Phẩm hai: PHÂN BIỆT CĂN
Tiết một: HAI MƯƠI HAI CĂN
I. Căn nghĩa là gì?
[13b11] Như vậy, các căn đã được liệt kê nhân
nói về giới.
Căn được nói trong đó có nghĩa là gì?
Căn có nghĩa là tối thắng tự tại, quang
hiển.
Từ đó tổng hợp thành
căn có nghĩa là
tăng thượng.
Theo ý nghĩa này, cái gì tăng thượng đối với cái gì?
Tụng:
1. Theo truyền thuyết, năm căn tăng thượng trong bốn ý nghĩa;
bốn căn, đối với hai;
năm và tám, trong nhiễm và tịnh.
Chúng tăng thượng theo mỗi cá biệt. //1/
Luận:
i. Năm căn, mắt v.v., mỗi căn tăng thượng trong
bốn dụng sự:
1. trang nghiêm thân, 2. đạo dưỡng thân, 3. sinh thức các thứ, 4.
bất cộng sự.
A. Quan điểm Tì-bà-sa
1-2. Hai căn, mắt và tai, (1) làm đẹp
cho thân, vì nếu thân mà có mắt đui, tai điếc thì rất xấu. (2) Chúng
đạo dưỡng thân, vì do mắt thấy, tai nghe mà tránh những chỗ nguy
hiểm. (3) Phát sinh thức, nghĩa là chúng làm phát sinh hai thức
và các tương ưng của thức.
(4) Bất cộng sự, là mắt thấy sắc, tai nghe tiếng; chúng hoạt động
với đối tượng riêng biệt.
3-5. Ba căn mũi, lưỡi, thân. (1) Về việc
làm đẹp thân, cũng được nói như ở hai căn trên. (2) Chúng đạo dưỡng
thân, vì ba căn này thọ dụng đoàn thực.
(3) Sinh thức các thứ: ba căn này làm phát sinh ba thức và các tương
ưng của chúng. (4) Bất cộng sự, vì mũi ngữi mùi, lưỡi nếm vị, thân
xúc chạm.
ii. Nam, nữ, mạng và ý căn, mỗi căn tăng thượng
trong hai dụng sự.
6-7. Nữ, nam căn tăng thượng trong hai:
1. hữu tình dị, 2. phân biệt dị.
Hữu tình dị: do hai căn này khiến có sự khác biệt giữa nam và
nữ trong loài hữu tình. Phân biệt dị: cũng từ hai căn này mà
có sự khác biệt về hình thể, giọng nói, bầu vú, v.v.
Có thuyết khác
chủ trương, chúng tăng thượng trong nhiễm và tịnh, nên nói trong
hai.
Vì sao? Vì hạng người phiến-để bẩm sinh, phiến-để tổn hoại,
bán-trạch-ca
và hạng nhị hình
không có các pháp tạp nhiễm như bất luật nghi, vô gián, đoạn thiện;
cũng không có các pháp thanh tịnh như luật nghi, đắc quả, li nhiễm.
8. Mạng căn với hai tăng thượng. Nó kết
nối, và duy trì chúng đồng phần.
9. Ý căn với hai tăng thượng: kết nối hậu hữu
và tự tại tùy hành.
Về sự kết nối hậu hữu, như Kinh
nói: “Bấy giờ, kiền-đạt-phược hiện tiền với một trong hai tâm, hoặc
câu hành với ái hay câu hành với nhuế.”
Về tự tại tùy hành, như Kinh nói: “Tâm dẫn dắt
thế gian; tâm chi phối hoàn toàn. Một pháp tâm như vậy, tùy hành hết
thảy pháp.”
iii. Năm thọ, gồm lạc v.v., và tám căn, gồm tín
v.v., theo thứ tự, tăng thượng trong nhiễm và tịnh.
10-14. Năm thọ, gồm lạc v.v., tăng
thượng trong nhiễm, vì các tùy miên như tham v.v. tiềm phục
trong đó.
15-22. Tám căn, gồm tín v.v., tăng
thượng trong tịnh, vì các pháp thanh tịnh nương vào đó mà sanh
trưởng.
Các luận sư khác nói, năm thọ như lạc v.v. cũng
có tăng thượng trong tịnh. Như Kinh nói: “Vì có lạc nên tâm định.
Khổ là sở y cho tín. Cũng do y hỷ, ưu và xả mà xuất ly.”
Đó là truyền thuyết theo các luận sư Tì-bà-sa.
B. Quan điểm Kinh bộ
Các luận sư khác
cho rằng đạo dưỡng thân không phải công dụng của mắt các thứ,
mà đó là tăng thượng của thức. Thức nhận biết mới có thể tránh được
chỗ hiểm nạn, và thọ nhận đoạn thực.
Công dụng thấy sắc, và nghe tiếng, cũng không phải cái gì khác thức.
Do đó, bất cộng sự đối với các căn như mắt v.v. không thể được quan
niệm là có công dụng tăng thượng biệt lập với thức. Vì vậy, không do
đây
mà mắt v.v. được quan niệm là căn.
Nếu vậy, nên quan niệm thế nào?
[13c24]
II. Ý nghĩa lập căn
Tụng:
Tăng thượng trong nhận thức đối tượng cá biệt,
Theo đó tổng quát đặt làm sáu căn.
Từ thân lập hai căn,
Tăng thượng trong nữ và nam tính. //2/
Do tăng thượng trong tịnh hay nhiễm
Nơi chúng đồng phần:
Nên biết mạng, năm thọ.
Tín v.v… lập làm căn.
//3/
Điều chưa biết, và đã biết,
Căn đủ biết cũng vậy.
Tăng thượng trong Niết bàn,
Chứng đắc đạo liên tiếp. //4/
Luận:
1-6. Nhận thức đối tượng cá biệt,
cái bắt nắm đối tượng riêng biệt của nó, đó là sáu thức thân.
Năm căn, bắt đầu là mắt, có công dụng tăng thượng đối với thức nắm
bắt đối tượng riêng biệt; thứ sáu là ý căn có công dụng tăng thượng
đối với thức nắm bắt tất cả đối tượng.
Cho nên sáu căn, bắt đầu từ mắt, đều được lập làm căn.
Há không phải rằng sắc v.v… có công dụng tăng
thượng đối với sự nhận thức,
vậy chúng cũng có thể được lập làm căn?
Đối tượng, hay cảnh, không có tác dụng tăng
thượng đối với thức. Vả, công dụng tăng thượng có nghĩa là uy lực tự
tại.
Mắt có uy lực tự chủ (tối thắng tự tại) trong sự làm phát sinh thức
nhận thức sắc, cho nên nó được nói là tăng thượng, (1) vì là nhân
cộng thông
cho sự nhận thức về các loại sắc; và (2) vì thức tùy theo nhãn căn
mà có sáng tỏ hay mù mờ: sắc thì không như vậy, vì cả hai trái ngược
nhau.
Cho đến ý căn đối với pháp cũng vậy.
7-8. Từ trên thân mà lập căn nữ và nam,
vì chúng có uy thế (tăng thượng) trong tính biệt nữ nam. Thể của căn
nữ nam không tách rời thân căn,
vì trong một phần của thân mà lập các tên này.
