Gadjin M. Nagao
I. Đạo Phật và
Bản thể luận
Bản thể luận
(ontology) trong phạm trù Phật học tất nhiên là có quan hệ trực tiếp
đến hệ thống căn bản nhất của Phật học; do vậy, điều nầy sẽ được
thảo luận trong sự khảo sát về mọi tư tưởng và giáo lý đạo Phật. Tuy
nhiên, những vấn đề sau đây, tôi sẽ đề cập một cách chuyên biệt và
chủ yếu là trên phương diện tư tưởng Phật giáo Đại thừa.
Thế thì, cái gì là
biểu thị cho bản thể luận? Vốn chẳng cần nói thêm là thuật ngữ
bản thể luận hoặc siêu hình học (metaphysics) là những từ
chuyên môn được khai triển trong giới triết gia và nhà nghiên cứu
phương Tây, nhưng chúng ta nên đặt vấn đề, liệu những thuật ngữ nầy
có thể được áp dụng hoặc thậm chí có thể được tìm thấy trong tư
tưởng đạo Phật với cùng cách thức như vậy chăng.
Bản thể luận đại
biểu cho một lý thuyết cơ bản trong đó người ta khảo sát sự hiện hữu
như là chính nó đang ‘hiện hữu’, và điều ấy được hiểu là đồng nghĩa
như siêu hình học hoặc là, như điều đã được biết vào thời cổ đại, là
‘philosophia prima–nguyên lý/tiền đề triết học’. Trong những
trường hợp nầy, hiện hữu, đặc biệt hiện hữu thực sự (substantial)
hoặc hiện hữu về mặt bản chất (intrinsic existence), là đối tượng
của thảo luận, và đều được khảo sát trong cách đặt vấn đề như: ‘Cái
gì là nguyên lý nền tảng ẩn tàng trong sự hiện hữu?’ hoặc ‘Cái gì là
nguyên nhân đầu tiên của sự hiện hữu?’ hoặc ‘Cái gì là thực tại chân
thật?’ v.v... Bản thể luận là, về một phương diện, rất gần gũi với
vũ trụ luận (cosmology) khi khảo sát nguồn gốc và hình thành vũ trụ
và triết học tự nhiên khảo sát về luật tắc của tự nhiên giới, động
lực học, các nguyên tố chính cấu thành (nguyên tử–atomic
principles). Mặt khác, bản thể luận chính nó có sự liên quan đến vấn
đề hiện hữu của Thượng đế (God), có nghĩa vấn đề hiện hữu của Thượng
đế là cao tột nhất, và do vậy, điều ấy được triển khai cùng với
tuyến thần học, khi đó là nỗ lực chứng tỏ sự hiện hữu của Thượng đế.
Do vậy, bản thể luận có một khuynh hướng rất mạnh về phía luận lý
siêu hình học và đến mức độ khác với triết học, đã lập nền tảng trên
chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricism) hoặc tâm lý học (psychology).
Nhìn từ phương diện
bản thể luận, điều ấy như thể là đánh giá tích cực cho hữu thể và
nhận định tiêu cực cho vô thể (non-existence). Chẳng hạn, vấn đề ở
trên về chứng cứ hiện hữu của Thượng đế, một thực thể hoàn toàn
tuyệt đối thì không thể nào có chút gì thiếu sót, và chính trong
khía cạnh nầy mà Thượng đế tuyệt đối và hoàn toàn được gọi là thực
sự hiện hữu và là một thực thể, vì Thượng đế không thiếu phẩm tính
hiện hữu. Dĩ nhiên, chỉ hiện hữu thôi chưa phải là hàm ý thực thể
tuyệt đối ngay tức khắc, nhưng khi nhìn từ phương diện bản thể luận,
vấn đề thực thể được truy cứu như hiện hữu ấy được chấp nhận là một
trong các đức tính của Thượng đế. Ngược lại, cái gì không hiện hữu
thì được xem như là không hoàn hảo, hoặc có khi, thậm chí là cội
nguồn của cái ác.
Nhưng trong tư
tưởng Đông phương, thường có trường hợp là phi hiện hữu
(non-existence) hoặc hư vô (nihility) trở nên là nguyên lý cơ sở của
bản thể luận. Vô (無,Non-being)
của đạo Lão và tánh không của đạo Phật là những ví dụ. Trong Áo
nghĩa thư (Upaniṣad),[1]
chúng ta có thể nhận ra triết lý của các bậc hiền triết, như Uddālaka
Āruṇi
Gautama (c. 700 B.C.), là người khẳng định rằng hữu thể –being
(sat) như là cội nguồn của vũ trụ, nhưng người ta cũng nhận thấy
rằng còn có một ý tưởng cổ xưa hơn, cho rằng ‘vô –không hiện hữu’ là
nguyên lý đằng sau sự sáng tạo nên thế giới. Cũng vậy, bài Tán ca
Sáng tạo (Creation Hymn; s: Nāsadīya) trong Ṛg-veda có đoạn như sau:
1.
Thuở ấy chưa có vô thể, cũng chẳng có hữu thể.
Chẳng có không khí và bầu trời trên cao
Cái gì bao trùm tất cả? Ở đâu? Do cái gì chống đỡ?
Phải chăng đó là nước từ vực sâu thăm thẳm?
2. Thuở ấy chưa
có cái chết, cũng chẳng có bất tử .
Chưa có phân biệt ngày và đêm
Chỉ riêng hơi thở bằng yên lặng và tự hộ trì
Ngoài Ngài ra chẳng còn ai, chẳng có gì trên Ngài.
3. Thuở ban sơ
bóng tối ẩn mình trong bóng tối;
Vũ trụ chỉ là nước mênh mông
Trong đó ẩn chứa cái trống không rỗng lặng
Riêng bằng sức mạnh của nhiệt tình mà Ngài sinh ra.
Bằng cách nào mà
các ý niệm như ‘hữu thể’ và ‘vô thể’ liên hệ với nhau theo cách bản
thể luận? Vô thể (Non-existence) là một vấn đề lớn ngay cả trong
triết học Tây phương, nhưng trong đó đã được xem xét trong nhiều
trường hợp như là sự hiện hữu không trọn vẹn, như một ác ý, hoặc sai
sót. Bản thể luận, đến cực điểm của nó, vốn có nền tảng trên sự hiện
hữu như là một giá trị tích cực. Ngay cả khi hư vô chủ nghĩa giữ vai
trò chủ chốt, nền tảng bản thể luận của nó vẫn không sai khác. Trong
lịch sử triết học phương Tây, bản thể luận và Thực tại luận
(realism) đã được trù định một cách tất yếu để tiếp xúc và đương đầu
với các loại hư vô luận (nihilism). Tuy nhiên, ngay cả trong hệ
thống của hư vô luận đó, có thể nói rằng khuynh hướng hữu thể không
khắc phục được, đặc biệt là khi tuyên bố của họ về hư vô luận được
so sánh với ý niệm ‘vô thể’ của Đông phương hoặc so sánh với tư
tưởng tánh không của đạo Phật.
Đó là vấn đề, rất đáng ngạc nhiên tự hỏi khi Phật
giáo xiển dương Vô ngã và tánh không liệu có thể xem điều gì liên
quan đến bản thể luận? Mặt khác, tuy nhiên, khi đưa ra ý nghĩa bản
thể luận, thì nó không thể bắt đầu và kết thúc bằng Thực tại luận;
nó phải bao hàm hư vô chủ nghĩa trong nhóm (fold) của chúng.
Lại nữa, nó phải nhận tư tưởng ‘vô thể’ và tánh không của Đông
phương làm đối tượng khảo sát của nó. Theo E. Conze:
Trong siêu hình học của trường phái
Aristote, nguyên lý mâu thuẫn chi phối tất cả những gì đang vận hành
(to on). Hoàn toàn khác với nguyên lý tối thượng và vô song
của bản thể luận Phật giáo, chung cho mọi trường phái và đã được
trình bày rõ ràng trong nhiều duyên do. Nguyên lý nầy phát biểu chân
lý ‘Trung đạo,’ giữa ‘là’ và ‘chẳng phải là.’ Không trệ vào một
trong hai cực đoan nầy. Bậc Đạo sư/Tìm cầu chân lý (Truth-finder)
giảng dạy giáo pháp bằng Trung đạo.
Quan niệm từ phát biểu nầy, hiển nhiên là đạo Phật
không thể bị quy định trực tiếp vào trong nền tảng của bản thể luận
theo cách Aristote, hoặc một bản thể luận như vậy có thể được lập
nền tảng trong đó. Tuy nhiên, nếu chúng ta có liên quan đến bản thể
luận, thì chẳng khó khăn gì để thấy ra vô số những cách diễn tả và
giải thích mang tính bản thể luận trong kinh điển hoặc luận giải. Có
một học thuyết về vũ trụ được hình thành trên nền tảng của núi Tu-di
thần thoại; có quan niệm về vũ trụ trong đó thế giới được chia thành
ba cấp độ, hoặc trong đó vô số các kiếp (aeon)
được hệ thống thành ba thời. Còn có những tư tưởng khác, như pháp
giới (dharma-dhātu), chân như (tathatā), tánh không (śūnyatā),
tương đối giống như ý niệm thực tại chân thực và tuyệt đối.
Trên nền tảng của giáo lý về pháp (dharma),
trong đó các pháp đều được phân thành hai nhóm, hữu vi (conditioned;
saṃskṛta) và vô vi (unconditioned; asaṃskṛta),
ngay cả một nghiên cứu có tính siêu hình học được khai triển trong
trường phái Phật học Trung-Nhật (Sino-Japanese Buddhism) dưới tên
‘Thật tướng luận’.
Tuy nhiên, dạng bản thể luận nầy không phải là bản thể luận nêu lên
niềm tin chân xác vào sự hiện hữu của các pháp. Trái lại, đó là một
dạng bản thể luận đề ra sự tín nhiệm chân xác vào ‘vô thể’ và tánh
không như là nguyên lý cốt yếu. Vì dạng bản thể luận như vậy nhắm
đến Trung đạo siêu việt hai cực đoan có (hữu thể/tồn tại) và
không (vô thể/không tồn tại). E. Conze gọi đây là ‘bản thể
luận mới’
đối nghịch với bản thể luận của Tiểu thừa, nhưng có thể nói là tương
đồng với bản thể luận trong triết học Tây phương khi suy cứu về hiện
thể.
Khi nhìn từ quan
điểm bản thể luận trong triết học phương Tây, Đạo Phật có thể được
xem như đã cung ứng một chất liệu hoàn toàn mới mẻ và độc đáo, nhưng ở đó vẫn còn một vấn
đề là bản thể luận có thể được lập thành trong đạo Phật hay không,
vì bản thể luận không phải là mục tiêu chính yếu của đạo Phật chút
nào cả, cũng chẳng phải đạo Phật cố gắng lập nên một triết lý. Vấn
đề đạo Phật là tôn giáo hay triết học hoàn toàn là vấn đề được thảo
luận bởi nhiều học giả sau khi đạo Phật được giới thiệu vào thế giới
phương Tây. Tôn giáo và triết học là sản phẩm trí óc của tư tưởng
Tây phương và được cho là đối nghịch lẫn nhau.
Ý tưởng đồng tình
chính xác với quan niệm ấy không thể tìm thấy trong Ấn Độ, Trung Hoa
hay Nhật Bản. Đúng hơn, ở Ấn Độ, tôn giáo và triết học kết thành
một, và khó có thể nghĩ rằng đạo Phật không phải là một hay khác.
Cũng vậy, suy nghĩ chung là đạo Phật không mâu thuẫn với triết học
hay khoa học và có ý nghĩa rất thân thiết với nhau. Đạo Phật, thực
vậy, là ở tầm mức cao của tri thức và triết học. Tuy nhiên, tư tưởng
và ý niệm cấu thành hạt nhân của đạo Phật chính là những gì xuất
sinh từ trực giác nội quán (intuitive insight) mang đặc điểm tầm cao
của tôn giáo hơn là mang tính triết học. Trong nhiều sự kiện, đạo
Phật không thể được đồng bộ hóa (synchronized) với các ý niệm của
triết học phương Tây một cách trực tiếp, và còn có chút khoảng cách
với các phương thức tôn giáo Tây phương. Nói đơn giản, đạo Phật là
một tôn giáo mang đậm màu sắc triết học.
