng toàn nghĩa của
“văn, tư, và tu” như Phật dạy.
Tuy rằng, Kant không
nói tới pháp tu, chỉ đưa ra quan điểm dò tìm tế duyên của tiên thiên
kinh nghiệm, thế nhưng, nhờ Kant mà ta hiểu được đôi phần của Duy
Thức, như thầy Tuệ sỹ đã dạy:”không đọc Hegel và nhất là Kant,
thì ta khó lòng mà hiểu được Duy Thức.”
Theo Kant, tiên
thiên kinh nghiệm có thể được nắm bắt nhờ vào suy nghiệm, có nghĩa,
nhờ vào điều kiện tất yếu của kinh nghiệm. Chẳng hạn, ta biết chiều
kích ngắn của một vật thể nào nhờ có dài, tức là nhờ vào sự đối xứng
nội khởi trong kinh nghiệm và ngược lại. Tuy nhiên, cái biết đó,
không phải dài hay không phải ngắn, nó vô ký hay nói khác hơn nó
tiên thiên. Nó là tri tính. Nhờ phương pháp suy nghiệm
(Erkenntnisst) này mà Kant đặt tên cho cái biết đó là thức tính.
Tuy nhiên, phương pháp ấy được bẻ ngoặc vào những suy tưởng khác
theo truyền thống triết học của Tây phương, có nghĩa rằng, vết xe
của Kant đi vẫn là những vết xe của các tiền nhân của mình. Lấy tư
duy lôgíc làm tiền đề cho những chuyến du hành bất tận vào lộ trình
ngôn ngữ. Trong khi đó, Phật giáo khi đã trầm tư trên các khả thể,
đồng thời Phật giáo đặt cả thân và tâm của mình vào công việc thực
hành tu tập. Chẳng hạn, nhằm khai thác cho được những nguồn tiên
thiên của mình, họ có thể thực hành pháp môn quán Phật, theo dõi quá
trình chuyển biến của tâm thức trong khi tu tập, trên cơ sở sắc và
tâm pháp. Chẳng hạn, thực hành sáu ba-la-mật. Thế nhưng, cụ thể vẫn
là Pháp môn niệm Phật. Pháp môn niệm Phật có các công năng đặc thù,
mà theo lôgíc, là khi ta niệm Phật, tức là ta liên hệ đến các chủng
tính tiên thiên của mình. Niệm Phật và thực hành sáu ba-la-mật, dụ
như “chim liền cánh” đưa ta qua “bờ bên kia” vậy. Niệm Phật là “đẳng
lưu chánh pháp”, lọc sạch dòng nước chứa ái tính của chúng sinh.
Bất cứ sự hoạt động (những hành vi định hướng
nào) mà lực rớt lại của chúng đều phải được mã hóa trong các khoang
lý tính như chuỗi số, cho dù thiện ác hay siêu việt thiện ác, nó tồn
tại như các văn bản, như các âm tố huyền hoặc. Chúng hút lấy và nhả
ra thành các hiện thực. Nếu không như thế, thì làm sao “chư Như Lai
đi vào tâm tưởng của chúng sinh”, khi họ niệm Phật, quán Phật và
ngược lại (những bầy nhóm có sức phá hoại khốc liệt của cấu trúc thế
gian).
