TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC PHÁP LUÂN
Số 10 -  PL. 2553
[MỤC LỤC]

 

Tư liu nghiên cu Câu-xá


TUỆ SỸ

 

Giới thiệu

Sinh vật, là một tổ chức có sự sống được tạo thành bởi một hay nhiều bộ phận có chức năng phản ứng đối với các kích thích từ ngoại giới, tiếp thu các yếu tố từ ngoại giới để chuyển hóa thành năng lượng duy trì sự sống, phòng hộ và phát triển. Những chức năng này được thực hiện bởi các bộ phận mà thuật ngữ Phật học Sanskrit gọi là indriya: căn.

Căn cứ trên tình trạng sở hữu bao nhiêu căn mà các sinh vật được phân chia thành các cấp bậc khác nhau trong chuỗi tiến hóa. Sinh vật hạ đẳng, tồn tại trong Dục giới, chỉ tồn tại với hai căn, là mạng căn (jīva-indriya) và thân căn (kāya-indriya).

Thân căn là một tổ chức hợp thành bởi các nguyên tố vật chất bao gồm bốn đặc tính (catvāri mahābhūtāni: bốn đại chủng) là khối lượng, hấp lực, nhiệt độ và vận động. Đặc tính của các nguyên tố nội giới hợp thành thân căn này không khác với các đặc tính của các nguyên tố ngoại giới hợp thành các vật thể vật chất. Chúng khác nhau ở chỗ, các yếu tố nội giới khi hợp thành một tổ chức mà từ trên đó mạng căn xuất hiện. Cho đến khi sự kết hợp của các yếu tố này tan rã, thân căn theo đó bị hủy, bấy giờ trạng thái chết xuất hiện. Trong nhận thức thông tục, hay trong nhiều tín ngưỡng tôn giáo, mạng căn này được hiểu là linh hồn (jīva). Khi linh hồn còn tồn tại trong thân thì sinh vật còn sống; khi linh hồn tách rời thân để đi đến một nơi nào đó bấy giờ thân trở thành xác chết.

Kinh Phật nói, tất cả sinh vật là tổ chức tồn tại bằng dưỡng chất (āhāra: thực). Nói theo ngôn ngữ thông tục, những dưỡng chất là các nguồn thực phẩm được tiếp thu từ ngoại giới thông qua các căn. Có loại dưỡng chất khi được tiếp thu vào nội giới phải được chuyển hóa để thành năng lượng cần thiết cho sự duy trì trạng thái cân bằng hòa điệu và phát triển các yếu tố của tổ chức nội giới như các loại thức ăn và thức uống có nguồn gốc từ thực vật, động vật, hay các chất vô cơ (kavaḍiṅkāra-āhāraḥ: đoàn thực). Thêm nữa, còn có loại dưỡng chất trực tiếp điều tiết trạng thái cân bằng các yếu tố nội giới của tổ chức để duy trì và phát triển sự sống, như ánh sáng, nhiệt độ. v.v. (sparśa-āhāraḥ: xúc thực).

Các sinh vật cao cấp trong Dục giới, như loài người, bắt đầu sự sống cũng chỉ với hai căn, mạng và thân căn. Các căn khác phát triển dần cho đến khi xuất thai thì có đủ năm căn. Căn thứ sáu, ý căn, chỉ phát triển tùy theo hoạt động của năm căn kia. Khi căn thứ sáu phát triển đến một mức nhất định, ý thức mới có thể y trên đó để hoạt động. Các cơ quan cần thiết cho hoạt động hướng thiện được phát triển tùy theo môi trường hoạt động của ý thức, dưới sự chi phối của môi trường, ảnh hưởng của xã hội; đó là năm thiện căn. Nó là một hệ thống bao gồm năm cơ quan.

Để phát triển cao hơn nữa thành các căn vô lậu, như tổ chức tồn tại nơi các Thánh giả để quán sát các Thánh đế và định hướng Niết-bàn, nhiều cơ quan tổ hợp thành hệ thống, trong đó chủ yếu gồm chín cơ quan cùng hợp tác: ý, hỷ, lạc, xả và năm thiện căn.

Loài người trong thời đại kiếp sơ xuất hiện chỉ với hai căn, thân và mạng. Trong quá trình phát triển, các căn phát triển dần song song với sự phát triển của các chủng loại vật chất được tiếp thu làm dưỡng chất; cho đến một giai đoạn nhất định, hai căn nữ và nam xuất hiện, bấy giờ mới có sự phân biệt tính phái.

Để hiểu rõ bản chất, cũng như sự cấu tạo và hoạt động của các căn, hay các cơ quan tổ chức thành sự sống này, được giới thiệu sau đây là đoạn dịch Việt trích từ luận Câu-xá, phẩm thứ hai: “Phân biệt căn”.

Bản dịch Việt được thực hiện bởi Nhóm Phiên dịch Phạn Tạng, dựa trên bản Hán dịch của Huyền Trang, A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, quyển 3, Đại chánh 29, số hiệu 1558, tr. 13b11-18b8; đối chiếu với bản Sanskrit hiện hành Abhidharmakośabhāṣyam of Vasubandhu, tổng biên tập GS. Anantalal Thakur, Giám đốc Viện nghiên cứu K.P. Jayaswal, Patna, xuất bản K.P. Jayaswal Research Institute Patna, 1975, phần đầu của chương II, “Dvitīyaṃ kośasthānam”, đồng thời tham khảo bản sớ giải của Yaśomitra: “Abhidharmakośam Bhāsya Sphuṭārthā sahitam”, Abhidharmakośa & Bhāṣya of Acharya Vasubandhu with Sphutārthā Commentary of ācārya Yaśomitra, Part I, Critical eddited by Swami Dwarikadas Shastri, Bhauda Bharati, Varanasi, 1970.

Bản dịch Việt cũng tham khảo thêm các bản sớ giải Hán, 1. Câu-xá luận ký, quyển 3, Sa-môn Thích Quang (Phổ Quang) thuật, Đại chánh 41, số hiệu 1821; 2. Câu-xá luận sớ, quyển 3, Sa-môn Pháp Bảo soạn, Đại chánh 41, số hiệu 1822.

Ngoài ra, cũng tham khảo bản dịch Pháp, Louis de la Vallee Poussin, L’Abhidharmakośa de Vasubandhu, traduction et annotation, tome I, chapitre 2; Institut Belge des Hautes Etudes Chinoises, Bruxelles 1971. Bản dịch Anh căn cứ bản dịch Pháp, Abhidharmakośabhāṣyam, English translation by Leo M. Pruden, volume I, Asian Humanities Press, 1990.

Phẩm căn luận về năm đề tài chính:

I. Về 22 căn,

II. Về các pháp câu hữu, tức những yếu tố sắc tâm khi xuất hiện đồng thời xuất hiện cùng lúc với các yếu tố khác. Các yếu tố này tương tác và hợp tác, tổ chức thành một cơ cấu tồn tại và hoạt động của sắc và tâm.

III. Các tâm sở, các chức năng tâm lý trong các hoạt động nhận thức.

IV. Các bất tương ưng hành, các nguyên lý nhận thức, các khái niệm trừu tượng, nhờ đó mà có nhận thức, phán đoán, về các chủng loại sai biệt, về tính đặc thù và phổ quát, đồng nhất và dị biệt…

V. Về các quan hệ nhân quả.

Nghiên cứu Phật học số này đăng tải tiết thứ nhất, về 22 căn. Các tiết còn lại sẽ lần lượt đăng tải trong các số Nghiên cứu tiếp theo.


 

Phẩm hai: PHÂN BIỆT CĂN

Tiết một: HAI MƯƠI HAI CĂN


 

I. Căn nghĩa là gì?

[13b11] Như vậy, các căn đã được liệt kê nhân nói về giới.[1] Căn được nói trong đó có nghĩa là gì?

Căn có nghĩa là tối thắng tự tại, quang hiển.[2] Từ đó tổng hợp thành căn có nghĩa là tăng thượng.[3] Theo ý nghĩa này, cái gì tăng thượng đối với cái gì?

Tụng:

1. Theo truyền thuyết, năm căn tăng thượng trong bốn ý nghĩa;

bốn căn, đối với hai;

năm và tám, trong nhiễm và tịnh.

Chúng tăng thượng theo mỗi cá biệt. //1/[4]

Luận:

i. Năm căn, mắt v.v., mỗi căn tăng thượng trong bốn dụng sự[5]: 1. trang nghiêm thân, 2. đạo dưỡng thân, 3. sinh thức các thứ, 4. bất cộng sự.[6] 

A. Quan điểm Tì-bà-sa

1-2. Hai căn, mắt và tai, (1) làm đẹp cho thân, vì nếu thân mà có mắt đui, tai điếc thì rất xấu. (2) Chúng đạo dưỡng thân, vì do mắt thấy, tai nghe mà tránh những chỗ nguy hiểm. (3) Phát sinh thức, nghĩa là chúng làm phát sinh hai thức[7] và các tương ưng của thức.[8] (4) Bất cộng sự, là mắt thấy sắc, tai nghe tiếng; chúng hoạt động với đối tượng riêng biệt.

3-5. Ba căn mũi, lưỡi, thân. (1) Về việc làm đẹp thân, cũng được nói như ở hai căn trên. (2) Chúng đạo dưỡng thân, vì ba căn này thọ dụng đoàn thực[9]. (3) Sinh thức các thứ: ba căn này làm phát sinh ba thức và các tương ưng của chúng. (4) Bất cộng sự, vì mũi ngữi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm.

ii. Nam, nữ, mạng và ý căn, mỗi căn tăng thượng trong hai dụng sự.

6-7. Nữ, nam căn tăng thượng trong hai: 1. hữu tình dị, 2. phân biệt dị.[10] Hữu tình dị: do hai căn này khiến có sự khác biệt giữa nam và nữ trong loài hữu tình. Phân biệt dị: cũng từ hai căn này mà có sự khác biệt về hình thể, giọng nói, bầu vú, v.v.

Có thuyết khác[11] chủ trương, chúng tăng thượng trong nhiễm và tịnh, nên nói trong hai.[12] Vì sao? Vì hạng người phiến-để bẩm sinh, phiến-để tổn hoại,[13] bán-trạch-ca[14] và hạng nhị hình[15] không có các pháp tạp nhiễm như bất luật nghi, vô gián, đoạn thiện; cũng không có các pháp thanh tịnh như luật nghi, đắc quả, li nhiễm.[16]

8. Mạng căn với hai tăng thượng. Nó kết nối, và duy trì chúng đồng phần.

9. Ý căn với hai tăng thượng: kết nối hậu hữu[17] và tự tại tùy hành[18].

Về sự kết nối hậu hữu, như Kinh[19] nói: “Bấy giờ, kiền-đạt-phược hiện tiền với một trong hai tâm, hoặc câu hành với ái hay câu hành với nhuế.”[20]

Về tự tại tùy hành, như Kinh nói: “Tâm dẫn dắt thế gian; tâm chi phối hoàn toàn. Một pháp tâm như vậy, tùy hành hết thảy pháp.”[21] 

iii. Năm thọ, gồm lạc v.v., và tám căn, gồm tín v.v., theo thứ tự, tăng thượng trong nhiễm và tịnh.

10-14. Năm thọ, gồm lạc v.v., tăng thượng trong nhiễm, vì các tùy miên như tham v.v. tiềm phục[22] trong đó.

15-22. Tám căn, gồm tín v.v., tăng thượng trong tịnh, vì các pháp thanh tịnh nương vào đó mà sanh trưởng.

Các luận sư khác nói, năm thọ như lạc v.v. cũng có tăng thượng trong tịnh. Như Kinh nói: “Vì có lạc nên tâm định. Khổ là sở y cho tín. Cũng do y hỷ, ưu và xả mà xuất ly.”[23]

Đó là truyền thuyết theo các luận sư Tì-bà-sa.

B. Quan đim Kinh bộ

Các luận sư khác[24] cho rằng đạo dưỡng thân không phải công dụng của mắt các thứ[25], mà đó là tăng thượng của thức. Thức nhận biết mới có thể tránh được chỗ hiểm nạn, và thọ nhận đoạn thực.[26] Công dụng thấy sắc, và nghe tiếng, cũng không phải cái gì khác thức. Do đó, bất cộng sự đối với các căn như mắt v.v. không thể được quan niệm là có công dụng tăng thượng biệt lập với thức. Vì vậy, không do đây[27] mà mắt v.v. được quan niệm là căn.

Nếu vậy, nên quan niệm thế nào?

[13c24]

II. Ý nghĩa lập căn

Tụng:

Tăng thượng trong nhận thức đối tượng cá biệt,

Theo đó tổng quát đặt làm sáu căn.

Từ thân lập hai căn,

Tăng thượng trong nữ và nam tính. //2/[28]

Do tăng thượng trong tịnh hay nhiễm

Nơi chúng đồng phần:

Nên biết mạng, năm thọ.

Tín v.v… lập làm căn.  //3/[29]

Điều chưa biết, và  đã biết,

Căn đủ biết cũng vậy.

Tăng thượng trong Niết bàn,

Chứng đắc đạo liên tiếp. //4/[30]

Luận:

1-6. Nhận thức đối tượng cá biệt,[31] cái bắt nắm đối tượng riêng biệt của nó, đó là sáu thức thân[32]. Năm căn, bắt đầu là mắt, có công dụng tăng thượng đối với thức nắm bắt đối tượng riêng biệt; thứ sáu là ý căn có công dụng tăng thượng đối với thức nắm bắt tất cả đối tượng[33]. Cho nên sáu căn, bắt đầu từ mắt, đều được lập làm căn.

Há không phải rằng sắc v.v… có công dụng tăng thượng đối với sự nhận thức[34], vậy chúng cũng có thể được lập làm căn?

Đối tượng, hay cảnh, không có tác dụng tăng thượng đối với thức. Vả, công dụng tăng thượng có nghĩa là uy lực tự tại[35]. Mắt có uy lực tự chủ (tối thắng tự tại) trong sự làm phát sinh thức nhận thức sắc, cho nên nó được nói là tăng thượng, (1) vì là nhân cộng thông[36] cho sự nhận thức về các loại sắc; và (2) vì thức tùy theo nhãn căn mà có sáng tỏ hay mù mờ: sắc thì không như vậy, vì cả hai trái ngược nhau.[37]

Cho đến ý căn đối với pháp cũng vậy.

7-8. Từ trên thân mà lập căn nữ và nam, vì chúng có uy thế (tăng thượng) trong tính biệt nữ nam. Thể của căn nữ nam không tách rời thân căn, [38] vì trong một phần của thân mà lập các tên này.[39] Theo thứ tự,[40] trong thân, căn nữ nam này có công dụng tăng thượng. Chỗ này có một chút khác biệt với chỗ khác nơi thân căn cho nên từ thân căn riêng lập thành hai căn. Do đặc trưng của người nữ về hình dáng, giọng nói, cử chỉ[41] và chí hướng[42], nên gọi là nữ tính. Do đặc trưng khác với người nữ về hình dáng, giọng nói, cử chỉ và chí hướng, nên gọi là nam tính. Sự sai khác của hai tính do căn nam, nữ, cho nên nói căn nữ nam có uy thế (tăng thượng) đối với hai tính.

9. Mạng căn có công dụng tăng thượng trong sự tồn tại của chúng đồng phần.[43]

10-14. Năm thọ căn, bắt đầu là lạc, có công dụng tăng thượng trong tạp nhiễm. Vì sao? Vì trong Khế kinh nói: “Tham tùy tăng[44] trong lạc thọ; sân tùy tăng trong khổ thọ; vô minh tùy tăng trong cảm thọ không khổ không lạc”.[45]

15-19. Năm căn, bắt đầu là tín, có công dụng tăng thượng trong thanh tịnh. Vì sao? Vì do thế lực của chúng mà trấn áp các phiền não, dẫn khởi Thánh đạo. Nói “nên biết”[46] là khuyến cáo rằng mỗi một trong chúng đều được thừa nhận là căn.

20-23. Ba căn vô lậu[47] có công dụng tăng thượng trong sự chứng đắc các đạo liên tiếp[48] và chứng đắc Niết bàn, v.v…

Nói “cũng vậy”[49], nêu rõ mỗi loại rõ ràng đều có thể lập làm căn như đã nói. Nghĩa là, căn của sự chưa biết sẽ biết[50] có công dụng tăng thượng trong sự chứng đắc đạo của căn của sự đã biết[51]. Căn của sự đã biết có công dụng tăng thượng trong sự chứng đắc đạo của căn của sự biết hoàn toàn[52]. Căn của sự đã biết hoàn toàn có công dụng tăng thượng trong sự chứng đắc Niết-bàn; vì tâm chưa giải thoát không thể chứng Niết bàn.

Từ “vân vân”[53] nêu rõ có những giải thích khác. Giải thích khác như thế nào? Căn của sự chưa biết sẽ biết có công dụng tăng thượng trong sự đoạn trừ phiền não thuộc kiến sở đoạn; căn của sự đã biết có công dụng tăng thượng trong sự đoạn trừ phiền não tu sở đoạn; căn của sự biết hoàn toàn có công dụng tăng thượng đối với hiện pháp lạc trú[54]; vì do đây mà có sự lãnh thọ hỷ lạc của giải thoát.[55] 

III. Chức năng của căn

Hỏi: Nếu do tăng thượng mà lập làm căn, thì các chi[56] như vô minh chẳng hạn, cũng có thể được quan niệm là căn? Vì mỗi chi đều có công dụng tăng thượng riêng biệt, như nhân vô minh đối với quả là hành. Lại nữa ngữ cụ cũng có thể được lập làm căn? Ngữ cụ, tay, chân và nơi đại, tiểu tiện, thảy đều có công dụng tăng thượng trong các sự việc, theo thứ tự, nói, cầm nắm, đi đứng, thải bẩn, khoái lạc.[57] 

Đáp: Những sự thể như thế không thể lập làm căn. Bởi vì căn như đã được chấp nhận[58] có những đặc tính như sau[59]

Tụng nói:

Chúng là sở y của tâm; đây phân biệt;

Đây tồn tại, đây tạp nhiễm;

Đây chất liệu;[60] đây tịnh;

Do vậy lập làm căn.  //5/[61]

Luận thích:

A. Quan điểm chính thống

1. Sở y của tâm: sáu căn, bắt đầu từ mắt; sáu nội xứ này là căn bản của hữu tình[62]. Hình tướng sai biệt của sở y (sáu căn) này[63] do căn nữ nam. Lại do mạng căn mà sở y này tồn tại trong một hạn kỳ. Sở y này trở thành tạp nhiễm do năm thọ căn. Chất liệu cho sự thanh tịnh của sở y này là do năm căn, bắt đầu từ tín. Sở y này trở thành thanh tịnh do ba căn cuối. Do ý nghĩa này, các cơ sở được lập làm căn đều rốt ráo. Ấy cho nên không thể chấp nhận rằng vô minh các chi, và công cụ ngôn ngữ các thứ có thể được lập làm căn. Vì chúng không có công dụng tăng thượng trong những thứ này.

B. Dị thuyết

Các luận sư khác lại có định nghĩa khác về đặc tính của căn.

Tụng:

Hoặc sở y của lưu chuyển

Và xuất sinh, tồn tại, thọ dụng:

Lập thành mười bốn căn đầu.

Hoàn diệt, với các căn cuối, cũng vậy.  //6/[64]

Luận:

Từ “hoặc”[65] nêu rõ đây là ý của các luận sư khác.[66] Căn cứ trên sự lưu chuyển và hoàn diệt[67] mà lập thành 22 căn. Sở y của lưu chuyển là sáu căn, bắt đầu từ mắt. Sinh là do nam, nữ, vì (sáu căn) sinh từ đó. Tồn tại do mạng căn, vì tựa vào đó mà (sáu căn) tồn tại. Thọ dụng do năm thọ, vì nhân đó nó cảm giác đối tượng. Căn cứ theo đó mà lập 14 căn đầu.

Trong quá trình hoàn diệt, cũng căn cứ bốn nghĩa này[68], do loại biệt, lập thành 8 căn sau. Sở y của hoàn diệt là năm căn, bắt đầu từ tín. Trong ba căn vô lậu, do vô lậu đầu mà sinh, do vô lậu kế mà tồn tại, do vô lậu cuối mà thọ dụng.[69] Số lượng của các căn do đó không nhiều hơn, không ít hơn. Chính do duyên ấy mà Kinh lập thành 22 căn theo thứ tự.

C. Bác bỏ Số luận

Không nên nói ngữ cụ là căn của ngôn ngữ; vì ngôn ngữ do sai biệt học tập mà thành. Tay chân không thể làm căn đối với những việc cầm nắm, đi đứng; vì không có tính chất dị trạng.[70] Nghĩa là, do sự chuyển dịch của tay và chân với những hình dạng khác nhau trong những vị trí khác nhau mà nói là cầm nắm hay đi đứng. Lại nữa, không có tay chân cũng có thể cầm nắm hay đi đứng, như các loài bò sát. Cho nên tay chân không thể làm căn cho các hoạt động ấy.

Nơi xuất đại tiện không thể lập làm căn đối với việc thải chất bẩn; vì những vật nặng ở nơi khoảng trống đều có khuynh hướng rơi, lại do sức gió cuốn khiến nó bị phóng xuất.

Nơi xuất tiểu tiện không thể lập làm căn đối với việc phát sinh khoái lạc; vì khoái lạc này phát khởi từ nữ, nam căn.

Lại nữa cuống họng, răng, mí mắt, các khớp lóng, cũng có thể lập làm căn, vì chúng có lực tác dụng trong sự nuốt, nhai, mở nhắm, co duỗi. Hoặc tất cả những gì làm nhân, mà có lực tác dụng trong các hoạt động của chính nó, đều có thể lập làm căn. Những cái ấy tuy có công dụng nhưng không phải là tăng thượng, nên không lập làm căn. Các thứ như ngữ cụ v.v. cũng không phải là tăng thượng nên không thể lập làm căn.

IV. Đặc tính của căn

Trong đây, mắt v., cho đến căn nam như trước đã nói. Thể của mạng căn là hành bất tương ưng, nên nó sẽ được đề cập chi tiết trong đoạn nói về các hành không tương ưng. Thể của năm căn, bắt đầu từ tín, là tâm sở pháp, sẽ được đề cập chi tiết trong đoạn nói về các tâm sở pháp. Năm thọ, bắt đầu từ lạc, và ba căn vô lậu, không được giải thích ở nơi khác, nên ở đây cần phải giải thích.

Tụng:

Khổ: thân không sướng thích.

Lạc: thân sướng thích,

Và tâm sướng thích tam thiền,

Các trường hợp khác, nó là hỷ //7/

Tâm không sướng là ưu;

Trung, xả; hai, không khác.

Kiến, tu, vô học đạo,

Y chín căn lập ba căn//8/[71]

Luận:

A. Năm thọ căn

Thân là cảm thọ thuộc thân[72] vì nương nơi thân mà sanh khởi. Tức thọ tương ưng với năm thức.[73] Nói “không sướng thích”, hàm nghĩa tổn não[74]. Những gì trong các cảm thọ thuộc thân mà gây tổn hại, nó được gọi là khổ căn.

Được nói là “sướng thích”, nó hàm nghĩa tăng ích.[75] Tức cái mà, trong những cảm thọ thuộc thân, giúp cho tăng ích, nó được gọi là lạc căn.

Và, thêm nữa, cảm thọ tương ưng với tâm trong định thứ ba, vì nó giúp tăng ích, cũng được gọi là lạc căn. Trong định thứ ba không có cảm thọ thuộc thân, vì ở đây năm thức không tồn tại[76]. Sự sướng thích của tâm được gọi là lạc. Trừ đệ tam thiền, trong ba địa dưới[77] sự sướng thích thuộc tâm được gọi là hỷ căn. [78] Trong tĩnh lự thứ ba, tâm sướng thích này an tĩnh, ly tham đối với hỷ[79], cho nên nó chỉ được gọi là lạc căn. Sự sướng thích thuộc tâm trong ba địa dưới còn thô động, còn tham đắm hỷ, nên chỉ gọi là hỷ căn.

Cảm thọ tương ưng với ý thức, gây tổn não, sự không sướng thích thuộc tâm[80] này được gọi là ưu căn[81].

Trung,[82] nghĩa là không phải sướng thích cũng không phải không sướng thích, tức cảm thọ không khổ không lạc. Cảm thọ xử trung này được gọi là xả căn.

Xả căn như vậy là cảm thọ thuộc thân hay cảm thọ thuộc tâm?

Nên nói, thông cả hai.[83]

Vì sao tổng hợp hai cái này (thân và tâm) lập thành một căn?

Vì cảm thọ thuộc thân và thuộc tâm thảy đều không do phân biệt.[84] Thuộc tâm, khổ và lạc phần nhiều[85] phát sinh do phân biệt. Thuộc thân thì không như vậy, vì tùy theo sự chi phối của đối tượng, và vì đối với các vị A-la-hán[86] nó cũng phát sinh như vậy.[87] Do đó, hai cái này[88] có sự khác biệt khi được lập làm căn, thuộc thân hay thuộc tâm. Xả thì không có sự phân biệt[89], mà phát sanh một cách tự nhiên, vì thế, hợp nhất thân và tâm mà lập thành một căn.

Lại nữa, đặc tính gây tổn hại hay tăng ích của cảm thọ khổ và lạc thuộc thân và thuộc tâm khác nhau, do đó chúng lập thành căn riêng biệt. Xả thuộc thân và thuộc tâm giống nhau, vô phân biệt, đặc tính không khác biệt, không gây tổn hại cũng không làm tăng ích, do đó lập chung thành một căn.

B. Ba vô lậu căn

Ý, lạc, hỷ, xả, cùng với năm căn gồm tín v.v., chín căn như vậy ở trong ba đạo,[90] theo thứ tự, được lập thành ba căn vô lậu. Tại kiến đạo y trên chín căn, bắt đầu là ý, lập thành căn vị tri đương tri. Trong tu đạo, y trên chín căn này lập thành căn dĩ tri. Tại vô học đạo, cũng y trên chín căn này lập thành căn cụ tri.

Ba danh từ này được thành lập do bởi nhân gì? Trong kiến đạo, nó hoạt động[91] để biết cái biết chưa từng biết[92], nên nó được gọi là căn vị tri đương tri.[93] Trong tu đạo, không có cái chưa từng biết, nhưng vì mục đích đoạn trừ các tùy miên còn lại, do đó, cần phải thường xuyên nhận thức[94] đối tượng ấy[95], cho nên nó được gọi là dĩ tri[96]. Tại vô học đạo, biết rằng mình đã biết rồi, nên gọi là tri.[97] Cái có sự tri này được gọi là cụ tri[98]. Hoặc tập thành tánh đối với sự nhận thức này nên gọi là cụ tri[99]. Nghĩa là, do đạt được tận trí, vô sanh trí, nên biết một cách như thực rằng “Ta đã biến tri[100] khổ; không còn gì để biến tri nữa”[101]. Chi tiết, v.v...

Căn mà vị ấy có được gọi là căn vị tri đương tri, v.v…[102]

Như vậy, đã giải thích những điểm bất đồng về thể của các căn, sau đây sẽ biện luận về những điểm sai biệt trong các phương diện ý nghĩa.

V. Các vấn đề

1. Hữu lậu – Vô lậu

Tụng:

Trong 22 căn này, bao nhiêu căn thuộc hữu lậu, bao nhiêu vô lậu?

Duy vô lậu, ba căn cuối

Các căn thuộc sắc, và mạng, ưu, khổ,

Nên biết, chỉ hữu lậu.

Chín căn thông cả hai. //9/[103]

Luận:

Thể của ba căn cuối vừa được nói trong đoạn trên duy chỉ thuộc vô lậu. Vô lậu, nghĩa là không cấu bẩn.[104] Cấu cùng với lậu, tên gọi khác, nhưng thể đồng nhất.

Bảy căn thuộc sắc[105] và mạng, ưu, khổ, duy nhất là hữu lậu. Bảy căn thuộc sắc gồm, năm căn, mắt v.v., và nữ, nam căn, vì chúng được liệt trong sắc uẩn.

Ý, lạc, hỷ, xả, và năm căn gồm tín v.v., chín căn này thông cả hữu lậu, vô lậu.

Có thuyết khác nói[106], năm căn gồm tín v.v., duy chỉ vô lậu. Vì vậy, Thế Tôn nói: “Nếu ai hoàn toàn không có năm căn này, gồm tín v.v., Ta nói người ấy thuộc hàng dị sinh, đứng ở bên ngoài.”[107]

Dẫn chứng này không hợp lý. Kinh căn cứ các căn vô lậu mà nói như vậy. Do đâu mà biết? Đoạn trước, Kinh căn cứ năm căn vô lậu gồm tín v.v., để thiết lập sự sai biệt của các Thánh vị, sau đó mới nói như vậy.[108] Hoặc các dị sinh tóm tắt có hai hạng, một nội, hai ngoại. Thuộc nội là hạng chưa đoạn thiện căn; thuộc ngoại, thiện căn đã bị đoạn.

Căn cứ hạng dị sinh thuộc nội mà nói như vậy: “Nếu hoàn toàn không có năm căn này, gồm tín v.v., Ta nói người ấy thuộc hàng dị sinh, đứng ở bên ngoài.”

Lại nữa, Kinh cũng nói: “Có các hữu tình sinh ra trong thế gian, hoặc trưởng thành trong thế gian, có những sai biệt về các căn thượng, trung, hạ; ngay cả khi Phật chưa chuyển Pháp luân.”[109] Do đó biết rằng tín v.v., thông cả hữu lậu.

Lại nữa, Thế Tôn nói: “Nếu Ta đối với năm căn này, gồm tín v.v., mà chưa như thật biết sự tập khởi, sự hoại diệt, vị ngọt, sự xuất ly, thì Ta đã chưa thể vượt qua thế gian bao gồm trời, người, và Ma, Phạm, cho đến chưa thể chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác.”[110] Chi tiết v.v. Pháp vô lậu không thể trở thành phẩm loại như vậy để được quán sát. Cho nên, năm căn, tín v.v., thông cả hữu lậu, vô lậu.

Như vậy, đã nói xong về hữu lậu vô lậu.

2. Dị thục – Phi dị thục

Tụng:

Trong 22 căn, bao nhiêu là dị thục, bao nhiêu phi dị thục?

Mạng căn duy nhất là dị thục

Ưu căn và tám căn sau, phi dị thục

Sắc căn, ý căn và bốn thọ,

Mỗi căn gồm đủ cả dị thục và phi dị thục.//10/[111]

[15b09]

Luận

i. Mạng căn

Mạng căn duy nhất là dị thục.

a. Lưu và xả thọ hành

Nếu vậy, các thọ hành mà A-la-hán bảo lưu[112], các thọ hành đó chính là mạng căn; mạng căn ấy là dị thục của ai?

Bản luận[113] nói: “Thế nào là vị tỳ kheo lưu các thọ hành? Đó là vị A-la-hán thành tựu thần thông[114] và đạt được tâm tự tại[115]. Vị ấy đem bố thí cho chúng tăng hay một cá nhân[116] bất cứ vật gì cần cho đời sống sa-môn tồn tại như y, bình bát các thứ[117]. Sau khi bố thí, vị ấy phát nguyện và liền nhập vào tĩnh lự biên tế[118] thứ tư. Vừa ra khỏi định, vị ấy khởi lên ý tưởng và miệng phát thành lời, rằng ‘Nghiệp nào của tôi mà đưa đến dị thục sung túc[119], mong rằng sẽ chuyển đổi đưa đến dị thục tuổi thọ[120].’ Bấy giờ, nghiệp đưa đến dị thục sung túc của vị ấy liền chuyển đổi đưa đến dị thục tuổi thọ.”

Một số luận sư khác cho rằng nó được kéo dài do bởi quả dị thục tàn dư của nghiệp quá khứ[121]. Chủ trương này nói, dị thục tàn dư từ nghiệp đã được thọ báo trong đời trước, nay do năng lực của định biên tế được tu tập, dị thục tàn dư ấy được dẫn trở lại và được thọ dụng.