Đạo Phật có hai
khía cạnh triết học và tôn giáo được biết đến từ thực tế là trí huệ
(wisdom) và phương tiện (expedient actions) hay trí huệ và thực tiễn
thể hiện tinh túy của giáo lý Phật học. Biểu tượng đạo Phật chẳng gì
khác hơn là giải thoát và niết-bàn, và cũng là sự vượt qua con đường
dẫn chúng ta đến các đối tượng ấy. Biểu tượng trên chỉ cho sự thực
chứng Phật trí (realization of Buddha), là trí huệ được mô tả là vô
phân biệt; cùng với sự thể nhập con đường tu đạo, mà các công hạnh
tu tập đạo Phật được an lập. Sự hoàn thiện đời sống đạo đức trong
cuộc sống phàm trần và sự tuân thủ những quy tắc luân lý đều được
bao gồm trong các pháp tu của đạo Phật, nhưng điểm tập trung là nỗ
lực tu tập
(yoga) và thiền định (dhyāna). So sánh với các nền triết học và tôn
giáo khác trên thế giới, vị trí mà pháp tu tập tương ưng và thiền
định nầy chiếm được tương đối rất quan trọng trong tư tưởng Ấn Độ và
tư tưởng đạo Phật. Trong mọi trường hợp, trí huệ chân chính bao hàm
vào pháp tu tập Du-già (Yoga) nầy; đó chính là sản phẩm của thiền
định. Tâm thức tán loạn, tri kiến rối loạn, điều ấy chẳng liên quan
gì với thiền định cũng chẳng dính dáng gì đến trí huệ chân thực,
cũng chẳng phải là Phật trí (Buddha-Wisdom). Trí huệ chân thực không
những khác biệt với tri thức thường nghiệm thông thường mà còn khác
với tri thức tìm cầu theo đuổi duy lý. Do vậy, rõ ràng rằng bản thể
luận được thừa nhận phần lớn trong ý nghĩa như vậy không có vị trí
trong Phật học.
Nhưng, rất đúng với
bản thể luận Phật giáo, một nền bản thể luận của Trung đạo, siêu
việt hai cực đoan có và không, không thể nào bị phủ nhận hoàn toàn
trong Phật học. Thấy hiển nhiên đó bản thể luận đạo Phật lưu xuất từ
Phật trí; về một mặt, nó phải vượt lên cao trên cả thế giới quy ước,
và mặt kia, nó phải có phẩm tính của hiện thực (hay thực chứng) kết
quả từ công phu tu tập Du-già để qua đó, đỉnh cao ấy được tiếp cận.
Bản thể luận nên được an lập trong một môi trường lý trí, tư tưởng
con người bắt rễ từ bản chất của mình, tự chuyển hóa thành Phật trí
thông qua tu tập thiền định (dhyāna). Điều ấy có thể được gọi là ‘triết
lý thực tiễn– practical philosophy’, mà chẳng có việc gì để làm
với những lý thuyết bênh vực thần luận (theology) hoặc với những bàn
luận về thực hành đạo đức. Thuật ngữ ‘thực tiễn–practical’ ở
đây chỉ cho sự áp dụng các pháp tu Du-già, hoặc thực hành Trung đạo,
kết quả từ tu tập thiền định. Thực tế, đạo Phật gọi điều nầy như là
‘Trung đạo’ và không đơn giản là ‘ở giữa’, đã trao cho triết lý
thực tiễn nầy ý nghĩa của nó. Như vậy, bản thể luận Phật giáo,
nếu bao giờ cũng là thống nhất, thì nó phải được an lập trên nền
tảng là nó là đối tượng của ‘trí huệ’ và, cùng lúc, là nội dung của
‘thực hành’ thiền định. Một bản thể luận như vậy, nhiều vấn đề khác
sẽ sinh khởi. Sẽ phát sinh những vấn đề như: ‘Thế giới hiện hữu của
chúng ta thuộc loại nào–có nghĩa là, thế giới hỗn mang–trong đó nhị
nguyên chủ thể/khách thể luôn luôn chiếm ưu thế?’ hoặc là ‘Thế giới
hỗn mang nầy liên hệ với cảnh giới giác ngộ giải thoát như thế nào?’
v.v...
Nếu phải chấp nhận
cách hiểu về bản thể luận Phật giáo theo cách đã nói ở trên, chúng
ta có thể thấy trước nhiều vấn đề khó khăn từ quan niệm ấy. Để giải
quyết và làm sáng tỏ những vấn đề nầy là điều không đơn giản. Tuy
nhiên, trong thảo luận dưới đây, tôi sẽ khảo sát những đề tài đa
dạng về bản thể luận theo quan điểm Đại thừa, trong khi vẫn ghi nhận
trong tâm về bản thể luận Phật giáo như đã được đề cập ở trên.
II. Vấn đề Chủ
thể và Đối tượng
Do vì cảnh giới mà
tôi hiện hữu và thế giới đang hiện hữu, tôi là ở trong, thế giới là
ở ngoài. Quy luật chung trong đạo Phật, ‘tôi’ được biểu thị
bằng thuật ngữ ‘ātman; self’ hoặc ‘chúng sinh’ (sattva;
sentient being), trong khi đó, thế giới bên ngoài tôi được biểu
thị bằng thuật ngữ ‘pháp–dharma.’ Nói theo cách khác, Tôi là
‘chủ thể’ khi nào Tôi là cái biết, thế giới là ‘đối tượng’ (của cái
biết ấy). Khi hai điều nầy được đề cập đến, là ‘chúng sinh giới–sentient-being-world;
s: sattva-loka’ và ‘khí thế gian–receptacle-world; s: bhājana-loka.’
‘Tôi’ như một chúng sinh, là cái tồn tại trong một vật chứa, đó là
thế giới bên ngoài; và khí thế gian–receptacle-world’ là môi
trường bao quanh cái ‘Tôi.’ Điều nầy có nghĩa là một chúng sinh đang
cư ngụ trong môi trường vật chất chẳng gì khác hơn là một phần cấu
thành của thế giới. Hoặc là, khi hai điều nầy được hiểu như là ‘ngã’
và ‘cái thuộc về ngã,’ thì ‘Tôi’ có nghĩa là một chúng sinh,
chiếm vị trí trung tâm của thế giới và thế giới ngoại vi là cái
thuộc về chúng sinh ấy, có nghĩa là, vật thể sở hữu của chúng sinh.
Do vậy, sự tương phản của ‘Tôi’ và ‘thế giới’ được quan niệm từ
nhiều phương diện khác nhau trong đạo Phật.
Trong tác phẩm
Tôn giáo là gì? (Shukyō
to wa; Nanika e:
What is Religion?), Keiji Nishitani đã đưa ra hai chất vấn.
Trước hết ông đặt vấn đề, ‘Cái gì là ý nghĩa của mỗi mỗi sự hiện hữu
đối với tôi?’ Thứ hai, tác giả nêu lên một vấn đề rất nghịch lý, ‘Vì
mục đích nào mà tôi hiện hữu?’
Hỏi ý nghĩa hoặc mục đích gì mà mỗi mỗi hiện hữu đang có trong tôi
là một vấn đề văn hóa, vì với sự tôn trọng vạn hữu mà con người có
văn hóa mới có thể đặt một vấn đề như vậy. Nhưng vấn đề tôn giáo thì
lại khác với điều nầy. Khi hỏi, ‘Vì mục đích nào mà tôn giáo dành
cho tôi?’, thì đó không phải là một vấn đề tôn giáo, mà là văn hóa.
Tôn giáo là những gì bắt đầu từ câu hỏi nghiêm túc nầy, ‘Tôi hiện
hữu như thế nào?’ hoặc ‘Tôi từ đâu đến và tôi sẽ về đâu?’ hoặc ‘Vì
mục đích gì mà tôi hiện hữu?’
Trong ý nghĩa đó,
tôn giáo đã có khởi đầu của nó khi sự hiện hữu của chính con người
bị thách thức bởi vết hằn lớn là câu hỏi trọng đại này. Đây không
phải là sự hiểu biết về vài đối tượng cũng chẳng phải là mối liên
quan nhắm đến ngọai giới. Đó là một vấn đề xuất phát từ nội tại về
phía chủ thể con người. Khi Phật giáo Nguyên thủy xem Vô ngã (anātman;
non-self) như là cơ sở của họ trên nền tảng của vấn đề Ngã (ātman;
self), đó chắc hẳn là tôn giáo, là nhu cầu nhân văn (humanistic
demand) và khát vọng ẩn chứa từ chiều sâu của họ. Giáo lý Vô ngã nầy
có hương vị đậm đặc về mặt lý thuyết và triết học. Tuy nhiên, thực
tế là nó thu hút trí tưởng tượng của rất nhiều tâm thức con người và
hấp dẫn không do vì hương vị đậm đặc về mặt lý thuyết và triết học,
mà vì nó ấp ủ hơi thở tôn giáo.
Bây giờ, chúng ta
sẽ quay lại một chút về bối cảnh những quan niệm xoay quanh đạo Phật
vào thời gian hình thành. Thế giới quan tư tưởng Ấn Độ được xiển
dương bởi các học giả vĩ đại về Áo nghĩa thư (Upaniṣad) đã
lên đến đỉnh cao khi bàn luận về Phạm (brahman) và Ngã (atman).
Giáo lý về nghiệp (karma) cũng bám rễ chắc chắn ở đây, và nó
được thừa nhận bởi hầu hết các nhà tư tưởng như là phương pháp cơ
bản của tư duy. Hơn thế nữa, người ta nghĩ rằng pháp tu tập Du-già
là thiết yếu cho mọi phương cách tinh luyện tư tưởng. Ở đây người ta
nhận ra cảm nghĩ ca ngợi lối tu khổ hạnh hoặc là đối nghịch của nó,
chủ nghĩa khoái lạc (hedonism); cảm nghĩ ấy đan xen vào nhau một
cách mật thiết với đời sống của con người cùng sự theo đuổi tài sản
và thú vui dục lạc hoặc ngược lại, là sống ẩn cư. Có các cực đoan từ
chủ nghĩa vật chất và hoàn toàn phủ nhận luân lý đạo đức cùng với
thuyết duy linh (spiritualism), qua đó, người ta hiến trọn đời mình
cho việc thiền định Du-già. Chúng ta có thể tìm thấy ở đây mọi dạng
triết học thực tiễn cũng như lý thuyết. Lập trường nào mà Đức Phật
đã chọn khi ngài đối diện với những tư tưởng đa dạng này? Về mặt suy
tư mang tính lý thuyết và triết học, dường như Đức Phật đã phê phán
ngay thời đó với những chỉ trích rất sâu sắc. Tuy nhiên, về phần
cuộc sống thực tiễn của con người, dường như ngài thừa nhận trên
phương diện rộng và thậm chí còn có những thoả hiệp. Có lẽ ngài nghĩ
rằng, thay vì phủ nhận thẳng thừng chúng từ buổi đầu, nên nâng chúng
lên một tầng mức cao thì hay hơn.
Brahman (tế tự),
như là nguyên lý ẩn tàng của vũ trụ, nguốn gốc của nó phát xuất từ
sự cầu nguyện tôn giáo trong giáo lý Phệ-đà và được lý thuyết hóa
như là nguyên lý ban sơ của mọi hiện hữu. Không phải là vấn đề trí
năng vào thời điểm đặt vấn đề về nguyên lý ấy. Brahman chính nó là
thanh tịnh, thiêng liêng, là lời cầu nguyện đến từ chiều sâu của mọi
trái tim con người, là nguyên lý đã tạo thành thế giới và Tôi, là
nguyên lý tuyệt đối để Thượng đế và con người phục tùng và tôn trọng
lẫn nhau.
Bất luận con người
có thể suy tư về phẩm tính huyền bí như thế nào, cũng không thể từ
chối rằng Brahman là biểu tượng của sự thực và là danh xưng của mọi
điều chân xác.