Theo thứ tự,
trong thân, căn nữ nam này có công dụng tăng thượng. Chỗ này có một
chút khác biệt với chỗ khác nơi thân căn cho nên từ thân căn riêng
lập thành hai căn. Do đặc trưng của người nữ về hình dáng, giọng
nói, cử chỉ
và chí hướng,
nên gọi là nữ tính. Do đặc trưng khác với người nữ về hình dáng,
giọng nói, cử chỉ và chí hướng, nên gọi là nam tính. Sự sai khác của
hai tính do căn nam, nữ, cho nên nói căn nữ nam có uy thế (tăng
thượng) đối với hai tính.
9. Mạng căn có công dụng tăng thượng
trong sự tồn tại của chúng đồng phần.
10-14. Năm thọ căn, bắt đầu là lạc, có
công dụng tăng thượng trong tạp nhiễm. Vì sao? Vì trong Khế kinh
nói: “Tham tùy tăng
trong lạc thọ; sân tùy tăng trong khổ thọ; vô minh tùy tăng trong
cảm thọ không khổ không lạc”.
15-19. Năm căn, bắt đầu là tín, có công
dụng tăng thượng trong thanh tịnh. Vì sao? Vì do thế lực của chúng
mà trấn áp các phiền não, dẫn khởi Thánh đạo. Nói “nên biết”
là khuyến cáo rằng mỗi một trong chúng đều được thừa nhận là căn.
20-23. Ba căn vô lậu
có công dụng tăng thượng trong sự chứng đắc các đạo liên tiếp
và chứng đắc Niết bàn, v.v…
Nói “cũng vậy”,
nêu rõ mỗi loại rõ ràng đều có thể lập làm căn như đã nói. Nghĩa là,
căn của sự chưa biết sẽ biết
có công dụng tăng thượng trong sự chứng đắc đạo của căn của sự đã
biết.
Căn của sự đã biết có công dụng tăng thượng trong sự chứng đắc đạo
của căn của sự biết hoàn toàn.
Căn của sự đã biết hoàn toàn có công dụng tăng thượng trong sự chứng
đắc Niết-bàn; vì tâm chưa giải thoát không thể chứng Niết bàn.
Từ “vân vân”
nêu rõ có những giải thích khác. Giải thích khác như thế nào? Căn
của sự chưa biết sẽ biết có công dụng tăng thượng trong sự đoạn trừ
phiền não thuộc kiến sở đoạn; căn của sự đã biết có công dụng tăng
thượng trong sự đoạn trừ phiền não tu sở đoạn; căn của sự biết hoàn
toàn có công dụng tăng thượng đối với hiện pháp lạc trú;
vì do đây mà có sự lãnh thọ hỷ lạc của giải thoát.
III. Chức năng của căn
Hỏi: Nếu do tăng thượng mà lập
làm căn, thì các chi
như vô minh chẳng hạn, cũng có thể được quan niệm là căn? Vì mỗi chi
đều có công dụng tăng thượng riêng biệt, như nhân vô minh đối với
quả là hành. Lại nữa ngữ cụ cũng có thể được lập làm căn? Ngữ cụ,
tay, chân và nơi đại, tiểu tiện,thảy đều có công dụng tăng thượng trong các sự việc, theo thứ
tự, nói, cầm nắm, đi đứng, thải bẩn, khoái lạc.
Đáp: Những sự thể như thế không
thể lập làm căn. Bởi vì căn như đã được chấp nhận
có những đặc tính như sau:
Tụng nói:
Chúng là sở y của tâm; đây phân biệt;
Đây tồn tại, đây tạp nhiễm;
Đây chất liệu;
đây tịnh;
Do vậy lập làm căn. //5/
Luận thích:
A. Quan điểm chính thống
1. Sở y của tâm: sáu căn, bắt đầu từ
mắt; sáu nội xứ này là căn bản của hữu tình.
Hình tướng sai biệt của sở y (sáu căn) này
do căn nữ nam. Lại do mạng căn mà sở y này tồn tại trong một hạn kỳ.
Sở y này trở thành tạp nhiễm do năm thọ căn. Chất liệu cho sự thanh
tịnh của sở y này là do năm căn, bắt đầu từ tín. Sở y này trở thành
thanh tịnh do ba căn cuối. Do ý nghĩa này, các cơ sở được lập làm
căn đều rốt ráo. Ấy cho nên không thể chấp nhận rằng vô minh các
chi, và công cụ ngôn ngữ các thứ có thể được lập làm căn. Vì chúng
không có công dụng tăng thượng trong những thứ này.
B. Dị thuyết
Các luận sư khác lại có định nghĩa khác về đặc
tính của căn.
Tụng:
Hoặc sở y của lưu chuyển
Và xuất sinh, tồn tại, thọ dụng:
Lập thành mười bốn căn đầu.
Hoàn diệt, với các căn cuối, cũng vậy. //6/
Luận:
Từ “hoặc”
nêu rõ đây là ý của các luận sư khác.
Căn cứ trên sự lưu chuyển và hoàn diệt
mà lập thành 22 căn. Sở y của lưu chuyển là sáu căn, bắt đầu từ mắt.
Sinh là do nam, nữ, vì (sáu căn) sinh từ đó. Tồn tại do mạng căn, vì
tựa vào đó mà (sáu căn) tồn tại. Thọ dụng do năm thọ, vì nhân đó nó
cảm giác đối tượng. Căn cứ theo đó mà lập 14 căn đầu.
Trong quá trình hoàn diệt, cũng căn cứ bốn
nghĩa này,
do loại biệt, lập thành 8 căn sau. Sở y của hoàn diệt là năm căn,
bắt đầu từ tín. Trong ba căn vô lậu, do vô lậu đầu mà sinh, do vô
lậu kế mà tồn tại, do vô lậu cuối mà thọ dụng.
Số lượng của các căn do đó không nhiều hơn, không ít hơn. Chính do
duyên ấy mà Kinh lập thành 22 căn theo thứ tự.
C. Bác bỏ Số luận
Không nên nói ngữ cụ là căn của ngôn ngữ; vì
ngôn ngữ do sai biệt học tập mà thành. Tay chân không thể làm căn
đối với những việc cầm nắm, đi đứng; vì không có tính chất dị trạng.
Nghĩa là, do sự chuyển dịch của tay và chân với những hình dạng khác
nhau trong những vị trí khác nhau mà nói là cầm nắm hay đi đứng. Lại
nữa, không có tay chân cũng có thể cầm nắm hay đi đứng, như các loài
bò sát. Cho nên tay chân không thể làm căn cho các hoạt động ấy.
Nơi xuất đại tiện không thể lập làm căn đối với
việc thải chất bẩn; vì những vật nặng ở nơi khoảng trống đều có
khuynh hướng rơi, lại do sức gió cuốn khiến nó bị phóng xuất.
Nơi xuất tiểu tiện không thể lập làm căn đối
với việc phát sinh khoái lạc; vì khoái lạc này phát khởi từ nữ, nam
căn.
Lại nữa cuống họng, răng, mí mắt, các khớp
lóng, cũng có thể lập làm căn, vì chúng có lực tác dụng trong sự
nuốt, nhai, mở nhắm, co duỗi. Hoặc tất cả những gì làm nhân, mà có
lực tác dụng trong các hoạt động của chính nó, đều có thể lập làm
căn. Những cái ấy tuy có công dụng nhưng không phải là tăng thượng,
nên không lập làm căn. Các thứ như ngữ cụ v.v. cũng không phải là
tăng thượng nên không thể lập làm căn.
