|
TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số 9 - PL. 2552
[MỤC LỤC]
GIỚI THIỆU
KINH KIM CANG TAM MUỘI
THÍCH THÁI HÒA
Kinh Bản Và Huyền Thoại
Theo Viên Trừng – Trạm Nhiên (1561- 1626), ở trong
Kim cang tam muội kinh chú giải tự, thì Đức Phật nói kinh nầy sau
Bát nhã và trước Pháp hoa. Ông ta lập luận rằng: Đức Phật nói Nhất thừa
ở trong Bát nhã là thời kỳ thính chúng đang còn trình độ tu học ở ngoại
vi, nhưng đến khi Đức Phật nói kinh nầy, thì thính chúng nghe được giáo
pháp chân thực và đều tùy thuận Nhất thừa. Ông đã dẫn chứng thi kệ của
kinh nầy, do Tỷ kheo A già đà bạch rằng: “Đương vị nhập thực thuyết, tùy
thuận giai Nhất thừa,… Nghĩa là: Sẽ nói vào chân thực, đều tùy thuận
Nhất thừa,…”. Ông lại dẫn tiếp: “Nhất vị chi pháp nhuận, phổ sung ư nhất
thiết,… Nghĩa là: Thấm nhuần một pháp vị, tất cả đều sung mãn,…” (Đại
chính 9, tr 366a23-26).
Vì vậy, ông kết luận, kinh nầy Đức Phật giảng dạy
cho đại chúng sau thời kỳ Bát nhã. Và Viên Trừng – Trạm Nhiên lai nói:
Kinh nầy, tuy chỉ thị Nhất thừa, nhất pháp, nhất vũ, nhất vị, nhưng chưa
thọ ký trực tiếp tên, hiệu, cõi nước cho những vị đương cơ, vì vậy mà
biết rằng, kinh nầy Đức Phật, giảng dạy cho đại chúng trước thời kỳ Pháp
hoa. (Viên Trừng, Kim cang tam muội chú giải tự, Tục Tạng kinh
35, tr. 0219b22-c5).
Nếu theo luận chứng của Viên Trừng – Trạm Nhiên và
lại căn cứ vào năm thời kỳ giảng dạy giáo pháp của Đức Phật do Trí Khải
(538 – 597), Tổ sư của Thiên Thai Tông Trung Hoa phán định, thì Đức Phật
giảng kinh Kim cang tam muội nầy khoảng năm 42, sau khi Ngài
thành đạo.
Nhưng, theo Nhân Sơn - Tịch Chấn, đời Thanh (1644 –
1912), ở trong phần Huyền đàm, mục Giáo Tích Tiền Hậu, của Kim cang
tam muội kinh thông ký, đã đưa ra nhiều luận chứng, để chứng minh
rằng, kinh Kim cang tam muội được Đức Phật giảng dạy, sau kinh
Pháp Hoa và trước kinh Niết Bàn, nghĩa là trước khi đức Phật
nhập Niết bàn khoảng ba tháng. (Huyền Đàm - Giáo Tích Tiền Hậu - Kim
cang tam muội Kinh Thông Ký, Tục Tạng Kinh 35, tr 257c17 –
258c02).
Như vậy, theo Nhân Sơn - Tịch Chấn, Đức Phật giảng
kinh nầy, vào khoảng Ngài gần cuối năm 79 tuổi.
Kinh Kim cang tam muội, được dịch sang Hán
vào thời Bắc lương (397- 439), hiện có ở trong Đại Chính Tân Tu, số ký
hiệu 273, cuốn 9, từ trang 365 đến 374. Mất tên người dịch.
Ta đọc Xuất tam tạng ký tập 3, do Tăng Hựu
(445-518), soạn dựa vào bản Lương thổ dị kinh lục của Thích Đạo An (312-
385), có ghi tên của kinh nầy. (Đại Chính 2145. 55. 18c6).
Pháp Kinh viết Chúng kinh mục lục vào năm
594, cũng có ghi Kinh Kim cang tam muội vào mục lục, loại đơn bản
thất dịch (Đại chính 2146. 55. 121a14).
Năm 597, Phí Trường Phòng viết Lịch đại Tam bảo
kỷ, cũng có ghi tên kinh nầy. (Đại chính 2034. 49. 85a18). Và trong
Chúng kinh mục lục của Ngạn Tông cũng ghi kinh nầy vào loại
khuyết bản (Đại chính 2147. 55. 176b28).
Trong Chúng kinh mục lục của Tĩnh Thái viết
năm 666, ghi kinh nầy khuyết bản (Đại chính 2148. 55. 214a29).
Đạo Tuyên viết Đại đường nội điển lục, năm
664 cũng chép theo cách của Xuất tam tạng ký tập (Đại chính 2149.
55 .256c4). Trong Dịch kinh cổ kim đồ kỷ (Đại chính 2151. 55.
361a24), do Tĩnh Mại viết cũng giống Đạo Tuyên.
Năm 695, Minh Thuyên thiết lập Đại Chu san định
chúng kinh mục lục, xếp kinh Kim cang tam muội vào loại thất
dịch và khuyết bản.
Đến năm 730, Trí Thăng viết Khai Nguyên thích
giáo lục, ghi rằng kinh Kim cang tam muội hiện còn (Đại chính
2154.55.5522b14).
Bản dịch kinh Kim cang tam muội đến thời Trí
Thăng vẫn còn là do lấy những thiên còn lại mà đưa vào Đại tạng (Khai
Nguyên giáo lục 12, 19. Đại chính 2154. 55. 605b15, 667a22, 668c20).
Như vậy, theo các tư liệu ta thấy kinh Kim cang
tam muội đã được dịch sáng Hán muộn lắm là vào thế kỷ thứ tư và đã
được đưa vào Đại tạng kinh vào thế kỷ thứ tám.