Theo dấu chân của
nó là thuật ngữ ātman. Thông thường, ātman từ ban sơ
được hiểu có nghĩa là, ‘hơi thở–breath,’ nhưng dần dần nó
mang lấy đặc tính sự hiện hữu hoặc ‘linh hồn–soul’ như là căn
nguyên (genesis) của đời sống. Dù ātman (ngã) là chủ thể nhận
thức, nó không bao giờ được nhận biết cũng không bao giờ bị khách
thể hóa (objectified); nó là chủ thể tuyệt đối, là ngã tuyệt đối.
Ngược với brahman, là ý niệm biểu thị cho bản chất của vũ trụ và
được cho là nguồn gốc chính của vũ trụ. Ātman biểu thị cho tiểu vũ
trụ (microcosm) cụ thể bên trong cái mà vũ trụ lớn (macrocosm) phản
ánh. Vì tiểu vũ trụ được chồng chất lên bởi vũ trụ lớn, nên cả hai
được gọi là vũ trụ (universe). Khi ātman nhận brahman
(phạm) như là chính nó và hợp nhất rồi trở thành một với nó, thì có
sự giải thoát tối hậu cho loài người. Điều nầy được nhận biết qua
xác quyết, ‘phạm-ngã nhất như’ và ngã (ātman) trở nên viên
mãn khi hiện hữu kết hợp với brahman. Đó có thể nói rằng
triết học và tôn giáo trong Áo nghĩa thư đã vươn đến đỉnh cao
của nó trong diễn tả sự hợp nhất trong câu ‘phạm-ngã nhất như.’ Điều
cần phải lưu ý ở đây là: đối nghịch với brahman, vũ trụ, đối tượng
hóa, và thuộc về bản thể luận, là ātman, chủ thể, thuộc về
nhận thức luận (epistemological) và thực tiễn. Trong khi brahman tự
gìn giữ đặc tính trừu tượng của bên trong chính nó, thì ātman xuất
hiện trong bối cảnh như là nguyên lý cụ thể và xác định hơn. Đó là
hiện hữu tuyệt đối tương tự như sự hiện hữu của Thượng đế hoặc Đấng
Tự tại.
Điều nầy có nghĩa
là ý niệm về ngã được chấp nhận bằng trí năng hiểu biết về thời gian
là có cùng với brahman, quyền lực vượt trội hay thậm chí còn hơn cả
quyền lực của brahman. Sự tìm kiếm về ngã, hay truy tìm cái ta, là
châm ngôn đầu tiên được xét đến của con người. Sự hiện hữu của ngã
nầy nằm dưới mọi nhận thức và thói quen như là chủ thể của nó, vốn
là vượt ngoài vấn đề. Tuy nhiên, chính lời nói của Đức Phật về ngã
phủ nhận sự hiện hữu một cái ngã như vậy. Điều nầy lay động những
người đương thời như một trận động đất, một sự kiện kinh ngạc ngược
với quan niệm truyền thống.
Không thể xác định
được giáo lý vô ngã được gán cho Đức Phật là thực sự do ngài truyền
dạy, hoặc là, dù ngài được sự tin cậy về một giáo lý như vậy, thì
cũng không thể nào xác định được với ý định nào mà ngài truyền dạy
giáo lý ấy. Có một số học giả tuyên bố Đức Phật đã không giảng dạy
giáo lý vô ngã, mà ngài chỉ nói rằng, ‘đây không phải là ngã.’ Tuy
nhiên, cũng không có bằng chứng nào Đức Phật đã giảng dạy giáo lý về
ngã. Nếu đây không phải là ngã và kia không phải là
ngã và những thứ khác chẳng phải là ngã, thì theo đó là ngã
không được tìm thấy nơi nào khác trong thế giới chúng ta. Trong mọi
trường hợp, giáo lý vô ngã đã được xiển dương do những môn đệ
của Đức Phật như là một trong những pháp ấn (dharma-seals)
của đạo Phật. Cội nguồn của điều nầy phải trở về lại với chính Đức
Phật, vì không có lý do gì để nghĩ rằng đệ tử của ngài đã gán cho
ngài giáo lý vô ngã mà lại không dõi ngược lại về phía ngài. Thế
thì, với ý định nào mà Đức Phật giảng dạy giáo lý như vậy.
Trong mọi khả năng,
Đức Phật đã giảng dạy, trong nhiều trường hợp, những ý nghĩa tôn
giáo và đạo đức để trừ bỏ sự chấp trước vào bản ngã và về sự vượt
thắng tính vị kỷ, vì những hành vi nầy, hơn những thứ nào khác, có
thể đem đến sự an tâm cho đời người. Nhân cách và tập tính của Đức
Phật cũng phải được quán sát bởi các đệ tử của ngài là vô ngã và vô
tham. Quả thực, điều thuyết phục hàng đệ tử của ngài là, tính cách
xả ly tự ngã của ngài. Giáo lý vô ngã chắc hẳn đã được ghi nhớ lại,
trên tất cả, thông qua ký ức về những phẩm tính nầy. Tuy nhiên, giáo
lý vô ngã lại liên quan trực tiếp đến bản thể luận, vì thuật ngữ
ātman đã được thừa nhận như là một ý niệm diễn tả thực tại. Theo
đó, tuyên bố ‘vô ngã’ hoặc ‘không ích kỷ–unselfishness’ không có
nghĩa là phủ nhận ngã và những gì sở hữu của ngã, mà còn phủ nhận
chủ thể như là một ‘linh hồn–soul,’ và như thế dẫn đến sự phủ nhận
sự tồn tại của thực thể.
Như đã chỉ ra ở
trên, ātman ràng buộc rất chặt chẽ với ý niệm tồn tại của
thực thể, và có khả năng trên phương diện bản thể luận, sự tồn tại
của thực thể ấy vốn cũng liên quan đến các môn đệ của Đức Phật. Có
nhiều cách để biểu thị cái ‘ngã’ và, trong đạo Phật cũng vậy, nhiều
thuật ngữ như puruṣa, pudgala, pṛthagana,
ārya... được dùng rộng rãi
để biểu thị sự thông thường trong tính cách hằng ngày hoặc là phẩm
tính của người tu hành. Tuy nhiên, khi thuật ngữ ātman là mục
tiêu đặc biệt của sự phê phán, thì đạo Phật đã đề ra nhiều định
nghĩa cho thuật ngữ ấy. Trong số đó, định nghĩa ‘thường hằng,’ ‘duy
nhất,’ ‘toàn năng’ là những nghĩa được dùng rộng rãi nhất. Điều ấy
có nghĩa là, ātman là một thực thể thường hằng và vĩnh cữu,
ātman là một và duy nhất hoặc là một cái toàn thể; ātman
thống trị mọi cái khác, và nó không bị cái khác diều khiển, không
tùy thuộc vào cái khác, nó tự chủ và toàn năng. Định nghĩa về
ātman như vậy nhắc cho ta nhớ đến sự toàn năng của Thượng đế và
Đấng Tự tại như là hiện hữu tuyệt đối. Trong đời sống chúng ta hằng
ngày, chúng ta âm thầm giấu giếm bên trong ngã chúng ta một
tính kiêu ngạo tương tự của tuyệt đối luận (absolutism), đó là, tính
kiêu ngạo của thường hằng, của duy nhất, và quyền tối cao ngự trị
các cái khác. Giáo lý vô ngã là nhằm chỉ bày ra rằng, ngã không thể
và không nên là những điều như vậy.
Giáo lý về ngũ uẩn
là một trong những giáo lý dẫn chúng ta đến sự phủ nhận bản ngã. Ngũ
uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cấu thành một sự hiện hữu riêng
của con người và dù không có sự hiện hữu một hạt nhân của cái ngã
trong đó. Thực tế của chân lý thứ nhất, là khổ đế, vốn rất gần gũi
với ý niệm vô ngã. Nếu trong trường hợp một cái ngã thường
hằng, duy nhất, toàn năng hiện hữu, thì sẽ chẳng có gì khổ. Tương
tự, vô thường, (có nghĩa là không thường hằng) còn biểu thị sự phủ
nhận cái ngã, vì vô thường được định nghĩa như là ‘cái gì có hợp thì
có tan’ hoặc được hiểu là ‘các pháp hình thành và hoại diệt trong
từng sát-na.’ Nếu ‘sát-na diệt’,
đồng nghĩa với vô thường, được nhận biết thậm chí đối với đá tảng và
các thứ bền chắc khác, thì chúng ta phải thừa nhận rằng xu hướng tri
thức thời đó rất nhạy bén để có được trực nhận như vậy. Chúng ta
cũng thấy được trong đó một nội quán xuyên suốt, qua đó sự phủ định
toàn bộ về thực thể được nhận ra. Như giáo lý vô ngã, giáo lý Duyên
khởi (pratītya-samutpāda), vốn được xem là nền tảng của giáo lý đạo
Phật, cũng là giáo lý phủ nhận khái niệm có một thực thể khi nào đó
là giáo lý tương tuỳ tương hợp. Giáo lý Duyên khởi không chỉ biểu
thị ý nghĩa chuỗi xích nhân duyên chuyển dịch từ nguyên nhân đến kết
quả.
Có những giáo lý
trong đó khía cạnh Luận lý học Phật giáo được hệ thống hóa. Tuy
nhiên, điều thực sự thể hiện tính vô ngã là cuộc đời Đức Phật và các
công hạnh của ngài. Đó không chỉ là tuyên bố một phủ nhận mang tính
lý thuyết về ngã, mà còn thể hiện qua sự thực hành ý niệm ‘không có
chủ tể hay tác nhân–agentless-ness’ hoặc là sự phủ nhận một
chủ thể-tạo tác và tính không chấp trước đối với ngã. Ở đây, như ánh
trăng sáng không gì so sánh được, soi chiếu xuyên qua sự che phủ của
mây, một chủ thể thực sự hoàn toàn tự tại và không bị dính mắc bởi
bóng ma vị kỷ.
Sự phủ nhận về
ngã bao hàm tính tự tại tuyệt đối về chủ quan tính của đạo Phật,
đó vốn là điều hấp dẫn mọi người nhất. Có nghĩa là ngã vốn
được mọi người thừa nhận từ buổi đầu của Áo nghĩa thư, khi
ngã bị phủ nhận chắc hẳn đã tạo nên một sự chấn động toàn triệt,
nhưng sức hấp dẫn của nó
vẫn duy trì một động lực lôi cuốn con người đến với đạo Phật. Chắc
là họ đã đánh dấu sự phủ nhận về ngã nầy, được lập thành chỉ do một
vị tăng sĩ, điều nầy vốn quá khác và hoàn toàn trái với truyền thống
xưa nay được điều khiển bởi thành phần Bà-la-môn và Sát-đế-lợi
(Ksatriyas).
III. Triết học
A-tỳ-đạt-ma
Đi theo giáo lý Vô
ngã, giáo lý bao hàm kinh nghiệm tri thức (intellectual experience)
tác động đến đời sống, chính là lý thuyết hóa về điều nầy. Ít nhất,
một vài thế hệ của các môn đệ đã có nỗ lực về mục tiêu nầy. Đã vậy,
những bộ Kinh được gọi là A-hàm (āgama),
mô tả chủ yếu với ý định truyền bá nhiều hơn là đào sâu vào kinh
nghiệm tôn giáo. Điều đó không thể nào bác bỏ được. Triết học
A-tỳ-đạt-ma là một nền triết học mang tính phân tích về đặc tính của
các pháp, cũng không ngoài khuynh hướng nầy. Triết học A-tỳ-đạt-ma
nầy, đặc biệt là sự phân tích của nó về pháp tướng
(dharma-characteristics) đại biểu bởi các Luận sư của phái Thắng
luận (Vaibhaṣika)
và Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda), một dòng triết học gọi là ‘học
thuyết về các hiện tượng giới – dharma-theory’ (như được đề
xuất bởi Otto Rosenberg) hoàn toàn rõ ràng có khuynh hướng bản thể
luận. Câu ‘ngã không, pháp hữu’
là khảo sát về quan điểm nầy. Có thể nói rằng, do cái giả phải trả
cho lập thành phủ nhận về ngã, nên có khuynh hướng về sự xác định
thực tại luận (realism) phát sinh.
