LUẬN THÀNH DUY THỨC
成唯識論
(T31n1585)
Bản dịch Việt
TUỆ SỸ
(chương 1)
(chương 2)
(chương
3)
(chương 4)
(chương 5)
(chương 6)
(chương
7)
(chương 8)
Phụ bản: Thành Duy Thức Luận (T31n1585)
Thư mục chú thích
Chương II: A-lại-da thức
1. A-lại-da
2. Dị thục
3. Nhất thiết chủng
II. Chủng tử
1. Định nghĩa
2. Tân huân và bản hữu
III. Đặc tính của chủng tử
Sáu đặc tính của chủng tử
1. Sở huân
2. Năng huân
Tiết 3. Hành tướng và sở duyên
1. Tổng thích
2. Hành tướng
3. Sở duyên
4. Biến thái đặc biệt
5. Bất khả tri
Tiết 4. Tâm sở tương ưng
1. Năm tâm sở
2. Duy xả thọ
3. Các tâm sở khác
Tiết 5. Bản chất
1. Bản chất của thức thứ tám
2. Bản chất tâm sở tương ưng
Tiết 6. Thức hằng chuyển
1. Ý nghĩa duyên khởi
2. Phê bình các bộ
Tiết 7. Xả A-lại-da
1. Cứu cánh xả
2. Các biệt danh
3. Giai vị
Tiết 8. Chứng minh sự tồn tại của căn bản thức
A. Giáo chứng
1. Đại thừa giáo
2. Tiểu thừa giáo
B. Lý chứng
1. Trì chủng
2. Tâm dị thục
3. Thú và sinh
4. Chấp thọ
5. Thọ - Noãn - Thức
6. Sinh tử tâm
7. Danh sắc
8. Thực phẩm
9. Diệt tận định
10. Nhiễm tịnh
Chương II: A-lại-da thức
Tuy đã nói một cách tổng quát về ba sự biến
thái của thức, nhưng chưa thảo luận chi tiết về các đặc tướng của
chúng. Vậy, đặc tướng của sự biến thái thứ nhất là thế nào?
Tụng nói:
初阿賴耶識
異熟一切種
2
不可知執受
處了常與觸
作意受想思
相應唯捨受
3
是無覆無記
觸等亦如是
恒轉如瀑流
阿羅漢位捨
4
Thứ nhất là
A-lại-da,
cũng gọi là dị
thục, nhất thiết chủng.
Không thể biết sự
chấp thọ,
Xứ sở và biểu
hiện nhận thức của nó.
Luôn luôn, nó
tương ưng với xúc,
tác ý, thọ tưởng
và tư.
Nó chỉ tương ưng
với xả thọ.
Nó là vô phú vô
ký.
Xúc v.v. cũng
vậy.
Nó thường hằng
lưu chuyển như dòng thác.
Đến địa vị
A-la-hán nó mới bị loại bỏ.
I. Định danh
Luận nói, thức năng biến thứ nhất, trong giáo
nghĩa của Tiểu thừa và Đại thừa, đều được
gọi là A-lại-da. Vì nó hàm ngụ các nghĩa năng tàng, sở tàng
và chấp tàng. Vì nó hỗ tương làm điều kiện (duyên) cho các pháp tạp
nhiễm.
Vì hữu tình chấp nó như là tự ngã nội tại.
Bài tụng này nêu rõ các đặc tướng mà thức
năng biến thứ nhất có. Vì đặc tướng riêng biệt của nó là sự nhiếp
trì trên hai phương diện nhân và quả.
Phần vị của các đặc tướng riêng biệt của thức
này tuy nhiều,
nhưng thức như là kho tàng được chú trọng hơn hết, do đó dành riêng
cho nó tên này.
Thức này được gọi là dị thục, vì nó đưa đến
kết quả đã chín (dị thục) của nghiệp thiện và bất thiện trong các
cõi, các định hướng và các sinh loại.
Nếu loại bỏ nó, không thể hiểu rõ kết quả dị thục đặc biệt
vốn thường hằng tiếp nối liên tục của mạng căn, chúng đồng phần, các
thứ.
Bài tụng này hiển thị đặc tướng trên phương
diện quả của thức năng biến thứ nhất.
Đặc tướng trên phương diện quả của thức này
tuy có nhiều trạng thái,
nhiều chủng loại,
nhưng ý nghĩa dị thục vừa rộng, vừa đặc hữu, do đó đặc biệt được chỉ
định.
Thức này chấp trì hạt giống của các pháp
không để cho thất tán, do đó, được gọi là nhất thiết chủng.
Ngoài thức này ra, không thể có cái gì chấp
trì một cách phổ biến hạt giống của các pháp.
Bài tụng này hiển thị đặc tướng trên phương
diện nhân của thức năng biến thứ hai.
Đặc tướng về phương diện nhân của thức này
tuy có nhiều chủng loại,
nhưng do sự duy trì chủng tử và do đặc hữu, do đó được đặc biệt chỉ
định.
Thể tướng của thức năng biến thứ nhất tuy
nhiều, nhưng tổng quát duy chỉ có ba đặc tướng này mà thôi.
Cần phân biệt rõ thêm đặc tướng nhất thiết
chủng.
Trong đây, pháp gì được gọi là chủng tử?
Trong bản thức, công năng sai biệt
trực tiếp sản sinh kết quả của chính nó.
Nó (chủng tử) cùng với bản thức và quả được
sản sinh không phải đồng nhất cũng không phải dị biệt.
Lý tính của thể dụng, nhân quả, là như vậy.
Tuy không phải nhất, không phải dị, nhưng là
thực hữu. Vì pháp giả hữu, như cái không tồn tại,
không phải là nhân duyên.
Nó cùng với các pháp đã không phải là nhất,
không phải dị, hẳn phải như bình các thứ, là
giả chứ không phải thực.
Nếu vậy, chân như cũng là giả hữu.
Thừa nhận như vậy, sẽ không có chân thắng nghĩa đế.
Nhưng, các chủng tử
chỉ y trên ngôn thuyết thế tục mà nói là thực hữu, không đồng với
chân như.
Chủng tử tuy y trên thể của thức thứ tám,
nhưng đó chính là tướng phần của thức này chứ không là gì khác. Vì
kiến phần thường nắm bắt nó như là đối tượng.
Các chủng tử hữu lậu không khác biệt với thể
của dị thục thức, do đó nó thuộc tính vô ký.
Nhân và quả đếu có tính thiện, bất thiện và
vô ký nên nó cũng được gọi là thiện, bất thiện và vô ký.
Các chủng tử vô lậu duy chỉ được gọi là
thiện, vì không được bao hàm trong dị thục thức, do vì nhân và quả
đều chỉ có tính thiện.
Nếu vậy, tại sao Quyết trạch phần nói, trong
22 căn,
tất cả đều có chủng tử của dị thục, đều là dị thục sinh?
Tuy nó được gọi là dị thục nhưng không phải là vô ký. Y tựa trên dị
thục
nên gọi là chủng tử dị thục. Cái gì dị tính thì y tựa lẫn nhau được,
như thức con mắt v.v.
Hoặc chủng tử vô lậu, do ảnh hưởng của huân
tập, chuyển biến mà thành thục, được đặt tên
là dị thục.
a. Thuyết bản hữu: Hộ Nguyệt
Trong đây, có quan điểm cho rằng hết thảy
chủng tử đều là bản hữu, không do bởi huân tập
mới phát sinh. Nhưng do ảnh hưởng của sự huân tập mà nó phát triển.
Như Khế kinh
nói, “Hết thảy hữu tình, từ vô thủy đến nay, có đa dạng giới, như
đống ác-xoa,
tồn tại một cách tự nhiên như vậy.” Giới là tên gọi khác của chủng
tử.
Lại nữa, Khế kinh nói, “Giới, từ vô thủy đến
nay, là sở y của hết thảy pháp.”
Giới đây có nghĩa là nhân.
Du-già
cũng nói, “Tự tính của các chủng tử, từ vô thủy đến nay, tuy là bản
hữu, nhưng do cái mới được huân tập như là nhiễm hay tịnh mà phát
khởi.”
Các loại hữu tình, từ vô thủy đến nay, nếu
thuộc pháp bát-niết-bàn, tất cả thảy đều đầy đủ. Nếu không thuộc
pháp bát-niết-bàn, khuyết chủng tử của ba loại bồ-đề.
Văn như vậy để chứng minh, không phải là ít.
Lại nữa, các hữu tình đã được nói là bản lai
có năm chủng tính khác nhau do đó cần phải xác định có chủng tử pháp
nhĩ, không phát sinh do bởi huân tập.
Lại nữa, Du-già nói, địa ngục thành tựu ba vô
lậu căn.
Đó là chủng tử chứ không phải hiện hành.
Lại nữa, chủng tính bản tính trụ,
đạt được một cách tự nhiên, từ vô thủy lần lượt truyền đến nay.
Do các dẫn chứng như vậy chứng minh rằng
chủng tử vô lậu vốn là pháp nhĩ bản hữu, chứ không do huân tập mà
phát sinh.
Chủng tử hữu lậu tất nhiên cũng tồn tại một
cách tự nhiên (pháp nhĩ hữu), do huân tập mà phát triển, không phải
do huân tập riêng biệt mà phát sinh.
Như vậy, nhân quả được thiết lập không tạp
loạn.
b. Thuyết tân huân: Thắng Quân và
Nan-đà
Quan điểm khác nói, chủng tử phát sinh đều do
huân tập.
Cái được huân tập và cái huân tập đều tồn tại
từ vô thủy; do đó, các chủng tử được thành tựu từ vô thủy?
Chủng tử là tên gọi khác của tập khí. Tập khí
tất phải do huân tập mà có, như mùi thơm (khí) của vừng (mè) phát
sinh do bởi xông ướp (huân tập) hoa.
Như Khế kinh
nói, “Tâm của các hữu tình do được huân tập bởi nhiễm và tịnh mà vô
lượng chủng tử được tích tập.
Luận nói,
chủng tử nội tại nhất định có sự huân tập. Chủng tử ngoại tại, hoặc
có, hoặc không.
Lại nữa, ba loại tập khí, danh ngôn, v.v.,
bao gồm chủng tử của hết thảy pháp hữu lậu. Ba loại tập khí đó đã do
huân tập mà có, do đó chủng tử hữu lậu tất do huân tập mà sản sinh.
Chủng tử vô lậu cũng do huân tập. Nói rằng,
sự huân tập bởi nghe mà sinh khởi là do được huân tập bởi sự nghe
Chánh pháp lưu xuất trực tiếp
từ pháp giới thanh tịnh.
Đó là chủng tử tính của tâm xuất thế.
Sự sai biệt của chủng tính
bản lai của hữu tình không do chủng tử vô lậu tồn tại hay không tồn
tại. Nhưng chủng tính ấy chỉ y trên trường hợp có chướng
hay không chướng mà thiết lập.
Như Du-già nói,
nếu ở nơi cảnh vực chân như mà hoàn toàn có chủng tử của hai chướng,
ở đó lập chủng tính của pháp không bát-niết-bàn. Nếu hoàn toàn có
chủng tử của sở tri chướng chứ không phải phiền não chướng, ở đây
một phần lập chủng tính Thanh văn, một phần lập chủng tính Độc giác.
Nếu hoàn toàn không có chủng tử của cả hai chướng, tức lập nó làm
chủng tính Như lai.
Do đó biết rằng sự sai biệt của chủng tính
bản lai y trên chướng mà thiết lập chứ không phải do chủng tử vô
lậu.
c. Quan điểm của Hộ Pháp
Quan điểm khác nói, mỗi chủng tử (hữu lậu và
vô lậu) đề có hai loại:
a. Bản hữu. Đó là công năng sai
biệt sản sinh uẩn, xứ, giới; nó tồn tại một cách tự nhiên (pháp nhĩ)
trong thức A-lại-da kể từ vô thủy. Thế Tôn y trên đây mà nói, giới
đa dạng
mà các hữu tình sở hữu từ vô thủy đến nay giống như đống hạt ác-xoa,
tồn tại một cách tự nhiên (pháp nhĩ). Ngoài ra, các dẫn chứng được
nói chi tiết như trên kia.
Đây gọi là chủng tính của bản tính trụ.
b. Thủy khởi. Nó hiện hữu do
được thường xuyên huân tạp bởi hiện hành. Thế Tôn y trên đây mà nói,
tâm của các hữu tình do được huân tập bởi các pháp nhiễm, tịnh; nó
là cái được tích tập bởi vô lượng chủng tử. Các luận cũng nói, chủng
tử nhiễm, tịnh phát sinh do bởi sự huân tập của các pháp nhiễm,
tịnh.
Đây gọi là chủng tử được tập thành.
(1) Phê bình thuyết bản hữu
Nếu duy chỉ là bản hữu, chuyển thức không thể
là duyên tính như là nhân
cho A-lại-da.
Như Khế kinh nói, “Các pháp được chứa trong
thức; thức trong các pháp cũng vậy, hỗ tương làm quả tính cho nhau,
và cũng thường làm nhân tính.”
Đại ý bài tụng nói, thức A-lại-da và các chuyển thức trong tất cả
mọi thời lần lượt hỗ tương sinh khởi, hỗ tương làm nhân quả.
Luận Nhiếp Đại thừa nói,
thức A-lại-da hỗ tương cùng với các pháp tạp nhiễm làm nhân duyên.
Như bấc đèn và ngọn lửa lần lượt phát sinh sự cháy. Lại cũng như
cọng lau bó lại, chúng tựa nhau mà đứng. Duy chỉ y trên hai điều
kiện này
mà thiết lập nhân duyên. Các trường hợp nhân duyên khác không thể có
được.
Nếu chủng tử được sản sinh mà không do huân
tập, làm thế nào chuyển thức cùng với A-lại-da có ý nghĩa là nhân
duyên?
Không phải do huân tập khiến cho tăng trưởng mà gọi là nhân duyên.
Không thể cho rằng nghiệp thiện ác làm nhân duyên cho quả dị thục.
Lại nữa, quan điểm ấy trái với các Thánh
giáo, theo đó, có chủng tử được sản sinh do huân tập. Cho nên, cho
rằng duy chỉ có chủng tử bản hữu là trái với lý và giáo.
(2) Phê bình thuyết tân huân
Nếu sự sinh khởi của chủng tử có khởi thủy,
vô lậu hữu vi không thể sinh vì không có nhân duyên.
Hữu lậu không thể là chủng tử của vô lậu.
Vì không thể nên nói rằng chủng tử vô lậu sản sinh hữu lậu. Nếu chấp
nhận điều này, hữu lậu có thể sinh trở lại nơi chư Phật; thiện v.v.
không thể là chủng tử của bất thiện các thứ.
(3) Phê bình phân biệt luận
Các nhà phân biệt luận
tuy nói rằng, tính của tâm vốn tịnh, nhưng do bị ô nhiễm bởi phiền
não khách trần nên trở thành tạp nhiễm. Khi dứt sạch phiền não, bấy
giờ nó chuyển thành vô lậu. Như vậy, pháp vô lậu phát sinh không do
nhân.
Nhưng, nói là tính của tâm, các vị ấy nói
theo nghĩa nào? Nếu nói đó là Không lý;
nhưng Không không phải là nhân của tâm. Pháp thường hằng chắc chắn
không phải là chủng tử của các pháp. Vì tự thể trước sau không có
chuyển biến.
Nếu nói đó là tâm, thế thì cũng đồng với Số
luận.
Tướng tuy chuyển biến, nhưng thể thường nhất tính.
Vả lại, như thế tâm ác, vô ký cũng có thể là
thiện.
Nếu thừa nhận,
nó hẳn phải tương ưng với tín v.v.;
nếu không thừa nhận, nó có thể không phải là thể của tâm thiện. Từ
thiện còn không được nói đến, huống nữa là vô lậu.
Tâm thiện hữu lậu đã được nói là tạp nhiễm,
như tính của ác tâm vốn không phải là vô lậu, do đó không thể là
nhân cho vô lậu. Khổng thể nói rằng thiện ác, v.v., hỗ tương làm
nhân cho nhau.
Nếu tính của tâm hữu lậu mà là vô lậu, thế
thì tính của tâm vô lậu hẳn cũng có thể là hữu lậu. Vì không thể có
khái niệm về nhân duyên sai biệt.
Lại nữa, tâm của dị sinh nếu là vô lậu; thế
thì vô lậu hiện hành trong trạng thái dị sinh, và (dị sinh) được gọi
là Thánh giả. Nếu tự tính của tâm dị sinh tuy là vô lậu nhưng tướng
của nó có ô nhiễm nên không gọi là vô lậu, cho nên không có sai lầm
như vậy; thế thì chủng tử của tâm cũng không phải là vô lậu, tại sao
Luận của ngài nói có hạng dị sinh duy chỉ thành tựu chủng tử vô lậu?
Vì tính và tướng của chủng tử và hiện hành là đồng nhất.
Nhưng, Khế kinh nói,
tính của tâm vốn tịnh, ấy là nói chân như được hiển thị bởi lý Không
của tâm.
Vì chân như là tính chân thật của tâm.
Hoặc nói, thể của tâm không phải là phiền
não, do đó nói là bản tịnh; chứ không phải vì tự tính của tâm hữu
lậu là vô lậu mà nói là bản tịnh.
Do vậy, nên xác tín rằng có hạng hữu tính có
chủng tử vô lậu từ vô thủy đến nay, thành tựu một cách tự nhiên
(pháp nhĩ) chứ không phải bởi huân tập. Về sau, trong giai đoạn
thắng tiến,
nó được huân tập để phát triển. Do nguyên nhân này, pháp vô lậu sinh
khởi. Khi vô lậu sinh khởi, nó lại huân tập thành chủng tử. Về chủng
tử hữu lậu, loại suy theo đó mà biết.