Thế nào là vị tỳ-kheo xả các thọ hành? Đó là vị A-la-hán sở đắc thần thông và được sự tự chủ của tâm, vị ấy đem bố thí cho chúng tăng hay một cá nhân những thứ cần dùng như đã nói ở trên. Sau khi bố thí, vị ấy phát nguyện và nhập ngay vào tĩnh lự biên tế thuộc thiền thứ tư. Sau khi xuất định, vị ấy khởi lên ý tưởng và miệng phát thành lời, rằng “Nghiệp nào của tôi mà đưa đến dị thục tuổi thọ, mong rằng sẽ chuyển đổi đưa đến dị thục sung túc.” Bấy giờ, những nghiệp đưa đến dị thục tuổi thọ của vị ấy, liền chuyển đổi đưa đến dị thục sung túc.

Theo tôn giả Diệu Âm,[122] vị A-la-hán bằng lực của định biên tế của thiền thứ tư, đã dẫn các đại chủng thuộc sắc giới hiện tiền trong thân mình, các đại chủng ấy hoặc thuận lợi cho thọ hành, hoặc vi nghịch thọ hành. Do những nguyên nhân này mà vị A-la-hán lưu thọ hành hay xả thọ hành.

Nên nói thế này[123], do uy lực tự tại của định, vị A-la-hán chuyển thế phần của thời gian tồn tại[124] của các đại chủng các căn, thế phần được sản sinh từ nghiệp quá khứ[125], dẫn sinh thế phần được phát sinh do định mà trước kia chưa hề phát sinh. Vì thế, mạng căn trong trường hợp này chẳng phải là dị thục. Ngoài ra, mạng căn trong các trường hợp khác đều là dị thục.

b. Giới hạn lưu thọ hành

Từ vấn đề này mà phát sinh ra những vấn đề khác.

Do nguyên nhân nào vị A-la-hán lưu các thọ hành? Có hai nguyên nhân, 1. vì lợi ích và an lạc cho người khác, 2. vì muốn Phật pháp tồn tại lâu dài ở thế gian. Vị ấy biết rằng thân thọ hành của mình sắp hết và biết không một ai có hai khả năng này.

Lại nữa, do nguyên nhân nào vị A-la-hán xả các thọ hành? Vị ấy biết rằng sự tồn tại của mình trên thế gian này chỉ đem lại chút ít lợi ích và an lạc cho người khác, hoặc bản thân đang chịu các khổ bức vì bệnh tật. Như bài tụng nói:

Phạm hạnh đã khéo hành,

Thánh đạo đã khéo tu,

Khi mạng chung vui vẻ,

Như người không còn bệnh.[126]

[15c10] Trong đây, nên biết, y vào xứ sở nào và người nào có thể lưu và xả thọ hành? Đó là loài người trong ba châu[127], tương tục của nam, nữ, các A-la-hán thuộc bất thời giải thoát[128] đạt được tĩnh lự biên tế.[129] Do bởi trong thân vị ấy có định lực tự tại, không còn các phiền não.[130]

c. Phân biệt mạng hành và thọ hành

Kinh nói, “Đức Thế Tôn sau khi lưu các mạng hành, xả các thọ hành.”[131] Có sự khác biệt nào giữa mạng hành và thọ hành không?[132]

a. Có thuyết nói, không có sự khác biệt nào cả. Căn bản luận nói, “Mạng căn là gì? Đó là thọ trong ba giới.”[133]

b. Theo một số luận sư, quả của nghiệp đời trước gọi là thọ hành, quả của nghiệp hiện tại gọi là mạng hành.

c. Có thuyết nói, do bởi nó mà chúng đồng phần tồn tại gọi là thọ hành; do bởi nó mà đời sống tồn tại trong một thời gian gọi là mạng hành.

Từ “nhiều”[134] nêu rõ lưu và xả mạng hành và thọ hành xảy ra trong nhiều niệm; chẳng phải trong một sát na mà có sự lưu và xả mạng hành và thọ hành.[135]

Có thuyết nói, từ này nhằm bác bỏ thuyết cho rằng mạng và thọ là một thật thể tồn tại trong một thời gian dài.[136]

Có thuyết nói, từ này nhằm nêu rõ không tồn tại một thể là mạng hay thọ, nhưng chỉ là căn cứ trên các hành mà giả lập ra hai tên mạng hành và thọ hành như vậy. Nếu không như thế, thì Kinh đã không dùng từ “hành”.[137]

d. Thế Tôn xả thọ hành và lưu mạng hành

Vì sao Thế Tôn xả các thọ hành và lưu các mạng hành? Vì để nêu rõ Ngài đã tự tại với sự chết, cho nên xả các thọ hành; vì để nêu rõ Ngài đã tự tại với sự sống cho nên lưu các mạng hành.

Chỉ lưu trong ba tháng, không hơn không kém, vì quá ba tháng, Ngài không còn điều cần làm cho đối tượng được giáo hóa,[138] mà ít hơn ba tháng thì việc lợi sanh chưa được hoàn tất.

Lại nữa, để chứng minh điều mà trước kia Ngài nói, “Vì Ta tu tập hoàn hảo bốn thần túc, cho nên nếu muốn, Ta có thể trụ một kiếp hay hơn một kiếp.”[139]

Các luận sư Tì-bà-sa nói, điều đó nêu rõ hiện tại Thế Tôn đã chiến thắng uẩn ma và tử ma, còn trước kia lúc ngồi dưới cây Bồ đề, Ngài đã chiến thắng thiên ma và phiền não ma.

Đã thảo luận các vấn đề thứ phát, nay sẽ thảo luận các vấn đề chính.

ii. Các căn thông cả hai

Ưu căn và tám căn cuối, như tín v.v., đều là phi dị thục, vì chúng là hữu ký. 12 căn còn lại thì gồm cả dị thục và phi dị thục. Theo nghĩa đã nói, đó là 7 sắc căn, ý căn và trừ ưu căn bốn thọ còn lại, chúng đều gồm cả dị thục và phi dị thục. Nếu 7 sắc căn trong trường hợp là sở trưởng dưỡng[140] thì chẳng phải dị thục, ngoài ra các trường hợp khác đều là dị thục. Ý căn và 4 thọ căn hoặc khi thiện hoặc ô nhiễm, hoặc oai nghi lộ, hoặc công xảo xứ, hoặc biến hóa tâm, tùy theo trường hợp mà chúng cũng không phải dị thục. Còn các trường hợp khác đều là dị thục.

iii. Ưu căn

Nếu nói rằng ưu căn là phi dị thục, thì đoạn kinh này sẽ giải thích thế nào? Khế kinh nói, có ba loại nghiệp, nghiệp thuận hỷ thọ, nghiệp thuận ưu thọ và nghiệp thuận xả thọ.

Căn cứ trên sự tương ưng với cảm thọ mà nói là thuận,[141] điều này không có lỗi gì. Nghĩa là, nghiệp tương ưng với ưu, nên nói nghiệp thuận cảm thọ ưu. Như xúc tương ưng với lạc nên nói xúc thuận cảm thọ lạc.

Nếu vậy, nghiệp thuận cảm thọ hỷ, thuận cảm thọ xả, cũng nên như thế? Vì chúng được đề cập như nhau trong một đoạn Kinh.[142]

Ngài muốn hiểu thế nào thì tùy ý, đối với tôi không có gì mâu thuẫn.[143] Hiểu là dị thục, hay hiểu là tương ưng, đều không sai.[144]

Nếu không có cách nào khác thì đoạn kinh ấy phải được hiểu như vậy.[145] Nhưng, thật sự nhân bởi đạo lý nào mà nói ưu căn là phi dị thục?

Vì ưu căn phát sinh do sự sai biệt[146] của phân biệt, và khi nó đình chỉ cũng vậy. Còn dị thục thì không phải như thế.

Nếu vậy, hỷ căn cũng chẳng phải dị thục; vì nó cũng do phân biệt mà sinh và cũng do phân biệt mà đình chỉ?

Nếu cho rằng ưu căn là dị thục thì (người nào) tạo vô gián nghiệp rồi, nhân đó liền sinh ra ưu. Nghiệp này lúc bấy giờ đáng lẽ nên gọi là quả đã chín[147]. Cũng như thế cho câu vấn nạn về hỷ căn.

Nếu cho rằng hỷ căn là dị thục thì (có người) tạo phước nghiệp thù thắng rồi nhân đó liền sinh ra  hỷ. Nghiệp này lúc bấy giờ đáng lẽ cũng nên gọi là quả đã chín.

Tỳ-bà-sa nói như thế này: Vị đã ly dục thì không có ưu căn. Dị thục thì không như thế.[148] Cho nên nó là phi dị thục.

Nếu vậy, nên nói rằng, đối với các hữu tình ly dục, hỷ căn thuộc dị thục; do tính chất gì mà nhận biết?[149]

Bất kể cái kia có tính chất như thế nào, tính chất của cái này là như vậy[150]. Nghĩa là ở giai vị này cho phép có hỷ căn thuộc thiện. Dị thục vô kí thuộc loại tương ưng chẳng phải không có.[151] Trong giai vị này ưu tuyệt đối không thể có mặt,[152] do đó ưu được xác định là phi dị thục.[153]

Tám căn như nhãn v.v.,[154] nếu ở thiện thú, chúng là dị thục của thiện. Nếu ở ác thú  thì dị thục của ác.[155] Ý căn bất kể ở thiện thú hay ác thú, thuộc cả hai. Hỷ, lạc, xả căn ở bất cứ cõi nào cũng đều là dị thục của thiện. Khổ căn bất cứ ở thiện thú hay ác thú, thảy đều là dị thục của ác. Hạng nhị hình trong thiện thú, chỉ có y xứ của căn vì đây là do ác nghiệp mà chiêu cảm; còn sắc căn thiện thú là do nghiệp thiện chiêu dẫn.

Như vậy đã nói xong dị thục v.v…

3. Hữu dị thục – Vô dị thục

Tụng:

Trong 22 căn, có bao nhiêu căn là hữu dị thục[156], bao nhiêu căn vô dị thục?

Ưu xác định hữu dị thục.

Tám căn đầu, ba căn cuối, vô dị thục;

Ý, bốn thọ căn, tín v.v,

Tất cả đều thông hai. //11/[157]

[16b04]

Luận:

Ưu căn như đã tranh luận ở trước, nên biết, xác định là hữu dị thục. Y trên nghĩa “duy chỉ” và nghĩa “vượt thứ” mà bài tụng nói là xác định.[158]  Tức nêu rõ rằng, ưu căn duy chỉ là hữu dị thục. Nói “vượt thứ” là bao gồm đủ hai nghĩa. Bao gồm cả hai nghĩa: (a) ưu căn không phải vô ký, vì nó phát sinh bởi tư mạnh[159]; (b) nó chẳng phải vô lậu, vì chỉ có mặt ở tán địa thôi[160]. Do sự vượt thứ lớp này nên ưu căn được đề cập trước tiên, rằng xác định nó là hữu dị thục.[161]

Tám căn đầu như mắt v.v, và ba căn cuối,[162] cũng xác định vô dị thục. Vì tám căn đầu thì vô ký, ba căn cuối thì vô lậu. Ngoài ra đều vừa hữu dị thục, vừa vô dị thục. Ý nghĩa chuẩn theo đó mà suy, tức ý căn, bốn thọ căn còn lại, năm căn như tín v.v… Từ “ vân vân” [163] là chỉ cho bốn căn nữa như tinh tấn v.v.. Tất cả mười căn[164] này, mỗi căn thông cả hai.

Ý, lạc, hỷ, xả căn, nếu là thiện, hay bất thiện, hữu lậu, chúng là hữu dị thục. Nếu vô ký, hay vô lậu, chúng là vô dị thục. Nếu khổ căn là thiện, hay bất thiện, nó là hữu dị thục. Nếu vô ký, nó là vô dị thục.

Năm căn như tín v.v., nếu hữu lậu, chúng là hữu dị thục. Nếu vô lậu, chúng là vô dị thục.

Như thế đã nói xong có dị thục, không dị thục.

4. Ba tánh

Tụng:

Trong 22 căn, bao nhiêu căn thiện? Bao nhiêu căn bất thiện? Bao nhiêu căn vô ký?

Tám căn cuối duy thiện.

Ưu thông thiện, bất thiện.

Ý, thọ còn lại: cả ba.

Vô ký thông tám căn đầu//12/.[165]

Luận:

Tám căn: tín, v.v., duy nhất[166] là thiện. Theo thứ tự, tuy chúng nằm sau, nhưng nương theo văn ở trên nên đề cập trước.

Ưu căn duy chỉ thông thiện và bất thiện.

Ý căn và các thọ còn lại, mỗi căn thông cả ba tánh.

Tám căn: mắt, v.v., duy chỉ thuộc tánh vô ký. [167]

Như vậy, đã nói thiện, bất thiện các thứ.

5. Giới hệ

Trong 22 căn, có bao nhiêu căn thuộc Dục giới hệ, bao nhiêu thuộc Sắc giới hệ, bao nhiêu thuộc Vô sắc giới hệ?

Tụng:

Dục, sắc, vô sắc giới,

Thứ lớp: trừ ba cuối;

Gồm nữ, nam, ưu, khổ;

Trừ năm sắc, hỷ, lạc.//13/[168]

Luận:

Ở Dục giới trừ 3 căn vô lậu, do ở đây 3 căn này hoàn toàn không hệ thuộc[169]. Theo đó mà biết, liên hệ Dục giới chỉ có 19 căn.

Sắc giới, cũng như trước, trừ thêm bốn căn: nam, nữ, ưu, khổ. Suy theo đó mà biết, 15 căn thông cả Sắc giới hệ. Trừ nữ, nam căn, do sắc giới đã lìa pháp dâm dục và do nữ, nam căn làm thân xấu xí vậy.[170]

Hỏi: Nếu đã như vậy sao lại nói ở đó chỉ có thân nam?  Căn cứ vào đâu mà nói? Như Khế kinh nói: “Không thể có bất cứ trường hợp nào thân nữ làm Phạm thiên. Chỉ có trường hợp xảy ra là thân nam làm Phạm thiên.”[171]

Đáp: Vị ấy có hình thể người nam đặc biệt, như thân nam có trong Dục giới.

Ở đây[172], không có khổ căn, vì thân thể trong suốt[173]; và cũng không có các pháp bất thiện. Không có ưu căn, vì do xa-ma-tha thấm nhuần tương tục, và cũng do ở đó hoàn toàn không có vật thể gây hại[174].

Vô sắc giới cũng như trên, trừ 3 căn vô lậu, nam, nữ, ưu, khổ căn; và trừ luôn cả năm sắc căn, hỷ, lạc căn. Suy theo đó mà biết, trừ tám căn này ra, các căn còn lại đều thông cả Vô sắc giới; tức các căn: ý, mạng, xả, năm căn: tín, v.v.

Như vậy, đã nói rõ sự hệ thuộc Dục, Sắc, Vô sắc giới.

6. Ba sở đoạn

Trong 22 căn, những căn nào thuộc kiến sở đoạn, căn nào thuộc tu sở đoạn, thuộc phi sở đoạn?

Tụng:

Ý, ba thọ thông ba.

Ưu thông kiến, tu đoạn.

Chín chỉ thông tu đoạn.

Năm thông tu, phi đoạn//14/[175]

Luận:

Ý, hỷ, lạc, xả căn, mỗi căn thông cả ba: kiến, tu, phi sở đoạn.

Ưu căn chỉ thông kiến và sở đoạn, vì chẳng phải là vô lậu.

Bảy sắc, mạng căn: duy chỉ thuộc tu sở đoạn, vì chúng không phải nhiễm ô. Khổ căn không phải là sản phẩm của thức thứ sáu,[176] và vì là hữu lậu, nên thuộc tu sở đoạn.

Năm căn: tín, v.v., vì chẳng phải pháp nhiễm ô, và vì chúng vừa là hữu lậu vừa là vô lậu, nên chúng thông cả tu sở đoạn và phi sở đoạn.

Ba căn cuối chỉ thông với phi sở đoạn, vì là vô lậu, và vì pháp không tai hại thì không bị đoạn trừ.

Như vậy, đã nói nghĩa loại sai biệt của các môn.