Theo Nhân Sơn – Tịch Chấn, đời Thanh (1644 – 1912),
trong phần Huyền Đàm, mục Phiên dịch thời đại của Kim cang tam muội
kinh thông ký, sau khi đã đưa ra những luận chứng và ông đã đi
đến kết luận rằng, kinh Kim cang tam muội do Pháp sư Đạo An (312
– 385) dịch. (Tục Tạng Kinh 35, tr 258c02 – 259a06).
Ngoài kinh Kim cang tam muội, ở trong Đại
chính Tân tu, cuốn 34, ta còn thấy có Kim cang tam muội kinh
luận của Nguyên Hiểu, với số ký hiệu 1730, từ trang 961a1 đến
1007c29.
Nguyên Hiểu là ai, mà
đã viết sớ, luận về kinh nầy?
Theo Tống cao tăng truyện, do Tán Ninh
(919-1001) viết thì: “Nguyên Hiểu họ Tiết, người Tương Châu, Đông Hải.
Học đạo khi tuổi còn để chỏm. thường thích đi đó đây và tranh luận,
không ai có thể vượt qua. Ông thông hiểu hết tam học. Sức học địch cả
muôn người. Ông rất hâm mộ cửa trường của Ngài Huyền Trang, nhưng duyên
không được. Ông bất mãn ăn chơi vô kể,… Hoặc viết sớ để giảng về Tạp
Hoa, hoặc đánh đàn làm nhạc, ở các đền thờ, hoặc ở trọ làng xóm, hoặc
thiền ở nơi núi sông, cuộc sống của ông phần nhiều theo tự ý, chứ không
theo thời khóa nào cả.
Bấy giờ quốc vương đại hội một trăm tòa Kinh nhân
vương, tìm khắp các bậc thạc đức. Châu ấy cho sư có danh tiếng bèn tiến
cử lên. Các vị khác không thích nếp sống của sư, đề nghị vua đừng chấp
nhận.
Chẳng bao lâu, phu nhân của vua não bị sưng vù lên,
các danh y bó tay. Vua, vương tử, thần thuộc cầu đảo khắp chỗ sông núi
hồn thiêng, nhưng không có hiệu quả. Có chiêm gia bảo rằng: “Nếu sai
người đến nước khác kiếm thuốc thì bệnh mới lành”. Vua liền sai sứ lấy
thuyền vượt biển vào Đường để tìm y thuật.
Trong lúc ở trên thuyền mơ màng, sứ giả liền thấy
có một ông, do sóng đánh nhảy lên thuyền, mời sứ giả xuống biển xem cung
điện trang nghiêm đẹp đẽ, liền gặp Long vương.
Long vương tên Khâm Hải, bảo với sứ giả rằng: “Phu
nhân của vua nước ngươi là người con gái thứ ba của Thanh Đế. Trong cung
ta trước có kinh Kim cang tam muội, đó là hai giác viên thông,
trình bày hạnh bồ tát. Nay, nhờ bệnh của phu nhân làm tăng thượng duyên,
muốn gởi kinh nầy ra nước kia để lưu bố”. Nói rồi, Long vương đem đến ba
mươi tờ, xếp chồng rời rạc, giao cho sứ giả.
Lại còn nói: “Kinh nầy khi đem vượt biển sợ quỷ”.
Long vương sai cầm dao rạch đùi của sứ giả nhét vào trong, dùng giấy sáp
cuốn buộc lại để làm thuốc rịt bắp đùi lại như cũ.
Long vương dặn khi về đến, có thể nhờ Thánh giả Đại
An xếp thứ tự đóng lại, rồi mời pháp sư Nguyên Hiểu viết sớ mà giảng,
thì bệnh của phu nhân sẽ lành, không có gì để nghi ngờ. Giả như có thuốc
A-da-đà hiệu lực cũng không hơn được”.
Dặn xong, Long vương đưa họ ra khỏi Long cung, lên
mặt biển trở về nước.
Bấy giờ sứ giả về kể lại, nhà vua nghe câu chuyện
rất hoan hỷ. Cho người tìm mời Thánh giả Đại An đến để xếp đặt thứ tự
của kinh.
Không ai có thể biết nguồn gốc của Đại An, hình
dáng và phục sức của ông hết sức kỳ lạ. Chỗ của ông thường ở nơi chợ
búa, thường đánh chén đồng mà hát ca
lên tiếng “Đại an, đại an”, vì vậy mà ông có hiệu ấy.
Vua cho sứ mời ông vào cung, ông nói: “Hãy đem kinh
đến đây, tôi không muốn vào nước có cung vua”.
Ông được kinh, liền xếp thành tám phẩm, đều hợp với
ý Phật. Ông nói: Đem mau cho Nguyên Hiểu giảng, còn người khác thì không
được.
Nguyên Hiểu nhận kinh nầy, chính tại quê mình là
Tương Châu, liền bảo sứ giả rằng: Kinh này lấy hai giác là bản giác và
thỉ giác làm chủ trương, hãy vì ta mà chuẩn bị xe trâu một sừng, đem bàn
đặt giữa hai sừng để bút nghiên lên. Trước sau trên xe trâu, liền viết
sớ thành năm cuốn. Ngay ngày đó, vua mời Nguyên Hiểu giảng ở chùa Hoằng
Long.
Bấy giờ, có một người xấu trộm mất bản sớ mới làm,
liền đem việc ấy trình vua, vua cho trễ ba ngày, nên chép lại thành ba
cuốn, gọi là lược sớ.