IV. Đặc tính của căn
Trong đây, mắt v., cho đến căn nam như trước đã
nói. Thể của mạng căn là hành bất tương ưng, nên nó sẽ được đề cập
chi tiết trong đoạn nói về các hành không tương ưng. Thể của năm
căn, bắt đầu từ tín, là tâm sở pháp, sẽ được đề cập chi tiết trong
đoạn nói về các tâm sở pháp. Năm thọ, bắt đầu từ lạc, và ba căn vô
lậu, không được giải thích ở nơi khác, nên ở đây cần phải giải
thích.
Tụng:
Khổ: thân không sướng thích.
Lạc: thân sướng thích,
Và tâm sướng thích tam thiền,
Các trường hợp khác, nó là hỷ //7/
Tâm không sướng là ưu;
Trung, xả; hai, không khác.
Kiến, tu, vô học đạo,
Y chín căn lập ba căn//8/
Luận:
A. Năm thọ căn
Thân là cảm thọ thuộc thân
vì nương nơi thân mà sanh khởi. Tức thọ tương ưng với năm thức.
Nói “không sướng thích”, hàm nghĩa tổn não.
Những gì trong các cảm thọ thuộc thân mà gây tổn hại, nó được gọi là
khổ căn.
Được nói là “sướng thích”, nó hàm nghĩa tăng
ích.
Tức cái mà, trong những cảm thọ thuộc thân, giúp cho tăng ích, nó
được gọi là lạc căn.
Và, thêm nữa, cảm thọ tương ưng với tâm trong
định thứ ba, vì nó giúp tăng ích, cũng được gọi là lạc căn. Trong
định thứ ba không có cảm thọ thuộc thân, vì ở đây năm thức không tồn
tại.
Sự sướng thích của tâm được gọi là lạc. Trừ đệ tam thiền, trong ba
địa dưới
sự sướng thích thuộc tâm được gọi là hỷ căn.
Trong tĩnh lự thứ ba, tâm sướng thích này an tĩnh, ly tham đối với
hỷ,
cho nên nó chỉ được gọi là lạc căn. Sự sướng thích thuộc tâm trong
ba địa dưới còn thô động, còn tham đắm hỷ, nên chỉ gọi là hỷ căn.
Cảm thọ tương ưng với ý thức, gây tổn não, sự
không sướng thích thuộc tâm
này được gọi là ưu căn.
Trung,
nghĩa là không phải sướng thích cũng không phải không sướng thích,
tức cảm thọ không khổ không lạc. Cảm thọ xử trung này được gọi là xả
căn.
Xả căn như vậy là cảm thọ thuộc thân hay cảm
thọ thuộc tâm?
Nên nói, thông cả hai.
Vì sao tổng hợp hai cái này (thân và tâm) lập
thành một căn?
Vì cảm thọ thuộc thân và thuộc tâm thảy đều
không do phân biệt.
Thuộc tâm, khổ và lạc phần nhiều
phát sinh do phân biệt. Thuộc thân thì không như vậy, vì tùy theo sự
chi phối của đối tượng, và vì đối với các vị A-la-hán
nó cũng phát sinh như vậy.
Do đó, hai cái này
có sự khác biệt khi được lập làm căn, thuộc thân hay thuộc tâm. Xả
thì không có sự phân biệt,
mà phát sanh một cách tự nhiên, vì thế, hợp nhất thân và tâm mà lập
thành một căn.
Lại nữa, đặc tính gây tổn hại hay tăng ích của
cảm thọ khổ và lạc thuộc thân và thuộc tâm khác nhau, do đó chúng
lập thành căn riêng biệt. Xả thuộc thân và thuộc tâm giống nhau, vô
phân biệt, đặc tính không khác biệt, không gây tổn hại cũng không
làm tăng ích, do đó lập chung thành một căn.
B. Ba vô lậu căn
Ý, lạc, hỷ, xả, cùng với năm căn gồm tín v.v.,
chín căn như vậy ở trong ba đạo,
theo thứ tự, được lập thành ba căn vô lậu. Tại kiến đạo y trên chín
căn, bắt đầu là ý, lập thành căn vị tri đương tri. Trong tu đạo, y
trên chín căn này lập thành căn dĩ tri. Tại vô học đạo, cũng y trên
chín căn này lập thành căn cụ tri.
Ba danh từ này được thành lập do bởi nhân gì?
Trong kiến đạo, nó hoạt động
để biết cái biết chưa từng biết,
nên nó được gọi là căn vị tri đương tri.
Trong tu đạo, không có cái chưa từng biết, nhưng vì mục đích đoạn
trừ các tùy miên còn lại, do đó, cần phải thường xuyên nhận thức
đối tượng ấy,
cho nên nó được gọi là dĩ tri.
Tại vô học đạo, biết rằng mình đã biết rồi, nên gọi là tri.
Cái có sự tri này được gọi là cụ tri.
Hoặc tập thành tánh đối với sự nhận thức này nên gọi là cụ tri.
Nghĩa là, do đạt được tận trí, vô sanh trí, nên biết một cách như
thực rằng “Ta đã biến tri
khổ; không còn gì để biến tri nữa”.
Chi tiết, v.v...
Căn mà vị ấy có được gọi là căn vị tri đương
tri, v.v…
Như vậy, đã giải thích những điểm bất đồng về
thể của các căn, sau đây sẽ biện luận về những điểm sai biệt trong
các phương diện ý nghĩa.
V. Các vấn đề
1. Hữu lậu – Vô lậu
Tụng:
Trong 22 căn này, bao nhiêu căn thuộc hữu lậu,
bao nhiêu vô lậu?
Duy vô lậu, ba
căn cuối
Các căn thuộc sắc, và mạng, ưu, khổ,
Nên biết, chỉ hữu lậu.
Chín căn thông cả hai. //9/
Luận:
Thể của ba căn cuối vừa được nói trong đoạn
trên duy chỉ thuộc vô lậu. Vô lậu, nghĩa là không cấu bẩn.
Cấu cùng với lậu, tên gọi khác, nhưng thể đồng nhất.
Bảy căn thuộc sắc
và mạng, ưu, khổ, duy nhất là hữu lậu. Bảy căn thuộc sắc gồm, năm
căn, mắt v.v., và nữ, nam căn, vì chúng được liệt trong sắc uẩn.
Ý, lạc, hỷ, xả, và năm căn gồm tín v.v., chín
căn này thông cả hữu lậu, vô lậu.
Có thuyết khác nói,
năm căn gồm tín v.v., duy chỉ vô lậu. Vì vậy, Thế Tôn nói: “Nếu ai
hoàn toàn không có năm căn này, gồm tín v.v., Ta nói người ấy thuộc
hàng dị sinh, đứng ở bên ngoài.”
Dẫn chứng này không hợp lý. Kinh căn cứ các căn
vô lậu mà nói như vậy. Do đâu mà biết? Đoạn trước, Kinh căn cứ năm
căn vô lậu gồm tín v.v., để thiết lập sự sai biệt của các Thánh vị,
sau đó mới nói như vậy.
Hoặc các dị sinh tóm tắt có hai hạng, một nội, hai ngoại. Thuộc nội
là hạng chưa đoạn thiện căn; thuộc ngoại, thiện căn đã bị đoạn.