Để giải thích về vô
ngã, trước hết là căn cứ vào luận lý về ngũ uẩn
đã nói ở trên. Theo đó, ngã được xem là cái gì đó giống như
‘linh hồn–soul’ vốn không hiện hữu; cái hiện hữu chính là năm uẩn
được hình thành bởi các yếu tố thể chất (physical) và tâm lý
(psychological). Đó chẳng gì khác hơn chính là một tổ hợp hay một bó
gồm những yếu tố nầy, tưởng tượng như một thực thể (entity), tạm gọi
là ‘ngã–ātman’ hay ‘Ta’. Cái ngã như vậy, dù nó được cho là
một thực thể, nhưng chẳng gì khác hơn là sự dính mắc vào sự miêu tả
sai lầm. Cái thực sự hiện hữu không phải là ‘ngã–ātman’ mà
chính là những thành tố nầy. Học thuyết về ngũ uẩn giải thích rằng
mọi cá nhân hiện hữu đều như là một ‘tổ hợp’ của các thành phần, như
một dòng chảy không ngừng, trong đó gồm cả những yếu tố của tiến
trình nhận thức luận (epistemological) như Thập nhị xứ,
Thập bát giới.
Ở đây, câu nói, ‘Tôi thấy cái gì đó’ được thay bằng câu, ‘cái gì đó
được thấy bởi cơ quan nhận biết gọi là mắt’; như vậy, chủ thể ‘Tôi’
bị phủ nhận và không cần thiết. Mỗi thành phần trong ngũ uẩn được
gọi là ‘pháp’.
Thuật ngữ ‘dharma’
chứa đựng nhiều nghĩa–có thể chỉ cho giáo pháp của Đức Phật; còn chỉ
cho chính Phật pháp; hoặc là có thể chỉ cho luật tắc chi phối hoặc
là nguyên nhân của các pháp thế gian. Tuy nhiên, trong giáo lý về
pháp (dharma) thuộc hệ thống A-tỳ-đạt-ma, pháp được định
nghĩa là ‘nhậm trì tự tánh’
những hiện tượng bị chi phối bởi luật tắc ấy. Pháp như vậy, được cho
là ‘thành tố hiện hữu–elemental being’ hoặc ‘phạm trù hiện hữu–
categorical being’, có thể được dịch đơn giản là ‘hiện
hữu–existence.’ Qua sự phân tích các hiện tượng và chọn lọc ra được
các phẩm tính của các thành phần, nhiều pháp được lập như là các
hiện thể. Có sắc pháp (material dharmas), tâm pháp (mental dharmas)
và các pháp không nằm trong hai dạng nầy. Đó là các pháp hữu vi
–cọng duyên hiện hữu và tất yếu hoại diệt. Ngoài ra, là các pháp vô
vi,
không thay đổi, biến dịch. Trong khi các pháp hữu vi là bị hạn định,
bị chi phối bởi mối tương quan nhân quả, còn pháp vô vi thì không bị
chi phối bởi điều gì cả.
Về sắc pháp, có sự
phân tích về các thành tố theo nhiều phạm trù như địa đại
(categories of earth), v.v... và có sự nhận thức về cực vi.
Nhưng sự phân tích về tâm pháp, đặc tính và tác dụng của
chúng choán đầy không gian rộng lớn. Có lẽ điều ấy do thực tế có tầm
quan trọng được đặt trên các tâm hành trong mối tương quan với pháp
tu tập Du-già. Cảm giác, ký ức, v.v... được cho là các pháp
riêng biệt, độc lập (bất tương ưng hành), như đức tin, bất tín, sân,
giận, hối hận, ý chí, v.v... đều được gọi là pháp như là những
‘thành tố hiện hữu – elemental existences.’ Lại nữa, cái được hoặc
mất, sinh và tử, v.v... không thuộc về tâm pháp hoặc sắc pháp, đều
được xem như là các pháp độc lập (bất tương ưng hành). Các pháp đa
dạng nầy vào thời đó, được phân loại thành một nhóm 75 pháp
và về sau, được phân thành 100 pháp.
Trong học thuyết về
pháp nầy, điều đáng để ý nhất là các vấn đề đã được phân tích trên
quan điểm duy tâm-nhận thức luận (psycho-epistemological)
hoặc là tác dụng luận (functionalism) như đã được trình bày ở trên.
Các pháp đại biểu cho luật tắc trật tự vũ trụ, mà không thuộc về
trật tự của thần thánh. Lại nữa, học thuyết về pháp có thể được mô
tả đúng là thực tại luận (realism) hoặc như là đa nguyên
luận (pluralistic). Mỗi pháp được nhìn như là có thực, tồn tại
độc lập, và hiện hữu; không những là các pháp hữu vi, mà cả các pháp
vô vi như (annihilation), tịch diệt (nirodha tức nirvāṇa)
được xem như là hiện hữu trong thực tại.
Danh xưng Nhất
thiết hữu bộ (bộ phái chủ trương các pháp đều hiện hữu, đều có thật)
phát xuất từ khuynh hướng thiên về thực tại luận, trong phái
nầy, các pháp được xem là đều hiện hữu suốt cả ba thời, quá khứ,
hiện tại và vị lai. Tuy nhiên, tuyên bố nầy còn mang nhiều vấn đề tế
nhị và đó là đối tượng cho nhiều phê phán nhắm vào do từ các trường
phái khác đương thời. Những Luận sư của Nhất thiết hữu bộ tuyên bố
rằng cái gì tồn tại suốt cả ba thời chẳng khác gì hơn cách nối liền
ý niệm thời gian, trừu tượng hóa và thuộc về ý niệm, đối với ý tưởng
một hiện hữu có thực tìm thấy trong các pháp. Ở đây, chúng ta thấy
một dạng của Duy tâm luận, trong đó, những gì thuộc về ý niệm hoặc
dựa trên khái niệm được cho là hiện hữu trong thực tế. Cùng với ý
niệm ‘có’, ‘sinh,’ v.v... được lập ra như là các pháp và được xem
như những hiện hữu có thực, chủ trương duy thực luận, ‘tam thế hằng
hữu– existence throughout three periods of time,’ còn có thể gọi là
‘duy tâm thực tại luận–idealistic realism.’ Khác với duy tâm thực
tại luận nầy của các nhà Nhất thiết hữu bộ, các Luận sư Kinh lượng
bộ
cho rằng thực tại đó chỉ có được trong hiện tại chứ không có trong
quá khứ hoặc vị lai; tuy nhiên, chính Kinh lượng bộ cũng được xem
như là một trường phái Duy thực (realist).
Giáo lý Vô ngã là
một phủ nhận quan niệm tồn tại của hiện tượng như được giải thích ở
trên. Giáo lý ‘sinh diệt trong từng sát-na’– có nghĩa là Vô thường
(anityatā)–chính
là nền tảng gốc học thuyết của Nhất thiết hữu bộ; có lẽ nó đã đi
theo hệ thống giáo lý vô ngã, là sự phủ nhận sự tồn tại của thực
thể. Nhưng nhìn từ tổng thể, học thuyết về pháp nầy như là một dạng
của Đa nguyên thực tại luận (pluralistic realism) và
người ta có thể tự hỏi rằng liệu nó có phù hợp với ý niệm vô ngã
không? Nếu ý niệm ‘có’, ‘sinh,’ v.v... có thể được lập thành như các
pháp thực sự hiện hữu trên điều duy tâm luận, thì theo đó, ngã tất
yếu cũng như vậy, cũng là một pháp độc lập theo nghĩa duy tâm luận.
Đó có phải là sự thiết lập một dạng chủ thể (Bổ-đặc-già-la; pudgala)
của Độc tử bộ
cũng phát sinh từ trường hợp nầy chăng? Dù ngũ uẩn (skandha) được cho là các pháp thực sự hiện hữu để chứng tỏ cho
pháp vô ngã, liệu nó có khả năng là góp phần vào cho sự đánh đổ quan
niệm vô ngã? Dù như thế nào, phải chăng đó là những lý do cho quan
niệm của Tiểu thừa ‘ngã
pháp câu hữu’ đúng hơn là quan niệm ‘ngã không pháp hữu’ giữ vị trí
chủ đạo?
IV. Tánh không
trong Kinh văn
Đại thừa
Bản thể luận
thực sự có thể nói là có sự khởi đầu bằng sự ra đời của Đại thừa
(Mahāyāna) với sự xuất hiện của Long Thụ (Nāgārjuna).
Tuy nhiên, bản thể luận ấy không phải là một nền bản thể luận để xác
định cho sự hiện hữu, mà bản thể luận để phủ nhận như nguyên lý của
chính nó.
Đã nói rằng Đại
thừa có căn gốc từ Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (Prajñā-pāramitā-sūtra). Nói vắn tắt, Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa khoáng trương thuyết
Tánh không và trí huệ Bát-nhã mà thông qua đó để thể nhận tánh
không. Trên tất cả, tánh không chỉ cho cái vô thể (non-existence) hoặc vô hữu (no-thing) và chính nó là sự phủ định. Tuy nhiên, chẳng phải nó không có tính xác
định. Trong thời kỳ sau nầy của Phật giáo Trung Hoa, có thuật ngữ
‘chân không diệu hữu’.
Từ nầy mang ý nghĩa phủ định và xác định đồng thời, hoặc theo cách
ấy, sự phủ định ấy chính nó là xác định hoặc chính tánh không là sự
hiện hữu. Tuy nhiên, vì sự khẳng định nầy là khẳng định thừa nhận
phủ định hoặc là được lập thành thông qua phủ định, nó không thể là
một phủ định trực tiếp. Cùng lúc, vì nó là xác định thừa nhận sự phủ
định, nên biểu thị rằng nó có thể là một xác định tuyệt đối. Trường
hợp như vậy, tánh không được gán cho phẩm tính phủ định mạnh mẽ hơn
những điều gì khác. Chính hình thái phủ định nầy đã được khoáng
trương trong Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa và đó là nền tảng của
tư tưởng Đại thừa.
Bằng cách nào
mà tinh thần phủ định nầy, có nghĩa là tư tưởng Đại thừa, sinh khởi
vào thời kỳ đầu của kỷ nguyên Tây lịch? Cơ sở của điều nầy có thể
suy nghĩ theo nhiều cách khác nhau. Một điều, chúng ta có thể suy
nghĩ về điều kiện xã hội của Tăng-già (saṅgha)
sống vào thời đó và sự suy thoái. Sự suy thoái của Tăng-già không
phải do là kết quả tất yếu từ những tập quán xấu từ vài thế kỷ trước
đó, mà nó có thể xảy ra ngay mọi lúc sau khi Tăng đoàn được thành
lập. Trong kinh có ghi, sinh hoạt của vài vị tăng (sa-môn–śramaṇa)
phạm lỗi được giải thích. Chúng ta nhận thấy có ít Sa-môn chân chính
hơn là những vị Sa-môn chỉ mặc y phục như Sa-môn và đánh lừa người
khác, hoặc là những người trở thành Sa-môn chỉ vì mục đích tiếng
khen và lợi dưỡng
(Kinh Kāśyapa-parivarta,
121). Trong kinh văn khác, chúng ta thấy những vị tỷ-khưu say đắm
thú vui thế gian, trang sức thân mình bằng những đồ nữ trang, ngủ
trên giường xa hoa, tích trữ tiền bạc kiếm được bằng chiêm bói, hoặc
có người phạm tội trộm cắp, sát hại, và thậm chí lừa đảo (Kinh
Sa-môn quả–Sāmañña-phala-sutta,
45). Những người thành tâm có lẽ hơi có cảm giác thất vọng khi họ
thấy những trường hợp nầy. Thực tế là những sự băng hoại nầy được
ghi lại trong kinh cho thấy, về một mặt, các sự kiện ấy có xảy ra,
một mặt khác, sự phản ứng sâu sắc về phía những người kết tập kinh
điển cũng như sự phản ứng lại đối với những việc sai trái nầy. Trong
số những đệ tử chính của Đức Phật, có nhóm Lục quần tỷ-khưu,
thường bị [Đức Phật] quở trách vì dám làm những việc không chính
đáng. Còn có những ghi chép về những đệ tử rất vui mừng có suy nghĩ
rằng họ không còn bị trói buộc vào những lời dạy của Đức Phật
Thích-ca Mâu-ni nữa khi họ nghe tin ngài đã nhập diệt. Sinh hoạt của
những tâm hồn yếu đuối và mê lầm như vậy có thể thấy được trong mọi
thời kỳ lịch sử của nhân loại.
