Phẩm hai:
PHÂN BIỆT CĂN
Tiết hai: CÁC PHÁP CÂU SINH
[18b15]
Ở đây, cần phải tư duy phân tích: Các pháp hữu vi, có những đặc tính
bất đồng
như vậy; chúng sinh khởi độc lập với nhau,
hay tất yếu câu sinh?
Tất yếu câu sinh.
I. SẮC PHÁP CÂU SINH
1. THÀNH PHẦN TỔ
HỢP SẮC
Một cách tổng
quát, hết thảy các pháp bao gồm trong năm phẩm loại: một, sắc; hai,
tâm; ba, tâm sở; bốn, tâm bất tương ưng hành; năm, vô vi.
Vô vi là pháp
không sinh khởi nên trong đây không đề cập. Nay, trước hết nói rõ
sắc tất yếu có câu sinh.
Trong Dục giới,
vi tụ không có thanh
Và không thuộc căn, có tám sự;
Loại câu hữu thân căn có chín sự.
Các căn khác, có mười sự //22
[118b22] Tổ hợp
sắc pháp cực kỳ vi tế gọi là vi tụ
để nêu rõ ở đây không còn cái gì nhỏ hơn nữa. Trong Dục giới, cực vi
này, không có thanh và không phải là căn,
bao gồm tám sự vật
cộng đồng sinh khởi, không giảm thiểu bất cứ một sự nào. Tám pháp đó
là gì? Đó là bốn đại chủng và bốn sở tạo gồm sắc, hương, vị, xúc.
Các tập hợp cực vi không có âm thanh, nhưng có
căn;
nhóm này có chín hoặc mười sự vật cộng đồng sinh khởi. Nếu là tụ
câu hữu căn thân, có chín sự vật cộng đồng sinh khởi; trong đó tám
sự như trên, và thân là thứ chín.
Vi tụ câu hữu với
các căn còn lại gồm mười sự vật câu sinh,
chín sự như trên, thêm một như mắt v.v. Mắt, tai, mũi, lưỡi tất yếu
không tách rời thân. Vì trong hỗ tương đối chiếu, vị trí của chúng
khác nhau.
Các vi tụ nêu trên
nếu có thanh phát sinh, theo thứ tự, số tăng dần chín, mười,
mười một.
Bởi vì xứ nào khi sinh khởi câu hữu với thanh xứ ấy không tách rời
khỏi căn, tức thanh sinh khởi do nhân đại chủng thuộc loại hữu chấp
thọ.
2. XÚC GIÁC VẬT
CHẤT
i. Xúc đại
chủng
Nếu bốn đại chủng
không tách rời nhau khi sinh, vậy tại sao chỉ có thể tiếp nhận một
trong các tính chất cứng, ướt, nóng, chuyển động trong các tụ, chứ
không tiếp nhận những thứ khác cùng lúc?
a. Do thế dụng tăng
Ở trong một tụ mà
cái nào có thế lực nhạy bén hơn
thì nó rõ ràng hơn nên có thể được tiếp nhận. Như cảm giác sự xúc
chạm của một bó gồm kim nhọn và que.
Hoặc như nếm vị hỗn hợp của muối và bột gạo rang.
Vì sao trong tụ kia mà biết còn có các đại
khác?
Do có các tác nghiệp là duy trì, kết hợp, phát
triển và vận chuyển.
b. Do duyên dụng tăng
1. Có thuyết nói:
do bởi khi gặp duyên, những thứ như cứng v.v., bèn có các trạng thái
trôi chảy v.v… Như trong tụ của nước, do cực lạnh mà phát sinh cảm
giác nóng.
Tuy
không tách rời với nhau,
nhưng dụng của lạnh tăng. Như cảm thọ và âm thanh, chỉ khác nhau do
dụng có mạnh yếu.
c. Thuyết chủng tử
Một số luận sư
khác
nói, còn lại trong tụ này, do chủng tử chưa thành tự thể tồn tại,
vì Kinh có nói, “Trong tụ của gỗ có nhiều giới khác nhau.”
Giới ở đây là chủng tử.
ii. Xúc
tạo sắc
Vì sao biết trong
gió có sắc màu?
Ý nghĩa này do tin
chứ không do suy luận mà biết.
Bởi vì, hoặc do kết hợp với gió mà hương được tiếp nhận; hoặc vì nó
không tách rời với sắc màu.
3. SẮC TỤ THƯỢNG
GIỚI
Như trước đã nói,
do bởi hương và vị không tồn tại trong Sắc giới;
do đó, ở đó vi tụ khi không có thanh gồm sáu, bảy, tám phần tử câu
sinh; khi có thanh gồm bảy, tám, chín phần tử câu sinh. Điều này có
thể chuẩn theo đó mà biết, cho nên không cần đề cập.
4. PHẢN BÁC
Trong đây nói vật
thể,
là y trên vật thể
mà nói, hay y trên xứ mà nói?
Nếu vậy cái nào có
lỗi?
1. Cả hai đều có lỗi.
Nếu y trên vật thể mà nói thì tám, chín, mười vật thể là quá ít, vì
các tập hợp cực vi ắt có hình sắc
do nhiều cực vi tích tụ. Tính nặng, nhẹ tất yếu phải có một; tính
trơn, nhám cũng như vậy, tất yếu chọn một; hoặc có trường hợp lạnh,
đói, hoặc khát.
Nếu vậy, con số được nói trên phạm lỗi là quá ít.
Nếu y trên xứ
mà nói, thì tám, chín, mười vật thể là quá nhiều, vì bốn đại chủng
được bao gồm trong xúc xứ, vậy nên nói số vật thể chỉ có bốn.
Vậy thì con số được nói trên phạm lỗi là quá nhiều.
2. Cả hai đều không
có lỗi.
Nên biết rằng, ở đây nói vật thể là một phần y trên thể mà nói, đó
là đại chủng làm sở y;
và một phần y trên xứ mà nói, đó là tạo sắc năng y.
3. Nếu vậy, yếu tố đại chủng
phải có nhiều, vì mỗi tạo sắc đều có sở y là bốn đại chủng.
4. Nên biết, ở đây là y trên thể loại
mà nói. Vì thể loại của tất cả bốn đại chủng không có sự sai khác.
5. Cần gì phải phân biệt bằng những từ như thế?
Từ ngữ được sử dụng là tùy theo ý dục, nhưng ý nghĩa thì cần phải
suy cứu.
II. TÂM PHÁP CÂU SINH
Như vậy đã giải
thích xong sự tất yếu câu sinh của sắc. Các tất yếu câu sinh còn
lại, nay tiếp theo sẽ giải thích.
Tâm, tâm sở tất
yếu câu sinh
Cùng với tướng các hành,
hoặc (với) đắc//23ab.
[19a01] Tâm
và tâm sở tất yếu câu sinh, khi khuyết một
thì không thể sinh khởi.
Các hành tức là
tất cả pháp hữu vi. Đó là sắc, tâm, tâm sở và tâm bất tương ưng
hành. Từ “tất yếu câu sinh” trong câu tụng trên đọc liền xuống đây.
Nghĩa là các hành như sắc, tâm, v.v., khi sinh chúng nhất định cùng
sinh với bốn tướng của hữu vi.
Từ “hoặc đắc”,
nghĩa là trong các hành, đắc chỉ có thể cùng sinh với pháp thuộc hữu
tình, mà không thể cùng sinh với các pháp khác, cho nên nói “hoặc”.
1. PHÂN LOẠI TÂM
SỞ
Trên đây vừa đề
cập đến tâm sở; vậy tâm sở là gì?
Tâm sở gồm có
năm
Đại địa pháp, v.v., do loại biệt//23cd.
[19a08] Các tâm sở
pháp lại có năm phẩm. Năm phẩm ấy là gì? 1. Đại địa pháp, 2. Đại
thiện địa pháp, 3. Đại phiền não địa pháp, 4. Đại bất thiện địa
pháp, 5. Tiểu phiền não địa pháp.
i. Đại địa
pháp
Địa là hành xứ.
Nếu pháp nàolà hành xứ
của pháp kia, thì nó được nói là “địa”
của pháp ấy. Vì môi trường hoạt động của những pháp ấy, cho nên gọi
là đại địa. Trong đây, nếu những địa nào mà sở hữu tính cách rộng
lớn, chúng được gọi là đại địa pháp.
Nghĩa là những pháp luôn luôn hiện hữu trong tất cả tâm.
Những pháp ấy là gì?
Thọ, tưởng, tư,
xúc, dục,
Huệ, niệm và tác ý,
Thắng giải, tam-ma-địa,
Phổ biến tất cả tâm//.24
[19a16] Theo
truyền thuyết,
mười pháp đã được liệt kê như thế, chúng hòa hợp và hiện hữu khắp
trong mọi sát na tâm.
1. Trong đây, thọ
nghĩa là ba sự lãnh nạp
khác nhau: khổ, lạc và phi cả hai.
2. Tưởng
là nắm bắt hình tướng sai biệt của đối tượng.
3. Tư là cái khiến tâm tạo tác.
4. Xúc
phát sinh bởi sự hòa hợp của căn, cảnh, thức,
có tác dụng xúc chạm.
5. Dục là mong muốn hành động được tiến hành.
6. Huệ có khả năng tuyển trạch đối với pháp.
7. Niệm là ghi nhớ rõ, không quên đối tượng.
8. Tác ý là cái khiến tâm cảnh giác.
9. Thắng giải là cái ấn khả đối tượng.
10. Tam-ma-địa
là tính chất tâm chuyên chú vào một điểm.
Những đặc tính sai
biệt của tâm và tâm sở rất vi tế, từng cái riêng biệt trong những
hoạt động liên tục mà còn khó phân biệt, hà huống trong cùng một sát
na chúng đồng thời hiện khởi.
Cũng như các loại thảo dược có hình sắc được sắc căn nắm bắt, mà
hương vị sai biệt của chúng còn khó mà nhận biết được, hà huống với
pháp vô sắc chỉ có nhận thức bằng giác huệ.
Như vậy đã nói
xong mười đại địa pháp.
ii. Đại
thiện địa pháp
Địa của pháp đại
thiện gọi là đại thiện địa.
Trong đây, tất cả những pháp nào mà địa của đại thiện sở hữu, chúng
được gọi là đại thiện địa pháp. Nghĩa là những pháp luôn luôn hiện
hữu trong các thiện tâm. Những pháp ấy là gì?
Tín và bất phóng
dật,
Khinh an, xả, tàm, quý,
Hai căn, bất hại, cần,
Hiện hữu khắp thiện tâm//25
[19b02] Các pháp
này duy chỉ phổ biến trong các thiện tâm.
1. Ở đây, tín nghĩa là làm cho tâm lắng sạch.
Có thuyết cho rằng, chấp nhận có đế, thật, nghiệp, quả gọi là tín.
2. Bất phóng dật là tu tập các thiện pháp. – Nhưng, xa lìa các bất
thiện pháp sao cũng gọi là tu?
– Vì nó (bất phóng dật) có đặc tính là chuyên chú nơi thiện.
Theo Kinh của một số bộ phái khác
có giải thích như sau: cái thủ hộ tâm gọi là bất phóng dật.
3. Khinh an là tính linh hoạt của tâm.
– Há chẳng phải Kinh cũng có nói thân khinh an sao?
– Tuy không phải không nói, nhưng nên biết cũng như nói về cảm thọ
của thân vậy.
– Vậy sao có thể lập khinh an làm giác chi?
– Nên biết trong đây thân khinh an là tính linh hoạt của thân.
– Lại nữa, làm sao có thể nói thân khinh an là giác chi?
– Vì nó thuận với giác chi, nên không có gì sai lầm. Vì thân khinh
an dẫn khởi giác chi là tâm khinh an giác chi.
Có nơi nào khác
được thấy nói như vậy chăng?
Có. Như Kinh
nói: Hỷ và pháp thuận với hỷ
gọi là hỷ giác chi. Sân cùng với các nhân duyên đi cùng với nó
gọi là sân nhuế cái. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh cần gọi là huệ
uẩn.
Tư duy và cần tuy tính chất của nó không phải là huệ nhưng tùy thuận
với huệ nên cũng gọi là huệ. Do đó, thân khinh an vì tùy thuận với
giác chi nên được gọi là giác chi thì không có gì sai.
4. Tính bình đẳng
của tâm, tính không cảnh giác
gọi là xả.
Làm sao mà trong
một tâm vừa có tính cảnh giác của tác ý
vừa có tính không cảnh giác của xả cùng khởi lên một lần?
Há trước chẳng nói
là đặc tính của tâm và tâm sở rất vi tế khó nhận biết đó sao!
Có cái tuy khó
nhận biết, nếu quan sát thẩm xét kỹ hẳn có thể nhận biết được. Nhưng
điều này thì cực kỳ khó nhận biết, đó là hai cái tương phản lại
không chống trái nhau?
Có cảnh giác nơi
một đối tượng này, và không cảnh giác nơi đối tượng khác. Hai trường
hợp này hoàn toàn cách biệt nhau thì có gì là chống trái?
Nếu vậy
thì hai tâm sở ấy phải không cùng duyên đến một cảnh. Hoặc tất cả
đều phải tương ưng với nhau?
Các pháp khác thuộc cùng chủng loại như vậy, trong đó, nếu nó xảy
ra,
nên theo lý thú ấy mà nhận định. Nay trong đây cũng nên biết như
thế.
5-6. Hai loại tàm,
quý sẽ giải thích sau.
7-8. Hai căn
là vô tham, vô sân. Thiện căn vô si có thể tính là huệ như đã nói
trong đại địa pháp nên không cần lập lại trong đại thiện địa pháp.
9. Bất hại
là không gây tổn hại.
10. Cần là sự hăng
hái của tâm.
Như vậy đã nói xong đại thiện địa pháp.
iii. Đại
phiền não địa pháp
Địa của pháp phiền
não lớn nên gọi là đại phiền não địa.
Trong đó pháp nào mà có địa là phiền não, nó được gọi là pháp thuộc
đại phiền não địa. Tức là những pháp luôn có mặt trong tâm ô nhiễm.
Đó là những pháp
nào?
Si, dật, đãi,
bất tín,
Hôn, trạo hằng duy nhiễm.//26ab
[19c04] 1.
Trong đây, si là ngu si, tức vô minh, vô trí, vô hiển.
2. Dật nghĩa là phóng dật, tức không tu các thiện nghiệp. Đó là pháp
được đối trị bằng sự tu tập các thiện.
3. Đãi nghĩa là giải đãi. Đó là cái được đối trị bởi cần (tinh tấn)
như được nói trên.
4. Bất tín nghĩa là sự không trừng tịnh (lắng trong) của tâm, được
đối trị bởi tín như đã nói.
5. Hôn là hôn trầm.
Luận Đối pháp
nói: “Hôn trầm là gì? Tính nặng nề của thân, tính nặng nề của tâm;
tính không linh hoạt của thân, tính không linh hoạt của tâm; tính
hôn trầm của thân, tính hôn trầm của tâm. Đó gọi là hôn trầm.”
Đây là tâm sở, sao lại nói là thân? – Như nói
cảm thọ thuộc thân thì đâu có lỗi gì.
6. Trạo nghĩa là trạo cử, nó khiến cho tâm không được yên tĩnh.
Chỉ có sáu loại như thế gọi là đại phiền não
địa pháp.
Há không phải rằng trong Căn bản A-tỳ-đạt-ma
đại phiền não địa pháp được nói có mười tâm sở? Vả lại cũng trong
luận ấy không nói đến hôn trầm?
– Mười tâm sở đó là những gì? – 1. Bất tín, 2. giải đãi, 3. thất
niệm, 4. tâm loạn, 5. vô minh, 6. bất chánh tri, 7. phi lí tác ý, 8.
tà thắng giải, 9. trạo cử, 10. phóng dật.
Này Thiên Ái, ở đây ngài chỉ biết bắt lời
mà không biết ý chỉ.
Vậy ý chỉ gì?
Thất niệm, loạn
tâm, bất chánh tri, phi lý tác ý và tà thắng giải đã trình bày trong
pháp thuộc đại địa nên không lặp lại trong đại phiền não địa pháp
này nữa. Như thiện căn vô si, thể tính của nó là huệ nên nó không
thuộc đại thiện pháp. Các tâm sở cũng như vậy. Nghĩa là, niệm nhiễm
ô gọi là thất niệm. Định nhiễm ô gọi là tâm loạn. Các huệ nhiễm ô
gọi là bất chánh tri. Tác ý, thắng giải nhiễm ô gọi là phi lý tác ý
và tà thắng giải.
Nếu vậy, pháp đại
địa cũng gọi là pháp đại phiền não địa sao? Cần phân biệt bốn lựa
chọn.
Thứ nhất: thọ, tưởng, tư, xúc, dục. Thứ hai: bất tín, giải đãi, vô
minh, trạo cử, phóng dật. Thứ ba: năm pháp như đã nói trên: niệm
v.v.
Thứ tư: trừ các trường hợp đã kể.
Quan điểm khác
cho rằng tà đẳng trì (định),
không phải chính là tâm loạn này.
Trường hợp bốn lựa chọn nói trên không giống như đây.
Lại nữa, quan điểm
cho rằng hôn trầm cùng tương ưng với tất cả phiền não, nhưng không
được kể trong đại phiền não địa pháp. Vậy thuyết nào sai lầm?
Có giải thích nói,
đáng lý nó được kể ở đây, nhưng không kể đến vì nó thuận đẳng trì.
Theo giải thích này, hành giả có hôn trầm có thể nhanh phát sinh
định, hành giả có trạo cử thì không như vậy.
Ai thuộc loại hành
giả hôn trầm mà không phải là hành giả trạo cử? Ai là hành giả trạo
cử mà không phải là hành giả hôn trầm? Hai trạng thái này không bao
giờ không cộng hành. Tuy vậy, nên biết rằng tùy theo tính vượt trội
của trạng thái nào mà nói đến hành giả loại ấy.
Tuy biết rằng tùy
theo trạng thái nào vượt trội
mà loại hành giả ấy được nói đến, nhưng căn cứ bản chất mà lập địa
pháp. Cho nên địa pháp này được chứng minh chỉ có sáu. Vì Sáu tâm sở
này duy chỉ cùng khởi với tâm nhiễm ô chứ không khởi với tâm khác.
Như vậy đã nói
xong pháp đại phiền não địa.
iv. Đại bất
thiện địa pháp
Cơ địa phổ biến
của pháp bất thiện gọi là đại bất thiện địa.
Trong đây pháp nào
có đại bất thiện địa gọi pháp đó là đại bất thiện địa, nghĩa là pháp
luôn hiện hữu với tâm bất thiện. Pháp ấy là gì?
Phổ biến tâm bất
thiện,
Duy vô tàm, vô quý.//26cd
[20a10] Duy hai
tâm sở này chỉ câu hành với tất cả tâm bất thiện, đó là vô tàm, vô
quý. Cho nên chỉ có hai loại này được gọi là pháp bất thiện địa. Đặc
tính của hai pháp này sẽ được giải thích sau.
Như vậy đã nói
xong đại bất thiện địa pháp.
v. Tiểu
phiền não địa pháp
Những cơ địa của
pháp phiền não thứ cấp
gọi là tiểu phiền não địa. Trong đây pháp nào có tiểu phiền não địa,
nó được gọi là tiểu phiền não địa pháp. Đó là những pháp cùng khởi
với tâm nhiễm ô trong phạm vi hạn hẹp. Pháp ấy là gì?
Phẫn, phú, xan,
tật, não,
Hại, hận, siểm, cuống, kiêu;
Loại như vậy được gọi
Tiểu phiền não địa pháp.//27
[0020a18]
Loại pháp như thế, duy chỉ
tương ưng với vô minh, thuộc tu sở đoạn, phát sinh trong phạm vi ý
thức.
Chúng hiện hành riêng rẻ, cho nên gọi là tiểu phiền não địa pháp.
Những pháp này sẽ được giải thích chi tiết sau trong phần tùy phiền
não.
Ngoài năm phẩm tâm
sở đã được trên đây, còn có các tâm sở bất định;
đó là các pháp ố tác, thụy miên, tầm, tứ, v.v…
2. TẤT YẾU CÂU
SINH
i. Dục giới
Trong đó, nên
thuyết minh, trong những tâm phẩm nào có bao nhiêu tâm sở tất yếu
câu sinh.
Dục có tầm có
tứ,
Ở trong tâm phẩm thiện,
Hai mươi hai tâm sở;
Có khi thêm ố tác,//28
Đối với bất thiện bất cộng,
Vớ kiến, chỉ hai mươi,
Bốn phiền não, phẫn v.v.,
Ố tác, hai mươi mốt.//29
Hữu phú có mười tám,
Vô phú rằng mười hai,
Thụy miên khắp chẳng trái,
Nếu có đều thêm một.//30
[20b01] Vả, trong
dục giới phẩm tâm có năm: 1. thiện chỉ có một. 2-3. bất thiện có
hai: tương ưng với bất cộng vô minh và tương ưng với các phiền não
khác; 4-5. vô ký có hai: hữu phú vô ký và vô phú vô ký.
Tuy nhiên, tâm ở
dục giới nhất định có tầm có tứ, nên tâm phẩm thiện nhất định có hai
mươi hai tâm sở cùng sinh, đó là mười đại địa pháp, mười đại thiện
địa pháp và hai bất định tầm và tứ.
Không phải các
thiện tâm luôn luôn có ố tác; khi có ố tác, nó tăng đến hai mươi ba.
Ố tác
là gì? Vì có bản chất ghét điều đã làm, gọi là ố tác. Nên biết trong
đây pháp có sở duyên là ố tác gọi là ố tác, đó là tính truy hối của
tâm mà sở duyên là ố tác.
Như giải thoát môn có sở duyên là không tính thì được gọi là không
(giải thoát môn);
vô tham mà có sở duyên là bất tịnh thì được gọi là bất tịnh (quán).
Lại nữa, điều được
thấy trong thế gian, là quy ước theo sở y mà nói năng y. Như nói,
“Tất cả thôn, ấp, quốc độ đều đến tụ họp.”
Ố tác chính là sở y của truy hối. Cho nên căn cứ sở
y nói là ố tác.
Vả
lại, y theo thể quả mà giả lập tên của nhân, như nói «Sáu xúc xứ
này, nên biết, là túc tác nghiệp.»
Nếu sở duyên là sự việc không được thực hiện,
sao gọi là ố tác? Đối với việc không làm cũng lập thành tên ố tác.
Như truy hối rằng «Trước đây tôi đã không thực hiện sự việc như thế.
Đó là việc làm xấu (ố tác) của tôi.»
Ố
tác như thế nào gọi là thiện? Đó là tính truy hối trong tâm đối với
việc thiện đã làm, với việc ác mà không làm; trái lại, được gọi là ố
tác bất thiện. Mỗi loại trong hai đều y trên hai cơ sở mà phát sinh.
1. Trong bất thiện, nếu là tâm phẩm bất cộng, tất có
hai mười tâm sở câu sinh; đó là mười đại địa pháp, sáu đại phiền não
địa pháp, hai đại bất thiện địa pháp, cùng với hai bất định là tầm
và tứ.//
Sao gọi là tâm bất cộng?
Tâm phẩm này duy chỉ có vô minh,
không có các phiền não khác như tham, v.v…
2. Trong bất thiện, tâm phẩm tương ưng với kiến cũng
có 20 tâm sở câu sinh. Tên gọi như đã được nói trong tâm phẩm bất
cộng trên, không phải thêm kiến
mà có 21; vì chính huệ trong 10 đại địa pháp có tác dụng đặc biệt
nên được gọi là kiến.
Nói rằng tâm bất thiện tương ưng với kiến, là nói trong tâm này hoặc
có tà kiến, hoặc có kiến thủ hoặc giới cấm thủ.
3. Trong tâm phẩm bất thiện tương ưng với bốn phiền
não tham, sân, si, mạn, có 21 tâm sở câu sinh: 20 như ở bất cộng,
thêm một trong 4 tâm sở, tham v.v…
4. Tương ưng với một trong các tùy phiền não, phẫn
v.v… nêu trên, cũng có 21 tâm sở câu sinh: 20 như bất cộng thêm một
trong các tùy phiền não, phẫn v.v…
5. Tâm phẩm tương ưng với ố tác bất thiện cũng có 21
loại tâm sở câu sinh, tức ố tác là tâm sở thứ 21.
Tổng quát mà nói, trong các phẩm tương ưng với bất thiện, bất cộng
và kiến duy chỉ có 20, ngoài ra các phẩm tương ưng với 4 phiền não
và tùy phiền não có 21.
6. Nếu trong tâm phẩm vô ký hữu phú
thì chỉ có 18 tâm sở câu sinh: 10 pháp đại địa, 6 pháp đại phiền não
địa, cùng với 2 tâm bất định là tầm và tứ.
Tâm vô ký hữu phú ở trong Dục giới, là những thứ tương ưng với
tát-ca-da-kiến và biên chấp kiến, trong đó kiến không tăng, nên
hiểu, như trước đã giải thích.
Trong các tâm vô ký vô phú còn lại, được cho là chỉ có 12 tâm sở câu
sinh: 10 pháp đại địa cùng với 2 bất định tầm và tứ.
Các luận sư nước ngoài
cho rằng ố tác cũng thông với vô ký; tâm phẩm tương ưng với nó bấy
giờ có 13 tâm sở câu sinh.
7. Nên biết rằng thụy miên không trái nghịch với hết
thảy tâm phẩm được nêu trên, vì nó thông cả 3 tánh thiện, bất thiện
và vô ký.
Bất cứ tẩm phẩm nào có nó, đó đều có tăng: 22 tăng thành 23 tâm sở,
nếu là 23 tăng thành 24. Tâm sở bất thiện, vô ký, nên biết cũng theo
thể lệ này.
ii. Thượng giới
Đã
nói định lượng của các tâm câu sinh với các tâm sở trong Dục giới.
Nay sẽ nói đến Thượng giới.
Sơ định trừ bất thiện
Cùng ố tác, thụy miên;
Trung định loại trừ tầm;
Trên, trừ từ, các loại//31.
[20c19] 1. Trong sơ tĩnh lự, loại trừ duy chỉ bất thiện, ố tác, thụy
miên;
các tâm sở còn lại đã kể trên đều có mặt đầy đủ. Nói “duy chỉ bất
thiện”,
là chỉ các phiền não gồm sân, và (tùy phiền não gồm) phẫn các thứ
(nhưng) trừ siểm và cuống, và vô tàm vô quý. Nói “còn lại đều có
mặt”, như được kể trong Dục giới.
2. Tĩnh lự trung gian loại trừ những tâm sở đã loại
trừ kể trên, lại trừ thêm tầm, ngoài ra đều có đầy đủ.
Tĩnh lự thứ hai trở lên cho đến Vô sắc giới, loại trừ những tâm sở
đã loại trừ kể trên, lại trừ tầm và tứ.
Từ
“các loại”
ở đây chỉ rõ trừ thêm cuống, siểm; ngoài ra như đã
kể trên đều có đủ.
Kinh nói, cuống, siểm cao nhất cho đến Phạm thiên, vì quan hệ với
đại chúng;
từ cõi này trở lên không còn 2 tâm này nữa.
Khi Đại Phạm thiên đang ngồi giữa hội chúng Phạm thiên của ông, bỗng
Tỳ kheo Mã Thắng đến hỏi: “Trong địa vị nào thì bốn đại chủng này
tận diệt không còn dư tàn?” Phạm vương không biết chúng diệt tận vô
dư trong địa vị nào, bèn trả lời bằng cách nói lãng: “Ta là Đại
phạm, là đấng Tự tại, là đấng Sáng tạo, là Tạo hóa chủ, là đấng Sinh
sản, là đấng Dưỡng dục, là Tổ phụ của tất cả.” Sau khi nói như vậy,
Phạm vương bèn dẫn Tỳ kheo Mã Thắng ra khỏi hội chúng Phạm thiên,
nói những lời chữa thẹn, bảo Tỳ kheo quay trở về hỏi Phật.
Như vậy đã nói số lượng tâm sở của các tâm trong các giới địa.
3. SAI BIỆT LOẠI TỢ
i. Vô tàm - vô quý
Không tàm, quí: không
trọng,
Không thấy sợ tội lỗi.
Ái, kính là tín, tàm,
Chỉ có ở Dục, Sắc.
[21a07] 1. Sự khác nhau giữa vô tàm và vô quý ở đây là, sự không
cung kính, không sùng
trọng,
không úy kỵ và không phục tùng
đối với các phẩm đức
và người có phẩm đức,
gọi là vô tàm. Pháp
đối nghịch với sự cung kính ấy, là pháp mà các bậc thiện sĩ chê
trách, gọi là tội.
Đối với tội này không thấy sợ, gọi là vô quý. Ở đây nói sợ là nêu
rõ quả không đáng ưa, nó làm
phát sinh sự sợ hãi.
Nói “không thấy sợ” là muốn nêu rõ nghĩa gì? Muốn nói thấy mà
không sợ, gọi là không thấy sợ, hay là không thấy (quả) đáng sợ
kia, gọi là không thấy sợ?
Nếu vậy, sai lầm ở chỗ nào?
Cả
hai đều có sai. Nếu
thấy mà không sợ, nên biết đó là trí huệ.
Nếu không thấy (quả) đáng sợ kia nên biết đó là vô minh. Ở đây hợp
từ này không nói đến sự
thấy hay không thấy.
Vậy nó nói đến cái gì?
Ở
đây chỉ rõ có một pháp, vốn là tùy phiền
nào, nó làm nhân
cho hai cái ấy, được gọi là vô quý.
2. Có luận sư
nói: Đối với tội đã làm, quán sát mình mà
không thấy xấu hổ, gọi là vô tàm; quán sát người mà không thấy
xấu hổ, gọi là vô quý.
Nếu vậy, hai sự quan sát
này làm sao sinh khởi cùng một thời?
Không nói hai sự này
sinh khởi cùng một thời, khi xét về mình hay về người. Nhưng khi xét
về tự thân mà tâm không xấu hổ vượt trội gọi là vô tàm. Lại nữa, khi
suy xét về người tâm không xấu hổ vượt trội gọi là vô quý.
ii. Tàm và quý
Sự
khác nhau giữa tàm và quý, nên biết, ngược lại với những điều nói
trên. Nghĩa là, trái với giải thích thứ nhất, theo đó có kính
trọng, có tôn sùng, có sự úy kị,
có sự tùy thuộc, được
gọi là tàm; thấy sợ hãi đối với tội lỗi, được
gọi là quý. Trái với giải thích thứ hai, theo đó, đối với tội đã
tạo ra, tự xét mình thấy hổ thẹn gọi là tàm, xét người thấy hổ thẹn
gọi là quý. Đã nói xong sự khác nhau giữa tàm và quý.
iii. Ái và kính
1. Sự khác nhau giữa ái và kính :
Ái nghĩa là yêu thương, thể của nó là tín.
Ái có hai: nhiễm ô và không nhiễm ô. Nhiễm ô, đó là tham ái,
như thương yêu vợ con v.v., không nhiễm ô, đó là tín,
như yêu kính sư
trưởng.
a.
Tín mà không ái, đó
là tín duyên đến khổ,
tập.
b.
Yêu kính mà không tín là ái nhiễm ô.
c.
Có cả tín và yêu kính
là tín duyên đến diệt, đạo.
d.
Không tín không yêu kính: ngoài ba loại trên.
2. Luận sư khác nói: Tín là chấp nhận có đức. Do tín
dẫn đầu, sau mới phát sinh yêu kính, cho nên ái không phải là tín.
Kính là kính trọng, thể của nó là tàm. Như đã giải thích ở trên, tàm
nghĩa là kính trọng, tôn sùng …
a.
Tàm mà không kính: tàm duyên đến khổ, tập.
b.
Có cả tàm và kính: tàm duyên đến diệt, đạo.
3. Có thuyết nói: Kính là sự sùng trọng. Do kính dẫn
đầu mới phát sinh xấu hổ, cho nên kính không phải là tàm. Vì liên
quan đến đối tượng là bổ-đặc-già-la, nên có và không có ái, kính có
thể phân làm bốn phạm trù:
a.
Ái không kính: đối với vợ con và những người cùng sống chung.
b.
Kính không ái: đối với sư trưởng của người khác và những người cao
quý có đức.
c.
Có cả ái, kính: tình thương đối với sư trưởng và cha mẹ, chú bác của
mình.
d.
Không ái không kính: ngoài ba phạm trù trên.
Như vậy, ái và kính chỉ có ở
Dục giới, Sắc giới mà không có ở Vô sắc giới.
Há
không phải rằng pháp đại thiện địa tín, tàm cũng có ở Vô sắc giới?
Ái, kính có hai, đó là duyên đến pháp và duyên đến bổ-đặc-già-la.
Ái, kính duyên đến pháp xuất hiện ở cả ba cõi. Ở đây ý nói duyên đến
bổ-đặc-già-la, (nên nói) chỉ có ở Dục giới, Sắc giới mà không có ở
Vô sắc giới.
Như vậy, đã nói xong sự khác nhau giữa ái, kính.
iv. Tầm và tứ - mạn và kiêu
Tầm, tứ, mạn, kiêu khác nhau như thế nào?
Tầm, tứ: tâm thô, tế,
Mạn: tâm bốc đối người,
Kiêu: đắm nhiễm tự thân,
Tâm cao không kể người.//33/
a. Tầm và tứ
[21b18] Sự khác nhau giữa tầm và tứ,
chính là tâm thô, tế. Tính thô của tâm gọi là tầm, tính vi tế của
tâm gọi là tứ.
Làm thế nào hai tính này có thể liên kết nhau trong một tâm?
1. Có vị giải thích:
Như váng sữa nổi trên bề mặt nước lạnh, và ánh nắng mặt trời chiếu
trên váng sữa. Váng sữa không bị tan chảy cũng không đông lại do
nhân bởi nước và mặt trời. Trong một tâm có cả tầm và tứ cũng như
vậy; tâm do tầm và tứ mà không quá thô hay quá tế, cho nên trong một
tâm có đủ cả hai tác dụng.
Nếu vậy,
tầm và tứ là nhân của thô, tế, chứ không phải là tự thể của thô, tế.
Như nước và ánh nắng mặt trời là nhân làm cho (váng sữa) đông lại
hay tan chảy, chứ không phải tự thể của sự đông lại hay tan chảy.
Lại nữa, tính thô, tế được quan niệm theo sự đối đãi, được hình dung
tương đối cao và thấp theo sai biệt giới địa và phẩm loại,
cho đến cõi Hữu đảnh cũng vậy nên nói cũng có
tầm, tứ.
Lại nữa, thô và tế không có sự sai biệt về thể loại,
nên không thể dựa vào đó mà nói tầm tứ khác nhau.
2. Giải thích khác
nói, hai pháp tầm, tứ là nhân tố phát sinh ngôn ngữ.
Như Kinh nói, “Sau khi suy tầm, sau khi tứ sát, rồi mới phát sinh
ngôn ngữ; không phải không có suy tầm, không
có tứ sát.”
Trong nhân tố ngôn ngữ này, thô gọi là tầm, vi tế là tứ.
Nếu trong một tâm mà tồn tại hai pháp thô và tế riêng biệt, theo lý,
có mâu thuẫn gì không?
Nếu có thể loại riêng biệt thì không có gì trái lý;
nhưng do không có thể loại riêng biệt, nên lý thành ra mâu thuẫn; vì
trong một thể loại không cho phép thô, tế cùng lúc phát sinh.
Nếu nói thể loại cũng có sai khác?
Hãy nói đặc điểm về sự khác nhau của thể loại này như thế nào.
Đặc điểm về sự
sai biệt của hai thể loại này thật khó mà nói, nhưng đặc điểm của sự
sai biệt này được hiển thị bằng mức độ thượng hay hạ.
Mức độ thượng
hạ không hiển thị sự sai biệt, vì mỗi một thể loại có khi ở mức độ
thượng, có khi hạ.
Do vậy nên biết
hai pháp tầm, tứ nhất định không thể được cho là cùng tương ưng
trong một tâm.
Nếu vậy tại sao
trong khế kinh
nói sơ tĩnh lự có đầy đủ năm thiền chi?
Nói đầy đủ năm
thiền chi chính là nói trong một địa chớ chẳng phải một sát-na, do
đó không có gì sai.
Như vậy đã nói
xong sự sai biệt của tầm, tứ.
b.
Mạn và kiêu:
1.
Mạn là sự tự đề cao của tâm ý
đối với người khác. Sự đánh giá về phẩm đức ưu việt của mình đối với
người, hay sự tự đề cao, tự thị của tâm, khinh miệt người, gọi nó là
mạn.
Nhưng,
kiêu là sự mê đắm những gì thuộc về mình,
do bởi đó khiến tâm cao ngạo, không còn biết đến ai.
2. Các Luận sư
khác
nói, như do uống rượu mà phát sinh bốc vui kích động,
nên gọi là say;
cũng vậy, loại bốc vui phát sinh do tham được gọi là kiêu.
Đó là những đặc
điểm khác nhau của mạn và kiêu.
Như thế, đã nói
xong các tướng trạng tất yếu câu sinh của các phẩm loại tâm, tâm sở
bất đồng.
v. Tâm-ý-thức
Nhưng, trong
khế kinh, tùy theo nghĩa, tâm và tâm sở được nói đến với nhiều loại
danh và tưởng khác nhau. Nay sẽ phân tích sự sai biệt của các danh
nghĩa này.
Tâm,
ý, thức đồng một thể
Tâm,
tâm sở có năm nghĩa
Hữu y
và hữu duyên,
Hành
tướng và tương ưng.//34
[21c20] 1. Nó
tập khởi nên nó được gọi là tâm.
Do suy lường nên nó được gọi là ý.
Do cá biệt nhận thức nên nó được gọi là thức.
2. Lại có giải
thích khác:
do sự sai biệt đa dạng của giới loại tịnh, bất tịnh, nên gọi là tâm.
Chính nó là sở y chỉ cho các thức khác nên gọi là ý;
là năng y chỉ nên được gọi là thức.
Cho nên, ba danh từ tâm-ý-thức với nội hàm của chúng, ý nghĩa tuy có
khác nhưng thể của chúng đồng nhất.
Cũng như ba tên
gọi tâm, ý, thức; ba danh từ tâm-ý-thức với nội hàm của chúng, ý
nghĩa tuy có khác nhưng thể của chúng đồng nhất; cũng vậy, các tâm,
tâm sở được gọi là hữu sở y, hữu sở duyên, hữu hành tướng, và tương
ưng, tên gọi và ý nghĩa tuy sai khác mà thể là một. Nghĩa là tâm,
tâm sở đều được gọi là cái hữu sở y, vì có căn là sở y.
Hoặc chúng được gọi là cái hữu sở duyên, vì nắm bắt cảnh sở duyên.
Hoặc chúng được gọi là cái hữu hành tướng,
vì chúng sinh khởi hành tướng trên các sai biệt theo từng phẩm loại
của các sở duyên.
Hoặc chúng được gọi là tương ưng vì đẳng hòa hợp.
Căn cứ trên ý
nghĩa nào mà gọi là đẳng hòa hợp?
Vì có năm
nghĩa. Tâm, tâm sở đồng đẳng theo năm nghĩa nên chúng được nói là
tương ưng, vì sở y, sở duyên, hành tướng, thời gian, vật thể
đều bình đẳng.
Vật thể bình
đẳng là gì? Trong một tương ưng, cũng như tâm thể là một, cũng vậy,
mỗi một tâm sở pháp.
Đã
phân tích chi tiết nghĩa sai biệt của tâm, tâm sở.
T.S.