17. Giới nào bao nhiêu căn được trước?

Tụng:

Dục giới, thai, trứng, thấp;

Tối sơ đạt được hai dị thục.[177]

Hóa sanh: sáu, bảy, tám,

Sắc, sáu; trên, duy mạng.//14[178]

Luận:

18. Căn được trước trong ba giới

Trong Dục giới, các loài sanh bằng thai, trứng và thấp, trong giai đoạn tối sơ thọ sanh, chỉ có hai căn thuộc dị thục thân và mạng; vì trong ba loại sanh đó các căn phát triển dần. Ba loại đó vì sao không có hai căn ý và xả? Trong thời gian tục sanh[179] hai căn này nhất định bị nhiễm ô.[180]

Trong giai đoạn tối sơ của hóa sanh, có 6 căn, 7 căn và 8 căn,[181] nghĩa là hạng vô hình[182] tối sơ có sáu căn, như thời kiếp sơ[183]. Sáu căn là gì? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và mạng. Nếu hạng một hình,[184] tối sơ có bảy căn, như chư thiên v.v.;[185] hoặc hạng hai hình tối sơ có tám căn.

Loài hóa sanh há có thể có hai hình? Trong ác thú có thể có hạng hóa sanh hai hình.

Đã nói xong những căn tối sơ đạt được trong dục giới, nay theo thứ lớp nói đến sắc giới và vô sắc giới.

Trong dục giới, dục vượt trội nên chỉ nói đến dục. Trong sắc giới, sắc vượt trội nên chỉ nói đến sắc. Khế kinh cũng nói: “Tịch tĩnh giải thoát, vượt qua sắc, thuộc vô sắc”[186].  Trong sắc giới, tối sơ sở đắc sáu căn là dị thục, cũng được nói như về loài hóa sanh không hình trong dục giới.

Trên, duy mạng:[187] trong vô sắc giới, định vượt trội,[188] sanh vượt trội[189] cho nên nói là trên[190]. Trong vô sắc giới, căn dị thục mà tối sơ có được, duy chỉ mạng chứ không phải căn nào khác.

Đã nói căn dị thục có được trong tối sơ.

19. Ở giới nào trong giai đoạn chết bao nhiêu căn diệt sau cùng?

Tụng:

Khi chết các căn diệt,

Cõi vô sắc có ba, cõi sắc có tám,

Cõi dục chết đột ngột căn mười, chín và tám,

Chết từ từ bốn thiện, tăng thành năm.//15[191]

Luận:

20. Khi chết căn diệt sau cùng

Ở vô sắc giới, khi sắp mạng chung[192], ba căn mạng, ý và xả diệt sau cùng. Nếu ở sắc giới, khi sắp mạng chung thì ba căn trước và năm căn bắt đầu từ mắt, như vậy tám căn diệt sau cùng. Tất cả loài hóa sanh chắc chắn đủ các căn[193] mà sanh, tử. Nếu ở dục giới, khi mạng chung đột ngột[194], 10, 9 và 8 căn diệt sau cùng, nghĩa là hạng nhị hình thì 10 căn diệt sau tức là căn nam, nữ và tám loại trước. Hoặc hạng nhất hình chín căn diệt sau, ở trong nữ nam tùy theo đó trừ một loại. Hoặc hạng vô hình tám căn diệt sau, tức là không có căn nữ nam chỉ có tám căn trước, những điều có nói như vậy, y vào sự mạng chung đột ngột, hoặc từ từ mạng chung[195], bốn căn diệt sau cùng, nghĩa là ở dục giới, khi mạng chung từ từ, thân, mạng, ý, xả diệt sau cùng. Bốn loại này không có nghĩa diệt trước sau.[196] Những điều như vậy đã nói xong, nên biết chỉ y vào tâm nhiễm ô, vô ký[197]. Hoặc ở ba cõi khi chết, tâm thiện năm căn bắt đầu từ tín chắc chắn đều có đủ cho nên ở trước nói tất cả vị các căn, trong số đó đều nên thêm năm căn bắt đầu từ tín, nghĩa là đối với vô sắc tăng thêm căn cho đến dục giới từ từ mạng chung thì tăng đến chín, còn ở giữa bao nhiêu theo lý mà biết, trong phân biệt căn tất cả căn pháp đều nên suy xét chọn lựa.

Trong 22 căn, những căn nào chứng đắc quả sa môn nào?

Tụng :

Chín: đắc hai quả biên.

Bảy, tám, chín: hai giữa.

Mười một: A-la-hán

Nương vào một nói có thể có.//16[198]

Luận:

21. Căn chứng đắc quả sa môn

Biên[199] chỉ cho quả Dự lưu và A-la-hán[200], vì là ở đầu và cuối của quả sa môn. Trung[201] là hai quả giữa: Nhất lai và Bất hoàn. Chúng được kể là ở giữa do liên hệ với quả đầu và quả cuối. 

Quả Dự lưu do chín căn chứng đắc: ý và xả căn[202], năm căn bắt đầu từ tín, vị tri đương tri và dĩ tri căn, gồm chín căn. Vị tri căn ở trong vô gián đạo,[203] dĩ tri căn ở trong giai đoạn giải thoát đạo,[204] hai căn này hỗ trợ lẫn nhau chứng đắc sơ quả. Theo thứ tự, chúng là dẫn nhân,[205] và y nhân[206] để chứng đắc ly hệ.[207]

A-la-hán cũng do chín căn mà chứng đắc: ý, năm căn bắt đầu từ tín, dĩ tri, cụ tri căn và một trong ba căn hỷ, lạc hay xả.[208] Dĩ tri căn ở vô gián đạo, cụ tri căn ở giải thoát đạo, hai căn này hỗ trợ lẫn nhau chứng đắc quả tối hậu. Theo thứ tự, hai căn vị tri và dĩ tri có tính chất có thể làm dẫn nhân, y nhân để chứng đắc ly hệ.

Hai quả giữa tùy theo sự thích hợp, mỗi quả được chứng đắc bằng bảy, tám hay chín căn. Vì sao? Sự chứng đắc thứ tự[209] của quả Nhất lai, nếu y trên thế gian đạo[210], do bảy căn chứng đắc: ý và xả, năm căn bắt đầu từ tín; nếu y trên xuất thế đạo[211], do tám căn chứng đắc: bảy căn kể trên, và dĩ tri căn thứ tám. Vị chứng đắc siêu việt do ly tham tăng bội[212], do chín căn chứng đắc, như quả Dự lưu. 

Vị đắc quả Bất hoàn bằng sự chứng đắc thứ tự, nếu y trên thế gian đạo, do bảy căn[213] chứng đắc; nếu y trên xuất thế đạo, do tám căn chứng đắc, như quả Nhất lai chứng đắc thứ tự nói trên. Vị chứng đắc siêu việt bằng toàn ly dục tham[214] do chín căn chứng đắc, như quả Nhất lai siêu việt chứng đắc nói trên. Nói chung là như vậy, nhưng vẫn có sự sai khác; tức căn cứ theo địa mà có sự sai khác trong sự đắc quả này, cho nên trong ba căn: lạc, hỷ và xả, có thể tùy theo thích hợp mà chọn lấy một căn[215]. Quả do siêu việt chứng nói trên[216] chỉ một căn xả.

Lại nữa, quả Bất hoàn chứng đắc thứ tự, trong giải thoát đạo thứ chín, nếu nhập vào căn bản địa[217], y thế gian đạo, do tám căn chứng đắc[218]. Vô gián đạo trong địa kia tương ưng với xả thọ[219]; và trong giải thoát đạo lại có cảm thọ hỷ[220]. Hai thọ này hỗ trợ lẫn nhau chứng đắc quả thứ ba. Chúng là hai nhân cho sự chứng đắc ly hệ, như trên.

Nếu y xuất thế đạo, do chín căn chứng đắc.[221] Tám căn, như trên, thêm dĩ tri căn thứ chín. Vì cả trong vô gián đạo và giải thoát đạo đều có căn này.

Há chẳng phải Căn bản A-tỳ-đạt-ma “Hỏi có bao nhiêu căn chứng đắc quả A-la-hán? Và đáp: có mười một căn” [222]? Vì sao đây lại nói do chín căn chứng đắc?

Thật sự, chứng đắc quả thứ tư chỉ do chín căn, nhưng Bản luận nói mười một là căn cứ nơi thân có thể có mà nói. Nghĩa là có thể có hạng Thánh giả sau khi nhiều lần thối thất địa vị vô học, rồi do một trong ba căn, lạc, hoặc hỷ, hoặc xả hiện tiền mà cũng nhiều lần chứng đắc trở lại quả A-la-hán. Vì vậy, Bản luận nói mười một căn. Nhưng không có trường hợp ba cảm thọ cùng khởi một lúc. Cho nên, ở đây nói nhất định chỉ có chín căn.

Trong quả Bất hoàn sao chẳng nói như vậy? Vì không có trường hợp do căn lạc chứng đắc quả Bất hoàn, rồi về sau thối thất. Cũng không có trường hợp sau khi thối thất, rồi do lạc căn mà chứng đắc trở lại; cũng không phải rằng vị mà trước đó đắc quả thứ ba do ly dục siêu chứng lại có thối thất. Vì quả vị ly dục này chứng đắc bởi hai đạo rất vững chắc.

Ở đây, cần tư duy phân tích, căn nào thành tựu? Trong các căn đó, bao nhiêu căn xác định là thành tựu?[223]

Tụng:

Mạng, ý và xả thành tựu,

Mỗi căn nhất định thành tựu ba.

Nếu lạc và thân thành tựu,

Mỗi căn nhất định thành tựu bốn.

Mắt v.v., và hỷ thành tựu,

Mỗi căn nhất định thành tựu năm.

Nếu khổ căn thành tựu,

Nhất định thành tựu bảy.

Nếu nữ, nam, ưu và tín v.v.

Mỗi căn nhất định thành tựu tám.

Hai vô lậu thành tựu mười một.

Vô lậu đầu thành tựu mười ba căn.//17,18,19.[224]

Luận thích:

22. Xác định căn thành tựu

Thành tựu một căn nào trong ba căn: mạng, ý và xả, căn ấy nhất định thành tựu cả ba căn này. Khuyết một trong ba căn này, các căn khác không thể thành tựu.[225] Trừ ba căn này, các căn khác không nhất định; hoặc thành tựu hay không thành tựu.

Trong đây bốn căn nhãn, nhĩ, tỷ và thiệt, (hữu tình) sinh ở Vô sắc giới, nhất định không thành tựu. Nếu sinh Dục giới, chưa sở đắc, hay đã hủy mất[226], cũng không thành tựu.

Thân căn, duy chỉ (hữu tình) sinh ở Vô sắc giới, nhất định không thành tựu.

Hai căn nam, nữ, (hữu tình) sinh hai giới trên, nhất định không thành tựu. Nếu sinh Dục giới, chưa sở đắc, hoặc đã hủy mất, cũng không thành tựu.

Hàng dị sanh sinh trong định thứ tư và Vô sắc giới nhất định không thành tựu lạc căn.

Hàng dị sanh sinh trong định thứ ba, thứ tư và Vô sắc giới nhất định không thành tựu hỷ căn.

Hàng dị sanh sinh trong Sắc, Vô sắc giới nhất định không thành tựu khổ căn.

Tất cả những vị đã ly dục tham nhất định không thành tựu ưu căn. Hạng đoạn thiện căn nhất định không thành tựu định năm căn gồm tín v.v…

Tất cả dị sanh và vị đã trụ quả nhất định không thành tựu định căn vô lậu thứ nhất.

Tất cả dị sanh, hàng kiến đạo, bậc vô học, nhất định không thành tựu căn vô lậu tiếp theo.

Tất cả dị sanh, và hàng hữu học, nhất định không thành tựu căn vô lậu cuối.

Nên biết, loại trừ các trường hợp đã nói trên, còn lại các trường hợp không bị loại trừ, các căn đều thành tựu.

Nếu lạc căn[227] thành tựu, nhất định thành tựu bốn căn: mạn, ý, xả và lạc căn này.

Nếu thân căn thành tựu cũng nhất định thành tựu bốn căn: mạn, ý, xả và thân căn này.

Nếu nhãn căn thành tựu nhất định thành tựu năm căn: mạn, ý, xả, thân căn và nhãn căn.

Nên biết nhĩ, tỷ và thiệt căn cũng thành tựu năm căn. Bốn căn đầu như nhãn v.v…, căn thứ năm, chính nó.

Nếu hỷ căn thành tựu cũng nhất định thành tựu năm căn: mạn, ý, xả, lạc căn và hỷ căn.

Khi sinh lên địa vị tĩnh lự thứ hai, chưa chứng đắc tĩnh lự thứ ba, đã xả địa dưới mà chưa đắc địa trên,[228] bấy giờ thành tựu lạc căn nào?[229] Nên nói thành tựu lạc căn nhiễm ô của tĩnh lự thứ ba, vì còn lại[230] chưa sở đắc.

Nếu khổ căn thành tựu thì nhất định thành tựu bảy căn: thân căn, mạng căn, ý căn và bốn thọ, trừ ưu căn.

Nếu nữ căn thành tựu nhất định thành tựu tám căn: bảy căn như được nói trong khổ căn, và nữ căn là căn thứ tám.

Nếu nam căn thành tựu nhất định thành tựu tám căn: bảy căn như được nói trong khổ căn, và nam căn là căn thứ tám.

Nếu ưu căn thành tựu cũng nhất định thành tựu tám căn: bảy căn như được nói trong khổ căn, và ưu căn là căn thứ tám.

Nếu tín căn v.v. thành tựu cũng mỗi căn thành tựu tám: mạng, ý, xả và năm căn bắt đầu từ tín.

Nếu cụ tri căn thành tựu nhất định thành tựu mười một căn: mạng, ý, lạc, hỷ, xả căn, năm căn bắt đầu từ tín và cụ tri căn.

Nếu dĩ tri căn thành tựu cũng nhất định thành tựu mười một căn: mười căn đầu như trên và dĩ tri căn.

Nếu vị tri căn thành tựu nhất định thành tựu mười ba căn: thân, mạng, ý, khổ, lạc, hỷ, xả, năm căn bắt đầu từ tín và vị tri căn.

Ít nhất tám căn không thiện

Thành tựu thọ, thân, mạng, ý căn

Kẻ  ngu  sanh ở Vô Sắc

Thành tựu thiện, căn mạng, ý, xả.//20[231]

[18a17] Thiện căn đã bị đoạn gọi là không thiện[232]. Người  đoạn thiện căn, chí ít thành tựu tám căn: 5 thọ căn, thân, mạng, ý căn. Thọ nghĩa là  năng thọ[233] vì nó  lĩnh nạp, hoặc chỉ đặc tính của thọ nên gọi là thọ. Giống như căn cứ vào tính chất của viên mãn mà lập tên viên mãn.

Như hạng đoạn thiện căn tối thiểu thành tựu 8 căn, cũng vậy, hạng ngu  sanh ở cõi Vô sắc cũng thành tựu 8 căn. “Ngu” tức dị sanh[234] vì chưa kiến đế. Tám căn là những gì? Đó là năm căn bắt đầu từ tín, và mạng, ý, xả căn. Năm căn bắt đầu từ tín hoàn toàn là thiện nên gọi chung là thiện.

Nếu vậy nó phải bao gồm ba căn vô lậu? Không. Vì ở đây chỉ căn cứ trên  tám căn.  Và vì nói kẻ ngu sanh ở cõi Vô sắc.

Tối đa, thành tựu nhiều nhất bao nhiêu căn ?

Tụng :

Nhiều nhất, thành 19;

Hai hình, trừ ba tịnh.

Thánh giả chưa ly dục

Trừ hai tịnh, một hình//21[235]

Luận:

[18a28] Những hạng hai hình đầy đủ các căn như nhãn căn v.v., trừ ba căn vô lậu, thành tựu  19 căn còn lại. Vô lậu gọi là tịnh[236] vì lìa hai thứ hệ phược[237]. Hạng hai hình tức hàng phàm phu ở cõi Dục, chưa ly tham đối với dục nên có 19 căn.

Chỉ có hạng này đủ 19 căn mà không có hạng nào nữa ư? Vị Thánh chưa ly dục cũng có đủ 19 căn, nghĩa là vị Thánh hữu học chưa ly tham đối với dục thành tựu nhiều nhất cũng đầy đủ 19 căn, trừ hai căn vô lậu và một caên giôùi tính. Nếu ở kiến đạo, trừ căn dĩ tri và căn cụ tri. Nếu ở tu đạo, trừ căn vị tri và căn cụ tri. Hai căn nam, nữ tùy theo đó mà loại trừ một căn. Do các vị Thánh không có hai hình.