Căn cứ hạng dị sinh thuộc nội mà nói như vậy:
“Nếu hoàn toàn không có năm căn này, gồm tín v.v., Ta nói người ấy
thuộc hàng dị sinh, đứng ở bên ngoài.”
Lại nữa, Kinh cũng nói: “Có các hữu tình sinh
ra trong thế gian, hoặc trưởng thành trong thế gian, có những sai
biệt về các căn thượng, trung, hạ; ngay cả khi Phật chưa chuyển Pháp
luân.”
Do đó biết rằng tín v.v., thông cả hữu lậu.
Lại nữa, Thế Tôn nói: “Nếu Ta đối với năm căn
này, gồm tín v.v., mà chưa như thật biết sự tập khởi, sự hoại diệt,
vị ngọt, sự xuất ly, thì Ta đã chưa thể vượt qua thế gian bao gồm
trời, người, và Ma, Phạm, cho đến chưa thể chứng đắc vô
thượng chánh đẳng chánh giác.”
Chi tiết v.v. Pháp vô lậu không thể trở thành phẩm loại như vậy để
được quán sát. Cho nên, năm căn, tín v.v., thông cả hữu lậu, vô lậu.
Như vậy, đã nói xong về hữu lậu vô lậu.
2. Dị thục – Phi dị thục
Tụng:
Trong 22 căn, bao nhiêu là dị thục, bao nhiêu
phi dị thục?
Mạng căn duy
nhất là dị thục
Ưu căn và tám căn sau, phi dị thục
Sắc căn, ý căn và bốn thọ,
Mỗi căn gồm đủ cả dị thục và phi dị thục.//10/
[15b09]
Luận:
i. Mạng căn
Mạng căn duy nhất là dị thục.
a. Lưu và xả thọ hành
Nếu vậy, các thọ hành mà A-la-hán bảo lưu,
các thọ hành đó chính là mạng căn; mạng căn ấy là dị thục của ai?
Bản luận
nói: “Thế nào là vị tỳ kheo lưu các thọ hành? Đó là vị A-la-hán
thành tựu thần thông
và đạt được tâm tự tại.
Vị ấy đem bố thí cho chúng tăng hay một cá nhân
bất cứ vật gì cần cho đời sống sa-môn tồn tại như y, bình bát các
thứ.
Sau khi bố thí, vị ấy phát nguyện và liền nhập vào tĩnh lự biên tế
thứ tư. Vừa ra khỏi định, vị ấy khởi lên ý tưởng và miệng phát thành
lời, rằng ‘Nghiệp nào của tôi mà đưa đến dị thục sung túc,
mong rằng sẽ chuyển đổi đưa đến dị thục tuổi thọ.’
Bấy giờ, nghiệp đưa đến dị thục sung túc của vị ấy liền chuyển đổi
đưa đến dị thục tuổi thọ.”
Một số luận sư khác cho rằng nó được kéo dài do
bởi quả dị thục tàn dư của nghiệp quá khứ.
Chủ trương này nói, dị thục tàn dư từ nghiệp đã được thọ báo trong
đời trước, nay do năng lực của định biên tế được tu tập, dị thục tàn
dư ấy được dẫn trở lại và được thọ dụng.
Thế nào là vị tỳ-kheo xả các thọ hành? Đó là vị
A-la-hán sở đắc thần thông và được sự tự chủ của tâm, vị ấy đem bố
thí cho chúng tăng hay một cá nhân những thứ cần dùng như đã nói ở
trên. Sau khi bố thí, vị ấy phát nguyện và nhập ngay vào tĩnh lự
biên tế thuộc thiền thứ tư. Sau khi xuất định, vị ấy khởi lên ý
tưởng và miệng phát thành lời, rằng “Nghiệp nào của tôi mà đưa đến
dị thục tuổi thọ, mong rằng sẽ chuyển đổi đưa đến dị thục sung túc.”
Bấy giờ, những nghiệp đưa đến dị thục tuổi thọ của vị ấy, liền
chuyển đổi đưa đến dị thục sung túc.
Theo tôn giả Diệu Âm,
vị A-la-hán bằng lực của định biên tế của thiền thứ tư, đã dẫn các
đại chủng thuộc sắc giới hiện tiền trong thân mình, các đại chủng ấy
hoặc thuận lợi cho thọ hành, hoặc vi nghịch thọ hành. Do những
nguyên nhân này mà vị A-la-hán lưu thọ hành hay xả thọ hành.
Nên nói thế này,
do uy lực tự tại của định, vị A-la-hán chuyển thế phần của thời gian
tồn tại
của các đại chủng các căn, thế phần được sản sinh từ nghiệp quá khứ,
dẫn sinh thế phần được phát sinh do định mà trước kia chưa hề phát
sinh. Vì thế, mạng căn trong trường hợp này chẳng phải là dị thục.
Ngoài ra, mạng căn trong các trường hợp khác đều là dị thục.
b. Giới hạn lưu thọ hành
Từ vấn đề này mà phát sinh ra những vấn đề
khác.
Do nguyên nhân nào vị A-la-hán lưu các thọ
hành? Có hai nguyên nhân, 1. vì lợi ích và an lạc cho người khác, 2.
vì muốn Phật pháp tồn tại lâu dài ở thế gian. Vị ấy biết rằng thân
thọ hành của mình sắp hết và biết không một ai có hai khả năng này.
Lại nữa, do nguyên nhân nào vị A-la-hán xả các
thọ hành? Vị ấy biết rằng sự tồn tại của mình trên thế gian này chỉ
đem lại chút ít lợi ích và an lạc cho người khác, hoặc bản thân đang
chịu các khổ bức vì bệnh tật. Như bài tụng nói:
Phạm hạnh đã
khéo hành,
Thánh đạo đã khéo tu,
Khi mạng chung vui vẻ,
Như người không còn bệnh.
[15c10] Trong đây, nên biết, y vào xứ sở nào và
người nào có thể lưu và xả thọ hành? Đó là loài người trong ba châu,
tương tục của nam, nữ, các A-la-hán thuộc bất thời giải thoát
đạt được tĩnh lự biên tế.
Do bởi trong thân vị ấy có định lực tự tại, không còn các phiền não.
c. Phân biệt mạng hành và thọ hành
Kinh nói, “Đức Thế Tôn sau khi lưu các mạng
hành, xả các thọ hành.”
Có sự khác biệt nào giữa mạng hành và thọ hành không?
a. Có thuyết nói,
không có sự khác biệt nào cả. Căn bản luận nói, “Mạng căn là
gì? Đó là thọ trong ba giới.”
b. Theo một số luận
sư, quả của nghiệp đời trước gọi là thọ hành, quả của nghiệp hiện
tại gọi là mạng hành.
c. Có thuyết nói,
do bởi nó mà chúng đồng phần tồn tại gọi là thọ hành; do bởi nó mà
đời sống tồn tại trong một thời gian gọi là mạng hành.
Từ “nhiều”
nêu rõ lưu và xả mạng hành và thọ hành xảy ra trong nhiều niệm;
chẳng phải trong một sát na mà có sự lưu và xả mạng hành và thọ
hành.
Có thuyết nói, từ này nhằm bác bỏ thuyết cho
rằng mạng và thọ là một thật thể tồn tại trong một thời gian dài.