Đúng lúc vua, quan, đạo tục, nhóm đầy cả pháp
đường, Nguyên Hiểu bước lên pháp tòa, tuyên giảng đúng cách, giải nghĩa
có thể lặp lại rõ ràng. Tiếng ca ngợi vang dậy trời đất. Nguyên Hiểu
nói: “Ngày xưa, tuy chọn trăm cột, tôi không dự vào, nay đặt một đòn
dông, thì tôi lại có thể”. Bấy giờ, những bậc danh đức khiêm mình, tự
sám hối.
Ngày xưa, Nguyên Hiểu bày tích mất bình thường, dạy
người không nhất định, có khi liệng mâm mà cứu người, phun nước mà dẹp
cháy, tàng hình ấn hiện nhiều chỗ, hoặc có khi ở trong sáu phương giả
chết, cũng là dòng họ của Bôi Độ, Chí Công.
Còn việc ông giải thích tánh nghĩa, xem vào không
chỗ nào là không rõ. Sớ có hai bản quảng và lược, đều lưu hành ở nước ấy
(Triều Tiên). Bản lược lưu nhập vào Trung Hoa, sau có phiên kinh tam
tạng cải làm luận”(Tống cao tăng truyện 4, Đại chính 2061.50.
730a6-b29).
Đọc Tống cao tăng truyện của Tán Ninh viết
vào khoảng giữa những năm 982-988, ta thấy được những gì giữa kinh
Kim cang tam muội và Nguyên Hiểu?
Trước hết, Tống cao tăng truyện cho ta biết
rằng, bản kinh Kim cang tam muội do Nguyên Hiểu sớ luận là một
bản kinh được tàng trữ từ Long cung và sắp xếp thứ tự tám chương như
đang có hiện nay là do Thánh giả Đại An. Và Tống cao tăng truyện
cũng cho ta biết rằng, Đại An và Nguyên Hiểu xuất hiện cùng thời với
Ngài Huyền Trang mở trường dịch kinh vào đời Đường, ở thế kỷ thứ bảy.
Tuy nhiên, Tán Ninh ở Tống cao tăng truyện
cũng không cho ta biết thêm gì về kinh Kim cang tam muội do Long
vương Khâm Hải trao cho sứ thần của vua Tân La (Triều Tiên) là bằng văn
bản Phạn hay Hán hoặc bằng ngôn ngữ của Tân La? Và nếu là bản Hán thì do
ai dịch và vì lý do gì không lưu thông mà phải tàng trữ tại Long cung
cho đến khi gặp sứ thần của nước Tân La mới trao mà còn sợ đi đường bị
việc quỉ chiếm đoạt?
Lại nữa, Tống cao tăng truyện cũng cho ta
biết giữa Thánh giả Đại An và Pháp sư Nguyên Hiểu có liên hệ chặc chẽ
với bản kinh Kim cang tam muội về sư sắp xếp và chú giải qua lời
giới thiệu của Long vương Khấm Hải từ Long cung.
Không những vậy, kinh Kim cang tam muội còn
là pháp dược chữa lành cơn bệnh hiểm nghèo u não của phu nhân vua Tân La
bấy giờ, chỉ đơn giản do Thánh giả Đại An sắp xếp lại nội dung bố cục
của kinh và Pháp sư Nguyên Hiểu viết sớ giảng giải, lưu bố kinh nầy là
bệnh kia lành.
Tống cao tăng truyện nói rằng, việc sắp xếp
nội dung kinh Kim cang tam muội của Thánh giả Đại An rất hợp với
ý của Phật. Còn Nguyên Hiểu khi nhận kinh nầy để sớ giảng ông liền buộc
miệng nói: “Kinh nầy lấy hai giác là bản giác và thỉ giác làm chủ
trương, thì hãy vì ta mà chuẩn bị cổ xe một sừng và hãy đem bàn đặt giữa
hai sừng để bút nghiên lên”.
Những thông tin về Thánh giả Đại An và Nguyên Hiểu
với kinh Kim cang tam muội của Tống cao tăng truyện, đã
giúp cho ta biết thêm về túc duyên đối với phật pháp của hai vị nầy và
nhất là đối với kinh Kim cang tam muội. Và biết đâu Nguyên Hiểu
là hóa thân của Vô trú Bồ tát ở trong phẩm Bản Giác Lợi và Thánh giả Đại
An là hóa thân của Đại lực Bồ tát ở trong phẩm Nhập Thực Tế của kinh
Kim cang tam muội nầy, và chỉ có thể như thế mới có thể trả lời được
câu hỏi, tại sao khi trao kinh Kim cang tam muội nầy, Long vương
Khâm Hải ở Long cung lại giới thiệu cho sứ thần của vua nước Tân La
(Triều Tiên), khi về nước phải tìm gặp hai vị nầy để yêu cầu sắp xếp nội
dung của kinh và sớ giải, mà không thể giao cho ai khác?
Có người sẽ cho rằng, cách lý giải và để trả lời
như vậy, không có tính thuyết phục, vì nó mang tính chất huyền thoại hơn
là khoa học. Nhưng ta thử đặt lại câu hỏi một cách nghiêm túc rằng: Có
khoa học nào không bắt đầu từ huyền thoại? Không có huyền thoại sẽ không
bao giờ có khoa học. Huyền thoại nuôi dưỡng và phát triển khoa học và là
chất xúc tác để cho khoa học đầy năng lực nghiên cứu và sáng tạo. Vì
sao? Vì cuộc sống là cả một trường thiên diễn về huyền thoại hay chính
nó là huyền thoại. Khoa học không có huyền thoại thì làm sao khoa học có
đủ khả năng nhận thức và khám phá cuộc sống để phục vụ con người?