Nhân nơi phẩm “phân biệt giới” mà phân biệt những gì là căn và những gì không phải, theo đó mà ở đây đã luận chi tiết xong về 22 căn.[238]

T.S.

 

[1] Xem phẩm i. “Phân biệt giới”, tụng 44. Kośa. kārikā i. 48.

[2] Bhāṣya: idi parmaiśvarye. Thuận chính lý 9 (tr. 377b3): do hai gốc động từ (giới nghĩa, skt. dhātu), (1) √id (ind, Hán âm: y-địa 伊地): có uy lực; (2) √idh, indh (Hán âm: nhẫn-địa 忍地): thắp sáng, đốt lửa. Theo đó, y-địa có nghĩa là tối thắng tự tại 最勝自
<lb n="0377b04"/>在, nhẫn-địa có nghĩa là chiếu chước minh liễu 照灼明了 (cháy sáng tỏ rõ). Ở đây, duy chỉ ý nghĩa xí thạnh quang hiển 熾盛
<lb n="0377b05"/>光顯 (chiếu sáng rực rỡ) chỉ cho căn. Cf. Quang ký (tr. 56a10): “Theo ngữ pháp Ấn-độ, một từ được cấu tạo do bởi tự giới 字界 (skt. dhātu: động từ căn) và tự duyên字緣(skt. pratyaya: giới từ hay tiếp vĩ từ). Trong đó, tự giới là tối thắng-tự tại; tự duyên là quang hiển. Tông hợp tự giới và tự duyên, cấu tạo thành từ căn có nghĩa là tăng thượng 根增上義…” (op.cit. tr. 56a20): “Phạn văn giải thích, y-địa ba-la-mê-phạt-la-duệ伊地波羅迷濕伐羅曳 (skt. idi paramaiśvarye). Trong đó, thấp-phạt-la (śvar) nghĩa là tự tại; duệ (-ye) là đuôi biến cách thứ bảy (đệ thất chuyển thanh), chỉ ý nghĩa “ở trong”; tức là ở trong y-địa (skt. idi) mà lập ý nghĩa tối thắng tự tại, do đó, tối thắng tự tại là nghĩa của động từ căn y-địa. Phạn văn giải thích, nhẫn-địa địa-bát-đáo 忍地地般到, (skt. indhi dīptau). Trong đó, địa-bát (skt. dīp-) có nghiã là rọi sáng 照明義; đáo (skt. –tau) là đuôi biến cách thứ bảy, tức là ở trong ý nghĩa rọi sáng mà lập động từ căn nhẫn địa.”

[3] Bhāṣya: tasya indantīti indriyāṇi/ ata ādhipatyārtha indriyaḥ, chúng nó có uy lực, nên được gọi là các căn. Vì vậy, căn có nghĩa là cái có uy lực, hay có chủ quyền. Cđ.: “Căn có nghĩa là tối thắng tự tại, vì trong sự dụng của chính nó, nó có uy lực một cách tự chủ (tối thắng tự tại). Lại nữa, nó có nghĩa là trang sức rực rỡ (quang sức 光飾), vì trong thân nó rất tỏ rõ (tối quang hiển 最明顯). Quang ký (tr. 56a29): quang hiển, Phạn nói là nhân-đàn-để 因檀底 (skt. indanti: chúng nó có uy lực; có thể Phổ Quang nhầm với indhate: chúng nó thắp sáng), là tự duyên, hỗ trợ tự giới là y-địa, thành nhân-điệt-rị-diệm 因姪唎焰 (skt. indriyam), nêu rõ nghĩa tăng thượng. Xí thạnh, Phạn nói địa-dật để 地逸底 (có lẽ đọc đủ là nhân-địa-dật-để, skt. indhyate: nó thắp sáng), đó là tự duyên, hỗ trợ tự giới nhẫn-địa thành nhân-điệt-rị-diệm, đây dịch là căn.”

[4] Ht. tụng ii.1 傳說五於四</l>  <l>四根於二種 </l>
<lb n="0377b11"/> <l>五八染淨中 </l> <l>各別為增上. kārikā ii.1.catuṣv artheṣu pañcānām ādhipatyaṃ dvayoḥ kila/ caturṇāṃ pañcakāṣṭānāṃ saṃkleśavyavadānayoḥ//

[5] Hán: tứ sự 四事; Cđ. sự dụng 事用;  skt. catuṣv artheṣu, trong bốn mục đích.

[6] Skt. 1. ātmabhāvaśobhā, làm đẹp tự thân; 2. ātmabhāvaparikarṣaṇa, hướng dẫn tự thân; 3. vijñāna-samprayoga-utpatti, phát sinh thức và các tương ưng của thức; 4. asādhāraṇakāraṇatva, hoạt động cá biệt.

[7] Nhãn và nhĩ ṭhức; cakṣuḥśrotra-vijñānayor/

[8] Thức tương ưng, chỉ các tâm sở. Vyākhyā: sasaṃprayogayor iti sacaitasikayoḥ/

[9] Tự thể của đoạn thực (kavaḍikāhāra) bao gồm ba yếu tố: hương, vị và xúc, nhận thức bởi mũi, lưỡi, và thân.

[10] Skt. sattvabhedasattvavikalpabheda.

[11] Vyākhyā: pūrvācārya, các luận sư đời trước.

[12] Ư nhị 於二, trong tụng vanw Hán.

[13] Phiến-đệ 扇搋, skt. ṣaṇḍha/ ṣaṇḍhaka, hoạn hay căn khuyết, có hai loại: bản tính phiến-đệ 本性扇搋 (viyukta-ṣaṇḍhaka), khuyết do bẩm sinh; tổn hoại phiến-đệ 損壞扇搋 (vikāla-ṣaṇḍhaka), khuyết do thiến.

[14] Bán-trạch 半擇, skt. paṇḍaka, hoàng môn hay bất năng nam.

[15] Nhị hình 二形, skt. ubhayavyañjanaka, cùng lúc có cả hai căn nam và nữ.

[16] Quang ký (tr. 56c08): như ruộng nhiễm mặn, cỏ dại không thể mọc, và lúa mạ cũng không. Xem phẩm iv “Phân biệt nghiệp”: bất luật nghi (asaṃvara), tụng 44; vô gián, tụng 98; đoạn thiện, tụng 81; 

[17] punarbhavasambandha, kết nối đời sau, giữ vai trò kết sinh thức.

[18] vaśitabhāvānuvartana.

[19] Chưa rõ xuất xứ.

[20] Cf. Dẫn bởi Tì-bà-sa 60: “Do hội đủ ba điều kiện mà nhập thai mẹ. 1. Cha và mẹ đều có nhiễm tâm. 2. Mẹ không bịnh và đến kỳ. 3. Kiền-đạt-phược (gandharva) chính thức hiện tiền. Khi kiền-đạt-phược hiện tiền lần lượt với hai tâm là ái và nhuế, bấy giờ mới có thể kết sinh, kết nối tái sinh.” Xem thêm, Tì-bà-sa 48.

[21] Dẫn bởi Tì-bà-sa 142, tr. 731b9. Nguyên văn skt. dẫn bởi Yaśomitra: cittena nīyate lokaḥ, cittena parikṛṣyate/ ekadharmasya cittasya sarvadharmā vaśānugā. Cf. Pāli, Saṃyutta. i. 39: cittena nīyati loko, cittena parikassati/ citassa ekadhammassa, sabbeva vasamanvagū’ti.

[22] Hán: tùy tăng. Skt. anuśayitva.

[23] Dẫn bởi Vyākhyā: sukhasya cittaṃ samādhīyate, duḥkhopaniśacchraddhā/ ṣaṇṇaiṣkramyāśritāḥ saumanasyādayaḥ. Cf. Tì-bà-sa 142, tr. 731c12. Xuất ly, chỉ sáu xuất ly (ṣaṇṇaiṣkramya); cf. Quang ký (57a28): “... do chán khổ mà dẫn khởi lạc Niết-bàn...” Quang ký (tr. 57b01): sáu xuất ly, chỉ xuất ly sáu cảnh.

[24] Quang ký (tr. 57b06): thức kiến gia. Vyākhyā: Sautrāntikā.

[25] Vyāhkyā: mắt và tai (cakṣuḥṣrota).

[26] Hán: thọ đoạn thực cố 受段食故, không có trong bản Skt. và Cđ.

[27] Quang ký (tr. 57b07): chủ yếu bác bỏ đạo dưỡng thân và bất cộng sự.

[28] Ht. ii. 2: 了自境增上總立於六根 從身立二根 女男性增上 // Skt. ii. 2:  svārthopalabdhyādhipatyāt sarvasya ca ṣaḍindriyam| strītvapuṁstvādhipatyāttu kāyāt strīpuruṣendriye||

[29] Ht. ii.3: 於同住雜染清淨增上故應知命五受信等立為根 // Skt. ii.3: nikāyasthiti-saṁkleśavyavadānādhipatyataḥ| jīvitaṁ vedanāḥ pañca śraddhādyāścendriyaṁ matāḥ|

[30] Ht.ii.4: 未當知已知具知根亦爾於得後後道涅槃等增上 // Skt.ii.4: ājñāsyāmyākhyam ājñākhyam ājñātāvīndriyaṁ tathā| uttarottarasaṁprāptinirvāṇādyādhipatyataḥ||

[31] Liễu tự cảnh; Skt. svārthopaladhi: nắm bắt đối tượng của riêng nó.

[32] Câu này không có trong bản Skt. và Cđ. Đại ý của Ht., nhấn mạnh rằng chính thức nắm bắt đối tượng chứ không phải căn.

[33] Liễu biệt nhất thiết cảnh; skt. sarvārtha-upalabdhi. Cf. Quang ký (57b15): trong năm thức mỗi thức duyên đối tượng của chính nó gọi là các biệt cảnh thức (svārtha-upalabdhi, Hán: liễu tự cảnh), riêng ý thức duyên với tất cả đối tượng gọi là nhất thiết cảnh thức (sarvārtha-upalabdhi), cũng gọi là tự cảnh. Theo giải thích này, từ tự cảnh (svārtha) trong tụng văn  áp dụng cho cả sáu thức.

[34] Vyākhyā, dẫn Kinh: dvayaṃ pratītya vijñānasyotpattiḥ, duyên đến hai, căn và cảnh, thức xuất hiện.

[35] Ht. 增上用謂勝自在. Skt. adhikam hi prabhutvam ādhipatyam: cái có uy thế nổi bật, cái đó có công dụng tăng thượng.

[36] Hán: thông nhân, skt. sāmānyakāraṇa, nguyên nhân chung cho tất cả.

[37] Quang ký (57b26), sắc có hai điều trái ngược với căn: (1) không phải nhân cộng thông vì sắc xanh chỉ có thể làm phát sinh thức về xanh; (2) tỏ hay mờ không tùy thuộc sắc cảnh.

[38] Bhāṣya: nārthāntarabhūte, (chúng) không có đối tượng khác biệt. Vyākhyā: kāyendriyasvabhāvaṃ strīpuruṣendriyam; spraṣṭavyavijñānakatvāt, tự thể của thân căn cũng là nữ nam căn, vì cùng nhận thức đối tượng là xúc.

[39] Bhāṣya: kāyendriyabhāga upasthapradeśo, hạ môn trong một bộ phận của thân.

[40] Thứ tự: thân căn, rồi đến nữ căn, nam căn.

[41] Nguyên Hán: tác nghiệp; skt. ceṣṭā.

[42] Hán: chí lạc; skt. abhiprāya.

[43] Chúng đồng phần, skt. nikāyasabhāga, xem đoạn sau, về các bất tương ưng hành. Vyākhyā: Nhưng, theo các nhà Vaibhāṣika, ở đây chính ý (manas) có uy thế tăng thượng trong sự nối kết chúng đồng phần (đời này với đời sau).”

[44] Skt. anuśete: tiềm phục.

[45] Bhāṣyā: sukhāyāṃ vedanāyāṃ rāgo’nuśete; duḥkhāyāṃ pratighaḥ; aduḥkhāduḥkhāyām avidyā.”

[46] Hán: ưng tri應知, dẫn từ trong tụng văn; skt. mata: được đề cập. Bhāṣya không nêu chi tiết này.

[47] Tam vô lậu căn 三無漏根 Skt ājñāsīimyamākhyam ājñākhyam ājñātāvīndriya 1.  đương tri căn 當知根 , skt.  ājñāsyāmyākhya/ājñāsyāmīndriya thuộc trong kiến đạo (dảśanamārga); 2. dĩ tri căn 已知根 , skt ājñākhya/ājñendriya trong tu đạo (bhāvanāmārga); 3. cụ tri căn 具知根, skt. ājñātāvīndriya trong vô học đạo (aśaikṣamārga).

[48] Hậu hậu đạo 後後道 (utttarottaramārga), Quang ký (tr. 57c24): dĩ tri căn sau vị tri căn gọi là hậu đạo; cụ tri căn sau dĩ tri căn cho nên gọi là hậu hậu đạo.  

[49] Hán: diệc nhĩ 亦爾, thích từ trong tụng văn; Skt. tathā. Vyākhyā: tathā hi taiḥ śraddhādibhiḥ, cũng như vậy, nghĩa là cùng với chúng, tức với tín v.v…

[50] Hán: vị tri đương tri căn. Skt. anājñātam-ājñāsyāmīndriya: “Tôi sẽ biết những gì chưa được biết”.

[51]Hán: dĩ tri căn. Skt. ājñendriya.

[52]Hán: cụ tri căn. Skt. ājñātāvīndriya.

[53] Hán: đẳng, thích từ trong tụng văn; Skt. ādi.

[54] Skt. dṛṣṭadharmasukhavihāra: an trú, hay tồn tại, với sự an lạc ngay trong hiện tại. Vyākhyā: dṛṣṭo dharmaḥ dṛṣṭadharmaḥ; dṛṣṭajanmety arthaḥ. sukho vihāraḥ sukhavihāraḥ; dṛṣṭadharme sukhavihāraḥ dṛṣṭadharmasukhavihāraḥ: Hiện pháp, chỉ pháp được thấy, được kinh nghiệm ngay trong đời này. Lạc trú, nghĩa là tồn tại với trạng thái an lạc.

[55] Vyākhyā: vimukti (giải thoát) = kleśaprahāṇam (đoạn phiền não), prīti (hỷ) = saumanasya (tâm hoan hỷ), sukham (lạc) = praśrabdhisukham (lạc do khanh an).

[56] Nguyên Hán: tính; đây chỉ các chi duyên khởi. Cđ.: hoặc 惑, chỉ các phiền não. Không có từ tương đương trong Bhāṣya. Quang ký (tr. 58a5) giải thích, tính ở đây chỉ cho tự tính (prakṛti) của Số luận (Saṃkhya); từ tự tính phát sinh các hiện tượng, cho đến năm tác căn là tay, chân, địa tiện xứ, tiện xứ và ngữ cụ.

[57] Giả thiết nạn vấn bởi Saṃkhyā (Số luận). Vyākhyā: ngoài các căn như con mắt, Saṃkhyā còn lập thêm năm căn khác gọi là năm tác căn (pañca karmendriyāṇi) như ngữ căn (vāgindriya) nhờ đó mà ngôn ngữ được phát biểu, thủ căn (pāṇīndriya) nhờ đó mà vật được cầm nắm,v.v. Saṃkhyakārikā 34; Hán dịch, Kim thất thập luận (T54, tr. 1251c11): 舌手足人根大遺五[作根, năm tác căn  gồm lưỡi, tay, chân, sinh dục và hậu môn (vakpāṇipadopasthānapāyu).

[58] Vyākhyā: danh sách 22 căn được chính đức Thế Tôn lập.

[59] Quang ký (tr. 58b9): giới thiệu quan điểm của Hữu bộ. Bảo sớ (tr. 514c4): Luận chủ giải thích theo quan điểm Đàm-vô-đức.

[60] Hán: tư lương 資糧, skt. saṃbhāra.