Như đã nói từ
trước, học thuyết Duy thực luận về các pháp được đặt ra là để chứng
minh cho vô ngã, đã có trong đó ý nghĩa đặt lại giáo lý vô ngã. Lập
lại và xác định những giáo lý như Ngũ uẩn, Thập nhị xứ, Thập bát
giới, và Duyên khởi với 12 chi phần như là một cách giải thích về
luân hồi (saṃsāra), giải thích theo nghĩa đen, chắc phải củng cố
giáo lý theo cách đúng với từng chi tiết. Tuy nhiên, khi giáo pháp
được ấn định thành như những tín điều hoặc đức tin, thì sự thông
thoáng của tư tưởng sẽ bị hạn cuộc. Để thiết định tính đa nguyên của
các pháp như là hiện hữu có nghĩa là sự quy ngưỡng của mọi người về
đời sống tu tập rốt ráo sẽ trở nên rối rắm và vướng mắc trong mạng
lưới của giáo điều.
Điều gì là ý nghĩa
đằng sau giáo lý Vô thường, Vô ngã, và Khổ của Đức Phật vốn được
diễn tả bằng ngôn từ khiến mọi người phải xúc động sâu sắc? Có phải
vì để thiết lập một hệ thống ‘mạng lưới giáo điều’ đan quyện vào
nhau như một tín điều không thể thay đổi? Chân tinh thần của Vô ngã
và Vô thường lập được ở một nơi nào khác chăng? Những câu hỏi như
vậy, có lẽ, phát sinh trong bối cảnh quy định các giáo điều và phong
cách như đã nói ở trên. Mọi người phải nhìn vào ý định chân xác của
Đức Phật bằng cách thâm nhập thật sâu vào giáo lý về pháp
(dharma-theory). Sự thâm nhập nầy chính là những gì được khai triển
thành cuộc vận động Đại thừa. Trung tâm của cuộc vận động Đại thừa
chính là tinh thần phủ nhận để thâm nhập học thuyết về pháp
(dharma-theory) đã được chọn lọc để khế hợp với thuật ngữ ‘tánh
không’.
Kinh văn tiêu biểu
trong đó thuật ngữ tánh không được tìm thấy chính là bộ kinh nhan đề
Bát-nhã Ba-la-mật-đa (Prajñā-pāramitā-sūtra). Trong kinh, chúng ta có thể đọc được những câu, ‘sắc tức thị không,
không tức thị sắc.’
Dù những diễn tả nầy có vẻ biểu hiện trên bề mặt, ‘các hiện tượng
nói cụ thể là không, và là phủ định,’ điều phủ định căn bản chẳng gì
khác hơn là sự bám chấp của con người vào sự hiện hữu bằng vật thể (sắc–rūpa)
như là một thực thể (pháp–dharma)
vì trở nên cố định trong ý niệm sắc. Chẳng hạn, trong giáo lý ngũ
uẩn. Tuy nhiên, tánh không được khoáng trương trong văn hệ Bát-nhã
chẳng phải luôn luôn được diễn tả bằng thuật ngữ không (śūnya).
Trong Kinh Kim Cang (Vajracchedikā-
Prajñā-pāramitā-sūtra), thuật ngữ không chẳng được tìm thấy. Tuy nhiên, chúng ta gặp
những đoạn kinh như:
Đức Phật bảo: Nầy,
Tu-bồ-đề, một người đã phát tâm Bồ-tát thừa nên phát triển một tâm
thức như sau,
...
chừng nào còn một ai có thể
được nhận thức trong cõi chúng sinh
được nhận thức: tất cả chúng sinh ấy đều được Như Lai dẫn đến
cõi vô dư y niết-bàn.
Thế nhưng, dù đã dẫn
vô lượng chúng sinh đến niết-bàn như vậy, nhưng không một chúng sinh
nào được dẫn đến niết-bàn cả.
Sự phủ định xuất
hiện trong câu, ‘... không một chúng sinh nào được dẫn đến
niết-bàn,’ là ý nghĩa tánh không được diễn tả ở đây. Lại nữa,
chúng ta còn đọc thấy những đọan kinh như sau:
Bạch Thế Tôn, rất
lớn. Thưa Thiện Thệ, thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân ấy sẽ qua nhân
duyên đó mà tạo được công đức lớn. Vì sao? Vì công đức được Như Lai
thuyết dạy là chẳng phải công đức. Thế nên Như Lai mới dạy đó chính
là công đức lớn’.
Và,
Vì sao? Tu-bồ-đề,
“Tất cả các pháp” được thuyết bởi Như Lai chính là chẳng phải pháp,
thế nên tất cả các pháp đều được gọi là Phật pháp.
Ở đây, chúng ta
thấy nguyên văn trong kinh trước hết là để giải thích, ví dụ như
công đức hoặc là Phật pháp, rồi phủ định hết thảy, và rồi lại công
nhận một lần nữa ngay trên cơ sở của sự phủ nhận. Cùng trong văn
phong đoạn kinh khác thì thường lập lại sự đề cập đến Phật thân, ba
mươi hai tướng tốt của Đức Phật, trang nghiêm Phật độ, thực tướng,
hoặc lục độ ba-la-mật-đa. Đây trước hết là những phủ định toàn triệt
rồi khẳng định thông qua tiến trình phủ định. Đây không riêng là
điều tiêu biểu của Kinh Kim Cang, mà đó là một hình thức thường thấy
các kinh điển thuộc văn hệ Bát-nhã.
Sự phủ định diễn ra
qua tiến trình nhận thức tánh không đã được cứu xét theo từng
trường hợp. Chẳng hạn, không (śūnya) được quán sát để
thể nhận trong định (samādhi) hoặc là từ đối tượng của quán
chiếu trong tu tập thiền định (dhyāna). Tánh không, cùng với
Vô tướng
và Vô nguyện,
được gọi là Tam giải thoát môn (three doors of deliverance). Khi
những điều nầy được giải thích trong kinh, Vô tướng có nghĩa
là biểu tượng của vô thực thể, Vô nguyện như là phủ nhận mong
cầu, và tánh không là phủ nhận hiện thể. Vì Kinh là những gì phản
ánh trực tiếp kinh nghiệm huyền bí, nên tánh không cũng được
xem là trực giác và huyền nhiệm. Khi tánh không được phát
biểu là ‘thực tướng vô tướng’ hoặc tương tự như ‘hiện hữu trong tánh
không,’ thì tánh không dường như quá thân thuộc với cái không
huyền bí. Hoặc là tánh không có thể được hiểu bằng cách so
sánh với ‘tịch tĩnh/rỗng lặng–tranquility.’ Các vị tỷ-khưu được
khuyên là hãy nỗ lực tu tập thiền định ở những nơi yên tĩnh như
trong rừng. Hoặc lại nữa, dù ý nghĩa có phần khác, tánh không
có thể được xem là có tương quan với hư không (ākāśa;
open-space), vì trong hư không, có thể chứa đựng nhiều hiện tượng
trong khoảng trống của nó và thường chẳng lưu lại dấu vết gì khi một
cánh chim bay qua, nó mang ý nghĩa vô cùng và tuyệt đối. Ở đây, tuy
vậy, trong ngữ cảnh đa dạng của tánh không, thuật ngữ sẽ được xem
xét từ quan điểm phủ nhận trên hai phương diện. Đó là, trước hết
tánh không được nhìn từ phương diện phủ định thực thể và thứ hai là
từ phương diện phủ nhận chấp trước.
Khởi thủy, giáo lý
Vô ngã là một biểu hiện của sự phủ định thực thể. Tánh không trên
thực tế là một sự phục hưng giáo lý Vô ngã, biểu hiện cho nghĩa chân
thực. Nghĩa của ngã vốn căn cứ từ quan niệm về một cá thể tiêu biểu
từ tính vị kỷ và tự lợi, như đã được giải thích ở trên, được mở rộng
bao gồm thực thể của cái ngã cơ bản (tiểu ngã) và ngã
vũ trụ (đại ngã). Theo đó, vô ngã là sự phủ nhận cái ngã cơ
bản (tiểu ngã) bao trùm tinh thần vô ngã vị tha mang tính đạo đức và
sự hy sinh, không thiên vị. Trong mỗi trường hợp nầy, đặc biệt là
trong trường hợp cái ngã vũ trụ (đại ngã), cái ngã đó
chỉ cho thực thể hiện hữu. Thực thể tồn tại trong phạm trù nầy là
chỉ cho những gì bị phủ nhận trong lý Duyên khởi, và trong ý nghĩa
đó, nó là những gì hiện hữu tuyệt đối. Đó là ‘thể tánh’ hay ‘yếu
tính– essence’ của bất kỳ hiện hữu nào. Theo đó, Vô ngã là chỉ cho
sự không hiện hữu của cả hai cái ‘ngã’ và ‘thể tánh.’ Đây là những
điều được hiểu tương tự như cách trong phạm trù tánh không.
Đó là, chẳng phải định thức ‘ngã không pháp hữu’
mà là ‘ngã pháp giai không’
hoặc là ‘nhân (bổ-đặc-già-la) pháp câu không.’
Câu ‘ngã pháp giai không’ (một đặc ngữ đặc biệt thường được sử dụng
trong Phật giáo Trung Hoa), vốn được diễn tả trong tiếng Sanskrit là
‘nhân (bổ-đặc-già-la), pháp vô ngã.’
Ở đây chúng ta thấy rằng thuật ngữ vô ngã (nairātmya)
như là sự phủ nhận thực thể hiện hữu, vốn được thay thế (do các Tổ
sư Trung Hoa) cho thuật ngữ tánh không. Trong cách nầy, vô ngã
đầu tiên là một diễn tả phủ nhận ngã, rồi khi đi qua cấp độ vô ngã
của ngã vũ trụ (đại ngã), nó trở thành một biểu hiện của tánh không
của toàn pháp giới; do vậy, nên có câu ‘sắc tức thị không.’
Tuy nhiên, trong
Kinh Bát-nhã, chúng ta không chỉ thấy có câu ‘sắc tức thị không’ mà
còn thấy nghĩa ‘không tức thị sắc.’ Sự diễn tả Không tức là sắc
chẳng phải chỉ là đảo ngược ý nghĩa Sắc tức thị không, nhắm
đến phủ định, trong khi đó Không tức thị sắc là có khuynh
hướng khẳng định, Trong ngữ cảnh nầy, chúng ta nên hiểu rằng cả hai
chiều hướng, khẳng định và phủ định, đều được kết hợp thành một theo
kiểu nghịch lý. Trong một ý nghĩa, biểu thức nhắm đến phủ định,
Sắc tức thị không bao hàm một nghịch lý, nhưng diễn tả chiều
hướng xác định, ‘tánh không vốn vô tự thể, hiện hữu như là sắc’
lại càng nghịch lý hơn biểu thức trước. Lại nữa, hai quan điểm
nghịch lý nầy lại kiên kết với nhau một cách nghịch lý. Tiền đề mâu
thuẫn và nghịch lý như vậy được giải thích rõ ràng trong Kinh
Bát-nhã là xuất phát từ trực giác nội quán trực tiếp của người đã
tạo ra nó. Chẳng hạn, trong Kinh Kim Cang đã trích dẫn từ trước, câu
“các pháp” được thuyết bởi Như Lai chính là chẳng phải pháp...’
là một diễn đạt có ý phủ định, trong khi câu, ‘thế nên tất cả
các pháp đều được gọi là Phật pháp’ là diễn đạt có ý xác định.
Trong cách nầy, phủ định luôn luôn bao hàm trong nó một nghĩa xác
định. Câu ‘chân không diệu hữu’ có thể được hiểu trong ngữ
cảnh nầy như một sự chuyển dịch từ phủ định đến xác định. Ngay cả
khi cả hai trường hợp phủ định và xác định đều được biểu hiện. Cũng
vậy, như trong trường hợp khi chỉ có khuynh hướng phủ định, nên hiểu
rằng trong đó đã có khuynh hướng khẳng định. Ngay cả những trường
hợp như vậy, phủ định và khẳng định không chuyển từ cái nầy sang cái
khác, theo cách thay thế, và như vậy, không có nghĩa là khi có một
cái gì đó bị phủ định thì liền theo sau cái được xác định (gọi là
phủ định tương quan, (relative negative; paryudāsa-pratiṣedha).