Niệm Phật trong trạng thái Nguyện, là ta liên
hệ đến tiên thiên nguyện của đức A-di-đà. Niệm Phật trong trạng thái
Tín, là ta liên hệ đến chủng tính tiên thiên Tín giải hay trí lực
của A-di-đà, và khi ta niệm trong Hạnh, là ta liên hệ đến chủng tính
tiên thiên Phật hạnh. Đây là những khoang lý tính bẩm sinh của chúng
ta, nó cần đến ý thức hay tâm thức thuộc về sắc của chúng ta, để nó
có thể vận hành hay nội khởi như tự thân của nó, như Kant đã cho
rằng, “nó nội sinh (Spontaneität) trong cách khởi phát của niệm
tưởng– spontaneity in production of conceptions”. Và rồi với không
gian và thời gian do ý niệm có kinh nghiệm huân tập trong cái cách
“nội sinh” như vậy, khi đến thời điểm chín muồi. Sau khi ta đã trả
xong các món nợ đời đã trót vay, ta sẽ được chính cái “nội thể hóa”
này đưa vào chủng tính tiên thiên, như tự thân của nhận thức được,
theo Kant, bẩm thụ từ nơi Dasein hay Grundquell ấy. Lý thuyết tiên
thiên hữu nghiệm của Kant trụ kiên cố bằng đôi chân của “trực quan
cảm tính vô nghiệm” hay tăng ích thọ, và “tri tính hữu nghiệm”
(Verstand) hay cái biết của thức, đã tồn tại và luôn tồn tại trong
nền văn minh của nhân loại. Ta cũng được biết, nó “lạnh cảm” như thế
nào khi đi vào “tính phức hợp của cấu trúc tiềm thể”, như được trình
bày tiếp theo sau của bản văn này.
Tướng và Kiến phần thật sự là hai nguồn tiên
thiên, thì chúng cần phải được tịnh hóa bằng sức tu. Bấy giờ Tướng
phần là những liên hệ của vật loại chúng sinh; còn Kiến phần tức là
tuệ lực hay phương tiện lực trong mọi trường hợp, đưa chúng sinh vào
giải thoát, nó chính là hạnh nguyện và các phương tiện trợ đạo, như
hành tinh chúng ta, và các thiên hà trôi lơ lững trên không gian
được bốn lực vật lý duy trì vậy. Ta nói đến, quỹ đạo ê-clip khi được
vận hành thuần tịnh, thì nó ảnh hiện không gian hay ảnh hiện tánh
không. Vậy, một thí dụ về cấu trúc của asti và bhū cho
ta hai giả thuyết. 1/ một là quỹ đạo ê-clip. 2/ không gian, hay sở y
của khối vận hành này. Duyên khởi của bhū, là duyên khởi trên
mặt Tướng – không (form-empty); còn duyên khởi của asti là
duyên khởi trên mặt Tánh – không (emptyness). Tướng không, bởi vì nó
giới hạn vào nhận thức và khả năng hút lấy các chúng đồng phần, cũng
như sự giải thuyết về các biểu thể. Tánh không, bởi vì, nó là cấu
trúc độc lập, nó bất cộng đối với các pháp. Khi tướng không duyên
khởi theo chiều tịnh tiến, thì nó sẽ ảnh hiện tánh không như các
điểm hình học của cái tôi trên các chuỗi nhận thức, biến thành chuỗi
phẩm chất vĩ đại liên hệ đến toàn bộ chúng sinh và, thế là cấu trúc
– D và cấu trúc S – bị loại trừ. Chẳng hạn, “NAM MÔ A-DI-ĐÀ-PHẬT”
– một tiểu cú phi chủ và định ngữ theo lý thuyết của G.S
Yoshiky Omawa.
Lý thuyết này nói rằng, “Trên cơ sở các giả
thuyết phổ quát như vậy, qua luận thư, tôi đang hướng đến hiện tượng
song hành cực đại giữa (các yếu tố trong) các tiểu cú với các ngữ
đoạn danh từ và tái xét, dưới quan điểm này, một vài khía cạnh phi
tự nhiên của những cứ liệu theo lý thuyết hiện đang sở thuyên và dữ
liệu có hội nghiệm đã ủng hộ cho các chứng cứ này. Ở đây, những ý
tưởng đặc trưng thể hiện như sau: (1) các tiểu cú và những ngữ đoạn
danh từ chứa đựng trong chúng số lượng đồng nhất những điểm phóng
chiếu chức năng; (2) những điểm phóng chiếu vị và danh từ tính có
đồng nhất trình tự tôn ti của các nét-φ (ph-feature); (3) vị từ sáng
hay hiển vị từ (the light verb) (giới thiệu một tham tố ngoại tại
trong sự loại biệt của mình và chọn VP như là bổ ngữ; Chomsky 1995)
là ‘vị từ hóa’ của ‘VP’ và có một điểm phóng chiếu chức năng tương
ưng của ‘danh hóa’ trong ngữ đoạn danh từ được dẫn đạo bằng một danh
tính phái sinh; (4) cả hai V và N đều có thể ‘kiểm định’ cách cấu
trúc trong các điểm phóng chiếu mở rộng của chúng; (5) cả hai V và N
đều có thể bị ‘vô hoạt hóa-inactivized’ trong cấu trúc tham tố của
chúng và thậm chí có thể cấu trúc dưới một vài điều kiện; (6) nói
chung, cả V và N đều có quyền chi phối (phụ tố) zero trong phụ ngữ
của chúng, cho dù phụ ngữ tiểu cú nào được di chuyển ra ngoài; (7)
cái được gọi là tác dụng do cách trực cận được quan sát một cách có
chứng cứ (quán chứng) giữa một V nội động với các bổ ngữ trực tiếp
danh tính của mình không chỉ là cách tổng quát hóa về các ngữ đoạn
danh từ mà còn là bộ phận của nhiều hiện tượng phổ quát được quan
sát cho bất cứ ngữ đoạn nào đã bị chi phối bằng một phụ tố zero.”