Ngoài bản Kim cang tam muội kinh luận
của Nguyên Hiểu ra, ta còn thấy có Kim cang tam muội chú giải,
bốn cuốn của Viên Trừng – Trạm Nhiên đời Minh. (Tục Tạng Kinh 35, số ký
hiệu 065). Và Kim cang tam muội kinh thông tôn ký, 12 cuốn
của Sa môn Tịch Chấn, thuật, vào đời Thanh. (Tục Tạng kinh 35, số ký
hiệu 652).
Đọc Khóa hư lục của vua Trần Thái Tông
(1217-1277), ta thấy Vua có viết bài tựa kinh Kim cang tam muội.
Bản kinh Kim cang tam muội do Vua chú giải đã bị thất lạc, nhưng
bài tựa của kinh do Vua viết vẫn còn giữ lại ở trong Khóa hư lục
và đã được nhiều vị dịch ra Việt văn.
Kinh Kim cang tam muội cũng đã trở thành đối
tướng học hỏi và nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu của các học
giả cận đại và hiện đại như Mizuno Kogen và Robert E. Buswell. Và những
công trình nghiên cứu ấy đã được công bố năm 1955 cho công trình của
Mizuno Kogen và năm 1989 cho công trình của Robert E. Buswell.
Và kinh Kim cang tam muội cũng đã được Lê
Mạnh Thát nghiên cứu và công bố trong Toàn Tập Trần Thái Tông, do
Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, năm 2004.
Và như vậy, sự có mặt của kinh Kim cang tam muội
ở trong tam tạng giáo điển là một sự lý thú kỳ diệu. Kỳ diệu, vì nó vừa
là hiện thực và vừa là huyền thoại. Huyền thoại trong phiên dịch và hiện
thực trong văn bản.
Hiện thực, vì kinh Kim cang tam muội đã chỉ
ra cho con người có nguyện lớn, có chí lớn với những phương thức hành xử
và ứng dụng pháp quán chiếu vô trú một cách linh hoạt và sống động như
kinh nói: “Này Bồ tát! Người như vậy, không kẹt ở nơi hai tướng, tuy
không xuất gia, nhưng không kẹt ở tại gia; tuy không mặc pháp phục,
không thọ trì đầy đủ giới pháp ba la đề mộc xoa, không dự vào pháp bố
tát, nhưng có thể sử dụng pháp tự tứ vô vi nơi tự tâm mà chứng được
thánh quả, không kẹt nhị thừa mà đi vào con đường bồ tát, sau đó sẽ viên
mãn các địa vị Bồ tát và thành tựu Bậc giác ngộ hoàn toàn”. (Đại chính
9, tr 370b4).
Và huyền thoại, vì chính khi nghe Phật dạy như vậy,
Bồ tát Đại lực thưa: Người như vậy là người không thể nghĩ bàn, họ không
phải là người xuất gia mà cũng không phải là không xuất gia. Vì sao? Vì
họ đã vào nhà Niết bàn, mặc áo Như lai, ngồi tòa Bồ đề, những người như
vậy, cho đến những bậc Sa môn cũng phải đảnh lễ cúng dường”. (Đại chính
9. tr 370b8).
Như vậy, kinh Kim cang tam muội đối với đời
sống giác ngộ, nó đã hiển thị khả tính hiện thực trên cả hiện thực và
khả tính huyền thoại trên cả huyền thoại trong cùng một tánh thể giác
ngộ mà tính thể ấy là siêu nhiên, bất hoại và vốn có ngay nơi tất cả
chúng sanh.
Vì kinh Kim cang tam muội là kinh chuyển tải
tuệ giác chứng nhập Như lai tạng, và từ Như lai tạng mà hiện khởi đại
nguyện, thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, hiển thị cho họ niềm tin tuyện
đối với diệu pháp Nhất thừa là phải thực hành bồ tát đạo, đem lại lợi
ích cho tất cả chúng sanh bằng hạnh nguyện vô tướng, vô sanh từ bản
giác.
Và chỉ có lợi hành từ bản giác, tức là từ tự tánh
giác ngộ, mới có khả năng chứng nhập thực tại toàn diện là thực tại vô
biên không có ngằn mé. Và mỗi khi đã hội nhập được với thực tại nầy, thì
có khả năng biện tài vô ngại. Nghĩa là có khả năng diễn đạt một pháp môn
thành vô lượng pháp môn và vô lượng pháp môn thành một pháp môn; có khả
năng thi thiết vô lượng phương tiện thiện xảo để giáo hóa chúng sanh mà
không rời đương xứ cứu cánh là bản giác, không rời thể tính chân không
tịch diệt.
Và chính vì vậy, hạnh nguyện ấy đã trở thành vầng
mây lành phủ khắp mọi không gian và thời gian, mưa những trận mưa cam lồ
làm cho hạt giống bồ đề vốn có nơi tất cả chúng sanh đều được nứt mầm và
trỗi dậy, cùng phát khởi đại nguyện lợi hành và đồng nhập vào Như lai
tạng, cùng thể chứng địa vị toàn giác, tức là Phật quả.
Vì vậy, những vị đại sĩ sống và lợi hành hết thảy
chúng sanh bằng tuệ giác Kim cang tam muội, thì ngay nơi tướng,
họ hành vô tướng, ngay nơi sanh, họ hành vô sanh, ngay nơi hành, họ hành
vô hành,… thì việc bản kinh Kim cang tam muội nầy không có tên
dịch giả là điều hết sức dễ hiểu.