[61] Hán: 心所依此別 此住此雜染此資糧此淨由此量立根. Skt. k. ii. 5: cittāśrayas tadvikalpaḥ, sthitiḥ saṃkleśa eṣa ca/ saṃbhāro vyavadānaṃ ca yāvantā, tāvad indriyam//

[62] maula-sattvadravya.

[63] Skt. tasya; Vyākhyā: tasya = tadāśrasya. Quang ký (tr. 58b08) , thử 此, chỉ sáu căn này.

[64] Hán, tụng ii. 6: 或流轉所依及生住受用建立前十四還滅後亦然. Skt. Kārikā ii. 6: pravṛtter āśrayotpattisthitipratyupabhogataḥ| caturdaśa tathā'nyāni nivṛtterindriyāṇi vā//

[65] Thích từ trong tụng văn; skt. .

[66] Quang ký (58b21): Đây là các luận sư thuộc chủ trương thức kiến thành lập các đặc tính của căn.

[67] Chánh lý (tr. 379c3): “Sự tiếp nối sanh tử, nói là lưu chuyển (pravṛtti). Sự chấm dứt sanh tử, nói là hoàn diệt (nivṛtti).” Tì-bà-sa (tr. 515b12): “Dẫn đến tái sanh, nói là lưu chuyển. Hướng đến Niết-bàn, nói là hoàn diệt”.  Dẫn bởi Quang ký (tr. 58b22).

[68] Bốn nghĩa: sở y (āśraya), xuất sinh (utpatti), tồn tại (sthiti), và thọ dụng (upabhoga). 

[69] Thuận chánh lý (tr. 397c11): Đình chỉ sinh tử là hoàn diệt; tức sáu xứ cuối cùng bị đoạn diệt. Sở y cho sự chứng đắc hoàn diệt này là năm căn, tín v.v. Chúng là nhân thù thắng để sinh trưởng tất cả thiện căn. Căn vô lậu đầu tiên làm phát sinh sự chứng đắc này. Căn vô lậu tiếp theo làm cho đắc này tồn tại. Căn vô lậu cuối khiến cho thọ dụng hiện pháp lạc trụ.

[70] Hán: dị tính 異性; Skt. anyatva, trạng thái biến đổi. Quang ký (tr. 58c20): tay, chân di chuyển từ chỗ này đến chỗ kia, nói là dị xứ (anyatra, vị trí khác); đưa lên, đưa xuống, co, duỗi, nói là dị tướng (anyathā, hình dạng biến đổi)

[71] Hán, tụng 7-8: 身不悅名苦即此悅名樂及三定心悅餘處此名喜心不悅名憂中捨二無別見修無學道依九立三根. Skt. duḥkhendriyam aśātā yā kāyikī vedanā sukham| śātā dhyāne tṛtīye tu caitasī sā sukhendriyam||7|| anyatra sā saumanasyaṁ aśātā caitasī punaḥ| daurmanasyamupekṣā tu madhyā ubhayī avikalpanāt||8|| dṛgbhāvanā'śaikṣapathe nava trīṇi ...|

[72] Thích từ trong tụng văn Hán; skt. kāyikī vedanā: thân thọ; bản Hán, vì lý do âm tiết nên dịch lược từ thọ, cho nên cần giải thích như vậy. Vyākhyā: kāyikī iti mānasīnivṛttyartham, thuộc thân, loại trừ ý nghĩa thuộc ý.

[73] Đoạn thích từ này không có trong bản Skt. và Cđ. Vākhyā: tatra kāyā cakṣurādayaḥ pañca, paranāṇusañcaytvāt, trong đây, thân tức năm căn, gồm mắt, v.v., vì là tập hợp cực vi.

[74] Hán: bất duyệt 不悅, skt. aśāta, không vui sướng, không vui vẻ, không làm cho thích ý. Cđ. phi sở ái 非所愛, cái không được ưa thích. Bhāṣya: asātety upaghātikā, không sướng, tức tổn hại.

[75] Hán: nhiếp ích; skt. anugrāhika, cái giúp cho thuận lợi.

[76] Từ tĩnh lự thứ ba trở lên, cả năm thức không hoạt động, nên không có cảm thọ thuộc thân. Trong tĩnh lự này tuy chỉ có cảm thọ thuộc tâm, nhưng nó cũng được gọi là lạc. Vyākhyā: tṛtīye tu dhyāne prītivirāgatvāt sukhendriyam eva sā, na saumanasyendriyam, trong tam thiền, vì là trạng thái ly tham đối với hỷ, nên cảm thọ ở đây là lạc căn chứ không phải hỷ căn.

[77] Bhāṣya: kāmadhatau prathame dvitīye ca dhyāne, trong Dục giới, trong tĩnh lự thứ nhất và thứ hai.

[78] Hỷ, Skt. saumanasya; phân biệt với prīti, cũng được dịch là hỷ.

[79] Hán: ly hỷ tham; skt. prītivirāga, dứt trừ tham đắm hỷ. Kinh nói về tĩnh lự thứ ba (dẫn bởi Vyākhyā): prītivirāgād upekṣako viharati, do ly tham đối với hỷ, an trụ với xả.

[80] Hán: tâm bất duyệt, skt. aśātā caitasī.

[81] skt. daurmanasya-indriyam. Vyākhyā: upaghātikā caitasikī vedanā daurmanasyam, cảm giác không vui lòng, không vừa ý, thuộc tâm, gây tổn hại.

[82] Thích từ trong tụng văn; skt. madhya.

[83] Thích từ trong tụng văn, Hán: nhị: cả hai; skt. ubhayī.

[84] Thích từ trong tụng văn: vô biệt; skt. avikalpanāt. Vyākhyā: avikalpanāt iti/ abhinirūpanābhāvād ity arthaḥ, do không phân biệt, nghĩa là do không có kế độ phân biệt (phân biệt bằng cách định dạng). Xem phẩm i. k. 33.

[85] Vyākhyā: prāyeṇeti grahaṇaṃ samādhija-vipākajaprītisukhaparivarjanārtham, nói phần nhiều, mục đích loại trừ hỷ và lạc phát sinh do phân biệt và do dị thục.

[86] Hán: A-la-hán đẳng; Quang ký (60a12) : đẳng, chỉ ba quả trước A-la-hán. Skt. arhatām, biến cách sáu, số nhiều. Xem cht. dưới.

[87] Vyākhyā: prahīṇapriyāpriyakalpānām apy arhatām viṣayavaśenaiva kāyikasukhaduḥkhotpādāt, bởi vì, đối các A-la-hán cũng vậy, vốn đã loại trừ sự phân biệt cái gì đáng yêu và cái gì không đáng yêu, sự phát sinh của khổ lạc chính do bởi ảnh hưởng của đối tượng.

[88] Hán: thử. Quang ký (60a20) : chỉ khổ và lạc. Skt. tayoḥ, Vyākhyā: kāyikacaitasikayoḥ sukhayoḥ, duḥkhayoś ca indriyatvena bhedaḥ, khi được lập làm căn, có sự khác biệt của lạc thuộc thân (gọi là lạc căn, sukhendriya) với lạc thuộc tâm (gọi là hỷ căn, saumanasyendriya), và có sự khác biệt của khổ thuộc thân (khổ căn, duḥkhendriya) với khổ thuộc tâm (ưu căn, daurmansyendriya).

[89] Skt. avikalpayataḥ. Vyākhyā: avikalpayataḥ = anabhirūpayataḥ, không phân biệt tức không có kế độ phân biệt; hàm nghĩa không có sự cấu trúc bằng khả năng định dạng của thức. Quang ký (tr. 60a21) hiểu phân biệt ở đây có nghĩa là dị biệt.

[90] Ba đạo: kiến đạo (darśanamārga), tu đạo (bhāvanamārga), vô học đạo (akṣaiṣamārga).

[91] Hán: hành chuyển; skt. pravittaḥ. Vyākhyā: pravṛttaḥ: ājñāsyāmīti prārabdhaḥ, khởi sự (hoạt động, Hán: hành chuyển), nghĩa là, có ý đồ (hoạt động) rằng “tôi sẽ biết”.

[92] Vyākhyā: anājñātaṃ satyacatuṣṭayam, cái chưa biết, tức bốn Thánh đế. Quang ký (tr. 60a26): trong kiến đạo, với 15 sát-na, 8 nhẫn và 7 trí hoạt động để biết những điều chưa được biết là tám Thánh đế bao gồm thượng giới và hạ giới. Hành này được gọi là vị tri đương tri.

[93] anājñātamājñāsyāmīndriya, Vyākhyā: aluksamāsaḥ, hợp từ không tĩnh lược, tức hợp từ y chủ  (tatpuruṣa) trong đó đuôi biến cách của danh từ và đuôi biến hóa của động từ giữ nguyên không bị lược bỏ. Pāṇini 6.3.14.

[94] Hán: phục sác liễu tri: ājānati. xem cht. dưới.

[95] Cảnh, đối tượng ở đây chỉ bốn Thánh đế.

[96] Skt. ājña, Cđ. tri 知; Ht, dĩ tri 已知, không hàm ý quá khứ. Do động từ ā-jñā: ājānati, nó nhận thức, nó tri giác; Ht. sác liễu tri: thường xuyên nhận thức, nhận thức lặp lại nhiều lần.

[97] Bhāṣya: ājñātam ity avagama ājñātāvaḥ, sự nhận thức rằng “đây là cái đã được biết”, sự nhận thức ấy được gọi ājñātāva. Theo định nghĩa này, hậu tố āva trong ājñātāva đồng nghĩa với avagama: nhận thức, lãnh hội.

[98] Skt. ājñātvāvin (< ājñātāva), Cđ. tri dĩ, Ht. cụ tri.

[99] Bhāṣya: ājñātam avituṃ śīlam asyeti vā, cái có tập tính thủ hộ điều đã được biết này. Cđ. “vì nó thủ hộ cái đã được biết, cho nên nói là tri hộ (ājñātāva).” Theo định nghĩa này, hậu tố āva do động từ av: avati, nó thúc đẩy, xúc tiến, thủ hộ. Cf. Thuận chánh lý (): tập tri thành tánh cố, hoặc năng hộ tri cố.

[100] Skt. parijñātam, được nhận thức một cách toàn diện; đồng nghĩa với đoạn.

[101] Cf. Quang ký (60b29): “Ta đã biến tri khổ”, đó tận trí (kṣayajñāna). “Không còn gì để biến tri nữa”, đây là vô sanh trí (anutpādijñāna). “Ta đã đoạn tập”, đây là tận trí. “Không còn tập để đoạn nữa”, đây là vô sanh trí. “Ta đã chứng diệt”, đây là tận trí. “Không còn diệt để chứng nữa”, đây là vô sanh trí. “Ta đã tu đạo”, đây là tận trí. “Không còn đạo để tu nữa”, đây là vô sanh trí.”

[102] Cđ.: “Căn mà vị ấy sở đắc trong giai đoạn này được gọi là căn biết cái đã biết (dĩ tri tri căn已知[06]知根), hoặc căn thủ hộ cái đã biết (dĩ tri hộ căn已知護根).”

[103] Hán, tụng ii. 9: 唯無漏後三有色命憂苦當知唯有漏通二餘九根. Skt. k. ii. 9: … amalaṁ trayam| dṛgbhāvanā'śaikṣapathe nava trīṇi amalaṁ trayam| rūpīṇi jīvitaṁ duḥkhe sāsravāṇi dvidhā nava||

[104] Vô cấu, thích từ trong tụng văn theo bản Skt. amalam trayam, vô cấu, có ba căn. Bhāṣya: anāsram ity arthaḥ, malānām āsravaparyāyatvā, từ vô cấu trong tụng văn Skt. có nghĩa là vô lậu, vì cấu và lậu là hai từ đồng nghĩa.

[105] Hán: hữu sắc căn, skt. rūpīṇi (indriyāni), những căn thuộc sắc pháp.

[106] Cf. Quang ký (60c21): đây nêu thuyết của Hóa địa bộ, tức là Tì-bà-sa-bà-đề (skt. vibhāṣāvādī). Cf. Tì-bà-sa 2 (tr. 7c3): “Phân biệt luận giả (Vibhajyavādin) chủ trương năm căn gồm tín v.v. duy chỉ thuộc vô lậu.” Cf. Pāli, Kathāvatthu, xix. 8, sớ giải: tín thuộc thế gian, chỉ gọi là tín mà không nói là tín căn (tattha  lokiyā  saddhā  saddhā  eva  nāma, na saddhindriyaṃ.), …. Đây là quan điểm của Thuyết nhân bộ (Hetuvāda) và Hóa địa bộ (Mahisāsaka).

[107] Dẫn bởi Tì-bà-sa 2, tr. 8b1. Cf. Pāli, S. v. 202: yassa kho, bhikkhave, imāni pañcindriyāni sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ natthi, tam ahaṃ bāhiro puthujanapakkhe ṭhito’ti vadāmi.

[108] Dẫn bởi Tì-bà-sa 2, tr. 7c6: “Nếu ai với năm căn cực kỳ mãnh lợi, tu tập thường xuyên cho đến bình đẳng viên mãn, vị ấy thành A-la-hán, dứt sạch các lậu. Từ đó giảm xuống một bực, thành Bất hoàn. Thứ đến, giảm thêm một bực nữa, thành Nhất lai. Thứ nữa, giảm thành Dự lưu. Nếu hoàn toàn không có năm căn này, gồm tín v.v., Ta nói đó thuộc phẩm loại dị sanh, đứng ở bên ngoài.” Skt., dẫn bởi Vyākhyā: pañcemāni bhikṣava indriyāṇi/ katamāni pañca/ śraddhendriyaṃ yāvat prajñendriyam/ eṣāṃ pañcānām indriyāṇāṃ tīkṣṇatvāt paripūrṇatvād arhan bhavati/ tatas tanutarair mṛdutarair anāgāmī bhavati/ tatas tanutarair mṛdutaraiḥ sakṛdāgāmī/ tatas tanutarair mṛdutaraiḥ srotaāpannaḥ/tato’pi tanutarair mṛdutarair dharmānusārī/ tatas tanutarair mṛdutaraiḥ śraddhānusārī/ iti hi bhikṣava indriyapāramitāṃ pratītya phalapāramitā prajñāyate/ phalapāramitāṃ pratītya pudgalapāramitṃ prajñāyate/ yasyemāni pañcendriyāṇi sarveṇa sarvāṇi na santi tam ahaṃ bāhyaṃ pṛthagjanapakṣāvasthitaṃ vadāmi/ Xem thêm, Thức thân 1, T.1539 tr. 535c01.

[109] Lời của Phạm thiên bạch Phật, Bhāṣya: santi, bhadanta, sattvā loke jātā loke vṛddhās tīkṣṇendriyā api madhyendriyā api mṛdvindriyā api ity apravartita eva svadharmacakre. Đoạn kinh Phạm thiên thỉnh Phật chuyển Pháp luân, dẫn bởi Vyākhyā. Cf. Pāli, Mahāpadānasutta, D. ii. 38; Ariyapariyesanāsutta, M. i.169.

[110] Dẫn bởi Tì-bà-sa 2, tr. 7c14.

[111] Hán, tụng ii. 10命唯是異熟憂及後八非色意餘四受一一皆通二. Skt.: vipāko jīvitaṁ dvedhā dvādaśa antyāṣṭakādṛte| daurmanasyācca …||10|| Dị thục là mạng căn. 12 căn, tức trừ thêm 8 căn sau cùng và trừ ưu, thông cả hai.

[112] Hán: 諸阿羅漢留多壽行; Skt. arhan bhikṣur āyuhsamskārān sthāpayati: một vị tỳ kheo A-la-hán đình trú/ dừng lại các thọ hành.

[113] Phát trí 12 (tr. 981a12). Xem thêm, Tì-bà-sa 126, tr. 656a8.

[114] Quang ký: thành tựu thần thông, chỉ A-la-hán câu phần giải thoát (ubhayabhāgavimukta)

[115] Skt. cetovaśitva. Vyākhyā: cetovaśitvaṃ prāpta iti asamayavimuktaḥ, đạt đến trạng thái tự tại của tâm, chỉ cho vị A-la-hán bất thời giải thoát. Quang ký: đắc tâm tự tại, chỉ A-la-hán thuộc hạng bất động chủng tánh (akopyadharman), loại trừ trường hợp thời giải thoát.