Tuy nhiên, khi chúng ta chặt một cái cây, mà ta
không bứng sạch mọi gốc rễ của nó, thì chính là ta tiếp sức cho nó
tăng trưởng. Thật không may, người đập phá mọi thần tượng, thì người
đập phá được phong là thần tượng. Người di động trong tướng và kiến
phần lại được phong làm thánh với mọi ý nghĩa của hạn từ này. Người
chỉ ra “tồn tại”, lại được cho là cha của chủ nghĩa “hậu hiện đại”
v.v... tất cả những điều này là một ám ảnh không nguôi, như khi
người ta đối diện với tấm kính vạn hoa của ngôn ngữ và các tập khí
di truyền của nó. Thật là không may, khi mà những người xiển dương
các vị “hiền triết” này lại, có thể chưa từng học Duy thức hay kinh
Lăng già và cứ để những ám ảnh như thế lây lan vào trong pháp giới.
Chúng ta có những may mắn hơn, trong các tràng hoa như thế, ta được
học, ít ra, chúng là gì, cái gì cần thu dụng, cái gì cần loại trừ.
Ta thấy đâu là bản chất của chúng, đâu là tính bất thực của những ám
ảnh tiên thiên và đâu là con đường mà ta phải đi, nhằm hàng phục
những gì là phóng ảnh của vị từ căn và các biến thể của chúng “hà
hơi” lên nhận thức của ta.
Phật khép lại bằng một hạn từ ‘vô minh’ chỉ cho
sự hiện hữu của ba cõi. Vô minh, không phải là ngu si theo nghĩa
thông thường như ta biết. Nó là cái thường kiến trong giới hạn hay
bị giới hạn trong thường kiến. Nó giới chỉ cho mọi cái thấy, xúc và
biến hành – nó đoạn kiến. Như cái thấy và biến hành của con người,
không phải là cái thấy... của chư thiên, cái thấy... của con kiến,
không phải là cái thấy của con người v.v... Cái thấy... về Phật,
không phải là Phật. Vô minh phạm trù hóa 11 chi phần (cơ cấu của
chúng sinh và vũ trụ) và nó phạm trù hóa với chính mình. Nó là sợi
chỉ đen với tuyến tính xâu suốt quá trình người, chúng sinh và vật
loại. Nó cho bao nhiêu thông tin, thì nó hủy hoại bấy nhiêu kiến
thức. Do đâu mà có vô minh? Do dục. Do đâu mà có dục ? Do muốn tồn
tại ? Do đâu mà muốn tồn tại ? Do hành. Hành là gì ? Là lực ngôn
trung rớt lại trong khoang lý tính. Do rớt lại, hành mà tạo thêm
hành. Tồn tại là gì ? Chính là hành vậy. Bởi lẽ đó, trong kinh Pháp
Cú, Phật dạy, Hành tồn tại, chớ chẳng có bất cứ cái ngã thường tồn,
đoạn diệt nào tái sinh cả. “Chúng sinh là kẻ thừa tự của Hành.”
Triết học của Kant, cuối cùng rồi cũng đi vào Bản thể và Hiện tượng
luận với tính cân bằng của nó để tư duy tồn tại trong bản thể luận.
