Chương
I.
Biểu hiện của thức
Nếu duy chỉ có thức, tại sao thế gian và các
Thánh giáo đều nói có ngã và pháp?
Tụng nói:
ātmadharmopacāro hi vividho yaḥ pravartate/
vijñānapariṇāme’ sau pariṇāmaḥ sa ca tridhā // 1/
vipāko manyanākhyaś ca vijñaptir viṣayasya ca/ 2a-b
由假說我法 有種種相轉
彼依識所變 此能變唯三 /1
謂異熟思量 及了別境識 /2a-b
Do giả thuyết ngã pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến duy tam.
Các hình thái chuyển hiện sai biệt đều là giả
thác như là ngã và pháp.
Chúng là hai biến thái của thức.
Sự biến thái
này có ba dạng. Đó là, dị thục, tư lương, và biểu thức của cảnh vực.
Tiết 1.
Ngã và Pháp
Ngã và pháp mà thế gian và Thánh giáo nói đến
như là tồn tại, đó là sự giả lập chứ không phải là tự thể thực hữu.
Ngã tức chủ tể.
Pháp là cái duy trì quỹ tắc.
Cả hai chuyển hiện dưới nhiều hình thái sai biệt.
Các hình thái sai biệt của ngã như hữu tình,
sinh mạng,
v.v., và Dự lưu, Nhất lai, v.v…
Các hình thái sai biệt của pháp như thực thể,
phẩm tính, vận động, v.v.,
và uẩn, xứ, giới, v.v…
Chuyển hiện,
là tùy theo các duyên (điều kiện) mà xuất hiện với những khái niệm
khác biệt.
Các hình thái sai biệt nếu chỉ là ngoại hiện
(giả thuyết) ấy y trên cái gì mà được quan niệm? Các hình
thái sai biệt ấy y trên biến thái của thức
mà giả lập khái niệm.
Thức ở đây chỉ biểu thức.
Thức được nói trong đây cũng gồm cả tâm sở, vì chúng nhất định cùng
tương ưng.
Biến thái,
là thể của thức biểu hiện thành hai phần ngoại hiện.
Bởi vì, tướng phần và kiến phần đều y tự chứng phần mà hiện khởi. Y
trên hai phần này mà ngã và pháp được giả thiết. Hai phần này mà lìa
thức thể thì không có gì làm sở y.
Hoặc cho rằng nội thức chuyển tợ thành ngoại
cảnh.
Do năng lực huân tập của sự phân biệt ngã và pháp, khi các thức sinh
khởi, chúng biến tợ thành ngã pháp. Các hình thái ngã và pháp này
tuy ở trong nội thức nhưng do phân biệt mà xuất hiện như là tợ ngoại
cảnh. Các loại hữu tình từ thời vô thủy lấy đó làm đối tượng mà chấp
là thực ngã và thực pháp. Như nhặm mắt,
chiêm bao.
Do tác động của nhặm mắt, chiêm bao, tâm xuất hiện với những hình
thái đa dạng của tợ ngoại cảnh. Lấy đó làm đối tượng mà chấp rằng
ngoại cảnh là thực hữu. Thực ngã và thực pháp, được quan niệm bởi
hạng phàm ngu, là hoàn toàn không tồn tại. Nhưng tùy theo tưởng
tượng sai lầm mà có khái niệm. Khái niệm đó được nói là giả.
Tợ ngã và tợ pháp vốn là biến thái của nội thức, tuy tồn tại nhưng
không phải là tự thể thực ngã và thực pháp; do vì xuất hiện tương tợ
nên nói là giả.
Ngoại cảnh tùy theo sự tưởng tượng mà được
khái niệm, do đó không tồn tại; như thức.
Nội thức tất y nhân duyên mà sinh khởi, do đó không phải không tồn
tại; như cảnh. Bằng điều này mà hai chấp tăng và giảm
bị bác bỏ.
Cảnh y trên nội thức mà được giả lập do đó
chỉ tồn tại trong quy ước thế tục. Thức là sở y của giả cảnh nên
cũng tồn tại trong thắng nghĩa.
Do đâu
để biết rằng thực không tồn tại ngoại cảnh duy chỉ có nội thức sinh
khởi tương tợ ngoại cảnh? Vì thực ngã và thực pháp không thể nắm bắt
được.
I. Các quan điểm về Ngã
Vì sao không thể nắm bắt thực ngã?
Một cách tổng quát, có ba loại chấp ngã: 1.
Chủ trương tự thể của ngã thường hằng, châu biến, lượng đồng hư
không. Bởi vì, tùy theo môi trường mà nó tạo nghiệp, hay thọ nhận
khổ, lạc.
2. Chủ trương tự thể của ngã thì thường hằng nhưng lượng của nó thì
bất định; bởi vì nó trải rộng hay thu nhỏ tùy theo sự lớn hay nhỏ
của thân.
3. Chủ trương tự thể của ngã là thường hằng, và cực kỳ vi tế như một
cực vi, tiềm tàng chuyển vận trong thân để tạo tác sự nghiệp.
1. Quan điểm thứ nhất là phi lý. Vì sao?
a. Chủ trương rằng tự ngã thường hằng, phổ
biến, lượng đồng hư không, thế thì nó không tùy thân lãnh thọ khổ
lạc.
b. Thêm nữa, vì là thường hằng phổ biến nên
nó không thể chuyển động,
vậy làm thế nào nó có thể tùy theo thân tạo tác các nghiệp?
c. Lại nữa, ngã theo quan điểm này là đồng
nhất hay dị biệt trong tất cả hữu tình? Nếu là đồng nhất, khi một cá
thể tác nghiệp, tất cả cũng tác nghiệp;
khi một cá thể lãnh thọ quả, tất cả cũng lãnh thọ; khi một cá thể
chứng đắc giải thoát, tất cả cũng giải thoát. Như thế thì hết sức
sai lầm. Nếu nói là dị biệt,
tự ngã của các hữu tình phổ biến lẫn nhau cho nên tự thể trở thành
hỗn tạp.
d. Lại nữa, khi một cá thể tác nghiệp, một cá
thể lãnh thọ quả báo, khi ấy cũng nên nói tất cả đều tác nghiệp, đều
lãnh thọ, vì xứ sở của tự ngã không dị biệt. Nếu nói, tác nghiệp và
lãnh thọ đều có sở thuộc riêng biệt cho nên không phạm sai lầm ấy;
điều này cũng không hợp lý. Nghiệp, quả và thân cùng hiệp nhất với
ngã, nhưng lại thuộc vể nơi này mà không thuộc về nơi kia, thế thì
không hợp lý.
e. Lại nữa, khi một cá thể giải thoát, tất cả
cũng đều giải thoát, vì pháp được tu và được chứng cùng hiệp nhất
với tất cả tự ngã.