Do vậy, khi nói rằng các
pháp là
không
và cùng lúc, không chính là
các pháp, điều nầy có
nghĩa là tánh không siêu việt hay vượt lên cả hai ý niệm phủ định và
xác định.
‘Vượt lên trên’ hay
‘siêu việt’ không có nghĩa là chỉ vượt qua và tách ra ngoài; mà còn
có nghĩa là siêu việt nội tại. Qua đây tôi muốn nói rằng tánh không
cùng lúc vừa siêu việt vừa tự tại (immanent); bên ngoài nó phủ định,
nhưng bên trong lại xác định. Đó chính là cảnh giới sở hành của
Bồ-tát được giải thích trong kinh Duy-ma-cật (Vimalakīrtinirdeśa-sūtra):
Khi ở sinh tử vẫn
không hành ô uế; trụ nơi Niết-bàn mà không vĩnh viễn diệt độ; không
theo hành phàm phu cũng không phải hành Hiền thánh; đó là hành của
Bồ-tát.
Trụ xứ của Bồ-tát
không phải nằm nơi nào đó trong khoảng giữa của phàm phu và bậc
thánh, cũng không nằm đâu đó giữa luân hồi sinh tử và niết-bàn, nó
siêu việt cả hai cực nầy. Vì siêu việt, nên nó tự tại trong đó.
Ngược với chiều hướng phủ định của tánh không, ở đây, còn có khuynh
hướng tích cực, xác định.
Khuynh hướng phủ
định của tánh không, tuy nhiên, chẳng phải chỉ là một phủ định sự
tồn tại, nội dung thực sự của nó là phủ nhận sự chấp trước của hàng
phàm phu. Trong ý nghĩa nầy, sự phủ nhận hữu thể chẳng có gì khác
hơn chính là phủ nhận sự dính mắc vào hữu thể ấy. Sẽ rất
thích đáng khi trong mối quan hệ nầy, để trích dẫn một đoạn từ bản
dịch tiếng Hán của Kinh Kim Cang (Vajracchedikā Prajñā-pāramitā-sūtra):
Ưng vô sở trú nhi sanh kỳ tâm.
Tuy nhiên, bản
Sanskrit ghi như sau: Bồ-tát Đại sĩ nên phát triển một tâm thức
không dính mắc...
Và đoạn kinh nầy
được tiếp tục: Có nghĩa là, nên phát triển một tâm thức không
dính mắc bất cứ điều gì.
Trong tiếng Hán,
chữ ‘trụ/trú’ không chỉ có nghĩa là ‘ở, cư trú, trú ngụ’, mà
còn có nghĩa là ‘kết vào,’ dính vào’ vì chữ ‘trụ/trú’ đưa ra một
định nghĩa cho chữ ‘trước’ với nghĩa là ‘dính mắc vào.’ Mặt khác,
pratiṣṭhita,
thuật ngữ Sanskrit phái sinh từ
prastisthā,
là một tính từ, có nghĩa là
‘đứng,’ ‘ở,’ ‘cố định,’ ‘lập nên,’ v.v... và các từ điển không mặc
nhiên đưa ra nghĩa ‘bám vào,’
‘dính mắc.’ Tuy nhiên, rõ ràng như trong cách dịch tiếng Hán ở trên,
chúng ta có thể cho rằng
pratiṣṭhita
còn có nghĩa là ‘dính mắc,
chấp vào.’ Do vậy, tôi (Nagao) dịch dạng phủ định của nó, a-pratiṣṭhita,
là ‘không dính mắc.’
E. Conze dịch thuật ngữ a-pratiṣṭhita
nầy là ‘không nương tựa vào–unsupported’
và ‘không trụ vào nơi nào khác,’ nhưng mặt khác, E. Conze còn đưa ra
12 nghĩa có thể dịch và liệt kê những nghĩa nầy như sau: ‘không cố
định vào–not fixed on,’
‘không trụ vào–not abide in,’
‘không chấp trước vào–not
attached to,’ ‘không bám chấp
vào– cling to,’
và còn nhiều từ khác. Như vậy, nghĩa ‘chấp trước’ để dịch từ
pratiṣṭhita
cũng được Conze chấp nhận. Tuy nhiên, một khi phát tâm, nó phải
hướng đến một đối tượng nào đó, trụ vào đối tượng đó, và thuật ngữ
dính mắc với điều mà tâm đã nhắm đến. Tâm luôn luôn bám vào một cái
gì đó. Do vậy, khi nói, ‘Nên phát tâm mà không dính mắc (có nghĩa là
không trụ vào một nơi nào)’ chính đó là một mâu thuẫn. Giống như khi
nói, ‘Suy nghĩ về cái không suy nghĩ.’
Nhưng đây là nghịch lý được nhấn mạnh trong Kinh Bát-nhã
ba-la-mật-đa. Câu ‘Tư duy mà không bị vướng mắc phiền não’ không có
nghĩa là được hiểu theo phạm trù đạo đức. Nó phản ánh sự chuyển biến
từ niệm đến vô niệm và từ vô niệm đến tâm, và do vậy nên siêu việt
cả niệm lẫn vô niệm. Đây chính là yếu tính của tánh không được thể
nhập nhờ vào giải trừ chấp trước.
Thuật
ngữ apratiṣṭhita gợi cho chúng ta nhớ đến thuật ngữ
apratiṣṭhita-nirvāṇa.
Trụ xứ của Bồ-tát–đó là, ‘... trụ nơi Niết-bàn mà không vĩnh viễn
diệt độ’
trong kinh Duy-ma-cật nêu trên–chẳng gì khác hơn chính là ‘Vô trụ xứ
niết-bàn.’ Bồ-tát không trụ trong cõi luân hồi sinh tử do nhờ trí
huệ, và không dừng trụ trong niết-bàn do tâm từ bi của các ngài. Vô
trụ xứ niết-bàn không chỉ có nghĩa là không thể nhập niết-bàn nhưng
còn có nghĩa không chấp trước vào niết-bàn, và đó là do niết-bàn lưu
xuất từ tánh không. Niết-bàn hoặc diệt (nirodhda), là một
trong các pháp vô vi (noncomposite),
làm thành một thực thể theo trường phái Duy thực của Nhất thiết hữu
bộ. Tuy nhiên, ngay niết-bàn đó chính là tánh không.
Còn có
nhiều cách hiểu khác về ý nghĩa của tánh không như nêu ở trên, và nó
có ảnh hưởng rất mạnh đến đời sống của người tu tập. Chẳng hạn, cùng
với ý niệm vô thường, nó đã dạy cho người tu tập biết về tính phù
phiếm và rỗng không của cuộc đời. Hoặc lại nữa, nhận ra được các thứ
phàm tình–danh vọng, tài sản, hạnh phúc, yêu và ghét, dục lạc và khổ
đau–đều là không, hành giả bất động bởi những thứ ấy. Khi thể
nhận tánh không, hành giả đạt được sự rỗng lặng bản tâm. Cảnh giới
cao tột của tâm an tĩnh nầy xuất sinh từ nền tảng nguyên lý tánh
không, chẳng có gì khác hơn chính là phủ nhận hiện hữu thực có. Vì
các pháp là không, không có cái gì có thể được xem như là nền
tảng. Điều nầy muốn nói rằng, mọi người đều đứng trên một khoảng
không vô tận, tánh không được lập trên cái không có nền tảng ấy. Đến
mức độ nầy, apratiṣṭhita đã được đề cập ở trên có nghĩa là
‘không trụ ở nơi nào’ hoặc là ‘không ở trong cái mà nó an trụ.’
V. Triết học
Trung quán của Long Thụ
Chính Long Thụ là
người đã thống nhất các ý niệm tánh không có trong các kinh luận
thành một hệ thống triết học. Long Thụ sống khoảng vào thế kỷ thứ II
hoặc thứ III sau Tl., là một triết gia vĩ đại và là một vị Luận sư
đứng hàng thứ hai chỉ sau Đức Phật. Nhờ ngài mà Phật giáo Đại thừa
có được một nền móng triết học vững chắc và hầu hết các hình thái
trường phái Phật giáo Đại thừa sau nầy đều nhận ngài như là vị sáng
lập.
Lập nền tảng trên
sự phủ định từ tánh không, triết học Long Thụ cống hiến một phát
triển độc đáo cho Phật học đến mức được gọi là ‘Trường phái Trung
quán.’ Tông phái nầy, trung thành với tư tưởng Đại thừa, đưa ảnh
hưởng của mình không những vào trong Phật học mà còn vào trong mọi
hệ thống triết học Ấn Độ khác theo nhiều cách. Thậm chí từ quan điểm
lịch sử tư tưởng thế giới, đóng góp độc đáo của Long Thụ, chúng ta
không nên đi từ sự xem nhẹ nguyên lý ẩn tàng trong nền triết học của
ngài là một phủ định luận triệt để. Lúc ấy, triết học của ngài bị
bác bỏ bởi ngoại đạo như là một dạng hư vô luận. Tuy nhiên, hư vô
luận trong phạm trù của triết học Ấn Độ lại liên quan đến sự bác bỏ
đời sống tương lai như là kết quả của đạo đức và việc thiện tôn
giáo. Lập trường đối lập của nó được gọi là quan niệm duy thực,
khẳng định có đời sống kiếp sau. Cả hai đều là khuynh hướng đạo đức
và có ít nhiều ý nghĩa bản thể luận.
Long Thụ liên kết ý
niệm tánh không nầy với ý niệm Duyên khởi (pratītya-samutpāda),
vốn đã là cốt tủy của đạo Phật từ khởi thủy, do đó, triết học phủ
định của ngài không dừng lại ở hư vô luận phủ nhận các nỗ lực tôn
giáo của loài người, cũng không lái nó đi lệch hướng với đạo Phật.
Hơn thế nữa, khi nó thiết định hệ thống giáo lý Nhị đế,
nó thành công khi khoáng trương cơ cấu triết học và giảm trừ những
chi tiết vụn vặt. Sự diễn đạt của hệ thống ấy rất có tính luận lý,
nhưng do vì tính Luận lý phủ định triệt để, nên nó mang khuynh hướng
thậm chí phủ nhận chính cả luận lý. (Thực tế, sau nầy, trường phái
Trung quán chia thành hai nhánh, Trung quán tự lập phái [Svātantrika]
khẳng định lập luận có luận lý và Quy mậu luận chứng phái [Prāsaṅgika]
thì phủ nhận điều ấy). Tuy nhiên, trong thực tế, hệ thống triết học
phủ nhận của Long Thụ chủ yếu nhắm đến quan niệm Duy thực của triết
học A-tỳ-đạt-ma.
Ngay từ mở đầu
trong tác phẩm Căn bản trung quán luận tụng (Mūla-madhyamaka-kārikā),
Long Thụ đã đưa ra tám phủ định như sau:
Không sinh cũng không diệt, không
thường cũng không đoạn
Không
đồng nhất cũng không dị biệt, không đến cũng không đi.
Khéo
nói nhân duyên
này. Thiện,
diệt các hí luận.
Con
cúi đầu lễ Phật, bậc thuyết giáo đệ nhất.
Ở đây, Long Thụ đã
dùng ý niệm cổ xưa trong lý Duyên khởi và đã mô tả lý ấy qua 8 tầng
phủ định như là đặc điểm của nó. Vì 8 tầng phủ định nầy rốt ráo là
đi đến sự biểu thị tánh không, nên nó đã đề cập chủ yếu đến ‘Duyên
khởi vì được phẩm định bởi tánh không.’
Cùng ý niệm tương
tự xuất hiện trong phần kết thúc tác phẩm Hồi tránh luận
của ngài Long Thụ:
Con kính lễ Đức Phật, bậc Đại trí huệ
vô thượng
Ngài đã dạy lý không, nhân duyên, và
trung đạo, đều có cùng một nghĩa.