(4) Giải thích nan đề
a. Huân tập nội chủng
Tuy được nói trong các Thánh giáo rằng chủng
tử nội tại một cách xác định có huân tập, nhưng không xác quyết nói
hết thảy chủng tử sản sinh đều do huân tập. Vậy, đâu có thể thể hoàn
toàn bác bỏ không tồn tại chủng tử bản hữu. Tuy nhiên, chủng tử bản
hữu cũng phải do huân tập mới có thể phát triển để dẫn đến thành
quả. Do đó nói, chủng tử nội tại xác định có huân tập.
b. Huân tập bởi nghe
Sự huân tập do bởi nghe không phải duy chỉ là
hữu lậu. Khi nghe Chánh pháp, chủng tử vô lậu bản hữu cũng được huân
tập để phát triển thêm lên, lần lượt cho đến tâm xuất thế.
Do đó chủng tử này cũng được gọi là huân tập bởi nghe. Trong cái
huân tập bởi nghe, những gì là tính hữu lậu thì thuộc tu sở đoạn.
Nó chịu ảnh hưởng của dị thục đặc sắc để làm tăng thượng duyên cho
chủng tử của tâm xuất thế. Những gì là tính vô lậu thì thuộc phi sở
đoạn,
làm nhân duyên trực tiếp cho pháp xuất thế. Nhân duyên trực tiếp này
vi tế, ẩn mật, khó nhận thức được, nhưng dựa trên loại tăng thượng
duyên đặc sắc thô hiển, phương tiện nói là chủng tử của tâm xuất
thế.
c. Chủng tính và chủng tử
Nói y trên sự chướng ngại
mà thiết lập sự sai biệt về chủng tính, ý muốn nói rõ chủng tử vô
lậu tồn tại hay không tồn tại. Nếu hoàn toàn không tồn tại chủng tử
vô lậu, chủng tử của hai chướng kia vĩnh viễn không thể bị trừ hại,
y theo đó là lập pháp phi niết-bàn. Nếu chỉ tồn tại chủng tử vô lậu
của hai thừa, sở tri chướng kia vĩnh viễn không thể bị trừ hại, theo
đó một phần lập chủng tính Thanh văn, một phần lập chủng tính Độc
giác. Nếu cũng tồn tại cả chủng tử vô lậu của Phật, chủng tử của hai
chướng kia đều có thể vĩnh viễn bị trừ hại, theo đó lập chủng tính
Như lai.
Như vậy, do bởi chủng tử vô lậu tồn tại hay
không tồn tại mà có ý nghĩa chướng có thể bị đoạn trừ hay không bị
đoạn trừ. Nhưng chủng tử vô lậu vốn vi tế, ẩn mật, khó nhận thức
được, do đó chuẩn theo hai chướng kia để nêu rõ sự sai biệt về chủng
tính. Nếu không thế, hai chướng kia có nguyên nhân cá biệt nào để có
thể bị hay không bị trừ hại? Nếu do pháp nhĩ tự nhiên mà có sự sai
biệt về chướng này, sao không thừa nhận chủng tử vô lậu cũng vậy?
Nếu bản lai hoàn toàn không tồn tại chủng tử
của pháp vô lậu, các Thánh đạo sẽ vĩnh viễn không thể sinh khởi.
Vậy, cái gì sẽ có thể trừ hại chủng tử của hai chướng để nói y
chướng mà lập nên sự sai biệt về chủng tính? Sự sinh khởi của Thánh
đạo kia đã không có ý nghĩa, nói rằng sẽ sinh khởi thì nhất định là
phi lý.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các Tánh
giáo nói có chủng tử bản hữu; thảy đều mâu thuẫn với ý nghĩa kia.
Cho nên, cho rằng chỉ có thủy khởi, điều đó trái với cả lý và giáo.
Do vậy, nên biết, mỗi chủng tử của các pháp
đều có hai loại, bản hữu và thủy khởi.
III. Đặc tính của
chủng tử
Một cách tổng quát, có sáu đặc tính của chủng
tử.
(1) Sát-na diệt. Thể của nó vừa
sinh tức thì diệt một cách vô gián, có công lực đặc sắc mới có thể
thành chủng tử. Đặc tính này loại ra những gì là pháp thường hằng.
Cái gì thường hằng không biến chuyển thì không thể nói nó có khả
năng phát sinh tác dụng.
(2) Quả câu hữu. Cái cùng với
pháp là quả hiện hành đã được sản sinh, cùng hiện hữu
và cùng hòa hiệp, mới có thể làm chủng tử.
Đặc tính này loại bỏ những gì tồn tại trước nó, sau nó và ly cách
nó.
Hiện hành và chủng tử khác loại, không chống
nhau, đồng thời hiện hữu trong cùng một thân, cái đó mới có khả năng
phát sinh tác dụng. Không phải như chủng tử cùng loại sinh sản lẫn
nhau, cái trước và cái sau chống nhau, tất không thể cùng hiện hữu.
Tuy nhân và quả có trường hợp cùng hiện hữu hay không cùng hiện hữu,
nhưng chỉ trong thời hiện tại mới có thể có tác dụng như là nhân, vì
cái chưa sinh và cái đã diệt không có tự thể.
Y trên cái sản sinh quả hiện tại mà đặt tên chủng tử, chứ không phải
y trên trường hợp nó dẫn sinh cái cùng loại mà gọi là chủng tử, do
đó cần phải nói chủng tử là cái cùng tồn tại với quả.
(3) Hằng tùy chuyển. Trong một
thời gian dài cần phải tồn tại như một chủng loại duy nhất liên tục
cho đến giai đoạn cứu cánh,
như thế mới có thể thành chủng tử. Đặc tính này loại trừ các chuyển
thức
vốn chuyển dịch một cách gián đoạn, vì như vậy không tương ưng với
chủng tử. Đặc tính này cũng chỉ rõ tính cách tự loại sinh sản lẫn
nhau của chủng tử.
(4) Quyết định tính. Chủng tử
phải là cái quyết định bản chất của công năng dẫn sinh thiện ác tùy
theo ảnh hưởng của nhân.
Đặc tính này bác bỏ quan điểm của các bộ phái khác cho rằng nhân của
dị tính sản sinh quả của dị tính cũng mang ý nghĩa nhân duyên.
(5) Đãi chúng duyên. Chủng tử
là loại công năng đặc biệt khi hội hiệp đủ các điều kiện riêng biệt
của nó.
Đặc tính này bác bỏ quan điểm của Ngoại đạo cho rằng do nguyên nhân
tự nhiên,
chứ không do hội đủ các điều kiện, quả thường xuyên được sản sinh
một cách đột nhiên. Hoặc bác bỏ quan điểm các bộ phái khác cho rằng
các duyên vốn hằng hữu chứ không phải không tồn tại.
Ở đây nêu rõ các điều kiện (duyên) cần hội đủ không có tính hằng
hữu. Do đó, chủng tử không thường xuyên ngẩu sinh quả.
(6) Dẫn tự quả. Dẫn sinh kết
quả của riêng nó.
Chủng tử là cái, từng loại riêng biệt, dẫn sinh các quả sắc, tâm
từng loại riêng biệt. Đặc tính này bác bỏ quan điểm của Ngoại đạo
cho rằng một nhân độc nhất sản sinh hết thảy quả. Cũng bác bỏ các bộ
phái khác cho rằng sắc tâm các thứ làm nhân duyên cho nhau.
a. Duy chỉ công năng sai biệt trong
Bản thức mới có đủ sáu đặc tính này để thành chủng tử; ngoài ra là
không thể. Ở ngoại giới, như thóc lúa các thứ, vốn là biến thái của
thức, cho nên giả lập chúng là chủng tử, nhưng không phải là chủng
tử thực nghĩa.
b. Thế lực của loại chủng tử này sản
sinh quả chính thức và gần gũi nhất được gọi là sinh nhân. Khi nó
dẫn sinh quả dư tàn xa khiến không đột nhiên dứt tuyệt, bấy giờ được
gọi là dẫn nhân.
c. Nội chủng sinh trưởng tất do huân
tập; trực tiếp sản sinh quả. Đó là nhân duyên tính. Ngoại chủng hoặc
được huận tập hoặc không; nó làm tăng thượng duyên để tác thành quả
được sản sinh. Nhân duyên của quả kia như vậy phải là nội chủng. Vì
quả được sản sinh từ chủng tử có đặc tính chung.
IV. Điều kiện
huân tập
Theo ý nghĩa nào mà nói là huân tập?
Cái được huân tập và cái huân tập cần hội đủ bốn nghĩa.
Bốn nghĩa cho cái được huân tập
là gì?
(1) Tính kiên trụ. Tính bền
lâu. Pháp mà thủy chung đồng một loại tiếp nối nhau liên tục để duy
trì tập khí; pháp ấy chính là cái được huân tập. Ý nghĩa này loại ra
các chuyển thức, và âm thanh, gió, v.v.,
vì tính chất không bền lâu nên chúng không thể bị xông ướp (huân
tập).
(2) Tính vô ký. Tính trung hòa.
Pháp bình đẳng, không có tính kháng cự khả năng dung nạp tập khí;
pháp ấy mới có thể được huân tập.
Ý nghĩa này loại ra ngoài các pháp thiện ô nhiễm, do thế lực cường
thịnh nên không dung nạp bất cứ cái gì; do đó chúng không thể bị
huân tập.
Do ý nghĩa này, thức thứ tám của Như lai, vốn
là tịnh thức, duy chỉ mang chứa chủng tử cố cựu chứ không dung nạp
sự huân tập mới.
(3) Tính khả huân. Tính hấp
thu. Pháp nào có tính tự tại (tự do), không chặt cứng (như đá) để có
khả năng dung nạp tập khí, pháp đó mới có thể bị huân tập. Ý nghĩa
này loại ra ngoài tâm sở và vô vi pháp, vì y tha và chặt cứng nên
không thể bị huân tập.
(4) Tính cộng đồng hòa hiệp với năng
huân. Pháp nào cùng đồng thời và đồng xứ với cái huân tập,
pháp ấy mới được huân tập. Ý nghĩa này loại ra ngoài tha thân, sát
na trước sau, vốn không có ý nghĩa hòa hiệp nên không thể bị huân
tập.
Duy chỉ dị thục thức có đầy đủ bốn ý nghĩa
này mới có thể được huân tập, chứ không phải tâm sở các thứ.
Bốn tính chất của cái huân tập
là gì?
(1) Có tính sinh diệt. Pháp mà không thường
hằng, có tác dụng sinh trưởng tập khí; pháp ấy mới là năng huân.
Điều này loại ra pháp vô vi; nó không thể là năng huân, vì trước sau
không biến đổi, không có tác dụng sinh trưởng.
(2) Có tác dụng ưu thắng.
Pháp có tính sinh diệt mà thế lực tăng thịnh để dẫn sinh tập khí;
pháp ấy mới là năng huân. Điều này loại ra tâm, tâm sở thuộc dị thục;
vì thế lực yếu kém nên chúng không thể là năng huân.
(3) Có tăng giảm. Pháp có tác dụng ưu thắng,
lại có tăng có giảm, duy trì tập khí; pháp ấy mới là năng huân. Điều
này loại trừ pháp thiện viên mãn nới Phật quả; vì không tăng không
giảm nên không thể là năng huân. Nếu nó là năng huân thì không phải
là viên mãn; vì như vậy Phật quả trước sau có ưu có khuyết.
(4) Cùng với sở huân hòa hiệp mà chuyển. Nếu
cùng với cái được huân tập mà đồng thời, đồng xứ, không tương tức,
không tương ly; pháp ấy mới là năng huân. Điều này loại trừ tha
thân, sát na tước sau, vốn không có ý nghĩa hòa hiệp; cho nên nó
không phải là năng huân.
Duy bảy chuyển thức cùng với các tâm sở của
chúng có thế lực, tác dụng nhưng có tăng giảm, đủ bốn nghĩa này mới
có thể nói là năng huân.
Cái năng huân và thức được huân tập cùng sinh
cùng diệt như vậy, ý nghĩa huân tập được xác chứng. Làm cho chủng tử
tăng trưởng trong cái được huân tập, như ướp mùi cho vừng, đó gọi là
huân tập.
Thức năng huân khi sinh khởi từ chủng tử,
ngay lúc đó nó làm nhân để huân tập trở lại thành chủng tử. Ba pháp
lần lượt,
nhân quả đồng thời. Như bấc đèn sinh ngọn lửa. Ngọn lửa đốt trở lại
bấc đèn. Cũng như bó lau, các cọng lau nương tựa lẫn nhau. Nhân và
quả cùng tồn tại trong một thời; điều này không làm đảo lộn lý tính.
Cái năng huân sản sinh chủng tử; chủng tử
phát khởi hiện hành; như nhân câu hữu đạt được quả sĩ dụng.
Chủng tử cùng với đồng loại trước sau sinh sản nhau, như nhân đồng
loại dẫn đến quả đẳng lưu.
Cả hai cái này là nhân duyên tính cho kết quả. Trừ đó ra, các pháp
còn lại đều không phải là nhân duyên. Nhưng đặt tên là nhân duyên,
nên biết, đó chỉ là giả thuyết.
Như vậy, đã tóm tắt các đặc tướng của chủng
tử.
1. Tổng thích
Hành tướng
và sở duyên của thức này như thế nào?
Tụng nói: không thể
biết sự chấp thọ, xứ, liễu của nó.
Liễu
tức liễu biệt. Đó là hành tướng, vì thức lấy sự liễu biệt làm hành
tướng.
Xứ,
tức xứ sở. Đó là khí thế gian;
vì là y xứ của các hữu tình.
Chấp thọ
có hai; đó là các chủng tử và thân có căn.
Các chủng tử là tập khí của tướng, danh và phân biệt.
Thân có căn là các căn thuộc sắc và y xứ của căn. Cả hai cái này
được chấp thọ bởi thức, được nhận làm tự thể của thức, vì cùng chung
an, nguy.
Chấp thọ và xứ đều là sở duyên.
Thức a-lại-da, do ảnh hưởng của nhân duyên,
khi tự thể sinh, bên trong biến thái thành chủng tử và thân có căn,
bên ngoài biến thái thành khí mãnh (tự nhiên giới). Rồi nó lấy ngay
những gì được biến thái đó làm sở duyên và hành tướng, dựa vào đó mà
sinh khởi. Trong đó, liễu (biệt) chỉ cho hoạt dụng cá biệt của thức
dị thục đối với sở duyên (đối tượng) của nó. Hoạt dụng liễu biệt này
được xem là thuộc kiến phần.
i.
Hai phần.
Nhưng, thức hữu lậu, khi tự thể của nó sinh khởi, xuất hiện với đặc
tướng tương tự sở duyên và năng duyên. Pháp tương ưng với nó,
nên biết, cũng vậy.
Đặc tướng tương tự sở duyên là thuyết minh
tướng phần. Đặc tướng tương tự năng duyên là thuyết minh kiến phần.
Nếu tâm, tâm sở không có đặc tướng sở duyên,
chúng không thể vươn đến cảnh vực sở duyên cá biệt của mình.
Hoặc, trái lại, từng cái cá biệt có thể vươn đến tất cả. Vì cảnh vực
cá biệt của riêng nó cũng như của những cái khác; và của những cái
khác cũng như của nó vậy.
Nếu tâm, tâm sở không có đặc tướng năng
duyên, chúng không thể vươn đến cái gì, như hư không chẳng hạn.
Hoặc, nếu không thế, hư không cũng là cái năng duyên.
Cho nên, tâm và tâm sở tất có hai tướng. Như
Khế kinh nói,
“Tất cả chỉ có giác. Nghĩa sở giác hoàn toàn không. Các phần năng
giác và sở giác chuyển vận một cách tự nhiên.”
ii.
Ba phần. Những vị
quan niệm cảnh sở duyên tồn tại ngoài thức nói rằng ngoại cảnh là sở
duyên, tướng phần được nói là hành tướng,
kiến phần được nói là sự,
vì đó là tướng của tự thể của tâm và tâm sở.
Tâm và tâm sở đồng chung sở y và sở duyên nên
hành tướng của chúng tương tự.
Số của sự tuy bằng nhau
nhưng tướng khác biệt nhau, vì đặc tướng của thức, thọ, tưởng, v.v.,
đều khác nhau.
Đối với những vị
quan niệm rằng cảnh sở duyên không phải ở bên ngoài thức, khi ấy
tướng phần được nói là sở duyên, kiến phần là hành tướng. Tự thể
(của thức) làm sở y cho tướng và kiến được gọi là sự; đó tức là tự
chứng phần.
Nếu không có phần này, tâm và tâm sở pháp không thể tự hồi ức, như
không thể hồi ức những cảnh chưa từng được trải qua.
Tâm và tâm sở có chung căn
làm sở y; sở duyên của chúng tương tự, nhưng hành tướng thì khác
biệt, vì các hoạt dụng nhận thức (liễu biệt), lãnh nạp (cảm thọ)
thảy đều khác nhau.
Số của sự tuy bằng nhau nhưng tướng thì mỗi thứ mỗi khác, vì thể của
thức, thọ, v.v. đều có sự sai biệt.
Nhưng mỗi một tâm và tâm sở khi sinh khởi,
suy cứu theo lý, thảy đều có ba phần, vì đối tượng nhận thức (sở
lượng), chủ thể nhận thức (năng lượng) và kết quả của nhận thức
(lượng quả)
vốn khác biệt nhau, và vì tướng và kiến tất phải có tự thể làm sở y.