2. Quan điểm thứ hai cũng phi lý.
Vì sao?
a. Nếu tự thể của ngã là thường trú, nó không
thể trải rộng hay co rút tùy theo thân. Đã có sự trải rộng hay co
rút, như gió trong đãy hay ống sáo, không thể là thường trú.
b. Lại nữa, ngã có thể bị chia chẻ tùy theo
thân, như thế làm sao có thể cho rằng tự thể của ngã nhất thể?
Cho nên, thuyết của phái này giống như trò
đùa của trẻ nít.
3. Thuyết sau cùng cũng phi lý. Vì sao?
Lượng của ngã cực tiểu, chỉ bằng như một cực
vi, làm sao có thể khiến cho toàn thân to lớn chuyển động?
Nếu nói tự ngã tuy nhỏ nhưng chạy khắp thân
nhanh như vòng lửa quay, có vẻ như chuyển động toàn diện; ngã được
quan niệm như thế thì không phải là nhất thể, không phải thường
hằng. Vì tất cả những gì có di chuyển đều không phải là nhất thể,
không phải thường hằng.
2. Uẩn và ngã
Lại nữa, có ba quan điểm về ngã:
1. đồng nhất với uẩn; 2. dị biệt uẩn; 3. phi đồng nhất phi dị biệt
đối với uẩn.
1. Thứ nhất, uẩn tức ngã, phi lý.
a. Vì như uẩn, ngã không phải là thường hằng,
không phải là nhất thể.
b. Lại nữa, các sắc trong nội thân quyết định
không phải là thực ngã, vì có chất ngại,
như ngoại sắc.
b. Tâm và tâm sở pháp
cũng không phải là thực ngã, vì không hằng tương tục, và vì cần hội
đủ duyên.
c. Các hành và các sắc còn lại
cũng không phải là thực ngã, như hư không, vì không phải là giác
tánh.
2. Thứ hai, ngã lìa uẩn cũng phi lý, vì như
hư không không có tác và thọ.
3. Thứ ba, phi đồng nhất và phi dị biệt đối
với uẩn, cũng phi lý.
a.Vì nếu y trên uẩn mà thiết lập ngã nên
không phải đồng nhất cũng không phải dị biệt uẩn, thế thì, như bình
các thứ, vì không phải là thực ngã.
b. Lại nữa, đã không thể nói là hữu vi hay vô
vi,
thì cũng không thể nói là ngã hay phi ngã. Do đó, ngã theo quan niệm
của thuyết ấy không thành.
3. Tổng hợp
phê bình
1. Lại nữa, thể của ngã được quan niệm là
thực hữu ấy có tư lự, hay không có tư lự?
a. Nếu có tư lự, tất là vô thường, vì không
phải có tư lự trong tất cả mọi thời gian.
b. Nếu không có tư lự, thì như hư không, nó
không thể tác nghiệp, cũng không thọ quả.
Do đó, quan niệm về ngã không chứng minh được
lý do của nó.
2. Lại nữa, thể của ngã được quan niệm là
thực hữu ấy có tác dụng, hay không có tác dụng?
a. Nếu có tác dụng,
thì như tay hay chân,
phải là vô thường.
b. Nếu không có tác dụng, như sừng thỏ, tất
không phải là thực ngã.
Do đó, hai quan niệm về ngã này đều bất
thành.
3. Lại nữa, thể của ngã được quan niệm là
thực hữu ấy có phải là cảnh sở duyên của ngã kiến không?
a. Nếu không phải là cảnh sở duyên của ngã
kiến, làm sao các ngài biết thực có ngã?
b. Nếu ngã là cảnh sở
duyên của ngã kiến, thế thì có phạm trù ngã kiến không được bao hàm
trong điên đảo, vì là được biết một cách như thực.
Nếu vậy, tại sao Chí giáo mà những người theo quan điểm hữu ngã tin
theo
lại chỉ trích ngã kiến, ca ngợi vô ngã, nói rằng, ai không ngã kiến
thì chứng Niết-bàn; ai chấp trước ngã kiến thì chìm đắm sinh tử? Há
có trường hợp, người có tà kiến thì chứng Niết-bàn, trái lại chánh
kiến khiến cho trầm luân sinh tử?
c. Lại nữa, các ngã kiến đều không duyên thực
ngã, vì có sở duyên.
Như tâm duyên các pháp khác.
Sở duyên của ngã kiến quyết định không phải thực ngã, vì là sở
duyên, như các pháp khác.
Do đó, ngã kiến không duyên thực ngã. Nhưng
nó lấy các uẩn là những biến hiện của thức làm đối tượng, rồi tùy
theo tưởng tượng cá biệt mà diễn dịch thành nhiều hình thái khác
nhau.
Tổng quát, các quan điểm về ngã có hai loại:
1 câu sinh; 2 phân biệt.
1. Ngã chấp câu sinh, do năng lực của nhân
nội tại được huân tập bởi hư vọng kể từ thời vô thủy đến nay, thường
hằng tồn tại cùng với thân; không cần chịu ảnh hưởng bởi tà giáo và
tà phân biệt, mà chuyển hiện một cách tự nhiên, do đó gọi là câu
sinh.
Loại ngã chấp này lại có hai thứ:
a. Thường tương tục, ở tại thức thứ bảy; nó
lấy thức thứ tám làm đối tượng khiến sinh khởi hình tướng của tự
tâm,
rồi chấp đó là thực ngã.
b. Có gián đoạn, tại thức thứ sáu; nó lấy
hình tướng năm thủ uẩn, vốn là biến hiện của thức, làm đối tượng,
hoặc tổng thể hoặc cá biệt,
khiến sinh khởi tướng của tự tâm
rồi chấp đó là thực ngã.
Cả hai chấp trước này rất khó đoạn trừ, vì
rất vi tế. Về sau, trong tu đạo, thường xuyên tu tập sinh không quán
đặc biệt
mới có thể diệt trừ.
2. Ngã chấp do phân biệt cũng do năng lực của
ngoại duyên hiện tại, không cùng tồn tại với thân, mà cần phải có
ảnh hưởng của tà giáo và tà phân biệt mới có thể phát khởi, vì vậy
nói là phân biệt.
Nó chỉ tồn tại trong thức thứ sáu là ý. Loại
này cũng có hai thứ:
a. Duyên vào tướng của uẩn được thuyết bởi tà
giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp
là thực ngã.
b. Duyên vào tướng của ngã được thuyết bởi tà
giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp
đó là thực ngã.
Hai loại ngã chấp này dễ bị đoạn trừ, vì thô.
Khi ở sơ khởi của kiến đạo,
quán chân như về sinh không và pháp không của hết thảy các pháp thì
có thể đoạn trừ.
5. Tổng thích
Tất cả ngã được quan niệm như vậy, nếu đó là
uẩn ngoại tại của tự tâm, hoặc tồn tại hoặc không tồn tại.
Nếu đó là uẩn nội tại của tự tâm, nó hoàn toàn tồn tại. Do đó, tất
cả ngã chấp đều lấy tướng
của năm thủ uẩn vốn vô thường rồi vọng chấp là ngã.
Nhưng, tướng của các uẩn sinh khởi từ duyên,
do đó chúng hiện hữu như là huyễn. Ngã được chấp trước sai lầm ấy,
vì được suy diễn một cách ngẫu hứng, quyết định không tồn tại.
Cho nên, Khế kinh nói, “Bí-xô nên biết, những
gì là ngã kiến của các sa-môn, bà-la-môn trong thế gian, tất cả đều
duyên vào năm thủ uẩn mà sinh khởi.”
1. Nếu không tồn tại thực ngã, làm sao có thể
có các sự việc như ký ức, nhận thức, đọc tụng, ôn tập, ân, oán?
Ngã được quan niệm như vậy đã là thường hằng,
không biến dị, thì sau cũng như trước, sự việc ấy không phải là có;
trước cũng phải như sau, sự việc ấy không phải là không.
Vì trước và sau tự thể không khác biệt.
Nếu nói rằng dụng của ngã có biến dịch trước
và sau nhưng tự thể của ngã thì không; điều này cũng không hợp lý.
Bởi vì, hoặc dụng phải là thường hằng vì không tách rời thể; hoặc
thể phải là không thường hằng vì không tách rời dụng.
Tuy nhiên, các hữu tình mỗi mỗi có bản thức
riêng, tồn tại một cách tương tục và đồng nhất loại tợ, duy trì
chủng tử, hỗ tương làm nhân cho tất cả các pháp. Những sự việc như
ký ức các thứ có được là do năng lực của cái được huân tập. Do đó,
nạn vấn được nêu lên là do sai lầm nơi ông, chứ không phải nơi tiền
đề của tôi.
2. Nếu không tồn tại thực ngã, cái gì tạo
nghiệp? Cái gì thọ quả?
Ngã được quan niệm là thực ấy đã là không
biến dịch, như hư không, làm thế nào có thể tạo nghiệp, thọ quả? Nếu
nó có biến dịch, nó phải là không thường hằng.
Tuy nhiên, tâm và tâm sở pháp của các hữu
tình tương tục không gián đoạn do bởi năng lực của nhân duyên; cho
nên sự tạo nghiệp và thọ quả không có gì trái lý.
3. Nếu ngã thực sự không tồn tại, cái gì luân
hồi các cõi trong sinh tử?
Cái gì nhàm tởm khổ mà mong cầu thú hướng Niết-bàn?
Ngã được quan niệm là thực hữu ấy đã không
sinh diệt, làm sao có thể nói nó luân chuyển trong sinh tử? Thường
hằng như hư không, không bị bức não bởi khổ, cần gì phải nhàm tởm,
xả ly, mong cầu thú hướng Niết bàn? Cho nên, điều được phát biểu kia
thường chỉ là tự hại.
Tuy nhiên, thân và tâm của các loại hữu tình
tương tục, do năng lực của nghiệp phiền não mà luân chuyển các cõi
thú, và do nhàm tởm khổ mà mong cầu thú hướng Niết-bàn.
Do những chứng lý như
thế mà nhận thức được rằng tuyệt đối không tồn tại thực ngã. Thế
nhưng, dòng tương tục của nhân quả của các hữu tình kể từ vô thủy,
cái trước diệt cái sau sinh, do được huân tập một cách sai lầm, xuất
hiện với tướng như là tợ ngã. Người ngu ở trong đó quan niệm một
cách sai lầm là ngã.
II. Các quan điểm
về Pháp
Vì sao ngoài thức không thể có quan niệm về
tính thực hữu của các pháp? Vì pháp ngoại tại mà Ngoại đạo và các
Thừa khác quan niệm không được chứng minh là thực hữu.
Vì sao ngã được quan niệm bởi
các ngoại đạo là không tồn tại?
Vả, Số luận
cho rằng ngã là tư
thọ dụng 23 pháp gồm Đại
các thứ được tác thành bởi tát-đỏa, lặc-xà, đáp-ma.
Đại các thứ tuy là hợp thành của ba sự nhưng là thực chứ không phải
giả, được tiếp nhận bằng hiện lượng.
Chủ trương ấy phi lý. Vì sao?
i.
Về các yếu tố
Các pháp như đại các thứ được
hợp thành
bởi nhiều sự, như đoàn quân hay đám rừng,
hẳn là giả chứ không phải thực. Thế thì, làm sao có
thể nói chúng được tiếp nhận bằng hiện lượng?
Lại nữa, các pháp như đại các
thứ, nếu là thực hữu, chúng phải như là bản sự,
không phải là hợp thành của 3 sự.
ii. Về ba đức
Vì ba sự, tát-đỏa các thứ,
chính là đại các thứ, tất cũng như đại các thứ, cũng phải do ba sự
hợp thành.
Chuyển biến không thường
hằng,
cũng lý luận như trên.
Lại nữa, trong ba bản sự, mỗi
một sự có nhiều công năng
nên cũng phái có nhiều tự thể. Vì công năng và tự thể phải đồng
nhất.
Ba tự thể ấy đã là phổ biến,
thì khi một nơi chuyển biến, các nơi khác cũng vậy. Vì tự thể không
dị biệt.
Cho rằng thể và tướng của ba
sự đều dị biệt, thế thì làm sao chúng hòa hiệp để cùng tác thành một
tướng? Không thể nói khi hiệp thì chúng trở thành một tướng, vì tự
thể vẫn không dị biệt với khi chưa hiệp.
Nếu cho rằng thể của ba sự
thì dị biệt nhưng tướng của chúng thì tương đồng, như vậy tự mâu
thuẫn với tông nghĩa của mình vì theo đó thể và tướng vốn đồng nhất.
Thể tất phải như tướng, mặc nhiên là một; tướng cũng phải như thể,
hiển nhiên có ba.
Như vậy, không thể nói ba
hiệp thành một.
iii. Ba đức và các yếu tố
(1) Lại nữa, ba sự là biệt,
đại các thứ là tổng. Vì tổng và biệt là một, cho nên, hoặc không thể
là một, hoặc không thể là ba.
(2) Ba sự này khi chuyển
biến, nếu không hoà hiệp thành một tướng,
chúng phải như trước khi chưa chuyển biến. Vậy, vì sao sắc được nhận
thức hiện tiền như là một?
Nếu ba sự hòa hiệp thành một
tướng, chúng phải mất đi tướng dị biệt nguyên thuỷ, và như vậy thể
của chúng cũng mất.
(3) Không thể nói mỗi ba sự
đều có hai tướng, là tổng tướng và biệt tướng. Vì tổng cũng chính là
biệt, như vậy tổng phải là ba, làm sao được thấy như là một?
(4) Nếu cho rằng thể của ba
sự, mỗi sự có ba tướng mà sự hòa hiệp hỗn tạp của chúng khó nhận ra
cho nên được nhận thức như là một:
a. Nhưng, đã có ba tướng, đâu
có thể thấy là một.
b. Và rồi làm sao có thể biết
được có sự dị biệt của ba sự?
c. Nếu mỗi một sự đều có đủ
ba tướng, thế thì mỗi một sự có thể tác thành sắc các thứ, vì sao
phải hội đủ ba sự hòa hiệp chứ không thể thiếu bớt một?
d. Mỗi sự cũng phải có ba
thể, vì thể chính là tướng.
e. Lại nữa, các pháp như đại
các thứ đều do ba sự hiệp thành, sẽ không có sự sai biệt giữa pháp
này và pháp kia, thế thì sẽ không có sự sai biệt giữa nhân và quả;
giữa các duy lượng, các đại, các căn.
Nếu vậy, bằng một căn mà có thể tiếp nhận được tất cả mọi cảnh; hoặc
một cảnh có thể được tiếp nhận bởi tất cả các căn. Và như vậy, nhưng
gì được nhận thức trong thế gian, hữu tình và phi tình, các vật tịnh
hay uế, hiện lượng hay tỉ lượng, vân vân, tất cả sẽ không có gì sai
biệt. Thế thì hết sức sai lầm.
Do đó, pháp mà học thuyết ấy
quan niệm là thực hữu chỉ là hiện hữu do suy diễn bởi tưởng tượng cá
nhân thôi.
Các cú nghĩa,
thực, v.v., mà Thắng luận
quan niệm, vốn đa thù, thực hữu tính,
được nhận thức bằng hiện lượng.
Quan điểm của phái ấy phi lý.
Vì sao?
1. Tổng phá.
(1)Trong các cú nghĩa,
những cú nghĩa được cho là thường trú,
(a) nếu chúng có khả năng sinh quả,
tất phải vô thường, vì có tác dụng; như quả được sinh. (b) Nếu không
sinh quả,
chúng không có tự tánh thực hữu tồn tại ngoài thức, như sừng thỏ,
v.v…
(2) Những cú nghĩa được cho
là vô thường, (a) nếu có tính chất ngại,
tất phải có phương phần,
và có thể bị phân tích, như đoàn quân, khu rừng, v.v., không có tính
thực hữu. (b) Nếu không có tính chất ngại,
như tâm và tâm sở,
tất không thể ngoài đây
mà thực hữu tự tính.
2. Thực và đức.
a. Lại nữa, đất, nước, lửa,
gió mà phái ấy quan niệm không thể là những cái có tính cản ngại
được bao hàm trong cú nghĩa thực,
vì được xúc chạm bởi thân căn;
như cứng, ướt, nóng, động.
b. Hoặc, các tính chất cứng,
ướt, nóng, v.v.,
mà phái ấy quan niệm không thể là những thứ có tính không cản ngại
được bao hàm trong cú nghĩa đức, vì được xúc bởi thân căn,
như đất, nước, lửa, gió.
c. Ba thực thể đất, nước,
lửa, đối màu xanh các thứ
đều được thấy bởi mắt, chuẩn theo đó mà phê bình.
Do đó biết rằng, không có
thực thể đất, nước, lửa, gió tồn tại với tự tính riêng biệt ngoài
cứng, ướt, v.v., cũng không phải mắt thấy thực thể đất, nước, lửa.
3.
Tái nghiệm xét cú nghĩa.
a. Lại nữa, trong cú nghĩa
thực mà phái ấy quan niệm, những cái thường hằng,
có tính cản ngại, vì thảy đều có tính cản ngại, như đất thô, tất
phải là vô thường.
b. Trong các cú nghĩa khác,
các pháp không chất ngại được nhận thức bởi sắc căn
tất phải có tính ngại, vì cho rằng được nhận thức bởi sắc căn,
như đất, nước, lửa, gió.
c. Các cú nghĩa không phải là
thực như đức, v.v.,
theo quan niệm của phái ấy tất không có tự tánh riêng biệt ngoài
thức, vì thuộc về phi thực, như con của thạch nữ.
d. Những gì phi hữu, như
thực, v.v.,
tất không thể lìa thức mà có tự tính riêng biệt, vì thuộc về phi
hữu, như hoa đốm giữa trời.
4.
Phủ định hữu tánh
a. Đại hữu tánh.-
Hữu mà phái ấy quan niệm
không thể có tự tánh riêng biệt tách ngoài thức, vì cho rằng phi vô,
như thức, đức, v.v…
Nếu tách rời thực các thứ tất
không phải là hữu tánh, vì được cho rằng dị biệt với thực các thứ,
như cái vô tuyệt đối, v.v.