[116] Hán: biệt nhơn 別人; Skt. pudgalāya. Quang ký (tr.61b06) giải thích, biệt nhơn ở đây chỉ cho những vị vừa xuất từ từ tâm định, vô tránh định, diệt tận định, kiến đạo, tu đạo.

[117]Hán: 諸命緣衣等物隨分; Skt. pātraṃ vā cīvaraṃ vā anyatamānyatamaṃ vā śrāmaṇakaṃ jīvitapariṣkāram vā.

[118] Hán: biên tế tĩnh lự, hay cực biên tế tĩnh lự; Skt. prāntakoṭikaṃ dhyānṃ. Xem, ch. vii. k. 41. Quang ký (tr. 61b6) giải thích, các định thuộc thượng phẩm gọi là định biên tế.

[119] Hán: phú dị thục 富異熟; Skt. bhogavipāka: quả báo hưởng thụ.

[120] Hán: thọ dị thục 壽異熟; Skt. āyurvipāka.

[121] Hán: tàn dị thục quả 殘異熟果: quả dị thục của nghiệp trong các đời trước còn dư lại; Skt. vipākoccheṣa. Vyākhyā: vipākoccheṣaṃ vipacyata iti/ akālamaraṇenāparisamāpta-phalasya tyaktasya janmāntarakarmaṇo bhāvanābalena vipākoccheṣam ākṛṣya pratisaṃvedayate/ dị thục tàn dư của nghiệp đời trước bị xả bỏ khi quả chưa hoàn tất do bởi tử vong phi thời; do lực của tu định, dị thục tàn dư ấy được dẫn trở lại và được cảm thọ hiện tại. Cf. Tì-bà-sa 126, tr. 657a16.

[122] Tham chiếu Tì-bà-sa 126, tr. 657a27, 657c23.

[123] Quang ký (62c25): chủ trương của Kinh bộ. Thế Thân chấp nhận quan điểm này.

[124] Hán: trụ thời thế phần 住時勢分; skt. sthitikālāvedha.

[125] Bhāṣya: pūrvakarmajaṃ sthitikālāvedham indriyamahābhūtānāṃ vyāvarttayanti, chuyển thế lực thời gian tồn tại của các đại chủng chứ không phải chuyển các đại chủng. Thế lực này, chứ không phải các đại chủng, được sản sinh từ nghiệp quá khứ.

[126] Skt., dẫn bởi Bhāṣya: sucīrṇe brahmacarye’smin mārge caiva subhāvati/ tuṣṭa āyuḥkṣayāt bhavati rogasyāpagame yathā// Dẫn bởi Tì-bà-sa 126 (tr. 656c17).

[127] Trừ bắc Câu-lô châu.

[128] Hán: bất thời giải thoát; Skt. asamaya-vimukta. Huyền Trang (quyển 25, tr. 129a24) giải thích, bất thời giải thoát là giải thoát mà không cần chờ đợi thời gian. Nghĩa là muốn giải thoát thì liền nhập định bất cứ lúc nào mà không cần chờ đợi điều kiện tốt hay thời gian thích hợp. Còn gọi là bất động tâm giải thoát (akopyā cetovimuktiḥ), là tâm không còn bị lay động hay thối pháp.

[129] Văn pháp theo lối giảm trừ lần lượt: 1. trong 4 châu, trừ bắc châu; 2. trong ba châu còn lại, duy chỉ loài người; 3. trong loài người duy chỉ nam hoặc nữ, loại trừ phiến-để-ca các thứ; 4. trong nam hoặc nữ, chỉ hạng thuộc nhóm bất thời giải thoát; 5. trong các hạng bất thời giải thoát, chỉ vị đã đắc biên tế định; 6. trong các vị đắc biên tế định, duy chỉ các A-la-hán mới có thể lưu hoặc xả thọ hành.

[130] Bhāṣya: kleśaiś cānupastabdhā santatiḥ, “chuỗi tương tục (thân của vị ấy) không bị cố định bởi các phiền não.” Vyākhyā: dṛṣṭiprāptasya yad api samādhau vaśitvam asti, na nu tasya kleśair anupastabdhā santatiḥ, một vị kiến đạo cũng đạt được tự tại trong định, nhưng tương tục của vị ấy không phải là không bị cố định bởi các phiền não.

[131] Bhāṣya: bhagavān jīvitasaṃskārān adhiṣṭhāyāyuḥsaṃskārān utsṛṭavān. Cf. Mahāparinibbāna-sutta, D. ii. 99: atha kho bhagavā taṃ ābādhaṃ vīriyena paṭipaṇāmetvā jīvitasaṅkhāraṃ adhiṭṭhāya vihāsi, “bấy giờ đức Thế Tôn bằng nghị lực tinh tấn trừ khử cơn bịnh ấy, và sau khi bảo lưu mạng hành, Ngài an trú.” ibid. 106: atha kho bhagavā cāpāle cetiye sato sampajāno āyusaṅkhāraṃ ossaji, bấy giờ đức Thế Tôn tại miếu Cāpāla, với chánh niệm, chánh tri, xả thọ hành. Cf. Tì-bà-sa 126 (tr.657b6).

[132] Đại Tì-bà-sa 126 (tr. 657c11-25): liệt kê 14 quan điểm phân biệt thọ và mạng hành.

[133] Skt., dẫn bởi Bhāṣya: jīvitendriyaṃ katamat? traidhātukam āyuḥ.Cf. Chúng sự phần a-tì-đàm 1 (tr. 628c19); Phẩm loại túc luận 8 (tr. 723a29).

[134] Hán: đa ngôn多言, thích từ đa trong tụng văn, tương đương đuôi biến cách số nhiều của từ skt. Skt. bahuvacanam: chỉ số nhiều của mạng hành và thọ hành trong các từ skt. jīvitasaṅskārān, āyuḥsaṅskārān.

[135] Cf. op. cit.,  tr. 657c26.

[136] kālāntarasthāvaram ekam āyurdravyam, một thật thể là thọ tồn tại từ thời này sang đến thời khác. Quang ký (63b10): giải đáp của Kinh bộ, bác bỏ Chánh lượng bộ.

[137] Quang ký (63b10): theo giải thích của Kinh bộ, từ số nhiều là bằng chứng bác bỏ chủ trương của Hữu bộ. Chủ trương của Kinh bộ, mạng và thọ không có thật thể.

[138] Hán: sở há sự; Skt. vineyakārya.

[139] Bhāṣya: evam bhāvitair ahaṃ caturbhir ṛddhipādair ākāṅkṣan kalpam api tiṣṭheyam, kalpāvaśeṣam api. Cf. Mahāparinibbāna-sutta, D.ii. 103: yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā, yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṃ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṃ vā, “Này A-nan, nếu ai tu tập, tu tập nhiều, bốn như ý túc, thực hành, tích luỹ hoàn hảo, làm thành như cỗ xe, làm thành căn cứ sở y, vị ấy nếu muốn có thể tồn tại một kiếp hay hơn một kiếp.”

[140] Sở trưởng dưỡng, aupacayika, xem chương i tụng 38.

[141] Trả lời của Tì-bà-sa. Thuận 順, từ Hán Ht. thường dùng để dịch đuôi tính từ -īya, mà Bhāṣya giải thích là hàm nghĩa liên hệ (saṃprayoga). Vyākhyā: daurmanasyaṃ vedanīyaṃ asminn iti daurmanasyavedanīyaṃ karma, nghiệp mà trong đó ưu phải được cảm thọ,hay nghiệp dẫn đến cảm thọ ưu, được nói là nghiệp thuận ưu thọ.

[142] Nạn vấn nêu bởi Luận chủ: Nếu ưu được nói trong đoạn Kinh này là phi dị thục, thì hỷ và xả được nói trong đó cũng phải là phi dị thục.

[143] Giải thích của Tì-bà-sa.

[144] Đuôi tính từ -īya, hàm nghĩa dị thục, hay hàm nghĩa tương ưng, đều được cả.

[145] Ý kiến của Kinh bộ.

[146] Giải thích của Tì-bà-sa. Quang ký: “Nhiều sự không như ý, nên gọi là sai biệt. Ưu căn duyên vào sự sai biệt này mà phát sinh.” Giải thích có thể không chính xác. Skt. parikalpaviśeṣa, phân biệt sai biệt, ở đây chỉ hoạt động nhận thức trong những phán đoán cá biệt, phân biệt cá biệt. Vyākhyā: parikalpaviśeṣair iṣṭacintanibhir, phân biệt sai biệt, hay phân biệt cá biệt, đồng nghĩa với tư duy về khả ái hay không khả ái.

[147] Bhāṣya: tatkarma vipakvaṃ syād. Nghiệp vô gián thuộc loại thuận sinh thọ (upapadyavedanīya), nhưng người tạo nghiệp, như A-xà-thế có thể có hối hận (kaukṛtya) sau khi đã gây nghiệp.

[148] Vyākhyā: na hi  cakṣurādiko vipākabhūto vītarāgādīnāṃ vyāvartate, daurmanasyaṃ tu vyāvartate/ thật vậy, đối với những vị đã ly nhiễm, con mắt v.v., vốn thuộc loại dị thục, không bị loại trừ, nhưng ưu thì bị loại trừ. Dẫn kinh: avītarāgasya dviśalyā vedanoktā –kāyikaṃ duḥkhaṃ pratisaṃvedayate, caitasikaṃ ca daurmanasya iti/ vacanād vītarāgasya ca ekaśalyā kāyim eva duḥkhaṃ pratisaṃvedayata iti, đối với vị chưa ly nhiễm, có hai loại cảm thọ được nói là gai nhọn: cảm thọ khổ thuộc thân, và cảm thọ ưu thuộc tâm. Đối với vị đã ly dục, chỉ có một loại gai nhọn, cảm thọ khổ thuộc thân.

[149] Cf. Cđ. 諸離欲人亦無無記喜根
<lb n="0175b27"/>若爾果報有何相Đối với những vị đã ly dục, không có hỷ căn thuộc vô ký. Nếu vậy, quả báo (dị thục) có tính chất gì (vô ký hay hữu ký)? Bhāṣya: saumanasyam apy eṣām avyākṛtam kīdṛśaṃ vipākaḥ syād/ Nếu vậy, hỷ căn của những vị đã ly nhiễm hẳn phải là vô ký, thế thì dị thục có tính chất gì? Vyākhyā: samāpattisaṃgṛhītaṃ teṣāṃ  saumanasyaṃ sambhavati, tac ca kuśalatvān na vipākaḥ, ato vaktavyam - kīdṛśaṃ teṣāṃ saumanasyaṃ vipāka iti/  Hỷ của những vị ấy phát sinh do trạng thái nhập định; hỷ này là thiện, do đó nó không phải là dị thục. Vì vậy, cần phái nói, hỷ của những vị ấy mà là dị thục, thì nó thuộc tính chất gì?

[150] yādṛśaṃ tādṛśam astu. Cđ. 隨其相若有宿業應位Bất kể thuộc tính chất gì, nghiệp quá khứ có mặt thích ứng với giai vị này. Vyākhya: aparichadyamānam api tad asty eveti, vị đã ly nhiễm có hỷ căn, bất kể tính chất của hỷ căn ấy là gì, dị thục hay phi dị thục.

[151] Bhāṣya: sati tu sambhave saumanasyasyāsti vipākāvipākaśaḥ, na daurmanasya/ Cđ. 雖
<lb n="0175b28"/>復如此喜根可有殘果報憂根則無Mặc dù vậy, hỷ căn có thể có tàn quả báo (tàn dị thục), nhưng ưu căn thì không.

[152] sarvathā’py asamudācārād, tuyệt đối (toàn bộ) không hiện hành; Vyākhyā: samāpattyavasthāyām api, asamāpattyavasthāyām api, dù trong trạng thái chánh thọ (nhập định), hay trong trạng thái phi chánh thọ.

[153] Bhāṣya kết luận: quan điểm của Tì-bà-sa, không có ưu nào là dị thục (nāsty evaṃ daurmanasyaṃ vipāka iti).

[154] 八根 bát căn: gồm bảy sắc căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, nam, nữ, và mạng căn.

[155] Thiện dị thục: kết quả của nghiệp thiện. Ác dị thục, kết quả của nghiệp bất thiện.

[156] Hán: hữu dị thục 有異熟, skt. savipāka: cái có dị thục. Phân biệt ý nghĩa dị thục (vipāka) và hữu dị thục (savipāka). Tì-bà-sa 51, tr. 264a: “Cái mà cùng tồn tại với dị thục của riêng nó, cái đó được nói là hữu dị thục... Như nghiệp được gây ra đã trải qua trăm ức kiếp bấy giờ dị thục mới xuất hiện. Tuy cách nhau xa xôi nhưng nghiệp nhân trước kia được gọi là hữu dị thục – cái có dị thục.”

[157] Hán: 憂定有異熟前八後三無意餘受信等一一皆通二. Skt.: … tat tv ekaṁ savipākaṁ daśa dvidhā ||10|| mano'nyavittiśraddhādīni … (11a): Nhưng, nó (ưu căn) duy nhất là hữu dị thục. Ý, các thọ còn lại (bốn thọ) và năm căn tín v.v., 10 căn này thông cả hai.

[158] Giải thích từ định 定trong bài tụng Hán. Skt. tu (tuy nhiên), Bhāṣya: tuśabda evakārārtho bhinnakramaś ca, từ tu, có nghĩa là duy chỉ và vượt thứ tự. Quang ký: Nói “duy chỉ”, vì ưu căn duy chỉ hữu dị thục. Nói “vượt hạn”, vì vượt thứ tự 22 căn mà đề cập ưu căn trước nhất.

[159] Hán; cường tư. Vyākhyā: vikalpaviśeṣotpādyatvān na tad avyākṛtam, nó không phải là vô ký, vì phát sinh do trường hợp cá biệt của phân biệt.

[160] asamāhitatvācca, do trạng thái phi đẳng đẫn (không tập trung định). Vyākhyā: avyākṛtaṃ hi pūtibījavan na vipākadānāya samartham/ anāsravaṃ tu tṛṣṇānabhiṣyanditatvān nālaṃ vipākadānāya, anābhiṣyanditasārabījavat/ vô ký thì không thể cho ra dị thục như hạt giống hư mục. Vô lậu cũng không thích hợp để cho ra dị thục, vì không được tẩm ướt bởi ái, như hạt giống không được tẩm ướt.

[161] Bhāṣya không có đoạn giải thích như bản Hán, nhưng kết luận: ato nāsty avipākaṃ daurmanasyam/ vì vậy, ưu không phải là vô dị thục.

[162] Giải thích câu tụng thứ hai.

[163] Giải thích từ đẳng 等 trong bài tụng Hán. Skt. ādi.

[164] Ý căn, bốn thọ căn (khổ, lạc, hỷ, xã), năm căn (tín, tấn, niệm định, huệ).

[165] Hán: 唯善後八根憂通善不善意餘受三種前八唯無記 //12/ Skt.: … aṣṭakaṁ kuśalaṁ dvidhā| daurmanasyaṁ mano'nyā ca vittis tredhā anyad ekadhā||11|Tám thiện; ưu thông cả hai; ý, các thọ còn lại (trừ ưu): thông cả ba. Số căn còn lại, duy chỉ một.

[166] Hán: nhất hướng; skt. ekāntena, một mực, một mạch.

[167] Skt. jīvitāṣṭamam cakṣurādi.

[168] Hán: 欲色無色繫如次除後三兼女男憂苦并餘色喜樂 //13/  Skt.: kāmāptam amalaṁ hitvā rūpāptaṁ strīpumindriye| duḥkhe ca hitvā ārūpyāptaṁ sukhe cāpohya rūpi ca||12||

[169] Bất hệ; skt. apratisaṃyukta, không liên hệ, không tương ưng. Giải thích từ hệ (skt. āpta: được đạt đến, hệ thuộc) trong các từ Dục hệ, hay Dục giới hệ (kāmāpta), v.v. Vyākhyā: adhātupatitam evety arthaḥ, nó có nghĩa là không hệ thuộc vào giới hệ.

[170] Thuận chánh lý (tr. 381b27) bác bỏ: “Âm tàng ẩn mật thì không có gì xấu xí.”