Có thuyết nói, từ này nhằm nêu rõ không tồn tại
một thể là mạng hay thọ, nhưng chỉ là căn cứ trên các hành mà giả
lập ra hai tên mạng hành và thọ hành như vậy. Nếu không như thế, thì
Kinh đã không dùng từ “hành”.
d. Thế Tôn xả thọ hành và lưu mạng hành
Vì sao Thế Tôn xả các thọ hành và lưu các mạng
hành? Vì để nêu rõ Ngài đã tự tại với sự chết, cho nên xả các thọ
hành; vì để nêu rõ Ngài đã tự tại với sự sống cho nên lưu các mạng
hành.
Chỉ lưu trong ba tháng, không hơn không kém, vì
quá ba tháng, Ngài không còn điều cần làm cho đối tượng được giáo
hóa,
mà ít hơn ba tháng thì việc lợi sanh chưa được hoàn tất.
Lại nữa, để chứng minh điều mà trước kia Ngài
nói, “Vì Ta tu tập hoàn hảo bốn thần túc, cho nên nếu muốn, Ta có
thể trụ một kiếp hay hơn một kiếp.”
Các luận sư Tì-bà-sa nói, điều đó nêu rõ hiện
tại Thế Tôn đã chiến thắng uẩn ma và tử ma, còn trước kia lúc ngồi
dưới cây Bồ đề, Ngài đã chiến thắng thiên ma và phiền não ma.
Đã thảo luận các vấn đề thứ phát, nay sẽ thảo
luận các vấn đề chính.
ii. Các căn thông cả hai
Ưu căn và tám căn cuối, như tín v.v., đều là
phi dị thục, vì chúng là hữu ký. 12 căn còn lại thì gồm cả dị thục
và phi dị thục. Theo nghĩa đã nói, đó là 7 sắc căn, ý căn và trừ ưu
căn bốn thọ còn lại, chúng đều gồm cả dị thục và phi dị thục. Nếu 7
sắc căn trong trường hợp là sở trưởng dưỡng
thì chẳng phải dị thục, ngoài ra các trường hợp khác đều là dị thục.
Ý căn và 4 thọ căn hoặc khi thiện hoặc ô nhiễm, hoặc oai nghi lộ,
hoặc công xảo xứ, hoặc biến hóa tâm, tùy theo trường hợp mà chúng
cũng không phải dị thục. Còn các trường hợp khác đều là dị thục.
iii. Ưu căn
Nếu nói rằng ưu căn là phi dị thục, thì đoạn
kinh này sẽ giải thích thế nào? Khế kinh nói, có ba loại nghiệp,
nghiệp thuận hỷ thọ, nghiệp thuận ưu thọ và nghiệp thuận xả thọ.
Căn cứ trên sự tương ưng với cảm thọ mà nói là
thuận,
điều này không có lỗi gì. Nghĩa là, nghiệp tương ưng với ưu, nên nói
nghiệp thuận cảm thọ ưu. Như xúc tương ưng với lạc nên nói xúc thuận
cảm thọ lạc.
Nếu vậy, nghiệp thuận cảm thọ hỷ, thuận cảm thọ
xả, cũng nên như thế? Vì chúng được đề cập như nhau trong một đoạn
Kinh.
Ngài muốn hiểu thế nào thì tùy ý, đối với tôi
không có gì mâu thuẫn.
Hiểu là dị thục, hay hiểu là tương ưng, đều không sai.
Nếu không có cách nào khác thì đoạn kinh ấy
phải được hiểu như vậy.
Nhưng, thật sự nhân bởi đạo lý nào mà nói ưu căn là phi dị thục?
Vì ưu căn phát sinh do sự sai biệt
của phân biệt, và khi nó đình chỉ cũng vậy. Còn dị thục thì không
phải như thế.
Nếu vậy, hỷ căn cũng chẳng phải dị thục; vì nó
cũng do phân biệt mà sinh và cũng do phân biệt mà đình chỉ?
Nếu cho rằng ưu căn là dị thục thì (người nào)
tạo vô gián nghiệp rồi, nhân đó liền sinh ra ưu. Nghiệp này lúc bấy
giờ đáng lẽ nên gọi là quả đã chín.
Cũng như thế cho câu vấn nạn về hỷ căn.
Nếu cho rằng hỷ căn là dị thục thì (có người)
tạo phước nghiệp thù thắng rồi nhân đó liền sinh ra hỷ. Nghiệp này
lúc bấy giờ đáng lẽ cũng nên gọi là quả đã chín.
Tỳ-bà-sa nói như thế này: Vị đã ly dục thì
không có ưu căn. Dị thục thì không như thế.
Cho nên nó là phi dị thục.
Nếu vậy, nên nói rằng, đối với các hữu tình ly
dục, hỷ căn thuộc dị thục; do tính chất gì mà nhận biết?
Bất kể cái kia có tính chất như thế nào, tính
chất của cái này là như vậy.
Nghĩa là ở giai vị này cho phép có hỷ căn thuộc thiện. Dị thục vô kí
thuộc loại tương ưng chẳng phải không có.
Trong giai vị này ưu tuyệt đối không thể có mặt,
do đó ưu được xác định là phi dị thục.
Tám căn như nhãn v.v.,
nếu ở thiện thú, chúng là dị thục của thiện. Nếu ở ác thú thì dị
thục của ác.
Ý căn bất kể ở thiện thú hay ác thú, thuộc cả hai. Hỷ, lạc, xả căn ở
bất cứ cõi nào cũng đều là dị thục của thiện. Khổ căn bất cứ ở thiện
thú hay ác thú, thảy đều là dị thục của ác. Hạng nhị hình trong
thiện thú, chỉ có y xứ của căn vì đây là do ác nghiệp mà chiêu cảm;
còn sắc căn thiện thú là do nghiệp thiện chiêu dẫn.
Như vậy đã nói xong dị thục v.v…
3. Hữu dị thục – Vô dị thục
Tụng:
Trong 22 căn, có bao nhiêu căn là hữu dị thục,
bao nhiêu căn vô dị thục?
Ưu xác định hữu dị thục.
Tám căn đầu, ba căn cuối, vô dị thục;
Ý, bốn thọ căn, tín v.v,
Tất cả đều thông hai.//11/
[16b04]
Luận:
Ưu căn như đã tranh luận ở trước, nên biết, xác
định là hữu dị thục. Y trên nghĩa “duy chỉ” và nghĩa “vượt thứ” mà
bài tụng nói là xác định.
Tức nêu rõ rằng, ưu căn duy chỉ là hữu dị thục. Nói “vượt thứ” là
bao gồm đủ hai nghĩa. Bao gồm cả hai nghĩa: (a) ưu căn không phải vô
ký, vì nó phát sinh bởi tư mạnh;
(b) nó chẳng phải vô lậu, vì chỉ có mặt ở tán địa thôi.
Do sự vượt thứ lớp này nên ưu căn được đề cập trước tiên, rằng xác
định nó là hữu dị thục.
Tám căn đầu như mắt v.v, và ba căn cuối,
cũng xác định vô dị thục. Vì tám căn đầu thì vô ký, ba căn cuối thì
vô lậu. Ngoài ra đều vừa hữu dị thục, vừa vô dị thục. Ý nghĩa chuẩn
theo đó mà suy, tức ý căn, bốn thọ căn còn lại, năm căn như tín v.v…
Từ “ vân vân”
là chỉ cho bốn căn nữa như tinh tấn v.v.. Tất cả mười căn
này, mỗi căn thông cả hai.
Ý, lạc, hỷ, xả căn, nếu là thiện, hay bất
thiện, hữu lậu, chúng là hữu dị thục. Nếu vô ký, hay vô lậu, chúng
là vô dị thục. Nếu khổ căn là thiện, hay bất thiện, nó là hữu dị
thục. Nếu vô ký, nó là vô dị thục.
Năm căn như tín v.v., nếu hữu lậu, chúng là hữu
dị thục. Nếu vô lậu, chúng là vô dị thục.
Như thế đã nói xong có dị thục, không dị thục.
4. Ba
tánh
Tụng:
Trong 22 căn, bao nhiêu căn thiện? Bao nhiêu
căn bất thiện? Bao nhiêu căn vô ký?
Tám căn cuối duy thiện.
Ưu thông thiện, bất thiện.
Ý, thọ còn lại: cả ba.
Vô ký thông tám căn đầu//12/.
Luận:
Tám căn: tín, v.v., duy nhất
là thiện. Theo thứ tự,
tuy chúng nằm sau,
nhưng nương theo văn ở trên nên đề cập trước.
Ưu căn duy chỉ thông thiện
và bất thiện.
Ý căn và các thọ còn lại, mỗi
căn thông cả ba tánh.
Tám căn: mắt, v.v.,duy chỉ thuộc tánh vô ký.
Như vậy,
đã nói thiện, bất
thiện các thứ.
5. Giới hệ
Trong 22 căn, có bao nhiêu căn thuộc Dục
giới hệ, bao nhiêu
thuộc Sắc giới
hệ, bao nhiêu thuộc Vô sắc
giới hệ?
Tụng:
Dục, sắc, vô sắc giới,
Thứ lớp: trừ ba cuối;
Gồm nữ, nam, ưu, khổ;
Trừ năm sắc, hỷ, lạc.//13/
Luận:
Ở Dục giới trừ 3 căn vô lậu, do ở đây 3 căn này
hoàn toàn không hệ thuộc.
Theo đó mà biết, liên hệ Dục giới chỉ có 19 căn.
Sắc giới, cũng như trước, trừ thêm bốn căn:
nam, nữ, ưu, khổ. Suy theo đó mà biết, 15 căn thông cả Sắc giới hệ.
Trừ nữ, nam căn, do sắc giới đã lìa pháp dâm dục và do nữ, nam căn
làm thân xấu xí vậy.
Hỏi: Nếu đã như vậy sao lại nói ở đó chỉ
có thân nam? Căn cứ vào đâu mà nói? Như Khế kinh nói: “Không
thể có bất cứ trường hợp nào thân nữ làm Phạm thiên. Chỉ có trường
hợp xảy ra là thân nam làm Phạm thiên.”
Đáp: Vị ấy có hình thể người nam đặc
biệt, như thân nam có trong Dục giới.
Ở đây,
không có khổ căn, vì thân thể trong suốt;
và cũng không có các pháp bất thiện. Không có ưu căn, vì do
xa-ma-tha thấm nhuần tương tục, và cũng do ở đó hoàn toàn không có
vật thể gây hại.
Vô sắc giới cũng như trên, trừ 3 căn vô lậu,
nam, nữ, ưu, khổ căn; và trừ luôn cả năm sắc căn, hỷ, lạc căn. Suy
theo đó mà biết, trừ tám căn này ra, các căn còn lại đều thông cả Vô
sắc giới; tức các căn: ý, mạng, xả, năm căn: tín, v.v.
Như vậy, đã nói rõ sự hệ thuộc Dục, Sắc, Vô sắc
giới.
6. Ba sở đoạn
Trong 22 căn, những căn nào thuộc kiến sở đoạn,
căn nào thuộc tu sở đoạn, thuộc phi sở đoạn?
Tụng:
Ý, ba thọ thông ba.
Ưu thông kiến, tu đoạn.
Chín chỉ thông tu đoạn.
Năm thông tu, phi đoạn//14/
Luận:
Ý, hỷ, lạc, xả căn, mỗi căn thông cả ba: kiến,
tu, phi sở đoạn.
Ưu căn chỉ thông kiến và sở đoạn, vì chẳng phải
là vô lậu.
Bảy sắc, mạng căn: duy chỉ thuộc tu sở đoạn, vì
chúng không phải nhiễm ô. Khổ căn không phải là sản phẩm của thức
thứ sáu,
và vì là hữu lậu, nên thuộc tu sở đoạn.
Năm căn: tín, v.v., vì chẳng phải pháp nhiễm ô,
và vì chúng vừa là hữu lậu vừa là vô lậu, nên chúng thông cả tu sở
đoạn và phi sở đoạn.
Ba căn cuối chỉ thông với phi sở đoạn, vì là vô
lậu, và vì pháp không tai hại thì không bị đoạn trừ.
Như vậy, đã nói nghĩa
loại sai biệt của các môn.
17. Giới nào bao nhiêu căn được trước?
Tụng:
Dục giới, thai, trứng, thấp;
Tối sơ đạt được hai dị thục.
Hóa sanh: sáu, bảy, tám,
Sắc, sáu; trên, duy mạng.//14
Luận:
18. Căn được trước trong ba giới
Trong Dục giới, các loài sanh bằng thai, trứng
và thấp, trong giai đoạn tối sơ thọ sanh, chỉ có hai căn thuộc dị
thục thân và mạng; vì trong ba
loại sanh đó các căn phát triển dần. Ba loại đó vì sao không có hai
căn ý và xả? Trong thời gian tục sanh
hai căn này nhất định bị nhiễm ô.
Trong giai đoạn tối sơ của hóa sanh, có 6 căn,
7 căn và 8 căn,
nghĩa là hạng vô hình
tối sơ có sáu căn, như thời kiếp sơ.
Sáu căn là gì? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và mạng. Nếu hạng một hình,
tối sơ có bảy căn, như chư thiên v.v.;
hoặc hạng hai hình tối sơ có tám căn.
Loài hóa sanh há có thể có hai hình? Trong ác
thú có thể có hạng hóa sanh hai hình.
Đã nói xong những căn tối sơ đạt được trong dục
giới, nay theo thứ lớp nói đến sắc giới và vô sắc giới.
Trong dục giới, dục vượt trội nên chỉ nói đến
dục. Trong sắc giới, sắc vượt trội nên chỉ nói đến sắc. Khế kinh
cũng nói: “Tịch tĩnh giải thoát, vượt qua sắc, thuộc vô sắc”.
Trong sắc giới, tối sơ sở đắc sáu căn là dị thục, cũng được nói như
về loài hóa sanh không hình trong dục giới.
Trên, duy mạng:
trong vô sắc giới, định vượt trội,
sanh vượt trội
cho nên nói là trên.
Trong vô sắc giới, căn dị thục mà tối sơ có được, duy chỉ mạng chứ
không phải căn nào khác.
Đã nói căn dị thục có được trong tối sơ.
19. Ở giới nào trong giai đoạn chết bao
nhiêu căn diệt sau cùng?