Không lưu lại tên mình nơi bản dịch, tự nó đã giới
thiệu, hành vô tướng hành, hành vô sanh hành, hành vô hành hành,… của
bậc đại sĩ một cách hiện thực. Nó hiện thực đến nỗi mọi tri thức thế
gian, mọi ngôn ngữ học giả, chỉ ước định được rằng, hoặc nó là thế nầy,
hoặc nó là thế kia, đến nỗi dẫn đến những tranh biện mang đầy những tri
kiến của ngã tính, khiến cho thực tại toàn diện bị họ banh vỡ từng mảnh
vụn để kiếm tìm châu báu một cách vô vọng.
Mỗi khi thực tại toàn diện, bị banh vỡ bởi tri thức
để khám nghiệm và kiếm tìm, thì nó không còn là nó nữa, nó tức khắc trở
thành huyền thoại mà muôn đời tri thức không bao giờ vén mặt tới được.
Nó đã trở thành “huyền chi hựu huyền”. Nghĩa là: Nó vốn “Đã huyền mà lại
thêm huyền” nữa vậy.
Ý Nghĩa Đề Kinh
Kinh Kim cang tam muội, tiếng Phạn là
वज्र्समाधिसूत्र
= Vajrasamādhi-sūtra.
वज्र
= Vajra là kim cang, một loại khoáng chất kiên cố, bất hoại.
Tự thân của kim cang là bất hoại, không có bất cứ
vật gì làm nó hủy hoại, nhưng nó có khả năng làm
hủy hoại đối với tất cả.
समाधि
= Samādhi, Hán phiên âm là tam ma địa, tam ma đề, tam ma đế và
dịch là đẳng trì. Đẳng, có nghĩa là lìa tâm hôn trầm và trạo cử; trì
nghĩa là duy trì tâm ý vào một đối tượng duy nhất. Đẳng trì là trạng
thái của tâm ngưng tụ vào một đối tượng duy nhất không tán loại, do đó
mà tuệ giác cũng như sự an lạc sinh khởi. Vì vậy, đẳng trì cũng còn gọi
là đẳng dẫn hay đẳng chí. Đẳng dẫn, nghĩa là từ đẳng trì mà dẫn sinh các
công đức của thiền định, trí tuệ, thần thông và từ bi. Và cũng từ đẳng
trì mà có thể dẫn đến những địa vị giác ngộ thù thắng. Samādhi còn dịch
là tam muội, chánh định, chánh thọ, chánh tâm hành xứ,…
Như vậy, Kim cang tam muội là thiền định kim cang.
Vậy, thiền định nầy là gì? Ma ha bát nhã ba la mật kinh 3 nói:
“Kim cang tam muội giúp cho người tu tập nhanh chóng chứng được giác
ngộ”. (Đại chính 8, tr 237c25 – 238a27). Kinh Đại bát Niết bàn 2,
lại nói: “Chứng nhập Kim cang tam muội thì thấy được Phật tính”. (Đại
chính 12, tr 372b12). Bát nhã và Trí độ luận giải thích: -
An trú ở tam muội nầy, thì có khả năng phá thủng các tam muội khác. –
Tam muội nầy đối với các pháp đều thông đạt và khiến cho mỗi loại tam
muội ấy đều có tác dụng. - Tam muội nầy có khả năng phá sạch tất cả
pháp, nhập vào Niết bàn tuyệt đối. (Tham khảo Đại Trí Độ Luận 47,
Đại chính 25, tr 396b – 398c).
Sa môn Nguyên Hiểu, ở trong Kim cang tam muội
kinh luận 1, cũng nói rằng: “Vì không có cái gì là không phá trừ,
nên gọi là Kim cang tam muội” (Đại chính 34, tr. 0962a).
Như vậy, Kim cang tam muội kinh là kinh đức
Phật dạy về thiền định Kim cang; dạy về thiền định của Kim cang; dạy về
thiền định như Kim cang; dạy về thiền định ở trong Kim cang và Kim cang
chính là Thiền định.
Nếu nói theo nghĩa của dụ và pháp, thì ở trong đề
kinh nầy nêu lên đủ cả hai nghĩa ấy. Kim cang là dụ và tam muội là pháp.
Pháp thiền định hay tam muội nêu lên trong đề kinh chuyển tải có bảy
nghĩa:
1- Pháp thiền định đức
Phật dạy ở trong kinh nầy ví như Kim cang. Kim cang có khả năng chặt đứt
và phá hoại đối với tất cả những khoáng vật khác, thì Thiền định đức
Phật dạy ở trong kinh nầy cũng vậy, nó có khả năng chặt đứt và phá hoại
hết thảy mọi hình tướng huyễn hóa của ngã và pháp để hiển thị vô tướng
của ngã và pháp hay là hiển thị pháp chân thực vô sanh. Như trong kinh
đức Phật nói: “Này thiện nam tử! Nếu dùng vô sanh mà hóa độ chúng sanh
nơi huyễn hóa, thì không có chúng sanh nào là không hóa độ, nên sự hóa
độ ấy rất lớn, khiến cho những chúng sanh ấy đều xa lìa được ngã và
pháp. Tất cả ngã và pháp xưa nay vốn rỗng lặng. Nếu đạt được tâm rỗng
lặng, thì tâm ấy không phải là huyễn hóa. Không huyễn, không hóa là được
vô sanh. Tâm vô sanh ngay nơi không huyễn hóa”. (Đại chính 9, tr.
366b14).
“Này Bồ tát! Tất cả tướng của tâm xưa nay không có
nguồn gốc, vốn rỗng lặng, vô sanh, không có nguồn gốc xứ sở. Nếu tâm vô
sanh là vào rỗng lặng. Cõi tâm rỗng lặng là đạt tâm không. Nầy thiện nam
tử! Tâm không có hình tướng, không có hình tướng của tâm, không có hình
tướng của ngã. Hình tướng của tất cả pháp cũng đều như vậy”(Đại chính 9,
tr. 366b20).
Như vậy, Kim cang tam muội là vô tướng, có khả năng
chặt đứt và đâm thủng mọi hình tướng của ngã và pháp, khiến cho tất cả
chúng sanh và những vị đang tu học trong giáo pháp nhị thừa đều chứng
nhập nhất vị hay thực tế. Nhất vị hay thực tế là chân lý giải thoát rôt
ráo tối hậu, mà đức Phật muốn chỉ bày cho hết thảy chúng sanh.
2- Pháp thiền định đức
Phật dạy ở trong kinh nầy, ví như Kim cang. Kim cang có khả năng chặt
đứt và phá hoại đối với tất cả những khoáng vật khác, thì Thiền định đức
Phật dạy ở trong kinh nầy cũng vậy, nó có khả năng chặt đứt mọi vướng
mắc đối với tất cả tánh và tướng của tâm, để hiển thị tướng và tánh vô
sanh của tâm. Như trong kinh đức Phật dạy: “Tâm vô sanh, vô nhẫn là
không có hình tướng. Ví như bản tính của lửa, tuy ở trong gỗ, nhưng vì
bản tánh quyết định của nó không có xứ sở, nên chỉ có danh từ, tánh của
nó không thể thủ đắc. Muốn giải thích lý của nó, chỉ nêu lên danh xưng
giả định. Tướng của danh xưng đã không thể thủ đắc, thì tướng của tâm
cũng vậy, không thấy xứ sở, biết tâm như thế là tâm vô sanh.
Nầy thiện nam tử! Tánh và tướng của tâm ấy, lại như
quả A ma lặc, vốn không phải tự sanh, không sanh từ cái khác, không cọng
sanh, không sanh từ nhân, không phải vô sanh. Vì sao? Vì do duyên thay
đổi, duyên khởi không phải sanh, duyên hết chẳng phải diệt, ẩn hiện đều
vô tướng, lý tánh căn nguyên đều tịch diệt, không có xứ sở, không thấy
chỗ trú, do tính quyết định. Tính quyết định ấy, cũng không phải là đồng
nhất, không phải là dị biệt, không phải là gián đoạn, không phải là
thường hằng, không phải là nhập, không phải là xuất, không phải là sanh,
không phải là diệt, lìa xa bốn luận chứng, dứt bặt mọi ngôn ngữ. Tánh
của tâm vô sanh cũng lại như vậy”. (Đại chính 9, tr. 367c4).
Như vậy, Kim cang tam muội là tướng và tánh của tâm
vô sanh, có khả năng chặt đứt và xuyên thủng tất cả tánh và tướng do tâm
chấp thủ ngã và pháp phơi bày, để đưa tánh và tướng của ngã và pháp trở
lại với tự tướng, tự tánh rỗng lặng và vốn tịch diệt ở nơi tự tâm vô
sanh.
3- Pháp Thiền định đức
Phật dạy ở trong kinh nầy, ví như Kim cang. Kim cang có khả năng chặt
đứt tất cả những khoáng vật khác, thì thiền định đức Phật dạy ở trong
kinh nầy, là nhất giác, có khả năng chặt đứt tất cả vọng giác của chúng
sanh, để đưa họ hội nhập bản giác. Như trong kinh đức Phật dạy: “Các
Đấng Toàn Giác- Như Lai, thường sử dụng nhất giác mà chuyển hóa các tình
thức, nhập vào thức thanh tịnh. Vì sao? Vì bản giác tất cả chúng sanh
đều vốn có, nên thường sử dụng nhất giác, để giác ngộ đối với các loại
chúng sanh, khiến cho tất cả đều nhập được bản giác, để giác ngộ được
rằng, các tình thức đều là rỗng lặng vô sanh. Vì bản tánh quyết định,
vốn không hề có sự biến động”. (Đại chính 9, tr. 368b14).
Như vậy, Kim cang tam muội là nhất giác có khả năng
chặt đứt và xuyên thủng tất cả các giác của hết thảy hữu tình, cũng như
nhị thừa và đưa tất các giác ấy hội nhập bản giác.
4- Pháp thiền định đức
Phật dạy trong kinh nầy, ví như Kim cang. Kim cang có khả năng chặt đứt
tất cả những khoáng vật khác, thì thiền định không mắc kẹt ở nơi
không của kinh nầy có khả năng chặt đứt mọi mắc kẹt và xuyên suốt
các không, để hội nhập thực tế là chân lý tối hậu của giải thoát
và giác ngộ. Như trong kinh đức Phật dạy: “Không mà không mắc kẹt nơi
không; có mà không mắc kẹt nơi có; không phải không hay không phải có.
Pháp chẳng có, tức là không mắc kẹt nơi không; tướng chẳng không, tức là
không mắc kẹt nơi có. Không thể sử dụng sự hiểu biết đối đãi giữa có và
không, mà có thể hiển bày được như lý.
Nầy Bồ tát! Mọi hình tướng của nghĩa đều không có
tên gọi, không thể nghĩ bàn. Vì tên gọi không phải là tên gọi, mà cũng
không phải không nơi tên gọi; nghĩa lý không phải là nghĩa lý, mà không
phải không nơi nghĩa lý. (Đại chính 9, tr. 369b19).
Như vậy, Kim cang tam muội là không trú ở nơi
không, có khả năng chặt đứt và xuyên thủng, không những đối với
chúng sanh tu tập mắc kẹt nơi hữu, mà còn mắc kẹt nơi vô và ngay cả mọi
danh và mọi nghĩa, để thể nhập thực tại chân như. Thể nhập thực tại chân
như là không mắc kẹt nơi tướng và tánh của chân như. Người nào tu tập
không mắc kẹt vào tướng và tánh ấy, là người có khả năng hội nhập với
bến bờ giác ngộ chân thực.
5- Pháp thiền định đức
Phật dạy ở trong kinh nầy, ví như Kim cang. Kim cang có khả năng chặt
đứt mọi khoáng vật, thì thiền định của kinh nầy là an trú nơi
không-nghĩa để chặt đứt và xuyên suốt các nghĩa, nhằm hiển thị đệ nhất
nghĩa là nghĩa lý như như của vạn hữu. Như trong kinh đức Phật dạy cho
Tôn giả Xá lợi phất rằng: “Ta thuyết pháp là do vì Tôn giả và chúng sanh
ở trong sanh tử mà thuyết. Thuyết pháp mà không thể thuyết, đó mới gọi
là thuyết pháp. Ý nghĩa và lới nói được ta thuyết không phải là văn.
Ngôn ngữ và văn tự chúng sanh nói không phải là nghĩa. Ngôn ngữ không
phải là nghĩa, vì nó đều là hư vô, trống rỗng. Ngôn ngữ của hư vô, trống
rỗng là ngôn ngữ không có nơi nghĩa. Ngôn ngữ không có nơi nghĩa đều là
ngôn ngữ hư dối.
Ngôn ngữ nơi nghĩa chân như là như-thực-không, chứ
không phải trống không. Như-thực-không mà chẳng phải thực, vì nó lìa hẳn
hai tướng đối đãi. Trung đạo mà không phải ở giữa. Pháp không phải là ở
giữa, vì nó lìa hẳn cả ba tướng (bên nầy, bên kia và ở giữa), không thấy
có xứ sở. Nói Như và Như-như, như ấy không phải là hữu hay vô, không
phải là hữu đối đãi với vô. Như không phải là vô hay hữu, hay hữu không
phải là hữu, mà như ấy không ở nơi hữu hay vô gì cả. Vì vậy, thuyết mà
không thuyết gì cả. Ngôn thuyết không ở nơi chân như, chân như không
hiện hữu ở nơi chân như, nên mới gọi là chân như”. (Đại chính 9, tr.
371a13).
Như vậy, Không-nghĩa là Kim cang tam muội của kinh
nầy, nó có khả năng chặt đứt và xuyên thủng mọi nghĩa được biểu hiện từ
tâm chấp ngã và pháp, để đưa mọi ý nghĩa ấy hội nhập vào đệ nhất nghĩa.
Đệ nhất nghĩa là tánh chân thực của không, là thể tính Niết bàn tịch
tịnh chân thực.
6- Pháp thiền định đức
Phật dạy trong kinh nầy, ví như Kim cang. Kim cang có khả năng chặt đứt
và đâm thủng các khoáng vật, thì Thiền định về ba hành và ba không ở
trong kinh nầy có khả năng chặt đứt và đâm thủng các hành và các không,
thâu nhiếp hết thảy pháp môn vào ở nơi ba hành và ba không nầy, khiến
cho tất cả đều hội nhập Như lai tạng. Như đức Phật dạy cho Trưởng giả
Phạm hạnh rằng: “Nầy Trưởng giả! An trú nơi Phật đạo duy nhất là chứng
được ba hành. Ba hành là: 1- Tùy sự thủ hành: Hành thủ chứng là do tùy
thuận sự tướng. 2- Tùy thức hành: Hành thủ chứng là do tùy thuận các
thức. 3- Tùy như thủ hành: Hành thủ chứng là do tùy thuận chân như”.
Nầy Trưởng giả! Ba hành như vậy, là thâu nhiếp hết
thảy pháp môn. Hết thảy pháp môn đều hội nhập vào ba hành nầy. Người nào
chứng nhập ba hành nầy, người ấy ở nơi tướng rỗng lặng không sinh khởi.
Người nào chứng nhập được như vậy, có thể bảo rằng người ấy, chứng nhập
kho tàng của Như lai. Người nào chứng nhập kho tàng Như lai, người ấy
chứng nhập mà không chứng nhập gì cả (Đại chính 9, tr. 372a1).
Ngoài ba hành, đức Phật còn dạy cho Trưởng giả Phạm
hạnh về tứ trí và những tác dụng lớn lao của nó, không những về mặt tu
chứng, mà còn về mặt hóa độ chúng sanh nữa (Đại chính 9, tr. 372a9-12).
Và, Ngài còn dạy thực hành Tam tam muội là có đại dụng trong và ngoài
không xâm đoạt lẫn nhau. Tam tam muội gồm: - Không tam muội: Thiền định
ở nơi không. – Vô tướng tam muội: Thiền định ở nơi vô
tướng. – Vô tác tam muội: Thiền định ở nơi vô tác (Đại chính 9, tr.
372a14- 21).
Như vậy, ba hành và tam tam muội là Kim cang tam
muội của kinh nầy, nó có khả năng chặt đứt và xuyên suốt các hành và các
tam muội khác, khiến cho người hành trì có khả năng chặt đứt sự vướng
mắc đối với các hành và các tam muội, mà hội nhập Như lai tạng, nhất vị,
nhất thừa hay nhất Phật đạo.
7- Pháp thiền định đức
Phật dạy ở trong kinh Kim cang tam muội nầy, không đơn thuần chỉ
là định mà còn là tuệ. Không đơn thuần là trí mà còn là cảnh. Chính định
ấy là trí và chính trí ấy là cảnh. Cảnh của trí là tịnh độ. Cảnh và trí
không hai.
Trí tuệ tóm lược có bốn: - Trí quyết định: Nghĩa là
trí ấy tùy thuận theo chân như. – Trí không nhất định: Nghĩa là trí
phương tiện, sử dụng để phá trừ các bệnh cố chấp. – Trí Niết-bàn: Nghĩa
là trí tuệ loại trừ cái biết thoáng chốc đối với lằn mức chân thực. –
Trí tuyệt đối: Nghĩa là trí tuệ chứng nhập Phật đạo toàn vẹn, như thực
(Đại chính 9, tr. 372a9).
Trong bốn trí ấy, trí tuyệt đối là trí Kim cang tam
muội, có khả năng chặt đứt và xuyên suốt các trí để hội nhập nhất trí là
Phật trí. Phật trí là do ở trong Kim cang tam muội quán chiếu mà sinh
khởi. Nên, Bồ tát Địa tạng thưa đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Biết
có, nhưng không phải là thực, vì chúng như sóng nắng. Biết thực, nhưng
không phải là không, vì chúng như tánh lửa sinh. Người nào quán chiếu
được như vậy là người có trí tuệ.
Đức Phật dạy, đúng như vậy. Vì sao? Vì người ấy là
người có sự quán chiếu chân thực. Quán chiếu tướng và không phải tướng,
đều là nhất như, bình đẳng, vắng lặng. Vì rỗng lặng chấp thủ nơi
không và do tu pháp-không, nên thấy được Phật. Do thấy được Phật,
nên không chảy theo ba dòng. Ba con đường giải thoát ở trong Đại thừa,
đều nhất thể không có tự tánh. Vì không có tự tánh, nên không; vì
không, nên vô tướng; vì vô tướng, nên vô tác; vì vô tác, nên vô
cầu; vì vô cầu, nên vô nguyện; vì vô nguyện, nên biết rõ nghiệp, cần
phải tịnh tâm; vì tâm thanh tịnh, nên thấy được Phật; do thấy được Phật,
liền sanh tịnh độ”. (Đại chính 9, tr. 373b19).
Như vậy, tuyệt đối trí là trí của Kim cang tam
muội. Trí ấy do tu tập pháp-không của Kim cang tam muội mà thành tựu và
thành tựu trí ấy là thấy pháp thân của Phật và hội nhập tịnh độ của các
Ngài. Trí ấy là trí xuyên suốt với cảnh. Trí và cảnh nhất như. Trí và
cảnh ấy là trí và cảnh của Kim cang tam muội. Tam muội là trí, Kim cang
là cảnh. Trí và cảnh là một. Trí tịnh nên cảnh tịnh. Trí và cảnh như vậy
là trí cảnh của tịnh độ.
Ý nghĩa trí và cảnh nhất như, thanh tịnh nầy, ở
trong kinh Đại bát nhã, đức Phật đã nói với Tôn giả Thiện-hiện
như sau: “Này Thiện-hiện! Vì tất cả trí ở nơi trí thanh tịnh, nên thanh
tịnh là sự rỗng lặng ở bên trong. Do thanh tịnh là sự rỗng lặng ở bên
trong, nên thanh tịnh ở nơi pháp thiền định, không còn hai loại phân
biệt và vô phân biệt, vì hai loại ấy đã bị đoạn tận. (Nan tín giải phẩm,
Đại bát nhã kinh, cuốn 261, Đại chính 6, tr. 319c12).
Do đó, trí và cảnh thanh tịnh, nhất như là một
trong những ý nghĩa rốt ráo của tên kinh Kim cang tam muội nầy.
Và như vậy, đề kinh Kim cang tam muội tóm
lược có bảy nghĩa chính như đã trình bày ở trên. Kim cang tam muội là
vậy, nên ở kinh Đại bát Niết-bàn, Đức Phật dạy: “Nầy Bồ tát đại
sĩ! Người tu tập Đại Niết-bàn được Kim cang tam muội, an trú ở trong tam
muội ấy, thì có thể phá tan tất cả pháp”. (Niết Bàn Kinh 24, Đại
chính 12, tr. 509b).
Kinh Kim cang tam muội còn có tên là Bất khả
tư nghị, quá khứ chư Phật chi sở hộ niệm, năng nhập Như lai nhất thiết
trí hải. Nghĩa là tên gọi của kinh nầy là Không thể nghĩ bàn, được sự hộ
niệm của chư Phật quá khứ, có khả năng chứng nhập biển trí tuệ toàn giác
của Như lai.
Sở dĩ, kinh có tên như vậy, vì pháp được trình bày
ở trong kinh nầy là nắm giữ toàn bộ hết kinh pháp, là thâu nhiếp tinh
yếu của tất cả kinh, là tông chỉ của pháp ở nơi pháp của các kinh. Vì
vậy, tên kinh còn gọi là Nhiếp Đại thừa kinh, hoặc còn gọi là
Vô lượng nghĩa tông. (Đại chính 9, tr. 374a24).
Kinh nầy gọi là Nhiếp đại thừa kinh, vì từ
nơi bản giác mà phát khởi hạnh nguyện và ngay nơi tục đế cũng như chơn
đế mà khới nhập nhất thừa hay nhất vị. Sa môn Nguyên Hiểu giải thích ở
trong Kim cang tam muội kinh luận 1, rằng: “Không có chỗ
nào là không thiết lập, nên gọi là Nhiếp đại thừa kinh”. (Đại chính 34,
tr. 0961a).
Kinh nầy gọi là Vô lượng nghĩa tông, vì tông chỉ của kinh nầy là
Nhất vị vô sở đắc, nhưng không phải là không đắc. Do từ tông chỉ đó mà
các pháp môn được khai triển thành Nghĩa tông vô lượng. Cũng ở trong
Kim cang tam muội kinh luận 1, Sa môn Nguyên Hiểu đã giải
thích “Tất cả tông nghĩa không ra ngoài hai, nên gọi là Vô lượng nghĩa
tông”. (Đại chính 34, tr. 0961a).
T.T.H.
|