Như già-tha trong Tập lượng luận nói, “Đối tượng nhận thức
(sở lượng) là tướng của cảnh tương tự.
Chủ thể tiếp nhận tướng, và chủ thể tự chứng, tức chủ thể nhận thức
(năng lượng) và kết quả nhận thức. Tự thể của ba cái này không riêng
biệt.”
iii.
Bốn phần. Lại nữa, nếu phân
tích kỹ, tâm và tâm sở phải có bốn phần. Ba phần, như đã nói trên.
Sau cùng có phần thứ tư, chứng tự chứng phần.
Nếu không có phần này, cái gì chứng biết phần
thứ ba? Phần của các tâm đã đồng,
vậy cần phải được chứng biết. Lại nữa, phần tự chứng sẽ không có quả
(nếu không có phần thứ tư). Các phán đoán nhận thức (năng lượng) đều
phải có quả. Kiến phần không thể là quả của phần thứ ba. Vì cũng có
khi kiến phần thuộc phi lượng.
Do đó, kiến phần không chứng tri phần thứ ba. Vì chứng tri tự thể
chính là hiện lượng.
Trong bốn phần này, hai phần đầu thuộc ngoại
giới; phần sau thuộc nội tại. Phần thứ nhất chỉ là sở duyên (đối
tượng). Ba phần sau gồm cả hai (vừa là đối tượng, vừa là chủ thể).
Theo đó, phần thứ hai chỉ vin đến phần thứ nhất như là đối tượng. Nó
có thể là lượng hay phi lượng; là hiện lượng hay tỷ lượng. Phần thứ
ba là chủ thể vin đến phần thứ hai và phần thứ tư như là đối tượng.
Phần chứng tự chưng chỉ vin đến phần thứ ba như là đối tượng. Nó
không vin đến phần thứ hai, vì vô dụng. Phần thứ ba và phần thứ tư
đều thuộc hiện lượng. Như vậy, tâm và tâm sở được hợp thành bởi bốn
phần, đủ cả đối tượng sở duyên và chưa thể năng duyên, không phạm
lỗi vô cùng,
không phải tương tức, không phải tương ly. Lý Duy thức như vậy được
chứng minh.
Cho nên, già-tha trong Khế kinh nói, “Tâm
chúng sinh lưỡng tính,
nội ngoại tất cả phần, quấn chặt
sở năng thủ, thấy sai biệt đa thù.”
“Ý bài tụng này nói, tâm tính của chúng sinh
được hợp thành bởi hai phần, hoặc ngoại hoặc nội,
thảy đều bị quấn chặt bởi năng thủ và sở thủ, do đó đủ mọi hình
thái, với nhiều phần sai biệt, hoặc lượng hay phi lượng, hoặc hiện
lượng hay tỷ lượng.”
Trong đoạn này, nói “thấy” (kiến) tức chỉ cho
kiến phần.
iv.
Quan hệ các phần. Bốn phần như
vậy hoặc được thâu tóm thành ba, tức phần thứ tư được coi như là
phần tự chứng. Hoặc bốn phần tóm lại thành hai, vì cả ba phần sau
đều có tính chất năng duyên nên được coi như là kiến phần.Ở đây nói
kiến, tức có nghĩa là năng duyên.
Hoặc bốn phần tổng quát thành một, vì thể của
chúng không dị biệt. Như già-tha trong Nhập Lăng già nói, “Do
tự tâm chấp trước, tâm chuyển biến thành ảnh tợ ngoại cảnh. Cái được
thấy kia không thực hữu, cho nên nói duy tâm.”
Như vậy, rải rác nhiều nơi, duy nhất tâm được
nói đến. Từ nhất tâm này cũng gồm luôn cả tâm sở. Do đó, hành tướng
của thức chính là liễu biệt. Mà liễu biệt chính là kiến phần của
thức.
1.
Xứ: thế giới ngoại tại.
Nói là xứ, đó là thức dị thục, do ảnh hưởng
của sự thành thục của chủng tử cộng tướng,
biến thành tợ sắc các thứ, thành khí thế gian, tức các đại chủng
ngoại tại và các sắc sở tạo. Mặc dù sở biến của các hữu tình hoàn
toàn khác biệt nhau, nhưng tướng trạng của chúng tương tự, và xứ sở
không khác;
như nhiều ánh đèn giao thoa nhau toàn diện tương tự như là một.
Nhưng, dị thục thức của ai
biến thái thành các tướng trạng ấy?
1. Có thuyết nói, tất cả.
Vì sao? Khế kinh nói, “(thế giới) xuất hiện do ảnh hưởng cộng đồng
bởi lực tăng thượng của nghiệp của tất cả hữu tình.”
2. Thuyết khác nói rằng,
nếu thế, chư Phật Bồ-tát hẳn phải thật sự biến hiện thành cõi tạp uế
này. Trái lại, các hạng dị sinh thật sự biến hiện thành các cõi
thanh tịnh vi diệu ở phương này hay phương khác. Lại nữa, các Thánh
giả vốn nhàm chán cõi hữu sắc để sinh cõi vô sắc,
tất không tái sinh cõi dưới này, vậy sự biến thái thành cõi này có
mục đích gì?
Nhưng, các loài đang tồn tại ở đây và sẽ tái
sinh vào đây, dị thục thức của các hạng ấy biến thái thành thế giới
này. Kinh dựa trên phần nhỏ mà nói là tất cả.
Các nghiệp đồng nhau đều cùng chung biến thái.
3. Có thuyết nói, nếu vậy, khi khí thế gian
sắp hoại diệt ở đây không có loài đang tồn tại và sắp tái sinh đến,
vậy dị thục thức của ai biến thái thành thế giới này?
Lại nữa, các dị sinh chán hữu sắc mà sinh vô
sắc, hiện không có thân thuộc sắc, sự dự định biến thái thành cõi
này có mục đích gì? Giả sử có thân thuộc sắc,
nhưng cùng với giới địa khí thế gian khác vốn quá cách biệt nhau về
sự thô và tế, không y tựa lẫn nhau, duy trì lẫn nhau, vậy thì ở đây
sự biến thái ấy có ích gì cho loài ở cõi kia?
4. Tuy nhiên, thế giới do biến thái ấy nguyên
lai vì mục đích duy trì và thọ dụng cho sắc thân. Cho nên, nếu có
khả năng để duy trì và thọ dụng cho thân thì cõi ấy được biên thái
thành. Do vậy, giả sử có tái sinh ở phương khác hay ngay chính giới
địa này, thức ấy vẫn có thể biến thái thành cõi này.
Vậy, khí thế gian sắp hoại diệt hay bắt đầu
sáng thành,
tuy không có hữu tình nhưng vẫn hiện hữu.
Đó là nói, tất cả cùng thọ dụng chung.
Nếu thọ dụng riêng biệt, chuẩn theo đây mà biết. Vì cái thấy của
loài quỷ, loài người và chư thiên khác nhau.
2. Chấp thọ: đối tượng nội giới.
Các chủng tử,
chỉ cho chủng tử của tất cả pháp hữu lậu được duy trì bởi thức dị
thục. Các chủng tử này được bao hàm trong tự tính của thức nên chúng
cũng là sở duyên của thức.
Chủng tử của pháp vô lậu tuy
y tựa thức này nhưng không cùng tính chất với nó nên không phải là
sở duyên. Tuy không phải là sở duyên, nhưng không tương ly. Như Chân
như tính không trái với duy thức.
Thân hữu căn, đó là căn thuộc
sắc và y xứ của căn mà thức dị thục, do ảnh hưởng bởi sự thành thục
của chủng tử cộng tướng, biến thái thành ảnh tợ; tức sắc sở tạo và
đại chủng nội tại. Và cũng ảnh hưởng bởi sự thành thục của chủng tử
cộng tướng, nó cũng biến thái thành ảnh tợ nơi tha thân. Nếu không
thế, sự thọ dụng nơi tha thân trở thành vô nghĩa.
Trong đây, có giải thích nói
nó cũng biến thái thành ảnh tợ căn. Biện trung biên nói,
“Xuất hiện ảnh tợ như là năm căn của tự thân và tha thân.”
Giải thích khác nói,
duy chỉ có thể biến thái thành tợ ảnh là y xứ;
vì căn của tha thân không phải là sở dụng của tự thân. Điều [mà
Biện trung biên] nói, “Xuất hiện ảnh tợ như là năm căn của tự
thân và tha thân,” đó là nói tự thức và tha thức tự biến riêng biệt.
Vì vậy, khi tái sinh vào địa giới khác hay nhập Bát-niết-bàn, thi
hài còn lại của vị ấy vẫn được thấy còn tiếp nối tồn tại.
Trên đây đã nói về sai biệt
của địa giới, nội thận, ngoại giới, được biến thái bởi ảnh hưởng của
nghiệp. Nếu là giới địa, thân, khí (ngoại giới) được biến thái bởi
các lực,
định lực, v.v., tự và tha không xác định.
Thân và khí được biến thái
phần lớn hằng tương tục. Thanh và ánh sáng, v.v.,
được biến thái phần lớn là tạm thời; vì chúng được kích phát bởi lực
của hiện duyên.
Nói một cách tóm tắt, cảnh
biến thái bởi thức này là chủng tử hữu lậu, 10 xứ thuộc sắc,
và sắc thật được biến hiện thuộc pháp xứ.
Vì sao thức này không biến
thái thành ảnh tợ như tâm và tâm sở các thứ
để làm sở duyên? Tóm tắt, sự biến thái của thức hữu lậu có hai loại:
1. biến tùy theo thế lực của nhân duyên;
2. biến tùy theo thế lực của phân biệt.
Biến thứ nhất tất có tác dụng. Biến thứ hai chỉ là cảnh vực.
Sự biến thái của dị thục thức chỉ tùy theo nhân duyên; sắc các thứ
được biến thái (bởi thức này) tất có tác dụng thực tiễn. Nếu nó (dị
thục thức) biến thái thành tâm các thứ tất không có thật dụng, bởi
vì tâm như là tướng phần (đối tượng) thì không thể duyên (như là chủ
thể).
Những gì có nhu cầu về hoạt dụng thực tiễn từ thức này
thì đặc biệt từ nó được sản sinh.
Nếu nó biến thái thành vô vi
các thứ;
vô vi, v.v., không có tác dụng thực tiễn.
Cho nên, thức dị thục không vin vào tâm các thứ để làm đối tượng.
Cho đến trạng thái vô lậu, nó
tương ưng với huệ ưu việt, tuy vô phân biệt nhưng vì trừng tịnh, nên
giả sử vô vi v.v. không có tác dụng thực tiễn nó vẫn biến hiện ảnh
tợ của chúng.
Nếu không thế, chư Phật tất không phải là biến tri.
Cho nên, trong trạng thái hữu
lậu, thức dị thục này chỉ duyên khí (thế gian), thân, và chủng tử
hữu lậu. Tại Dục giới và Sắc giới, đủ cả ba sở duyên.
Trong Vô sắc giới, vin vào chủng tử hữu lậu làm đối tượng. Vì ở đây
do nhàm chán sắc nên không tồn tại sắc như là quả của nghiệp, mà tồn
tại sắc như là quả của định. Điều này không mâu thuẫn với lý tính.
Thức này cũng duyên vào sắc (quả của định) ấy làm đối tượng.
Nói “không thể biết”
vì hành tướng của thức này cực kỳ vi tế nên rất khó để nhận thức.
Hoặc, sở duyên của nó là cảnh được chấp thọ nội tại cũng vi tế, và
lượng
của khí thế gian ngoại tại rất khó ước lượng; do đó nói là “không
thể biết”.
Vì sao hành tướng của cảnh sở
duyên là đối tượng mà thức này tiếp nhận lại rất khó biết?
Thì cũng như trong diệt tận định, thức không rời thân.
Và cũng nên tin là có.
Cố nhiên, cần phải thừa nhận
rằng trong diệt tận định thức vẫn tồn tại, vì (vị nhập định) vẫn
thuộc về hữu tình. Như trong trạng thái hữu tâm.
Trong các trạng thái vô
tưởng,
nên biết, cũng vậy.
Thức này tương ưng với bao
nhiêu tâm sở?
Nó thường xuyên tương ưng
với xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư.
Kể từ vô thủy cho đến trước
khi được chuyển y, trong tất cả mọi giai đoạn, thức này thường xuyên
tương ưng với năm tâm sở này. Vì chúng thuộc các tâm sở biến hành.
a. Xúc
Xúc, đó là sự phân biệt biến
dị trong tổ hợp ba, mà tự tính là làm cho tâm và tâm sở tiếp xúc với
cảnh; chức năng là làm sở y cho thọ, tưởng các thứ.
Tổ hợp ba là sự hỗ tương tùy
thuận của căn, cảnh và thức.
Xúc y trên chúng nó mà phát sinh, làm cho chúng hòa hiệp, do đó nói
“chúng nó”.
Trong trạng thái hòa hiệp, ba sự đều có công năng dẫn đến sự sinh
khởi của tâm sở; đó gọi là “biến dị”.
Xúc sinh khởi tương tự với sự biến dị ấy được gọi là “phân biệt”.
Khi xúc được dẫn khởi, hiệu lực biến dị của căn hơn hẳn thức và cảnh
của nó, do đó, các luận như Tập luận
chỉ nói đến phân biệt về sự biến dị của căn.
Tự tính của xúc là sự hòa hiệp tất cả tâm và tâm sở khiến cho chúng
đồng tiếp xúc cảnh.
Bởi vì nó tương tự công năng
dẫn đến phát khởi tâm và tâm sở, nên chức năng (nghiệp) của nó là
làm sở y cho thọ, v.v. Kinh Khởi tận nói, Các uẩn thọ, tưởng,
hành, tất cả đều lấy xúc làm duyên.
Do ý nghĩa đó mà nói, thức, xúc, thọ các thứ phát sinh nhân bởi sự
hòa hiệp của hai, ba và bốn.
Du-già
chỉ nói nó làm sở y cho thọ, tưởng và tư; ấy là vì trong hành uẩn tư
là chủ đạo,
là ưu thắng.
Chỉ nêu nó mà bao hàm luôn các cái khác.
Các luận như Tập luận
nói nó làm sở y cho thọ, vì xúc sinh thọ là sự kiện gần và ưu thắng.
Nghĩa là các hình thái khả ý v.v. được tiếp nhận bởi xúc cùng với
các hình thái thuận ích được tiếp nhận bởi thọ rất là gần gũi nhau,
bởi vì sự dẫn phát
của nó ưu thắng.
Nhưng tự tính của xúc là thật
chứ không phải giả.
Vì nó là tâm sở tính trong sáu pháp sáu.
Vì nó được kể trong thực phẩm.
Vì nó làm duyên.
Không phải như thọ tính v.v. mà đồng nhất với tổ hợp ba.
b. Tác ý
Tác ý, có bản chất là cảnh
giác tâm; chức năng là dẫn tâm hướng đến đối tượng.
Nghĩa là, nó cảnh giác chủng tử của tâm cần được phát khởi,
hướng dẫn nó nhắm đến cảnh; đó gọi là tác ý. Mặc dù nó cũng dẫn khởi
tâm sở, nhưng vì tâm là chủ nên chỉ nói đến sự dẫn khởi tâm.
Cũng có quan điểm cho rằng nó
khiến cho tâm quay hướng đến đối tượng khác.
Hoặc cho rằng, trong một đối tượng, nó duy trì tâm an trụ; đó gọi là
tác ý.
Các giải thích này đều phi lý. Vì như vậy, nó không phải là biến
hành;
và vì không có gì khác với định.
c. Thọ
Thọ, tự tính của nó là lãnh
nạp
các hình thái đối tượng thuận, nghịch, hay phi cả hai;
chức năng của nó là làm trổi dậy ái; vì nó khơi dậy sự ham muốn
hiệp, ly
hay phi cả hai.
(a) Có giải thích nói rằng,
thọ có hai:
thọ (lãnh nạp) cảnh giới, tức lãnh nạp sở duyên; và thọ (lãnh nạp)
tự tính tức sự lãnh thọ câu hữu với xúc. Chỉ có tự tính thọ là đặc
tính riêng của thọ, vì cảnh giới thọ có chung các đặc tính khác.
Giải thích này phi lý. Một
cách xác định, thọ không duyên đến đối tượng là xúc câu sinh.
(b) Nếu vì nó sinh khởi tương
tợ xúc mà nói là lãnh nạp xúc, thế thì quả tương tợ nhân đều có tự
tính là thọ.
(c) Lại nữa, xúc đã là nguyên
nhân của thọ, thì nên nói thọ là thọ của nhân,
sao lại nói là tự tính?
(d) Nếu nói, cũng như nói
“nhà vua ăn (hưởng thụ) các quốc ấp,”
cũng vậy, thọ lãnh nạp xúc, do đó thể của thọ được sản sinh ấy được
nói là thọ thuộc tự tính. Nói như vậy cũng không hợp lý; vì tự mâu
thuẫn với tông phái mình, theo đó, không có tự chứng.
(e) Nếu không xả tự tính mà
nói đến thọ (lãnh nạp) tự tính; nói thế thì hết thảy pháp đều là có
tự tính là thọ. Cho nên, thí dụ được nêu chỉ có thể gạt trẻ nhỏ
thôi.
Tuy nhiên, cảnh giới thọ
không cùng với các tâm sở khác có chung đặc tính. Sự lãnh nạp các
đặc tính, thuận nghịch v.v. được xác định thuộc bản thân, sự lãnh
nạp ấy được gọi là cảnh giới thọ, vì không chung với các tâm sở
khác.
d. Tưởng
Tưởng, tự tính là tiếp thu
ảnh tượng nơi đối tượng.