Cũng như hữu không phải là
vô, không có tự tánh riêng biệt,
tại sao thực, v.v., có tự tánh riêng biệt?
Vậy, hữu tánh ấy chỉ là sự
suy diễn theo tưởng tượng.
b. Đồng dị tánh.-
Lại nữa, Thắng luận quan niệm
rằng thực tánh, đức tánh, nghiệp tánh dị biệt với thực, đức, nghiệp;
quan niệm này không hợp lý. Không nên cho rằng đây cũng không phải
là thực tánh, đức tánh, nghiệp tánh, vì bị biệt thực, v.v., như đức,
nghiệp, v.v…
Lại nữa, thực, v.v., không
thể được bao hàm trong thực, v.v., vì dị biệt thực tánh, v.v., như
đức, nghiệp, thực.
Địa tánh, v.v., đối chiếu thể
của địa, v.v., để trưng cật lẫn nhau, chuẩn theo trên mà lập luận.
Cũng như thực tánh, v.v.,
không khác biệt thực tánh, v.v., thực, v.v., cũng không khác biệt
thực tánh.
Nếu tách ngoài thực các thứ
mà có thực tánh các thứ, thì cũng nên tách ngoài phi thực các thứ mà
có phi thực tánh các thứ.
Trường hợp kia mà có thể, sao
đây lại không thể? Vậy, đồng dị tánh chỉ là khái niệm giả lập.
c. Hòa hiệp cú.
Cú nghĩa hòa hiệp mà Thắng
luận quan niệm
quyết định không phải là thực hữu. Vì được bao hàm trong các pháp
phi hữu, phi thực các các thứ.
Như cái tuyệt đối không tồn tại.
Thắng luận quan niệm rằng
thực các thứ, được nhận thức bằng hiện lượng,
theo lý mà suy trưng, cũng còn không phải là thực hữu, huống gì cú
nghĩa hòa hiệp, mà phái ấy cho rằng không được nhận thức bằng hiện
lượng, lại có thể thực hữu?
5.
Giải thích của Duy thức
a. Nhưng, thực v.v. của Thắng
luận không phải là cái đạt được bằng hiện lượng do lấy tự thể thực
hữu ngoài thức làm đối tượng.
Vì được cho là sở tri. Như lông rùa các thứ.
b. Lại nữa, trí lấy thực làm
đối tượng không thuộc trí (nhận thức) bằng hiện lượng lấy tự thể của
cú nghĩa thực tồn tại ngoài thức làm đối tượng. Vì phát sinh từ giả
hợp.
Như trí (nhận thức) đức, v.v… Nói rộng ra, cho đến, trí lấy hòa hiệp
làm đối tượng không thuộc trí hiện lượng lấy làm đối tượng là tự thể
của hòa hiệp tồn tại ngoài thức. Vì phát sinh từ sự giả hợp. Như trí
lấy thực làm đối tượng.
Vậy, các cú nghĩa của Thắng
luận, thực, v.v., chỉ là những suy diễn do tưởng tượng sai lầm.
Có thuyết cho rằng có một vị
Đại Tự Tại Thiên mà tự thể là thực, phổ biến, thường hằng, sinh ra
các pháp.
Quan niệm ấy phi lý. Vì sao? Vì pháp nào mà
sinh sản (các pháp khác), pháp ấy tất không phải là thường hằng. Và
vì, cái gì không thường hằng, cái ấy không phổ biến. Cái gì không
phổ biến, cái ấy không chân thật.
Nếu tự thể thường hằng, phổ biến, sẵn đủ các
công năng, tất phải trong mọi thời đồng loạt đột sinh tất cả mọi
pháp. Nếu cần phải có dục và duyên mới sinh
sản, thế thì mâu thuẫn với nhất nhân luận.
Hoặc dục và duyên cũng phát nhất thời đột hiện, vì nguyên nhân luôn
luôn hiện hữu.
4. Bảy lận sư
ngoại đạo
Các thuyết khác chấp có một Đại Phạm,
thời,
phương,
bản tế,
tự nhiên,
hư không,
ngã. Những cái này thường trú, thực hữu, đủ các phẩm tính, sinh sản
tất cả các pháp. Chúng cũng bị bác bỏ như trên.
5. Thanh luận sư
Thuyết khác chủ trương rằng chỉ riêng âm
thanh của Minh luận là thường hằng, là tiêu chuẩn để biểu thị các
pháp.
Thuyết khác cho rằng tất cả âm thanh đều
thường hằng, nhưng cần hội đủ duyên mới hiển hiện hay phát sinh.
Cả hai thuyết đều phi lý. Vì sao?
a. Vả, âm thanh của Minh luận được cho là khả
năng biểu thị, tất phải là không thường trú. Như các thanh khác.
b. Các loại thanh khác cũng không thể là tự
thể âm thanh thưòng hằng, như bình, vải các thứ, vì cần hội đủ các
duyên.
6. Thuận thế ngoại
đạo
Có thuyết ngoại đạo cho rằng cực vi của đất,
nước, lửa, gió là thực, thường hằng, sinh thô sắc.
Lượng của thô sắc không vượt qua lượng của nhân,
tuy là vô thường nhưng tự thể là thực hữu.
Thuyết này phi lý. Vì sao?
a. Cực vi mà phái ấy chấp nếu có phương phần,
như hàng kiến các thứ, tất không phải là tự thể thực hữu. Nếu không
có phương phần, như tâm và tâm sở, tất không thể tụ tập để sinh quả
thô là sắc.
b. Đã có thể sinh quả, hẳn như các được sinh
kia, làm sao có thể nói cực vi là thường trú?
c. Lại nữa, lượng của quả được sinh không
vượt quá lượng của nhân, vậy nó phải bằng như cực vi, không thể gọi
là thô sắc. Và như vậy, sắc của quả ấy tất không thể được nhận thức
bởi căn con mắt các thứ. Như thế thì trái với lập trường của mình.
Nếu cho rằng
sắc quả kết hợp với phẩm tính lượng trong cú nghĩa đức, nên không
phải là thô mà tương tợ như thô, được tiếp nhận bởi sắc căn. Nhưng
nếu lượng của sắc quả đã bằng với lượng của nhân, thế thì nó phải
như cực vi, không thể kết hợp với phẩm tính thô trong cú nghĩa đức.
Hoặc cực vi
cũng có thể kết hợp với phẩm tính thô, như thô quả sắc. Vì không có
không gian riêng biệt.
d. Nếu cho rằng sắc quả phổ biến khắp trong
nhân của nó, vì nhân không phải là một
nên có thể nói là thô. Thế thì, thể của quả sắc này không thể là
một, như nhân sở tại, vì không gian riêng biệt.
Đã thế thì quả ấy không thành thô, và do vậy cũng không thể được
tiếp nhận bởi sắc căn.
e. Nếu nói quả do nhiều bộ phận hợp thành nên
thành thô. Nhiều cực vi làm nhân để kết hợp, thế thì không phải là
vi tế; như vậy đủ thành căn, cảnh, cần gì đến quả? Đã là có nhiều bộ
phận thì không thể là thực hữu. Như vậy, quan điểm của ông trước sau
mâu thuẫn nhau.
f. Lại nữa, quả và nhân đều có tính chất
ngại, tất không thể đồng xứ, như hai cực vi.
Nếu cho rằng thể của quả và của nhân thiệp
nhập nhau, như cát hút nước, như dược liệu hòa tan trong dung dịch
đồng, ai bảo thể của cát và lọ hút nước và thuốc? [Cực vi] hoặc bị
tách rời,
hoặc bị biến đổi,
không phải nhất thể, không phải thường hằng.
g. Lại nữa, nếu thể của thô quả sắc là nhất
thể,
thế thì khi được một bộ phận cùng là được toàn thể, vì cái này và
cái kia là một. Không chấp nhận thì trái lý. Chấp nhận thì trái sự.
Do đó, quan điểm ấy tiến hay thối đều bất
thành, chỉ là sự suy diễn theo tưởng tượng sai lầm.
7. Tổng phá ngoại
đạo
Các thuyết ngoại đạo tuy có nhiều phẩm loại,
nhưng pháp mà các phái ấy chủ trương không quá 4 khuynh hướng.
i. Cho rằng thể của hữu pháp và hữu tánh
các thứ
quyết định là đồng nhất, như Số luận, v.v...
Thuyết này phi lý. Vì sao?
a. Không thể nói tất cả pháp cũng chính là
hữu tánh, vì thảy đều như hữu tánh, không có tự thể sai biệt. Như
vậy mâu thuẫn với quan điểm nói ba đức và ngã có tự thể dị biệt. Và
cũng mâu thuẫn với thế gian, theo đó các pháp sai biệt nhau.
b. Lại nữa, nếu sắc tức sắc tánh, sẽ không có
sự khác nhau của các sắc xanh, vàng các thứ.
ii. Quan niệm thể của hữu pháp và của hữu
tánh quyết định dị biệt, như Thắng luận, v.v…
Thuyết này phi lý. Vì sao? Không nên nói tất
cả pháp không phải là hữu tánh, như vô thể của cái đã diệt,
không thể nhận thức được. Như vậy mâu thuẫn với tự giáo, theo đó tự
thể của thực (cú nghĩa) các thứ không phải không hiện hữu. Và cũng
trái với tri giác hiện thực của thế gian là có vật thể hiện hữu.
b. Lại nữa, nếu sắc không phải là sắc tánh,
thế thì nó như thanh, không phải là đối tượng của con mắt.
3. Quan niệm hữu pháp và hữu tánh vừa đồng
nhất, vừa dị biệt.
Như phái Vô tàm, v.v…
Thuyết này phi lý. Vì sao? Nhất và dị, cũng
sai lầm như nhất và dị đã nói trên kia. Và vì hai đặc tướng mâu
thuẫn nhau, thì tự thể của chúng cũng phải khác nhau. Và vì, nhất
thể và dị thể cùng tồn tại thì không thành. Không nên nói tất cả các
pháp đều đồng một thể. Hoặc cái vừa nhất vừa dị chỉ là giả chứ không
thực, nhưng quan niệm là thực thì nhất định không hợp lý.
4. Thuyết thứ tư, quan niệm hữu pháp và hữu
tánh v.v. không phải đồng nhất cũng không phải dị biệt, như pháp Tà
mạng.
Thuyết này phi lý. Vì sao? Phi nhất cũng đồng
với dị; phi dị cũng đồng với nhất.
Câu nói “phi nhất dị” là phủ định hay khẳng
định? Nếu chỉ là khẳng định, thì không thể phi bác cả hai.
Nếu chỉ là phủ định, thế thì không có gì được chủ trương.
Nếu vừa khẳng định vừa phủ định, thế thì mâu thuẫn lẫn nhau. Nếu vừa
không phải khẳng định, vừa không phải phủ định, thế thì thành hý
luận.
Lại nữa, phi nhất dị thì trái với nhận thức
chung của thế gian là có vật vừa nhất vừa dị;
và cũng mâu thuẫn với tông nghĩa của mình theo đó hữu pháp, sắc,
v.v., quyết định thực hữu.
Vậy, những điều phái ấy nói chỉ là để tránh
né sai lầm. Những người có trí không nên nhầm lẫn mà chấp nhận.
Các pháp, sắc, v.v., mà các
thừa khác quan niệm là thực hữu ngoài thức, vì sao lại không hiện
hữu? Bởi vì, sắc, bất tương ưng hành và vô vi mà các thừa ấy quan
niệm vốn không tồn tại xét theo lý tính.
Vả, sắc được quan niệm có hai
loại: một, hữu đối,
được tác thành bởi cực vi; hai, vô đối,
không được tác thành bởi cực vi.
Sắc hữu đối ấy quyết định
không phải thực hữu, vì cực vi năng thành không phải thực hữu.
1. Nghĩa là, các cực vi nếu
có tính chất ngại,
tất phải như là bình các thứ, đó là giả chứ không phải thực. Nếu
chúng không có tính chất ngại, tất phải như là phi sắc, làm thế nào
có thể tập thành lu, vải các thứ?
2. Nếu các cực vi có phương
phần,
ắt có thể bị phân rã, thế thì không phải là thực hữu. Nếu chúng
không có phương phần,
thế thì cũng như phi sắc, làm thế nào có thể hòa hiệp để tiếp thu
ánh sáng và phát ra bóng?
a. Khi mặt trời mới lên, rọi
lên cột các thứ; hai phía đông và tây của các thứ ấy đều có ánh sáng
và bóng xuất hiện. Điểm tiếp thu ánh sáng và điểm phát ảnh đã bất
đồng, thế thì cực vi phải được quan niệm là có phương phần.
b. Lại nữa, khi nhìn thấy vật
chạm vào vách các thứ, nó chỉ chạm bên này chứ không thể chạm đến
phần bên kia. Vì chính vật hòa hiệp tức là cực vi, nên cực vi ấy tất
phải có phương phần.
c. Lại nữa, tùy theo điểm
chiếm cứ mà các cực vi có sự sai biệt bốn phương, trên và dưới.
Nếu không như vậy thì sự cộng đồng hòa tập
trở thành vô nghĩa.
d. Hoặc nếu chúng lẩn vào
nhau,
như vậy không thể trở thành thô lớn. Do vậy, cực vi nhất định phải
có phương phần.
e. Cho rằng sắc hữu đối chính
là các cực vi,
nếu chúng không phương phần, tất không thể có sự chướng ngại cách
biệt. Như vậy, nó không phải là chưóng ngại hữu đối.
Do đó, cực vi mà các ngài
quan niệm nhất định phải có phương phần. Vì có phương phần nên có
thể bị phân rã, và do đó nhất định không phải là thực hữu.
Tóm lại, không thể chứng minh
sắc hữu đối là thực hữu.
Há không có sắc làm sở y và
sở duyên cho năm thức?
Mặc dù không phải là không có
sắc (làm sở y và sở duyên), nhưng sắc đó là biến thái của thức. Tức
là, khi thức sinh khởi, lực
của nhân duyên nội tại biến tợ thành các tướng biểu hiện như mắt và
sắc các thứ. Thức lấy các tướng này làm sở y và sở duyên.
a. Sở y của thức
Nhưng căn con mắt, v.v.,
không được nhận thức bởi hiện lượng. Chỉ do khả năng làm phát sanh
thức của nó mà suy luận biết là có. Đấy chỉ là công năng, không phải
là cái được tác tạo bên ngoài.
Sắc hữu đối ngoại tại bất
thành, do đó nó chỉ là biến hiện của nội thức.
Cái làm phát sanh thức con
mắt được gọi là căn con mắt, v.v. Cái này làm sở y cho sự sanh khởi
của thức.
b. Sở duyên của thức
Bởi vì không thể chứng minh
hợp lý rằng con mắt, v.v., là điều kiện như là sở duyên
ở ngoài thức, do đó quyết định cần phải chấp nhận rằng sở biến của
tự thức là điều kiện sở duyên.
(1) Nói rằng
cái dẫn sanh tự thức tương tợ,
cái đó được quan niệm như là điều kiện sở duyên của thức; thế nhưng,
không chỉ cái dẫn sanh, mà các điều kiện khác,
như nhân duyên, v.v.,
cũng không thể nói là điều kiện sở duyên của thức ấy.
(2) Năm thức, gồm mắt, v.v.,
khi nhận thức sắc các thứ, chúng chỉ lấy hòa hiệp thể làm đối tượng,
vì thể ấy tương tợ đặc tướng của cái ấy.
Không thể nói tướng của cái
hòa hiệp dị biệt cực vi mà có tự thể hiện thực,
vì khi nó bị chia chẻ, thức
không sanh khởi với ảnh tượng tương tợ của nó. Tướng của cái hòa
hiệp ấy đã không là thực hữu, thế thì không thể nói nó là duyên của
năm thức. Không nên cho rằng mặt trăng thứ hai các thứ có thể làm
phát sanh năm thức.
(3) a. Không phải rằng các
cực vi trong trạng thái cộng đồng hòa hiệp có thể làm sở duyên cho
năm thức;
vì trên thức ấy không tồn tại đặc tướng của cực vi.
Không phải rằng các cực vi có
đặc tướng của cái hòa hiệp,
vì khi không hòa hiệp thì chúng không có đặc tướng ấy.
Không phải rằng trong trạng
thái hòa hiệp cùng với khi không hòa hiệp, thể và tướng của các cực
vi này dị biệt.
Do đó, trong trạng thái hòa
hiệp, cũng như khi không hòa hiệp, các cực vi như của các, v.v.,
không phải là cảnh của năm thức.
b. Cũng có quan điểm
rằng mỗi một cực vi của sắc các thứ khi không hòa tập thì không phải
là cảnh của năm thức. Trong trạng thái cộng đồng hòa tập, chúng hỗ
trợ nhau làm xuất hiện đặc tướng thô lớn; đây là đối tượng của thức
ấy. Đặc tướng này thực hữu, nên nó làm sở duyên cho thức ấy.
Quan điểm này không đúng.
- Vì trong trạng thái cộng
đồng hòa hiệp cùng với khi chưa hòa hiệp, thể và tướng (của cực vi)
vẫn là đồng nhất.
- Cực vi của các vật như của
lu và hủ bằng nhau, khi thức lấy đặc tướng của chúng làm đối tượng,
(các đặc tướng ấy) hẳn không khác nhau.
- Vì trong trạng thái cộng
đồng hòa tập, mỗi cực vi sẽ phải mất đi đặc tướng tròn của nó.
- Vì không phải rằng thức của
đặc tướng thô duyên cảnh có đặc tướng vi tế;
không thể nói thức duyên cảnh này cũng có thể duyên cảnh khác.
- Vì một thức tất sẽ duyên
hết thảy cảnh.
Chủ trương cực vi tồn tại còn
dẫn đến những sai lầm như vậy, huống gì không có cực vi chân thật
tồn tại ngoài thức. Do vậy có thể quả quyết rằng cái làm sở duyên
duyên là đặc tướng của tự thức như là tương tợ sắc.
Vì sự thấy gá vào nó mà sanh, và mang theo đặc tướng của nó. Như khi
thức biến hiện, tùy theo lượng lớn hay nhỏ (của đối tượng) mà nó
đồng loạt xuất hiện như là nhất tướng, chứ không phải biến hiện
riêng biệt thành nhiều cực vi rồi hòa hiệp thành một vật.
Đối với những ai quan niệm tự
thể của sắc thô lớn là thực hữu, Phật thuyết cực vi để khiến phân
tích mà trừ diệt,
chứ không phải cho rằng các sắc thực có cực vi.
Các du-già sư bằng huệ giả
tưởng
lần lượt phân tích đặc tướng của thô sắc cho đến câi không thể phân
tích, bấy giờ giả thuyết cái đó là cực vi. Cực vi này mặc dù vẫn
được quan niệm là có phương phần
nhưng không thể phân tích. Nếu phân tích thêm nữa, nó sẽ xuất hiện
tương tợ hư không, không còn gọi là sắc. Vì vậy, cực vi được quan
niệm như là biên tế của sắc.
Do vậy, nên biết những gì là
sắc có tính đối ngại đều là những biến hiện của thức, chứ không phải
là cái được tác thành bởi cực vi.
Sắc vô đối còn lại,
vì là đồng chủng loại của sắc, cũng không phải là thực hữu. Hoặc vì
không có tính đối ngại, như tâm và tâm sở, quyết định nó không phải
là sắc thực.
Các sắc có tính đối ngại hiện
hữu với đặc tướng của sắc, suy cứu theo lý, vẫn không tồn tại tách
rời thức, huống nữa sắc không có tính đối ngại hiện hữu không mang
đặc tướng của sắc làm sao có thể được nói là sắc pháp chân thực.
Biểu sắc và vô biểu sắc
há không phải thực hữu?
Nó không thực hữu. Vì sao?
1. Thân biểu
Vả, nếu biểu sắc của thân
thực hữu, thì tự tánh của nó là gì?
a. Nếu cho rằng đó là hình
thể.
Như vậy, nó không phải là thực hữu, vì có thể bị phân tích; và vì
cực vi của trường độ không thể được nhận thức.
b. Nếu cho rằng đó là động
thái.
Như vậy nó cũng không thực hữu.
- Vì vừa thoáng sanh nó tức
thì diệt, không có nghĩa động.
- Vì pháp hữu vi diệt mà
không cần đợi nhân. Diệt mà cần đợi nhân thì không phải là diệt.
c. Nếu nói rằng có loại sắc
không phải hiển, không phải hình, được dẫn sanh bởi tâm; sắc ấy làm
cho tay chân vận động, được gọi là thân nghiệp.
Điều này không hợp lý.
- Nếu nó động, ý nghĩa cũng
bị bác bỏ như trên.
- Nếu nó là nguyên nhân vận
động, vậy nó phải là phong giới. Nhưng gió thì không có biểu thị nên
không thể gọi là thân biểu.
- Lại, xúc
không thể thông cả tánh thiện và ác.
- Nó không phải hiển sắc,
không phải hương, vị; loại suy theo xúc mà biết.
Do đó, nghiệp của thân biểu
nhất định không phải là thực hữu.
d. Nhưng, do tâm là nhân;
khiến đặc tướng của sắc như tay chân các thứ vốn là sự biến thái của
thức, sắc ấy sinh diệt liên tục tiếp nối nhau, chuyển dịch đến
phương vị khác, tương tợ như là có động tác. Cái đó biểu thị tâm; nó
được giả danh là thân biểu.
2. Ngữ biểu
Ngữ biểu không phải là thanh
tánh thực hữu.
Vì âm thanh trong một sát-na không phát biểu ý nghĩa gì.
Vì nhiều niệm liên tục tiếp nối nhau thì không là thực hữu. Và vì
sắc hữu đối ngoại tại đã bị bác bỏ.
Nhưng, nhân bởi tâm mà thức
biến hiện tương tợ âm thanh, sinh diệt liên tục tiếp nối nhau tợ như
có biểu thị. Thanh đó được giả danh là ngữ biểu, như vậy không có gì
phi lý.
3. Vô biểu
Biểu không tồn tại, há vô
biểu
cũng bất thực?
Y nơi phần hạn của thiện, ác
do bởi tư hay nguyện
mà giả lập vô biểu, điều đó không có gì phi lý. Hoăc y trên trạng
thái tăng trưởng
của chủng tử của tư mang tính thiện hay ác phát biểu thành thân, ngữ
đặc biệt. Hoăc y trên tư trong định ngăn cản hiện hành các của thân
và ngữ mà thiết lập.
Do đó, nó là giả hữu.
Trong kinh, Thế Tôn nói, có
ba nghiệp. Bác bỏ nghiệp thân, ngữ, há không trái nghịch kinh?
Đây không bác bỏ là không tồn
tại, mà chỉ nói nó là phi sắc. Tư
phát động thân được gọi là thân nghiệp. Tư phát động ngữ gọi là ngữ
nghiệp. Hai loại tư, thẩm lự và quyết định,
vì tương ưng với ý, vì tác động đến ý, nên được gọi là ý nghiệp. Tư
phát khởi thân, ngữ để thực hiện hành động, được gọi là nghiệp. Vì
đó là đạo lộ mà thẩm lự tư và quyết định tư đi qua, dẫn suốt đến quả
dị thục hoặc khổ hoặc lạc, nên cũng gọi là nghiệp đạo.
Do đó, tự tánh của bảy nghiệp đạo đầu cũng là tư.
Hoặc thân và ngữ biểu được phát động bởi tư nên giả thuyết là
nghiệp; và vì là đạo lộ tư đi qua nên gọi là nghiệp đạo.
Do vậy, nên biết, thực không
có sắc ngoại tại, duy chỉ có sắc do thức biến tợ xuất hiện.
Hành không tương ưng
cũng không phải là thực hữu. Vì sao?
Tự thể và đặc tướng của đắc,
phi đắc các thứ không được nhận thức như sắc, tâm và các tâm sở. Tác
dụng của chúng cũng không được nhận thức như là khác biệt sắc, tâm
và các tâm sở. Do đó biết rằng một cách xác định chúng không thực sự
có tự thể và tác dụng khác biệt với sắc, tâm và tâm sở, vì được cho
là thuộc trong uẩn, như sắc, tâm v.v.
Hoặc chúng không được bao hàm
trong tâm, tâm sở, sắc, vô vi, nên xác định là không phải thực hữu,
như cái vô thể tuyệt đối.
Hoặc chúng không được bao hàm
trong bất cứ pháp thực khác,
cho nên chúng không thực sự có tự thể, như các pháp giả