Từ dòng kệ nầy,
chúng ta được biết không những tánh không và Duyên khởi được xem là
đồng nghĩa, mà ngay cả Trung đạo cũng được xem như vậy. Thuật ngữ
Duyên khởi, như đã được nêu ra ở trên, là chỉ cho tư tưởng căn bản
của Đức Phật. Vì lời dạy, ‘sinh khởi từ nhân duyên’ đã cho thấy, và
cũng là định nghĩa–đó là bài kệ bốn dòng bắt đầu với câu ‘Cái nầy có
thì cái kia có...’
cho thấy rằng ‘ Duyên khởi’ tạo nên sự biểu hiện trạng thái tương
quan và điều kiện cho mọi hiện tượng hiện hữu. Thực tế là mọi hiện
tượng đều tương quan với nhau về nhận thức hoặc bằng cách nào mà các
hiện tượng tồn tại, có nghĩa là có cái không ‘tuyệt đối’ ở mọi nơi.
Long Thụ đã diễn tả thực tế nầy bằng thuật ngữ ‘Không tự thể–Vô tự
tánh’,
có nghĩa là, các pháp không có tự thể của riêng nó.
Thuật ngữ ‘tự tánh’
được Long Thụ định nghĩa là ‘cái gì không bị cải biến (akṛtrima)
hoặc không tuỳ thuộc (nirapekṣa)
vào cái khác.’
Do vậy, tự tánh là chỉ cho bản tính vốn có trong một vật, chỉ cho
cái gì tồn tại trong chính nó và thuộc về chính nó, hoặc chỉ cho một
tồn thể không biến dịch, nói cách khác, đó là một ‘hiện hữu tuyệt
đối.’ Thừa nhận một ‘tự tánh’ như vậy có nghĩa là đi ngược lại ý
niệm Duyên khởi. Theo quan niệm từ câu, ‘Cái nầy có tức cái kia
có...’ sự kiện ‘cái kia có’ là tuỳ thuộc và do điều kiện của
‘cái nầy có,’ mà không do vì thực tế là ‘cái kia’ có ‘tự tánh’ vốn
có của chính nó, một bản tánh tự hữu của riêng nó. Hoặc lại nữa, khi
nói rằng ‘cái nầy’ hoặc ‘cái kia’ là có sự tương quan với nhau,
không có nghĩa là đầu tiên có một tồn thể ‘nầy’ và một tồn
thể ‘kia,’ rồi sau đó, hai cái ‘tương quan’ với nhau. Nếu
‘cái nầy’ và ‘cái kia’ được xem như là những hiện thể và rồi chúng
kết hợp lại với nhau và hiện hữu tương quan với nhau, thì điều ấy
chẳng gì khác hơn là tuyên bố của các nhà Duy thực (realist). Dù nói
về ‘họ hàng’ của hiện thể, nhưng mối quan hệ nầy không thể là ‘mối
tương quan phổ quát’ hoặc là tính ‘tương quan tuyệt đối.’ Tính tương
quan phổ quát thể hiện bằng Duyên khởi luôn luôn nhắm đến nghĩa vô
tự tánh của các hiện tượng. Hoặc nói cách khác, tánh không của các
hiện tượng đơn giản có nghĩa là các thực thể đều là ‘vô tự tánh’ và
theo đó, là tương đối và là do Duyên khởi. Thực tại là, về cơ bản,
mối quan hệ tương đối giữa chính nó. Khi mối tương quan thuần tuý
nầy bị ‘dính mắc vào’ hoặc ‘chấp trước vào’ trong sinh hoạt hằng
ngày như là ‘cái nầy’ hoặc ‘cái kia,’ thì nó bị cụ thể hóa và không
nhận ra được về cái-đang-là (what-it-is). Điều nầy có nghĩa
là con người trở nên bị chấp trước vào thực tại với niềm tin rằng
‘cái nầy là thực tại’ hoặc ‘cái kia là thực tại.’ Vô tự tánh vốn
hiện hữu từ khởi thủy; cái mà chúng ta tin rằng có một tự tánh trở
nên hiện hữu chỉ là đối tượng chấp trước của mình.
Như là quy luật,
tánh không có nghĩa là Vô tự tánh.
Tánh không thường được diễn tả là ‘Vô tự tánh, do vậy nên Không.’
Theo đó, Duyên khởi, có nghĩa là ‘Vô tự tánh’ chính nó đồng nghĩa
với tánh không. Đây là lý do tại sao Long Thụ đã diễn tả Duyên khởi
như là tánh không trong tác phẩm Căn bản trung quán luận tụng
bằng nghĩa Bát bất và nêu lên rằng tánh không, Duyên khởi, và
Trung đạo là đồng nghĩa trong tác phẩm Hồi tránh luận đã
trích dẫn ở trên. Lại nữa, vì Duyên khởi đồng nghĩa với tánh không,
nó, ‘Thiện, siêu việt các hí luận’
và vượt trên mọi suy lường. Do vậy, Đức Phật giảng giải trong nhiều
cách về lý Duyên khởi, vốn siêu việt mọi suy luận thông thường, thế
nên Ngài được xưng tán là ‘bậc Đạo sư tối thắng.’ Long Thụ đã khéo
léo nêu bật diễn tả quan niệm nghịch lý trong kinh Bát-nhã
ba-la-mật-đa, đã liên kết phủ định (có nghĩa là tánh không với
xác định (giáo lý Đức Phật) khi, trong lời xưng tán Đức Phật, ngài
đã phát biểu rằng dù Duyên khởi siêu việt mọi ý niệm, mọi phạm trù,
và vì chính nó là tánh không , nhưng Đức Phật vẫn đảm nhiệm sự khó
nhọc khi giảng dạy điều ấy.
Giáo lý Duyên khởi
từ thời kỳ Nguyên thủy đã được sắp đặt thành chuỗi xích 12 nhân
duyên. Bắt đầu với vô minh và chấm dứt bằng một tổ hợp khổ đau như
sinh, già, chết. Mười hai nhân duyên được hiểu như là hệ thống nhân
quả để giải thích thực trạng của thế giới hiện sinh của con người,
một thế giới của rối loạn. Giáo lý giải thích một thực tại được gọi
là ‘luân hồi–saṃsāra’ trong đó, con người đi từ kiếp sống nầy sang
kiếp sống khác thông qua vòng sống chết bất tận. Long Thụ cũng thừa
nhận cách giải thích nầy về Duyên khởi, nên có thuật ngữ idaṃpratyayatā,
nghĩa là ‘cái hiện hữu do duyên.’
(Để tiện theo dõi, tôi sẽ đơn giản dùng từ
conditionedness; duyên/điều
kiện quan hệ) và qua đó,
hầu như có nghĩa tương đồng nhất với Duyên khởi, xuất hiện trong
phần đầu của hợp từ của thuật ngữ thường dùng là
pratītya-samutpāda.
Trong kinh điển tiền Đại thừa, thuật ngữ ‘duyên–conditionedness’
xuất hiện như một giải thích cho 12 chi phần của duyên sinh, nhưng
trong kinh luận Đại thừa, dường như từ nầy có quan hệ nhiều hơn với
câu nói đã được đề cập ở trước bắt đầu bằng ‘Cái nầy có thì cái kia
có...’ mà mang ý nghĩa ‘tương quan phổ quát’ đã nói ở trên. Trong
thuật ngữ ‘Duyên khởi’ và ‘duyên/điều
kiện quan hệ,’ Long Thụ nhận ra ý nghĩa không những cảnh giới luân
hồi sinh tử của con người (và giải thoát khỏi đó), mà còn thuộc về
nhiều nguyên lý tương quan phổ quát và qua đó, có sự phủ định tuyệt
đối. Ngài đã kết hợp dạng Duyên khởi này với ý niệm tánh không và
đưa ý niệm Vô tự tánh vào giữa chúng như một trung gian. Các pháp
Duyên khởi vốn ‘Vô tự tánh’ do vậy, chúng là Không.
Tuy nhiên, cùng
lúc, không thể từ chối rằng Duyên khởi có một phương diện ‘hiện
hữu,’ và thực tế là Duyên khởi được giải thích qua 12 chi phần để
chỉ bày cảnh giới luân hồi sinh tử của con người một cách rõ ràng đã
cho thấy điều ấy.
Ngược lại, tánh
không có khuynh hướng ‘phủ định’ hơn, và ‘vô tự tánh’ chỉ cho cái
chẳng gì khác hơn chính là cảnh giới giải thoát giác ngộ như được
nhìn qua con mắt của các Du-già sư (Yogin) đã trải nghiệm tu tập.
Khi nói rằng ‘Duyên khởi tự nó là tánh không ’ có nghĩa là cái hiện
hữu và không hiện hữu ấy, hoặc cái mê và ngộ, là quấn chặt với nhau
thành một và đồng nhất. Câu nói ‘Duyên khởi tự nó là tánh không ’,
biểu hiện lập trường cơ bản của Long Thụ, là nhắm đến giác ngộ hoặc
thực chứng, trong đó người ta nhận ra được tự tánh, có nghĩa là tánh
không ngay tâm điểm của một thế giới vốn hiện hữu như là Duyên khởi.
Theo đó, có thể nói rằng nguyên lý nằm ẩn tàng trong câu ‘Duyên khởi
tự nó là tánh không ’ là mẫu thức và nguyên lý cho những châm ngôn
như ‘phiền não tức bồ-đề’ hoặc ‘sinh tử tức niết-bàn.’ Ý niệm tương
tự được diễn tả trong kinh Duy-ma-cật, ‘... tự tại giải thoát nhưng
không lìa phiền não...’
hoặc ‘khi Bồ-tát hành nghịch hạnh nhưng để chứng đắc Phật quả.’
Tuy nhiên, thực tế là phiền não tức bồ-đề hoặc sinh tử tức
niết-bàn thì chưa hiển nhiên lắm đối với chúng ta. Diễn tả theo
cách nối kết các cực đối nghịch lại với nhau dường như phi lý và vô
nghĩa, hoặc có vẻ như là nói hồ đồ về sự ưu việt của niết-bàn và
giác ngộ. Hay nhất là có thể chấp nhận chúng như là một diễn tả đặc
biệt về trực giác huyền bí.
Long Thụ nỗ lực đưa
vào cho các châm ngôn nầy một nền tảng luận lý trên cơ sở nhận thức
của ngài về tánh không trong Duyên khởi. Duyên khởi là nguyên lý nền
tảng của Phật pháp và, cùng lúc, đó là giáo lý giải thích phương
diện thực tại của thế giới hỗn trược đầy phiền não. Mặt khác, tánh
không là nguyên lý phủ định (phủ định cả phiền não lẫn giải thoát)
đã khẳng định Trung đạo thông qua phủ định. Cả hai ý niệm nầy, Duyên
khởi và tánh không được nối kết với nhau và được môi giới bằng ý
niệm Vô tự tánh. Tánh không đó khẳng định Trung đạo, có nghĩa là
chứng ngộ, cả luân hồi sinh tử và niết-bàn đều là Không, và như đã
được nói đến trước đây trong phạm trù ‘không trụ niết-bàn,’ Chúng ta
trở nên tự tại đối với những dính mắc đối với cả luân hồi sinh tử và
niết-bàn nhờ thực chứng được nguyên lý nầy. Cả niết-bàn và luân hồi
sinh tử, được viện dẫn trong châm ngôn ‘sinh tử tức niết-bàn’ vốn là
Không, vì cả hai đều là Vô tự tánh. Chúng là đồng nhất chỉ vì
được trung gian bởi Vô tự tánh. Nghĩa ‘đồng nhất’ trong châm ngôn
không có nghĩa là hai cực đoan hay thái cực ấy là đồng nhất bằng
trực giác, một cách trực tiếp, và tức thời (không qua trung gian).
Nó có nghĩa rằng, đồng nhất là vì bản tính của nó là đồng nhất trong
cả hai, và đều được mô tả là ‘Vô tự tánh.’ Trong thực chứng rằng
luân hồi sinh tử là Không, và niết-bàn cũng là Không,
cả hai ý niệm ấy trở nên đồng nhất. Nói cách khác, để được đồng
nhất, phải có sự can thiệp của Vô tự tánh–có nghĩa là, luận lý về
tánh không phải vận hành như yếu tố trung gian của hai ý niệm trên.