Chức năng của nó là quy ước
các loại danh ngôn khác nhau. Nghĩa là, cần phải ấn định hình thái
giới hạn của đối tượng mới có thể tùy theo đó phát khởi các thứ danh
ngôn khác nhau.
e. Tư
Tư, tự tính là khiến tâm tạo
tác.
Chức năng là sử dịch tâm nơi các phẩm chất thiện, v.v...
Tức là, nó tiếp nhận các hình thái chính nhân
nơi đối tượng rồi thúc đẩy tâm tạo các thứ thiện, bất thiện, v.v…
Năm tâm sở này thuộc biến
hành, do đó một cách xác định chúng tương ưng với tàng thức. Đặc
tính của biến hành sẽ giải thích sau.
Xúc, v.v., năm tâm sở này tuy
có đặc tính khác nhau với dị thục thức, nhưng thời và y tương đồng,
sở duyên và sự tương đẳng,
do đó nói là tương ưng.
Hành tướng của thức này cực
kỳ không rõ ràng, không thể phân biệt các hình thái đối tượng nghịch
hay thuận; nó vi tế, đồng nhất loại, tiếp nối nhau chuyển; do đó, nó
chỉ tương ưng với xả thọ.
Lại nữa, thọ tương ưng này
duy chỉ là dị thục; nó hoạt động tùy theo nghiệp dẫn độ, không cần
hội đủ duyên, vì vận chuyển theo thế lực của nghiệp thiện ác một
cách tự nhiên. Vì vậy, duy chỉ là xả thọ.
Hai thọ khổ và lạc là dị thục
sinh,
không phải là dị thục thực thụ, vì chúng cần đủ duyên cho nên không
tương ưng với thức này.
Lại nữa, do sự kiện thức này
thường không chuyển biến nên hữu tình chấp nó xem như ngã tự nội.
Nếu tương ưng với hai thọ khổ và lạc, nó hẳn có chuyển biến, vậy là
sao chấp làm tự ngã? Do đó, nó chỉ tương ưng với xả thọ.
Nếu vậy, làm sao thức này
cũng là dị thục của nghiệp ác?
Đã cho rằng nghiệp thiện cũng chiêu cảm xả thọ; ở đây (nghiệp bất
thiện) sao lại không? Vì xả thọ không trái nghịch với các phẩm chất
khổ lạc. Như pháp vô ký dẫn đến cả hai thiện và ác.
Vì sao thức này không tương
ưng các tâm sở biệt cảnh, và v.v.? Vì hỗ tương mâu thuẫn.
Nghĩa là, dục hoạt động với
hy vọng về sự thể được ưa thích. Thức này vận chuyển tùy tiện,
không có hy vọng điều gì.
Thắng giải hoạt động nhằm ghi
dấu ấn
và quyết định sự thể. Thức này thì mông muội, không ghi dấu ấn cái
gì.
Niệm hoạt động chỉ để ghi
nhận rõ ràng những sự thể đã từng trải nghiệm. Thức này muội lược
không thể ghi nhớ sáng suốt.
Định là tập trung tâm chuyên
chú trên một đối tượng. Thức này vận chuyển tùy tiện, duyên đối
tượng từng sát-na riêng biệt.
Huệ duy chỉ hoạt động với sự
giản trạch các sự thể như đức, v.v...
Thức này vi tế, muội lược, không thể giản trạch.
Do vậy, thức này không tương
ưng các biệt cảnh.
Thức này vì duy chỉ là tự thể
dị thục cho nên cũng không tương ưng với thiện hay nhiễm ô.
Bốn vô ký tính, ác tác, v.v.,
vì có tính gián đoạn, đương nhiên không phải là dị thục.
Có bốn loại pháp: Thiện, bất
thiện, vô ký hữu phú, vô ký vô phú. Thức a-lại-da thuộc về pháp gì?
Thức này chỉ có tính vô ký
hữu phú, vì tự tính là dị thuc.
Nếu dị thục mà thiện hay nhiễm ô thì không thể có sự lưu chuyển và
hoàn diệt.
Vả lại, thức này là sở y cho thiện và nhiễm ô. Nếu nó là thiện hay
nhiễm ô thì không thể là sở y cho cả hai, vì chúng trái nghịch nhau.
Mặt khác, thức này có tự tính là cái được huân tập; nếu nó thiện
hoặc nhiễm, như mùi cực thơm hay cực thối, không thể tiếp nhận sự
huân tập. Nếu không có sự huân tập,
không thể thành lập nhân quả nhiễm, tịnh.
Vậy, thức này duy chỉ là vô
ký vô phú.
Phú
chỉ cho pháp ô nhiễm, vì nó ngăn che Thánh đạo.
Lại nữa, nó che kín tâm khiến trở thành bất tịnh.
Thức này không mang tính ô
nhiễm nên là vô phú.
Ký
là tính có thể xác định rõ kết quả là khả ái hay không khả ái của
thiện và bất thiện, và tự thể đặc sắc của chúng. Thức này không mang
tính chất thiện hay ác nên nó là vô ký.
Tụng nói, “Xúc v.v., cũng
vậy”: cũng như thức a-lại-da chỉ mang tính chất vô phú vô ký; xúc,
tác ý, thọ, tưởng, tư, cũng vậy.
a. Vì các pháp tương ưng
đương nhiên là đồng tính chất với nó.
b. Năm tâm sở, xúc v.v., như
a-lại-da, (1) cũng đều là dị thục; (2) sở duyên và hành tướng cũng
đều không thể biết được; (3) cùng duyên đến ba loại cảnh, (4) cùng
tương ưng với năm pháp,
(5) cũng vô phú vô ký. Do đó nói, “Xúc v.v. cũng vậy.”
c. Hoặc giải thích,
xúc v.v., cũng như a-lại-da, cũng đều là dị thục và nhất thiết
chủng. Chi tiết cho đến vô phú vô ký
cũng được diễn dịch như vậy, vì không có sự tách biệt.
d. Giải thích đó phi lý.
Vì sao? (1) Xúc v.v., y chỉ thức nên không tự tại.
Như tham v.v., tín v.v., không thể tiếp nhận huân tập, làm sao đồng
với thức duy trì chủng tử? (2) Vả lại, nếu xúc v.v. mà cũng có thể
tiếp nhận huân tập, một hữu tình hẳn có đến sáu tự thể của chủng tử.
Thế thì, khi quả xuất hiện, nó được sản sinh từ chủng tử nào? Hợp lý
mà nói, không thể cho rằng nó xuất hiện (cùng lúc) từ sáu chủng tử.
Vì chưa hề thấy từ nhiều hạt giống mà nảy sinh một mầm.
Nếu nói, quả được sản sinh từ một hạt giống duy nhất, như vậy năm
hạt giống kia là vô dụng. Cũng không thể nói chúng lần lượt sản sinh
quả, vì sự huân tập của chúng đồng thời và thế lực của chúng bằng
nhau. Lại nữa, cũng không thể nói sáu quả đồng loạt được sản sinh.
Đâu có thể nói rằng nơi một hữu tình trong khoảng một sát na cả sáu
thức, mắt v.v., đồng thời sinh khởi.
Ai nói, xúc v.v. cũng có thể
tiếp nhận huân tập, duy trì các chủng tử?
Nếu không như thế, làm sao
xúc v.v., cũng như thức, là nhất thiết chủng?
Đáp:
Năm pháp, xúc v.v., có hình thái tương tợ chủng tử nên được gọi là
chủng tử.
Vì xúc v.v. tương đẳng với thức về sở duyên. Vì xúc vô sắc cũng có
sở duyên.
Vì nhất định phải có sở duyên trực tiếp.
Hình thái tương tợ chủng tử này không trở thành nhân
duyên để sản sinh các hiện thức. Cũng như trên xúc v.v., các tương
tợ căn như mắt v.v., không phải là sở y của thức. Cũng như cái tương
tợ lửa không có tác dụng đốt cháy.
Biện minh này phi lý.
Sở duyên của xúc v.v., có hình thái tương tợ chủng tử, tiếp theo sau
chấp thọ và xứ mới có thể được diễn dịch từ đó. Do đó, từ nhất thiết
chủng được đề cập trước đó nhất định phải chỉ cho ý nghĩa tiếp nhận
huân tập và duy trì chủng tử.
Nếu không vậy, bản tụng phạm lỗi trùng lặp.
Vả lại, tụng văn nói “cũng vậy” vì không có
sự giản biệt nên hàm ngụ sự diễn dịch; giải thích như vậy không
vững. Không thể nói xúc v.v., cũng là liễu
biệt (nhận thức). Cũng không thể nói xúc v.v.,
tương ưng với xúc v.v…
Do vậy, nên biết, từ “cũng
vậy”
có nghĩa là tùy theo chỗ thích hợp, chứ không có nghĩa là tất cả.
Thức a-lại-da đoạn diệt hay
thường tồn? Nó không phải đoạn diệt, cũng không phải thường tồn. Vì
nó hằng chuyển.
Hằng,
vì kể từ vô thủy nó thuần nhất
liên tục tiếp nối thường hằng không gián đoạn. Vì nó là căn bản để
thiết lập
(ba) giới hệ, (sáu) thú hướng, (bốn) sinh loại. Và vì tính chất của
nó bền vững,
duy trì chủng tử không để cho tiêu thất.
Chuyển,
thức này, kể từ vô thủy, sinh diệt trong từng sát na, liên tục biến
dị; vì nhân diệt thì quả sinh, nó không thường trực nhất tính; và vì
nó có thể được các chuyển thức huân tập thành chủng tử.
Hằng, loại bỏ tính gián đoạn.
Chuyển, biểu hiện tính không thường, giống như dòng lũ. Pháp nhĩ của
nhân quả là vậy. Như nước trong dòng thác lũ, không phải đoạn cũng
không phải thường, liên tục tiếp nối chìm nổi. Thức này cũng vậy, từ
vô thủy, sinh diệt tiếp nối nhau, không phải thường cũng không phải
đoạn; hữu tình chìm nổi trong đó không thể thoát ly.
Và cũng như dòng thác lũ tuy
bị gió kích động khiến nổi sóng nhưng vẫn trôi chảy không gián đoạn.
Thức này cũng vậy, mặc dù theo các duyên mà khởi lên các thức con
mắt v.v. nhưng vẫn hằng tiếp nối.
Cũng như dòng lũ, mà trong
con nước của nó bên dưới là cá, bên trên là cỏ các thứ, mọi vật tùy
theo dòng trôi chảy không dứt. Thức này cũng vậy, cùng với tập khí
nội tại và xúc các thứ ngoại tại hằng tiếp nối nhau vận chuyển.
Những thí dụ cụ thể này nêu
rõ ý nghĩa theo đó thức này do nhân quả vô thủy không phải đoạn cũng
không phải thường. Nghĩa là, tính thể của thức này là sự xuất sinh
của quả và sự tàn diệt của nhân trong từng sát na kể từ thời vô
thủy. Quả sinh, cho nên nó không phải đoạn; nhân diệt, cho nên nó
không phải thường. Phi đoạn phi thường là lý duyên khởi. Do đó, tụng
nói, thức này hằng chuyển như dòng chảy.
a. Hữu bộ và Chính lượng bộ
Hữu bộ:
Quá khứ, vị lai, vốn đã không phải thực hữu, do đó có thể cho là
không phải thường, chứ sao lại có thể không phải đoạn? Gián đoạn,
làm sao phù hợp với chính lý duyên khởi?
Duy thức:
Quá khứ, vị lai nếu là thực hữu, nên có thể nói là không phải đoạn;
nhưng làm sao nói là không phải thường? Thường cũng không phù hợp
với chính lý duyên khởi.
Hữu bộ:
Đâu phải chỉ trích sai lầm của người khác là chứng minh được quan
điểm của mình.
Duy thức:
Nếu không phá tà, khó có thể hiển chính. Trạng thái đi trước là nhân
vừa tàn diệt thì tiếp theo sau là quả tức thì sản sinh. Như hai đầu
của đòn cân; đầu lên và đầu xuống cùng thời. Sự tiếp nối liên tục
của nhân và quả cũng vậy, như dòng chảy. Sao lại phải giả thiết có
quá khứ, vị lai mới chứng minh được là không gián đoạn?
Hữu bộ:
Nhân trong trạng thái hiện đang tồn tại, quả theo sau thì chưa sinh,
vậy, nhân là nhân của cái gì? Khi quả hiện đang tồn tại thì nhân đi
trước đã diệt, vậy quả là quả của cái gì? Nhân quả đã không, cái gì
vượt ngoài đoạn thường?
Duy thức:
Nếu, khi nhân tồn tại (trong nó) đã tồn tại quả sẽ sinh; quả đã có
sẵn thì cần gì đến nhân đi trước? Ý nghĩa nhân đã không tồn tại, ý
nghĩa quả há lại có? Không nhân, không quả, há có chuyện vượt ngoài
đoạn, thường?
Hữu bộ:
Ý nghĩa nhân quả được thiết lập y trên tác dụng (chứ không y trên tự
thể) của pháp;
do đó, điều được chất vấn không quan hệ gì đến tông nghĩa của chúng
tôi.
Duy thức:
Thể vốn dĩ đã tồn tại, thì dụng cũng phải vậy.
Vì những gì là nhân duyên cần hội đủ
cũng vốn dĩ đã tồn tại. Do lẽ này mà nhân quả trong quan điểm của
ngài không xác định có ý nghĩa gì. Vậy, ngài nên tin nơi chính lý
duyên khởi của Đại thừa. Chính lý ấy sâu xa, vi diệu, vượt mgoài
ngôn ngữ. Những gì nói về nhân quả chỉ là giả thi thiết. Quan sát
thấy pháp hiện tại có khả năng dẫn sinh tác dụng về sau, theo đó giả
lập quả đương lai, đối chiếu với cái hiện tại được nói là nhân. Khi
quán sát thấy pháp hiện tại có sự đáp ứng với dấu hiệu đi trước,
theo đó giả lập cái đã từng hiện hữu là nhân, đối chiếu với cái được
nói là quả hiện tại. Giả, nghĩa là hiện thức xuất hiện tương tợ
tướng của cái ấy. Lý thú nhân quả như vậy rất hiển nhiên, vượt ngoài
hai cực đoan, khế hợp trung đạo. Những bậc có trí nên thuận theo đó
mà tu học.
b. Các bộ phái khác.
Các bộ phái khác
nói, mặc dù quá khứ và vị lai không tồn tại, nhưng vẫn có ý nghĩa
hằng tương tục của nhân quả.
Theo đó, pháp hiện tại tuy cực kỳ nhanh chóng, nhưng vẫn có hai thời
sinh và diệt trước và sau. Khi sinh, nó đáp ứng nhân. Khi diệt, nó
dẫn sinh quả. Thời tuy có hai, nhưng thể chỉ là một.
Ngay khi nhân đi trước vừa diệt, quả theo sau lập tức sinh. Thể và
tướng tuy sai khác nhưng thảy đều cùng tồn tại. Nhân quả như vậy
không phải là giả thi thiết, tuy vậy, vẫn vượt ngoài đoạn, thường. Ý
nghĩa này cũng không thể bị chất vấn như trên. Vậy, bậc có trí há bỏ
đây mà tin theo chỗ khác?
Duy thức:
Giải thích ấy chỉ là hư ngôn, hoàn toàn không có ý nghĩa chân thật.
Làm sao có thể thừa nhận trong một niệm tồn tại cả hai thời?
Sinh và diệt mâu thuẫn nhau, há cũng đồng hiện tại? Diệt nếu ở hiện
tại, sinh tất thuộc vị lai. Cái hữu được nói là sinh; cái đó tất
thuộc hiện tại. Cái vô được nói là diệt; nó há không phải là quá
khứ? Nếu diệt không phải là vô, thì sinh cũng không phải là hữu.
Sinh là cái hiện tại đang tồn tại. Diệt tất phải là cái hiện tại
không tồn tại. Vả lại, cả hai mâu thuẫn nhau, làm sao thể của chúng
đồng nhất? Như khổ và lạc, không thể tìm thấy có sự kiện (đồng nhất)
như vậy. Nếu sinh diệt là một, thời tất không có hai. Nếu sinh diệt
dị biệt, làm sao nói thể của chúng đồng? Do đó, nói rằng sinh và
diệt cùng tồn tại đồng thời trong hiện tại, đồng y một thể tính;
điều ấy không được chứng minh hợp lý.
c. Kinh bộ
Sự tương tục của nhân quả
theo các nhà Kinh bộ cũng không được chứng minh hợp lý. Vì bộ phái
này không thừa nhận có thức A-lại-da vốn là cái duy trì các chủng
tử. Do vậy, nên tin tưởng những điều mà Đại thừa nói về sự tương tục
của nhân quả là chính lý duyên khởi.
Thức này, từ vô thủy, hằng
chuyển như dòng thác, cho đến giai vị nào thì hoàn toàn được xả? Cho
đến địa vị A-la-hán nó mới hoàn toàn bị xả. A-la-hán là các Thánh
giả khi đã đoạn tận một cách rốt ráo các phiền não chướng.
Lúc bấy giờ các phiền não thô trọng của thức này vĩnh viễn bị diệt
trừ, đó gọi là xả.
1. Trong đây,
nói là A-la-hán, là chỉ chung cho quả vị vô học của cả ba Thừa. Vì
giặc phiền não đã vĩnh viễn bị sát hại.
Vì xứng đáng nhận sự cúng dường tuyệt diệu của thế gian.
Vì vĩnh viễn không còn thọ nhận sự sinh phần đoạn nữa.
Làm sao biết được như vậy?
Vì “Quyết trạch phần”
nói, các A-la-hán, Độc giác, Như lai, thảy đều không thành tựu
A-lại-da. Tập luận
cũng nói, các Bồ-tát khi chứng đắc bồ-đề, đồng loạt các phiền não và
sở tri chướng đều bị đoạn trừ, thành A-la-hán và Như lai.
Nạn vấn:
Nếu vậy, Bồ-tát mà chưa vĩnh viễn đoạn tận các chủng tử phiền não,
không phải là A-la-hán; Bồ-tát ấy hẳn đều thành tựu thức A-lại-da;
vì sao chính trong Quyết trạch phần đó nói Bồ-tát bất thối
cũng không thành tựu thức A-lại-da?
Đáp:
Theo “Quyết trạch phần”, ở quả vị vô học của Nhị thừa mà xoay chuyển
hướng đến đại bồ-đề, lẽ tất nhiên không thối lui để khởi phiền não,
và vì thú hướng bồ-đề, do đó tức thì chuyển đổi tên được gọi là
Bồ-tát bất thối.
Vị ấy không thành tựu thức A-lại-da, tức được kể trong hàng
A-la-hán. Như vậy, văn của Luận không mâu thuẫn với ý nghĩa này.
2. Lại nữa,
Bồ-tát từ Bất động địa trở lên mới được gọi là Bồ-tát bất thối, vì ở
đó hết thảy phiền não vĩnh viễn không còn hiện hành; vì vận chuyển
một cách tự nhiên trong dòng chảy của pháp; vì có thể khởi lên các
hành trong các hành;
và vì càng lúc càng tăng tiến trong từng sát na sát na.
Bồ-tát này tuy chưa đoạn tận
các chủng tử của phiền não trong thức dị thục, nhưng khi duyên đến
thức này, các thứ ngã ái v.v., không còn chấp tàng nó như là tự ngã
nội tại; do đó tên gọi a-lại-da vĩnh viễn được loại bỏ. Theo đó mà
nói là không thành tựu thức a-lại-da. Bồ-tát ấy vì vậy cũng được gọi
là A-la-hán.
3. Giải thích khác
nói, vì rằng Bồ-tát từ Sơ địa trở lên đã chứng chân lý hiển hiện bởi
hai Không; và vì đã đạt được hai loại trí thù thắng;
và vì đã đoạn hai trọng chướng của phân biệt; và vì có thể phát khởi
các hành trong hết thảy hành; Bồ-tát ấy, tuy vì lợi ích mà hiện khởi
các phiền não, nhưng không gây những tai hại do bởi phiền não,
do đó cũng được gọi là Bồ-tát bất thối.
Hạng Bồ-tát bày tuy chưa đoạn
tận loại phiền não câu sinh, nhưng duyên đến thức này mà các thứ ngã
kiến, ngã ái v.v. của phân biệt không chấp tàng nó như là tự ngã nội
tại; do bởi đó tên gọi A-lại-da vĩnh viễn bị loại bỏ, nên nói là
không thành tựu thức A-lại-da. Ở đây Bồ-tát này cũng được gọi là
A-la-hán. Đó cũng là điều được nói trong Tập luận,
theo đó, Bồ-tát thập địa tuy chưa đoạn tận hết thảy phiền não, nhưng
phiền não này, cũng như độc tố bị áp chế bởi thuốc, chú thuật, không
gây ra những tác hại của phiền não. Vì vậy, Bồ-tát trong tất cả các
địa, như A-la-hán đã đoạn tận phiền não, cũng được gọi là A-la-hán.
4. Nạn vấn:
Giải thích này phi lý. Bồ-tát thất địa về trước vẫn còn ngã kiến,
ngã ái các thứ thuộc loại câu sinh chấp tàng thức này làm tự ngã nội
tại, làm sao có thể nói là xả tên gọi A-lại-da?
Đáp:
Nếu do bởi ngã kiến, ngã ái các thứ thuộc loại phân biệt không còn
chấp tàng nữa mà gọi là xả, thì các hàng hữu học như Dự lưu lẽ ra
cũng xả tên gọi A-lại-da. Như vậy là trái nghịch với những điều được
nói bởi các Luận. Phiền não được dấy khởi nơi Bồ-tát trên các địa là
do bởi chính tri nên không gay tác hại. Hàng Dự lưu v.v. không thể
có được trường hợp như vậy, đâu có thể lấy đó mà điển hình cho
Bồ-tát.
Phiền não khởi lên trong thức
thứ sáu của Bồ-tát ấy do bởi chính tri nên không gây tác hại, nhưng
thức thứ bảy trong trạng thái của tâm hữu lậu hiện hành một cách tự
nhiên chấp tàng thức này, há không thể điển hình với hàng Dự lưu?
Do vậy, nên biết, nạn vấn ấy không hợp lý.
Song,
A-la-hán đoạn trừ các phiền não thuộc loại thô trọng trong thức này
dứt sạch một cách rốt ráo, không còn chấp tàng thức A-lại-da như là
tự ngã nội tại nữa; do A-lại-da vĩnh viễn tiêu thất như vậy nên gọi
là xả, chứ không phải xả toàn bộ thể của thức thứ tám. Không nên nói
rằng A-la-hán không có thức duy trì chủng tử,
lúc bấy giờ liền nhập Niết-bàn vô dư.
Tuy các hữu tình thảy đều
thành tựu thức thứ tám, nhưng tùy theo ý nghĩa mà lập nhiều tên gọi
khác nhau.
Hoặc gọi là tâm, vì nó là nơi
tích lũy chủng tử được huân tập của các pháp vạn thù sai biệt.
Hoặc gọi là a-đà-na,
vì nó nắm giữ chủng tử và các sắc căn không để hủy hoại.
Hoặc gọi là sở tri y,
vì nó làm nơi y chỉ cho các pháp sở tri hoặc nhiễm hoặc tịnh.
Hoặc gọi là chủng tử thức, vì
nó nhiệm trì toàn bộ các chủng tử của thế gian và xuất thế gian.
Các tên gọi như vậy thông cho
tất cả các trình độ.
Hoặc gọi là a-lại-da, vì nó
nhiếp tàng tất cả pháp thuộc phẩm loại tạp nhiễm không để thất tán,
và vì bị ngã kiến, ngã ái các thứ chấp tàng như là tự ngã nội tại.
Tên gọi này chỉ áp dụng cho hàng dị sinh và hữu học, vì hàng vô học
và Bồ-tát bất thối
không có pháp tạp nhiễm để chấp tàng.
Hoặc gọi là dị thục thức, vì
nó là quả dị thục của nghiệp thiện và bất thiện dẫn đến sinh tử. Tên
gọi này chỉ áp dụng cho hàng dị sinh, Nhị thừa, các Bồ-tát;
vì ở Như lai địa không tồn tại pháp vô ký thuộc loại dị thục.
Hoặc gọi là vô cấu thức,
vì là nơi sở y của các pháp vô lậu cực kỳ thanh tịnh. Tên gọi này
chỉ áp dụng cho Như lai địa, vì Bồ-tát, Nhị thừa và dị sinh vị có sự
huân tập khả ái của chủng tử hữu lậu, chưa đạt được thức thứ tám
thiện tịnh. Như Khế kinh nói, “Thức vô cấu của Như lai, là giới tịnh
vô lậu, giải thoát hết mọi chướng, tương ưng trí viên kính.”
Tên gọi A-lại-da nặng phần
tác hại, và vì được xả trước hết, cho nên đặc biệt được nói riêng
trong đây.
Thể của thức dị thục được xả
khi Bồ-tát sắp chứng đắc bồ-đề. Thanh văn, Độc giác khi nhập
Niết-bàn vô dư y cũng xả.
Thể của thức vô cấu không khi
nào bị xả, vì sự lợi lạc cho hữu tình không bao giờ cùng tận.
Các tên khác như tâm v.v., vì
cộng thông, cho nên tùy theo nghĩa mà nói.
Thức thứ tám có hai trạng
thái. Một, trạng thái hữu lậu, thuộc bản tính vô ký, duy chỉ tương
ưng với năm pháp như xúc v.v., và chỉ duyên đến đối tượng như chấp
thọ và xứ cảnh như đã nói trên. Hai, trạng thái vô lậu,
duy chỉ thuộc bản tính thiện; nó tương ưng với 21 tâm sở, tức 5 biến
hành, 5 biệt cảnh và 11 thiện. Vì nó hằng tương ưng với tất cả tâm;
vì thường ưa thích
chứng tri đối tượng quán chiếu; vì hằng in dấu quyết định
trên đối tượng quán chiếu; vì ghi nhớ rõ ràng
cảnh đã từng trải nghiệm; vì
không hề có trường hợp Thế Tôn không có định tâm;
vì thường quyết trạch đối với hết thảy pháp;
Và vì thường tương ưng với tịnh tín v.v.;
vì không nhiễm ô;
vì không tán động;
Nó cũng duy chỉ tương ưng với xả thọ, vì hằng thời vận chuyển một
cách tự nhiên và bình đẳng. Nó lấy hết thảy pháp
làm cảnh sở duyên, vì trí như gương soi
duyên khắp đến hết thảy pháp.
Làm thế nào để có thể biết tồn
tại thức thứ tám này với tự thể riêng biệt ngoài sáu thức như thức con
mắt v.v...?
Do y nơi chính lý của Thánh giáo
như là nguồn nhận thức có thẩm quyền.
Dẫn chứng 1
Nó được nói đến trong kinh Đại
thừa A-tì-đạt-ma như sau: “Giới, từ vô thủy đến nay, là sở y của hết
thảy pháp; do tồn tại cái này mà có các cõi thú hướng và có sự chứng đắc
Niết-bàn.”
Giải thích 1
Tự tính
của thức thứ tám cực kỳ vi tế, do đó phải được hiển thị bằng tác dụng
của nó. Nửa trên bài tụng nêu rõ tác dụng của thức thứ tám như là nhân
và duyên. Nửa bài tụng sau nêu rõ tác dụng của nó như là sở y và duy trì
cho dòng lưu chuyển và hoàn diệt.
Trong đó, giới có nghĩa là
nguyên nhân.
Thức chủng tử
kể từ vô thủy diễn tiến tiếp nối liên tục trực tiếp làm xuất sinh các
pháp; do đó nó được nói là nhân.
Y,
có nghĩa là duyên. Kể từ vô thủy, thức chấp trì
là y chỉ của hết thảy các pháp, nên nó được nói là duyên. Vì nó nắm gữ,
duy trì các chủng tử; vì nó là sở y cho cho hết thảy pháp hiện hành; nó
biến thái thành chúng và làm sở y cho chúng. Biến thái thành chúng
tức biến thành thế giới khí cụ và thân hữu căn. Làm sở y cho chúng,
là làm sở y cho các chuyển thức. Vì nó chấp thọ năm sắc căn; thức con
mắt v.v. y trên đó mà hoạt động. Vả nó cũng là chỗ y chỉ cho mạt-na;
thức thứ sáu y trên đó mà hoạt động. Vì mạt-na và ý thức đều là các
chuyển thức nên đều y chỉ trên căn câu hữu,
như thức con mắt các thứ.
Thức thứ tám, về lý tính, mà tự tính là thức, cũng phải lấy thức thứ bảy
làm sở y câu hữu.
Điều đó nói rằng thức này có tác
dụng như là nhân duyên.
“Do tồn tại cái này”,
tức do tồn tại thức này.
“Có các cõi thu hướng”: có
các định hướng thiện hay ác. Nghĩa là, do tồn tại thức thứ tám này để
nắm giữ, duy trì, hết thảy pháp thuận dòng lưu chuyển,
khiến cho các hữu tình lưu chuyển sinh tử.
Tuy hoặc, nghiệp, sinh thảy đều
là lưu chuyển, nhưng thú (hướng) nổi bật về phương diện quả nên đặc biệt
được nói đến.
Hoặc từ “thú” chỉ chung cả năng thú và sở thú.
Tư cụ cho sự thú hướng cũng được gọi là “thú.”
Các hoặc, nghiệp, sinh đều y chỉ
nơi thưc này; đó là tác dụng sở y và duy trì cho dòng lưu chuyển.
“Và sự chứng đắc Niết-bàn”:
do có thức này nên có sự chứng đắc Niết-bàn. Nghĩa là, do do có thức thứ
tám để duy trì các pháp thuận chiều hoàn diệt khiến cho người tu hành
chứng đắc niết-bàn.
(a) Trong đó chỉ đề cập con đường (đạo) dẫn đến chứng đắc. Vì niết-bàn
không y trên thức này mà tồn tại. (b) Hoặc đây chỉ nói đến niết-bàn như
là đối tượng chứng đắc; vì đó là mục đích nhắm đến của người tu hành.
(c) Hoặc đây đề cập cả hai, niết-bàn và đạo; vì cả hai đều thuộc phẩm
loại hoàn diệt. Theo đó, từ “niết-bàn” chỉ cho diệt được chứng; và từ
“chứng đắc” sau đó chỉ rõ con đường (đạo) dẫn đến chứng đắc. Do con
đường dẫn đến đoạn trừ mà đoạn trừ các hoặc (phiền não) cần được đoạn
trừ; cho đến giai đoạn rốt ráo tận trừ, tổng hợp lại là đắc Niết-bàn.
Cái đoạn trừ và cái bị đoạn trừ, cái chứng đắc và cái được chứng đắc,
thảy đềy y trên thức này; đó chính là tác dụng y chỉ và duy trì cho hoàn
diệt.
Giải thích 2
Mặt khác, câu đầu của bài tụng
nêu rõ tự tính của thức này vốn hằng hữu từ vô thủy. Ba câu sau nêu rõ
nó làm chỗ y chỉ cho tổng thể hay cá biệt
của hai loại pháp tạp nhiễm và thanh tịnh.
Pháp tạp nhiễm, đó là khổ và tập
đế, tức đích thú hướng là sinh, cái dẫn đến các cõi thú là hoặc và
nghiệp.
Pháp thanh tịnh, đó là diệt và
đạo đế; tức Niết-bàn được chứng và Đạo là con đường dẫn đến chứng đắc.
Cả hai loại pháp đều y thức này
mà tồn tại, vì theo lý mà nói thì không thể y các chuyển thức.
Giải thích 3
Hoặc, câu đầu nêu rõ tự thể của
thức này tiếp nối liên tục từ vô thủy. Ba câu sau, nêu rõ nó làm sở y
chỉ cho ba loại tự tính, theo thứ tự, là y tha khởi, biến kế sở chấp và
viên thành thật tính.
Ở đây, các ý nghĩa được nói trong
bài tụng này đều nói là tách rời thức thứ tám, thảy đều không tồn tại.
Dẫn chứng 2
Cũng trong kinh đó, được nói như
vầy: “Thức này là hạt giống của hết thảy; nó tàng trữ các pháp; do đó
được gọi là A-lại-da. Ta chỉ nói cho bậc Thắng giả.”
Do bản thức này có đầy các chủng
tử nên nó là cái tàng trữ
các pháp tạp nhiễm. Căn cứ theo đó mà thiết lập tên gọi A-lại-da. Nó
không phải như thắng tính chuyển thành đại các thứ.
Vì tự thể của chủng tử và quả của nó không phải đồng nhất; vì năng y và
sở cùng sinh cùng diệt.
Nó cùng với các pháp tạp nhiễm
tàng trữ lẫn nhau, và nó cũng bị hữu tình chấp làm tự ngã; do đó thức
này được gọi là A-lại-da.
Các chúng Bồ-tát sau khi chứng
đắc chân kiến đạo,
bấy giờ được gọi là bậc Thắng giả. Vì các vị ấy có thể chứng và hiểu rõ
A-lại-da thức nên được đức Thế Tôn của chúng ta trực tiếp khai thị cho.
Hoặc các Bồ-tát đều được gọi là Thắng giả. Tuy trước khi vào kiến đạo
các ngài chưa thể chứng và hiểu thức A-lại-da nhưng có thể tín giải để
hướng đến sự chuyển y của thức này; do đó cũng được Phật dạy cho.
Các chuyển thức không có được ý
nghĩa này.
Dẫn chứng 3
Kinh Giải thâm mật
cũng nói như vầy: “Thức A-đà-na cực kỳ sâu thẳm, vi tế; tất cả chủng tử
như dòng thác lũ. Ta không vén mở cho phàm ngu, vì chúng sẽ chấp nó là
tự ngã.”
Nó là cái nắm giữ
các chủng tử, và chấp thọ
y xứ của sắc căn, và cũng là cái chấp thủ
chuỗi tương tục của kết sinh;
do đó, thức này được gọi là A-đà-na.
Hữu tình thuộc hạng vô tính
không thể tận cùng đáy sâu của nó nên nói là “cực kỳ sâu thẳm.”
Hạng chủng tính xu hướng tịch diệt không thể thông suốt được nó, nên nói
là “cực kỳ vi tế.”
Nó là chủng tử chân thật của hết
thảy pháp. Khi bị kích động bởi duyên, nó dấy lên sóng chuyển thức, hằng
chảy xiết không gián đoạn nên nói là “dòng thác lũ”.
“Phàm (phu)” chỉ hạng vô
tính. “Ngu” chỉ hạng xu hướng tịch diệt.
Vì ngại rằng các hạng ấy sẽ y
trên thức này mà khởi phân biệt chấp, rơi xuống các cõi xấu, chướng
không cho Thánh đạo sinh khởi; vì vậy, đức Thế Tôn của chúng ta không
vén mở cho thấy.
Duy chỉ thức thứ tám mới có những
đặc tính này.
Dẫn chứng 4
Kinh Nhập Lăng-già cũng nói như
vầy: “Như biển gặp điều kiện gió dấy lên vô vàn sóng, hiện tiền tác dụng
chuyển, không bao giờ gián đoạn. Tàng thức cũng như vậy, bị kích bởi gió
cảnh, hằng dấy các sóng thức, hiện tiền tác dụng chuyển.”
Các thức như con mắt v.v., không
thường xuyên liên tục chuyển khởi các thức như sóng trên biển cả, do đó
biệt chỉ riêng biệt có thức thứ tám tồn tại.
Trong vô số kinh điển Đại thừa
như thế, sự tồn tại của thức thứ tám được đặc biệt nói đến. Các kinh Đại
thừa đều dẫn đến vô ngã, đối nghịch số thủ thú,
quay lưng lại với dòng lưu chuyển mà xu hướng đến hoàn diệt, tán thán
Phật, Pháp, Tăng, chỉ trích các Ngoại đạo, biểu dương các pháp như uẩn
v.v., bác bỏ thắng tính các thứ. Những ai hâm mộ Đại thừa đều thừa nhận
các kinh đó được liệt vào các Khế kinh hiển thị chân lý không điên đảo,
vì chúng được bao hàm Chí giáo lượng,
như kinh Tăng nhất, v.v…
Lại nữa, Thánh Từ Thị bằng bảy
nguyên nhân chứng minh Đại thừa chân chính do Phật thuyết.
1. Không được dự báo.
Nếu kinh điển Đại thừa do một số người nói ra sau khi Phật diệt độ với
mục đích phá hoại Chính pháp, tại sao trước đó Thế Tôn đã không dự báo
xem đây như là sự kiện đáng kinh sợ sẽ xảy ra?
2. Song hành với căn bản giáo.
Đại và Tiểu thừa từ trước vốn song hành,
sao lại nhận độc nhất Đại thừa là không phải Phật thuyết?
3. Không phải là cảnh giới của
các hạng khác.
Những điều được thuyết bởi Đại thừa vốn cực kỳ sâu thẳm, rộng lớn, không
phải là cảnh giới mà Ngoại đạo
có rthể tư duy đến. Trong các kinh luận của họ cũng chưa từng đề cập.
Giả sử chúng có đề cập cũng không được tin tưởng. Do đó, kinh điển Đại
thừa không phải phi Phật thuyết.
4. Cần được thừa nhận phổ quát.
Nếu nói Đại thừa do các Phật khác thuyết chứ không phải lời của đức Phật
hiện tại, vậy Đại thừa giáo vẫn là những điều được Phật thuyết. Chân lý
này như vậy được thừa nhận phổ quát.
5. Tồn tại và không tồn tại.
Nếu có Đại thừa,
cần phải tin rằng Đại thừa giáo chính là những điều được Phật thuyết. Vì
không thể biết được gì ngoài Đại thừa giáo này.
Nếu không có Đại thừa, giáo nghĩa
của Thanh văn thừa hẳn cũng không tồn tại. Bởi vì, nhất định không thể
có ý nghĩa thành Phật nếu không có Đại thừa. Ai xuất hiện thế gian để
thuyết giảng Thanh văn thừa? Cho nên, không thể hợp lý để nói rằng Thanh
văn thừa là những điều được Phật thuyết, còn Đại thừa thì không phải.
6. Đối trị. Những ai y theo kinh
điển Đại thừa, siêng năng tu hành, thảy đều có thể dẫn đến chứng đắc trí
vô phân biệt, chân chính đối trị hết thay các phiền não. Cho nên, cần
phải tin rằng Đại thừa do chính Phật thuyết.
7. Nghĩa khác văn. Những điều
được thuyết trong Đại thừa có ý thú sâu thẳm, không thể dựa theo văn để
nắm bắt ý nghĩa, rồi sinh phỉ báng cho rằng đó không phải là lời Phật.
Như vậy, Đại thừa chân chính do
Phật thuyết. Như bài tụng trong luận Trang nghiêm tóm tắt ý nghĩa
này: Không dự báo trước, song hành; phi cảnh giới Ngoại đạo; cực thánh,
có, không có; đối trị, văn dị biệt.
Kinh điển của các bộ phái khác cũng
mật ý nói đến A-lại-da, tồn tại với tự tính riêng biệt.
1. Trong A-cấp-ma của Đại chúng bộ
mật ý nói đến thức này với tên gọi là căn bản thức.
Vì chính nó là sở y chỉ của thức con mắt v.v... Như rễ cây là căn bản
của thân cây. Các thức như con mắt v.v., không có được ý nghĩa này.
2. Kinh điển của Thượng bộ, các nhà
Phân biệt luận,
cũng đều mật ý nói đến thức này như là hữu phần thức. Hữu chỉ tam hữu.
Phần có nghĩa là nhân. Chỉ có thức này mới phổ biến làm nhân cho ba cõi
hữu.
3. Hóa địa bộ nói đến thức này
với tên gọi cùng sinh tử uẩn.
Ngoài thức thứ tám, không có pháp nào khác như là uẩn đặc biệt để tận
cùng biên tế của sinh tử, không bao giờ gián đoạn. Tức là, trong vô sắc
giới các sắc gián đoạn; trong vô tưởng thiên, v.v., các tâm khác diệt;
vì lìa sắc tâm các thứ thì không có tự thể riêng biệt nào của bất tương
ưng hành; điều này được thừa nhận phổ quát. Duy chỉ thức này mới được
gọi là cùng sinh tử uẩn.
Trong kinh Tăng nhất của
Thuyết nhất hữu bộ cũng mật ý nói đến thức này với tên gọi là a-lại-da.
Kinh nói: “yêu a-lại-da, vui a-lại-da, mừng a-lại-da, thích
a-lại-da.”
Vì a-lại-da là cảnh trong ba đời cho tổng tham và biệt tham nên đặt ra
bốn tên gọi này.
Hữu tình chấp nó như là tự ngã nội tại chân thật, cho đến trước khi nó
bị đoạn trừ thì sự ái trước thường xuyên phát sinh. Cho nên, a-lại-da
thực sự là môi trường cho tham ái dính mắc. Chứ không thể chấp vào các
đối tượng khác, như năm thủ uẩn. v.v…
Bởi vì:
(1) Sinh vào những nơi chỉ một mực cảm thọ khổ
tất không sinh khởi ái trước nơi năm thủ uẩn, mà trái lại hằng khởi tâm
chán ghét năm thủ uẩn, suy nghĩ rằng “Bao giờ ta xả bỏ được mạng này,
chúng đồng phần này, thân tâm khổ này, để ta được tự tại cảm thọ khoái
lạc?”
(2) Ngũ dục cũng không phải thật sự là chỗ đáng
ái trước. Bậc ly dục
tuy không còn tham đắm ngũ dục nhưng vẫn còn ái trước ngã.
(3) Cảm thọ lạc cũng không phải là chỗ thật sự
đáng ái trước. Vị đã vượt qua tĩnh lự thứ ba
tuy đã nhàm tởm cảm thọ lạc những vẫn còn ái trước ngã.
(4) Thân kiến cũng không phải thật sự là chỗ ái
trước.
Bậc chưa phải là vô học, tin vô ngã, tuy không sinh tham trước nơi thân
kiến, nhưng vẫn còn ái trước nơi tự ngã nội tại.
(5) Các chuyển thức cũng không phải thật sự là
chỗ ái trước. Hạng chưa phải là vô học, với tâm cầu tịch diệt,
tuy đã nhàm tởm các chuyển thức nhưng vẫn còn ái trước ngã.
(6) Sắc thân cũng không phải thực sự là chỗ để ái
trước. Bậc đã ly nhiễm đối với sắc
tuy đã nhàm tởm sắc thân nhưng vẫn còn ái trước ngã.
(7) Các hành bất tương ưng lìa sắc tâm các thứ
không có tự thể riêng biêt do đó cũng không phải là chỗ thật sự ái
trước.
Hạng dị sinh hữu học khi khởi ngã ái tuy có ái
hay phi ái đối với các uẩn khác nhưng đối với thức này thì ngã ái nhất
định sinh. Do đó, duy chỉ đây là nơi ái trước thật sự.
Vì những lẽ đó, kinh ấy nói đến từ a-lại-da nhất
nhất định chỉ nêu rõ thức a-lại-da này mà thôi.
B. Lý chứng
1. Trì chủng
Đã dẫn chứng Thánh giáo, nay sẽ trình bày chính
lý. Kinh nói, “Nơi tích tập và sinh khởi chủng tử của các pháp tạp nhiễm
và thanh tịnh được gọi là tâm.”
Nếu không tồn tại thức này, không thể có tâm duy trì chủng tử kia.
Bởi vì:
(1) Năm uẩn thọ huân, trì chủng
a. Các chuyển thức đều bị gián đoạn
trong các định như diệt thọ tưởng, v.v.
Căn, cảnh, tác ý,
thiện các thứ, nhóm loại khác nhau;
chúng dễ biến mất, dễ xuất hiện. Như ánh chớp không bền lâu. Vì vậy,
chúng không thể bị huân tập, không thể duy trì chủng tử, không phải là
tâm tập khởi của chủng tử nhiễm và tịnh.
Nhưng, thức (a-lại-da) này đồng nhất loại, hằng
không gián đoạn, như vừng mè vốn có tính bền lâu nên có thể được xông
ướp, phù hợp với ý nghĩa về tâm như được nói trong Kinh đó.
Nếu không thừa nhận có tâm duy trì chủng tử,
không những trái với Kinh mà còn mâu thuẫn với chính lý. Vì các pháp có
tính chất nhiễm, tịnh được sinh khởi mà không được huân tập thì không
thành chủng tử; thế thì cái được sinh khởi chỉ là vô ích, không có công
dụng gì. Vả lại, khi nhiễm hay tịnh sinh khởi mà không chủng tử làm
nhân, thì cũng đồng với ngoại đạo chủ trương tự nhiên sinh.
b. Sắc, bất tương ưng, mà tự tính không phải là
tâm, như âm thanh, như ánh sáng, theo lý không phải là cái được huân tập
bởi pháp nội tại nhiễm hay tịnh, làm sao có thể duy trì chủng tử?
Lại nữa, những pháp này không thực sự có tự tính
tồn tại ngoài thức, đâu có thể được xem như là y chỉ của chủng tử nội
tại.
c. Các tâm sở pháp tương ưng với các chuyển thức,
chúng gián đoạn như thức, dễ dàng biến mất và xuất hiện, không được tự
tại, không có tự tính như là tâm, không thể duy trì chủng tử; chúng
không tiếp nhận sự huân tập.
Do vậy, cần có pháp riêng biệt để duy trì chủng
tử.
(2) Thức loại thọ huân
Quan điểm khác nói, kể từ vô thỉ tuy bản thân
của sáu thức y trên căn, cảnh mà chuyển biến theo các phần vị trước sau
nhưng loại của chúng không thay đổi khác; chúng có thể được huân tập, có
thể duy trì chủng tử. Do điều này, nhân quả của nhiễm tịnh đều được
chứng minh, cần gì phải chủ trương tồn tại thức thứ tám?
Quan điểm ấy vô nghĩa. Vì sao?
a. Nếu cho rằng loại là thật, tất đồng với ngoại
đạo.
Cho rằng loại là giả, vậy nó không có tác dụng gì đặc biệt nên không thể
duy trì chủng tử chân thật của pháp nội tại.
b. Vả lại, thức loại được quan niệm đó thuộc tính
chất gì? Nếu là thiện hay ác, nó không thể tiếp nhận huân tập, vì cho
rằng nó thuộc loại hữu ký; như trạch diệt. Nếu là vô ký, khi tâm là
thiện hay ác bấy giờ không có tâm vô ký; thức loại ấy như vậy phải bị
gián đoạn. Không thể rằng sự là thiện hay ác mà loại có thể là vô ký;
bởi vì biệt loại tất phải đồng tính chất với biệt sự.
c. Lại nữa, thức loại này được xác định là không
tồn tại trong trạng thái vô tâm; nó đã bị gián đoạn, tính chất lại không
bền vững, làm sao có thể nắm giữ chủng tử, tiếp nhận huân tập?
d. Lại nữa, tâm của A-la-hán hay của dị sinh, vì
là đồng loại thức, hẳn cũng được huân tập bởi các pháp tạp nhiễm, hay vô
lậu. Thừa nhận điều này là sai lầm.
e. Lại nữa, căn con mắt các thứ, hoặc các pháp
khác, mà loại đồng nhất với căn pháp như thức con mắt v.v.,
hẳn có thể huân tập lẫn nhau. Nhưng điều đó Ngài không thừa nhận.
Vậy, không nên cho rằng loại của thức tiếp nhận
huân tập.
(3) Sự loại song huân
Lại nữa, sáu thức thân, mà sự (tự thể) hay loại
của chúng không cùng tồn tại trong hai sát-na tiếp nối, như hai sát-na
cách xa nhau, không hỗ tương huân tập. Vì cái huân tập và cái được huân
tập phải đồng thời tồn tại.
(4) Sáu thức đồng chuyển
Cho rằng duy chỉ sáu thức đồng thời hoạt động; mà
ý nghĩa như đã nói trên, vốn cũng không phải là cái được huân tập; vậy,
chúng cũng không có nghĩa là cái duy trì chủng tử.
(5) Sắc tâm tự loại
Quan điểm khác cho rằng tự loại của sắc tâm tiếp
nối không gián đoạn, cái trước là chủng tử cho cái sau; ý nghĩa nhân quả
được thiết lập.
Do đó, những điều được nói trên không đủ để chứng minh.
Quan điểm này phi lý. Vì không có sự huân tập.
Bởi vì, tự loại của chúng đã không có huân tập, là sao có thể quan niệm
cái trước là chủng tử của cái sau? Vả lại, cái gián đoạn hẳn không thể
sinh trở lại.
Bậc vô học của Nhị thừa hẳn cũng không có uẩn tối hậu; vì sắc tâm trong
trạng thái cận tử trở thành chủng tử của sắc tâm sau.
Cũng không thể cho rằng sắc tâm lần lượt làm
chủng tử cho nhau mà sinh khởi;
vì chuyển thức, sắc, không phải là những cái chịu huân tập, như đã nói
trên.
(6) Tam thế thực hữu
Có thuyết
nói rằng, các pháp đều tồn tại trong cả ba thời, sự chiêu cảm của nhân
quả không có gì là không thành, cần gì nhọc công quan niệm có thức duy
trì chủng tử? Tuy nhiên, Kinh nói tâm là chủng tử,
đó là vì tác dụng của thế lực sinh khởi các pháp nhiễm tịnh của nó rất
mạnh.
Thuyết này phi lý. Quá khứ và vị lai không phải
thường hằng, không phải hiện hữu, như hoa giữa trời các thứ, không phải
là thật hữu.
Lại nữa, cái không có tác dụng không thể cho rằng
nó là uyên tính của nhân. Cho nên, nếu không tồn tại thức như là cái duy
trì chủng tử nhiễm tịnh, hết thảy nhân quả đều bất thành.
(7) Nhất thiết giai không
Một số nhà Đại thừa quan niệm lý Không loại trừ
các tướng là cứu cánh, căn cứ tỷ lượng sai lầm, bác bỏ sự tồn tại của
thức này và hết thảy pháp.
Các vị này đặc biệt hiểu sai Kinh đã dẫn trên một
cách tai hại. Chủ trương tri khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo, nhân quả
của nhiễm tịnh, tất cả đều không thật hữu, như vậy thành đại tà kiến.
Nói rằng, đây không hoàn toàn huỷ báng nhân quả
của nhiễm tịnh như Ngoại đạo, mà chỉ cho rằng chúng không thật.
Nếu tất cả đều không phải thật hữu, Bồ-tát hẳn
không thể vì mục đích xả sinh tử mà tinh cần tu tập các tư lương của
Bồ-đề. Ai là bậc có trí lại đi tìm những con trai của thạch nữ lập thành
đạo quân để diệt trừ kể địch là huyễn?
Vì vậy, hãy tin có tâm là cái duy trì chủng tử, y
trên đó mà thiết lập nhân quả của nhiễm tịnh. Tâm ấy chính là thức thứ
tám này.
2. Tâm dị thục
Lại nữa, Khế kinh nói có tâm dị thục là cảm ứng
của nghiệp thiện ác. Nếu không có thức này, tâm dị thục kia hẳn không
tồn tại.
a. Bởi vì, thức con mắt các thứ có gián đoạn, và
không phải trong tất cả mọi thời đều là quả của nghiệp;
như ánh chớp, v.v., nên chúng không phải là tâm
dị thục.
Dị thục,
khi đã bị cắt đứt, không thể được nối lại. Như mạng căn của bộ phái ấy
chẳng hạn,
không có sự kiện được nối lại.
Sáu thức, con mắt v.v., những cái được chiêu cảm
bởi nghiệp, như thanh các thứ,
vì không thường xuyên liên tục, vốn là dị thục sinh
chứ không phải là chân dị thục.
b. Một cách xác định, nên thừa nhận có tâm vốn là
chân dị thục; nó đáp ứng và dẫn dắt nghiệp đi khắp
không hề gián đoạn, biến thái thành thân và khí (thế gian), làm sở y cho
hữu tình. Bởi vì, thân và khí không tồn tại ngoài tâm; vì pháp không
tương ưng vốn không có thật thể;
và vì các chuyển thức, v.v., không hằng hữu. Nếu không tồn tại tâm này,
cái gì biến thành thân và khí (thế gian)? Và lại y trên pháp gì để
thường xuyên có khái niệm về hữu tình?
c. Lại nữa, khi ở trong định hay không ở trong
định, khi riêng biệt có tư lự hay không tư lự, thời lý, thảy đều có khá
nhiều cảm thọ của thân sinh khởi.
Nếu không tồn tại thức này, thời gian sau đó
thân hẳn không còn có cảm giác thoải mái hay mệt nhọc. Nếu không hằng
tồn tại tâm vốn là chân dị thục thì trong các trạng thái ấy làm sao có
các cảm thọ như vậy của thân? Các hạng không phải Phật
khởi các trạng thái khác
như thiện tâm v.v., bấy giờ hẳn cũng hiện khởi tâm vốn là chân dị thục.
Như cho rằng khi khởi tâm ấy.
Vì không phải là Phật, mà là hữu tình.
Do vậy, hằng tồn tại tâm vốn là chân dị thục. Tâm
ấy chính là thức thứ tám.
3. Thú và sinh
Lại nữa, Khế kinh nói, “Hữu tình luân chuyển
trong năm cõi thú hướng, bốn sinh loại.” Nếu không tồn tại thức này, thể
của thú và sinh ấy không thể có được.
Pháp phải là thật hữu, hằng hữu, phổ biến, không
tạp, pháp ấy mới có thể được thiết lập như là thú, sinh chân thật và
chính xác.
Bởi vì:
a. Pháp phi dị thục
thì thú và sinh tạp loạn; tồn tại cõi này lại khởi pháp thuộc thú và
sinh các cõi khác.
b. Các sắc dị thục
và những thứ chiêu cảm bởi nghiệp trong năm thức đều không phổ biến
trong các thú và sinh; trong vô sắc giới hoàn toàn không có chúng.
c. Các thiện bẩm sinh
và những thứ được chiêu cảm bởi nghiệp trong ý thức
tuy phổ biến các thú và sinh, và không tạp loạn khi khởi, nhưng không
hằng hữu.
d. Các hành không tương ưng không có tự thể chân
thật thảy đều không thể được quan niệm như là thú và sinh chính thật.
Vậy, duy chỉ tâm dị thục cùng với tâm sở của nó
là thật hữu, hằng hữu, phổ biến, không tạp loạn; đó mới chính là thú và
sinh chính thật. Nếu không tồn tại tâm này, khi sinh sinh vô sắc giới mà
khởi thiện các thứ, các trạng thái đó hẳn không phải là thú và sinh.
Giả sử cho rằng các thú và sinh bao gồm các hữu
lậu; thế thì, khi sinh vô sắc giới mà khởi tâm vô lậu, bấy giờ hẳn không
tồn tại thú và sinh.
Như vậy là mâu thuẫn với chính lý.
Để tránh các sai lầm nói trên và khuyết điểm này,
vì vậy, duy chỉ pháp dị thục mới chính là thú sinh chính thật.
Do ý nghĩa này, Như Lai không được kể trong thú
và sinh; vì nơi Phật không tồn tại pháp vô ký dị thục.
Cũng không được kể trong giới,
vì Ngài không phải là pháp hữu lậu; vì Thế Tôn đã xả Khổ và Tập đế, và
đã vĩnh viễn đoạn trừ mọi thứ hý luận.
Chính thật thú sinh vốn duy chỉ là tâm và tâm sở
dị thục; lìa thức thứ tám, tâm và tâm sở ấy không được chứng minh. Cho
nên biết rằng tồn tại thức thứ tám này.
4. Chấp thọ
Lại nữa, Khế kinh nói, thân là căn có sắc,
đó là hữu chấp thọ.
Nếu không có thức này hẳn không thể tồn tại cái chấp thọ kia. Tức là,
năm sắc căn và y xứ của chúng là hữu chấp thọ chỉ khi chúng thuộc hiện
tại.
Duy chỉ dị thục tâm vốn được dẫn bởi nghiệp quá khứ, không phải thiện
hay nhiễm các thứ,
thuần nhất loại, phổ biến, tiếp nối liên tục chấp thọ căn thân hữu sắc.
Các chuyển thức, con mắt v.v., không có ý nghĩa này.
Điều này muốn nói rằng các chuyển thức như mắt
v.v. đều không là thuần nhất loại, không phổ biến và tiếp nối liên tục
để chấp thọ thân căn hữu sắc ở tự nội; chứ không có ý nói duy chỉ dị
thục tâm mới là chấp thọ. Không thể nói sắc thân của chư Phật không có
chấp thọ. Thế nhưng, cái chấp thọ sắc thân hữu lậu duy chỉ là dị thục
tâm. Đó là điều đây muốn nói. Nghĩa là, các chuyển thức hoạt động theo
các duyên hiện hữu, như âm thanh, như gió các thứ. Tính thiện hay nhiễm
của chúng không phải được dẫn khởi bởi nghiệp, như phi trạch diệt.
Vì những gì là dị thục sinh thì không phải là
(chân) dị thục, và vì không phổ biến, và vì không liên tục, như ánh
chớp, không thể chấp thọ thân căn hữu sắc.
Từ “các tâm thức” cũng bao hàm các tâm sở, và
nhất định chúng tương ưng nhau, như từ “Duy thức.”
Các sắc căn
và các hành không tương ưng
không thể chấp thọ thân căn hữu sắc, vì không có sở duyên, như hư không.
Do đó, cần phải đặc biệt có tâm là cái chấp thọ. Tâm ấy chính là thức
thứ tám.
5. Thọ - Noãn
- Thức
Lại nữa, Khế kinh nói, “Thọ, noãn và thức,
ba cái này y trì lẫn nhau để có thể tồn tại một cách liên tục tiếp nối.”
Nhưng nếu không tồn tại thức (thứ tám) này để duy trì sự tồn tại lâu dài
của thọ và noãn, thức cũng không thể hiện hữu.
1. Bởi vì, các chuyển thức có gián đoạn, có
chuyển biến, như gió các thứ, không thường xuyên duy trì hoạt dụng nên
không thể được xác lập như là cái duy trì thọ, noãn và thức. Duy chỉ dị
thục thức, vốn không gián đoạn, không chuyển biến, cũng như thọ và noãn,
và thường xuyên duy trì hoạt dụng, do đó, được xác lập là cái duy trì
thọ, noãn và thức.
2. Kinh nói, ba pháp này hỗ tương duy trì. Nhưng
cho rằng thọ và noãn là đồng nhất loại và tương tục, còn thức thì không
như vậy; điều này khá phù hợp chính lý?
Tuy nói ba pháp hỗ tương duy trì, nhưng lại chỉ
thừa nhận noãn không phổ biến khắp ba giới. Vậy tại sao lại không thể
thừa nhận duy chỉ thức là gián đoạn?
Nạn vấn này không thể phi bác lý đã được nêu
trên. Theo đó, nơi nào có đủ ba pháp này mà không gián đoạn và chuyển
biến, nơi đó
chúng có thể thường xuyên duy trì lẫn nhau. Nếu không như vậy,
chúng không thường xuyên hỗ tương duy trì hoạt dụng.
Như lý đã nêu trên,
thức được kể trong ba pháp không chỉ cho các chuyển thức. Nêu lý do noãn
không phổ biến đâu đủ để bác bỏ lý trên. Như vậy, lý của điều khẳng định
trên là cực thành.
3. Vả lại, thọ và noãn trong ba pháp duy chỉ
thuộc hữu lậu, do đó biết rằng thức kia được xác định là phi vô lậu.
Sinh Vô sắc giới, bấy giờ thức nào duy trì thọ kia? Do đó mà biết rằng
có thức dị thục vốn đồng nhất loại, hằng phổ biến, là cái duy trì thọ và
noãn. Thức đó chính là thức thứ tám.
6. Sinh tử tâm
Lại nữa, Khế kinh nói, các loại hữu tình khi thọ
sinh, khi mạng chung, đều ở trong trạng thái tán tâm, không phải là vô
tâm định.
Nếu không tồn tại thức này, khi sinh, khi chết, tâm không hiện hữu.
1. Nghĩa là, khi sinh hay khi chết thân tâm mờ
mịt như giấc ngủ không chiêm bao, hay như khi bị ngất, các chuyển thức
sáng suốt không hiện khởi.
Vả lại, trong trạng thái này, sáu chuyển thức đều
không hiện hành, vì sở duyên và hành tướng của chúng không thể được nhận
biết, như trạng thái vô tâm.
Nếu khi ấy sáu chuyển thức hiện hành,
thì sở duyên và hành tướng của chúng phải được nhận biết, như trong các
thời khác.
Chân dị thục thức vì là cực kỳ vi tế nên sở duyên
và hành tướng của nó không thể được nhận biết. Thức đó tiếp dẫn sự tương
tục của kết quả của nghiệp trong một hạn kỳ, thường xuyên không chuyển
biến. Nó ở trong trạng thái tán tâm, hữu tâm; được gọi là sinh tử tâm.
Điều này không trái với chính lý.
2. Có quan điểm
cho rằng, trong trạng thái này năm thức được xác định là không có mặt,
nhưng thức thứ sáu cần được phân biệt. Thức thứ sáu tiếp nhận đối tượng
hoặc do bởi năm thức, hoặc do bởi giáo nghĩa của người khác, hoặc do bởi
định. Trong giai đoạn thọ sinh, các nguyên nhân này hoàn toàn không có,
cho nên khi đó ý thức không hiện hữu.
a. Nếu vậy, hữu tình khi sinh Vô sắc giới, thời
gian tiếp theo
ý thức vĩnh viễn không sinh. Định tâm tất nhiên phải được dẫn khởi bởi
tán ý thức. Nhưng, trong giới này không tồn tại năm thức, không có giáo
nghĩa gì, cho nên tán tâm dẫn khởi định không có nguyên do để sinh khởi.
b. Nếu biện minh rằng do ảnh hưởng của tập quán,
thời gian sau, định hiện khởi tự nhiên; nếu vậy, vì sao nó không hiện
khởi vào sát-na tối sơ khi thọ sinh? Vã lại, nếu thế, vào sát-na tối sơ
khi thọ sinh Dục giới và Sắc giới, ý thức do tập quán
cũng có thể hiện khởi?
c. Nếu do trạng thái mờ mịt nên nó không xuất
hiện trong sát-na đầu tiên, vậy thì cũng như nguyên nhân đã được nêu
trước đó rồi, cần gì biện luận thêm?
3. Bộ phái khác chủ trương rằng,
trong hai giai đoạn chết và tái sinh đặc biệt có một loại ý thức vi tế,
mà hành tướng và sở duyên đều không thể được biết. Nên biết, đó cũng
chính là thức thứ tám này. Vì ý thức được công nhận chung thì không như
vậy.
4. Lại nữa, khi sắp chết, do nghiệp thiện ác, cảm
xúc lạnh khởi lên dần dần từ thân phần dưới đi lên.
Nếu không tồn tại thức này, sự kiện đó không thể xảy ra. Vì chuyển thức
không chấp thọ thân. Vì các thức con mắt v.v. đều có sở riêng biệt. Hoặc
vì không hiện hành.
Thức thứ sáu, ý thức, vì không trụ nơi thân, vì
cảnh bất định, và vì nó gá khắp trong thân để thường xuyên tương tục;
cho nên cảm xúc lạnh phát sinh dần không do nó.
Duy chỉ dị thục tâm, do nghiệp lực từ trước,
thường xuyên phổ biến và liên tục chấp thọ thân phần. Chỗ nào mà nó xả
chấp thọ, nơi đó cảm xúc lạnh phát sinh, vì thọ, noãn và thức, ba cái
này không tách rời nhau. Chỗ nào cảm xúc lạnh khởi lên, chỗ đó trở thành
phi tình. Chỗ đó tuy vẫn là (thức) biến và duyên, nhưng không chấp thọ.
Do đó biết rằng, một cách xác định, thức thứ tám
tồn tại.
Khế kinh nói, “Do duyên là thức mà có danh sắc.
Do duyên là danh sắc mà có thức.” Hai pháp ấy lần lượt y tựa lẫn nhau để
đồng thời cùng vận hành, như bó lau. Nếu không tồn tại thức (thứ tám)
này, thì tự thể thức (duyên danh sắc) kia không tồn tại.
Kinh đã dẫn tự giải thích như
vầy: danh là bốn uẩn phi sắc. Sắc là kiết-la-lam các thứ.
Hai thứ này cùng với thức y tựa lẫn nhau mà tồn tại, như hai bó lau dựa
vào nhau. Chúng làm duyên cho nhau, thường xuyên cùng lúc vận hành,
không tách rời nhau. Các thức con mắt v.v. được bao hàm trong
danh. Nếu không có thức này, không có cái gì để gọi là thức. Cũng không
thể nói thức uẩn trong danh là năm thức; và thức là thức thứ sáu. Vì
trong giai đoạn kiết-la-lam, năm thức chưa xuất hiện. Lại nữa, hoạt động
của các chuyển thức có tính cánh gián đoạn; chúng không đủ năng lực để
thường xuyên duy trì danh-sắc, làm sao có thể nói chúng thường xuyên làm
duyên cho danh sắc?
Cho nên, thức được nói đó chính là thức thứ tám.
8. Thực phẩm
Lại nữa, Khế kinh nói, “Tất cả hữu tình đều y
thức ăn mà tồn tại.”
Nếu không tồn tại thức này, không thể có tự thể của thức thực.
Kinh nói có bốn loại thức ăn:
1. Đoạn thực,
đặc tính của nó là biến hoại. Đó là ba thứ hương, vị, xúc trong Dục giới
hệ. Khi biến hoại chúng được dùng làm thức ăn.
Vì lý do này, sắc xứ không phải là đoạn thực. Vì khi biến hoại, sắc trở
thành vô dụng.
2. Xúc thực,
mà đặc tính là xúc chạm đối tượng. Xúc hữu lậu, khi tiếp thu đối tượng,
làm phát sinh hỷ các thứ, bấy giờ nó trở thành thức ăn.
Xúc này tuy tương ưng với tất cả các thức, nhưng chỉ trong ý nghĩa ưu
thắng khi nó liên hệ với thức thứ sáu bấy giờ mới được nói là thức ăn.
Vì sự ưu thắng của xúc tiếp thu đối tượng thô hiển là cung cấp hỷ, lạc,
và thuận lợi cho xả để làm dưỡng chất.
3. Ý tư thực,
có đặc tính là hy vọng. Đó là tư hữu lậu, cùng vận hành với dục. Khi nó
hy vọng đối tượng khả ái,
bấy giờ nó trở thành thức ăn. Tư này tuy tương ưng với tất cả thức,
nhưng đặc biệt khi liên hệ với ý thức nó mới trở thành thức ăn. Vì điểm
ưu thắng của ý thức là hy vọng đến đối tượng.
4. Thức thực, có đặc tính là chấp trì.
Đó là thức hữu lậu. Do thế lực của ba loại thức ăn trước, thức tăng
trưởng và trở thành thức ăn.
Vì vậy, Tập luận
nói, bốn loại thức ăn bao hàm ba uẩn, năm xứ, mười một giới.
Bốn thứ này duy trì thân mạng của hữu tình, để
cho không bị rã, không bị đứt, nên chúng được gọi là thức ăn.
Đoạn thực chỉ hữu dụng trong Dục giới. Xúc và ý
tư thực tuy phổ biến cả ba giới nhưng do y trên thức và hoạt động nên
tùy theo thức mà có mặt hay không.
5. Các chuyển thức, mắt các thứ, có gián đoạn, có
vận chuyển dịch nhưng không phổ biến và hằng thời để có thể duy trì thân
mạng. Bởi vì chúng bị gián đoạn trong các vô tâm định, khi ngủ say, khi
hôn mê, và trong Vô tưởng thiên. Nếu ở trong trạng thái hữu tâm, chúng
bị chuyển dịch theo sở y, duyên, tính, giới, địa.
Vì vậy, khả năng duy trì thân mạng của chúng không phổ biến, không
thường xuyên.
Những vị chủ trương không có thức thứ tám, vậy y
vào loại thức ăn nào mà Kinh nói “Tất cả hữu tình đều y thức ăn mà tồn
tại”?
a. Thức quá khứ, vị lai, trong trạng thái vô tâm,
không phải là thức ăn.
Vì chúng không phải hiện tại,
không phải thường, như hoa giữa hư không, không có thể và dụng. Giả
thiết nói có thể và dụng, nhưng không thuộc hiện tại, như hoa giữa hư
không, không có tính thức ăn.
Cũng không thể nói tâm nhập định làm thức ăn cho
các hữu tình trong trạng thái vô tâm;
nhưng khi vào trạng thấi vô tâm, thức ấy đã diệt. Và điều đã được công
nhận là thức thuộc quá khứ và vị lai không phải là thức ăn.
Cũng không thể nói các hành không tương ưng
trong vô tưởng định các thứ là thức ăn, vì chúng không được bao hàm
trong bốn loại thức ăn, và vì pháp không tương ưng không thực hữu.
b. Quan điểm khác cho rằng trong diệt định thức
sáu vẫn hiện hành; chính nó làm thức ăn cho các hữu tình.
Quan niệm này phi lý. Chi tiết bác bỏ sẽ nói sau.
c. Các vị ấy nên giải thích, sinh lên hai giới
trên, khi khởi tâm vô lậu, cái gì là thức ăn?
Thức vô lậu không thể làm thức ăn cho thân mạng ở đó, vì chúng hủy diệt
hữu.
d. Cũng không thể quan niệm rằng trong thức vô
lậu có chúng tử hữu lậu; chúng làm thức ăn.
Thức vô lậu, cũng như Niết-bàn, không thể chấp trì chủng tử hữu lậu.
e. Cũng không thể nói thân và mạng của các hữu
tình trên thượng giới duy trì lẫn nhau; chúng là thức ăn. Vì bốn loại
thức ăn không được bao hàm trong thân và mạng ở đó. Vả lại, Sắc giới,
không có thân. Mạng căn không khả năng duy trì. Các đồng phần thì không
thực thể.
Do bởi những điều đó, một các xác định, biết rằng
khác với chuyển thức có dị thục thức. Thức này đồng nhất loại, thường
trực, phổ biến; chính nó duy trì thân, mạng khiến cho không bị rã, không
bị đứt. Y theo đó, Thế Tôn nói, “Tất cả hữu tình đều y nơi thức ăn mà
tồn tại.”
Hữu tình được nói đó y nơi uẩn mà xác lập. Phật
không có hữu lậu nên không được kể vào trong hữu tình.
Nói rằng hữu tình y thức ăn mà tồn tại, nên biết, đều y vào sự thị hiện
mà nói.
Như vậy, dị thục thức đặc biệt có tính thức ăn.
Nó chính là thức thứ tám này.
9. Diệt tận định
Lại nữa, Phật nói, với người trụ diệt định, tất
cả hành của thân, ngữ, tâm đều diệt,
nhưng thọ
không diệt, cũng không rời hơi ấm, căn không biến hoại, thức không lìa
thân. Nếu không tồn tại thức này, không thể có sự kiện thức không lìa
thân.
Thức con mắt v.v. có hành tướng thô động. Để xuất
hiện nơi cảnh sở duyên, nó phải lao nhọc. Nhàm chán nó, người ta tạm
thời mong cầu đình chỉ nó, rồi chế phục nó dần dần, cho đến giai đoạn
diệt hẳn. Căn cứ trạng thái này mà xác lập người trụ diệt định. Cho nên,
trong định này, các thứ ấy đều diệt. Nếu không thừa nhận hiện hữu một
loại thức vi tế, thường trực, phổ biến, để chấp trì thọ v.v., căn cứ vào
đâu mà nói thức không lìa thân?
1. Nếu cho rằng thời gian sau các thức ấy xuất
hiện trở lại, như bệnh sốt rét cách nhật, nên nói là nó không lìa thân.
(a) Thế thì không thể nói tâm hành diệt; vì thức và tưởng v.v. khởi,
diệt cùng lúc. (b) Thọ, hơi ấm,
các căn, v.v., cũng vậy. Như vậy thì quá sai lầm. Cho nên, cần phải thừa
nhận rằng thức, như thọ, hơi ấm v.v., thật sự không lìa thân.
(c) Lại nữa, trong định này nếu thức hoàn toàn không tồn tại, thân như
sỏi đá, há có thể nói đó là người đang trụ diệt định? (d) Lại nữa, trong
trạng thái này nếu dị thục thức không tồn tại, cái gì chấp trì các căn,
thọ, hơi ấm? Không được chấp trì, thân hoại diệt, như tử thi, không có
thọ các thứ. (e) Đã vậy, thời gian sau, thức tất nhiên không thể tái
sinh khởi; ở đây cái gì được nói là không lìa thân? Thức nào là dị thục
khi đã rời thân,
nó không thể sinh khởi trở lại trừ phi gá vào một thân khác.
2. Lại nữa, trong trạng thái này, nếu không có
thức duy trì chủng tử,
(a) thức sau không có chủng tử làm thế nào có thể sinh khởi? (b) Vì các
pháp bất tương ưng, quá khứ và vị lại đều không thực hữu, điều này đã
được công nhận.
(c) Sắc pháp v.v., nếu lìa sắc,
không tồn tại; tính cách tiếp thọ huân tập và duy trì chủng tử của nó
cũng đã bị bác bỏ.
Nhưng, trong trạng thái vô tâm của diệt định
v.v., cũng như trong hữu tâm vị, một cách xác định thức thực hữu, vì còn
đầy đủ các căn, thọ và hơi ấm, và vẫn được kể là hữu tình. Do lý thú
này, khi trụ diệt định, xác định thức vẫn tồn tại thật sự không lìa
thân.
3. Nếu nói trong trạng thái này do tồn tại thức
thứ sáu
nên nói là thức không lìa thân; điều này không hợp lý. (a) Vì định này
vẫn được gọi là vô tâm định. Nếu chỉ vì không tồn tại năm thức mà nói là
vô tâm, tất cả các định đều đáng gọi là vô tâm, vì trong tất cả các định
năm thức thân không tồn tại. (b) Ý thức được kể trong sáu chuyển thức,
như năm thức thân, không tồn tại trong diệt định. (c) Hoặc vì trong
trạng thái này, hành tướng và sở duyên của thức đều không thể biết được,
như thọ, noãn v.v., vậy thức này không phải là thức thứ sáu. (d) Hoặc
nếu trong trạng thái này, hành tướng và sở duyên mà có thể biết được,
vậy cũng như các trạng thái khác, nó không là trạng thái vô tâm này. Bởi
lẽ, bản lai vì đình chỉ hành tướng, sở duyên và thức khả tri mà nhập
định này.
4. Lại nữa, nếu trong trạng thái này mà tồn tại
thức thứ sáu,
vậy tâm sở pháp của thức này hiện hữu hay không hiện hữu?
(a) Nếu tâm sở hiện hữu, hẳn Kinh đã không nói,
“trụ trong định này, các tâm hành đều diệt.”
Vả lại, như thế nó không được gọi là định diệt thọ tưởng.
(b) Trong giai đoạn gia hành của định này, thọ và
tưởng bị nhàm chán, cho nên trong định này chỉ diệt thọ tưởng. Hai pháp
thọ và tưởng hỗ trợ tâm rất mạnh, do đó trong các tâm sở riêng chúng
được gọi là tâm hành. Như vậy, nói tâm hành diệt, có gì là mẫu thuẫn?
Trong vô tưởng định, đáng lẽ chỉ diệt tưởng vì
chỉ có tưởng bị chán bỏ. Nhưng điều này không được Ngài thừa nhận.
Đã nói duy thọ, tưởng hỗ trợ tâm rất mạnh; nay hai thứ này diệt, tâm hẳn
cũng diệt.
(c) Như khi thân hành diệt nhưng thân vẫn tồn
tại.
Vậy sao lại bác bỏ tâm, nói là nó phải diệt cùng với các hành?
Nếu vậy, khi tầm, tứ diệt, ngữ hành vẫn không
diệt.
Nhưng điều này không được thừa nhận.
(d) Tuy nhiên,
hành đối với các pháp có phổ biến, không phổ biến. Khi hành phổ biến khi
diệt, pháp nhất định cũng diệt theo. Khi hành không phổ biến diệt, pháp
vẫn hiện hữu. Hành không phổ biến là hơi thở ra vào; vì ta thấy rằng khi
hơi thở diệt nhưng thân vẫn tồn tại. Tầm và tứ đối với ngữ được kể là
biến hành; vì khi chúng diệt thì ngữ cũng diệt. Thọ và tưởng đối với tâm
cũng được kể là biến hành; vì như tư v.v. được thừa nhận là đại địa
pháp.
Khi thọ, tưởng diệt, tâm nhất định diệt theo. Vậy sao có thể nói chúng
diệt mà tâm vỗn tồn tại?
Đã vậy, trong trạng thái này, tín v.v. Hẳn cũng
không hiện hữu.
Không thể nói khi biến hành diệt mà những thứ
khác còn tồn tại. Như vậy, làm sao có thể nói các tâm sở khác vẫn tồn
tại? Đã thừa nhận rằng trong trạng thái này tư v.v.,
không tồn tại, thọ và tưởng cũng vậy, vì là đại đja pháp.
Lại nữa, trong định này, nếu tư hiện hữu, xúc
cũng hiện hữu. Tất cả các tâm sở khác đều y lực của xúc mà sinh. Nếu có
xúc, tất có thọ, vì xúc duyên thọ. Đã thừa nhận có thọ, tưởng tất cũng
sinh, vì chúng không tách rời nhau.
(e) Như thọ duyên ái, nhưng không phải tất cả thọ
đều làm sinh khởi ái. Vì vậy, xúc duyên thọ, nhưng không phải tất cả xúc
đều sinh khởi thọ. Theo đó, nạn vấn trên không được chứng minh hợp lý.
Biện minh này không đúng. Vì có sự sai biệt. Và
vì chính đức Phật đã giản biệt, theo đó, duy chỉ những thọ nào được dẫn
khởi do xúc chạm bởi vô minh, các thọ ấy mới làm duyên để sinh khởi ái.
Không có nơi nào nói đơn giản xúc sinh thọ. Cho nên, có xúc tất có thọ
sinh khởi. Thọ cùng hiện hữu với tưởng, lý này được xác định.
Hoặc giả, cũng như trong các trạng thái khác,
thọ, tưởng không diệt, vì chủ trương rằng trong trạng thái này có tư
v.v… Thừa nhận như vậy thì mâu thuẫn với điều được nói rằng tâm hành
diệt, và cũng không thành định tưởng thọ diệt.
5. Nếu không có tâm sở, thức tất nhiên cũng
không.
Vì các tâm khác không được tìm thấy tách rời tâm sở mà tồn tại. Vì khi
các biến hành khác diệt,
pháp cũng tùy theo đó mà diệt. Vì như thế thọ hẳn không thể là đại địa
pháp.
Vì như thế thức này hẳn không phải là pháp tương ưng.
Và vì nếu thừa nhận như vậy thức ấy hẳn không có sở y, sở duyên, v.v.,
như sắc pháp v.v., nó cũng không phải là tâm.
6. Lại nữa, Khế kinh nói,
ý và pháp làm duyên phát sinh ý thức. Tổ hòa hiệp ba này là xúc; cùng
khởi với xúc có thọ, tưởng, tư. (a) Nếu trong định này hiện hữu ý thức,
do tổ hòa hiệp ba tất nhiên phải có xúc. Xúc đã được xác định là cùng
khởi với thọ, tưởng, tư. Vậy, làm sao nói có thức mà không có tâm sở?
(b) Nếu nói, trong các thời gian khác tổ hòa hiệp ba có năng lực tạo
thành xúc, hay sinh khởi xúc;
xúc sinh khởi thọ v.v… Còn trong định này, trước tiên do nhàm chán tâm
sở, cho nên trong trạng thái định tổ hợp ba không có năng lực để tạo
thành xúc, hay sinh khởi xúc, và cũng không có thọ v.v… Nếu vậy, nên gọi
đó là định diệt tâm sở, làm sao chỉ nói là diệt thọ tưởng? (c) Nếu nói,
khi nhàm chán, chỉ chán thọ, tưởng. Do diệt hai thứ này mà các tâm sở
đều diệt. Căn cứ theo sự chán ghét trước đó mà đặt tên cho định. Đã vậy
trong đó đáng lẽ tâm cũng diệt vì nó câu hữu với cái bị chán, như các
tâm sở khác. Nếu không như vậy, làm sao gọi là vô tâm định?
6. Lại nữa, trong trạng thái định này, ý thức là
cái gì?
(a) Không thể nói nó là nhiễm hay vô ký. Vì các sự kiện này không có
trong các định thuộc thiện.
Vì các tâm nhiễm và vô ký khác đều có tâm sở. Vì không thể nói do chán
thiện mà khởi nhiễm v.v… Vì không phài cầu tịch tĩnh mà ngược lại khởi
tán tâm.
(b) Nếu nói tâm đó là thiện, vì tương ưng thiện;
vậy nó phải tương ưng với các thiện căn như vô tham v.v… Tâm ấy không
phải là tự tính thiện, hoặc thắng nghĩa thiện, vì trái với quan điểm của
tông phái này; vì nó không phải là thiện căn v.v., và cũng không phải là
Niết-bàn.
Nếu nói tâm ấy là thiện do đẳng khởi, vì nó được dẫn khởi bởi thiện căn
thuộc gia hành. Điều này không đúng. Vì trái với chủ trương của bộ phái
này.
Vì như các thiện tâm khác, không phải là đẳng khởi. Thiện tâm trực tiếp
sinh khởi tâm ba tính, làm thế nào mà thiện tâm do đẳng khởi trước đó?
Do đó tâm mà thiện là do ảnh hưởng của tương ưng. Đã vậy, nó phải tương
ưng với thiện căn, đâu có nói tâm này độc hành không tâm sở? Cho nên,
nếu không có tâm sở, tâm cũng không.
7. Suy trưng như vậy, các chuyển thức, mắt v.v.,
trong trạng thái diệt định, không phải không rời thân. Do đó, Khế kinh
nói không rời thân, là nói thức ấy chính là thức thứ tám. Khi nhập diệt
định, không phải để đình chỉ thức chấp trì vốn cực kỳ tịch tĩnh này.
Các trạng thái vô tưởng cũng theo loại suy theo
đó mà biết.
10. Nhiễm tịnh
Lại nữa, Khế kinh nói, “Tâm tạp nhiễm nên hữu
tình tạp nhiễm. Tâm thanh tịnh nên hữu tình thanh tịnh.”
Nếu không tồn tại thức này, tâm nhiễm tịnh kia không thể có.
Pháp nhiễm tịnh lấy tâm làm gốc. Nhân tâm mà
sinh; y tâm mà trụ. Tâm tiếp nhận sự huân tập của chúng; duy trì chủng
tử của chúng.
1. Pháp tạp nhiễm, tóm tắt, có ba loại: phiền
não, nghiệp, quả.
Vì chủng loại khác nhau.
(a) Nếu không có thức nay duy trì chủng tử phiền
não, sẽ không có nguyên nhân cho sự sinh khởi của phiền não khi đi và
đến trong các giới, địa,
và sau khi khởi tâm vô nhiễm.
Vì các pháp khác không thể duy trì chủng tử. Vì quá khứ, vị lai không
thực hữu.
Nếu các phiền não sinh khởi mà không cần nhân, sẽ không có quả học và vô
học của ba Thừa; vì những gì đã bị đoạn trừ sẽ tái sinh khởi.
(b) Nếu không có thức này duy trì chủng tử của
nghiệp và quả, sẽ không có nhân cho sự sinh khởi của nghiệp và quả khi
tái sinh trong các giới địa, và sau khi khởi các pháp dị loại.
Vì các chủng tử khác,
các nhân khác
trước đó đã bị bác bỏ. Nếu các nghiệp và quả được sản sinh, sau khi nhập
Niết-bàn giới vô dư y nghiệp quả của ba giới tất sẽ sinh khởi trở lại.
Vì phiền não cũng không cần nhân mà sinh khởi.
(c) Lại nữa, hành duyên thức sẽ không được thành.
Vì sự tiếp nhận huân tập của các chuyển thức đã bị bác bỏ trên kia. Vì
thức ô nhiễm khi kết sinh không phải là chiêu cảm bởi hành.
Vì nếu không thế,
phải nói là danh sắc lấy hành làm duyên.
Vì giai đoạn thời gian cách biệt nhau quá xa,
không có nghĩa của duyên. Trường hợp không thành; trường hợp này cũng
không thành.
2. Các pháp thanh tịnh cũng có ba loại, do sự sai
biệt của thế đạo, xuất thế đạo, và đoạn quả.
(a) Nếu không tồn tại thức này để duy trì chủng
tử của thanh tịnh đạo thế và xuất thế, sẽ không có nhân để khởi tịnh
pháp kia sau các tâm dị loại.
Vì các nhân khác như được quan niệm đã bị bác bỏ ở trên. Nếu hai tịnh
đạo phát khởi mà không cần nhân, vậy sau khi nhập Niết-bàn giới vô dư y
hai tịnh đạo kia đáng lẽ sinh khởi trở lại. Theo đó, sở y (thân) sinh
khởi cũng không cần nhân.
(b) Lại nữa, xuất thế đạo tối sơ hẳn không thể
sinh, vì không có pháp nào duy trì chủng tử pháp nhĩ của nó. Vì hữu lậu
thuộc loại dị biệt không thể làm nhân cho nó. Vì chủ trương vô nhân mà
sinh, không phải là nhà họ Thích. Nếu tối sơ (vô lậu) không sinh, thì
(vô lậu) về sau cũng không thể sinh; như vậy, không có đạo quả của ba
Thừa.
(c) Nếu không có thức này duy trì chủng tử của
phiền não, đoạn quả của chuyển y cũng không thể thành. Vì khi Thánh đạo
phát khởi, phiền não hiện hành và chủng tử của nó đều không tồn tại.
Vì hai tâm nhiễm và tịnh đều không cùng lúc khởi. Tâm tương ưng Thánh
đạo không duy trì chủng tử (phiền não) kia, vì tự tính trái nghịch nhau,
như Niết-bàn. Vì đắc, v.v.,
thuộc quá khứ, vị lai đều không thật hữu. Vì các pháp khác
không được thừa nhận là duy trì chủng tử. Cái bị đoạn trừ đã không có,
cái đoạn trừ cũng không; vậy, y cái gì, do bởi cái gì mà xác lập đoạn
quả?
Nếu nói do ảnh hưởng của Thánh đạo mà hoặc (phiền
não) về sau không sinh khởi nữa, theo đó xác lập đoạn quả, thế thì tối
sơ phát khởi Thánh đạo tức thành vô học. Vì về sau các phiền não đã
không còn nhân nữa nên vĩnh viễn không sinh khởi.
Nhưng, thừa nhận có thức này, tất cả đều được
chứng minh. Vì duy chỉ thức này là cái duy trì chủng tử của nhiễm và
tịnh. Lý thú để chứng minh sự tồn tại của thức này là vô biên. Nhưng vì
e văn rườm rà nên toát lược, chỉ nêu cương yếu.
Đặc biệt tồn tại thức này, giáo và lý đều hiển
nhiên. Những người có trí nên tin và chấp nhận sâu sắc.
|