LUẬN THÀNH DUY THỨC

成唯識論

(T31n1585)

Bản dịch Việt

TUỆ SỸ


Mục lục

(chương 1) (chương 2) (chương 3) (chương 4)
(chương 5) (chương 6) (chương 7) (chương 8)

Phụ bản: Thành Duy Thức Luận (T31n1585)

Thư mục chú thích



Chương V: Sở biến của Thức

Tiết 1. Bến thái của thức

Tiết 2. Chứng minh giáo nghĩa duy thức

1. Giáo chứng

2. Lý chứng

3. Các nghi vấn

Tiết 3. Duy thức duyên khởi

1. Bốn duyên

1. Nhân duyên

2. Đẳng vô gián duyên

3. Sở duyên duyên

4. Tăng thượng duyên

2. Mười nhân

1. Mười nhân và mười lăm y xứ

2. Mười nhân và hai nhân

3. Bốn duyên và mười lăm y xứ

3. Năm quả

a. Định nghĩa

b. Các y xứ

c. Quả với nhân và duyên

Tiết 4. Chủng tử và hiện hành


 

CHƯƠNG V: SỞ BIẾN CỦA THỨC

 

Ở trên, đã phân tích chi tiết các yếu tính của ba loại thức, như là các chủ thể biến thái, làm sở y cho hai phần, kiến và tướng, tức là những ảnh tượng được biến thái từ bản thân chúng.

Nên hiểu như thế nào điều được nói rằng ngã và pháp chỉ là những giả thuyết[1] y trên sự biến thái của thức; chúng không phải là những thực hữu riêng biệt,[2] do đó nói tất cả duy chỉ là thức?

Tụng:

是諸識轉變

分別所分別

由此彼皆無

故一切唯識 [17]

Sự chuyển biến của các thức, đó là cái phân biệt, cái được phân biệt. Do ý nghĩa này, cái đó không tồn tại, vì vậy nói tất cả duy chỉ là thức.[3]

TIẾT 1. BIẾN THÁI CỦA THỨC

Luận:

1. [4] “Các thức ấy”, chỉ cho ba thức năng biến đã được nói, cùng với các tâm sở của chúng. Chúng biến tợ[5] thành hai phần kiến và tướng, nên nói là chuyển biến.[6]

Cái được biến thái như là kiến phần được gọi là phân biệt, vì nó thu nhận các yếu tính.

Cái được biến thái như là tướng phần được gọi là sở phân biệt, vì nó được tiếp nhận bởi kiến phần. [7]

Do chính lý này, một cách xác định, không có thật ngã và thật pháp nào tồn tại ngoài thức, vì ngoài cái tiếp nhận (năng thủ) và cái được tiếp nhận (sở thủ) không còn vật nào khác nữa, và vì không thật vật nào khác tồn tại ngoài hai hình thái ấy[8].

Vì vậy, tất cả hữu vi, vô vi, hoặc thật, hoặc giả, thảy đều không tách rời khỏi thức. Nói là “duy chỉ”[9] là để phủ nhận thật vật ngoài thức, chứ không phải phủ nhận các pháp tâm sở vốn không tách rời thức.

2.[10] Hoặc từ “chuyển biến” chỉ cho thức nội tại chuyển thành ảnh tượng xuất hiện ngoại giới như là ngã và pháp. Cái chuyển biến ấy được gọi là phân biệt, vì tự tính của nó là hư vọng phân biệt, tức tâm và tâm sở hệ thuộc tam giới.[11] Cảnh được chấp thủ này được gọi là cái được phân biệt, tức cái được chấp thủ một cách sai lầm như là thật ngã và thật pháp. Do sự phan biệt này, (tự thể của thức) xuất hiện thành ảnh tợ ngoại giới như là ngã và pháp. Cái được phân biệt như là thật ngã và thật pháp ấy hiển nhiên hoàn tòn không tồn tại. Điều này đã được phê bình chi tiết với dẫn chứng giáo lý ở đoạn trước.

3. Vì vậy, tất cả duy chỉ là thức, vì sự tồn tại của cái phân biệt hư vọng được chứng thực một cách phổ biến. [12]

Từ “duy chỉ” đã không loại trừ các pháp không tachs rời thức, cho nên chân không các thứ cũng là tồn tại thể. Do vậy mà tránh xa hai cực đoan  tích cực và tiêu cực, chứng thành ý nghĩa Duy thức, khế hội với trung đạo.

TIẾT 2. CHỨNG MINH GIÁO NGHĨA DUY THỨC

Do giáo và lý nào mà chứng thành ý nghĩa Duy thức?

Há chẳng phải điều đó đã được nói rồi?[13] Tuy đã có nói, nhưng chưa đầy đủ. Không phải rằng chỉ phê bình các thuyết khác mà giáo nghĩa của mình được chứng thành. Do đó, ở đây cần tình bày xác thực những giáo và lý để chứng thành.

1. Giáo chứng

Như Khế kinh nói: “Tam giới duy tâm.”[14]

Lại nói: “Sở duyên của thức duy chỉ là cái được hiển hiện bởi thức.”[15]

Lại nói: “Các pháp đều không lìa tâm.”[16]

Lại nói: “Hữu tình, tùy theo sự cáu bẩn hay thanh tịnh của tâm.”[17]

Lại nói: “Bồ tát thành tựu bốn trí có thể tùy theo đó ngộ nhập duy chỉ thức, không có đối tượng.

“Một, trí về thức tướng tương vi: Ở tại một điểm, sở kiến của quỷ, người, trời khác nhau, tùy theo sự sai biệt của nghiệp. Nếu cảnh có thật, là sao giải thích được điều này?

“Hai, trí về thức không có sở duyên: Đối tượng thuộc quá khứ, vị lai, trong chiêm bao, ảnh tượng, chúng không phải là cảnh có thật, nhưng thức vẫn có thể nhận bắt được như là hiện thực. Cảnh ấy không có thật; các cảnh khác cũng vậy.

“Ba, trí về sự không điên đảo không cần dụng công: trí của kẻ phàm ngu khi đạt được cảnh thật, trí ấy tự nhiên thành, không điên đảo, không do dụng công mà tự nhiên được giải thoát.

“Bốn, trí tùy chuyển theo ba trí sau đây: Một, trí tùy chuyển theo trí của vị đã tự tại, tức vị đã đạt tự tại tùy theo ý muốn có thể chuyển đổi đất các thứ. Nếu cảnh có thật, làm sao có thể biến đổi? Hai, trí tùy chuyển theo trí của người quán sát, tức vị đã đạt được thắng đinh mà tu pháp quán, khi quán tập trung trên một đối tượng mà mội hiện tượng đều hiện yiền. Nếu cảnh có thật, làm sao nó biến chuyển theo tâm? Ba, trí tùy chuyển theo trí vô phân biệt, tức là khi phát khởi trí vô phân biệt thực chứng, bấy giờ mọi đặc tính của đối tượng không hiện tiền. Nếu cảnh có thật, vì sao chúng không xuất hiện?” [18]

Bồ tát thành tựu bốn trí quyết định ngộ nhập lý Duy thức.

Lại nữa, già-đà nói: “Sở duyên của tâm, ý thức, thảy đều không tách rời tự tính. Do đo, Ta nói, tất cả duy chỉ có thức, không có gì khác.”[19]

Thánh giáo để chứngminh như vậy không phải ít.

2. Lý chứng

1. Nhãn thức, mà đã được công nhận chung,[20] vì tùy theo một trong năm, như các thức khác, không trực tiếp đến các sắc tách rời chính nó.[21]

2. Thức khác, vì là thức, như nhãn thức, cũng không trực tiếp duyên đến các pháp tách rời nó.[22]

3. Sở duyên trực tiếp của thức này nhất định không tách rời thức này, [23] vì thuộc về một trong hai phần, như năng duyên kia.[24]

4. Vì là pháp sở duyên, như pháp tương ưng,[25] quyết định không lìa tâm và tâm sở.[26]

Những chính lý để chứng minh như vậy không phải chỉ một hai. Do đó, duy thức cần được tín thọ một cách sâu sắc.

Ngã và pháp không phải là hữu thể; không và thức không phải là vô thể. Lìa cả hữu và vô, như vậy khế hợp trung đạo. Từ Tôn y cứ theo đây mà nói hai bài tụng:

Phân biệt hư vọng thành hữu thể.

Ở đây cả hai đều vô thể.

Trong đó duy chỉ là  không tính.

Nơi cái kia cũng có cái này.[27]

Do đó nói hết thảy các pháp,

Không phải không, không phải bất không.

Do bởi hữu, phi hữu, và hữu,

Như vậy khế hợp với trung đạo.[28]

Các bài tụng này y cứ y tha phần nhiễm mà nói. Lý thật, cũng có y tha phần tịnh.

3. Các nghi vấn

1. Nếu duy chỉ là nội thức, xuất hiện thành ảnh tợ như là ngoại cảnh, há chằng thấy rằng trong thê gian cắc sự vật thuộc hữu tình hay phi tình mà xứ sở, thời gian, thân thể, tác dụng hoặc xác định, hoặc không xác định?[29]

Trước hết, các nghi vấn này cần được giải thích bằng cảnh tượng trong chiêm bao, và bằng các thí dụ khác nữa.[30]

2. Duyên do gì Thế Tôn nói mười hai xứ?[31]

Y cứ sở biến của thức, chứ không phải có thật vật riêng biệt.[32] Để ngộ nhập ngã không nên Phật nói sáu cặp pháp.[33] Cũng như để loại trừ đoạn kiến, Phật nói đến hữu tình tương tục. Và cũng để ngộ nhập pháp không, lại nói duy chỉ là thức, khiến cho nhận thức được pháp ngoại tại cũng không là thật hữu.[34]

3. Há không phải rằng duy thức tính này cũng là không?

Không phải.

Thế nào?

Vì nó không phải là cái bị chấp thủ. Y trên sở biến của thức mà chấp thủ một cách sai lầm là tồn tại thật pháp, nhưng theo chính lý đò không thể nói là pháp không. Không phải rằng không tồn tại duy thức tính được chứng ngộ bởi chính trí ly ngôn mà nói là pháp không. Nếu không tồn tại thức này, sẽ không có tục đế. Do không có tục đế nên chân đế cũng không. Vì chân và tục được thiết lập bằng sự y chỉ lẫn nhau. Bác bỏ hai đế, đó là chấp thủ Không một cách tai hại, mà chư Phật nói là không thể trị. Nên biết, các pháp có không và bất không. Do điều này dức Từ Tôn đã nói hai bài tụng dẫn trên.

4. Nếu thể của các sắc xứ cũng là thức, do bởi nhân duyên gì mà thức hiển hiện như là tợ sắc tướng, vận hành thành một dòng tương tục đồng nhất loại và bền vững?[35]

Vì chúng được sản sinh bởi thế lực của danh ngôn huân tập. Vì chúng làm y xứ cho các pháp nhiễm và tịnh.[36] Nếu chúng không tồn tại,[37] sẽ không có sự điên đảo, và do đó không có pháp tạp nhiễm cũng không có pháp tịnh. Do đó các thức cũng hiển hiện như là ảnh tợ sắc. Như tụng[38] nói:

Loạn tướng và loạn thể,

Nên nói là sắc thức,

Và là phi sắc thức.[39]

Đây không, kia cũng không.[40]

5. Ngoại cảnh, sắc các thứ, được hiện chứng một cách phân minh,  được nhận thức bằng hiện lượng, sao lại bác bỏ là không tồn tại?[41]

Khi được tri giác bằng hiện lượng, nó không được tiếp nhận như là ngoại tại, nhưng sau đó do phân biệt của ý mà phát sinh ý tưởng sai lầm là ngoại tại.[42] Vì vậy cảnh của hiện lượng chính là tự tướng phần. Vì là sở biến của thức nên cũng được nói là tồn tại. Nhưng cái được chấp thủ bởi ý thức, mà tưởng tượng sai lầm như là thật sắc ngoại giới, do đó nó được nói là không tồn tại.[43]

Lại nữa, ngoại cảnh, sắc các thứ, không phải sắc mà tợ sắc, không phải ngoại tại mà tợ ngoại tại, nhưng các đối tượng trong chiêm bao, không thể  quan niệm là thật có sắc ngoại tại.

6. Nói rằng khi tỉnh giấc, sắc, thảy đều như cảnh trong chiêm bao, không lìa thức. Như khi tỉnh giấc chiêm bao, ta biết đó duy chỉ là tâm, nhưng vì sao khi giác tỉnh, lại không biết rằng cảnh sắc mà ta đang thấy duy chỉ là thức?

Cũng như đang chiêm bao, chưa tỉnh giác, thì không thể tự mình biết được điều đó, phải đợi sau khi tỉnh giấc, hồi ức mới biết.[44] Cảnh sắc trong lúc ta giác tỉnh cũng vậy, khi chưa thật sự giác ngộ thì cũng không thêt tự mình biết rõ được; chỉ đến khi chân chính giác ngộ, bấy giờ tru ức mà biết. Chưa chân chính giác ngộ, luôn luôn sống trong chiêm bao, cho nên Phật nói là đêm dài sinh tử. Do bởi chưa rõ sắc cảnh duy chỉ là thức.

7. Ngoại sắc thật sự không tồn tại, nhưng cũng có thể nói nó không phải cảnh  bên trong thức. Như tâm của người khác, há không phải là đối tượng của ta?[45]

Ai nói tâm của người khác không phải là cảnh của thức của ta? Duy chỉ không nói rằng nó không phải là đối tượng trực tiếp. Khi thức ta phát sinh, tâm của người không thật sự có tác dụng, không phải như tay trực tiếp cầm nắm vật ngoại thân, hay như mặt trời rọi thẳng ánh sang lên ngoại cảnh. Nó giống như tấm gương mà vật hiện trong dó tợ như ngoại cảnh. Nhận biêt tâm người khác cũng vậy, không phải trực tiệp nhận biết.[46] Cái được trực tiếp nhận biêt chính là sở biến của tâm ta.

Cho nên, Khế kinh[47] nói: Không có bất cứ pháp nào năm bắt pháp khác, mà chỉ là khi thức phát sinh, trên nó xuất hiện các đặc tính tương tợ vật kia nên gọi là nó nắm bắt vật kia.

Như duyên đến tâm người khác, duyên đến sắc các thứ cũng vậy.

8. Đã có cảnh dị biệt, sao có thể nói là duy chỉ có thức?[48]

Kỳ lạ tha, sự cố chấp! Đụng đến bất cứ điều gì cũng sinh nghi. Há giáo nghĩa duy thức  nói rằng duy chỉ một thức? Không phải. Vậy thì sao? Ngài hãy lằng nghe kỹ. Nếu duy chỉ một thức, há có sự sai biệt nhân quả, tôn ty, mười phương phàm Thánh, và ai nói cho ai nghe pháp gì, để mong cầu gì? Cho nên, từ “duy thức” có ý thú rất sâu xa.

“Thức” tổng quát chỉ cho tám thức mà mỗi hữu tình đều có, chỉ cho các tâm sở trong sáu phạm trù, chỉ cho sở biến là tướng và kiến, sai biệt của phần vị, và Chân như được hiển thị bởi Không lý ấy. Dố là, theo thé tự liệtk kê, tự tướng của thức, tương ưng của thức, hai sở biên của thức, ba phần vị của thức, và bốn Thật tính. Các pháp như vậy đều không tách rời thức, nên  gọi chung là “thức.”

Từ “duy” là để loại bỏ quan niệm của phàm phu cho rằng nhất định tồn tại sắc có thật bên ngoài các thức.

Nếu lãnh hội thâm ý của giáo nghĩa Duy thức như vậy, bấy giờ có thể chuẩn bị hành trang đầy đủ một cách thiện xảo, không điên đảo, để nhanh chóng ngộ nhấp pháp không, chứng Vô thượng giác, cứu vơt hàm thức ra khỏi bang xe quay của sinh tử. Không thể làm thành được những việc như vậy bằng cách hoàn toàn bác không tồn tại cái gì, chấp thủ Không một cách tai hại, trái nghịch với giáo lý. Cho nên, cần phải xác tín rằng tất cả duy chỉ là thức.

TIẾT 3. DUY THỨC DUYÊN KHỞI

Nếu duy chỉ là thức, hoànd toàn không có các duyên ngoại tại, do đâu mà phát sinh các hiện tượng sai biệt?

Tụng:

由一切種識

如是如是變

以展轉力故

彼彼分別生  [18]

Thức, hạt giống của tất cả, do tác động hỗ tương, tiến hành biến thái như vậy, như vậy, do bởi đó, xuất hiện cấu trúc phân biệt thế này, thế kia.[49]

Luận:

Thức, hạt giống của tất cả - nhất thiết chủng thức, đó là sai biệt công năng trong bản thức từ đó sản sinh kết quả của chính nó.[50] Nó sản sinh các kết quả đẳng lưu, dị thục, sĩ dụng và tăng thượng, do đó được gọi là nhất thiết chủng, hạt giống của tất cả.

Trừ ly hệ quả, vì nó không được sản sinh từ chủng tử,[51] mà chỉ khi nào hiện khởi thắng đạo[52] đoạn trừ kết sử bấy giờ nó mới xuất hiện. Tuy pháp vô vi cũng có ý nghĩa tương hỗ,[53] nhưng không phải là điều được đề cập ở đây. Đây chỉ đề cập đến chủng tử như là cái làm phát sinh phân biệt.[54]

Thể của nó – chủng tử - là thức nên nó được gọi là thức. Vì chủng tử không có tính thể biệt lập ngoài bản thức. Từ kép “chủng thức” để giản lược thức không phải là chủng tử, vì có thức không phải là chủng tử,[55] và có chủng tử không phải là thức.[56]

Lại nữa, từ “chủng thức” là để nêu rõ chủng tử ở trong thức, chứ không phải là thức duy trì chủng tử. Điều này sẽ đề cập sau.

Chủng tử ở trong thức này, do sự hỗ trợ bởi các duyên, tiến hành biến thái như vậy, như vậy, từ giai đoạn nảy sinh cho đến khi chín. Để nêu rõ chủng tử biến thái có nhiêu nên từ “như vậy” được lặp lại.

Từ “nhất thiết chủng” bao gồm tất cả ba loại tập khí,[57] chủng tử cộng và bất cộng của thức.

“Do tác động hỗ tương”, tức là tám hiện thức cùng kiến và tướng phần tương ứng của chúng có năng lực hỗ trợ lẫn nhau.

Các hiện thức được gọi chung là phân biệt;[58] vì tự tính của chúng là phân biệt hư vọng. Vì chủng loại phân biệt có nhiều, nên nói “thế này, thế kia.”[59]

Đại ý bài tụng nói, tuy không có ngoại duyên, nhưng do trong bản thức có hạt giống của tất cả, chúng tiến hành biến thái sai biệt, là do lực tác động hỗ tương của tám loại thức hiện hành, cho nên phát sinh sự phân biệt thế này thế kia. Vậy, cần gì có các điều kiện ngoại tại sự phân biệt mới phát sinh?

Sự sinh khởi của các pháp tịnh cũng vậy; do chủng tử tịnh và hiện hành làm duyên mà sinh khởi.

1. BỐN DUYÊN

Nói rằng, do duyên là chủng tử và hiện hành mà phát sinh sự phân biệt, vậy tính chất của duyên sinh này nen hiểu như thế nào?

Ở đây, có bốn duyên:[60]

1. Nhân duyên

Nhân duyên, đó là phát hữu vi tự nó trực tiếp tác thành kết quả của nó. Thể tính của duyên này có hai: chủng tử và hiện hành.

a. Chủng tử, đó là các công năng đặc sắc[61] của các giới, địa, thiện, nhiễm, vô ký ở trong bản thức. Nó dẫn sinh công năng cùng loại kế tiếp,[62] và sinh khởi hiện quả cùng loại đồng thời.[63]

b. Hiện hành, đó là bảy chuyển thức cùng các tâm sở tương ưng của chúng, sở biến tương và kiến phần, ba tính, ba giới, chín địa, v.v. Trừ thiện trong Phật quả, vô ký cực yếu; [64] còn lại là những pháp huân tập bản thức để sản sinh chủng tử cùng loại. Các pháp hiện hành này có tính nhân duyên chỉ đối với chủng tử.[65]

Tâm phẩm thứ tám,[66] vì không huân tập cái gì cả; các tâm sở của nó, vì không phải gạt qua sở y mà có thể đơn độc huân tập; vì cực vi tế, và cực viên mãn, nên cũng không huân tập thành chủng tử.[67]

Các hiện hành đồng loại hỗ tương tác động nhưng không phải là nhân duyên, vì được sản sinh từ chủng tử của chính nó.[68]

Tất cả những thứ dị loại hỗ tương tác động cũng không phải là nhân duyên, vì không trực tiếp sản sinh.

Có thuyết nói, hiện hành dị loại và đồng loại hỗ tương tác động làm nhân duyên;[69] nên biết, đó là nói theo ước lệ, họăc theo phương diện tùy chuyển.

Có chỗ nói duy chỉ chủng tử mới có tính nhân duyên.[70] Đó là y cứ theo đặc tính nổi bật, [71] chứ không phải thuyết lý rốt ráo. Vì Thánh nói chuyển thức cùng với a-lại-da hỗ tương tức động làm nhân duyên.[72]

2. Đẳng vô gián duyên

Đẳng vô gián,[73] đó là tám hiện thức cũng các tâm sở của chúng, tụ trước đối với tụ, đồng chủng loại, liên tục không gián đoạn, cái trước mở đường làm điều kiện cho cái sau quyết định sinh khởi.

Nhiều chủng tử đồng loại cùng vận hành đồng thời,[74] như pháp không tương ưng tâm, không có tính chất của loại duyên này. Do ý nghĩa này, tám thức không hỗ tương làm duyên.[75]

Tâm sở tuy thường xuyền cùng vận hành với tâm,[76] chúng tương ưng với tâm, hòa hiệp tợ như một, không thể quan niệm chúng tách rời nhau để thành biệt lập, do đó hỗ tương làm đẳng vô gián duyên.[77]

Tâm khi nhập vô dư cực kỳ vi tế, mờ nhạt,[78] không có tác dụng mở đường, nó cũng không dẫn khởi pháp đẳng vô gián,[79] cho nên không có tinh chất của duyên này.

Nên hiểu điều đó như thế nào?

Luận thực sự có nói rõ, nếu thức này làm điều kiện đẳng vô gián cho thức kia quyết định sinh khởi, tức nói rằng thức này là duyên đẳng vô gián của thức kia.[80]

Ý nghĩa này cần được giải thích như sau:

a. Thức a-đà-na,[81] trong ba giới, chín địa, đều có thể làm đẳng vô gián duyên, vì sinh tử trong các cõi dưới, trên, có thể mở đường cho nhau.[82] Thức hữu lậu trực tiếp không gián cách có thức vô lậu sản sinh. Thức vô lậu nhất định không sản sinh hữu lậu, vì sau khi đã khởi Kính trí[83] tất không còn gì để đoạn trừ nữa. Quan hệ của thức thiện với thức vô ký cũng vậy.[84]

Thức này từ sau giới nào thì dẫn sinh vô lậu? Hoặc từ sau Dục giới, hoặc từ sau Sắc giới. Các hạng dị sinh cầu Phật quả[85] nhất định sau Sắc giới mới dẫn sinh vô lậu; vì hạng này về sau tất định đi lên Tịnh cư thiên, trong cung Đại Tự Tại[86], rồi mới chứng đắc Bồ-đề.

Nếu là hàng Nhị thừa hồi chuyển đại bồ-đề, nhất định sau Dục giới thì dẫn sinh vô lậu. Vì chỉ có trong Dục giới mới có sự hồi chuyển và lưu thân.[87] Hạng này tuy cũng sẽ sinh lên cung Đại Tự Tại rồi mới thành Phật, nhưng vì lực của bản nguyện, nên thân được bảo lưu duy chỉ thuộc Dục giới.

Quan điểm khác nói rằng,[88] trong Sắc giới cũng có hạng Thanh văn hồi thú Đại thừa, nguyện bảo lưu thân, [89] điều này đối với giáo và lý đều không có gì mâu thuẫn.[90] Cho nên, thức thứ tám vô lậu[91] của Thanh văn cũng có thể hiện tiền ngay sau tâm thuộc Sắc giới. Thế nhưng, trong Tịnh cư không có sự hồi thú, vì Kinh không nói ở đó có sự phát khởi đại tâm.[92]

b. Chuyển thức thứ bảy, trong ba giới chín địa, cũng hỗ tương làm duyên đẳng vô gián; vì hệ thuộc theo sinh xứ của thức thứ tám.[93] Hữu lậu và vô lậu[94] cũng có thể hỗ tương sản sinh, vì trong các vị mười địa chúng có thể hỗ tương dẫn sinh. Quan hệ giữa thiện và vô ký cũng vậy.

Trong vô ký, nhiễm và vô nhiễm[95] cũng hỗ tương khai đạo; vì trong các địa vị trước và sau trí và quả của sinh không, chúng có thể dẫn sinh lẫn nhau.[96]

Ở đây, duy chỉ hữu lậu trong Dục giới và Sắc giới mới có thể dẫn sinh vô lậu, chứ không phải trong Vô sắc giới; vì Bồ tát trong mười địa không sinh lên đó.

c. Chuyển thức thứ sáu, trong ba giới, chín địa, hữu lậu với vô lậu, thiện với bất thiện,[97]  có thể hỗ tương làm đẳng vô gián duyên; vì trong các giai đoạn nhuận sinh,[98] chúng dẫn sinh lẫn nhau.[99]

Tối sơ khởi vô lậu duy chỉ sau Sắc giới;[100] vì thiện thuộc quyết trạch phần[101] duy chỉ có ở Sắc giới.

d. Năm thức, trong đó, các thức của mắt, tai và thân thuộc hai giới, hai địa; [102] hai thức lưỡi và mũi thuộc một giới một địa,[103] đồng loại thì làm đẳng vô gián duyên lẫn nhau. Quan hệ giữa thiện các thứ với nhau, nên biết, cũng vậy.

Có giải thích nói, năm thức hữu lậu và vô lậu, đồng loại làm đẳng vô gián duyên lẫn nhau, vì khi chưa thành Phật chúng có thể dẫn sinh lẫn nhau.[104]

Giải thích khác nói, vô lậu được dẫn khởi sau hữu lậu, chứ không phải sau vô lậu có thể dẫn khởi hữu lậu.[105] Vì nếu không phải là Phật thì không có năm thức vô lậu. Và vì năm sắc căn kia tất nhiên là hữu lậu.[106] Và cũng vì chúng thuộc tướng phần của thức dị thục.[107]

Căn hữu lậu, vốn bất cộng,[108] cần có câu hữu y,[109] và đồng nhất cảnh,[110] mà lại dẫn phát thức vô lậu, đó là điều không phù hợp chính lý. Vả lại, đối với cả hai, đối cảnh có tỏ và mờ[111] khác nhau.

3. Sở duyên duyên

Pháp nào[112] mà tâm, hoặc tương ưng của tâm, mang ảnh tượng của nó,[113] được tư lự, được ỷ thác,[114] pháp ấy được gọi là sở duyên duyên.[115]

Thể của nó có hai, thân và sơ.[116] Nếu  nó là cái không tách ngoài tự thể của năng duyên, được tự lự, được ỷ thác thuộc nội tại bởi kiến phần, nên biết, đó là thân sở duyên duyên. Hoặc cái mà tách ngoài thể năng duyên,[117] nhưng nó là chất thể[118] dẫn khởi cái được tư lự, được ỷ thác nội tại, cái đó gọi là sơ sở duyên duyên.

Tất cả năng duyên đều có thân sở duyên duyên, vì nếu không có cái để nó tư lự, ỷ thác nội tại thì thức không thể sinh khởi. Đối với sơ sở duyên duyên, có thể có, hoặc có thể không; vì không cần đến cái bên ngoài làm chỗ để ỷ thác và tư lự, thức vẫn có thể sinh khởi.

a. Về tâm phẩm thứ tám,

(1) Có giải thích nói, nó duy chỉ có thân sở duyên duyên; tùy theo lực của nghiệp nhân mà đối tượng xuất hiện một cách tự nhiên.[119]

(2) Giải thích khác nói, tất nhiên nó cũng có sơ sở duyên duyên; vì cần phải dựa gá chất thể sở biến bởi thức khác bấy giờ chính nó mới biến thái.[120]

(3) Lại giải thích khác[121] bác bỏ cả hai giải thích trên, nói rằng (a)[122] thân và độ của chính nó và của thức khác[123] có thể hỗ tương thọ dụng; vì sở biến của thức khác có thể làm chất thể cho chính nó. (b)[124] Nhưng chủng tử của chính nó không thể được thọ dụng bởi thức khác; vì sở biến của thức khác trở thành sở biến của thức này là không hợp lý, và vì không phải chủng tử của hết thảy hữu tình đều đồng nhau.[125] Nên nói tâm phẩm này không xác định có hay không có sơ sở duyên duyên trong tất cả mọi trạng thái.[126]

b. Vê tâm phẩm thứ bảy, trong trạng thái chưa được chuyển y, vì nó là câu sinh tất phải dựa gá chất thể bên ngoài,[127] cho nên nhất định có sơ sở duyên duyên. Trong điều kiện đã được chuyển y, không nhất định phải có, vì duyên đến chân như thì không cần đến chất thể ngoại tại.

c. Tâm phẩm thứ sáu, hành tướng của nó mãnh liệt, nhạy bén, nó vận hành một cách tư tại trong tất cả mọi trạng thái, hoặc Thánh hoặc phàm, có thể cần dựa gá ngoại chất, cũng có thể không cần; sơ sở duyên duyên không nhất định có hay không có.

d. Về năm tâm phẩm đầu, trong điều kiện chưa được chuyển y, nó thô, chậm lụt, yếu kém, nên cần gá chất thể ngoại tại, do vậy nhất định phải có sơ sở duyên duyên. Trong điều kiện đã được chuyển y, không nhất định phải có sơ sở duyên duyên, vì khi duyên đến các sự quá khứ hay vị lai các thứ thì không cần đến ngoại chất.

4. Tăng thượng duyên

a. Tổng quát.- Nếu pháp mà có thế dụng chi phối, có thể tùy thuận hay vi nghịch các pháp khác,[128] pháp ấy được gọi là tăng thượng duyên.[129]

Ba duyên kể trước tuy cũng có tính chất tăng thượng, nhưng ở trừ ba trường hợp duyên đã nói, còn lại được bao hàm trong duyên thứ tư này.

Tác dụng tùy thuận và vi nghịch gây ảnh hưởng trong bốn trường hợp, tức bốn căn cơ khác nhau; đó là: sinh, trụ, thành và đắc.[130]

b. Căn tăng thượng.- Tác dụng tăng thượng, tùy theo sự thể, tuy có nhiều, nhưng uy thế trổi vượt nhất chỉ có hai mươi hai loại. Nên biết, đó là hai mươi hai căn.[131] Đầu tiên, năm sắc căn lấy tịnh sắc của mắt v.v., sở biến của bản thức, làm tính thể. Hai căn nam và nữ thuộc thân căn, tức lấy một phần của thân căn làm tính thể. Mạng căn là khái niệm y trên phần vị của chủng tử trực tiếp của bản thức; nó không có tình thể riêng biệt. Ý thức, tổng thể lấy tám thức làm tính thể.[132] Năm thọ căn, tùy theo sự tích ứng, mỗi thức có tính thể của thọ riêng biệt.[133] Năm căn, tin v.v., lấy tín v.v., và niệm thiện các thứ[134] làm tính thể.

c. Ba vô lậu căn.- Thể vị[135] của căn vị tri đương tri có ba loại: (1) Trong căn bản vị, tại kiến đạo, trừ sát-na tối hậu vì bấy giờ không còn cái gì chưa biết để sẽ biết.[136] (2) Trong gia hành vị, tức bốn thiện căn noãn, đỉnh, nhẫn và thế đệ nhất; ở đây nó trực tiếp dẫn phát căn bản vị. (3) Trong tư lương vị, từ chỗ chuẩn bị để đạt được hiện quán Thánh đế nên phát khởi quyết định thắng thiện pháp dục,[137] cho đến trước khi đạt được thuận quyết trạch phần,[138] các thiện căn trong khỏang đó gọi là tư lương vị, vì gián tiếp nó tư trợ phát sinh căn bản vị.

Trong cả ba giai vị này, tính thể của căn này là năm thiên căn (tín, v.v.), và các căn ý, hỷ, lạc, xả. Trong các giai vị gia hành và tư lương, do mong cầu chứng đắc thắng pháp cao hơn mà sinh buồn rầu do đó cũng có ưu căn, nhưng nó không phải là thiện căn thực sự nên phần nhiều không đề cập.

Ba Vô sắc đầu[139] cũng có căn này, vì có trường hợp ở trong thắng kiến đạo[140] do đặc biệt tu tập thêm mà đạt được.

Hoặc ở hàng Nhị thừa mà hồi thú Đại thừa mà chưa chứng pháp không, trước khi vào Sơ địa Bồ tát, trí vô lậu về sinh không trong cả chín địa[141] đối với Bồ tát đều là căn vị tri đương tri.[142]

Kiến đạo của Bồ tát cũng có vị tri đương tri căn, nhưng nói là trước khi vào Sơ địa, vì thời gian rút ngắn.[143]

Bắt đầu sát na tối hậu của kiến đạo cho đến định kim cang dụ, trong khoảng đó, chín căn vô lậu, gồm tín v.v., thảy đều là dĩ tri căn.[144] Hạng chưa ly dục, do mong cầu giải thoát cao honư mà sinh ưu sầu, nhưng đây không phải là thiện căn thực sự cho nên phần nhiều không đề cập.

Chín vô lậu căn trong hang vô học, tất cả đều là cụ tri căn.

Trong Hữu đỉnh,[145] tuy du quán[146] vô lậu, nhưng vì không sang tỏ và nhạy bén nên không phải là ba căn cuối.

Tự tính của hai mươi hai căn là như vậy. Những vấn đề còn lại, nên biết, như Luận đã nói.[147]

2. MƯỜI NHÂN

1. Mười nhân và mười lăm y xứ

Bốn duyên như vậy, y trên mười lăm xứ,[148] do ý nghĩa sai biệt nên lập mười nhân.[149] Như thế nào, y trên mười lăm xứ mà lập?

a. Tùy thuyết nhân và ngữ y xứ

(1) Ngữ y xứ, tính thể của ngôn ngữ được dẫn khởi bởi pháp, danh, tưởng. Y trên cơ sở này mà lập tùy thuyết nhân.[150] Theo đó, y trên ngữ này mà nói lên ý nghĩa của những gì được thấy, được nghe các thứ. Đây là cái nói làm nhân cho cái được nói.[151]

Luận giải khác nói, đó là danh, tưởng và thấy.[152] Tức là tùy theo danh tự, tướng được nắm bắt, được chấp chặt, mà tùy theo đó ngôn thuyết khởi lên. Theo luận giải này, vậy nhân này là y xứ của ngữ.[153]

b. Quan đãi nhân và lãnh thọ y xứ

Lãnh thọ y xứ,[154] đó là tính chất quan hệ tương tác giữa cái lãnh thọ và cái được lãnh thọ. Y trên cơ sở này mà lập quan đãi nhân. Tức là, do quan hệ tương tác với cái này mà các sự vật kia hoặc sinh, hoặc trụ, hoặc thành, hoặc đắc.[155] Cái này là quan đãi nhân của cái kia.[156]

c. Khiên dẫn nhân và tập khí y xứ

Tập khí y xứ,[157] đó là chủng tử, hoặc nội tại hoặc ngoại tại, chưa đến giai đoạn chín muồi; y trên cơ sở này mà lập khiên dẫn nhân.[158] Vì nó lôi kéo dẫn đến kết quả của chính nó.[159]

d. Sinh khởi nhân và hữu nhuận chủng tử y xứ

Hữu nhuận chủng tử y xứ,[160] đó là các loại chủng tử nội hay ngoại tại đã đến giai đoạn chín muồi; y trên cơ sở này mà lập sinh khởi nhân; vì nó sản sinh kết quả gần của chính nó.[161]

e. Nhiếp thọ nhân và tổng thể sáu y xứ

Thứ năm, vô gián diệt y xứ,[162] đó là đẳng vô gián duyên của tâm, tâm sở các thứ.

Thứ sáu, cảnh giới y xứ, đó là sở duyên duyên của tâm, tâm sở các thứ.

Thứ bảy, căn y xứ, đó là sáu căn làm sở y cho tâm, tâm sở.

Thứ tám, tác dụng y xứ, đó là tác dụng công cụ đối với nghiệp được tạo tác.[163] Tức trừ chủng tử, các duyên khác hiên diện trợ lực.

Thứ chín, sĩ dụng y xứ,[164] đó là tác dụng của tác giả đối với nghiệp được tạo tác. Tức trừ chủng tử, các duyên khác hiên diện tác thành.[165]

Thứ mười, chân thật kiến y xứ, đó là kiến vô lậu; trừ việc dẫn sinh chủng tử của chính nó, những gì hỗ trợ, dẫn sinh, chứng đắc pháp vô lậu.

Y trên tổng thể sáu cơ sở này lập nhiếp thọ nhân.[166] Tức là, năm điều kiện nhiếp thọ trợ lực hoàn thành pháp hữu lậu, và đủ cả sáu điều kiện nhiếp thọ trợ lực hoàn thành vô lậu

f. Dẫn phát nhân và tùy thuận y xứ

Thứ mười một, tùy thuận y xứ, đó là các hành, bao gồm cả chủng tử và hiện hành, với các tính chất vô ký, nhiễm, thiện; chúng tùy thuận các pháp đồng loại có ưu thế hơn.[167] Y trên cơ sở này lập dẫn phát nhân.[168]

g. Định dị nhân và sai biệt công năng y xứ

Thứ mười hai, sai biệt công năng y xứ, [169]đó là các pháp hữu vi, mà mỗi thứ, có thế lực khiến phát khời hay chứng đắc quả của chính nó; y trên cơ sở này lập định dị nhân.[170] Tức là, mỗi thứ sản sinh quả trong giới hệ của nó, và khiến đạt được quả trong Thừa của nó.[171]

h. Đồng sự nhân và hòa hiệp y xứ

Thứ mưới ba, hòa hiệp y xứ,[172] lực hòa hiệp của các y xứ, từ lãnh thọ cho đến sai biệt công năng y xứ, trong sự sản sinh, tồn tại, hoàn thành, đạt quả. Y trên cơ sở này lập đồng sự nhân. Tức là, từ quan đãi nhân cho đến định dị nhân, các nhân này đều cùng chung hoạt động như sản sinh, tồn tại, v.v.[173]

i. Tương vi nhân và chướng ngại y xứ

Chướng ngại y xứ, đó là pháp gây chướng ngại trong quá trình sản sinh, tồn tại, hoàn thành, đạt quả. Y trên cơ sở này lập tương vi nhân. Vì nó vi nghịch các sự kiện sinh v.v.[174]

j. Bất tương vi nhân và bất chướng ngại y xứ

Bất chướng ngại y xứ, đó là pháp không gay chướng ngại trong quá trình sinh, trụ, thành, đắc. Y trên cơ sở này lập bất tương vi nhân. Vì nó không vi nghịch sự kiện sinh v.v.[175]

2. Mười nhân và hai nhân

Mười nhân như vậy được bao hàm trong hai nhân: năng sinh nhân và phương tiện nhân. Bồ tát địa[176] nói, chủng tử dẫn khởi và chủng tử sinh khởi, gọi là năng sinh nhân. Ngoài ra, được kể trong phương tiện nhân. Điều này có nghĩa rằng, các chủng tử làm nhân duyên trong các nhân khiên dẫn, sinh khởi, định dị, đồng sự, bất tương vi, trong trạng thái chưa chín muồi, được gọi là chủng tử khiên dẫn. Khi ở trong điều kiện đã chín muồi, nó được gọi là chủng tử sinh khởi. Vì các chùng tử làm nhân duyên trong sáu loại nhân đều thuộc về một trong hai trạng thái này.

Mặc dù cũng có pháp hiện khởi là năng sinh nhân,[177] như trong bốn nhân, nó sản sinh chủng tử của nó, nhưng phần nhiều gián đoạn, vì vậy Luận bỏ qua không đề cập.[178]

Hoặc cái trực tiếp hoàn thành quả, cái đó cũng được gọi là chủng tử. Thí dụ, các thứ hiện hành như thóc lúa cũng được gọi là chủng tử.

Các nhân còn lại, nhân thứ nhất tùy thuyết, thứ hai quan đãi, thứ năm nhiếp thọ, thứ chín tương vi, và các pháp không phải là nhân duyên mà thuộc trong sáu nhân nêu trên, chúng được kể ở ngoài các chủng tử làm nhân duyên trong trạng thái sống hay chín,[179] do đó được kể chung trong phương tiện nhân.

Không phải rằng hai loại chủng tử này duy chỉ thuộc hai nhân kia; vì trong bốn nhân còn lại cũng có chủng tử làm nhân duyên. Không phải rằng tám nhân đó được nói là những nhân còn lại. Vì trong hai nhân ấy cũng có chủng tử không phải là nhân duyên.

Hữu tầm địa[180] nói, sinh khởi nhân là năng sinh nhân, còn lại được kể trong phương tiện. Đại ý đoạn văn này nói, trong sáu nhân, hiện hành hay chủng tử nào làm nhân duyên, nó được gọi là sinh khởi nhân, vì nó trực tiếp sản sinh quả đồng loại của chính nó. Ngoài ra, thảy đều được kể trong phương tiện.

Không phải rằng sinh khởi nhân nói ở đây duy chỉ thuộc (sinh khởi) nhân (trong mười nhân) kia; vì trong năm nhân còn lại cũng có nhân duyên. Cũng không phải rằng chín nhân kia được gọi là những nhân còn lại, vì trong sinh khởi nhân cũng có cái không phải là nhân duyên.

Hoặc chủng tử khiên dẫn và chủng tử sinh khởi được nói trong Bồ tát địa cũng chính là hai nhân kia (trong mười nhân). Các nhân còn lại, tức tám nhân còn lại. Tuy trong hai nhân này cũng có cái không phải là năng sinh nhân, nhưng vì chủng tử làm nhân duyên có ưu thế, điều này được thấy rõ, nên đặc biệt nói riêng. Trong các nhân còn lại tuy cũng có cái không phải là phương tiện nhân, nhưng ảnh hưởng chi phối lớn, điều này được thấy rõ nên đặc biệt nói riêng.

Hữu tầm địa nói, sinh khởi nhân, đó là năng sinh nhân, ngoài ra là phương tiện. Sinh khởi nói ở đây tức là sinh khởi nhân (trong mười nhân) kia. Các nhân còn lại, nên biết đó là chín nhân kia.

Tuy trong sinh khởi cũng có chủng tử không phải là nhân duyên, nhưng các quả rất gần, để nêu rõ điều này này đặc biệt nói riêng. Tuy trong khiên dẫn chũng có chủng tử là nhân duyên nhưng vì cách quá khá xa, ẩn nên không đề cập.

Ngoài ra được kể là phương tiện nhân, cần được biết, chuẩn theo trên đây.

3. Bốn duyên và mười lăm y xứ

Bốn duyên như đã được nói được lập trên cơ sở nào? Vả, chúng bao hàm mười nhân và hai nhân như thế nào?

Luận[181] nói, nhân duyên được lập y trên chủng tử. Y vô gián diệt lập đẳng vô gián duyên. Y cảnh giới lập sở duyên duyên. Y trên những gì còn lại lập tăng thượng duyên.

Trong đó, nói chủng tử, là các chủng làm nhân duyên thuộc trong sáu y xứ: thứ tư (hữu nhuận chủng tử y xứ), thứ mười một (tùy thuận y xứ), thứ mười hai (sai biệt công năng y xứ), thứ mười ba (hòa hiệp y xứ), thứ mười lăm (bất chướng ngại y xứ).

Tuy những thứ hiện hành trong bốn y xứ[182] cũng có thứ làm nhân duyên, nhưng vì phần nhiều gián đoạn nên đây lược qua không đề cập.

Hoặc các hiện hành này cũng có thể trực tiếp hoàn thành quả của nó, như ngoại giới thóc lúa các thứ, nên cũng được gọi là chủng tử.

Hoặc nói chủng tử duy chỉ thuộc thứ tư (hữu nhuận chủng tử y xứ). Các vấn đề, thân và sơ, ẩn và hiển, thủ và xả, y như đã nói trên.

Nói vô gián diệt và cảnh giới y xứ, nên biết, đó là nêu tổng quát y xứ của hai duyên, chứ không phải chỉ có hai y xứ thứ năm và thứ sáu này. Trong các y xứ còn lại cũng có  nghĩa của hai duyên trung gian.[183]

Hoặc nói duy chỉ y xứ thứ năm và thứ sáu. Các y xứ còn lại tuy có, nhưng vì ít và ẩn nên lược qua không đề cập.

Luận[184] nói nhân duyên bao hàm năng sinh nhân. Tăng thượng duyên tính tức phương tiện nhân. Hai duyên trung gian bao hàm nhiếp thọ nhân.

Mặc dù trong phương tiện nhân hàm đủ ba duyên sau, nhưng tăng thượng duyên nhiều hơn, do đó được nêu riêng.

Các nhân còn lại[185] cũng có hai duyên trung gian, nhưng trọng nhiếp thọ nhân nó hiển nhiên hơn[186] nên đây đặc biệt nêu riêng.

Duyên thứ nhất bao hàm trong năng sinh nhân, tho các phương diện cộng thông, hay cục bộ, như trước.[187]

3. NĂM QUẢ

Nhân duyên như được nói tất phải có quả. Có bao nhiêu loại quả? Y trên những xứ nào mà có?

a. Định nghĩa

Quả, có năm loại:[188]

1. Dị thục,[189] đó là pháp vô ký, thuộc dị thục sinh,[190] trong tương tục của bản thân[191], được chiêu dẫn bởi các pháp bất thiện và thiện hữu lậu.

2. Đẳng lưu,[192] đó đồng loại được dẫn bới tập tính thiện v.v.; hoặc quả vận chuyển theo sau tương tợ nghiệp đi trước.

3. Ly hệ quả, [193] đó là pháp vô vi, thiện,[194] được chứng đắc do đoạn trừ các chướng bằng Thánh đạo vô lậu.

4. Sĩ dụng quả,[195] đó là các sự nghiệp được hoàn tất bởi các công cụ hành động dựa vào các tác giả.

5. Tăng thượng quả,[196] trừ bốn trương hợp trên, các quả đạt được còn lại.

b. Các y xứ

Các Luận, như Du-già,[197] nói y trên tập khí y xứ mà đạt được quả dị thục. Y tùy thuận y xứ đạt được quả đẳng lưu. Y chân kiên y xứ được quả ly hệ. Y sĩ dụng y xứ được quả sĩ dụng. Y trên các y xứ còn lại đạt được quả tăng thượng.

a. Giải thích 1.[198] Nói tập khí xứ, là chỉ cho các y xứ[199] mà trong đó tất cả các công năng  chiêu cảm quả dị thục.

Nói tùy thuận xứ, là chỉ các y xứ[200] mà trong đó tất cả các công năng  dẫn đến quả đăng lưu.

Nói chân kiến xứ, là chỉ các y xứ[201] mà trong đó tất cả các công năng  chứng quả ly hệ.

Nói sĩ dụng xư, là chỉ các y xứ[202] tất cả công năng trong hoàn tất cảm quả sĩ dụng.

Nói các y xứ còn lại, là chỉ tất các y xứ[203] tất cả công năng trong đạt được quả tăng thượng.

Nếu không như vậy, sẽ phạm lỗi hoặc quá rộng, hoặc quá hẹp.

b. Giải thích 2. Hoặc nói tập khí là duy chỉ nói đến y xứ thứ ba. Tuy dị thục nhân[204] cũng có mặt trong các y xứ khác,[205] và trong y xứ này cũng có mặt dị thục nhân. Nhưng trong dị thục nhân, nhân và quả cách nhau xa.[206] Trong tập khí này cũng vậy. Do đó đặc biệt nêu riêng.

Tùy thuận duy chỉ thuộc y xứ thứ mười một. Tuy quả đẳng lưu cũng đạt được trong các y xứ khác,[207] và trong y xứ (tùy thuận) này quả phi đẳng lưu cũng đạt được. Nhưng ở đây nhân là cái hấp dẫn cái cao hơn, hành tướng này rất hiển nhiên. Tùy thuận y xứ cũng vậy, do đặc biệt nêu riêng.

Nói chân kiến xứ, duy chỉ đề cập xứ thứ mười. Tuy trong các xứ khác[208] cũng có sự chứng quả ly hệ, và trong xứ này quả phi ly hệ cũng đạt được. Nhưng trong đây hình thái của sự chứng quả ly hệ rất rõ ràng, do đó nói riêng.

Nói sĩ dụng xứ, duy chỉ đề cập xứ thứ chín. Tuy các xứ khác[209] cũng dẫn đến hoàn tất quả sĩ dụng, và trong xứ này nó cũng lôi cuôn quả tăng thượng. Nhưng tên gọi của nó đã cho thấy rõ, do đó nói riêng.

Còn lại tức chỉ mười y xứ còn lại. Tuy trong mười một y xứ này các quả khác cũng đạt được, và trong các xứ khác cũng dẫn đến quả tăng thượng, nhưng trong mười một xứ này dẫn đến quả tăng thượng nhiều nhất, do đó đặc biệt nêu riêng.

c. Quả với nhân và duyên

 Trong năm quả được nói như vậy, quả dị thục được đạt đến từ các nhân khiên dẫn, sinh khởi, định dị, đồng sự, bất tương vi, và duyên tăng thượng.

Quả đẳng lưu đạt được từ các nhân khiien dẫn, sinh khởi, nhiếp thọ, dẫn phát, định dị, đồng sự, bất tương vi, và duyên thứ nhất.

Qủa ly hệ đạt được từ các nhân nhiếp thọ, dẫn phát, định dị, đồng sự, bất tương vi, và duyên tăng thượng.

Quả sĩ dụng, có hai thuyết, a. đạt được từ các nhân quan đãi, nhiếp thọ, đồng sự, bất tương vi và duyên tăng thượng; b. từ quan đãi, khiến dẫn, sinh khởi, nhiếp thọ, dẫn phát, định dị, đồng sự, bất tương vi, và ba duyên trừ sở duyên.

Quả tăng thượng, từ tất cả mười nhân và bốn duyên. Đã luận xong vấn đề phụ, nay nên trở lại đề tài chính.[210]

TIẾT 4. CHỦNG TỬ VÀ HIỆN HÀNH

a. Chủng tử sinh hiện hành.- Trong bản thức, các chủng tử có thể tạo thành ba duyên, trừ đẳng vô gián, làm phát sinh hiện hành phân biệt.[211] (1) Mỗi thức đều có chủng tử trực tiếp của nó, đó là nhân duyên. (2) Làm sở duyên duyên cho các năng duyên.[212] (3) Nếu đối với các hiện hành mà chủng tử có sự trợ lực hoặc không chướng ngại, đó là tăng thượng duyên.

Sự phát sinh các hiện hành tịnh, nên biết, cũng vậy.

b. Hiện hành sinh hiện hành.- Các pháp hiện hành phân biệt trong quan hệ với nhau[213] có thể làm ba duyên, không kể nhân duyên.

(1) Trong các loại hữu tình, quan hệ tự thân và tha thân[214] có thể có hai duyên, trừ đẳng vô gián.

(2) Tự nội bộ của tám tụ thức,[215] mối quan hệ giữa tụ này với tụ kia tất nhiên có tăng thượng duyên; sở duyên duyên, hoặc có hoặc không. Thức thứ tám đối với bảy thức kia thì có sở duyên duyên;[216] nhưng bảy thức đối với thứ tám thì không. Vì bảy thức kia không phải là chất thể[217] để thức thứ tám dựa vào. Thức thứ bảy đối với sáu thức đầu, năm không, một có. [218] Sáu thức kia đối với thứ bảy, hoàn toàn không.[219] Thức thứ sáu không làm sở duyên duyên cho nắm thức đầu; nhưng năm thức này có thể làm sở duyên duyên cho thứ sáu. Bởi vì năm thức chỉ gá vào tướng phần của thứ tám.[220]

(3) Trong nội bộ mỗi thức, hiện hành trước sau đồng loại, thứ sáu có thể làm ba duyên. Các thức còn lại, ahi duyên, trừ sở duyên. Vì chúng chỉ bắt nắm đối tượng hiện tại.

Nếu cho rằng[221] kiến phần thuộc niệm sau của năm thức có thể duyên đến tương phần thuộc niệm trước của chúng, thế thì niệm trước và niệm sau của năm thức và thứ bảy cũng có ba duyên. Như vậy, bảy thức có thể làm sở duyên cho thứ tám, vì chúng huân tập thành chủng tử tướng và kiến phần của thứ tám.[222]

(4) Đồng một tụ nhưng khác thể[223] mà quan hệ với nhau thì chỉ có tăng thượng duyên. Vì chúng không duyên đến nhau.[224] Chất thể mà các pháp tương ưng gá vào đồng nhất với nhau.[225]

Hoặc căn cứ theo kiến phần mà nói thì chúng không là sở duyên duyên cho nhau. Căn cứ theo tướng phần mà nói thì có duyên đến nhau.[226] Tức các tướng phần làm chất thể cho nhau để hiện khởi;[227] như chủng tử ở trong thức trở thành chất thể của tướng phần cho xúc các thứ. Nếu không như vậy, trong Vô sắc giới chúng không có đối tượng.[228] Giả sử ở đó có sự biến hiện của sắc,[229] nhưng nhất đinh cũng chỉ duyên đến chủng tử. Không nên nói rằng cảnh của kiến phần[230] không đồng một chất thể.

(5) Trong trường hợp đồng thể,[231] tướng phần làm hai duyên cho kiến phần. Kiến phần đối với tướng phần chỉ là tăng thượng duyên.

Kiến phần đối với tự chứng phần cũng vậy.[232] Hai phần còn lại,[233] quan hệ hỗ tương, cả hai đều làm hai duyên cho nhau.

Trong, không căn cứ chủng tử để nói đến tướng phần, mà chỉ nói hiện khởi làm duyên cho nhau.[234]

(6) Tám tụ tịnh thức,[235] tự thân và tha thân đều có sở duyên, vì có thể duyên khắp. Duy chỉ kiến phần không phải là sở duyên của tướng phần; vì theo lý tướng phần không có tác dụng làm chủ thể duyên.

c. Hiện hành sinh chủng tử.- Như trên đã nói, hiện hành phân biệt[236] do duyên vào chủng tử và hiện hành mà phát sinh;[237] vậy, theo lý, chủng tử tất cũng duyên vào hiện hành và chủng tử được sản sinh. Hiện hành và chủng tử đối với chủng tử[238] có thể làm bao nhiêu duyên?

Chủng tử được sản sinh tất không phải do hai duyên giữa[239], vì hai duyên này chỉ có ý nghĩa đối với tâm, tâm sở đang hoạt động.

Hiện hành làm đủ cả hai duyên[240] đối với chủng tử trực tiêp của nó; nếu không phải là chủng tử trực tiêp của nó thì chỉ có tăng thượng duyên.

Chủng tử đối với chủng tử trực tiếp của nó cũng có đủ hai duyên; nếu không phải là chủng tử trực tiếp[241] thì chỉ có tăng thượng duyên.

Căn cứ trên mối quan hệ hỗ tương trong nội thức làm điều kiện cho sự sinh khởi, lý và giáo về nhân quản của phân biệt được chứng minh. Chủ trương rằng cần có các điều kiện ngoại tại, giả sử tồn tại điều kiện như vậy, thì sự tồn tại ấy cũng không có tác dụng gì. Huống nữa quan điểm ấy trái với lý và giáo, vậy sao vẫn cố chấp?

Mặc duy từ “phân biệt” chỉ chung cho tâm và tâm sở của cả ba giới; nhưng trong các Thánh giáo tùy theo sự ưu thắng mà ý nghĩa được hiện thị qua nhiều phương diện khác nhau, hoặc nói có hai, có ba, bốn, năm, v.v. [242] Ý nghĩa phân biệt được phân tích chi tiết trong các luận.



[1] Giả thuyết, Skt. upacāra, được giải thích trong Chương I.

[2] Sthiramati: … na vijñāparimāṇāt pṛthag asty ātmā dharmā cet, ngoài biến thái của thức, không tồn những ngã và những pháp nào khác biệt.

[3] Skt.  vijñānapariṇāmo’yaṃ vikalpo yad vikalpyate/ tena tan nāsti tenedaṃ sarvaṃ vijñaptimātram//17/ sự biến thái của thức này chính là sự cấu trúc sai biệt. Do bởi đó, mà cái được cấu trúc sai biệt không tồn tại. Vì vậy nói, tất cả cái này duy chỉ là thức hiển thị.

[4] Giải thích của Hộ Pháp về ý nghĩa chuyển biến.

[5] Biện trung biên:識生變似義有情我及了. Madhyānta, k. 4.: arthasattvātmavijñaptipratibhāsaṁ prajāyate| vijñānaṁ, khi thức phát sinh, nó xuất hiện là là ảnh chiếu của ngoại cảnh, sinh loại, tự ngã, và thức hiển thị.

[6] Khuy Cơ: chuyển biến, 1. hoặc có nghĩa là biến hiện tức tự thể của thức biến hiện thành ảnh chiếu của nó gồm hai phần kiến và tướng. 2. Hoặc có nghĩa là biến dị, tự thể của nó biến đổi thành cái khác. 3. Hoặc có nghĩa là cải biến.

[7] Sthiramati: yad vikalpyate bhājanam ātmā skandhadhātvāyatanarūpaśabdādikaṃ vastu tan nāsty ataḥ sa vijñānapariṇāmo vikalpa ucyate/ Cái được phân biệt (vikalpyate: được cấu trúc bởi thức), tức thế giới tự nhiên, tự ngã, uẩn, giới, xứ, thật vật, cái đó không tồn tại, vì vậy, sự biến thái của thức được gọi là sự phân biệt (vikalpa: sự cấu trúc của thức).

[8] Hai tướng: năng thủ (grāhaka) và sở thủ (gṛhyaka).

[9] Sthiramati: mātraśabdas tadadhikaviṣayavyavacchedārthaḥ, từ duy chỉ (mātra) có mục đích loại trừ các đối tượng ngoài nó.

[10] Giải thích của Nan-đà về ý nghĩa chuyển biến.

[11] Sthiramati, dẫn Madhyāīnta, k. i. 9: abhūtaparikalpas tu cittacaittās tridhātukāḥ, sự cấu trúc không bất ấy là tâm và tâm sở hệ thuộc tam giới; Huyền Trang:三界心心所 是虛妄分別.

[12] Thuật ký:  Tất cả các bộ phái đều thừa nhận sự tồn tại của tâm (thức). Các nhà Duy thức ở đây xem tâm áy là tác viên của sự phân biệt hư vọng.

[13] Đã được nói ở phần đầu, phê bình các thuyết liên hệ ngã và pháp để chứng minh giáo nghĩa Duy thức.

[14] Thập địa kinh 5 (T10n287, tr. 555a25):了達三界唯是心十二有支依心有. Thập địa luận 8 (T26n1522, tr. 169a15), dẫn kinh: 是菩薩作是念三界虛妄但是一心作. Cf. Dasabhūmika, k. vi. 16: te cittamātra ti traidhātukam otaranti, api cā bhavāṅga iti dvādaśa ekacitte/ Họ vượt qua ba cõi vốn duy chỉ là tâm, và 12 hữu chi cũng chỉ là một tâm. Cf. Laṅkā 85. 28: mama tu mahāmate na nityā nānityā… bāhyabhāvānabhyupagamāt tribhavacittamātropadeśāt…, “Ta không nói thường hay vô thường… vì hữu thể ngoại tại không được thừa nhận, vì ba hữu được chỉ thị duy chỉ tâm. Hán dịch, T16n672, tr. 618a18.  Hoa nghiêm (Phật-đà) 25, T9n278, tr. 558c10: 三界虛妄。但是心作。Hoa nghiêm (Thật-xoa) 37, T10n279, tr. 194a14: 三界所有。唯是一心。

[15] Giải thâm mật 3, T16n676, tr. 698b2: 我說識所緣唯識所現故。Dẫn bởi Nhiếp luận (Vô Tính) 4,  T31n1598, tr.400a10.

[16] Khuy Cơ: dẫn Lăng-già, nhưng không có minh văn; đại ý, được nói nhiều nơi trong kinh.

[17] Duy-ma-cật 1,  T14n475, tr. 541b18: 心垢故眾生垢 心淨故眾生淨. Vô Cấu Xứng 2, T14n476, tr. 563b28: 心雜染故有情雜染 心清淨故有情清淨. Vimalakīrti, 7b6: uktaṃ hi bhagavatā cittasaṃkleśāt sattvāḥ saṃkliśyante cittavyavadānād viśudhyante.

[18] Dẫn bởi Nhiếp luận bản 1, T31n1594, tr. 139a12: 如世尊言若諸菩薩成就四法能隨悟入。Không nêu xuất xứ. Giải thích bởi Thế Thân, T31n1597, tr. 340b28; bởi Vô Tính, T31n1598, tr. 402b26; cũng không nêu xuất xứ. Giải thích đoạn dẫn bởi Vô Tính: “1. Trí thức tướng tương vi: Nhận thức trái ngược nhau, gọi là thức tương vi. Nguyên nhân làm phát sinh thức này, gọi là tướng. Biết rõ ràng tướng ấy duy chỉ là sự biến hiện của nội tâm, hoàn toàn không tồn tại ngoại cảnh; sự nhận thức này gọi là trí. Như ngạ quỷ, cầm thú, chư thiên, loài người, cùng nhìn tháy con song, nhưng do lực chi phối bị biến đổi bởi nghiệp của chính nó nên ngạ quỷ thấy một nơi đầy những máy mủ; các động vật như cá thì thấy  nó như là nhà, là con đường để đi; chư thiên thì thấy đó là mảnh đất đẹp rực rỡ đầy các châu ngọc; loài người thì thấy đólà nước trong mát với những gợn sóng. Nếu người nhập định không vô biên xứ thì thấy chỗ đó chỉ là hư không. Một vật có thật mà lại là nguyên nhân làm phát sinh các nhận thức đa dạng trái ngược nhâu như thế thì không phù hợp đạo lý. Làm sao mà một con song này, vốn tràn đầy máu mủ lại có người cầm dao gậy đứng hai bên bờ canh giữ, lại có thể là ngôi nhà đủ các mùi vị thơm, lại cũng là mảnh đất sạch sẽ, có nhiều ngả tư, trang hoàng đày những châu bảo, rồi lại cũnglà dòng nước trong mát với những gợn sóng nhấp nhô, và cũng lại là cảnh giới của hư không định? … 2. Trí nhận thức hiện thức mà không có đối tượng: đối tương thuộc quá khứ và vị lai đều không thật hữu; điều này cũng đã được công nhận bởi Kinh bộ. Cảnh mông hoàn toàn không thật, một người đều công nhận. Các ảnh tương trong sở hành của tam-ma-địa được chứng minh là không tồn tại, cũng không phải cấi được hồi ức. Ảnh tượng trong nước thảy đều hoàn toàn không thật.. Trong đó, đói tương không có thật nhưng thức vấn phát sinh. 3. Trí không điên đảo mà không cần dụng công:  bản văn tuy đã rõ, nhưng cũng nên nói thêm một chút. Nếu cho rằng các đối tượng mà kẻ phàm ngu bắt nắm được thảy đều là tồn tại chân thật, thế thì  tự nhiên giải thoát mà không cần dụng công, vì tất cả những gì mà hữu tình thấy thẩy đều chân thật. 4. Trí tùy chuyển theo ba loại thắng tri: (a) Tât cả các Bồ tát đã đạt tâm tự tại, tức tâm đã nhuần nhuyển có thể thực hiện bất cứ điều gì. Và Những vị đã chứng đắc tĩnh lự, đó là các Thanh văn và Độc giác đã đạt đến trạng thái tâm nhất cảnh của tĩnh lự thanh tịnh, tùy theo ý hướng quyết định, các vị ấy có thể hiển hiện các cảnh giới, tức là tùy theo mong muốn bởi thế lực của ý hướng quyết định vị ấy có thể biên đất thành nước. (b Các vị đạt được xa-ma-tha và tu pháp quán; tức đâ đạt được đinh xa-ma-tha, do định này tẩm ướt tương tục khiến cho tâm tịch tĩnh. Nói tu, là nói tương ưng với cảnh không, hoặc tương ứng với đối tượng là bốn Thánh đế. Chỉ và quán vận chuyển cùng lúc nên nói là tương ưng. Bằng xa-ma-th tức định ấy tu pháp quán,  tức là, về sau quán theo Khế kinh, khi diệu tuệ chánh pháp vứa khởi lên, bấy giờ  các đối tượng liền hiển hiện. Tùy theomột giáo nghĩa nào đó trong Kinh, như ý nghĩa vô thường chẳng hạn, khi tác ý tư duy về đối tượng biến diệt nhanh chóng trong từng sát như vậy, các cảnh giới khác nhau với ý nghĩa như vậy cùng hiển hiện. Đối tượng nếu có thật, trí phân biệt như vậy không thể phát sinh…”

[19] Thuật Ký: dẫn Hậu nghiêm.

[20] Cực thành nhãn thức, loại trừ các tính chất mà các bộ phái khác không thừa nhận; đây chỉ nói đến nhẫn thức với tính chất phổ quát mà tất cả đều công nhận.

[21] Mắt chỉ có nhận thức đối tương phù hợp tức là sắc, chứ không phải thanh các thứ. Tỷ lượng thứ nhất, Tông: nhãn thức cực thành không  thân duyên sắc bên ngoài nó. Nhân: Vì là một trong năm thức. Dụ: Như các thức khác.

[22] Tỷ lượng thứ hai. Thức khác, chỉ thức thứ sáu. Viên Trắc: cùng bao hàm cả thứ bảy và tám.

[23] Đối tượng của thức nào, trong sáu thức, chỉ liên hệ đến thức đó, không thể là đối tượng của thức khác. Mệnh đề này tông của hai tỷ lượng, thứ ba và thứ tư  tiếp theo.

[24] Năng duyên, chỉ kiến phần, mà thể của nó chính là thức. Tỷ lượng thứ ba.

[25] Chỉ tâm sở. Nghĩa diễn 8 (tr. 713b7): khi là đối tượng của tha tâm trí thì tâm và tâm sở cũng có tính chất sở duyên.

[26] Tỷ lượng thứ tư, mệnh đề được nêu chung trong tỷ lượng thứ ba.

[27] Dẫn Trung biên: 虛妄分別有 於此二都無 此中唯有空 於彼亦有此. Cf. Madhyānta, k. i. 2: abhūtaparikalpo’sti dvayaṃ tatra na vidyate/ śūnyatā vidyate tv atra tasyām api sa vidyate/ Cái tồn tại là chỉnh thể cấu trúc bất thực (Hán: hư vọng phân biệt). Ở đây, nhị nguyên không hiện thực. Nhưng trong đó Không tính hiện thực. Chỉnh thể cấu trúc ấy cũng hiện thực trong Không tính. Gải thích của Thế Thân: chỉnh thể câu trúc bất thực là sự cấu trúc (vikalpa: phân biệt) phân chia khách thể và chủ thể (grāhya-grāhaka: sở thủ và năng thủ). Nhị nguyên (dvayam) là khách thể (grāhya) và chủ thể (grāhaka). Nhưng trong cấu trúc bất thực tồn tại Không tính vì vằng mặt khách thể và chủ thể.

[28] Dẫn Trung biên:  故說一切法 非空非不空 有無及有故 是則契中道. Cf. Madhyānta, k. i 3: na  śūnyaṃ nāpi cāśūnyaṃ tasmāt sarvaṃ vidhīyate/ sattvād asattvāt sattvāc ca madhyamā pratipac ca sā/  Do đó, tất cả thực tại không được phân bố là Không, không phải Bất không. Không tính, do bởi là hữu tính và do bởi phi hữu tính, và cũng do bởi hữu tính, chính là trung đạo. Thế Thân: do bởi Không tính và do bởi cấu trúc bất thực nên thực tại không phải là không (śūnyam). Tất ca thực tại (sarvam) là nói đến các pháp hữu vi (saṃskṛtam) vốn là chỉnh thể cấu trúc bất thực; và vô vi (asaṃskṛtam) tức là Không tính (śūnyatā). “Được phân bố” (vidhīyate) là “được xác nhận” (nirdiśyate). Do bởi hữu tính (sattvāt) là nói đến tồn tại chỉnh thể cấu trúc bất thực. Do bởi phi hữu tính là nói đến không tồn tại của nhị nguyên chủ khách. Và cũng do bới hữu tính (sattvāc ca), là nói đến Không tính trong chỉnh thể cấu trúc bất thực và cũng nói đến cấu trúc bất thực trong Không tính. Không tính ấy chính là trung đạo (madhyamā pratipat).

[29] Khi một vật xuất hiện, địa điểm (xứ) và thời gian phải xác định: nó xuất hiện tại một nơi và một lúc nào đó nhất định. Nhưng thân không xác định: cùng một vật, quỷ thấy khác, người thấy khác. Tác dụng của nó cũng bất định: vật không có thực thì không có tác dụng. Cf. Nhị thập luận: 若識無實境 則處時決定 相續不決定 作用不應成. Viṃśatīkā k. 2:  yadi vijñaptir anarthā niyamo deśakālayoḥ/ saṃtanasyāniyamaś ca yuktā kṛtyakriyā na ca/ Nếu chỉ tồn tại thức hiển thị mà không tồn tại đối tượng, không thể giải thích sự xác định của địa điểm và thời gian, sự không xác định của tương tục, và tác dụng không được thực hiện.

[30] Nhị thập luận: 處時定如夢 身不定如鬼  同見膿河等  如夢損有用. Viṃśatikā k.3ab.: deśādiniyamaḥ siddhaḥ svapnavat pretavat punaḥ| santānāniyamaḥ sarvaiḥ pūyanadyādidarśane/ svapnopaghātavat kṛtyakriyā … Sự xác định của địa điểm và thời gian được chứng minh như  chiêm bao. (Trong chiêm bao, sự vật vẫn phải được thấy xuất hiện tại một địa điểm nào đó vào một thời gian nào đó). Sự không xác định của tương tục thân, như  ngạ quỷ, chúng thấy con sông chỉ là máu mủ (trong khi người thấy là nước). Tác dụng hữu hiệu thì giống như xuất tinh do chiêm bao (hành động không thực nhưng hiệu quả có thực).

[31] Trong 12 xứ, không duy chỉ có tấm pháp, mà cồn có 5 nội xứ và 5 ngoại xứ thỷa đều thuộc sắc.

[32] Nhị thập luận: 識從自種生 似境相而轉  為成內外處 佛說彼為十. Viṃśatikā, k. 9: yataḥ svabījād vijñaptir yadābhāsā pravartate| dvividhāyatanatvena te tasyā munir abravīt. Từ chủng tử của chính nó, thức hiển thị hiện hành, cũng chính chủng tử đó hiện hành như là những ảnh tượng ngoại giới. Bằng hai loại xứ, dức Mâu-ni đề cập đến hai thứ chủng tử của thưc ấy. Bằng hai loại xứ (nội và ngoại), đức Mâu-ni đề cập các ảnh tợ của thức ấy.

[33] Viṃśatika: dvayādvjñānaṣaṭkam.

[34] Nhị thập luận: 依此教能入 數取趣無我 所執法無我 復依餘教入. Ngộ nhập nhân vô ngã bằng giáo nghĩa 12 xứ; nhưng để ngộ nhập pháp vô ngãm cần tư duy giáo pháp khác nữa, đó lag gióa nghiac duy thức.

[35] Nhiếp luận bản, tr. 138b25: 若此諸識亦體是識。何故乃似色性顯現。一類堅住相續而轉。Nếu thể của các thức củng là thức này, vì sao nó hiển hiện như là tợ sắc…? Luận thích (Vô Tính), tr. 401a14: câu hỏi liên hệ đến sắc thức: thức có sắc. Như  nhãn thức, gọi là thức có sắc. Đồng nhất loại, vì trước sau tương tợ. Bền vững, vì tồn tại trong một thời gian dài.

[36] Nhiếp luận (Vô Tính), ibid.: các sắc thức (thức có sắc) …, nhãn thức các thứ làm y xứ cho các pháp điên đảo và tạp nhiễm

[37] Khuy Cơ: nếu sắc các thứ không tồn tại.

[38] Nhiếp luận bản, tr. 138c3: 亂相及亂體 應許為色識 及與非色識 若無餘亦無. Luận thích (Thế Thân), tr. 339a25; (Vô Tính), ibid.

[39] Nhiếp luận (Thế Thân), tr. 339b4: loạn tướng chỉ thức có sắc; lọan thể, chỉ thức phi sắc.  Thuật ký: Loạn, tức sự điên đảo vọng tưởng của tâm. Do sắc thức (thức có sắc, hay thức biến tợ sắc) làm nhân mà phát khởi vọng tâm, nên nói sắc thức là loạn tướng. Loạn thể chính là các thức.

[40] Nhiếp luận (Thế Thân), ibid.: Nếu không tồn tại nguyên nhân mê loạn là sắc thức, thì cũng không tồn tại quả là phi sắc thức.

[41] Viṃśatika: pramāṇavaśād astitvaṃ nāstitvaