GHI ƠN TIỀN BỐI

50 NĂM (1920-1970)

CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Sa môn THÍCH THIỆN HOA soạn

 

THỜI KỲ VẬN ĐỘNG (1920)

MIỀN BẮC

BẮC KỲ PHẬT GIÁO TỔNG HỘI

Sau Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học 3 năm, đến năm 1934, Hội “Bắc Kỳ Phật-giáo Tổng Hội” ra đời tại Hà Nội, trụ sở đặt tại chùa Quán sứ.

Hội xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ (ngày 10.12.1935), Bồ Đề Tân Thanh và Tiếng Chuông Sớm để hoằng dương chánh pháp. Hội mở trường Tăng tại Chùa Quán Sứ, trường Ni tại chùa Bồ Đề và chùa Bát Tháp.

Những bậc hữu công trong Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo tại miền Bắc, bắt đầu từ năm 1932.

Bên Tăng già có:

-     Tổ Vĩnh Nghiêm pháp hiệu Thanh Hạnh,

Pháp chủ đầu tiên của Hội Phật-giáo Bắc Việt;

-     Ḥa Thượng Tuệ Tạng, Thượng thủ Giáo hội

Tăng già toàn quốc nhiệm kỳ thứ  nhất;

-     Ḥa Thượng Mật ứng, Pháp chủ Phật-giáo Bắc Việt;

-     Ḥa Thượng Thanh Ất, Trụ tŕ chùa Trung Hậu, Phúc yên;

-     Ḥa Thượng Trung Thứ, Trụ tŕ chùa Bằng Sở, Hà Đông;

-     Ḥa Thượng Doăn Hà, Trụ tŕ chùa Tế Cát, Hà Nam.

-     Ḥa Thượng trụ tŕ chùa Hương Tích, Hà Đông;

-     Ḥa Thượng Quang Nghiễm, Trụ tŕ chùa Phú Ninh, Nam Định;

-     Ḥa Thượng Trụ t́ chùa Phúc Thỉnh, Ninh B́nh;

-     Ḥa Thượng trụ tŕ chùa Quế Phương, Nam Định;

-     Ḥa Thượng Trụ tŕ chùa Bộ La, tỉnh Thái B́nh;

-     Ḥa Thượng Thanh Triệu, Trụ tŕ chùa Đồng Bắc, Ninh B́nh;

-     Thượng Tọa Tố Liên, Chủ tịch Giáo Hội Tăng già Bắc Việt;

-     Thượng Tọa Trí Hải, Phó Hội chủ tổng Hội P.G.V.N. năm 1952;

-     Thượng Tọa Giải Ngạn, Trụ tŕ chùa Hưng Kư, Hà Nội;

-     Thượng Tọa Tuệ Chiếu, Giảng sư Hội Việt Nam Phật Giáo Bắc việt. 

Những vị Cư sĩ hữu công với Phật-giáo miền Bắc:

Cụ Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Năng Quốc, Thiều Chữu (dịch bộ Hán Việt Tự Điển,…), Cụ Bùi Kỹ, Dương Bá Trạc, Trần Trọng Kim, (Lệ Thần), Nguyễn Can Mộng, Nguyễn Trọng Thuật, Phan Kế Bính, Lê Toại, Bùi Thiện Căn, Bùi Thiện Cơ, Văn Quang Thùy (tức Tuệ Nhuận, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Bồ Đề Tạp chí), Cụ Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Huy Xương, Nguyễn Gia Tường.

 

NHỮNG VỊ ĐĂ GÓP CÔNG XÂY DỰNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM.

Tiếp theo đây là những học giả, Văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, … trong toàn quốc, đă góp công xây dựng Phật-giáo Việt-Nam:

-     Cụ Ngô tất Tố.

-     Trần Trọng Kim.

-     Trần Văn giáp.

-     Phạm Quỳnh.

-     Đồ Nam Tử.

-     Đinh Văn Chấp.

-     Hoàng Xuân Hăn.

-     Phan Văn Hùm.

-     Á Nam Trần Tuấn Khải.

-     Vũ Trọng Can.

-     Nguyễn Đăng Thục.[1]

-     Lê Văn Siêu.

-     Vũ Hoàng Chương (thơ) [2]

-     Huyền Chân (Đinh Văn Vinh)

-     Trúc Thiên.

-     Thẩm Oánh (nhạc)

-     Trương Đ́nh Ư (Mỹ Thuật)

-     Trương Văn Thanh (Sơn mài)

-     Vơ Đ́nh Cương (nhà Văn)[3]

-     Nguyễn Gia Trí (họa)

-     Nguyễn Bá Lăng (kiến trúc  sư)

-     Nguyễn Gia Đức (-nt-)

-     Đinh Hùng.

-     Trụ Vũ (thơ)

-     Nguyễn Hữu Ba (nhạc)

-     Nguyễn Quỳnh (truyện Thầy Tăng Mở nước)

-     Tâm Nguyên

-     Lê Cao Phan (nhạc)[4]

-     Tam Lang Vũ Đ́nh Chi

-     Nguyễn Nhược Pháp (thơ)

-     Hồ Dzếnh (thơ)

-     Nguyễn Bính (thơ)

-     Nguyễn Xuân Thanh.

-     Nguyễn Đ́nh Vang tự Hằng Vang (nhạc)

Và các nhà điêu khác, họa sĩ, nhiếp ảnh gia góp công xây dựng cho Phật-giáo Việt Nam:

-     Ông Tài Công Sáu ở Sa Đéc.

-     Ông Lê Chánh ở sau chùa Giác Hải Cholon

-     Ông Đặng Như Lan ở chùa Phước Ḥa.

-     Ông Minh Dung ở cầu Chữ Y.

-     Ông Phước Điền ở bên chùa Tuyền Lâm.

-     Lin Chơn (nhiếp ảnh gia)

-     Khánh (nhiếp ảnh gia)


 

[1] Cụ Nguyễn Đăng Thục có soạn nhiều bộ sách Phật rất quư.

[2] Cụ Vũ Hoàng Chương, tác giả tập thơ Bút Nở Hoa Đàm, Lửa từ Bi và bài Nguyện cầu, …

[3] Vơ Đ́nh Cương, nhà văn, tác giả quyền Ánh Đạo Vàng, Thử Ḥa Điệu Sống, Cặp Kính màu, … và làm chủ bút báo Giác Ngộ, Giải Thoát năm 1945.

[4] Lê Cao Phan, nhạc sĩ, tác giả bài nhạc “Phật giáo V.N. Thống nhất” năm 1951, …

 

 

TRANG MỤC LỤC