[171] Cf. Tăng nhất 38 (tr. 757c24): nữ có 5 chướng ngại: không thể làm vua Chuyển luân, Đế Thích, Phạm thiên vương, Ma vương và Phật. Cf. Bahudhātuka (M.iii.65): ... anavakāso yaṃ itthī arahaṃ assa sammāsbuddho, netaṃ ṭhānaṃ vijjatīti ....rājā assa cakkavattī, ... sakkattaṃ kareyya, ... mārattaṃ kareyya, .. brahmattaṃ kareyya.., cơ hội này không xảy ra, người nữ thành vị A-la-hán Đẳng chánh giác; trường hợp này không xảy ra; ... vua Chuyển luân, làm Sakka, làm Ma vương, làm Brahman ...

[172] Trong Sắc giới hệ.

[173] Hán: tịnh diệu; skt. accha: không bị che tối, u tối; trong suốt (như thuỷ tinh)

[174] Hán: não hại sự; Skt . āghātavastu: không có vật thể hay nguyên nhân kích động, gây tổn hại. 

[175] Hán意三受通三憂見修所斷九唯修所斷五修非三非 //14/ Skt. manovittitrayaṁ tredhā dviheyā durmanaskatā| nava bhavanayā pañca tvaheyānyapi na trayam||13||

[176] Hán: lục sanh; skt. ṣaṣṭhaja.

[177] Skt. kā 14ab: kāmeṣv ādau vipākau dve labhyete nopapādukaiḥ/ trong Dục giới, tối sơ sở đắc hai dị thục, không có hóa sanh. Bhāṣya: do loại trừ hoas sanh, nên biết còn lại với noãn, thai và thấp sanh.

[178] Hán & Skt .

[179] Hán: tục sanh, hay kết sanh, Skt . pratisaṃdhi.

[180] Vyākhyā, dẫn iii. 38: upapattibhavaḥ kliṣṭaḥ sarvakleśaiḥ svabhūmikaiḥ/ sanh hữu bị nhiễm ô bởi tất cả phiền não thuộc giới địa riêng biệt. Quang ký: Ý và xả, trong giai đoạn tục sanh, tất nhiên có mặt, nhưng vì là nhiễm ô nên không phải là dị thục.

[181] Giải thích câu ba, tụng Hán. Skt. kā 14c: taiḥ ṣaḍ vā sapta vā aṣṭau vā, với ba, sáu hay bảy hoặc tám.

[182] Vô hình, hay vô căn, chỉ hàng không tính phái (không có cả nam và nữ căn); skt. avyañjana.

[183] Hán: kiếp sơ (kalpāgra): Ban đầu thành lập thế giới hữu tình. Skt. prāthamakalpikāḥ; Vyākhyā:  yugādyutpannāḥ  prāgāsan rūpivat sattvāḥ, các chúng sanh sanh trong thời thế giới tối sơ thành lập đều là những chúng sanh có sắc (từ Sắc giới đến).

[184] Một hình, một căn, hoặc nữ hoặc nam. skt. ekavyañjana.

[185] Skt. devādiṣu, Vyākhyā: ādiśabdena nārakādayo’pi gṛhyante, từ ādi (vân vân) bao hàm luôn cả địa ngục các thứ.

[186] Skt. śāntā vimokṣā; dẫn bởi Bhāṣya: ye ‘pi te śāntā vimokṣā atikrammya rūpaṇi ārūpyāḥ. Cf. Pāli, Skt. ii. 123 (Susimasutta): ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā, te kāyena phusitvā viharathā”ti? no hetaṃ, āvuso. Những vị mà, sau khi vượt qua các sắc, đạt được tịch tĩnh giải thoát trong vô sắc; những vị ấy có an trú sau khi có lạc xúc bởi thân? Không, thưa hiền giả. Sớ giải: santā   vimokkhāti   aṅgasantatāya   ceva   ārammaṇasantatāya  ca  santā  āruppavimokkhā. Tịch tĩnh giải thoát: giải thoát vô sắc với sự tịch tĩnh của chi và tịch tĩnh của sở duyên. Tham chiếu, Tạp A-hàm 12, T02, tr. 97a17. Dẫn bởi Tì-bà-sa 75, T27, tr. 389b26.

[187] Giải thích phần cuối câu tụng thứ tư. Skt. ekam uttare.

[188] Vyākhyā: yasmāt  pūrvaṃ rūpasamāpattiḥ paścād ārūpyasamāpatti, tasmād rūpadhātur uttara ārūpyadhātuḥ, vì sắc định (sắc đẳng chí) trước rồi sau đó là vô sắc định, cho nên vô sắc giới ở trên sắc giới.

[189] Vyākhyā: yasmāc copapattitaḥ pradhānataro rūpadhātor ārūpyadhātuḥ, bahūni kalpasahasrāṇi, tatrātipraśānto vipāko bhavati, ato’py asāv uttaraḥ, na tūpapattideśataḥ, vì vô sắc giới vợt trội hơn sắc giới về mặt thọ sanh, ở đây có dị thục cực kỳ tịch tĩnh, trải qua nhiều số kiếp, do đó nó cũng vượt trội hơn sắc giới; chứ không phải do phương vực thọ sanh.

[190] Thích từ trong văn tụng, Hán: thượng. Skt. uttare: tối thượng.

[191] Hán & Skt.

[192] Skt. uparaman ( pthicđ của động từ ram, cách 1, ít): chết.

[193] Skt. samagrendriyāḥ: các căn đầy đủ/ hoàn chỉnh.

[194] Skt. sakṛn-maraṇa: cái chết nhanh chóng/ tức thì.

[195] Skt. kramamṛtyoḥ (cách 6, ít , mṛtyu) : chết từ từ.

[196] Skt. na hi eṣām pṛthagnirodhah: những căn này có sự diệt không khác nhau. Hán: thử tứ tất vô tiền hậu diệt nghĩa.

[197] Skt. kliṣa- avyākṛta-cittasya (cách 6, ít).

[198] Hán & Skt.

[199] Thích từ trong kệ tụng. Skt . antya: cực biên.

[200] Skt. srota-āpattiphalam arhattvam ca. Vyākhyā  giải thích thêm: yathā daṇḍasya dvau antau bhavataḥ, evaṃ paṃkti-avasthitaanāṃ caturṇāṃ phalānāṃ srota-āpattiphalaṃ, arhattvaphalaṃ ca ante bhavataḥ: như cây gậy  có hai đầu, 4 thánh quả  cũng vậy có hai quả biên là Tu đà hoàn và Alahán.

[201] Thích từ trong kệ tụng. Skt. madhye: ở giữa, chỉ cho hai quả Tư đa hàm (sakṛdāgāmiphalaṃ) và A na hàm (anāgāmiphalaṃ).

[202] Quang ký (67b03): sơ hướng và sở quả y trên vị chí địa (=định, anāgamya-dhyāna) mà chứng đắc, nên duy chỉ có xả thọ.

[203] Skt. ānantaryamārge. Xem đoạn sau, ch. vi, bản Hán quyển 25, tr. 132a08.

[204] Skt. vimukti-màrga. Hán: giải thoát đạo 解脫道. Xem đoạn sau, ch. vi, bản Hán quyển 25, tr. 132a08.

[205]Skṭ  āvāhakatva. Hán: dẫn nhân 引因. Quang ký (67b03):: “Dẫn nhân, tức đồng loại nhân. Vì nó dẫn đến chứng đắc ly hệ, sản sinh quả đẳng lưu và sĩ dụng. 

[206] Skt . sanniśrayatva. Hán: y nhân 依因: Quang ký (67b03): 因謂能作因。依者持也。同時能持離繫 得故。名曰依因 Y nhân, đây là năng tác nhân. Y, nghĩa là trì. Vì nó đồng thời duy trì sự chứng đắc ly hệ.

[207] Skt . visaṃyoga-prāpteḥ. Li heä( visaṃyoga), xem ch. i. tụng 6a-b.

[208] Trong cả 9 địa đều có thể chứng A-la-hán; trong ba thọ, tùy theo cảm thọ tương ứng trong mỗi địa.

[209] Hán: thứ đệ; Skt : ānupūrvīkaḥ, vị chứng quả Nhất lai theo thứ tự, lần lượt từ quả Dự lưu.

[210] Hán: thế gian đạo 世間道. Skt. laukika mārga, cũng nói là hữu lậu đạo; y trên định hữu lậu mà trấn áp các tùy miên, tu tập bằng 6 hành tướng. Căn cứ địa dưới với 3 hành tướng thô, khổ, chướng, mà quán địa trên với 3 hành tướng tĩnh, diệu, ly.

[211] Hán: y xuất thế đạo 依出世道. Skṭ lokottara mārga, cũng nói là vô lậu đạo, y trên định vô lậu, do hiện quán Thánh đế mà doạn trừ các tùy miên.

[212] Bội ly tham siêu việt chứng, skt. bhūyovītarāgaḥ prāpnoti, trong giai đoạn phàm phu, bằng hữu lậu đạo, vị ấy đã trấn áp 6 phẩm tham thuộc dục giới; khi vào giai đoạn Thánh đế hiện quán, cùng lúc đoạn trừ cả 6 phẩm dục tham, gọi là bội ly tham, chứng quả Nhất lai mà không ngang qua quả Dự lưu, nên gọi là siêu việt chứng. Xem ch. vi, tụng 29c-d.

[213] Bảy căn: ý, xả (y vị chí định), và năm căn, tín...

[214] Đoạn trừ toàn bộ 9 phẩm tham thuộc Dục giới chứng đắc Bất hoàn, bằng hữu lậu đạo và vô lậu đạo, như trong trường hợp đắc quả Nhất lai nói trên.

[215] Bhāṣya: atham tu viśeṣaḥ sukha-saumanasya-upakṣendriyāṇām anyatamam bhavati niśrayaviśeṣāt. Vyākhyā: yadi tṛtīyaṃ dhyānaṃ niśritya  niāamam avakāamati, sukhendriyam tatra  bhavati/ atha prathamadvitiiye dhyāne niśritya saumanasyendriyam tatra bhavati / atha anāgamyadhyāna-anantara-caturtha-dhyānām anyatamam niśritya, upekṣendriyam tatra bhavati. Y trên tĩnh lự thứ ba mà chứng nhập, ở đây là lạc căn; y trên hai tĩnh lự đầu, ở đây là hỷ căn; y trên vị chí, trung gian và đệ tứ tĩnh lự, ở đây là xả căn.

[216] Quả Nhất lai bằng siêu việt chứng, y trên vị chí định.

[217] Căn bản địa, chỉ sơ thiền.

[218] Như trên, thêm hỷ căn, y trên sơ hay nhị thiền.

[219] Vô gián đạo thứ chín trong vị chí định, tương ưng xả thọ.

[220] Giai thoát đạo thứ nhất y trên sơ hay nhị thiền, tương ưng hỷ thọ.

[221] Quang ký (67c01): nếu không nhập căn bản định, do tám căn đắc; nếu nhập căn bản, do chín căn.

[222] Phát trí 15, tr. 994b26: do 9 căn đắc quả Dự lưu. Đắc quả Nhất lai, với vị bội ly dục nhiễm nhập chánh tánh ly sinh, do 9 căn; với vị đắc quả Nhất lai từ quả Dự lưu, y thế tục đạo, do 7 căn; y vô lậu đạo, do 8 căn. Đắc quả Bất hoàn, với vị đã ly dục nhiễm nhập chánh tánh ly sanh, do 9 căn; nếu từ quả Nhất lai, y thế tục đạo do 7 căn, y vô lậu đạo do 8. Đắc quả A-la-hán, do 11 căn.

[223] Đắc (prāpti) và thành tựu (samanvāgata), xem đoạn sau, tụng 36. Cf. Phát trí 6, tr. 946c29; Tì-bà-sa 90, tr. 463b10.

[224] Hán & Skt.

[225] Cđ.: “Ba căn này quan hệ lẫn nhau, không hề tách rời nhau.” Quang ký (68b16): Vì ba căn này phổ biến trong cả chín địa; tất cả hữu tình đều có đủ, không thể khuyết một.

[226] Giai đoạn đầu tiên trong thai mẹ, các căn này chưa xuất hiện (đắc, prāti: lābha). Hoặc đã có nhưng đã mất (vihīna), do bị hư hoại, do chết.

[227] Đây chỉ lạc căn thuộc thân, như định nghĩa trên.

[228] Địa dưới, chỉ tĩnh lự thứ nhất. Địa trên, chỉ tĩnh lự thứ ba.

[229]  Trong sơ thiền, có ba thọ: lạc thọ tương ưng với ba thức (mắt, tai và thân), hỷ thọ thuộc ý địa, và xả thọ tương ưng vứi bốn thức (mắt, tai, thân và ý). Trong nhị thiền, có hai thọ: hỷ và xả, đều thuộc ý địa; không có lạc thọ (thuộc thân) vì năm thức thuộc thân vắng mặt. Trongtam thiền, có hai thọ: lạc và xả, đều thuộc ý địa. Cf. ch. viii tụng 12. Đại ý câu hỏi: trong nhị thiền, vì đã xả thền dưới nên không có thân lạc, những cũng chưa chứng địa trên nên cũng không có ý lạc; vậy, trong nhị thiền, lạc căn thuộc loại nào?

[230] Hán: dư; Quang ký (68b28): đây chỉ thiện và vô phú vô ký. Căn thuộc các loại này chưa sở đắc, nên chỉ có loại thuộc nhiễm ô.

[231] Hán & Skt. kā 20: sarvālpaiḥ niḥśubhaḥ aṣṭābhiḥ vinmanaḥkāyajīvitaiḥ/ yuktaḥ bālas tathā arūpye upekṣāyurmanaḥśubhaiḥ//

[232] Thích từ trong kệ tụng. Skt. niḥśubha. Hán: vô thiện 無善. Vyākhyā: yaḥ samucchinnakuśalamūlaḥ/ sa ca kāmadhātav eva/ “chinatti strīpumān dṛṣticaritaḥ” (iv. 80) iti/ kāmavairāgyaṃ vāsya na sambhavati/ tasmād asya pañcāpi vedanendriyāṇi santi/ kāyendriyaṃ ca jīvitamanasī ca sta eva sarvatra/ cakṣurādīni tu  na santi kramamaraṇāvasthāyām andhatvādyavasthāyāṃ ca teṣām abhāvāt: Hạng đoạn thiện căn là nam và nữ ở trong Dục giới, do sở hành tà kiến. Hoặc hạng ly nhiễm dục giới, không có đoạn thiện căn. Do đó, hạng đoạn thiện căn có năm căn là 5 thọ căn, thân, mạng và ý căn. Nhưng không có bốn căn còn lại, vì chúng không tồn tại trong trường hợp chết từ từ, và các trường hợp mù, điếc v.v…

[233] Hán: năng thọ 能受 . Thích từ thọ trong tụng văn. Bhāṣya: vedanā hi vit, vedayata iti kṛtvā/ vedanaṃ vā vit, yathā sampadanaṃ sampat/ giác tri tức cảm thọ. Nó làm cho có cảm giác, hay nó là sự cảm giác . Như quan hệ thành lập giữa từ sampadana sampat, sự viên mãn cùng là cái viên mãn. Ở đây, vì lý do âm vận, nên dùng từ vid thay vedanā.

[234] bāla iti pṛthagjanaskt.

[235]Haùn & Skt. kā. 21: bahubhir yukta ekānnaviṃśatyāmalavarjitaiḥ/ dviīliṅgaḥ āryo rāgy ekaliṅgadvyamalavarjitaiḥ

[236] Thích từ trong tụng văn. Skt. amala: vô cấu, đồng nghĩa với anāsrava: vô lậu.

[237] Quang ký (70a01): nhị phược, chỉ tương ưng phược và sở duyên phược. Hai phược này không được đề cập trong Câu-xá, nhưng, Tì-bà-sa 86, tr. 442c.

[238] Ht. hết quyển 3.

cập nhật : 28-03-2010   

Google


www.phatviet.com website khác

Trao đổi ý kiến và đăng sách báo, bài viết sáng tác, dịch thuật, nghiên cứu, v.v... xin gởi đến email: Ban Tu Thư Phật Việt (hoặc hanhqua@gmail.com)