Do vậy, châm ngôn ‘sinh tử tức niết-bàn’ đã được mô phỏng sau định
thức ‘Duyên khởi tức Không.’ Thuật ngữ ‘đồng nhất’ biểu thị
sự thực chứng về tánh không như đã được phát hiện ra trong phạm trù
Duyên khởi.
Tuy nhiên, cũng
chân xác khi trong vài phương diện, phiền não không phải là giải
thoát và giải thoát không bao giờ là phiền não. Phiền não và giải
thoát là hai cảnh giới tuyệt nhiên tách lìa nhau. Sẽ sai lầm khi
cưỡng gán hai cái nầy thành một. Trong mối tương quan của hai ý niệm
nầy, Long Thụ và các Luận sư Trung quán sau nầy từng phần đã thảo
luận về một lý thuyết gọi là Nhị đế (Twofold truth). Nhị đế là chỉ
cho Chân lý quy ước (Conventional truth) và Chân lý tuyệt đối
(ultimate truth). Chân lý quy ước là sự thật thông thường được lập
bằng luận lý và ý niệm chung trong thế giới phàm trần và thông tục.
Chân lý tuyệt đối là chỉ cho sự thực được phơi mở một khi siêu việt
luận lý và ý niệm chung trong thế giới phàm trần và chung nhất. Đó
là chân lý ‘không thể diễn tả’ bằng ngôn ngữ thông thường, và ‘không
thể nghĩ bàn’ bằng luận lý phàm trần. Chân lý quy ước là sự thật
không nghi ngờ gì, nhưng khi nhìn từ phương diện Chân lý tuyệt đối,
thì đó là sự thực hạn định, là sự thực ở cấp độ thấp, và phân tích
rốt ráo, phải nói chân lý ấy là hư vọng. Ở mức độ ấy, chân lý tuyệt
đối phủ nhận các ý niệm luận lý thông thường và đứng rất gần với
tánh không. Ngược lại, chân lý quy ước thuộc về thế giới hiện thực
và đó là cơ sở của phiền não và mê lầm. Tuy nhiên, Nhị đế được lập
không phải như là một lý thuyết về Bản thể luận trong đó sự hiện hữu
được xếp loại như thuộc về chân lý quy ước, và tánh không –phủ định
của nó–là thuộc về chân lý tuyệt đối. Theo truyền thống, điều nầy
được lập ra để giải thích rõ giáo lý của Đức Phật. Do vậy, chúng ta
có thể hiểu rằng Nhị đế có tính luận lý hơn là bản thể luận.
Đặc điểm độc đáo
của Nhị đế không chỉ đối nghịch lẫn nhau như đồi bại và chân chính,
sai và đúng,... mà còn có nghĩa là chân lý quy ước không bao giờ trở
thành chân lý tuyệt đối và chân lý tuyệt đối luôn luôn siêu việt
chân lý quy ước. Trong thảo luận trước đây của chúng ta về Duyên
khởi và Tánh không, chúng ta thấy rằng, dù thực tế là nghịch đảo của
khẳng định và phủ định đều bao hàm giữa chúng, Duyên khởi chính nó
được xem như là tánh không ‘vì Duyên khởi nên Không,’ mối tương quan
giữa chúng được hiểu trong ý nghĩa tương tục (continuity). Ngược
lại, trong phạm trù Nhị đế, bất luận chân lý quy ước có cao đến mức
nào, nó cũng không bao giờ trở thành chân lý tuyệt đối; không có sự
tương tục giữa chúng và hoàn toàn nghiêm cách lẫn nhau. Dù chúng ta
có thể suy tư mang tính luận lý và khái niệm về giác ngộ của Đức
Phật, thì chúng ta vẫn không thể đạt đến thể tính chân thật của điều
ngài giác ngộ bằng suy tư ấy. Bất cứ điều gì có thể suy tư được đều
là bị chấp trước và bị khái niệm hóa như là thực, nó vẫn luôn luôn ở
trong ranh giới của quy ước và luôn luôn cách xa chân lý tuyệt đối
một bước. Thuật ngữ ‘bất khả đắc–unattainable’, ‘Bất khả tư
nghì–inconceivable’, v.v... biểu thị một dạng thuyết bất khả tri
(agnosticism), hàm ý Chân lý tuyệt đối theo một cách như vậy. Sự
kiện ngài Duy-ma-cật giữ sự ‘im lặng–noble silence’ không nói một
lời về Chân lý tuyệt đối là điều dễ hiểu khi nhìn từ quan điểm của
Nhị đế. Nói cách khác, bất luận chúng ta có chất chồng hay nâng thế
giới quy ước, hay nâng sự hiện hữu trong vòng luân hồi sinh tử của
mình lên cao bao nhiêu, thì cũng không bao giờ đến được thế giới của
chân lý tuyệt đối. Động cơ lập thành Nhị đế chủ yếu như là để nhấn
mạnh tính không tương tục và tuyệt đối tách bạch nầy.
Kết luận cho điều
nầy là không dễ gì nói được ‘sinh tử tức niết-bàn.’ Phải nhờ vào
trực nhận của các hành giả tu tập (Yoga) đến mức chứng ngộ thì ‘sinh
tử tức niết-bàn’ mới được khai mở. Tuy nhiên, khi chưa chứng ngộ,
vẫn còn ở lại trong suy tư luận lý, thì sinh tử luân hồi không thể
nào ngay tức khắc trở thành niết-bàn. Trong đó vẫn còn vấn đề phức
tạp về mối tương quan luận lý giữa giác ngộ và tâm thức hay ý chí và
cứu cánh niết-bàn. Thuyết Nhị đế hiển bày sự tách biệt tuyệt đối nầy
và gợi ý một giải đáp làm thế nào để con người có thể vượt qua sự
tách bạch đó. Giải thích của Long Thụ về luận lý phủ định là nhằm để
giải vấn đề nầy. Tánh không vốn là một kinh nghiệm trực giác, được
ngài trình bày một cách có luận lý, và điều nầy có thể được gọi với
nghĩa rộng là ‘biện chứng pháp của tánh không ’.
Long Thụ đã nói rõ
tác dụng luận lý Vô tự tánh của các pháp như đã nói trong phần trước
là, như một chất xúc tác tạo nên đối kháng ‘đồng nhất.’ Tiến trình
lập luận của ngài được minh họa bằng Tứ cú,
qua đó, ngài hướng sự phủ định của mình về phía Duy thực luận của
tiền A-tỳ-đạt-ma (Earlier Abhidharmic realism). Tứ cú gồm bốn tiền
đề: 1. Có (有;
hữu); 2. Không (無;
vô); 3. Vừa có vừa không (亦有亦無;
diệc hữu diệc vô), 4. Không phải có cũng không phải không (非有非無;
phi hữu phi vô). Được
xem như sự hiện hữu của tất cả các pháp đã được tổng kết và biểu thị
bằng 4 tiền đề nầy và, nói một cách biện chứng, không thể có cách
nào khác hơn được. Luận chứng của Long Thụ gồm khảo sát mỗi tiền đề
có thể tự đứng vững hay không. Qua khảo sát nầy, ngài nỗ lực chỉ ra
rằng nếu một tiền đề đứng vững với niềm tin có một ‘tự tánh,’ có
nghĩa là, nếu nó được lập trên quan niệm hữu thể, tất yếu nó sẽ rơi
vào mâu thuẫn tự nội (contradiction of antinomy) và không thể đứng
vững. Do vậy ngài kết luận rằng, nếu một tiền đề được lập, nó phải
là ‘Vô tự tánh,’ có nghĩa phải là Không.
‘Sinh/Khởi’ là đặc
tính của hiện hữu. Trong chương đầu của Căn bản trung quán luận
tụng, Long Thụ đã chỉ ra bằng nghĩa của Tứ cú rằng ‘sinh/khởi’
không thể được lập nếu đứng trên quan điểm Duy thực. Đó là
‘sinh/khởi’ có nghĩa là cái gì đó sinh ra từ chính nó, sinh từ cái
khác, sinh từ cả chính nó và cái khác, hoặc sinh ra không từ nguyên
nhân nào cả.
Điều nầy có thể được hiểu từ quan niệm nhân quả là đồng thời hay dị
biệt. Vắn tắt, nếu nói rằng cái gì tự sinh ra từ chính nó, điều nầy
sẽ phạm lỗi tự mâu thuẫn (contradiction of antinomy), vì khi một vật
‘sinh từ chính nó,’ thì không cần phải sinh nữa, vì nó đã hiện hữu
rồi; hay nói cách khác, vật ấy sinh liên tục mà không kết thúc. Nếu
nói ‘sinh từ cái khác,’ thì cái khác với nó như lửa, sẽ sinh từ một
cái khác như nước, hoặc ngược lại, các thứ sẽ sinh từ cái khác nữa.
Nếu có cái ‘sinh từ cả chính nó và cái khác,’ thì vấn nạn trong
trường hợp trên sẽ lại chất chồng. Nếu nói ‘sinh ra không từ nguyên
nhân nào,’ thì mọi thứ sẽ sinh ra từ mọi lúc và mọi nơi. Như vậy, có
thể thấy rằng sự sinh khởi của các pháp không thể nào được lập trên
nền tảng của bất kỳ tiền đề nào trong Tứ cú.
Như vậy, như cách
đã đề cập ở trên, lối suy nghĩ Duy thực hoàn toàn bị bác bỏ bởi Long
Thụ. Cái bị phủ nhận ở đây, tuy vậy, không phải là sự thực của sinh
khởi, mà sự thực là, khi ‘sinh khởi’ được tuyên bố như là một thực
tại có ‘tự thể’ riêng của chính nó, thì nó không thể nào được sinh
ra từ chính nó hay từ cái khác nó. Thay vì vậy, khi nào nó ‘Vô tự
tánh,’ có nghĩa là, khi tin vào một ‘ngã’ thể bị phủ nhận và tất cả
đều là Không–thì trong mọi khoảnh khắc của sinh khởi mới được an lập
chính như nó đang là (just-as-it-is).
Nguyên do Long Thụ
hoàn toàn vận dụng luận lý như vậy là để dẫn chúng ta đến chân trời
của thế giới chúng ta là tánh không . Tuy nhiên, trước luận lý nầy
và ẩn tàng trong sâu thẳm của luận lý ấy là trực giác và kinh nghiệm
của ngài về tánh không . Không phải là có thể đạt được tánh không ấy
thông qua luận lý. Đúng hơn, trái lại, luận lý tuôn chảy từ tánh
không ấy.
Theo đó, luận lý dẫn chúng ta đến tánh không , dù là Tứ cú hay là
bất luận vấn đề gì trong dạng thức nào, nó phải là không (śūnya);
luận lý tánh không chẳng phải bị bám chặt như là một thực thể có bản
chất riêng của nó. Luận lý là thuộc về lĩnh vực quy ước và thực tại
tuyệt đối là luôn luôn siêu việt điều ấy. Dù ngài Long Thụ biện luận
một cách tự tại khi dùng Tứ cú và các hình thức khác của luận lý,
nhưng ngài không y cứ lập trường của mình trên luận lý, mà luận lý
của ngài là chất liệu tan chảy và hóa giải ngay trong tánh không .
Trong tác phẩm Hồi tránh luận (Vigrahavyāvartanī),
ngài tuyên bố rõ ràng, ‘Ta không đưa ra một lập trường nào.’
Ngài không cố khẳng
định, tuyên bố, hay chứng minh ngược lại điều gì bằng phương tiện
của tiền đề luận lý. Với những người đã thông thạo Duy thực luận và
Luận lý học, điều nầy có vẻ xa lạ, tuy nhiên, trong Trung quán
luận, nơi mà mọi thứ gồm cả luận lý, đều được xem như là
Không, người ta không thể nào tạo nên một trường hợp cho sự minh
chứng về một tuyên bố mang tính luận lý. Luận lý là Không và
chỉ khi nào nó là Không thì nó mới được lập. Lập trường của
Trung quán luận, nếu có thể gọi như vậy, có thể được hiểu như là một
lập trường chỉ ngay khi nào khẳng định tánh không tan biến hẳn. Đó
là lập trường phi lập trường, quét sạch mọi nền tảng và siêu việt cả
luận lý và khái niệm.
Thích Nhuận Châu
trích dịch từ Mādhyamika
and Yogācāra, A study of Mahāyāna Philosophies