Tụng:
Khi chết các căn diệt,
Cõi vô sắc có ba, cõi sắc có tám,
Cõi dục chết đột ngột căn mười, chín và tám,
Chết từ từ bốn thiện, tăng thành năm.//15
Luận:
20. Khi chết căn diệt sau cùng
Ở vô sắc giới, khi sắp mạng chung,
ba căn mạng, ý và xả diệt sau cùng. Nếu ở sắc giới, khi sắp mạng
chung thì ba căn trước và năm căn bắt đầu từ mắt, như vậy tám căn
diệt sau cùng. Tất cả loài hóa sanh chắc chắn đủ các căn
mà sanh, tử. Nếu ở dục giới, khi mạng chung đột ngột,
10, 9 và 8 căn diệt sau cùng, nghĩa là hạng nhị hình thì 10 căn diệt
sau tức là căn nam, nữ và tám loại trước. Hoặc hạng nhất hình chín
căn diệt sau, ở trong nữ nam tùy theo đó trừ một loại. Hoặc hạng vô
hình tám căn diệt sau, tức là không có căn nữ nam chỉ có tám căn
trước, những điều có nói như vậy, y vào sự mạng chung đột ngột, hoặc
từ từ mạng chung,
bốn căn diệt sau cùng, nghĩa là ở dục giới, khi mạng chung từ từ,
thân, mạng, ý, xả diệt sau cùng. Bốn loại này không có nghĩa diệt
trước sau.
Những điều như vậy đã nói xong, nên biết chỉ y vào tâm nhiễm ô, vô
ký.
Hoặc ở ba cõi khi chết, tâm thiện năm căn bắt đầu từ tín chắc chắn
đều có đủ cho nên ở trước nói tất cả vị các căn, trong số đó đều nên
thêm năm căn bắt đầu từ tín, nghĩa là đối với vô sắc tăng thêm căn
cho đến dục giới từ từ mạng chung thì tăng đến chín, còn ở giữa bao
nhiêu theo lý mà biết, trong phân biệt căn tất cả căn pháp đều nên
suy xét chọn lựa.
Trong 22 căn, những căn nào
chứng đắc quả sa môn nào?
Tụng :
Chín: đắc hai quả biên.
Bảy, tám, chín: hai giữa.
Mười một: A-la-hán
Nương vào một nói có thể có.//16
Luận:
21. Căn chứng đắc quả sa
môn
Biên
chỉ cho quả Dự lưu và A-la-hán,
vì là ở đầu và cuối của quả sa môn. Trung
là hai quả giữa: Nhất lai và Bất hoàn. Chúng được kể là ở giữa do
liên hệ với quả đầu và quả cuối.
Quả Dự lưu do chín căn chứng
đắc: ý và xả căn,
năm căn bắt đầu từ tín, vị tri đương tri và dĩ tri căn, gồm chín
căn. Vị tri căn ở trong vô gián đạo,
dĩ tri căn ở trong giai đoạn giải thoát đạo,
hai căn này hỗ trợ lẫn nhau chứng đắc sơ quả. Theo thứ tự, chúng là
dẫn nhân,
và y nhân
để chứng đắc ly hệ.
A-la-hán cũng do chín căn mà
chứng đắc: ý, năm căn bắt đầu từ tín, dĩ tri, cụ tri căn và một
trong ba căn hỷ, lạc hay xả.
Dĩ tri căn ở vô gián đạo, cụ tri căn ở giải thoát đạo, hai căn này
hỗ trợ lẫn nhau chứng đắc quả tối hậu. Theo thứ tự, hai căn vị tri
và dĩ tri có tính chất có thể làm dẫn nhân, y nhân để chứng đắc ly
hệ.
Hai quả giữa tùy theo sự thích
hợp, mỗi quả được chứng đắc bằng bảy, tám hay chín căn. Vì sao? Sự
chứng đắc thứ tự
của quả Nhất lai, nếu y trên thế gian đạo,
do bảy căn chứng đắc: ý và xả, năm căn bắt đầu từ tín; nếu y trên
xuất thế đạo,
do tám căn chứng đắc: bảy căn kể trên, và dĩ tri căn thứ tám. Vị
chứng đắc siêu việt do ly tham tăng bội,
do chín căn chứng đắc, như quả Dự lưu.
Vị đắc quả Bất hoàn bằng sự
chứng đắc thứ tự, nếu y trên thế gian đạo, do bảy căn
chứng đắc; nếu y trên xuất thế đạo, do tám căn chứng đắc, như quả
Nhất lai chứng đắc thứ tự nói trên. Vị chứng đắc siêu việt bằng toàn
ly dục tham
do chín căn chứng đắc, như quả Nhất lai siêu việt
chứng đắc nói trên. Nói chung là như vậy, nhưng vẫn có sự sai khác;
tức căn cứ theo địa mà có sự sai khác trong sự đắc quả này, cho nên
trong ba căn: lạc, hỷ và xả, có thể tùy theo thích hợp mà chọn lấy
một căn.
Quả do siêu việt chứng nói trên
chỉ một căn xả.
Lại nữa, quả Bất hoàn chứng đắc
thứ tự, trong giải thoát đạo thứ chín, nếu nhập vào căn
bản địa,
y thế gian đạo, do tám căn chứng đắc.
Vô gián đạo trong địa kia tương ưng với xả thọ;
và trong giải thoát đạo lại có cảm thọ hỷ.
Hai thọ này hỗ trợ lẫn nhau chứng đắc quả thứ ba. Chúng là hai nhân
cho sự chứng đắc ly hệ, như trên.
Nếu y xuất thế đạo, do chín căn
chứng đắc.
Tám căn, như trên, thêm dĩ tri căn thứ chín. Vì cả trong vô gián đạo
và giải thoát đạo đều có căn này.
Há chẳng phải Căn bản
A-tỳ-đạt-ma “Hỏi có bao nhiêu căn chứng đắc quả A-la-hán? Và
đáp: có mười một căn”
?
Vì sao đây lại nói do chín căn chứng đắc?
Thật sự, chứng đắc quả thứ tư
chỉ do chín căn, nhưng Bản luận nói mười một là căn cứ nơi
thân có thể có mà nói. Nghĩa là có thể có hạng Thánh giả sau khi
nhiều lần thối thất địa vị vô học, rồi do một trong ba căn, lạc,
hoặc hỷ, hoặc xả hiện tiền mà cũng nhiều lần chứng đắc trở lại quả
A-la-hán. Vì vậy, Bản luận nói mười một căn. Nhưng không có
trường hợp ba cảm thọ cùng khởi một lúc. Cho nên, ở đây nói nhất
định chỉ có chín căn.
Trong quả Bất hoàn sao chẳng
nói như vậy? Vì không có trường hợp do căn lạc chứng đắc quả Bất
hoàn, rồi về sau thối thất. Cũng không có trường hợp sau khi thối
thất, rồi do lạc căn mà chứng đắc trở lại; cũng không phải rằng vị
mà trước đó đắc quả thứ ba do ly dục siêu chứng lại có thối thất. Vì
quả vị ly dục này chứng đắc bởi hai đạo rất vững chắc.
Ở đây, cần tư duy phân tích,
căn nào thành tựu? Trong các căn đó, bao nhiêu căn xác định là thành
tựu?
Tụng:
Mạng, ý và xả thành tựu,
Mỗi căn nhất định thành tựu ba.
Nếu lạc và thân thành tựu,
Mỗi căn nhất định thành tựu bốn.
Mắt v.v., và hỷ thành tựu,
Mỗi căn nhất định thành tựu năm.
Nếu khổ căn thành tựu,
Nhất định thành tựu bảy.
Nếu nữ, nam, ưu và tín v.v.
Mỗi căn nhất định thành tựu tám.
Hai vô lậu thành tựu mười một.
Vô lậu đầu thành tựu mười ba căn.//17,18,19.
Luận thích:
22. Xác định căn thành
tựu
Thành tựu một căn nào trong ba
căn: mạng, ý và xả, căn ấy nhất định thành tựu cả ba căn này. Khuyết
một trong ba căn này, các căn khác không thể thành tựu.
Trừ ba căn này, các căn khác không nhất định; hoặc thành tựu hay
không thành tựu.
Trong đây bốn căn nhãn, nhĩ, tỷ
và thiệt, (hữu tình) sinh ở Vô sắc giới, nhất định không thành tựu.
Nếu sinh Dục giới, chưa sở đắc, hay đã hủy mất,
cũng không thành tựu.
Thân căn, duy chỉ (hữu tình)
sinh ở Vô sắc giới, nhất định không thành tựu.
Hai căn nam, nữ, (hữu tình)
sinh hai giới trên, nhất định không thành tựu. Nếu sinh Dục giới,
chưa sở đắc, hoặc đã hủy mất, cũng không thành tựu.
Hàng dị sanh sinh trong định
thứ tư và Vô sắc giới nhất định không thành tựu lạc căn.
Hàng dị sanh sinh trong định
thứ ba, thứ tư và Vô sắc giới nhất định không thành tựu hỷ căn.
Hàng dị sanh sinh trong Sắc, Vô
sắc giới nhất định không thành tựu khổ căn.
Tất cả những vị đã ly dục tham
nhất định không thành tựu ưu căn. Hạng đoạn thiện căn nhất định
không thành tựu định năm căn gồm tín v.v…
Tất cả dị sanh và vị đã trụ quả
nhất định không thành tựu định căn vô lậu thứ nhất.
Tất cả dị sanh, hàng kiến đạo,
bậc vô học, nhất định không thành tựu căn vô lậu tiếp theo.
Tất cả dị sanh, và hàng hữu
học, nhất định không thành tựu căn vô lậu cuối.
Nên biết, loại trừ các trường
hợp đã nói trên, còn lại các trường hợp không bị loại trừ, các căn
đều thành tựu.
Nếu lạc căn
thành tựu, nhất định thành tựu bốn căn: mạn, ý, xả và lạc căn này.
Nếu thân căn thành tựu cũng
nhất định thành tựu bốn căn: mạn, ý, xả và thân căn này.
Nếu nhãn căn thành tựu nhất
định thành tựu năm căn: mạn, ý, xả, thân căn và nhãn căn.
Nên biết nhĩ, tỷ và thiệt căn
cũng thành tựu năm căn. Bốn căn đầu như nhãn v.v…, căn thứ năm,
chính nó.
Nếu hỷ căn thành tựu cũng nhất
định thành tựu năm căn: mạn, ý, xả, lạc căn và hỷ căn.
Khi sinh lên địa vị tĩnh lự thứ
hai, chưa chứng đắc tĩnh lự thứ ba, đã xả địa dưới mà chưa đắc địa
trên,
bấy giờ thành tựu lạc căn nào?
Nên nói thành tựu lạc căn nhiễm ô của tĩnh lự thứ ba, vì còn lại
chưa sở đắc.
Nếu khổ căn thành tựu thì nhất
định thành tựu bảy căn: thân căn, mạng căn, ý căn và bốn thọ, trừ ưu
căn.
Nếu nữ căn thành tựu nhất định
thành tựu tám căn: bảy căn như được nói trong khổ căn, và nữ căn là
căn thứ tám.
Nếu nam căn thành tựu nhất định
thành tựu tám căn: bảy căn như được nói trong khổ căn, và nam căn là
căn thứ tám.
Nếu ưu căn thành tựu cũng nhất
định thành tựu tám căn: bảy căn như được nói trong khổ căn, và ưu
căn là căn thứ tám.
Nếu tín căn v.v. thành tựu cũng
mỗi căn thành tựu tám: mạng, ý, xả và năm căn bắt đầu từ tín.
Nếu cụ tri căn thành tựu nhất
định thành tựu mười một căn: mạng, ý, lạc, hỷ, xả căn, năm căn bắt
đầu từ tín và cụ tri căn.
Nếu dĩ tri căn thành tựu cũng
nhất định thành tựu mười một căn: mười căn đầu như trên và dĩ tri
căn.
Nếu vị tri căn thành tựu nhất
định thành tựu mười ba căn: thân, mạng, ý, khổ, lạc, hỷ, xả, năm căn
bắt đầu từ tín và vị tri căn.
Ít nhất tám căn không thiện
Thành tựu thọ, thân, mạng, ý căn
Kẻ ngu sanh ở Vô Sắc
Thành tựu thiện, căn mạng, ý, xả.//20
[18a17] Thiện căn đã bị đoạn
gọi là không thiện.
Người đoạn thiện căn, chí ít thành tựu tám căn: 5 thọ căn, thân,
mạng, ý căn. Thọ nghĩa là năng thọ
vì nó lĩnh nạp, hoặc chỉ đặc tính của thọ nên gọi là thọ.Giống như căn cứ vào tính chất của viên mãn mà lập tên viên
mãn.
Như hạng đoạn thiện căn tối
thiểu thành tựu 8 căn, cũng vậy, hạng ngu sanh ở cõi Vô sắc cũng
thành tựu 8 căn. “Ngu” tức dị sanh
vì chưa kiến đế. Tám căn là những gì? Đó là năm căn bắt đầu từ tín,
và mạng, ý, xả căn. Năm căn bắt đầu từ tín hoàn toàn là thiện nên
gọi chung là thiện.
Nếu vậy nó phải bao gồm ba căn
vô lậu? Không. Vì ở đây chỉ căn cứ trên tám căn. Và vì nói kẻ ngu
sanh ở cõi Vô sắc.
Tối đa, thành tựu nhiều nhất
bao nhiêu căn ?
Tụng
:
Nhiều nhất, thành 19;
Hai hình, trừ ba tịnh.
Thánh giả chưa ly dục
Trừ hai tịnh, một hình//21
Luận:
[18a28] Những hạng hai hình đầy đủ các căn như
nhãn căn v.v., trừ ba căn vô lậu, thành tựu 19 căn còn lại. Vô lậu
gọi là tịnh
vì lìa hai thứ hệ phược.
Hạng hai hình tức hàng phàm phu ở cõi Dục, chưa ly tham đối với dục
nên có 19 căn.
Chỉ có hạng này đủ 19 căn mà không có hạng nào
nữa ư? Vị Thánh chưa ly dục cũng có đủ 19 căn, nghĩa là vị Thánh hữu
học chưa ly tham đối với dục thành tựu nhiều nhất cũng đầy đủ 19
căn, trừ hai căn vô lậu và một
caên giôùi tính. Nếu ở kiến đạo, trừ căn dĩ tri và căn cụ
tri. Nếu ở tu đạo, trừ căn vị tri và căn cụ tri. Hai căn nam, nữ tùy
theo đó mà loại trừ một căn. Do các vị Thánh không có hai hình.
Nhân nơi phẩm “phân biệt giới” mà phân biệt
những gì là căn và những gì không phải,
theo đó mà ở đây đã luận
chi tiết xong về 22 căn.
T.S.