|
TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT
HỌC PHÁP LUÂN
Số 10 - PL. 2553
[MỤC LỤC]
BUDDHAGHOSA và LEV TOLSTOY
Những người đi tìm ý nghĩa cho cuộc đời
THÍCH PHƯỚC AN
Chắc rằng, những người có tâm hồn bình
thường như chúng ta, không nhiều thì ít, khi có được một vị trí nào đó
trong xã hội thì luôn lấy đó làm thỏa mãn. Nhưng ngược lại, những tâm
hồn vĩ đại thì lại không như thế, khi danh vọng lên đến tột đỉnh thì họ
lại thường rơi vào một cuộc khủng hoảng có thể nói là dữ dội trong nội
tâm của mình. Để rồi cuối cùng, khi không còn chịu đựng được nữa thì họ
có thể tự kết thúc đời mình như trường hợp văn hào Mỹ Heminngway, người
được giải văn chương Nobel vào năm 1954 hay Kawabata của Nhật Bản, cũng
được giải văn chương Nobel vào năm 1968.
Dường như, đối với những tâm hồn vĩ đại
này, được tôn sùng là một tai họa chứ chưa hẳn là một vinh dự, như nhà
bác học lừng danh Albert Eistein cũng đoạt giải Nobel vật lý vào năm
1921 đã phải than thở rằng: “Thật trớ trêu cho số phận, chính tôi lại
nhận quá nhiều sự ngưỡng mộ và trọng thị từ người khác – mà tôi chẳng
làm gì xứng đáng hay nên tội”.
Nhưng ở đây tôi chỉ muốn nói đến trường hợp của Lev
Tolstoy, đại văn hào của nước Nga. Đọc tiểu sử của Tolstoy ta biết được
rằng vào năm 1863, nghĩa là sau khi đã cho ra đời những tác phẩm như
Những người Cosaques (Les Cosaques) và nhất là Chiến tranh và hòa
bình (La Guerre et La Paix). Chính tác phẩm vĩ đại này đã đưa
Tolstoy lên đến tột đỉnh của danh vọng, nhưng “sau sự vinh quang tột
đỉnh này, Tolstoy lại rơi vào sự trống rỗng của tâm hồn. Ông không còn
đam mê gì nữa, ông cảm thấy cuộc đời là vô vị, phi lý và trống rỗng, ông
nghĩ đến cái chết. Thậm chí ngay cả những lạc thú của cuộc đời mà trước
đó ông đam mê giờ cũng làm ông ghê sợ”.
Trong tác phẩm có tên là Tự Thú
(Confession), một tác phẩm mà Ernest J. Simmon đã mô tả như là “một
trong những phát ngôn (utterances) cao cả nhất và dũng cảm nhất của con
người, những tuôn trào (outpourings) của linh hồn bị bối rối cực độ bởi
những vấn đề lớn của cuộc sống – mối quan hệ của con người với cái vô
hạn nhưng được thực hiện với sự chân thành trọn vẹn và nghệ thuật cao”.
Tolstoy cho biết rằng ông đã nhiều lần ngồi nhìn những tác phẩm từng đưa
tiếng tăm ông lừng lẫy khắp thế giới rồi băn khoăn tự hỏi rằng, “nó có
quan hệ gì đến tôi”, hay giữa sự suy nghĩ của tôi về danh vọng mà những
tác phẩm của tôi đang mang đến cho tôi, tôi thường tự hỏi: “rất tốt,
mình sẽ nổi danh hơn cả Gogol, Pushkin, Shakespeare, Molière, nổi danh
hơn tất cả những nhà văn trên thế giới – rồi sao nữa. Tôi tuyệt đối
không thể tìm thấy câu trả lời.”
Và Tolstoy cho rằng, chỉ có cái chết là
chắc chắn còn mọi cái khác đều là lừa dối và lường gạt cả: “Có chăng một
ý nghĩa trong đời tôi, cái ý nghĩa mà sẽ không bị hủy diệt bởi cái chết
của tôi – cái chết tất yếu, và đang tới gần.”
Và từ nỗi đau đớn cùng cực ấy, Tolstoy cũng đặt dấu
hỏi luôn cả sự tồn tại của nhân loại trên mặt đất này, phải chăng sự tồn
tại ấy là hoàn toàn vô nghĩa? “Hằng triệu người đã sống và bây giờ đang
sống, họ đã gán cho cuộc đời họ ý nghĩa nào?”
Trước tiếng kêu la đầy tuyệt vọng trên của Tolstoy,
tôi cứ giả thiết là nếu Tolstoy đọc được câu này trong Thanh Tịnh Đạo
(Visuddhi Magga) của Buddhaghosa thì có lẽ văn hào của chúng ta sẽ
cảm thấy bớt cô độc hơn:
“Tỳ kheo (Bhikkhu) là những kẻ thấy sự
khủng khiếp (Bhayam Ikkhati) trong vòng luân hồi sanh tử”.
Như vậy là trước Tolstoy hơn 15 thế kỷ
(Buddhaghosa sống ở thế kỷ thứ 5 tây lịch) những Tỳ kheo đệ tử của đức
Phật cũng đã từng chịu đựng sự đau đớn khủng khiếp về thể phận bi thảm
của con người chẳng khác gì Tolstoy đã chịu đựng ở những thập niên cuối
thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Trên đường đi tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc
đời mình, Tolstoy đã nhiều lần chấp nhận rồi lại phủ nhận. Nhưng có lẽ
lần phủ nhận quan trọng nhất là vào năm Tolstoy 18 tuổi, Tolstoy kể:
“Tôi được rửa tội và giáo dục theo đức tin
Ky Tô giáo chính thống. Ngay từ tấm bé và suốt thời thiếu niên và thanh
niên, tôi đã được rèn luyện theo tín ngưỡng của chính thống giáo. Nhưng
ở tuổi 18, khi tôi rời bỏ trường Đại học vào năm thứ 2, tôi đã mất hết
niềm tin vào những gì đã được dạy.” Vì Tolstoy đã thấy được một sự thật
quá phủ phàng và gần như trái khuấy là: “những người mà công khai tự
nhận là tín đồ của đức tin chính thống giáo, thì phần lớn họ đều là
những kẻ cố chấp, hẹp hòi, tàn nhẫn và vô đạo, bị gói kín trong cái tự
cao tự đại của chính họ”. Trái lại Tolstoy viết tiếp: “trí tuệ, sự chính
trực, tính thẳng thắng, tính hiền lành đôn hậu, và tính đạo đức, thì
phần lớn được tìm thấy ở những người tự xưng là kẻ vô tín (disbelivers).
Nhưng đó chưa phải là lý do chính để
Tolstoy từ chối đức tin Ky Tô giáo, mà lý do chính vẫn là đức tin ấy
hoàn toàn không có nội dung, nghĩa là chẳng liên hệ gì đến điều mà ông
đang đi tìm kiếm, chưa muốn nói là càng làm cho Tolstoy thêm tối tăm.
“Tôi không thể chấp nhận cái đức tin của những người này. Tôi thấy rằng
cái mà họ xem là đức tin, cái đó không giải thích ý nghĩa của cuộc sống
mà chỉ làm nó tối tăm; và rằng, chính nó tự tuyên xưng (profess) cái đức
tin của họ không phải để trả lời (đáp ứng) cho câu hỏi về cuộc sống, là
cái đã kéo tôi về với đức tin, mà vì mục đích nào đó, xa lạ với tôi. Tôi
nhớ cái cảm giác đau đớn khi tôi trở lại với nỗi tuyệt vọng mà tôi đã
cảm nhận rất nhiều lần trong những mối quan hệ của tôi với nhưng người
này. Họ càng đặt lời dạy của họ trước tôi, với những chi tiết càng gia
tăng, thì tôi càng thấy rõ ràng hơn cái sai lầm của họ, cho đến khi tôi
mất hết hy vọng về việc khám phá ra trong đức tin của họ bất cứ sự giải
thích nào về ý nghĩa cuộc đời”. Và một lần nữa Tolstoy khẳng định lại về
những người đang theo đức tin này: “Tôi cảm thấy mạnh mẽ rằng họ đang
đánh lừa chính mình.”
Bởi thế cho nên khi Tolstoy đọc được cuộc
đời của đức Phật thì ông mới thấy rằng những vấn đề đang ám ảnh ông thì
hơn 20 thế kỷ trước vị hoàng tử trẻ tuổi Tất Đạt Đa cũng đã từng bị ám
ảnh và đau khổ chẳng khác gì ông bây giờ. Đây là đoạn Tolstoy viết về
nỗi đau khổ và tuyệt vọng của thái tử Tất Đạt Đa nhưng đọc lên ta có cảm
giác rõ rệt rằng Tolstoy cũng viết về nỗi đau khổ của chính mình nữa:
“Tất Đạt Đa – một hoàng tử trẻ và hạnh
phúc, bị che giấu khỏi bệnh tật, tuổi già và sự chết. Một hôm đi ra
ngoài dạo một vòng và thấy một cụ già rụng hết răng, mũi dãi lòng thòng,
và nom dễ sợ. Vị hoàng tử mà cho tới lúc ấy bị che giấu khỏi tuổi già bị
bất ngờ và hỏi người đánh xe điều này có nghĩa là gì, và tại sao người
đàn ông này đã đi tới một tình trạng đáng thương, kinh tởm và gớm ghiếc
như thế. Và khi chàng phát hiện ra rằng đây là số phận chung của tất cả
mọi người, rằng chàng, một hoàng tử trẻ tuổi, cũng sẽ tới tình trạng
này, chàng không thể tiếp tục đi với người đánh xe và ra lệnh cho y trở
về hoàng cung để suy tưởng về điều này. Và rồi chàng tự giam mình trong
phòng và suy ngẫm về nó.”
Vì học được từ cuộc đời của đức Phật như
vậy nên Tolstoy xác quyết rằng đạo Phật hoàn toàn khác với đức tin Ky Tô
giáo mà ông từ bỏ, “như vậy, chúng ta có những câu trả lời trực tiếp mà
sự khôn ngoan minh triết của con người có để cung cấp khi nó trả lời câu
hỏi về cuộc sống.”
Nhưng thấy được nguyên nhân đau khổ mà
không đưa ra được phương thuốc để diệt trừ sự đau khổ là một điều vô
cùng nguy hiểm vì như thế sẽ khiến cho con người vốn đã tuyệt vọng lại
càng tuyệt vọng hơn.
Tolstoy biết được sự nguy hiểm này nên ta
thấy ông có trích câu nói của Socrates: “Bậc hiền nhân tìm kiếm sự chết
suốt đời mình và vì lý do này nên cái chết sẽ không là kinh hãi với các
vị ấy.”
Đức Phật
còn đi xa hơn cả Socrates vì Ngài đã
chỉ cho chúng ta thấy nguyên nhân sâu xa vì sao con người suốt đời cứ
nơm nớp lo sợ cái chết:
“Đây là con ta, đây là tài sản ta. Kẻ phàm
phu thường lo nghĩ như thế, nhưng chẳng biết chính ta còn không có huống
là con ta hay tài sản ta.” (Pháp cú – HT Trí Đức dịch).
Như vậy, nguyên nhân khiến con người sợ
hãi trước cái chết chính là ái dục (tanhā).
Tolstoy cũng thấy được cái tanhā
này khi văn hào của chúng ta trích một câu của Schopenhaur, vị triết gia
vĩ đại của nước Đức rất say mê tư tưởng Phật giáo:
“Sự di chuyển vào trong hư vô – cái ấy là
bản chất (nature) của chúng ta, cái ý chí muốn sống (will to live) của
chính chúng ta, bởi nó mà ta được cấu thành, như vũ trụ chúng ta được
cấu thành. Cái sự kiện rằng chúng ta quá kinh hãi trước hư vô, hoặc, cái
sự kiện rằng chúng ta quá muốn sống, chỉ có nghĩa là chúng ta chỉ là cái
dục vọng muốn sống (desire to live); và những sự kiện đó, có nghĩa là,
ngoài cái dục vọng này, chúng ta không biết gì cả. Bởi vậy, khi cái ý
chí này bị hoàn toàn huỷ diệt, thì tất cả những gì còn lại với chúng ta
– những kẻ được thành tựu bởi cái ý chí ấy – dĩ nhiên, là hư vô”.
Nhưng vì sao ái dục phát sinh? Có phải là
vì chúng ta cứ nghĩ rằng mọi sự trên đời này đều là trường cửu? Lạt Ma
Geshe Kelsang Gyatso đã cảnh báo chúng ta về cái ý nghĩa sai lầm nghiêm
trọng này: “Phần lớn những vấn đề của chúng ta phát sinh đều do suy nghĩ
rằng mọi sự, kể cả chính ta là trường cửu. Nếu ta nhận chân được mọi sự
kể cả chính mình đều thuộc bản chất vô thường, thì sẽ bớt được nhiều vấn
đề.”
Luận sư Buddhaghosa cũng khuyến cáo chúng
ta như thế nhưng rõ ràng và cụ thể hơn: “Với tư tưởng nghĩ rằng ‘ta sẽ
chết’ vị ấy từ bỏ được sự tầm cầu bất đáng, và mong muốn tỉnh giác càng
tăng mạnh, vị ấy sống không ràng buộc.”
Bởi vậy đối với Phật giáo cũng như đối với
Buddhaghosa, quán vô thường không chưa đủ mà phải kết hợp với quán bất
tịnh nữa nghĩa là xem bất tịnh quán của Phật giáo như là “tìm kiếm sự
chết suốt đời mình” theo cách nói của Socrates.
Trong Thanh Tịnh Đạo Buddhaghosa có kể lại
một câu truyện về vị trưởng lão có tên là Mahà Tissa đã quán bất tịnh
một cách độc đáo như thế này:
“Khi trưởng lão đang trên đường đi từ Cetiyapabbata
đến Anuradhapura để khất thực, có một nàng dâu của một ông trưởng giả do
gây lộn với chồng nên bỏ đi từ sáng sớm, trang sức lộng lẫy như tiên nữ,
để về nhà bà con. Nàng trông thấy trưởng lão, và do tâm hồn hạ liệt, bật
lên một tràng cười lớn. Ngạc nhiên không hiểu có chuyện gì xảy đến, vị
trưởng lão nhìn lên, và khi thấy được ‘bất tịnh tướng’ nơi hàm răng của
nàng, ngài đắc quả A La Hán. Do đó có kệ:
Thấy xương hàm răng
Duy trì “cốt tưởng”
Chưa dời chân bước
Quả chứng vô sanh.
Chồng nàng đi tìm nàng, gặp trưởng lão anh
ta hỏi: Bạch Đại Đức, ngài có tình cờ trông thấy một người đàn bà nào
qua đây không? Trưởng Lão đáp:
Không rõ ông hay bà
Vì ta không để ý
Nhưng trên đường cái này
Có đống xương di động”.
Bất tịnh quán qua cách diễn đạt của Buddhaghosa như
vậy không chỉ đơn thuần là giúp chúng ta nhàm chán dục vọng mà có thể
nói nó còn góp phần đánh rơi tất cả những mặt nạ như những kẻ cứ tự nhận
mình là quý tộc để rồi cho tất cả người khác là tiện dân chẳng hạn. Đúng
là như Buddhaghosa đã nói thì những
người ấy cũng ngu muội chẳng khác gì một con chồn già trông thấy một cái
hoa đỏ đang còn trên cây rừng mà thèm vì cứ nghĩ “đây là một miếng thịt,
đây là một miếng thịt.”
Qua bất tịnh quán của Buddhaghosa ta mới thấy tất
cả cái nghịch lý tội nghiệp của con người: “…Và khi có một mẩu nhỏ nào
từ thân xác ấy rớt ra như tóc, răng, đàm, mũi.., v.v. thì người ta sẽ
không dám động tới, mà còn cảm thấy hỗ thẹn, nhục nhã, ghê tởm. Nhưng
khi những thứ ấy còn lại trên thân xác, mặc dù vẫn đáng ghê tởm thì
người ta lại cho là dễ chịu, đáng ham muốn, trường cửu, khả ái, tự ngã…
bởi vì bị trùm kín trong màn tối vô minh, bị nhuốm tham ái đối với tự
ngã.”
Tất nhiên, vẫn có những người ngoại lệ, những con
người không bao giờ có thể là con
chồn già trông thấy một cái hoa đỏ đang còn trên cây rừng mà thèm vì cứ
nghĩ “đây là một miếng thịt, đây là một miếng thịt”. Đó là những người
mà trong Thanh Tịnh Đạo đã tôn xưng là bậc trí.
Buddhaghosa có thi kệ:
Bậc trí không nghĩ rằng
Chỉ
phần rơi bất tịnh
Mà
còn quán bất tịnh
Phần
còn ở trong thân
Kẻ
ngu không như vậy
Xem
thân là tốt lành
Bị ác
ma tóm bẫy
Không
thoát khỏi khổ hình
Người
trí khi thấy rõ
Thân
này thật thối tha
Thì
xác sống xác chết
Điều
không chỗ đáng ưa.
Nhưng đó dù sao cũng chỉ mới là lý thuyết, còn
chuyện thực hành được hay không lại là chuyện khác, có nghĩa là không
phải cứ nghĩ rằng mình quán bất tịnh có nghĩa là mình sẽ vứt bỏ được
tham ái và sắc dục.
Trong “ Tự Thú”, Tolstoy có kể lại một câu
chuyện ngụ ngôn cổ của phương Đông, đại khái, có một kẻ lữ hành đang đi
trong khu rừng thì bất ngờ gặp một con dã thú đang hoành hành. Cố cứu
mình thoát khỏi con dã thú, người lữ hành nhảy vào một cái giếng đã cạn
nước, nhưng ở dưới đáy giếng, y thấy một con rồng đang giương móng vuốt
ra chờ vồ lấy y. Kẻ bất hạnh không dám leo ra vì sợ bị con dã thú giết,
y cũng không dám nhảy xuống đáy giếng vì sợ bị con rồng vồ. Bởi vậy, y
bám vào một cành cây của bụi cây hoang dã mọc trong kẻ nứt của cái
giếng, và níu vào đó. Hai cánh tay y trở nên yếu dần và cảm thấy rằng
chẳng bao lâu nữa, y sẽ làm mồi cho thần chết đang đợi y ở cả hai phía.
Thế nhưng y vẫn cứ níu vào đó, và khi đang níu vào cành cây, y nhìn lên
thì thấy hai con chuột, một đen và một trắng, đang gặm nhấm vào xung
quanh cái bụi cây mà y đang bám. Chẳng bao lâu bụi cây sẽ gãy đổ xuống
và y sẽ rơi vào nanh vuốt con rồng. Nhưng trong khi y đang treo lủng
lẳng ở đó, y nhìn quanh và thấy những giọt mật trên những chiếc lá của
bụi cây, và y đã lè luỡi ra để liếm chúng.
Tolstoy cho rằng hầu hết mọi người trên đời này đều
đang say sưa lè lưỡi ra để liếm thứ mật chết người này. Nhưng Tolstoy
cảnh báo những người này rằng, đến một lúc nào đó họ sẽ không thể liếm
được nữa: “ Họ không thấy rằng con rồng đang chờ đợi họ, họ cũng không
thấy hai con chuột đang gặm nhấm vào cành cây mà họ đang bám vào; họ chỉ
đơn giản liếm những giọt mật. Nhưng họ chỉ ‘tạm’ liếm những giọt mật này
trong khi đang chờ đợi. Một cái gì đó sẽ xoay hướng sự chú ý của họ sang
con rồng và hai con chuột và tất nhiên sự liếm mật của họ sẽ có một kết
thúc.”
Và Tolstoy cũng nói lên sự kinh ngạc của mình là
tại sao một hoàng tử trẻ tuổi của Ấn Độ cách đây hơn 20 thế kỷ đã từ
chối liếm thứ mật chết người này, vậy mà nhân loại của ngày hôm nay vẫn
chưa thức tỉnh và vẫn còn say sưa liếm thứ mật ấy. Và đây là lời của đại
văn hào Nga Tolstoy:
“Cái trí tưởng tượng nghèo nàn của những người này
khiến cho họ quên đi cái mà đã không để lại cho hoàng tử Tất Đạt Đa chút
bình an nào. Sự cốt yếu của bệnh tật, tuổi già và cái chết, mà nếu không
hôm nay thì ngày mai sẽ huỷ diệt những lạc thú này.”
Riêng cá nhân mình thì Tolstoy khẳng định một cách
mạnh mẽ rằng: “Giống như Tất Đạt Đa, tôi không tìm thấy lạc thú trong
cuộc đời một khi đã đi tới chỗ biết cái gì là tuổi già, sự đau khổ và
cái chết”.
Nhưng tại sao những tâm hồn vĩ đại như Hemingway,
như Tolstoy, như Yukio Mishima và nhất là Kawabata, một người có thể nói
là đã được nuôi dưỡng trong tinh thần của Phật giáo được thể hiện trọn
vẹn qua câu phát biểu nổi tiếng: “Nền văn hoá cổ Phương Đông, nhất là
kinh Phật, là nền văn chương vĩ đại nhất thế giới. Tôi muốn viết một tác
phẩm tên là ‘Toho no Uta’, Bài ca Phương Đông; đó sẽ là bài ca
tươi đẹp của tất cả đời tôi… Tôi có thể chết trước khi bài ca đó được
thành tựu nhưng hãy biết rằng tôi đã dự trù cả một chương trình trong
tâm trí mình”,
lại không chịu đựng nỗi sự khủng hoãng nội tâm để đến nỗi phải tự kết
thúc cuộc đời của mình? Có phải như Tolstoy đã cho rằng, “càng nhiều
minh triết thì càng nhiều sầu muộn”, hay “kẻ nào gia tăng minh triết thì
cũng gia tăng sầu muộn” chăng? Và có phải họ, những đầu óc đầy minh
triết đó, cũng đã rơi vào trường hợp như nhà đại trí thức có tên là Huệ
Khả? Như cuộc đối thoại sau đây giữa Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Khả chăng?
“Bồ Đề Đạt Ma ngồi nhìn vách tường. Huệ Khả đứng
trầm mình trong tuyết, rút dao tự chặt cánh tay rồi nói:
- Con không được an tâm, xin thầy hãy an
tâm cho con.
Bồ Đề Đạt Ma bảo: Đưa tâm ra đây ta sẽ an cho.
Huệ Khả đáp: Con không thấy tâm đâu cả.
- Ta đã an tâm cho con rồi đó!”
Như vậy, phải chăng từ Huệ Khả cách đây hơn 15 thế
kỷ đến Tolstoy hay Kawabata ở thế kỷ 20, sở dĩ đau khổ, bất an là vì
những bậc đại trí thức này hãy còn bị vướng kẹt vào cái mà thuật ngữ
Phật giáo gọi là Sở - Tri - Chướng (jnẽya - àvarana), một thứ vướng kẹt
rất vi tế nghĩa là họ đã thấy được đỉnh núi cao trước mặt rồi nhưng chưa
thể nhảy qua được chăng?
Bởi thế nên Đức Phật mới bảo rằng mỗi con người
trong chúng ta đều có hai thứ bệnh là thân bệnh và tâm bệnh. Nhưng tâm
bệnh theo Đức Phật mới là thứ bệnh khó điều trị nhất. Như trong kinh
Anguttara Nikaya Đức Phật đã bảo:
“Này các thầy Tỳ kheo, có hai loại bệnh. Đó là thân
bệnh và tâm bệnh. Có những người sống một năm, hai năm, ba năm, bốn năm,
năm năm, mười năm – hai chục năm, ba chục năm, bốn chục năm, năm chục
năm, và trong số trường hợp sống cả đến trăm tuổi vẫn không bị thân
bệnh. Nhưng quả là khó tìm thấy những người thoát khỏi tâm bệnh, ngay cả
chỉ một lúc thôi. Ngoại trừ các bậc A La Hán.”
Như vậy qua câu ‘Nhưng quả là khó tìm thấy những
người thoát khỏi tâm bệnh, ngay cả chỉ một lúc thôi’ của Đức Phật thì
tâm bệnh mới là căn bệnh khó trị nhất mà con người phải đối mặt.
Vì sao khó trị? “Tâm phàm phu cứ lén lút đi một
mình, rất xa, vô hình vô dạng, như ẩn náu hang sâu, chỉ những ai điều
phục được tâm thì mới giải thoát khỏi vòng ma trói buộc”. (HT Trí Đức
dịch).
Như vậy làm thế nào để ta điều phục được cái tâm?
Trong kinh Trung A Hàm, có một đoạn kinh rất
ngắn gọi là kinh Tâm, Đức Phật đã dạy một Tỳ kheo sống cô độc hãy nỗ lực
điều phục cái tâm của mình như thế này:
“Bấy giờ, có một Tỳ kheo sống cô độc tại một nơi an
tĩnh, thiền tọa tư duy, tâm khởi ý niệm: Cái gì dẫn thế gian đi? Cái gì
bị nhiễm trước? Cái gì sanh khởi mà tự tại?
Khi ấy, vào lúc xế chiều, Tỳ kheo ấy từ Thiền tọa
đứng dậy đi đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật rồi ngồi xuống
một bên, bạch rằng: Bạch Thế Tôn, hôm nay con một mình ở một nơi yên
tĩnh, thiền tọa tư duy, tâm khởi ý niệm: Cái gì dẫn thế gian đi? Cái gì
bị nhiễm trước? Cái gì sanh khởi mà tự tại?
Đức Thế Tôn nghe xong, khen ngợi: Lành thay, lành
thay, Tỳ kheo, là con đường hiền thiện lại được quán sát hiền thiện, là
biện tài tinh diệu với tư duy khéo léo rằng ‘Cái gì dẫn thế gian đi? Cái
gì bị nhiễm trước? Cái gì sanh khởi mà tự tại?’ Này Tỳ kheo, câu hỏi của
người là như vậy chăng?
Thầy Tỳ kheo ấy đáp: Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Thế Tôn nói: Này Tỳ kheo, tâm dẫn thế gian đi,
tâm làm nhiễm trước, tâm sanh khởi tự tại. Này Tỳ kheo, chính nó dẫn thế
gian đi, chính nó làm nhiễm trước và cũng chính nó khởi tự tại. Này Tỳ
kheo, đa văn thánh đệ tử không để tâm dẫn đi, không để tâm nhiễm trước,
không để tâm tự tại. Này Tỳ kheo, đa văn thánh đệ tử không vâng theo sự
tự tại của tâm, mà tâm tùy theo tự tại của đa văn thánh đệ tử.
Tỳ kheo bạch rằng: Lành thay! Lành thay! Kính vâng
Thế Tôn.” (Tuệ Sỹ dịch)
Như vậy, muốn an tâm thì không có cách nào hơn là
phải nỗ lực thực hành theo lời mà Đức Phật đã khuyến cáo vị Tỳ kheo cô
độc “đa văn thánh đệ tử không để tâm dẫn đi, không để tâm nhiễm
trước, không để tâm tự tại…, đa văn thánh đệ tử không vâng theo sự tự
tại của tâm, mà tâm tùy theo tự tại của đa văn thánh đệ tử”.
Nhưng có gì khác nhau giữa cái “tâm phàm phu cứ một
mình lén lút đi xa” và “cái tâm đã được điều phục”? Và tại sao một bạo
chúa giết cha không gớm tay để soán ngôi vua lại hoang mang sợ hãi khi
đứng trước khu vườn xoài trong đó có hơn một ngàn vị Tỳ kheo đang ngồi
tịch nhiên bất động trong một đêm trăng rằm tuyệt đẹp? Như kinh Sa
Môn Quả thuộc Trường Bộ Kinh đã ghi lại:
“Vua lại sai kêu Kỳ Bà Đồng Tử đến hỏi:
Ngày rằm trăng tròn, đêm sáng không khác gì ban
ngày. Ta nên đến Sa Môn, Bà La Môn nào, để có thể khai ngộ tâm ta?
Kỳ Bà Đồng Tử tâu:
Có Phật Thế Tôn, nay đang ở vườn xoài của tôi. Đại
Vương nên đến đó thăm hỏi. Nếu Đại Vương gặp Phật, tâm tất khai ngộ. Vua
bèn sắc lệnh Kỳ Bà:
Hãy thắng kiệu voi báu mà ta thường cỡi, cùng với
năm trăm thớt voi trắng.
Kỳ Bà vâng lệnh, cho trang nghiêm lại con voi của
vua cùng với năm trăm thớt voi xong, tâu rằng:
Xa giá đã trang nghiêm. Xin Đại Vương biết thời.
A Xà Thế tự mình cỡi voi báu, cho năm trăm phu nhân
cỡi năm trăm voi cái, tay mỗi người cầm một bó đuốc, thể hiện uy nghi
của vua. Ra khỏi La Duyệt Kỳ, hướng đến chỗ Phật.
Tiến đi được một đoạn, vua bảo Kỳ Bà:
Ngươi nay gạt ta, hãm hại ta, dẫn ta và đại chúng
đến cho kẻ thù.
Kỳ Bà tâu:
Đại Vương, thần không dám lừa dối Đại Vương, không
dám hãm hại Đại Vương, dâng Đại Vương và đại chúng đến cho kẻ thù. Đại
Vương cứ tiến về phía trước, tất thu hoạch được phúc khánh.
Rồi thì, tiến tới một quãng ngắn, vua lại bảo Kỳ
Bà:
Ngươi nay gạt ta, hãm hại ta, dẫn ta và đại chúng
đến cho kẻ thù.
Vua nói đến ba lần như vậy. Vì sao? “Nơi kia có đến
một ngàn hai trăm vị Tỳ kheo, nhưng lại vắng lạnh không tiếng động. Hẳn
là có âm mưu rồi.”
Kỳ Bà ba lần tâu:
Đại Vương, thần không dám lừa dối Đại Vương, không
dám hãm hại Đại Vương, dâng Đại Vương và đại chúng đến cho kẻ thù. Đại
Vương cứ tiến về phía trước, tất thu hoạch được phúc khánh. Vì sao? Sa
Môn kia theo pháp thường ưa sự thanh vắng, do đó không có tiếng động.
Đại Vương cứ tiến tới, khu vườn đã hiện ra rồi.
Vua A Xà Thế đi đến cổng vườn, xuống voi, giải
kiếm, cất lọng, dẹp bỏ năm thứ uy nghi, bước vào cổng vườn, nói với Kỳ
Bà:
Phật Thế Tôn đang ở đâu?
Kỳ Bà trả lời:
Đại Vương, Phật đang ở trên cao kia, phía trước
Ngài có ngọn đèn. Thế Tôn ngồi trên tòa sư tử, mặt hướng về phía nam.
Đại Vương đi tới một chút, tự mình gặp Thế Tôn.
Bấy giờ, A Xà Thế đi tới chỗ giảng đường, rửa chân
ở bên ngoài, sau đó bước lên giảng đường, im lặng nhìn bốn phía, sinh
tâm hoan hỉ, miệng tự phát nên lời:
Nay các Sa môn yên tĩnh lặng thinh, hoàn toàn tĩnh
lặng. Mong sao thái tử Ưu Bà Gia của tôi cũng được sự trầm lặng như thế
này không khác.
Khi ấy, Phật nói với vua A Xà Thế:
Đại Vương, phải chăng đang nghĩ đến con mình, nên
từ miệng phát ra lời ‘Mong sao thái tử Ưu Bà Gia của tôi cũng được sự
trầm lặng như thế này không khác’?” (Tuệ Sỹ dịch).
Trong kinh Tán Đà Na, một đệ tử tại gia của
Đức Phật cũng nói cho các Phạm chí ngoại đạo biết về Đức Phật: “Thầy tôi
Đức Thế Tôn thường ưa nhàn tĩnh, chẳng ưa huyên náo, không như các ông
và đệ tử các ông ở giữa đám đông cao tiếng luận đàm, nhưng chỉ toàn
những lời chướng ngại đạo, vô ích”.
Và trong kinh Kiên Cố, sau khi Đức Phật đã
bác bỏ lời thỉnh cầu của người thanh niên Kiên Cố muốn Đức Phật phải thể
hiện thần thông để “dương oai diệu võ” mà theo lời Kiên Cố sẽ rất “có
ích lợi cho nhiều người” và nhất là Phật và chúng tăng khéo “hoằng hoá
đạo”, thì Đức Phật cho Kiên Cố biết rõ đường lối giáo dục của ngài là:
“Ta không bao giờ dạy các Tỳ kheo hiện thần túc,
pháp thượng nhân, cho Bà la môn, trưởng giả, cư sỹ. Ta chỉ dạy các đệ tử
của ta ở nơi thanh vắng nhàn tĩnh mà trầm tư về đạo. Nếu có công đức thì
nên giấu kín. Nếu có sai lầm thì nên tự bày tỏ.” (Tuệ Sỹ dịch).
Như vậy, sự khác nhau giữa những kẻ chưa điều phục
được cái tâm của mình là, những kẻ ấy chỉ biết ba hoa, ồn ào với đám
đông bên ngoài, nhưng khi đối diện với sự im lặng (hay nói đúng ra là
đối diện với nỗi cô đơn heo hút của chính mình) thì hoang mang dao động
và kinh sợ như trường hợp A Xà Thế đã kinh sợ trước sự tịch nhiên bất
động của một ngàn hai trăm vị Tỳ kheo trong vườn xoài của Kỳ Bà chẳng
hạn.
Còn những bậc đã điều phục được cái tâm của mình là
những kẻ ưa sự trầm lặng. Nhưng sự trầm lặng không có nghĩa là yếu hèn
hay nhu nhược, mà sự im lặng đó lại được ca tụng như là im lặng sấm sét
(mặc như lôi).
Chính vì thế mà từ xưa đến nay đã có biết bao nhiêu
là bậc hiền nhân trác việt đã can đảm vứt bỏ những hệ lụy của gia đình,
xã hội lên đường tìm đến tận những nơi thâm sơn cùng cốc để điều phục
cái tâm của chính mình như Trần Nhân Tông của Việt Nam đã viết trong
Đắc Thú Lâm Tuyền:
Núi hoang rừng quạnh
Ấy là nơi dật sỹ tiêu dao
Chiền vắng am thanh
Chỉn thực cảnh đạo nhân du hý.
Buddhaghosa trong Thanh Tịnh Đạo cũng nói
rằng những ai dám vứt bỏ những thú vui vật dục tầm thường đi sống ẩn dật
những nơi thâm u tịch mịch thì sẽ đạt được sức mạnh tâm linh vĩ đại, sức
mạnh đó khiến cho ác ma phải khiếp sợ.
Độc cư nơi xa vắng
Làm cho tâm hân hoan
Đấng đạo sư hài lòng
Vị độc cư rừng thẳm
Người vui hạnh ở rừng
Lại được hưởng hương vị
Hạnh phúc của vua trời
Áo giáp y phấn tảo
Tung tăng trong rừng già
Lâm tuyền dễ thực hiện
Bao nhiêu hạnh đầu đà
Tỳ kheo ấy chắc chắn
Làm quần ma kinh hoảng
Bởi thế người có trí
Nên vui hạnh ở rừng.
Buddhaghosa không chỉ là một luận sư vĩ đại mà đọc
bài thi kệ sau đây ta có cảm tưởng ông còn là một thi sĩ nữa:
Đức đạo sư ca tụng
Một trong những tùy thuộc
Chỗ nào bằng gốc cây
Được chư thiên hộ vệ
Vị ấy sống chân tu
Không tham về trú xứ
Nhìn lá cây xanh non
Trở màu đỏ lục vàng
Lần lượt đều rơi rụng
Hết tin ở trường tồn
Đức đạo sư phú chúc
Gốc cây nơi vắng vẻ
Không người trí nào chê
Vì dễ quán sinh diệt
Khi ta đã ý thức được rằng “mọi sự không trường
tồn” thì cũng có nghĩa là ta đã giải phóng được sự nô lệ về ý niệm của
thời gian. Lúc ấy ta hoàn toàn là con người tự do, con người của vũ trụ:
Nhờ ở nơi khoảng trống
Tỳ kheo thêm tinh cần
Dễ kiếm, tâm bén nhạy
Như con nai giữa rừng
Hết hôn trầm biếng nhác
Dưới vòm trời đầy sao
Trời trăng làm ánh sáng
Thiền định đem hân hoan
Hương vị độc cư lạc
Vị ấy sẽ tìm được
Khi sống giữa đất trời
Người trí hãy yêu thích
Và sứ mạng của người trí là gì? Nghĩa là người trí
nên ngoảnh mặt làm ngơ hay là phải tự nhận lấy trách nhiệm của mình
trước bao nhiêu thống khổ của con người? Albert Einstein được nhân loại
tôn xưng là bậc trí giả hàng đầu của thế kỷ 20 đã viết những dòng cảm
động về sự có mặt của mình giữa thời đại điêu linh thống khổ này:
“Tình cảnh của những đứa con trái đất
chúng ta mới kì lạ làm sao! Mỗi chúng ta đến đây như một chuyến viếng
thăm ngắn ngủi. Ta không biết để làm gì, nhưng đôi khi ta tin rằng ta
cảm nhận được điều đó. Song, nhìn từ cuộc sống thường nhật mà không đi
sâu hơn, ta biết rằng ta đến đây vì người khác.” Vì sao mà ta đến đây vì
người khác? Albert Einstein cho biết suy nghĩ của mình:
“Trước hết vì những người mà hạnh phúc của riêng ta
phụ thuộc hoàn toàn vào nụ cười yên ấm của họ, kế đến là vì bao người
không quen mà số phận của họ với ta bằng sợi dây của cảm thông.”
Và đây mới là những lời mà chỉ có thể thốt ra được
từ một tâm hồn đã hiến dâng trọn vẹn cho sự thống khổ của con người:
“Mỗi ngày tôi nghĩ không biết bao nhiêu lần, rằng cuộc sống bên ngoài và
cuộc sống nội tâm của tôi là dựa trên sự lao động của những người hiện
tại và những người đã chết, rằng tôi phải nỗ lực để trao lại tương xứng
với những gì tôi đã nhận được và còn nhận được.”
Và Tolstoy, bậc trí giả của cuối thế kỷ 19
và đầu thế kỷ 20 cũng thốt ra những lời tương tự như vậy. Đối với ông,
cái duy nhất còn lại có ý nghĩa trên cuộc đời này là ước muốn được chia
sẻ với những người mà số phận không được may mắn như mình. Tolstoy viết:
“Và một điều duy nhất đã cứu tôi là, tôi đã có thể
tách mình ra khỏi sự cô lập của tôi, nhìn cuộc đời đích thực của nhân
dân lao động chất phác và nhận thức rằng chỉ có cuộc sống như thế mới là
cuộc sống đích thực.”
Đọc những lời phát biểu của hai nhà đại trí thức
trên ta không thể nào không liên tưởng đến lòng từ (metta) của Phật
giáo. Bởi vì lòng từ là gì nếu không phải là đem tình thương của mình để
chia sẻ với những mãnh đời bất hạnh còn đang quằn quại trong đau khổ.
Có thể nói lòng từ của Phật giáo hoàn toàn khác
biệt với các tôn giáo khác vì qua Buddhaghosa lòng từ không nói một cách
chung chung mà lòng từ đó còn là một đề tài Thiền quán vô cùng quan
trọng để hành giả phát huy lòng yêu thương và diệt trừ sân hận kể cả đối
với những kẻ mà họ đang thù ghét ta.
Vậy lòng từ của Phật Giáo bắt đầu từ đâu? Theo
Buddhaghosa trước tiên ta nên trải
lòng từ đến bản thân mình với những lời được lập đi lập lại như sau,
“mong rằng tôi được an lạc, thoát khỏi khổ ách”, hoặc “mong rằng tôi
thoát được hận thù, buồn khổ, lo âu và sống trong hạnh phúc”.
Tại sao lại phải lấy chính bản thân mình để trải
tâm từ đầu tiên, vì như vậy có phải là ích kỷ hay không? Buddhaghosa đã
trích một câu của đức Phật để giải thích:
“Tâm ta đi cùng khắp, tất cả mọi phương trời, cũng
không tìm thấy được. Ai thân hơn tự ngã. Tự ngã đối với mọi người, quá
thân ái như vậy. Vậy ai yêu tự ngã, chớ hại tự ngã người”.
Sau khi đã trải tâm từ đến chính bản thân mình rồi,
thì ta nên tìm đến một đối tượng mà ta tôn kính để trải tâm từ. Người ấy
có thể là một bậc thầy thiện tri thức hoặc một đa văn khả kính đã từng
dìu dắt ta: “Mong rằng con người hiền thiện ấy được hạnh phúc, được an
vui, thoát mọi khổ ách”. Buddhaghosa xác quyết rằng: “Với một người như
thế làm đối tượng, dĩ nhiên hành giả phải đắc định liền.
Sau bậc thầy thiện tri thức là đến khắp cả chúng
sanh, nghĩa là không phải chỉ có con người mà kể cả các loài hữu tình
khác, “mong rằng tất cả chúng sanh thoát khỏi hận thù, buồn khổ, lo âu
và được sống trong hạnh phúc”, “mong rằng mọi loài có thở… mọi loài được
sinh ra… mọi người, mọi kẻ có nhân tính, đều thoát khỏi hận thù, lo âu
và được sống trong an lạc”.
Nhưng khó khăn nhất vẫn là làm cách nào để chúng ta
trải tâm từ đến những kẻ mà ta đang thù hận. Chính vì ý thức được khó
khăn này nên Buddhaghosa đề ra nhiều cách từ thấp đến cao. Ví dụ ta có
thể tự phân tích như thế này: “Khi giận vì lỗi lầm kẻ khác ấy chứng tỏ
người đang bắt chước chính hành vi lỗi lầm của người”, hoặc ta có thể tự
lý luận với chính mình rằng “cơn giận dữ chưa chắc đã hại được ai nhưng
chắc chắn hại người trước nhất. Kẻ sân trước lên đường đau khổ người sân
sau bén gót theo sau”. Và ta phải nghĩ rằng cái chung cục của sự quyết
tâm trả thù chắc chắn sẽ đưa đến kết quả thảm bại như thế này: “ Người
giống như kẻ tay cầm cục than nóng đỏ hay phân để đánh người, chưa gì
chính mình đã bị cháy và hôi thối”.
Và nếu như những lý luận có tính cách tự răn đe
chính mình như thế mà tâm vẫn không nguôi hận thù thì Buddhaghosa khuyên
ta nên nhớ lại nhiều kiếp trong quá khứ Đức Thế Tôn của chúng ta đã tu
tập hạnh nhẫn nhục đến nỗi có lần vua Kàsi đã khiêu khích hỏi Ngài: “Này
Sa môn kia, Người đang giảng pháp gì?” thì Đức Thế Tôn đáp: “ Tôi đang
giảng về hạnh nhẫn nhục” thì tên vua ngu ngốc Kàsi lập tức sai đánh đòn
Ngài bằng những cây có gai và chặt hết tay chân Ngài, Ngài vẫn không có
một niệm sân hận nào nổi lên”.
Sau tất cả những cách quán trên mà hận thù vẫn
không lắng dịu thì Buddhaghosa khuyên ta nên nhớ lại những kinh đã đề
cập đến vòng luân hồi sanh tử nối tiếp vô tận như “Này các Tỳ kheo,
không dễ gì tìm thấy một chúng sanh nào chưa từng là mẹ người, hay cha,
anh, chị, con trai, con gái, rồi nghĩ đến đối tượng mà mình đang thù
ghét như sau: “Cái người này, khi còn là mẹ ta, trong quá khứ - đã cưu
mang ta suốt mười tháng trong bụng, và rửa sạch những đồ nhơ nhớp của
chúng ta mà không một chút nhờm gớm nào, nâng niu ta trên gối, ẳm bồng
ta trên nách. Và người này khi làm cha ta trong quá khứ, đã đi trên
những con đường của bò dê, những con đường gập ghềnh hiểm trở, làm nghề
lái buôn, vì ta mà liều mạng trên chiến trường, trên những con tàu lênh
đênh ngoài biển khơi, và làm nhiều việc gian nan khác. Người ấy đã kiếm
tiền bằng đủ mọi cách để nuôi ta. Và người này, khi làm anh chị ta, con
trai ta, con gái ta trong quá khứ, đã từng giúp đỡ ta. Bởi thế thật
không xứng đáng nếu ta ôm lòng hận thù người ấy”.
Sau cùng, nếu tất cả những điều trên đều không kết
quả, nghĩa là lòng hận thù vẫn không được dập tắt, thì ta nên vô hiệu
hoá đối tượng mà ta đang hận thù. Vô hiệu hoá bằng cách nào? Bằng cách
phân tích các yếu tố. Buddahaghosa khuyên ta tự suy nghĩ như thế này:
‘Người, kẻ đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình kia, khi
người tức giận kẻ kia, thì cái gì nơi kẻ ấy làm người tức giận? Người
giận tóc? Giận tai, răng hay móng tay móng chân? Hoặc có phải người tức
giận vì đại địa ở trong tóc? Hay trong thủy đại? Hay trong hỏa đại? Hay
phong đại? Hay trong số năm uẩn, hay mười hai xứ, mười tám giới bởi vị
đó được gọi bằng tên đó, cái gì người giận? Người giận sắc uẩn hay thọ
uẩn, hay tưởng uẩn, hay hành uẩn, hay thức uẩn? Người tức giận nhãn
giới, sắc giới, nhãn thức giới, ý giới, pháp giới? Hay ý thức giới người
tức giận?’
Buddhaghosa kết luận rằng: “Khi hành giả cố phân
tích các yếu tố như vậy, cơn giận của vị ấy không tìm thấy chỗ để đặt
chân, như một hạt tiêu đặt trên đầu cái mũi dùi hay một bức tranh treo
giữa hư không”.
Nhưng sự hận thù “không tìm thấy chỗ đặt chân” chưa
phải là tình thương vĩ đại nhất mà Phật giáo muốn trao đến cho thế giới
đầy hận thù này. Theo tôi, vĩ đại nhất vẫn là thứ tình thương mà
Buddhaghosa gọi là sự phá vỡ mọi rào ngăn tướng (the breaking down of
barriers).
Thế nào gọi là tình thương phá vỡ mọi rào ngăn
tướng?
Trong Thanh Tịnh Đạo, Buddhaghosa cho ví dụ:
“Giả sử vị ấy đang ngồi tại một nơi kia cùng với một người thân, một
người dưng và một người thù, với vị ấy nữa là bốn, khi ấy có kẻ cướp đi
đến bảo: “Bạch đại đức, cho chúng tôi một vị Tỳ kheo” và khi được hỏi để
làm gì, chúng trả lời “để cắt cổ lấy máu làm lễ tế thần linh”. Lúc đó,
nếu hành giả nghĩ: “Hãy để cho chúng mang đi người này, hay người này?”
như thế là hành giả chưa bỏ được rào ngăn, và nếu vị ấy nghĩ: “Hãy để
cho chúng mang ta đi, đừng mang người kia” thì cũng là chưa phá vỡ rào
ngăn. Tại sao? Vì vị ấy còn tìm cách tự hại mình khi muốn để cho người
ta mang đi, vì chỉ tìm sự an ổn cho người khác mà thôi. Vậy, chỉ khi nào
vị ấy không tìm thấy một người nào trong bốn người ấy đang đem cho kẻ
cướp, khi vị ấy hướng tâm mình một cách bình đẳng đến bản thân cũng như
đến ba người kia, thì vị ấy một thực sự phá vỡ rào ngăn”.
Những ai đã đạt được lòng từ bình đẳng tuyệt đối
như vậy thì chẳng những đã đạt được an vui cho chính bản thân mình mà
tình thương ấy còn lan toả đến tất cả, kể cả những kẻ khuất mặt đang
sống trong tối tăm mà lòng lúc nào cũng sục sôi căm thù nữa. Như trường
hợp vị trưởng lão có tên là Visàkha mà Buddahaghosa đã kể lại thật cảm
động như sau:
“Ngài đến tu viện Cittapabbata. Sau khi ở đấy được
bốn tháng, vị trưởng lão nằm nghĩ “ngày mai ta sẽ đi”. Rồi một vị thần
sống trong cây manila ở cuối đường đi kinh hành, ngồi trên một bậc thềm
mà khóc. Vị trưởng lão hỏi: “Ai đấy?”, “Con đây, Maniliyà, bạch đại
đức.” “Tại sao con khóc?” “Vì ngài sắp đi xa”, “Ta ở đây có lợi ích gì
cho người?”, “Bạch đại đức trong khi Ngài ở, các phi nhân
(non-humanbeing) ở đây đối xử với nhau ôn hoà tử tế. Bây giờ Ngài sắp bỏ
đi, thì chắc chắn chúng sẽ khởi sự gây lộn và nói tục”. Vị trưởng lão
bảo “Nếu sự sống của ta làm cho các người an vui, thì tốt” và Ngài lưu
lại thêm bốn tháng nữa, rồi Ngài lại nghĩ đến chuyện ra đi, vị thần lại
khóc như trước. Bởi thế, Ngài quyết định sống luôn ở đây. Và chính nơi
đây Ngài đã nhập Niết Bàn”.
Chắc chắn, những người không tin tưởng vào sức mạnh
của lòng từ thì sẽ cười chế nhạo và cho câu chuyện trên chỉ là trò mê
tín nhảm nhí. Nhưng nếu những kẻ tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của
lòng từ thì chẳng những tin tưởng rằng sức mạnh ấy không chỉ dời non lấp
bể mà còn có thể lay động được hàng triệu triệu thế giới, kể cả thế giới
của phi nhân mà con mắt thịt của chúng ta không bao giờ nhìn thấy được.
Lời kết
Đúng ra Buddhaghosa không phải là người đi tìm kiếm
mà nói cho chính xác thì ông đã đến được nơi mà ông đã tìm kiếm đó rồi.
Tất cả những gì Buddhaghosa viết ra là để chỉ bày cho những kẻ đi sau,
những kẻ cũng đi tìm kiếm như ông trước đó, và Tolstoy là một trong
những người đang đi tìm kiếm ấy. Nhưng liệu Tolstoy có tìm thấy được ý
nghĩa cho đời mình như Buddhaghosa đã tìm thấy không?
David Patterson cũng đã từng băn khoăn như vậy khi
viết lời dẫn nhập cho tác phẩm Tự Thú của Tolstoy: “Sau cùng,
người ta có thể hỏi liệu Tolstoy có bao giờ thực sự tìm thấy ý nghĩa của
cuộc sống hay cái chân lý mà ông tìm kiếm? Về mặt này, bất luận người ta
nói gì đi nữa, thì rõ ràng là ông đã tiếp tục cuộc truy tầm của mình cho
đến ngày nhắm mắt vào năm 1910: Đời ông là một cuộc đời đặc trưng hóa
bởi nhiều sự tìm kiếm, cũng nhiều bằng sự tìm thấy. Quả thật, cái ý
nghĩa mà ông phấn đấu để đạt tới, tự nó tiết lộ ra trong cuộc truy tầm
nhiều hơn là trong sự phát hiện, và việc nêu câu hỏi và ý nghĩa cuộc
đời thì quan trọng hơn là việc trả lời câu hỏi ấy.”
Như vậy, chẳng có gì tuyệt vọng, chẳng có gì vô
nghĩa, nếu mỗi người trong chúng ta đều theo chân thái tử Tất Đạt Đa của
hơn hai mươi thế kỷ trước, can đảm vứt bỏ tất cả lại sau lưng để lên
đường tìm kiếm ý nghĩa cho chính đời mình như Tolstoy cũng đã làm như
vậy khi viết: “Giống như Tất Đạt Đa, tôi không tìm thấy lạc thú nào
trong cuộc đời một khi đã đi tới chỗ biết cái gì là tuổi già, sự đau
khổ, và cái chết.”
Và chúng ta có quyền tin tưởng một cách tuyệt đối
rằng, ngày nào trên thế giới đau khổ này còn có người đi tìm kiếm trong
cô độc thì ngày ấy chúng ta vẫn còn tiếp tục tin tưởng và hy vọng vào
cuộc đời…
Nha Trang, mùa thu 2009
T.P.A.
|