TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC PHÁP LUÂN
Số 11 -  PL. 2553
[MỤC LỤC]

 

Tư liu nghiên cu Câu-xá


TUỆ SỸ 

(tiếp theo số trước)

Giới thiệu 

Luận Câu-xá, Chương II Phân biệt Căn, phân tích các tổ chức sống. Tổ chức sự sống là cơ cấu mà các thành phần của nó tồn tại và hoạt động trong mối quan hệ tất yếu chịu chi phối bởi quy luật của pháp hữu vi. Không có một tồn tại độc lập, và cũng không có một hoạt động đơn độc. Khi một sự thể xuất hiện, quan hệ với nó là nhiều sự thể khác cũng đồng thời xuất hiện. Tùy theo mục đích của tồn tại và hoạt động, một tập hợp bao gồm một số thành phần tất yếu, loại ra ngoài những yếu tố không tương thích, chống trái lẫn nhau. Quan hệ này được gọi là tất yếu câu sinh.

Bởi vì quan hệ câu sinh tùy thuộc bản chất của tồn tại, do đó, tổng quát mà nói, cơ cấu quan hệ phân thành hai hệ thống: các tổ hợp sắc và các tổ hợp tâm thức.

Tổ hợp sắc bao gồm những đơn vị cực nhỏ, có thể gọi là vật thể, hay chất thể (dravya). Khi họa sĩ phất lên khung vẽ một tảng màu; tảng màu ấy là sự tổng hợp của nhiều màu khác nhau theo sự lựa chọn tùy hứng của họa sĩ. Về cơ bản, có thể phân tích khối màu tổng hợp ấy thành ba màu chính. Mỗi màu chính như vậy là một chất thể (dravya). Tuy nhiên, trong ý nghĩa siêu hình, đó không phải là chất thể thực. Chất thể thực là cái mà tâm thức bắt nắm được. Xanh hay đỏ chỉ là phẩm tính, là dấu hiệu thông tin cho biết sự hiện hữu của chất thể. Nói cách khác, chất thể là tụ điểm mà trên đó màu sắc, tức các phẩm tính, được hiển hiện. Vậy, khi mũi ngửi được mùi hương, trong mùi ấy có bao nhiêu tụ điểm để cho phẩm tính hương được nhận thức? Nói cách khác, tất yếu cùng xuất hiện như là hương có bao nhiêu chất thể. Đây là phân tích về các tổ hợp sắc được nói trong phần “Sắc pháp câu sinh”.

Mặt khác, trong hoạt động của tâm thức, các yếu tố tồn tại của tâm thức cũng được phân tích như vậy. Khi nhận thức vươn bắt đối tượng tương ứng của nó, hoạt động nhận thức là một cơ cấu tác thành bởi các tổ hợp tâm lý, và mỗi tổ hợp bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, gọi là các tâm sở. Mỗi tâm sở như vậy cũng được xem như là một chất thể. Tùy theo đối tượng nhận thức, mỗi tổ hợp có chức năng riêng. Trong mỗi tổ hợp, các chất thể tâm thức liên hệ cùng lúc xuất hiện và cùng hợp tác để bắt nắm đối tượng, phán đoán và quyết định hành động phù hợp. Đây là phần phân tích về các tâm sở, các chức năng và những quan hệ tồn tại và hợp tác của chúng.

Như vậy, trong tiết hai của chương này, về phân tích các chất thể câu sinh, bao gồm hai phần chính: (a) phần một, về chất thể vật chất, gọi là “sắc pháp câu sinh”; (b) phần hai, phân loại các tâm sở, tức phân tích các chất thể tâm thức, gọi là “tâm pháp câu sinh”.

Cũng như trong tiết 1, phần dịch Việt ở đây do nhóm Phiên dịch Phạn Tạng thực hiện.

Tuệ Sỹ

 

Phẩm hai: PHÂN BIỆT CĂN

Tiết hai: CÁC PHÁP CÂU SINH

 

[18b15][1] Ở đây, cần phải tư duy phân tích: Các pháp hữu vi, có những đặc tính bất đồng[2] như vậy; chúng sinh khởi độc lập với nhau,[3] hay tất yếu câu sinh?[4]

Tất yếu câu sinh.

I. SẮC PHÁP CÂU SINH

1. THÀNH PHẦN TỔ HỢP SẮC

Một cách tổng quát, hết thảy các pháp bao gồm trong năm phẩm loại: một, sắc; hai, tâm; ba, tâm sở; bốn, tâm bất tương ưng hành; năm, vô vi.

Vô vi là pháp không sinh khởi nên trong đây không đề cập. Nay, trước hết nói rõ sắc tất yếu có câu sinh.

Trong Dục giới, vi tụ không có thanh

Và không thuộc căn, có tám sự;

Loại câu hữu thân căn có chín sự.

Các căn khác, có mười sự //22[5]

[118b22] Tổ hợp sắc pháp cực kỳ vi tế gọi là vi tụ[6] để nêu rõ ở đây không còn cái gì nhỏ hơn nữa. Trong Dục giới, cực vi này, không có thanh và không phải là căn[7], bao gồm tám sự vật[8] cộng đồng sinh khởi, không giảm thiểu bất cứ một sự nào. Tám pháp đó là gì? Đó là bốn đại chủng và bốn sở tạo gồm sắc, hương, vị, xúc.

Các tập hợp cực vi không có âm thanh, nhưng có căn[9]; nhóm này có chín hoặc mười sự vật cộng đồng sinh khởi. Nếu là tụ câu hữu căn thân, có chín sự vật cộng đồng sinh khởi; trong đó tám sự như trên, và thân là thứ chín.

Vi tụ câu hữu với các căn còn lại gồm mười sự vật câu sinh[10], chín sự như trên, thêm một như mắt v.v. Mắt, tai, mũi, lưỡi tất yếu không tách rời thân. Vì trong hỗ tương đối chiếu, vị trí của chúng khác nhau.[11]

Các vi tụ nêu trên nếu có thanh phát sinh, theo thứ tự, số tăng dần chín, mười, mười một.[12] Bởi vì xứ nào khi sinh khởi câu hữu với thanh xứ ấy không tách rời khỏi căn, tức thanh sinh khởi do nhân đại chủng thuộc loại hữu chấp thọ.[13]

2. XÚC GIÁC VẬT CHẤT

i. Xúc đại chủng

Nếu bốn đại chủng không tách rời nhau khi sinh, vậy tại sao chỉ có thể tiếp nhận một trong các tính chất cứng, ướt, nóng, chuyển động trong các tụ, chứ không tiếp nhận những thứ khác cùng lúc?

a. Do thế dụng tăng

Ở trong một tụ mà cái nào có thế lực nhạy bén hơn[14] thì nó rõ ràng hơn nên có thể được tiếp nhận. Như cảm giác sự xúc chạm của một bó gồm kim nhọn và que.[15] Hoặc như nếm vị hỗn hợp của muối và bột gạo rang[16].

Vì sao trong tụ kia mà biết còn có các đại khác?

Do có các tác nghiệp là duy trì, kết hợp, phát triển và vận chuyển[17].

b. Do duyên dụng tăng

1. Có thuyết nói:[18] do bởi khi gặp duyên, những thứ như cứng v.v., bèn có các trạng thái trôi chảy v.v… Như trong tụ của nước, do cực lạnh mà phát sinh cảm giác nóng.[19]

Tuy[20] không tách rời với nhau[21], nhưng dụng của lạnh tăng. Như cảm thọ và âm thanh, chỉ khác nhau do dụng có mạnh yếu.[22]

c. Thuyết chủng tử

Một số luận sư khác[23] nói, còn lại trong tụ này, do chủng tử chưa thành tự thể tồn tại,[24] vì Kinh có nói, “Trong tụ của gỗ có nhiều giới khác nhau.”[25] Giới ở đây là chủng tử.

ii. Xúc tạo sắc

Vì sao biết trong gió có sắc màu?[26]

Ý nghĩa này do tin chứ không do suy luận mà biết.[27] Bởi vì, hoặc do kết hợp với gió mà hương được tiếp nhận; hoặc vì nó không tách rời với sắc màu.[28]

3. SẮC TỤ THƯỢNG GIỚI

Như trước đã nói, do bởi hương và vị không tồn tại trong Sắc giới[29]; do đó, ở đó vi tụ khi không có thanh gồm sáu, bảy, tám phần tử câu sinh; khi có thanh gồm bảy, tám, chín phần tử câu sinh. Điều này có thể chuẩn theo đó mà biết, cho nên không cần đề cập.

4. PHẢN BÁC

Trong đây nói vật thể,[30] là y trên vật thể[31] mà nói, hay y trên xứ mà nói?[32]

Nếu vậy cái nào có lỗi?

1. Cả hai đều có lỗi.[33] Nếu y trên vật thể mà nói thì tám, chín, mười vật thể là quá ít, vì các tập hợp cực vi ắt có hình sắc[34] do nhiều cực vi tích tụ. Tính nặng, nhẹ tất yếu phải có một; tính trơn, nhám cũng như vậy, tất yếu chọn một; hoặc có trường hợp lạnh, đói, hoặc khát.[35] Nếu vậy, con số được nói trên phạm lỗi là quá ít.

Nếu y trên xứ[36] mà nói, thì tám, chín, mười vật thể là quá nhiều, vì bốn đại chủng được bao gồm trong xúc xứ, vậy nên nói số vật thể chỉ có bốn.[37] Vậy thì con số được nói trên phạm lỗi là quá nhiều.

2. Cả hai đều không có lỗi.[38] Nên biết rằng, ở đây nói vật thể là một phần y trên thể mà nói, đó là đại chủng làm sở y[39]; và một phần y trên xứ mà nói, đó là tạo sắc năng y[40].

3. Nếu vậy, yếu tố đại chủng[41] phải có nhiều, vì mỗi tạo sắc đều có sở y là bốn đại chủng.[42]

4. Nên biết, ở đây là y trên thể loại[43] mà nói. Vì thể loại của tất cả bốn đại chủng không có sự sai khác.

5. Cần gì phải phân biệt bằng những từ như thế?[44] Từ ngữ được sử dụng là tùy theo ý dục, nhưng ý nghĩa thì cần phải suy cứu[45].

 

II. TÂM PHÁP CÂU SINH

Như vậy đã giải thích xong sự tất yếu câu sinh của sắc. Các tất yếu câu sinh còn lại, nay tiếp theo sẽ giải thích.

Tâm, tâm sở tất yếu câu sinh

Cùng với tướng các hành,[46] hoặc (với) đắc//23ab.[47]

[19a01] Tâm và tâm sở tất yếu câu sinh, khi khuyết một[48] thì không thể sinh khởi.[49]

Các hành tức là tất cả pháp hữu vi. Đó là sắc, tâm, tâm sở và tâm bất tương ưng hành. Từ “tất yếu câu sinh” trong câu tụng trên đọc liền xuống đây. Nghĩa là các hành như sắc, tâm, v.v., khi sinh chúng nhất định cùng sinh với bốn tướng của hữu vi.

Từ “hoặc đắc”,[50] nghĩa là trong các hành, đắc chỉ có thể cùng sinh với pháp thuộc hữu tình, mà không thể cùng sinh với các pháp khác, cho nên nói “hoặc”[51].

1. PHÂN LOẠI TÂM SỞ

Trên đây vừa đề cập đến tâm sở; vậy tâm sở là gì?

Tâm sở gồm có năm

Đại địa pháp, v.v., do loại biệt//23cd.[52]

[19a08] Các tâm sở pháp lại có năm phẩm. Năm phẩm ấy là gì? 1. Đại địa pháp, 2. Đại thiện địa pháp, 3. Đại phiền não địa pháp, 4. Đại bất thiện địa pháp, 5. Tiểu phiền não địa pháp.

i. Đại địa pháp

Địa là hành xứ [53]. Nếu pháp nào là hành xứ của pháp kia, thì nó được nói là “địa”[54] của pháp ấy. Vì môi trường hoạt động của những pháp ấy, cho nên gọi là đại địa. Trong đây, nếu những địa nào mà sở hữu tính cách rộng lớn, chúng được gọi là đại địa pháp.[55] Nghĩa là những pháp luôn luôn hiện hữu trong tất cả tâm.[56] Những pháp ấy là gì?

Thọ, tưởng, tư, xúc, dục,

Huệ, niệm và tác ý,

Thắng giải, tam-ma-địa,

Phổ biến tất cả tâm//.24[57]

[19a16] Theo truyền thuyết,[58] mười pháp đã được liệt kê như thế, chúng hòa hợp và hiện hữu khắp trong mọi sát na tâm.

1. Trong đây, thọ nghĩa là ba sự lãnh nạp[59] khác nhau: khổ, lạc và phi cả hai.

2. Tưởng[60] là nắm bắt hình tướng sai biệt của đối tượng.

3. Tư là cái khiến tâm tạo tác.[61]

4. Xúc[62] phát sinh bởi sự hòa hợp của căn, cảnh, thức,[63] có tác dụng xúc chạm.

5. Dục là mong muốn hành động được tiến hành.[64]

6. Huệ có khả năng tuyển trạch đối với pháp.[65]

7. Niệm là ghi nhớ rõ, không quên đối tượng.

8. Tác ý là cái khiến tâm cảnh giác.[66]

9. Thắng giải là cái ấn khả đối tượng.[67]

10. Tam-ma-địa[68] là tính chất tâm chuyên chú vào một điểm.[69]

Những đặc tính sai biệt của tâm và tâm sở rất vi tế, từng cái riêng biệt trong những hoạt động liên tục mà còn khó phân biệt, hà huống trong cùng một sát na chúng đồng thời hiện khởi.[70] Cũng như các loại thảo dược có hình sắc được sắc căn nắm bắt, mà hương vị sai biệt của chúng còn khó mà nhận biết được, hà huống với pháp vô sắc chỉ có nhận thức bằng giác huệ.

Như vậy đã nói xong mười đại địa pháp.

ii. Đại thiện địa pháp

Địa của pháp đại thiện gọi là đại thiện địa.[71] Trong đây, tất cả những pháp nào mà địa của đại thiện sở hữu, chúng được gọi là đại thiện địa pháp. Nghĩa là những pháp luôn luôn hiện hữu trong các thiện tâm. Những pháp ấy là gì?

Tín và bất phóng dật,

Khinh an, xả, tàm, quý,

Hai căn, bất hại, cần,

Hiện hữu khắp thiện tâm//25[72]

[19b02] Các pháp này duy chỉ phổ biến trong các thiện tâm.

1. Ở đây, tín nghĩa là làm cho tâm lắng sạch.[73] Có thuyết cho rằng, chấp nhận có đế, thật, nghiệp, quả gọi là tín[74].

2. Bất phóng dật là tu tập các thiện pháp. – Nhưng, xa lìa các bất thiện pháp sao cũng gọi là tu[75]? – Vì nó (bất phóng dật) có đặc tính là chuyên chú nơi thiện.[76] Theo Kinh của một số bộ phái khác[77] có giải thích như sau: cái thủ hộ tâm gọi là bất phóng dật.

3. Khinh an là tính linh hoạt của tâm.[78] – Há chẳng phải Kinh cũng có nói thân khinh an sao?[79] – Tuy không phải không nói, nhưng nên biết cũng như nói về cảm thọ của thân vậy.[80] – Vậy sao có thể lập khinh an làm giác chi? [81] – Nên biết trong đây thân khinh an là tính linh hoạt của thân.[82] – Lại nữa, làm sao có thể nói thân khinh an là giác chi?[83] – Vì nó thuận với giác chi, nên không có gì sai lầm. Vì thân khinh an dẫn khởi giác chi là tâm khinh an giác chi.[84]

Có nơi nào khác được thấy nói như vậy chăng?[85]

Có. Như Kinh[86] nói: Hỷ và pháp thuận với hỷ[87] gọi là hỷ giác chi. Sân cùng với các nhân duyên đi cùng với nó[88] gọi là sân nhuế cái. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh cần gọi là huệ uẩn.[89] Tư duy và cần tuy tính chất của nó không phải là huệ nhưng tùy thuận với huệ nên cũng gọi là huệ. Do đó, thân khinh an vì tùy thuận với giác chi nên được gọi là giác chi thì không có gì sai.

4. Tính bình đẳng của tâm, tính không cảnh giác[90] gọi là xả.[91]

Làm sao mà trong một tâm vừa có tính cảnh giác của tác ý[92] vừa có tính không cảnh giác của xả cùng khởi lên một lần?[93]

Há trước chẳng nói là đặc tính của tâm và tâm sở rất vi tế khó nhận biết đó sao![94]

Có cái tuy khó nhận biết, nếu quan sát thẩm xét kỹ hẳn có thể nhận biết được. Nhưng điều này thì cực kỳ khó nhận biết, đó là hai cái tương phản lại không chống trái nhau[95]?

Có cảnh giác nơi một đối tượng này, và không cảnh giác nơi đối tượng khác. Hai trường hợp này hoàn toàn cách biệt nhau thì có gì là chống trái?[96]

Nếu vậy[97] thì hai tâm sở ấy phải không cùng duyên đến một cảnh. Hoặc tất cả đều phải tương ưng với nhau?[98] Các pháp khác thuộc cùng chủng loại như vậy, trong đó, nếu nó xảy ra,[99] nên theo lý thú ấy mà nhận định. Nay trong đây cũng nên biết như thế.

5-6. Hai loại tàm, quý sẽ giải thích sau.[100]

7-8. Hai căn[101] là vô tham, vô sân. Thiện căn vô si có thể tính là huệ như đã nói trong đại địa pháp nên không cần lập lại trong đại thiện địa pháp.

9. Bất hại[102] là không gây tổn hại.

10. Cần là sự hăng hái của tâm.[103]

Như vậy đã nói xong đại thiện địa pháp.

iii. Đại phiền não địa pháp

Địa của pháp phiền não lớn nên gọi là đại phiền não địa.[104] Trong đó pháp nào mà có địa là phiền não, nó được gọi là pháp thuộc đại phiền não địa. Tức là những pháp luôn có mặt trong tâm ô nhiễm.

Đó là những pháp nào?

Si, dật, đãi, bất tín,

Hôn, trạo hằng duy nhiễm.//26ab[105]

[19c04] 1. Trong đây, si là ngu si, tức vô minh, vô trí, vô hiển.[106]

2. Dật nghĩa là phóng dật, tức không tu các thiện nghiệp. Đó là pháp được đối trị bằng sự tu tập các thiện.

3. Đãi nghĩa là giải đãi. Đó là cái được đối trị bởi cần (tinh tấn) như được nói trên.

4. Bất tín nghĩa là sự không trừng tịnh (lắng trong) của tâm, được đối trị bởi tín như đã nói.

5. Hôn là hôn trầm. Luận Đối pháp[107] nói: “Hôn trầm là gì? Tính nặng nề của thân, tính nặng nề của tâm; tính không linh hoạt của thân, tính không linh hoạt của tâm; tính hôn trầm của thân, tính hôn trầm của tâm. Đó gọi là hôn trầm.”

Đây là tâm sở, sao lại nói là thân? – Như nói cảm thọ thuộc thân thì đâu có lỗi gì[108].

6. Trạo nghĩa là trạo cử, nó khiến cho tâm không được yên tĩnh.[109]

Chỉ có sáu loại như thế gọi là đại phiền não địa pháp.

Há không phải rằng trong Căn bản A-tỳ-đạt-ma đại phiền não địa pháp được nói có mười tâm sở? Vả lại cũng trong luận ấy không nói đến hôn trầm?[110] – Mười tâm sở đó là những gì? – 1. Bất tín, 2. giải đãi, 3. thất niệm, 4. tâm loạn, 5. vô minh, 6. bất chánh tri, 7. phi lí tác ý, 8. tà thắng giải, 9. trạo cử, 10. phóng dật.

Này Thiên Ái, ở đây ngài chỉ biết bắt lời[111] mà không biết ý chỉ[112].

Vậy ý chỉ gì?

Thất niệm, loạn tâm, bất chánh tri, phi lý tác ý và tà thắng giải đã trình bày trong pháp thuộc đại địa nên không lặp lại trong đại phiền não địa pháp này nữa. Như thiện căn vô si, thể tính của nó là huệ nên nó không thuộc đại thiện pháp. Các tâm sở cũng như vậy. Nghĩa là, niệm nhiễm ô gọi là thất niệm. Định nhiễm ô gọi là tâm loạn. Các huệ nhiễm ô gọi là bất chánh tri. Tác ý, thắng giải nhiễm ô gọi là phi lý tác ý và tà thắng giải.[113]

Nếu vậy, pháp đại địa cũng gọi là pháp đại phiền não địa sao? Cần phân biệt bốn lựa chọn.[114] Thứ nhất: thọ, tưởng, tư, xúc, dục. Thứ hai: bất tín, giải đãi, vô minh, trạo cử, phóng dật. Thứ ba: năm pháp như đã nói trên: niệm v.v.[115] Thứ tư: trừ các trường hợp đã kể.[116]

Quan điểm khác[117] cho rằng tà đẳng trì (định),[118] không phải chính là tâm loạn này.[119] Trường hợp bốn lựa chọn nói trên không giống như đây.[120]

Lại nữa, quan điểm[121] cho rằng hôn trầm cùng tương ưng với tất cả phiền não, nhưng không được kể trong đại phiền não địa pháp. Vậy thuyết nào sai lầm?[122] 

Có giải thích nói, đáng lý nó được kể ở đây, nhưng không kể đến vì nó thuận đẳng trì. Theo giải thích này, hành giả có hôn trầm có thể nhanh phát sinh định, hành giả có trạo cử thì không như vậy.[123]

Ai thuộc loại hành giả hôn trầm mà không phải là hành giả trạo cử? Ai là hành giả trạo cử mà không phải là hành giả hôn trầm? Hai trạng thái này không bao giờ không cộng hành. Tuy vậy, nên biết rằng tùy theo tính vượt trội của trạng thái nào mà nói đến hành giả loại ấy.

Tuy biết rằng tùy theo trạng thái nào vượt trội[124] mà loại hành giả ấy được nói đến, nhưng căn cứ bản chất mà lập địa pháp. Cho nên địa pháp này được chứng minh chỉ có sáu. Vì Sáu tâm sở này duy chỉ cùng khởi với tâm nhiễm ô chứ không khởi với tâm khác.

Như vậy đã nói xong pháp đại phiền não địa.

iv. Đại bất thiện địa pháp

Cơ địa phổ biến của pháp bất thiện gọi là đại bất thiện địa.[125]

Trong đây pháp nào có đại bất thiện địa gọi pháp đó là đại bất thiện địa, nghĩa là pháp luôn hiện hữu với tâm bất thiện. Pháp ấy là gì?

Phổ biến tâm bất thiện,

Duy vô tàm, vô quý.//26cd[126]

[20a10] Duy hai tâm sở này chỉ câu hành với tất cả tâm bất thiện, đó là vô tàm, vô quý. Cho nên chỉ có hai loại này được gọi là pháp bất thiện địa. Đặc tính của hai pháp này sẽ được giải thích sau.[127]

Như vậy đã nói xong đại bất thiện địa pháp.

v. Tiểu phiền não địa pháp

Những cơ địa của pháp phiền não thứ cấp[128] gọi là tiểu phiền não địa. Trong đây pháp nào có tiểu phiền não địa, nó được gọi là tiểu phiền não địa pháp. Đó là những pháp cùng khởi với tâm nhiễm ô trong phạm vi hạn hẹp. Pháp ấy là gì?

Phẫn, phú, xan, tật, não,

Hại, hận, siểm, cuống, kiêu;

Loại như vậy được gọi

Tiểu phiền não địa pháp.//27[129]

[0020a18] Loại pháp như thế, duy chỉ[130] tương ưng với vô minh, thuộc tu sở đoạn, phát sinh trong phạm vi ý thức.[131] Chúng hiện hành riêng rẻ, cho nên gọi là tiểu phiền não địa pháp.[132] Những pháp này sẽ được giải thích chi tiết sau trong phần tùy phiền não.[133]

Ngoài năm phẩm tâm sở đã được trên đây, còn có các tâm sở bất định;[134] đó là các pháp ố tác, thụy miên, tầm, tứ, v.v…[135]

2. TẤT YẾU CÂU SINH

i. Dục giới

Trong đó, nên thuyết minh, trong những tâm phẩm nào có bao nhiêu tâm sở tất yếu câu sinh.

Dục có tầm có tứ,

Ở trong tâm phẩm thiện,

Hai mươi hai tâm sở;

Có khi thêm ố tác,//28[136]

Đối với bất thiện bất cộng,

Vớ kiến, chỉ hai mươi,

Bốn phiền não, phẫn v.v.,

Ố tác, hai mươi mốt.//29[137]

Hữu phú có mười tám,

Vô phú rằng mười hai,

Thụy miên khắp chẳng trái,

Nếu có đều thêm một.//30[138]

[20b01] Vả, trong dục giới phẩm tâm có năm: 1. thiện chỉ có một. 2-3. bất thiện có hai: tương ưng với bất cộng vô minh và tương ưng với các phiền não khác; 4-5. vô ký có hai: hữu phú vô ký và vô phú vô ký.

Tuy nhiên, tâm ở dục giới nhất định có tầm có tứ, nên tâm phẩm thiện nhất định có hai mươi hai tâm sở cùng sinh, đó là mười đại địa pháp, mười đại thiện địa pháp và hai bất định tầm và tứ.

Không phải các thiện tâm luôn luôn có ố tác; khi có ố tác, nó tăng đến hai mươi ba.

Ố tác[139] là gì? Vì có bản chất ghét điều đã làm, gọi là ố tác. Nên biết trong đây pháp có sở duyên là ố tác gọi là ố tác, đó là tính truy hối của tâm mà sở duyên là ố tác[140]. Như giải thoát môn có sở duyên là không tính thì được gọi là không (giải thoát môn)[141]; vô tham mà có sở duyên là bất tịnh thì được gọi là bất tịnh (quán).[142]

Lại nữa, điều được thấy trong thế gian, là quy ước theo sở y mà nói năng y. Như nói, “Tất cả thôn, ấp, quốc độ đều đến tụ họp.”[143] Ố tác chính là sở y của truy hối. Cho nên căn cứ sở y nói là ố tác.

Vả lại, y theo thể quả mà giả lập tên của nhân, như nói «Sáu xúc xứ này, nên biết, là túc tác nghiệp.»[144]

Nếu sở duyên là sự việc không được thực hiện,[145] sao gọi là ố tác? Đối với việc không làm cũng lập thành tên ố tác. Như truy hối rằng «Trước đây tôi đã không thực hiện sự việc như thế. Đó là việc làm xấu (ố tác) của tôi.»[146]

Ố tác như thế nào gọi là thiện? Đó là tính truy hối trong tâm đối với việc thiện đã làm, với việc ác mà không làm; trái lại, được gọi là ố tác bất thiện. Mỗi loại trong hai đều y trên hai cơ sở mà phát sinh.

1. Trong bất thiện, nếu là tâm phẩm bất cộng, tất có hai mười tâm sở câu sinh; đó là mười đại địa pháp, sáu đại phiền não địa pháp, hai đại bất thiện địa pháp, cùng với hai bất định là tầm và tứ.//

Sao gọi là tâm bất cộng[147]? Tâm phẩm này duy chỉ có vô minh[148], không có các phiền não khác như tham, v.v…

2. Trong bất thiện, tâm phẩm tương ưng với kiến cũng có 20 tâm sở câu sinh. Tên gọi như đã được nói trong tâm phẩm bất cộng trên, không phải thêm kiến[149] mà có 21; vì chính huệ trong 10 đại địa pháp có tác dụng đặc biệt nên được gọi là kiến.[150]

Nói rằng tâm bất thiện tương ưng với kiến, là nói trong tâm này hoặc có tà kiến, hoặc có kiến thủ hoặc giới cấm thủ.[151]

3. Trong tâm phẩm bất thiện tương ưng với bốn phiền não tham, sân, si, mạn, có 21 tâm sở câu sinh: 20 như ở bất cộng, thêm một trong 4 tâm sở, tham v.v…

4. Tương ưng với một trong các tùy phiền não, phẫn v.v… nêu trên, cũng có 21 tâm sở câu sinh: 20 như bất cộng thêm một trong các tùy phiền não, phẫn v.v…

5. Tâm phẩm tương ưng với ố tác bất thiện cũng có 21 loại tâm sở câu sinh, tức ố tác là tâm sở thứ 21.

Tổng quát mà nói, trong các phẩm tương ưng với bất thiện, bất cộng và kiến duy chỉ có 20, ngoài ra các phẩm tương ưng với 4 phiền não và tùy phiền não có 21.

6. Nếu trong tâm phẩm vô ký hữu phú[152] thì chỉ có 18 tâm sở câu sinh: 10 pháp đại địa, 6 pháp đại phiền não địa, cùng với 2 tâm bất định là tầm và tứ.

Tâm vô ký hữu phú ở trong Dục giới, là những thứ tương ưng với tát-ca-da-kiến và biên chấp kiến, trong đó kiến không tăng, nên hiểu, như trước đã giải thích.

Trong các tâm vô ký vô phú còn lại, được cho là chỉ có 12 tâm sở câu sinh: 10 pháp đại địa cùng với 2 bất định tầm và tứ.

Các luận sư nước ngoài[153] cho rằng ố tác cũng thông với vô ký; tâm phẩm tương ưng với nó bấy giờ có 13 tâm sở câu sinh.

7. Nên biết rằng thụy miên không trái nghịch với hết thảy tâm phẩm được nêu trên, vì nó thông cả 3 tánh thiện, bất thiện và vô ký.[154] Bất cứ tẩm phẩm nào có nó, đó đều có tăng: 22 tăng thành 23 tâm sở, nếu là 23 tăng thành 24. Tâm sở bất thiện, vô ký, nên biết cũng theo thể lệ này.

ii. Thượng giới

Đã nói định lượng của các tâm câu sinh với các tâm sở trong Dục giới. Nay sẽ nói đến Thượng giới.

Sơ định trừ bất thiện

Cùng ố tác, thụy miên;

Trung định loại trừ tầm;

Trên, trừ từ, các loại//31.[155]

[20c19] 1. Trong sơ tĩnh lự, loại trừ duy chỉ bất thiện, ố tác, thụy miên[156]; các tâm sở còn lại đã kể trên đều có mặt đầy đủ. Nói “duy chỉ bất thiện”,[157] là chỉ các phiền não gồm sân, và (tùy phiền não gồm) phẫn các thứ (nhưng) trừ siểm và cuống, và vô tàm vô quý. Nói “còn lại đều có mặt”, như được kể trong Dục giới.[158]

2. Tĩnh lự trung gian loại trừ những tâm sở đã loại trừ kể trên, lại trừ thêm tầm, ngoài ra đều có đầy đủ.

Tĩnh lự thứ hai trở lên cho đến Vô sắc giới, loại trừ những tâm sở đã loại trừ kể trên, lại trừ tầm và tứ.

Từ “các loại”[159] ở đây chỉ rõ trừ thêm cuống, siểm; ngoài ra như đã kể trên đều có đủ[160].

Kinh nói, cuống, siểm cao nhất cho đến Phạm thiên, vì quan hệ với đại chúng[161]; từ cõi này trở lên không còn 2 tâm này nữa.

Khi Đại Phạm thiên đang ngồi giữa hội chúng Phạm thiên của ông, bỗng Tỳ kheo Mã Thắng đến hỏi: “Trong địa vị nào thì bốn đại chủng này tận diệt không còn dư tàn?” Phạm vương không biết chúng diệt tận vô dư trong địa vị nào, bèn trả lời bằng cách nói lãng: “Ta là Đại phạm, là đấng Tự tại, là đấng Sáng tạo, là Tạo hóa chủ, là đấng Sinh sản, là đấng Dưỡng dục, là Tổ phụ của tất cả.” Sau khi nói như vậy, Phạm vương bèn dẫn Tỳ kheo Mã Thắng ra khỏi hội chúng Phạm thiên, nói những lời chữa thẹn, bảo Tỳ kheo quay trở về hỏi Phật[162].

Như vậy đã nói số lượng tâm sở của các tâm trong các giới địa. 

3. SAI BIỆT LOẠI TỢ

i. Vô tàm - vô quý

Không tàm, quí: không trọng,

Không thấy sợ tội lỗi.

Ái, kính là tín, tàm,

Chỉ có ở Dục, Sắc.[163]

[21a07] 1. Sự khác nhau giữa vô tàm và vô quý ở đây là, sự không cung kính, không sùng trọng,[164] không úy kỵ và không phục tùng[165] đối với các phẩm đức và người có phẩm đức,[166] gọi l vô tàm. Pháp đối nghịch với sự cung kính ấy, là pháp mà các bậc thiện sĩ chê trách, gọi là tội.[167] Đối với tội này không thấy sợ, gọi là vô quý. Ở đây nói sợ là nêu rõ quả không đáng ưa, nó làm phát sinh sự sợ hãi.

Nói “không thấy sợ” là muốn nêu rõ nghĩa gì? Muốn nói thấy mà không sợ, gọi là không thấy sợ, hay là không thấy (quả) đáng sợ kia, gọi là không thấy sợ?[168] Nếu vậy, sai lầm ở chỗ nào?

Cả hai đều có sai. Nếu thấy mà không sợ, nên biết đó là trí huệ.[169] Nếu không thấy (quả) đáng sợ kia nên biết đó là vô minh. Ở đây hợp từ này không nói đến sự thấy hay không thấy.

Vậy nó nói đến cái gì?

Ở đây chỉ rõ có một pháp, vốn là tùy phiền nào, nó làm nhân cho hai cái ấy, được gọi là vô quý.[170]

2. Có luận sư[171] nói: Đối với tội đã làm, quán sát mình mà không thấy xấu hổ, gọi là vô tàm; quán sát người mà không thấy xấu hổ, gọi là vô quý.[172]

Nếu vậy, hai sự quan sát này làm sao sinh khởi cùng một thời?

Không nói hai sự này sinh khởi cùng một thời, khi xét về mình hay về người. Nhưng khi xét về tự thân mà tâm không xấu hổ vượt trội gọi là vô tàm. Lại nữa, khi suy xét về người tâm không xấu hổ vượt trội gọi là vô quý.

ii. Tàm và quý

Sự khác nhau giữa tàm và quý, nên biết, ngược lại với những điều nói trên. Nghĩa là, trái với giải thích thứ nhất, theo đó có kính trọng, có tôn sùng, có sự úy kị, có sự tùy thuộc, được gọi là tàm; thấy sợ hãi đối với tội lỗi, được gọi là quý. Trái với giải thích thứ hai, theo đó, đối với tội đã tạo ra, tự xét mình thấy hổ thẹn gọi là tàm, xét người thấy hổ thẹn gọi là quý. Đã nói xong sự khác nhau giữa tàm và quý.

iii. Ái và kính

1. Sự khác nhau giữa ái và kính :[173] Ái nghĩa là yêu thương, thể của nó là tn. Ái có hai: nhiễm ô và không nhiễm ô. Nhiễm ô, đó là tham ái,[174] như thương yêu vợ con v.v., không nhiễm ô, đó là tn, như yêu kính sư trưởng.[175]

a. Tn mà không ái, đó là tn duyên đến khổ, tập.

b. Yêu kính mà không tín là ái nhiễm ô.

c. Có cả tn và yêu kính là tín duyên đến diệt, đạo.

d. Không tín không yêu kính: ngoài ba loại trên.

2. Luận sư khác nói: Tín là chấp nhận có đức. Do tín dẫn đầu, sau mới phát sinh yêu kính, cho nên ái không phải là tín.

Kính là kính trọng, thể của nó là tàm. Như đã giải thích ở trên, tàm nghĩa là kính trọng, tôn sùng …

a. Tàm mà không kính: tàm duyên đến khổ, tập.

b. Có cả tàm và kính: tàm duyên đến diệt, đạo.

3. Có thuyết nói: Kính là sự sùng trọng. Do kính dẫn đầu mới phát sinh xấu hổ, cho nên kính không phải là tàm. Vì liên quan đến đối tượng là bổ-đặc-già-la, nên có và không có ái, kính có thể phân làm bốn phạm trù:

a. Ái không kính: đối với vợ con và những người cùng sống chung.

b. Kính không ái: đối với sư trưởng của người khác và những người cao quý có đức.

c. Có cả ái, kính: tình thương đối với sư trưởng và cha mẹ, chú bác của mình.

d. Không ái không kính: ngoài ba phạm trù trên.

Như vậy, ái và kính chỉ có ở Dục giới, Sắc giới mà không có ở Vô sắc giới.

Há không phải rằng pháp đại thiện địa tín, tàm cũng có ở Vô sắc giới?

Ái, kính có hai, đó là duyên đến pháp và duyên đến bổ-đặc-già-la.[176] Ái, kính duyên đến pháp xuất hiện ở cả ba cõi. Ở đây ý nói duyên đến bổ-đặc-già-la, (nên nói) chỉ có ở Dục giới, Sắc giới mà không có ở Vô sắc giới.[177]

Như vậy, đã nói xong sự khác nhau giữa ái, kính.

iv. Tầm và tứ - mạn và kiêu

Tầm, tứ, mạn, kiêu khác nhau như thế nào?

Tầm, tứ: tâm thô, tế,

Mạn: tâm bốc đối người,

Kiêu: đắm nhiễm tự thân,         

Tâm cao không kể người.[178]//33/

a. Tầm và tứ

[21b18] Sự khác nhau giữa tầm và tứ[179], chính là tâm thô, tế. Tính thô của tâm gọi là tầm, tính vi tế của tâm gọi là tứ.[180]

Làm thế nào hai tính này có thể liên kết nhau trong một tâm?

1. Có vị giải thích[181]: Như váng sữa nổi trên bề mặt nước lạnh, và ánh nắng mặt trời chiếu trên váng sữa. Váng sữa không bị tan chảy cũng không đông lại do nhân bởi nước và mặt trời. Trong một tâm có cả tầm và tứ cũng như vậy; tâm do tầm và tứ mà không quá thô hay quá tế, cho nên trong một tâm có đủ cả hai tác dụng.

Nếu vậy,[182] tầm và tứ là nhân của thô, tế, chứ không phải là tự thể của thô, tế. Như nước và ánh nắng mặt trời là nhân làm cho (váng sữa) đông lại hay tan chảy, chứ không phải tự thể của sự đông lại hay tan chảy.

Lại nữa, tính thô, tế được quan niệm theo sự đối đãi, được hình dung tương đối cao và thấp theo sai biệt giới địa và phẩm loại[183], cho đến cõi Hữu đảnh cũng vậy nên nói cũng có[184] tầm, tứ.[185]

Lại nữa, thô và tế không có sự sai biệt về thể loại[186], nên không thể dựa vào đó mà nói tầm tứ khác nhau.[187]

2. Giải thích khác[188] nói, hai pháp tầm, tứ là nhân tố phát sinh ngôn ngữ.[189] Như Kinh nói, “Sau khi suy tầm, sau khi tứ sát, rồi mới phát sinh ngôn ngữ; không phải không có suy tầm, không có tứ sát.”[190] Trong nhân tố ngôn ngữ này, thô gọi là tầm, vi tế là tứ.

Nếu trong một tâm mà tồn tại hai pháp thô và tế riêng biệt, theo lý, có mâu thuẫn gì không?[191]

Nếu có thể loại riêng biệt thì không có gì trái lý[192]; nhưng do không có thể loại riêng biệt, nên lý thành ra mâu thuẫn; vì trong một thể loại không cho phép thô, tế cùng lúc phát sinh.

Nếu nói thể loại cũng có sai khác?[193]

Hãy nói đặc điểm về sự khác nhau của thể loại này như thế nào.[194]

Đặc điểm về sự sai biệt của hai thể loại này thật khó mà nói, nhưng đặc điểm của sự sai biệt này được hiển thị bằng mức độ thượng hay hạ.[195]

Mức độ thượng hạ không hiển thị sự sai biệt, vì mỗi một thể loại có khi ở mức độ thượng, có khi hạ.[196]

Do vậy nên biết hai pháp tầm, tứ nhất định không thể được cho là cùng tương ưng trong một tâm.[197]

Nếu vậy tại sao trong khế kinh[198] nói sơ tĩnh lự có đầy đủ năm thiền chi[199]?

Nói đầy đủ năm thiền chi chính là nói trong một địa chớ chẳng phải một sát-na, do đó không có gì sai.

Như vậy đã nói xong sự sai biệt của tầm, tứ.

b. Mạn và kiêu:

1. Mạn là sự tự đề cao của tâm ý[200] đối với người khác. Sự đánh giá về phẩm đức ưu việt của mình đối với người, hay sự tự đề cao, tự thị của tâm, khinh miệt người, gọi nó là mạn.[201]

Nhưng[202], kiêu là sự mê đắm những gì thuộc về mình[203], do bởi đó khiến tâm cao ngạo, không còn biết đến ai.[204]

2. Các Luận sư khác[205] nói, như do uống rượu mà phát sinh bốc vui kích động[206], nên gọi là say[207]; cũng vậy, loại bốc vui phát sinh do tham được gọi là kiêu.

Đó là những đặc điểm khác nhau của mạn và kiêu.

Như thế, đã nói xong các tướng trạng tất yếu câu sinh của các phẩm loại tâm, tâm sở bất đồng.

v. Tâm-ý-thức

Nhưng, trong khế kinh, tùy theo nghĩa, tâm và tâm sở được nói đến với nhiều loại danh và tưởng khác nhau. Nay sẽ phân tích sự sai biệt của các danh nghĩa này.

Tâm, ý, thức đồng một thể

Tâm, tâm sở có năm nghĩa

Hữu y và hữu duyên,

Hành tướng và tương ưng.//34[208]

[21c20] 1. Nó tập khởi nên nó được gọi là tâm.[209] Do suy lường nên nó được gọi là ý.[210] Do cá biệt nhận thức nên nó được gọi là thức.[211]

2. Lại có giải thích khác[212]: do sự sai biệt đa dạng của giới loại tịnh, bất tịnh, nên gọi là tâm.[213] Chính nó là sở y chỉ cho các thức khác nên gọi là ý[214]; là năng y chỉ nên được gọi là thức.[215] Cho nên, ba danh từ tâm-ý-thức với nội hàm của chúng, ý nghĩa tuy có khác nhưng thể của chúng đồng nhất.[216]

Cũng như ba tên gọi tâm, ý, thức; ba danh từ tâm-ý-thức với nội hàm của chúng, ý nghĩa tuy có khác nhưng thể của chúng đồng nhất; cũng vậy, các tâm, tâm sở được gọi là hữu sở y, hữu sở duyên, hữu hành tướng, và tương ưng, tên gọi và ý nghĩa tuy sai khác mà thể là một. Nghĩa là tâm, tâm sở đều được gọi là cái hữu sở y, vì có căn là sở y.[217] Hoặc chúng được gọi là cái hữu sở duyên, vì nắm bắt cảnh sở duyên.[218] Hoặc chúng được gọi là cái hữu hành tướng,[219] vì chúng sinh khởi hành tướng trên các sai biệt theo từng phẩm loại của các sở duyên[220]. Hoặc chúng được gọi là tương ưng vì đẳng hòa hợp[221].

Căn cứ trên ý nghĩa nào mà gọi là đẳng hòa hợp?

Vì có năm nghĩa. Tâm, tâm sở đồng đẳng theo năm nghĩa nên chúng được nói là tương ưng, vì sở y, sở duyên, hành tướng, thời gian, vật thể[222] đều bình đẳng.

Vật thể bình đẳng là gì? Trong một tương ưng, cũng như tâm thể là một, cũng vậy, mỗi một tâm sở pháp.[223]

Đã phân tích chi tiết nghĩa sai biệt của tâm, tâm sở.

T.S.


[1] Bản Hán, quyển 4.

[2] Tướng bất đồng 相不同, skt. bhinnalakṣaṇā; Vyākhya: những đặc tính bất đồng của các pháp hữu vi, như cái được tạo hình là sắc (rūpyate iti rūpam), cái cảm nghiệm là thọ (anubhavo vedanā), cái nắm bắt các tướng trạng là tưởng (nimittodgrahaṇaṃ), v.v., cf. i. 14c-d.

[3] Skt. bhinnotpādāḥ: sinh bất đồng, chỉ sự sinh khởi biệt lập.

[4] Skt. saha-utpāda. Hán: câu sinh 俱生: sinh đồng thời, sinh cùng lúc. Chỉ các pháp hữu vi không sinh khởi do không nhân hay do một nhân duy nhất, mà có nhiều duyên cùng sinh khởi. Giải thích của Vyākhyā về câu sinh: “utāho niyatasahotpādā api kecit santi iti”/ santi hi kecit sahotpādāḥ, na tu niyatasahotpādāḥ/ yathā cakṣurādisahotpādās tatvijñānādayaś cakṣurādīnāṃ sabhāga-tatsabhāgabhāvāt / tasmāt evaṃ pṛcchati: (Luận nói) “Hoặc phải chăng một số tất yếu câu sinh?” Một số câu sinh, nhưng không tất yếu câu sinh. Như câu khởi của mắt v.v. là thức v.v. tương ứng, nhưng mắt có đồng phần và bĩ đồng phần (i, 39b-d; khi mắt đồng phần bấy giờ nó câu sinh; khi là bĩ đồng phần, nó không câu sinh). Do đó, có câu hỏi như vậy.

[5] Hán & Skt. kā 22. kāme’ ṣṭadravyako’śabdaḥ paramāṇur anindriyaḥ/ kāyendriyī navadrayaḥ daśadravyo’ parendriyaḥ.

[6] Thích từ trong kệ tụng. Hán: vi tụ 微聚 (saṅghātaparamāṇu), tụ tập hay tập hợp cực kỳ vi tế. Trong tụng văn skt. nó là paramāṇu: cực vi. Do đó Bhāṣya giải thích: sarvasūkṣmo hi rūpasaṅghātaḥ paramāṇur ity ucyate, cực vi được nói ở đây chỉ cho tập hợp sắc cực kỳ vi tế. Vyākhyā chỉ rõ thêm: saṅghātaparamāṇur na dravyaparamāṇuḥ, đây chỉ cho cực vi của tập hợp chứ không phải cực vi của thật vật. Nói cực vi của thật vật, là chỉ cho vật thể (dravya) mà sắc được giảm trừ cho đến mức tối thiểu ở đó nó không còn có phương phần. Thuận chính lý 10 (tr.338c10-c14): “Trong sắc hữu đối, phân tích đến phần tử vi tế cuối cùng không thể phân tích thêm được nữa; phần tử này được gọi là cực vi...Nhiều cực vi như vậy liên kết nhau không tách rời thành tổ hợp; tổ hợp này được gọi là vi tụ.”

[7] Vô thanh vô căn 無聲無根; skt. aśabda, anindriya: các vi tụ khi chúng không làm phát sinh thanh và không tác thành căn. Nói vô căn, chỉ vi tụ thuộc ngoại giới. Vyākhya: kāmadhātau yadā śabdo’tra notpadyate, tadā niyatam aṣṭadravyaka eva bhavati, nāto nyūnadravyakaḥ, “Trong Dục giới, khi nào mà nơi đó thanh không phát sinh, bấy giờ tất yếu có tám vật thể, không giảm đi bất cứ một vật thể nào.” Thuận chính lý 10 (tr. 338c16-c18): Khi nào các đại chủng kích lẫn nhau bấy giờ mới phát sinh thanh. Nhưng không phải lúc nào chúng cũng kích lẫn nhau, trong trường hợp này nói là không có thanh. Vi tụ khi ấy là tổ hợp sắc gồm 8 vật thể. Nếu khi có thanh, vi tụ này gồm 9 vật thể.

[8] Hán: sự , chỉ sự vật hay vật thể, thật thể; skt. dravya.

[9] Hán: hữu căn 有根; skt. sendriya: căn câu hữu, cùng tồn tại với căn, chỉ tập hợp cực vi tác thành căn; vị tụ thuộc nội giới.

[10] Bhāṣya: aparam indriyaṃ yatra paramāṇau tatra daśa dravyāṇi, trong tụ cực vi nào mà có căn khác (mắt, tai..., trừ thân căn), ở đó có mười vật thể.

[11] Mỗi căn chiếm một vị trí riêng biệt nhưng cùng tồn tại với thân căn. Vyākhyā: yatrahi cakṣuḥ śrotrādi vā tatra kāyendrayeṇa bhavitavyam, tatpratibaddhavṛttitvāt cakṣurādīnāṃ: Nơi nào có mắt hay tai v.v. nơi đó có thân căn, vì sự sinh khởi của mắt v.v. phụ thuộc vào thân căn.

[12] Tụ 8 sự, cọng thêm thanh, tăng thành 9, v.v. Trong vi tụ thuộc thân căn, có 9 hoặc 10 sự; 8 sự kể trên, thêm thân căn, khi không phát thanh, có 9 sự; khi phát sinh thanh, có 10. Vi tụ các căn khác, 10 hoặc 11; loại suy như thân căn.

[13] Xem Ch. i. tụng 10b.

[14] Bảo sớ (tr. 526a12): Tì-bà-sa nêu hai thuyết: thể tăng và dụng tăng. Thuận chính lý theo thuyết thể tăng. Trên đây là thuyết dụng tăng. Thể tăng hay dụng tăng đều không tận lý. Như một lượng nước đủ cả sáu vị, sáu người cùng uống mà cảm giác tiên khởi bất đồng, không thể nói do bởi thể tăng hay dụng tăng. Cf. Tì-bà-sa 131, tr. 682c23, 683a9; Thuận chính lý 5, tr. 354b21.

[15] sūcītūnī(tūlī)kalāpasparśa; Ht. 針鋒與籌合
<lb n="0018c05"/>; Cđ. 針鋒及
<lb n="0178a02"/>綿觸.

[16] Hán, Ht.&Cđ. , sao: phấn hay bột rang. Quang ký đọc là miến. Skt. saktulavaṇacūrṇarasa.

[17] Skt. dhṛti-saṃgraha-pakti-vyūhana, Ht. 持攝熟長; Cđ. 持攝熟引; các chức năng của đất, nước, lửa, gió; xem Ch.i. k.12. Vyākhyā: saṃgrahakarmaṇābdhātor astitvaṃ gamyate kāṣṭhādike/ anyathā pāṃsumuṣṭivat tad viśīryeta, yadi tatrābdhātur na syāt/ dhṛtikarmaṇāpsu nauprabhṛtīnāṃ pṛthivīdhātor astitvaṃ gamyate/ paktikarmaṇā tejodhātor astitvam gamyate/ yadi hi tan na syāt kāṣṭhādīkaṃ na pūtībhavet / vyūhanakarmaṇā vāyudhātor astitvaṃ gamyate/ prasarpaṇaṃ hi tasyana syāt, vṛddhir vā, yadi vāyudhātus tatra na syāt/: Do tác dụng kết dính mà biết trong gỗ v.v. có thủy giới. Trái lại, nếu trong nó không có thủy giới, nó sẽ rã ra như nắm đất. Do tác dụng duy trì mà biết có địa giới của các thứ như ghe thuyền trong nước. Do tác dụng phát triển (độ chín) mà biết có hỏa giới; mà nếu không có hỏa giới, gỗ các thứ sẽ không mục rã. Do tác dụng vận chuyển mà biết có phong giới, nếu ở đó không có gió thì không có tiến triển hay tăng trưởng.

[18] Vyākhya: thuyết của Bhadanta Śrīlābha. Quang ký (tr. 72a11): thuyết thứ hai của Hữu bộ.

[19] Vyākhya: tadyathā agnibhūte sati kaṭhinasya lohasya dravaṇam, tena jñāyate – lohe’abdhātur astīti/ tathā dravasya śaityādipratyayalābhe kāṭhinyam, tena jñāyate - pṛthivīdhātor atrāstitvam iti. Như khi gặp lửa, vật thể cứng như kim loại tan chảy; do đó biết rằng trong kim loại có thủy giới. Cũng vậy, đối với chất lỏng, khi gặp điều kiện lạnh chẳng hạn, nó trở thành cứng; do đó biết rằng trong chất lỏng đó có địa giới. Quang ký (tr. 72a13 ): “Như tụ nước do cực lạnh mà biến thành tuyết đông. Tuyết đông có tác dụng khô ráo, nên nói là phát sinh độ nóng... Lại như khi trời sắp đổ mưa, tụ nước trong hư không do cực lạnh mà kích phát điện chớp; do đó nói là phát sinh độ nóng.”

[20] Vyākhya: bác bỏ giải thích của Śrīlābha về dụng tăng có điều kiện (taṃ matam ācāryo dūṣayati).

[21] Ht. & Cđ. đều nói bất tương ly 不相離; Quang ký (tr.72a17): nóng và lạnh không tách rời nhau... (tr.72a19): Như trong địa ngục, khổ thọ mạnh, xả thọ yếu, nên chỉ nói đến khổ. Trong tam thiền, lạc thọ mạnh, xả thọ yếu nên chỉ nó đến lạc. Hoặc như khi tay và trống cùng chạm nhau mà phát ra tiếng, nhưng do tiếng của trống mạnh hơn nên chỉ nói tiếng trống. Bảo sớ (tr.526b7): bốn đại chủng, thể không tương ly, nhưng do dụng thắng nên một trong các đặc tính nổi bật. Như các đối tượng hỗn hợp, cái nào dụng thắng được cảm nhận trước. Skt. avyatibheda, có lẽ nên hiểu là bất tương ly 不相離; Vyāhkhya: yathā na ca śabdasya dravyāntareṇa vyatibhedo miśrībhāvo’sti, atiśayaś ca bhavati, svabhāvāt paṭuḥ śabdaḥ paṭutama iti/ như âm thanh không phải là hợp thể bất khả phân với vật thể khác, nhưng nó có cường độ là do bởi tự thể sai biệt, như lớn và lớn hơn.

[22] xem cht. trên.

[23] Vyākhya: ity apara iti sautrāntikāḥ, “luận sư khác”, đây chỉ các luận sư Kinh bộ.

[24] Trong sắc tụ, một số đại chủng hiện hành, một số trong trạng thái chủng tử (tiềm thế). Vyākhya: chủng tử (bīja) ở đây được hiểu là công năng (śakti, sāmarthya); tự thể (svarūpa) chỉ vật thể (dravya).

[25] Tạp A-hàm 18, T2 tr. 129a1: <pb ed="T" id="T02.0099.0129a" n="0129a"/>
<lb n="0129a01"/>禪思得神通力 在如意欲令枯樹成
<lb n="0129a02"/>即時 成金不異 餘種 種諸 悉成不
<lb n="0129a03"/>所以者何以彼枯樹有種種界故”Tỳ kheo thiền tứ, đắc thần thông lực, tự tại như ý, muốn biến cây khô thành vàng, ngay tức thời nó biến thành vàng không khác. Và các vật khác cũng vậy, đều biến thành không khác. Vì sao? Vì cây khô kia có đủ các giới.”

[26] Vyākhya: (Kinh bộ) chất vấn Hữu bộ. Tổ hợp sắc ngoại giới trong Dục giới có tám thành phần, trong đó sắc màu trong tổ hợp của gió hoàn toàn không được cảm nhận.

[27] Vyākhya: Tì-bà-sa giải đáp.

[28] Cđ. 於風四塵不定故 ở nơi gió, bốn đại bất định. Quang ký: trong gió có mùi thơm nên suy biết có hiển sắc. Gió có loại gió vàng (gió lốc), gió đen (= bão); nhưng ở đây chỉ loại gió mát – thanh phong, loại gió không có màu sắc được cảm nhận.

[29] Xem Ch.i k. 30b-d.

[30] Hán: sự , skt. dravya: vật thể, thực thể.

[31] Hán: thể , skt. dravya.

[32] Chất vấn Tì-bà-sa; xem đoạn trên: Tì-bà-sa quan niệm vi tụ trong Dục giới bao gồm tối thiểu 8 vật thể. Bhāṣya: dravyam eva dravyaṃ gṛhyate ahosvid āyatanam? Cđ. 為約
<lb n="0178a14"/>物說物為約入說物 căn cứ vật để nói vật, hay căn cứ xứ mà nó vật? Vākhya: mukhyavṛttyā yad dravyaṃ yasya svalakṣaṇam asti tad dravyaṃ gṛhyate? ahosvid āyatanam? dravyam ity adhikṛtam/ āyatanam api hi dravyam iti śakyate vaktum; sāmānyaviśeṣalakṣaṇasadbhāvāt/ Về nguyên nghĩa, từ dravya được nói trên đây nên hiểu chính là vật thể với đặc tính cá biệt của nó, hay nó chỉ cho xứ? Thật vậy, xứ cũng có thể được nói là vật thể, vì là tổng tướng và biệt tướng.

[33] Chỉ lỗi trong quan điểm Tì-bà-sa về thành phần vi tụ.

[34] Hán: tất hữu hình sắc, Bhāṣya: avaśyaṃ tad dravyasaṃsthānenāpi bhavitavyam: tất yếu phải có hình sắc (hình dáng) của vật thể. Vật thể (dravya) ở đây chỉ cho hiển sắc (sắc màu). Trong sắc không chỉ có hiển sắc (sắc màu) mà còn cả hình sắc (hình thể) nữa. Như vậy, con số các vật thể câu sinh trong sắc quá ít so với thực tế.

[35] Trong xúc, ngoài xúc bốn đại chủng, còn có xúc nếu không nặng thì nhẹ, không trơn thì nhám; 3 trưởng hợp của xúc về lạnh, đói, khát, khi có khi không, không nhất định.

[36] Hán: xứ , Skt. āyatanam. Quang ký (q.3, tr.72c22): xứ chỉ 12 xứ.

[37] Vyākhya: spraṣṭavyaṃ dvividhaṃ iti vacanāt/ tasmāt kāme caturdravyako’śabdhaḥ - rūpaṃ gandho rasaḥ spraṣṭavyam iti/ saśabdhas tu pañcadravyaka iti vaktavyam/ Vì Luận tụng (i.35) đã nói, xúc có hai loại; do đó trong Dục giới loại vô thanh có bốn vật thể, đó là sắc, hương, vị và xúc. Loại hữu thanh nên nói là có năm.

[38] Tì-bà-sa giải đáp.

[39] Vyākhya: yad āśrayabhūtam iti pṛthivyādīni catvāri/ cái làm sở y, đó là bốn đại chủng gồm địa v.v…

[40] Vyākhya: yad āśrayibhūtam iti/ rūpaṃ gandho rasaḥ spraṣṭavyaideśaśca/ cái làm năng y, đó là sắc, hương, vị và một phần của xúc.

[41] Hán: đại chủng sự 大種事; Skt. bhūtadravya: vật thể như là đại chủng.

[42] Quang ký: Các tạo sắc (upādāyarūpa) là sắc, hương, vị và xúc. Mỗi một tạo sắc này đều có sở y là bốn đại chủng. Như vậy, một tập hợp sắc hay hương đều có 5 vật thể; 4 vật thể câu sinh, phải nói là 20. Nếu là tập hợp hữu thanh, con số phải là 25.

[43] Thể loại, Skt. jātidravyaṃ: vật thể (dravya) ở đây được hiểu là chủng loại (jāti). Vyākhya: yā hy ekasya bhūtacatuṣkasya jātis tām anyāṇi bhūtacatuṣkāṇi nātikrāmanti, chủng lọai của một tập hợp đại chủng là cái mà các tập hợp đại chủng khác không vượt quá giới hạn.

[44] Kết luận bởi Thế Thân. Vyākhya: kiñcid atra dravyam eva dravyaṃ gṛhyate yadāśrayabhūtam/ kiñcid āyatanadravyaṃ gṛhyate yadāśriyabhūtam/ yac caitad āśrayabhūtaṃ taj jātyā gṛhyata iti/ khi nào vật thể được hiểu là thực chất vật thể (dravyam eva), thì ở đây nó được hiểu là cái làm sở y; khi nào vật thể được hiểu như là xứ, khi ấy nó được hiểu là là cái năng y. Cái làm sở y này đươc hiểu theo chủng loại.

[45] Vyākhyā: chandata icchātaḥ saṃkṣepavistaravidhānānuvidhāyinyo vācaḥ pravartante/ arthas tu tāsāṃ parīkṣyaḥ/ Dục, ý dục hay ý muốn - Do ý muốn, và tùy thuận quy tắc tóm lược hay diễn rộng, mà ngôn từ phát sinh. Nhưng ý nghĩa của ngôn từ thì phải được tư duy.

[46] Skt. sarvaṃ saṃskṛtalakṣaṇaiḥ/ tất cả các pháp đều câu sinh với các tướng hữu vi.

[47] Skt. kā 23ab: citta caittāḥ sahāvaśyaṃ sarvaṃ saṃskṛtalakṣaṇaiḥ prāptyā vā/

[48] Tâm không thể khởi mà không có tâm sở,và ngược lại. Bhāṣya: na hy ete vinā’nyonyaṃ bhavitum utsahante.

[49] Vyākhyā: na cittaṃ caittair vinā utpadyate, nāpi caittā vinā cittenety avadhāryate/ na tu sarvaṃ cittaṃ sarvacaittaniyatasahotpādam, nāpi sarvacaittāḥ sarvacittaniyatasahotpādā iti: Không có các tâm sở thì tâm không được sinh khởi, không có tâm thì các tâm sở cũng không tồn tại. Nhưng, tất cả tâm không nhất định cùng sinh khởi với tâm sở, tất cả tâm sở cũng không nhất định cùng sinh khởi với tất cả tâm.

[50] skt. prāptyā vā.

[51] Skt: Bhāṣyā: vikalpārtho śabdaḥ: Từ “hoặc” có nghĩa là phân biệt. Vyākhyā: kiñcit prāptyā sahotpadyate yat sattvasaṃkhyātam, kiñcin na yad asattvasaṃkhyātam iti vikalpaḥ/ pratisaṃkhyāpratisaṃkhyānirodhayoḥ yady api prāptiḥ asti, na tu tāv utpadyete iti na tayor grahaṇam,/ sahotpādananiyamo hy amārambha iti, asattvasaṃkhyātasya prāptir nāstyti kim atra kāraṇam? sarvasattvasādhāraṇatvāt/ sahajayaiva ca prāptyā prāptimān sahotpadyate, na pūrvapaścātkālajayety avagantavyam: Phân biệt, nghĩa là cái nào cùng sinh khởi với đắc, cái đó thuộc về hữu tình chứ không phải phi hữu tình. Trạch diệt và phi trạch diệt nếu có đắc, nhưng hai cái này không cùng sinh khởi; nên cả hai không được kể đến. Tất yếu câu sinh, vì chúng nhất định cùng khởi với nhau. Phi hữu tình không có đắc, vì sao? Vì tính phổ quát của tất cả chúng sinh, và chính vì cùng sinh mà cái sở hữu đắc cùng sinh khởi với đắc, không trước hay sau.

[52] Skt. Kā 23cd: pañcadhā caittā mahābhūmyādi bhedataḥ//

[53] Cđ. sở hành xứ 所行處. Skt. gativiṣaya: cảnh giới sở hành hay môi trường hoạt động. Thuận chính lý: 容止處.

[54] bhūmi, mặt đất, địa vức, phạm vi.

[55] mahābhūmika.

[56] Thuận chính lý (tr. 384a26): 心非大地法。非心俱生故。tâm không phải là đại địa pháp, vì không cùng sinh với tâm.

[57]Skt. Kā 24: vedanā cetanā saṃjñā cchandaḥ sparśo matiḥ smṛtiḥ/ manaskāro’dhimokṣaś ca samādhiḥ sarvacetasi: thọ, tư, tưởng, dục, xúc, huệ, niệm, tác ý, thắng giải, định; chúng hiện diẹn trong tất cả tâm. Trong đây, thứ tự của tư (cetanā) và tưởng (saṃjñā) không đồng nhất với Ht.

[58] Tức theo quan điểm của Tì-bà-sa. Vyākhya: kilaśabdaḥ paramatadyotane/svamataṃ tu chandādayaḥ sarvacetasi na bhavanti/ Từ “truyền thuyết” chỉ rõ đây là quan điểm của người khác. Theo Luận chủ, dục v.v. không phải hiện diện trong tất cả tâm sở. Quang ký: Theo ý Luận chủ, không cho rằng 10 pháp này có tự thể riêng biệt, nên nói là “truyền thuyết.”

[59] x. Ch.i k.14c: vedanā’nubhāvaḥ: thọ là sự cảm nghiệm.

[60] Bản Skt. nói tư cetanā trước tưởng saṃjñā. x. Ch.i. k. 14cd: saṃjñā nimittodgrahaṇātmikā, tưởng mà tự thể là sự nắm bắt ảnh tượng.

[61] Bhāṣya: cetanā cittābhisaṃskāro manaskarma, tư là ý nghiệp (hoạt động của ý), là sự tác hành (tạo tác) của tâm. Cđ. 作意謂心故為事

[62] Bản Skt. nói dục (chanda) trước xúc (sparśa). Cđ. như Skt.

[63] Bhāṣya: sparśa indriyaviṣayavijñānasannipātạjā spṛṣṭi: xúc là sự xúc chạm phát sinh bởi tập hợp căn-cảnh-thức.

[64] Luận Pañcaskandha, dẫn bởi Vyākhyā: chandaḥ katamaḥ?abhiprete vastuny abhilāṣaḥ, dục là gì? Sự mong muốn trong những sự thể được yêu thích. Cf. Ngũ uẩn luận, T31, tr. 848c14.

[65]Skt. matiḥ prajñā dharmapravicayaḥ. Cđ. 慧謂般若即是擇法Vyākhyā: pravicinotīti pravicayaḥ/ pravicīyante vānena dharmā iti pravicayaḥ/ yena saṃkīrṇā iva dharmāḥ puṣpāṇīva pravicīyante, uccīyante ity arthaḥ/ ime sāsravāḥ, ime’nāsravāḥ, ime rūpiṇaḥ, ime arūpiṇa iti/ dharmāṇāṃ pravicayo dharmapravicayaḥ/ pratītatvāt prajñeti vaktavye ślokabandhānuguṇyena matir iti kārikāyām uktam: Nó tuyển trạch (=tư duy thẩm sát) nên gọi là sự tuyển trạch (=giản trạch). Do thẩm sát (tư trạch) mà các pháp được tuyển lựa (tuyển trạch). Các pháp giống như đống hoa lộn xộn, do bởi tư trạch mà chúng được tuyển trạch (lựa), được tuyển tập (chọn). Các pháp này hoặc là hữu lậu, hoặc vô lậu, có sắc, không có sắc. Sự truyển trạch các pháp gọi là trạch pháp. Vì tính liễu tri nên gọi là [thắng] huệ. Do tùy thuận với âm luật của thi tụng nên từ mati được dùng trong tụng văn (thay cho từ prajñā).

[66] Bhāṣya: manaskāraś cetasa ābhogaḥ: tác ý là sự thiên hướng của tâm tư. Vyākhya: ālambane cetasa āvarjanam avadhāraṇam ity arthaḥ/ Nghĩa là, sự chuyển chú, sự ấn khả của tâm nơi đối tượng.

[67] Bhāṣya: adhimokṣo’ dhimuktiḥ: thắng giải tức sự xác tín. Vyākhya: adhimuktis tad ālambanasya guṇato’vadhāraṇam/ rucir ity anye yathāniścayaṃ dhāraṇeti yogācāracittāḥ/ xác tín là sự xác nhận (ấn khả) đối tượng về mặt phẩm chất. Hoặc nó có nghĩa là yêu thích, tức là sự ấn khả (xác nhận) tùy theo đối tượng đã được quyết định, như tâm tu tập quán hành.

[68] Skt. samādhi.

[69] ekāgratā, 一境性, sự tập trung trên một điểm. Vyākhyā: agram (a-) ālambanam iti ekaḥ arthaḥ/ yat yogāt cittaṃ prabandhena ekatrālambane vartate, sa samadhiḥ/ yadi samādhiḥ sarvacetasi bhavati, kim arthaṃ dhyāneṣu yatnaḥ kriyate? Balavatsamādhi-niṣpādanārtham: Một nghĩa là (cảnh duyên với) đối tượng hợp nhất trên một điểm. Cái mà do sự tương hợp và tương tục chuyển hướng tâm vào đối tượng tập trung trên một điểm, cái đó gọi là định. Nếu ở trong tất cả tâm có định, vậy sự dụng công trong các thiền có tác dụng như thế nào? Có tác dụng thành tựu định lực kiên cố.

[70] Vyākhyā giải thích thêm: sa eṣa viśeṣaś cittacaitānāṃ durlakṣyaḥ prabandheṣv api tāvat kiṃ punaḥ kṣaṇeṣu kālaparyantalakṣaṇeṣu: chính mỗi sự sai biệt của tâm và tâm sở khó mà phẩm định được trong những hoạt động liên tục của chúng hà huống trong những sát na, nghĩa là trong những sát-na cực hạn của thời gian.

[71] Bhāṣya: kuśalā mahābhūmir eṣāṃ ta ime kuśalamahābhūmikā: những gì mà có nền tảng (cơ địa) phổ biến có bản chất thiện, những pháp ấy là cơ địa phổ biến của thiện.

[72] Skt. kā 25: śraddhā’pramādaḥ praśrabdhirūpekṣā hrīrapatrapā/ mūladvayam ahiṃsā ca vīryaṃ ca kuśale sadā//

[73] Tâm trừng tịnh 心澄淨; skt. cetasaḥ prasādaḥ. Vyākhya: kleśopakleśakaluṣitaṃ cetaḥ śraddhāyogāt prasīdati, udakaprasādakamaṇiyogād ivodakam/ tâm do tương ưng với tín làm lắng trong chất bẩn của phiền não và tùy phiền não, như nước lắng trong do liên hệ với minh châu tịnh thủy.

[74] Skt. satya-ratna-karma-phala-abhisampratyaya. Vyākhyā: ākāreṇa śraddhānirdeśaḥ, satyeṣu caturṣu ratneṣu ca triṣu karmasu ca śubhāśubheṣu, tatphaleṣi ca iṣṭāniṣṭeṣu/ thuyết minh tín bằng hành tướng, theo đó, (là sự thâm tín) nơi bốn Thánh đế, Tam bảo, nghiệp thiện và bất thiện, và quả ái và phi ái của chúng.

[75] Ở đây, tu , skt. bhāvanā, có nghĩa là sự phát triển, được hiểu là tu tập, do đó đặt vấn đề như vậy. Vyākhyā: bhāvanā nāma kuśalānāṃ pratilambhaniṣevaṇávabhāvā, tu tập (=phát triển) có tự thể là sự tập cận và thủ đắc các pháp thiện. Ch.vii. k.27: pratilambhaniṣevākhye śubhasaṃskṛtabhāvanā: tu tập thiện hữu vi là sự tập cận và chứng đắc.

[76] Vyākhya: yā teṣv avahitateti/ tad evaṃ sati bhāvanāhetāv ayaṃ bhāvanopacāraḥ kṛta iti/ Tính chuyên chú vào các pháp thiện, đó là tu nói theo quán lệ (bằng ẩn dụ), thực sự nó là nhân của tu.

[77] Bhāṣya: nikāyāntarīyāḥ sūtre. Đại chúng bộ? Cf. Tăng nhất, T2 tr. 563c14: 云何為無放逸行所謂
<lb n="0563c16"/>護心也

[78] Tâm kham nhiệm tính 心堪任性. Skt. praśrabdhiś cittakarmaṇyatā. Cđ. 心於事有能

[79] Quang ký (75b4): Nạn vấn bởi Kinh bộ. Kinh bộ cho rằng thân khinh an thuộc xúc mà tự thể là gió; do đó, tâm khinh an thuọctâm sở, thân khinh an thuộc xúc. Vyākhyā: kaś ca paryāyo yat praśrabdhisambodhyaṅgadvayaṃ bhavati? asti kāyapraśrabdhiḥ, asti cittapraśrabdhiḥ/ tatra yāpi kāyaprasrabdhis tad api praśrabdhisambodhyaṅgam abhijñāyai sambodhaye nirvāṇāya saṃvarttate/ yāpi cittapraśsrabdhis tad api praśrabdhisaṃbodhyaṅgam abhijñāyai saṃbodhaye nirvāṇāya saṃvarttata iti: Phải chăng tên gọi này có hai giác chi khinh an? một khinh an nơi thân, một khinh an nơi tâm. Cái gọi là khinh an nơi thân, đó là giác chi khinh an trong thắng trí và trong đẳng giác, hướng đến Niết-bàn. Sự khinh an của tâm cũng như vậy. Cf. Tạp A-hàm 27, T02 tr. 191c5: 有身猗息。有心猗息。彼身猗息。即是猗覺分。是智是等覺。能轉趣涅槃。彼心猗息。即是猗覺分。是智是等覺。能轉趣涅槃。

[80] Giải thích của Hữu bộ: tương ưng với năm thức là thân khinh an; tương ưng với ý thức là tâm khinh an.

[81] Quang ký, ibid. Kinh bộ hỏi: tương ưng với năm thức, nhưng năm thức vốn hữu lậu.

[82] Quang ký: đây là giải thích của Luận chủ. Một số cho là trả lời của Hữu bộ; sai lầm.

[83] Hữu bộ chất vấn Kinh bộ. Kinh bộ cho rằng thân khinh an thuộc khinh xúc, vậy nó là hữu lậu, làm sao lập làm giác chi?

[84] Trả lời của Kinh bộ. Quang ký: “Thuận, là thế nào? Do nhập định, trong thân có gió khinh an khởi lên, dẫn khởi giác chi là tâm khinh an.”

[85] Hữu bộ yêu cầu dẫn kinh làm giáo chứng.

[86] Chưa rõ xuất xứ.

[87] Thuận hỷ pháp 順喜
<lb n="0019b13"/>; Quang ký: chỉ những pháp câu hữu và tương ưng với hỷ. Skt. prītisthānīyāś ca dharmāḥ, những pháp thay thế hỷ/ tương đương hỷ; Cđ. 助喜
<lb n="0178c05"/>

[88] Bhāṣyā: pratighaḥ pratighanimitaṃ ca: sân nhuế và các biểu hiện của sân nhuế. Vyākhyā: navāghātavastūni vyāpādanivaraṇam uktaṃ bhagavatā tadānukūlyāt/ Thế Tôn nói sân chướng cái là chín não hại sự, vì chúng cùng loại với sân. Xem Trường A-hàm 9, tr. 56b10; ibid 11 tr. 60a4.

[89] Cf. Trung A-hàm 58, tr. 788c12:
<lb n="0788c12"/>見.正志.正方便此三道[]支聖慧聚所攝

[90] Vô cảnh giác tính 無警覺性; Skt. anābhoga, tính không thư triển; nơi khác Hán dịch: vô công dụng hành, hoặc vô khái phát tính. Cđ. 無所偏
<lb n="0178c09"/>

[91] Skt: upekṣyā cittasamatā cittānābhogatā: xả là trạng thái bình đẳng của tâm, là trạng thái vô công dụng hành. Vyākhyā: yadyogāc cittaṃ samam anābhogaṃ vartate, sopekṣā saṃskāropekṣā nāma/ trividhā upekṣā – vedanopekṣā, saṃskaropekṣā, apramāṇopekṣā ceti, do vậy mà tâm tồn tại trong trạng thái bình đẳng, không dụng công, còn gọi là hữu xả, hành xả; ba loại xả là thọ xả (trong ba thọ), hành xả, và vô lượng xả (trong bốn vô lượng).

[92] Xem định nghĩa về tác ý ở trên, trong các đại địa pháp.

[93] Nạn vấn của Kinh bộ.

[94] Tì-bà-sa trả lời.

[95] Bhāṣya: asti hi nāma durjñānam api jñāyate/ idaṃ khalv atidurjñānaṃ yad virodho’py avirodhaḥ/ Quả thực, có cái rất khó biết nhưng ta vẫn có thể biết. Ở đây, điều này cực kỳ khó biết, đó là sự mâu thuẫn và không mâu thuẫn. Vyākhya: trong một sát na tâm có thể nhận biết được những cái tương phản, như xúc vv. cùng với pháp khác. Nhưng sự dụng công và không dụng công trong cùng một sát-na tâm mà được quan niệm là không mâu thuẫn, thì điều này cực kỳ khó nhận biết. Như khổ và lạc, hai cái tương phản này không thể được kinh nghiệm cùng lúc trong một sát-na tâm.

[96] Tì-bà-sa giải đáp.

[97] Lý giải bởi Kinh bộ.

[98] Cđ. 若爾一切相應法不應共緣一境Nếu vậy, tất cả các pháp tương ưng không thể cùng duyên đến một đối tượng chung. Bhāṣya: na tarhīdānīm ekālambanāḥ sarve samprayuktāḥ prāpnuvanti/

[99] Để bản: ưng cầu [17], nên đọc: ưng lai 應來 (theo Cđ.). Bhāṣya: āyāsyati: nó sẽ đến. Vyākhya: chủng loại tương phản (virodhajātīyaṃ) như tầm và tứ (vitarkavicārau). Tầm với tâm thô, tứ với tâm tế, khi cả hai cùng duyên đến một đối tượng trong cùng một tâm, bấy giờ được nói là tương phản. Chúng không đồng thời khởi, mà tuần tự khởi. Ý nghĩa này sẽ được nói trong đoạn sau, tụng ii.33.

[100] hrī-apatrāpya, sẽ được giải thích ở đoạn sau, tụng 32.

[101] Thích từ trong tụng văn.

[102] avihiṃsā aviheṭhanā.

[103] 勇悍; Cđ. 勇猛. Bhāṣya: vīryaṃ cetaso’bhyutsāha. Vyākhā: kuśalakriyāyāṃ yaś cetaso ’bhyutsāhas tad vīryam. yas tv akuśalādikriyāyāṃ cetaso’bhyutsāho naitad vīryam, kausīdyam eva tat pravacane paṭhyate; sīdanātmakatvā/ tathā hy uktaktaṃ bhagatā “ito bāhyakānāṃ yad vīryaṃ kausīdyameva tat “iti, cái mà làm cho tâm có sự hăng hái trong các sự nghiệp thiện, cái đó là cần (tinh tấn). Nhưng cái mà làm cho tâm hăng hái trong các sự nghiệp bất thiện, cái đó không gọi cần; trong kinh điển nói nó chính là giải đãi, vì bản bản chất trì trệ. Như Thế Tôn nói: cái gọi là cần/tinh tấn của những người ở ngoài giáo pháp này, cái đó là giải đãi.

[104] Bhāṣya: mahatī bhūmir mahābhūmiḥ/ kleśā mahābhūmir eṣāṃ ta ime kleśamahābhūmikāḥ... cơ địa (nền tảng) phổ biến, được gọi là đại địa; đại địa ấy ô nhiễm, nói là phiền não địa. Cđ.惑大地

[105] Skt. k. 26ab. mohaḥ pramādaḥ kauśīdyamāśraddhyaṃ styānam uddhavaḥ/ kliṣṭe sadaiva/ si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cử; tất cả duy chỉ ô nhiễm.

[106] Bhāṣya: moho nāmāvidyā, ajñānam asaṃprakhyānam. Vyākhya, dẫn k. iii 28: pháp là đối phần của minh gọi là vô minh (vidyāvipakṣo dharmo’nyo’vidyā). Quang ký (77a04): nhận thức rõ ràng, nói là hiển.

[107] Phát trí 2 (T26, tr.925b10): 云何惛沈答諸身重性心重性身不調柔
<lb n="0925b11"/>不調柔<gaiji cb='CB0574' des='[-+]' mojikyo='M032592' mofont='Mojikyo M106' mochar='73DE'></gaiji><gaiji cb='CB0574' des='[-+]' mojikyo='M032592' mofont='Mojikyo M106' mochar='73DE'></gaiji>身憒悶心 憒 悶
<lb n="0925b12"/>惛重性 是謂惛沈.

[108] Vyākhyā: Cũng như thọ tuy thuộc tâm, nhưng vì nó nương nơi sắc căn nên nói thuộc thân; cũng vậy, hôn trầm thuộc thân, vì hôn trầm tương ưng với năm thức thân (yathā vedanā rūpīndriyāśrayatvāc caitasiky api kāyikīti vyāhkyātā/ tathā kāyikaṃ styānam, pañcavijñānakāyasamprayuktaṃ styānaṃ kāyikam ity ucyate).

[109] Vyākhyā: auddhatyaṃ... nṛtyagītādiśṛiṅgāraveśālaṃkāradyauddhatyasaṃniśrayadānakarmakaś caitasiko dharmaḥ/ trạo cử... tâm sở pháp có nghiệp dụng làm sở y cho những sự ca múa, trang sức y phục mỹ diệu các thứ.

[110] Giới thân, T 26, tr. 614b14; Phẩm loại 2, T26 tr. 698c7; Tì-bà-sa 42, tr. 220a4: 一不信。二懈怠。三放逸。四掉舉。五無明。六忘念。七不正知。八心亂。九非理作意。十邪勝解。

[111] Tri ngôn chí 知言至; Cđ.
<lb n="0179a04"/>. Skt. prāptijña: chỉ biết sở đắc.

[112] Vyākhyā: pāṭhaprāmāṇyamātreṇa daśa kleśamahābhūmikāḥ prāptā ity etām eva prāptiṃ jānīte devānāṃ priyaḥ, na tv ācāryāṇām iṣṭim icchāṃ jānīte/ ko ‘yaṃ devānāṃ priyo nāma? “ṛjukajātīyo devānāṃ priyaḥ” ity eke vyācakṣate, aśaṭho hi devānāṃ priyaḥ bhavati, mūrkho devānāṃ priya ity apare “yo hīśvarāṇām iṣṭaḥ sa na tāḍanena śikṣate” iti mūrkho bhavatīti: Vyākhya: Thiên Ái chỉ biết sự truyền đạt tức chỉ biết nắm bắt mười đại địa thiện theo nguồn văn tự chứ không biết ý định của Luận chủ. Thiên Ái này là ai? Một số vị giải thích Thiên Ái là người thuộc loại chất trực (thẳng đuột), tức Thiên Ái là người không dối trá. Một số vị khác nói Thiên Ái là kẻ ngu khờ. Thật vậy, người mà Thiên Chúa sủng ái thì không thể học hành gì dù bằng sự đánh đập, tức người ngu khờ.

[113] Tì-bả-sa 42 tr. 220a11: đại phiền não địa có 10 nhưng tự thể chỉ có 5, đồng với đại địa pháp. Nhưng đại địa pháp thông cả nhiễm ô và không nhiễm ô; đại phiền não duy chỉ nhiễm ô.

[114] Tứ cú 四句. Tì-bà-sa 42 tr. 220a19. Vyākhyā, bốn lựa chọn: (1) đại địa nhưng không phải là đại địa phiền não; (2) đại địa phiền não nhưng không phải là đại địa; (3) vừa là đại địa vừa là đại địa phiền não; (4) không phải đại địa cũng không là đại địa phiền não.

[115] Vyākhyā: năm pháp, thất niệm v.v., chúng là đại địa và cũng là đại địa phiền não.

[116] Vyākhyā: trừ những pháp đã nói như các tâm sở đại địa phiền não v.v, và những pháp khác như sắc v.v.

[117] Tì-bà-sa tr. 220a24.

[118] Quang ký (tr.77b29): Có thuyết khác nói, đây chẳng phải nghĩa chính, có chấp định tà trong đại địa pháp.

[119] Quang ký (tr.77b29): không phải chính là tâm loạn trong đại phiền não trong địa pháp.

[120] Tì-bà-sa ibid. Trong trường hợp tứ cú ở đây, đại địa pháp, về danh có 20, về thể có 6: (1) có 6, gồm 5 pháp đã kể (thọ, tưởng, tư, xúc dục) và thêm tam-ma-địa; (2) có 6, gồm 5 pháp kể trên (bất tín, giải đãi, phóng dật, trạo cử, vô minh) và thêm tán loạn; (3) có 4 pháp: trong 5 pháp kể trên (vong niệm, bất chính tri, phi lý tác ý, tà thắng giải) trừ tâm loạn; (4) trừ các trường hợp đã nêu. Tì-bà-sa không tán thành quan điểm này. Vyākhyā: bốn sự lựa chọn khác: thêm tán loạn trong lựa chọn thứ hai, chứ không phải trong thứ ba; như vậy: (1) như trên; (2) bất tín, giải đãi, vô minh, trạo cử, phóng dật và tán loạn; (3) bốn đại địa gồm niệm v.v. và bốn đại phiền nào gồm thất niệm, bất chính tri, phi lý tác ý, và tà định; (4) trừ các trường hợp đã kể.

[121] Xem Phẩm loại 2 (cht. 110) đã dẫn; Tì-bà-sa 38, tr. 197c1, “Hỏi: hồn trầm và trạo cử đều cùng có mặt trong tất cả tâm nhiễm ô, vì sao đây chỉ kể riêng trạo cử mà không kể hôn trầm?”; và nêu 9 giải thích.

[122]Vyākhyā: kim asya styānasya apāṭhe mama aparādhaḥ, kim ābhidhārmikasya iti/ abhidharmakārasya ayam aparādho na mama iti abhiprāyaḥ; styānasya sarvakleśasamprayogitvena abhimatatvāt: “không kể hôn trầm (trong đại phiền não địa) là sai lầm của tôi (giả thiết Luận chủ) hay của luận A-tì-đạt-ma (= Phát trí)? Đây là sai lầm của luận A-tỳ-đạt-ma chứ chẳng phải của tôi, vì quan niệm rằng hôn trầm tương ưng với phiền não.”

[123] Tì-bà-sa 38 ibd., giải thích 5: “Trạo cử thường có tác đông mạnh gây nhiễu loạn các loại tĩnh lự 4 chi hay 5 chi, do đó được biệt kể. Hôn trầm có tính chất ngu độn, mà hoạt động có vẻ tương tự trạng thái đẳng trì (định), tương tự định. Khi hôn trầm hiện tiền thì có thể nhập định nhanh, khuyết điểm của nó nhỏ, vì vậy không được kể (trong đại phiền não địa).”

[124] Vyākhyā: evam api ca styānam auddhatyaṃ vā yasya pudgalasyādhimātram, sa pudgalaḥ taccaritaḥ styānacaritaḥ, auddhatyacarito vāvagantavyah. người mà trạng thái nào nổi bật, hôn trầm hoặc trạo cử, người ấy được biết là thuộc loại hành giả đó, hoặc hôn trầm, hoặc trạo cử.

[125] 大不善法地名大不
<lb n="0020a07"/>善地định nghĩa không có trong Bhāṣya và Cđ.

[126] akuśale tv āhrīkyam anapatrapā//

[127] Đoạn sau, tụng 32.

[128] parittakleśa, 小煩惱, Cđ. 小惑. Vyākhyā: parittaḥ, hạn hẹp = alpakaḥ, vi tiểu.

[129] krodhopanāhaśāṭhyeṣryāpradāsamrakṣamatsarāḥ/ māyāmadavihiṃsāśca parīttakleśabhūmikāḥ/ Cđ. 嫌恨諂嫉<gaiji cb='CB0107' des='[*]' uni='59AC' ></gaiji>佷覆及慳<gaiji cb='CB0385' des='[-+]' uni='608B' ></gaiji>誑醉
<lb n="0179a25"/>并逼惱是十小惑地

[130] Hán đọc là 唯修所斷意識地起無明
<lb n="0020a19"/>相應; Cđ., như Ht. Nhưng skt. avidyāmātreṇa bhāvanāheyeṇa manobhūmikenaiva ca samprayogāt. Theo đây, từ duy trong 2 bản Hán nên đọc luôn xuống 2 từ dưới, và từ tương ưng 相應 đọc thông lên 2 từ trên. Vyākhyā: avidyāmātreṇeti, nānyena rāgādinā kleśena, “duy chỉ tương ưng với vô minh, không tương ưng với phiền não nào khác, như tham v.v.” Loại vô minh này được gọi là vô minh độc hành (kevalā) hay bất cộng (āveṇkikī avidyā); xem Ch. v. k. 14.

[131] Ý thức địa 意識地, manobhūmika; Cđ. 依心地. Vyākhyā: manobhūmikenaiveti na pañcavijñānakāyikena, duy chỉ tương ưng với ý địa, không tương ưng với năm thức thân.

[132] Định nghĩa không có trong Bhāṣya và Cđ.

[133] Phần sau, Ch.v. k.14 (phẩm Tùy miên).

[134] Vyākhyā: ...aniyatā iti/ ye kādācit kuśale, kadācid akuśale, kadācid avyākṛte cetasi bhavanti: các bất định, là những thứ khi thì có mặt trong tâm thiện, khi thì có mặt trong tâm bất thiện, khi thì có mặt trong tâm vô ký.

[135] Vyākhyā; ādiśabdenārativijṛmbhikātandrībhakte’samatādaya upakleśāḥ kleśāḥ ca rāgādayo’py aniyatatvena gṛhyante/ na hy ete rāgādayaḥ pañcānāṃ prakārāṇāṃ anyatam asmin niyatā bhavanti/ na mahābhūmikāḥ, sarvatra cetasy abhāvāt/ na kuśalamahābhūmikāḥ, kuśalatvāyogāt/ na kleśamahābhūmikāḥ, sarvatra kliṣṭe tad abhāvāt/ na hi sapratighe cetasi rāgo bhavati, sarāge ca cetasi pratigha iti / evam anye‘pi kleśā vaktavyāḥ: “Từ ‘vân vân’ (ādi, trong tụng văn) được hiểu là bao gồm trong bất định các tùy phiền não như bất lạc, tần thân (dã dượi), quyện (mệt mỏi), bất tiết thực (ăn uống không điều độ) v.v., và kể cả các phiền não như tham v.v… Bất định, vì những pháp này, như tham v.v., không nhất định có mặt trong 5 tâm phẩm. Chúng không là đại địa vì không có mặt trong tất cả tâm, không là thiện đại địa vì không tương ưng với tính thiện; không là đại phiền não địa vì nó không hiện hữu trong tất cả tâm bị nhiễm ô. Tham không có mặt trong tâm câu hữu sân; và sân không có mặt trong tâm câu hữu tham. Những phiền não khác cũng nên nói như vậy.”

[136] savitarkavicāratvāt kuśale kāmacetasi/ dvāviṃśatiś caitasikāḥ kaukṛtyam adhikaṃ kvacit// 28

[137]kārikā 29: āveṇike tv akuśale dṛṣṭiy ukte ca viṃśatiḥ / kleśaiś caturbhiḥ krodhādyaiḥ kaukṛtyenaikavimśatiḥ//

[138] nivṛte‘ṣṭādaśa, anyatra dvādaśāvyākṛte matāḥ/ middhaṃ sarvāvirodhitvād yatra syād adhikaṃ hi tat//30.

[139] kaukṛtya.

[140] Vyākhyā: yadi kaukṛtyālambano dharmaḥ kaukṛtyam ucyate, tatsamprayuktā api anye cittacaitāḥ kaukṛtyaṃ prāpnuvanti; teṣām aprādhānyāt / vipratisārāvasthāyāṃ hi kaukṛtya-lakṣaṇaṃ caitasikaṃ kaukṛtyākāram udbhūtavṛttikam, anye cittacaitāḥ tadākāreṇānuvartante, kasya cid eva hi dharmasya kasmiṃś cit cittakalāpe prādhānyam iti varṇayanti: Nếu pháp có sở duyên ố tác được gọi ố tác, các tâm và tâm sở khác tương ưng với nó cũng nên cho là có ố tác, vì chúng kém thế hơn. Thật vậy, đặc tính ô tác trong trạng thái truy hối là hành tướng ố tác của tâm sở tăng thịnh; các tâm, tâm sở khác do bởi hành tướng này mà tùy thuận khởi theo. Điều đó có nghĩa là pháp nào thực sự có ưu thế trong toàn bộ tâm phẩm nào thì gọi tên theo pháp đó.

[141] Vyākhyā: skandhānām antarvyāpārapuruṣarahitālambanaṃ vimokṣamukhaṃ samādhiviśeṣaḥ śūnyatā iti ucyate/ loại tam-muội thù thắng này được gọi là không tính, là giải thoát môn có sở duyên mà công dụng nhân vi nội tại của các uẩn bị loại trừ.

[142] Vyākhyā: vinīlakavyādhmātakādyaśubhālambano’lobho’śubhety ucyate, vô tham mà có sở duyên là sự bất tịnh của xác chết tái sanh, sình chướng, vô tham ấy được gọi là bất tịnh.

[143] sthānena sthāninām iti deśaḥ, lấy trú xứ để nói cư dân.

[144] Túc tác nghiệp 宿作
<lb n="0020b14"/>, paurāṇaṃ karma, nghiệp (được gây trong) đời trước.

[145] Hán: vị tác sự 未作事; skt. akṛta, theo ngữ cảnh, nên hiểu là “sự việc (đã) không được làm.”

[146] na mayā sādhu kṛtaṃ yat tan na kṛtam iti, tôi đã làm điều không tốt, là đã không làm việc đó.

[147] Bất cộng 不共, Skt : āveṇika, Cđ. độc hành 獨行.

[148] avidyā kevalā, Cđ. độc hành vô minh 獨行
<lb n="0179b22"/>無明.

[149] xem giải thích đoạn tiếp theo.

[150] Vyākhyā: mahābhūmika eva kaścit prajñāviśeṣo dṛṣṭir iti/ santīrikā yā prajñā sā dṛṣṭiḥ/ kiến, chính là huệ đặc biệt trong đại địa pháp. Huệ quyết đoán được nói là kiến.

[151] Trong năm loại kiến, tà kiến, kiến thủ và giới thủ thuộc tính bất thiện; hữu thân kiến và biên kiến thuộc vô ký.

[152] nivṛtāvyākṛta; Vyākhyā: kleṥāc chāditaṃ kuṥalākuṥalatvena avyākṛtaṃ yat tat nivṛtāvyākṛtam/ anācchāditaṃ tv anivṛtāvyākṛtam vipākajairyāpathikaṥailpasthānikanairmāṇikasvabhāvam: cái không được xác định là thiện hay bất thiện, bị phiền não che phủ, cái đó gọi là hữu phú vô ký. Vô phú vô ký không bị phiền não che phủ, đó là dị thục sinh - oai nghi lộ - công xảo xứ và biến hóa tâm.

[153] Ngoại phương chư sư 外方諸師; skt. bahirdeśakā; Vyākhyā: kaśmiramaṇḍalād ye bahirdeśasthitās te bahirdeśakāḥ/ những vị cư trú ngoài phạm vi Kaśmira là những (luận sư) nước ngoài.

[154] Vyākhyā: middhaṃ pracalāyamānāvasthāyāṃ svapnadarṥanāvasthāyāṃ vā kuśalākuśalāvyākṛtatvād/ trong trạng thái ngủ gà gật hay lúc thấy chiêm bao, thụy miên thiện, bất thiện, hay vô ký. Quang ký (80b28): trong trường hợp có chiêm bao, thụy miên thông cả ba tính; không chiêm bao, duy chỉ vô ký.

[155] kārika 31: kaukṛtyamiddhākuṥalānyād ye dhyāne na santy ataḥ/ dhyānāntare vitarkaṥ ca vicāraṥ cāpy ataḥ param//

[156] kaukṛtyaṃ middhaṃ ca sarvathā nāsti, ố tác và thụy miên hàn toàn khong có mặt Vyākhya: / na kuśalaṃ nāpy avyākṛtam, kuta evākuālam iti sarvathā middhaṃ kaukṛtyaṃ ca nāsti/ thiện và vô ký còn không có, hà huống bất thiện, do đó nói ố tác và thụy miên hoàn toàn không có mặt.

[157] yat kaṣcid akuśalam, bất cứ những gì thuộc bất thiện; Cđ. 諸惡隨一.

[158]Vyākhyā: Tâm thiện có hai mươi hai tâm sở câu sinh như trước nói; tâm hữu phú vô ký, bất cộng và tương ưng với kiến giống như tâm ở dục giới có mười tám tâm sở câu sinh; tâm tương ưng với các phiền nảo khác như tham mạn nghi và tương ưng với các tùy phiền não như huyễn siểm cuống thì có mười chín tâm sở câu sinh. Ở đây mười chín tâm gồm những tâm ấy (mười tám tâm sở trước) và một phiền não hoặc tùy phiền não. Tâm vô phú vô ký ở nơi biến hóa, oai nghi lộ và dị thục sinh thì có mười hai tâm sở câu sinh

[159] Thích từ trong tụng văn, Skt: api (cũng = kể thêm); Hán: đẳng .

[160] Vyākhyā: kuṥale vitarkavicāranirmuktā viṃṥatiḥ/ āveṇike dṛṣṭiyukte ṣoḍaṥa/ rāgādikleṥasamprayukte madopakleṥasamprayukte ca saptadaṥa/ daṥa mahābhūmikāḥ ṣaṭ kleṥamahābhūmikāḥ/ sa ca kleṥaḥ sa vopakleṥaḥ/ anivṛtāvyākṛte daṥa mahābhūmikā ya eveti gamanīyam: trong tâm thiện có hai mươi tâm sở trừ tầm và tứ; tâm bất cộng, tương ưng với kiến thì có mười sáu tâm sở. Tâm tương ưng với các phiền não như tham v.v., và tương ưng với tùy phiền não như kiêu thì có mười bảy: mười đại địa, sáu đại địa phiền não và một phiền não hoặc tùy phiền não. Tâm vô phú vô ký được biết có mười đại địa.

[161] Hán: chúng tương y 眾相
<lb n="0020c26"/>; skt. parṣatsambandha; Vyākhyā: yeṣāṃ parṣad asti teṣāṃ parṣadgrahaṇārthaṃ māyāṥāṭhyaṃ pravartate/ aṣṭau parṣadaḥ paṭhyante- kṣatriyaparṣad, brāhmaṇaparṣad, gṛhapatiparṣad, ṥramaṇaparṣad, cāturmahārājikaparṣat, trastriṃṥatparṣat, māraparṣad, brahmaparṣat/ tāsām anyatam āpi ūrdhvam ato nāstīti māyāṥāṭhyābhāvaḥ/ brahmaṇas tu parṣadasti: những ai có đồ chúng, đối với những người ấy vì mục đích duy trì đồ chúng mà khởi lên siểm và cuống. Tám chúng được nói là chúng sát-đế-lợi, chúng bà-la-môn, chúng gia chủ cư sĩ, chúng sa môn, chúng tứ đại thiên vương, chúng Đao lợi, chúng ma thiên, chúng Phạm thiên. Thượng phương (ūrdhva) không có bất cứ chúng hội nào trong số này, do đó không có siểm và cuống. Nhưng Phạm thiên thì có huyễn (cuống) và siểm.

[162] Xem Trường A-hàm, kinh số 24 “Kiên cố”, bản Hán T1 (tr.102a27); Pāli, D. 11. Kevaddha. Cf. Tì-bà-sa 129, T27 (tr.670b26).

[163] kārikā 32: ahrīr agurutā avadye’ bhayādarśitvam atrapā/ prema śraddhā gurutvaṃ hrī te punaḥ kāmarūpayoḥ//

[164] Vô sùng 無崇; Cđ. 無自在心. Skt. apratīśatā: sự bất kính; BHS. ngữ nguyên không rõ, hoặc do prati-īkṣ: trông đợi, đoái nhìn hướng đến; nhưng Vyākhyā: śiṣyaṃ prati iṣṭa iti pratīśī gurusthānīyaḥ, nāsti pratīśo’syety apratīśaḥ/ vị được kinh trọng đối trước môn sinh là hàng sư trưởng có sự tôn kính. Trái lại là bất kính.

[165] Vô sở kỵ nạn vô sở tùy thuộc 無所忌難無所隨屬; skt. abhayavaśavartitā; Cđ.無敬畏心無隨
<lb n="0180a05"/>屬他心. Tì-bà-sa 34 (tr.179a12):
<lb n="0179a17"/>自在者無怖畏轉是謂無慚

[166]Quang ký (tr.81b05) giải thích: Các phẩm đức là giới, định, v.v. Và bậc có phẩm đức là những bậc thầy…

[167] Tội; skt. avadya; Vyākhyā: avācyam avadyam, tội là điều bị chê trách.

[168] Phân tích hợp từ abhayadarśtitva: abhayasya darśanam? bhayasya adarśanam?

[169] Hán: trí tuệ. Theo Quang ký (tr.81b22), trí tuệ ở đây là tà kiến.Vyākhyā: prajñayā hy abhayaṃ paśyati/ atha punar evaṃ kriyeta- bhayaṃ draṣṭuṃ śīlam asyeti bhayadarśī, na bhayadarśī abhayadarśī. Do bởi nhận thức (huệ) mà thấy không có sự lo sợ. Hoặc nói cách khác, người có bản tính hay thấy có sự lo sợ, gọi là người thấy sợ. Trái lại là người không thấy sợ.

[170] Vyākhyā: tayoḥ prajñāvadyoḥ, của hai cái ấy, là huệ và vô minh.

[171] Tì-bà-sa 34, tr. 179c14.

[172] Vyākhyā: hrī lajjāyam/ trapūṣ lajjāyām, động từ căn hrī (tàm) và trap (quý) đều có nghĩa là xấu hổ, e thẹn; Dhātupātha xxiv.3, Pāṇini iv.4. 122)

[173] Cđ. 愛樂
<lb n="0180a20"/>及信.

[174] kliṣṭaṃ tṛṣṇā.

[175] Tì-bà-sa 29, tr. 151a8.

[176] dvividhā hi śraddhā – dharmeṣu pudgaleṣu ca; evaṃ saprtīśatāpi, tín có hai: tin pháp và tin người; sự sùng kính cũng vậy.

[177] te ceha premagaurave abhiprete, ở đây hai thứ này (tín và tàm) được hiểu là ái và kính.

[178] kārikā 33: vitarkacārāvaudāryasūkṣmate māna unnatiḥ/madaḥ svadharme raktasya paryādānaṃ tu cetasaḥ.

[179] Tầm-tứ, skt. vitarka-vicāra, Cđ. 覺觀.

[180] Tì-bà-sa 42, tr. 219a7, a16.

[181] op.cit. tr. 219b4.

[182] Quang ký (tr. 82c2): nạn vấn bởi Thế Thân.

[183] Sai biệt giới địa (bhūmibhedāt), chỉ trạng thái thô tế sai biệt trong chín địa. Sai biệt phẩm loại (prakārabhedāt), chỉ trạng thái thô tế theo mức độ thượng trung hạ của chín cấp phiền não.

[184] Hán: ưng hữu 應有; skt. syātām; giả thiết để chất vấn; không ngụ ý khẳng định. Quang ký ibid., Luận chủ dẫn Kinh bộ để chất vấn Hữu bộ. Tì-bà-sa 52 tr. 269b10: Thí dụ bộ cho rằng tầm tứ có mặt cho đến Hữu đỉnh. Bộ này dẫn Kinh nói, theo đó, tính thô của tâm gọi là tầm; tính vi tế của tâm gọi là tứ. Bởi vì tính thô và tế đều có thể được tìm thấy từ Dục giới cho đến Hữu đỉnh, do đó chủ trương suốt cả ba giới đều có tầm tứ.

[185] Vyākhyā: sai biệt theo địa giới, như so với sơ thiền thì Dục giới là thô vì phải dụng công nhều hơn; so với Dục giới thì sơ thiền là tế vì dụng công ít hơn. Tì-bà-sa 52 (269b22): “Hoặc có nơi nói, Dục giới thì thô, sơ tĩnh lự thì tế. Trong đây tầm tứ thông cả thô và tế, vì tầm và tứ có mặt trong cả hai giới địa. Hoặc có nơi nói, sơ tĩnh lự là thô, tĩnh lự thứ hai là tế. Trong trường hợp này tầm-tứ đều là thô chứ không phải tế; vì sơ tĩnh lự trở lên không có tầm tứ. Trong những trường hợp như vậy, thô tế được quan niệm có nhiều phẩm loại, không nên quan niệm cố định.”

[186] jāti, chủng loại.

[187] Vyākhyā: vitarkavicārayor jātibheda iṣyate- anyo vitarkaḥ, anyo vicāra iti/na caudārikatvena sūkṣmatvena ca vitarkavicārayor yathākramaṃ svabhāvabhedo yuktaḥ/ kiṃ kāraṇam? jātibhinnayor hi vedanāsaṃjñayor audārikasūkṣmatā bhavati/ na ca punar audārikasūkṣatayaiva tayoḥ svabhāvabhedaḥ, kiṃ tarhi? anubhavalakṣaṇatayā nimittodgrahaṇalakṣaṇatayā ca tayoḥ svabhāvabhedaḥ, tasmād apy anayor nāsti lakṣaṇam: đây muốn nói về sự khác biệt chủngloại của tầm và tứ. Tầm và tứ là hai loại khác nhau; không thể nói chúng có tự thể sai biệt do bởi trạng thái thô và tế. Cũng như thọ và tưởng khác nhau về chủng loại mà có thô tế khác nhau, nhưng không phải do thô và tế mà cả hai có tự thể khác nhau. Bởi vì, chúng có tự thể khác nhau do bởi đặc tính của thọ là lãnh nạp, và của tưởng là nắm bắt ảnh tưởng. Vì vậy, thô và tế không phải là đặc tính để phân biệt tầm và tứ.

[188] Vākhyā: giải thích của Sautrāntika. Quang ký: giải thích thứ hai của Tì-bà-sa.

[189] Ngôn ngữ hành 言語行; skt. vāksaṃskārāḥ. Vyākhyā: vāksaṃskārā iti vāksamutthāpakā, ngôn ngữ hành là nhân đẳng khởi của ngôn ngữ, tức động cơ làm phát sinh ngôn ngữ.

[190] vitakya vicārya vācaṃ bhāṣate, nāvitarkya nāvicārya.” Cf. Cūḷavedallasutta. M.i. 301: vitakkavicārā vacīsaṃkhāro... pubbe kho...vitakketvā vicāretvā pacchā vācaṃ bhindati...

[191] Vyākhyā: chất vấn bởi Tì-bà-sa.

[192] Bhāṣya thêm: vedanāsaṃjñāvat, “như thọ và tưởng”; chi tiết không có trong Ht. và Cđ.

[193] Quan điểm của Tì-bà-sa.

[194] Kinh bộ hỏi.

[195] Trả lời của Tì-bà-sa. Vyākhyā, dẫn Saṅghabhadra: trong một tâm có cả thô và tế, không có gì mâu thuẫn, do thời gian hoạt động khác nhau. Khi trong toàn bộ tâm có tầm hoạt động, bấy giờ là tâm thô; khi có tứ hoạt động, bấy giờ là tâm tế. Như biểu thị của tham si hành giả. Tuy tham và si câu hành, nhưng tùy theo hoạt động của tham hay si mà nói là tham hành giả (rāgacarita) hay si hành giả (mohacarita). Cf. Thuận chính lý 11, tr. 394a18.

[196] Quan điểm của Kinh bộ. Quang ký. Nạn vấn của Luận chủ.

[197] Bhāṣya: ity apare, đây là quan điểm của một số luận sư. Vyākhyā: đây là ý kiến của Luận chủ. Cđ. hữu dư sư thuyết 有餘師說. Ht. không có chi tiết này. Quang ký: đoạn văn này nêu quan điểm của Luận chủ. Pañcaskandhaka, dẫn bởi Vyākhyā: tatra pūrvācaryā āhu - vitarkaḥ katamaḥ/ paryeṣako manojalpaś cetanāprajñāviśeṣaḥ/ yā cittasyaudārikatā// vicāraḥ katamaḥ/ pratyavekṣako manojalpaś cetanāprajñāviśeṣḥ/ yā cittasya sūkṣmatā// Các luận sư đời trước nói, “Tầm là gì? Sự tầm cầu bởi ý ngôn, với sự sai biệt tư và huệ, là cái có tính chất thô. Tứ là gì? Sự tư sát bởi ý ngôn, với sự sai biệt tư và huệ, là cái có tính chất tinh tế.” Đoạn trích dẫn này được tìm thấy tương đồng trong Đại thừa ngũ uẩn luận của Thế Thân, T31 (r.849b28).

[198] Quang ký: Các luận sư Tì-bà-sa dẫn Kinh để chất vấn.

[199] Định thức về sơ thiền, Skt., dẫn bởi Vyākhyā: viviktaṃ kāmair viviktaṃ pāpakair akuśalair dharmaiḥ savitarkaṃ savicāraṃ vikekajaṃ prītisukhaṃ prathamaṃ dhyānam upasampadya viharatīti, “(hành giả) chứng và trú sơ thiền, trạng thái viễn ly các dục, viễn ly các pháp ác bất thiện, có tầm, có tứ, có hỷ lạc do định sinh.”

[200] Tâm tự cử tính 心自舉性, Skt. cetasa unnati; Cđ. tâm cao 心高.

[201] Vyākhyā: bhūtenābhūtena vā parato utkarṣaparikalpena “śūro’rthavān asmi śīlavān buddhisampannaḥ” iti vā yā cetasa unnatiḥ sa māno nāma caitasiko dharmaḥ/ có thực hay có không thực, tự khoa đại rằng “tôi mạnh, tôi giàu, tôi có đạo đức, có trí tuệ”, sự đề cao của tâm như vậy gọi là tâm sở mạn. Tì-bà-sa 43, tr. 223a9: “Trong đây, mạn có đặc điểm là tự cao tự thị mình hơn người về dòng họ, nhan sắc, sức mạnh, tài sản, địa vị, trí tuệ v.v…”

[202] St. tu, không có tương đương trong Ht. và Cđ. Vyākhā: tuśabdo viṣeṣanārtho bhinnakramaś cāvagantavyaḥ/ “Từ tu (trong tụng văn) hàm nghĩa loại biệt, và cần được hiểu không theo thuận tự.

[204] Hán: linh tâm ngạo dật vô sở cố tánh 令心傲逸無所顧性. Cđ: kỳ tâm loạn vị 其心亂味. Skt. cetasaḥ paryādānam/ Vyākhyā: yena svadharmeṣv eva rūpaśauryādiṣu raktaṃ cetaḥ paryādīyate sannirudhyate sa rāganiṣyando madaḥ/ yaḥ svadharmeṣv eva raktasya darpacetasaḥ paryādānāt kuśaladharmakriyābhyaḥ pratisaṃhāro mada ity ācāryasaṅghabhadraḥ/ Kiêu, đó là lưu loại của tham, do bới nó mà tâm bị dính trước trong những gì thuộc về chính minh như sắc đẹp, sự dũng mãnh, v.v., khiến tâm bị khánh kiệt, bị chặn lại. A-xà-lê Saṅghbhadra giải thích rằng, kiêu, đó là sự khước từ các hành vi thiện pháp do bởi tính chất vô cố vì tâm cao ngạo, mê đắm những gì thuộc về mình. Cf. Thuận chính lý 11, (tr.394c06). 憍謂染著自法為先。令心傲逸。無所顧性。 等法中。 先起染著。心生傲逸。於諸善本無所顧眄。故名為憍。

[205] Vyākhā: giải thích không được Tì-bà-sa chấp nhận.

[206] Hân cử sai biệt 欣舉差別; saṃpraharṣaṇa-viśeṣa, một thứ kích động đặc biệt.

[207] Skt. mada, kiêu ngạo; cũng có nghĩa say sưa, cuồng hỷ; Cđ. túy .

[208] Hán & skt: Cittaṃ mano’tha vijñānam ekārthaṃ cittacaitasāḥ/ sāśrayālambanākārāḥ samprayuktāśca pañcadhā

[209] cinotīti cittam. Định nghĩa về tâm trong các kinh luận Phật giáo. Theo định nghĩa này, citta do động từ căn ci: cinoti: nó tích lũy. Vyākhyā: kuśalam akuśalaṃ vā cinotīty arthaḥ/ nairuktena vidhinaivaṃ siddham/ Nó tích lũy (nghiệp) thiện hay bất thiện; đây là định nghĩa theo ngữ nguyên. Quang ký: “Phạn nói chất-đa 質多, đây gọi la tâm. Nó có nghĩa là tập khởi. Do lực của tâm mà tập khởi tâm sở và các sự nghiệp.” Giải thích này không hoàn toàn phù hợp với ngữ nguyên Sanskrit.

[210] manuta iti manaḥ/ Nó tư duy, gọi nó là ý. Do động từ căn man: suy nghĩ. Quang ký: “Phạn nói mạt-na 末那, đây gọi là ý; có nghĩa là tư lượng.”

[211] vijānātīti vịjñānam/ Vyākhyā: vijānāty ālabanam iti vijñānam, kartari lyuṭ. Nó nhận thức đối tượng, gọi nó là thức. Vĩ ngữ lyuṭ lập thành danh từ hành động. Cf. Pāṇini 3.3.115. Quang ký: “Phạn nói tì-nhã-nam 毘若南, đây gọi là thức, có nghĩa là liễu biệt.”

[212] Vyākhyā: định nghĩa của Sautrāntika, hoặc của Yogācāra.

[213] Bhāṣya: citaṃ śubhāśubhair dhātubhir iti cittam/ “Gọi nó là tâm, vì được tích lũy bởi các giới loại tịnh và bất tịnh.” Vyākhyā: vāsanāsanniveśayogena sautrāntikamatena, yogācāramatena vā/ “Quan điểm của Sautrāntika hay Yogācāra nói nó là nhà chứa của các tập khí.” citam, tích tập hay tích lũy, bản Ht. đọc là citram: đa dạng.

[214] tad āśrayabhūtam manaḥ, cái làm năng y. Cf. Ch.i. k. 9, dẫn bởi Vyākhyā: ṣaṇṇam anantarātītaṃ vijñānaṃ yad dhi tan manaḥ/ thức nào trong sáu thức thuộc quá khứ vô gián (trực tiếp), thức ấy là ý (căn).”

[215] āśritabhūtam vijñānam/ Vyākhyā: “dvayaṃ pratītya vijñānasyotpattiḥiti vacanāt/ Vì Kinh có nói, duyên đến hai (căn và cảnh), thức sinh khởi.

[216] Hán: nghĩa dị thể nhất. Skt. eko’rthaḥ, nghĩa đồng nhất. Vyākhyā: yac cittaṃ tad eva manas tad eva vijñānam ity eko’rtho, “tâm tức ý, tức thức, nghĩa (nội hàm) là một. Tì-bà-sa 72 (tr.371b6): “Có thuyết nói, tâm-ý-thức có sai biệt, vì danh sai biệt. Vả lại, thời gian cũng sai biêt: Quá khứ gọi là ý, vị lai gọi là tâm, hiện tại gọi là thức. Lại nữa, sự thi thiết cũng có sai biệt: tâm sinh khởi trong giới, ý sinh khởi trong xứ, thức sinh khởi trong uẩn. Lại nữa, nghĩa cũng có sai biệt: tâm là nghĩa chủng tộc, ý là nghĩa sinh môn, thức là nghĩa tích tụ. Lại nữa, nghiệp cũng có sai biệt: viễn hành là tâm nghiệp, tiền hành là ý nghiệp, tục sinh là thức nghiệp.”

[217] Hữu sở y, sāśraya: sa-āśraya, trong đó sa-: hữu, theo nghĩa saha: câu hữu; vì không tồn tại độc lập, mà phải cùng tồn tại với sở y của nó.

[218] Hữu sở duyên 有所緣; sālambana; Cđ. hữu cảnh 有境. Vyākhyā: na hi vinālambanena cittacaittāutpadyante, vì nếu không có sở duyên thì tâm và tâm sở không thể xuất hiện.

[219] Hữu hành tướng 有行相; Skt. sākāra; Cđ. hữu tướng 有相; ảnh của đối tượng được ghi trên thức gọi là hành tướng (ākāra).

[220] Vyākhyā: yena te sālambanāḥ tasyaivālambanasya prakāreṇa grahaṇāt/ katham? vijñānaṃ hi nīlaṃ pītaṃ vā vastu vijānāti/ upalabhata ity arthaḥ/ tadeva tathālambanaṃ vastu vedanānubhavati, saṃjñā paricchinattti, cetanābhisaṃskarotīty evam ādi/ atha vā - tasyaivālambanasya vijñānaṃ sāmānyarūpeṇopalabhyatārūpaṃ gṛhṇāti, viśeṣarūpeṇa tu vedanānubhavanīyatārūpaṃ gṛhṇāti, saṃjñā paricchedyatārūpaṃ gṛhṇātīty evam ādi/ (Hữu hành tướng) cũng là hữu sở duyên, là những cái mà do bởi đó đối tượng của nó được nắm bắt theo phẩm loại. Bằng cách nào? Thức biết được, nghĩa là nó nắm bắt, vật có màu xanh hay đỏ; thọ cảm nghiệm chính sự vật đó như là sở duyên như vậy; tưởng thì phân biệt, tư thì tạo tác. Nói cách khác, hoặc thức nhận thức sắc được nắm bắt bằng tổng tướng của chính sở duyên ấy; thọ nắm giữ sắc được cảm nghiệm bằng biệt tướng; tưởng nắm giữ sắc được phân tích v.v…

[221] samprayuktāḥ, samaṃ prayuktavāt. Phân tích từ samprayuktāḥ = samaṃ (đẳng: tương đẳng, đồng đẳng, cộng đồng) + prayuktatva (hệ thuộc, kết hợp).

[222] Nguyên Hán: sự ; Skt. dravya; Cđ. vật . Vật thể ở đây được hiểu là thể chất.

[223] Trong một sát-na, không có hai tâm đồng khởi; tâm sở cũng vậy. Vyākhyā: vedanādravyam ekam evotpadyate na dve trīṇi vā, (trong một sát-na) duy chỉ một thể của thọ sinh khởi, không có hai hay ba.

cập nhật : 25-09-2010   

Google


www.phatviet.com website khác

Trao đổi ý kiến và đăng sách báo, bài viết sáng tác, dịch thuật, nghiên cứu, v.v... xin gởi đến email: Ban Tu Thư Phật Việt (hoặc hanhqua@gmail.com)