Để các cành niệm tưởng cân bằng thế giới sắc không như Heidegger đã
nói. Như ta biết Bản thể và Hiện tượng là con đẻ của upacāra,
upacāra là con đẻ của Thức biến(ngôn tính. Thức biến là Nghiệp biến.
Tiền thân của upacāra là Ngôn tính. Nếu như cần phải hiểu Kant, thay
vì dùng cả đời mình để làm việc đó, thì ta chỉ cần học kinh Dịch
theo hai phạm trù hình nhi thượng và hình nhi hạ và “bói” dịch cũng
đủ rồi. Nhờ học Dịch, bói Dịch mà ta tiến đến “đạo quân tử”, đạo
thánh nhân, trị vì thiên hạ, đi theo con đường chánh trị, chớ nhọc
sức chi mà phải tu hành, khảo sát triết học làm chi cho mỏi mệt thân
tâm. Do vậy, sức tu hành, không có nghĩa là đạt đến cái “siêu
nghiệm” xét như là hai nguồn tiên thiên như Kant sở chỉ, không chỉ
để “thấy” như thật các pháp mà còn chính là “thanh tịnh” các chủng
tử. Chủng tử là một thực thể tồn tại và nó được thanh tịnh trong quá
trình tu hành. Ngưng lại các hoạt động của chủng tử là ngưng lại
tiến trình tâm và tiến trình ngôn tính và mở ra từng điểm đưa vào
tuệ Phật. Do vậy, đức Phật không dạy về bản thể và hiện tượng, Ngài
dạy các pháp tu và các liên hệ bất thực của hai phạm trù này. Nói
đến “chủng tử bản hữu thanh tịnh” là nói đến trợ đạo phẩm, chớ tự
thân nó không thể tự thành Phật được. Nói đến “nội khởi hay nội tính
hóa” là nói biến hành tâm trên bốn duyên, chớ không cho rằng chúng
là một thực thể cần vươn đến, trong mọi trường hợp, trong mọi trường
hợp cần phải loại trừ, tịnh hóa. Cái thức tính (Verstand – bản chất
của nhận thức) của Kant do bị vị từ pravartate thúc đẩy và làm
Verstand chảy ra. Khi đức Quán thế âm thực hành 32 hành tướng ngôn
tính, Ngài thực hành trong trạng thái phi chủ ngữ và phi định ngữ
(cấu trúc -D và -S bị loại trừ).
Đọc Kant, nếu như ta không biết tiếng Đức, ta
có thể đọc bằng tiếng Anh hay Pháp, hoặc bản Việt dịch của học và
dịch giả Bùi Văn Nam Sơn. Cho dù ta đọc bằng loại ngôn ngữ nào, thì
ta vẫn phải chạm trán một hệ thống “ngôn triết’ khổng lồ. Vậy, ta có
từng hỏi là hệ thống thuật ngữ ấy tương tác và có nghĩa gì đối với
pháp ngữ của Phật và các luận sư của chúng ta ? Tôi tin rằng, đây là
một câu hỏi mà ta từng chờ đợi, cũng như ta đã từng chờ đợi các phúc
đáp từ các nhà “thạc học” Phật giáo. Thật sự thì chính bản thân
mình, ta cũng không hiểu chút gì về các thuật ngữ như: Phật tính,
trí tuệ, từ bi, duyên khởi, không tính, tính và tướng v.v... tất cả
hầu như còn nằm ở dạng thô, và ta cũng không hiểu là các vị ấy đang
muốn nói cái gì. Hoặc là vì chúng ta kém học. Nói chung bộ thuật ngữ
của Phật là những gì thuộc về chúng ta, nó có thể khó hiểu là do
chúng ta, thậm chí chúng là Phật ngữ, muốn hiểu, chẳng phải một sớm
một chiều. Thế nhưng, những gì mà ta trong chờ ở các vị thạc học ấy,
chỉ là những chời đợi hoài công. Giờ đây, xúc đến thuật ngữ ngôn ngữ
và triết học, nhất là của Hegel, Kant, Heidegger, Chomsky...thì lại
càng hoài công vô ích. Tất cả có vẻ như là những đỉnh “tu-di” mà
ngàn đời e rằng, ta rất khó vượt qua. Ta đã bị đánh lừa quá nhiều
rồi. Vậy, LÝ TÍNH THUẦN TÚY là gì ? Và một ít thuật ngữ quan yếu
được nêu và định dạng ở đây, mà Kant đã dùng để cấu tạo bộ khung
triết học của mình, theo những tư liệu hữu quan.
Lý tính (Vernunft),
nghĩa là bản chất có nguyên lý của tâm thức hay là các luật tắc của
tâm mà người ta có thể mô thức hóa trên mặt suy nghiệm. Nó có tính
thuần túy (rein) là vì nó là Tiên thiên (Grund) hay cơ bản. Phạn
văn: yukta hay upayukta. Ở tiếng Phạn, hạn từ này có nguồn góc từ
căn tố √yuj: liên hệ, đặt cái ách lên vai, chính lý, như pháp, tương
ứng. Ở tiếng Đức, nó xuất phát từ căn tố vernehmen (nghe, hiểu, liễu
tri, đồng nghĩa với Latin: ratio. Hy-lạp: Logike (λογικη – danh ngôn
tập khí và Logikoon [λογικοον – trí tính]). Nó cũng có nghĩa là niệm
tưởng (Wahrnehmung), nội quán, nội tính hóa. Nó còn có nghĩa:
Verstand (thức tính – bản chất hay tính năng của nhận thức) tùy theo
từng trường phái triết học của Tây phương. Chẳng hạn, Eckhart hay M.
Luther. Sang đến thời đại Heidegger, thì lý
tính có nghĩa là
Dasein: (Duyên tại,
tức, sự tồn tại trên một môi trường nào đó. Trần công tiến dịch là:
hữu tại,
rất tối nghĩa). Tóm lại, Lý tính,
tức bản chất làm phát sinh nhận thức. Có thể hiểu nó là chủng tử
thanh tịnh hay tâm bản nhiên (amālabīja) hoặc dharmasvabhāva (vật tự
thân hay tự tánh của các pháp) của Phật giáo. Nó cũng có nghĩa là
Tổng thức (Sinneswahrnehmung)
như Alaya của Duy thức. Nói cách khác nó tương đương với Duy thức
tánh (vijñamātratā). Các học giả Trung hoa như, Việt thành văn (越成文)
Tất hiểu băng (膝曉冰)
Mạnh lệnh minh(孟令明)
đều dịch Vernunft là Lý tính. Ở Việt Nam thì có Bùi văn nam sơn. Nói
chung cả Việt và Hoa đều dịch tác phẩm
KRITIK DER REINEN
VERNUNFT của Kant là Phê phán lý tính thuần túy (批判里性純粹).
Từ những ý nghĩa đó, Kant khai triển chúng bằng những hạn từ như
sau:
Grundquell (nguồn cơ bản, hình thái hay
mô hình tiên thiên). Eng: main source. Fr.: source principale
(nguồn cơ bản).
Transscendentalen Logik: Siêu danh luận.
Skt.: abhimāna (thắng ngôn). Eng: Transcendental logic: Lý luận học
siêu việt. Fr.: logie transcendantale. Hoa: siêu nghiệm luận (超驗論).
B. V. Nam Sơn: Môn lôgíc học siêu việt.
Gemüth: tâm thức. Skt.: citta, mana.
Eng: mind. Fr.: L’esprit: tâm linh, tinh thần (thuộc lãnh vực vô
tướng). B. V. Nam Sơn: tâm thức.
Vorstellungen: biểu thể. Skt.: darśana
(biểu kiến, sở kiến, đối tượng hóa khái niệm). Eng: representation.
Fr.: représentation. Hoa: biểu tượng. B. V. Nam Sơn: biểu tượng.
Receptivität: niệm thụ tính – các đối
tượng đựoc niệm hóa, (die Receptivität der Eindrücke). Skt.:
ādāna-vijñāna: chấp thụ thức (thành viên của Alaya: năng trì).
Eng: the faculty or power of receiving representations (hưởng thể
tính hay năng lực tiếp cận các đối tượng. Fr.: le capacité de
recevoir les représentations (khả năng tiếp nhận các biểu tượng.)
Hay (la réceptivité des impressions – đối tượng sở thuyên.)
Vermögen: trí lực. Skt: jñānabalaṃ;
svabhāva (nội tính tự hữu). Eng: power of cognizing by means of
these representations (sức tri nhận nhờ vào các đối tượng này). Hoa
dịch: đặc tính. B. V. Nam Sơn: (Spontaneität der Begriffe – tính tự
khởi của các khái niệm). Eng: (spontaneity in production of
conceptions – tự phát qua sự sinh khởi của những khái niệm ) tính tự
sinh của các khái niệm. Fr.: la spontanéité des concepts.
Gegenstand: đối tượng. Skt.: viṣaya
(khách trần, sở hành cảnh giới, lãnh vực hay phạm vi hoạt động).
Eng: object. Fr.: objet. Hoa: cảnh duyên, khách thể. B. V. Nam Sơn:
đối tượng.
Anschauung: cảm tính trực quan. Skt.:
mati (ý hướng tính), trí tính (bản chất của sự lý giải). Eng:
Intuition. Fr.: Intuition. Hoa dịch: Cảm tính trực quan (cảm tính).
B. V. Nam Sơn: trực quan.
Begriffe: khái niệm. Skt.: upalabdhi
(tùy thủ, năng [sở] đắc. Eng: conception. Fr.: concept. Hoa: khái
niệm, trí tính. B. V. Nam Sơn: khái niệm.
Empirisch: Kinh nghiệm. Skt.: parīkṣaka:
khảo nghiệm. Eng: empirical. Fr.: empirique. Hoa: kinh nghiệm. B. V.
Nam Sơn: thường nghiệm.
Empfindung: cảm giác. Skt.: vedana (cảm
thọ, cảm giác). Eng: sensation. Fr.: sensation. Hoa: cảm giác, cảm
động. B. V. Nam Sơn: cảm giác.
Verstand: thức tính (bản chất của cái
biết). Skt.: mūla-vijñāna (căn bản thức). Eng: understanding. Fr.:
réceptivité. Hoa: trí tính. B. V. Nam Sơn: giác tính.
Priori: tiên thiên kinh nghiệm. Skt.:
nyāyākramatā, gocāra. Eng: à priori. Fr.: à priori. Hán: tiên thiên
kinh nghiệm. B. V. Nam Sơn: tiên nghiệm.
Posteriori: hậu thiên kinh nghiệm. Skt.:
paramparīṇaḥ. Eng: hereditary, à posteriori. Fr.: à posteriori. Hán:
hậu thiên kinh nghiệm. B. V. Nam Sơn: hậu nghiệm.
Một ít thuật ngữ mà ta vừa đưa ra, theo cách
tham khảo ngôn ngữ chéo, được xem là một cách chủ quan, thế nhưng,
chúng sẽ cho ta một hướng tiếp cận cùng cách phê luận của Kant trong
chương “siêu danh luận” này qua tinh thần Phật giáo, ta thấy, bước
ban đầu là Kant định vị tâm thức như là “diệu pháp” hay “pháp vương”
và sau đó là “pháp vương tử”, tức là 2 nguồn tiên thiên, xét như là
nguồn cơ bản mà tri thức hay nhận thức của chúng ta từ đó phát sinh.
Thế thì nhận thức của ta, theo Kant, luôn bị hạn chế hay bị quy định
bởi các phóng ảnh của hai nguồn “diệu pháp” này. Một mặt là “chân
đế”, còn mặt kia là “tục đế”. Mặt tục đế, không thể “tiên nghiệm”
được chân đế hay thắng nghĩa đế, nó chỉ là hậu nghiệm mà thôi. Còn
mặt “chân đế” mới có thể tự tri với chính mình, hay chứng được vật
tự thân của đối thể, chân đế là tự tánh của các pháp hay là khả năng
tiên nghiệm. Nghiệm có nghĩa là kinh nghiệm, thể nghiệm, tiên thiên
là bẩm sinh hay thuần tịnh – kinh nghiệm ngoài kinh nghiệm. Hậu
thiên kinh nghiệm là thể nghiệm trên “cái bóng của tiên nghiệm”, cho
nên nó hạn chế, không trung thực. Cho dù tiên hay hậu đều phải có
điều kiện tất yếu của thể nghiệm. Thể nghiệm có hai phương diện hay
hai mặt của kinh nghiệm. Kant cho rằng, kinh nghiệm cần đến một loại
quy nhập của cảm giác, có nghĩa là Xúc, được chạm đến đối thể hay
khách trần và cần đến nguyên tố khái niệm nữa, tức là Thọ. Cả hai
thành viên của kinh nghiệm, được Kant gọi một cách khác là, cảm tính
trực quan và tri tính. Tóm lại kinh nghiệm có hai mặt khác nhau hoàn
toàn.
Heidegger kết luận về Kant rằng,
“Kant là một triết gia tạo cân
bằng trên cái cách để tư duy sự tồn tại của hồi niệm trong siêu
nghiệm hay hình nhi thượng, tức là, trong ý nghĩa “tồn tại luận –
ontological”. Điều này xuất hiện trong hình thái của một khuôn mặt
khả thể nghiêm khắc thành dấu ấn trong PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY
dưới tiêu danh “Về sự mơ hồ của những quy niệm hồi tư.” Phẩm này,
tuy là một phẩm trợ luận, thế nhưng nó là một phẩm được viên thành
bằng sự nội quan tinh tủy và bằng sự hội thoại có phê phán với
Leibniz, do vậy, với mọi nền (học thuật) siêu nghiệm trước đây, như
bản thân Kant chứng kiến là nó bị bám rễ quá sâu trong cơ cấu tồn
tại (bản thể luận) qua ngã tính.”
Một vài trích đoạn
đối với Kant, như là một tiền đề để, có một dịp nào đó ta sẽ khảo
sát toàn bộ tác phẩm cũng như tư tưởng của Kant qua những tác phẩm
của Ông. Cách làm của chúng ta sẽ tuần tự bằng các bộ thuật ngữ,
tuần tự nắm bắt nghĩa của chúng, phân loại, mô thức, xếp đồng dạng
chuỗi tiến trình kết hợp của chúng, ngõ hầu tìm được đâu là tinh
chất của Ông. Và đó cũng là cách ta phải làm đối với Duy Thức, như
là một bộ phận tất yếu trong tiến trình học Phật của ta. Chắc ta sẽ
thấy rằng, đọc Kant, tương đối dễ hơn là đọc Duy thức, bởi vì toàn
bộ cơ chế vận hành của lý tính và kể cả cơ chế của vũ trụ chỉ nằm
gọn trong ba mươi kệ tụng của Thế Thân mà thôi, còn với Kant, thì đã
được chính Ông phân loại, xếp hạng sẵn trong mọi tác phẩm của mình.
Thật vậy, những bộ não lớn ra đời, trên một bình diện có thể, họ đều
ở chung một đỉnh cao. Tuy rằng “đỉnh cao” của Kant đã có thể với tới
được.
Chư Phật ra đời,
dạy ta về cách tổ chức của lý tính, tức là tục đế của tâm thức chúng
ta, và cách tổ chức lý tính của mọi sinh loại ở cấp cao, chí đến là
Phật tánh, tức Hiện nghiệm. Để ta tự tịnh kỳ tâm và rốt ráo viên
thành Phật đạo như chính bản hoài của chư Phật. Vì thế, nếu có thể,
ta sẽ nghiên cứu một cách phổ biến mọi tư duy của nhân loại này, do
lẽ rằng, đó là những tiếng nói chung của tâm thức nhân loại, kể cả
cái mà ta hay gọi là “ngoại đạo”. Ta nên nhớ rằng, những gì được gọi
là “ngoại đạo” cũng nằm trong phạm vi “duyên khởi” của tâm mình. Hẳn
là ta sẽ học ở đó quá nhiều điều trong cái hạn chế “nhân bản” của
chúng ta, trừ phi nó đã là Phật bản. (còn tiếp một kỳ).
P.H.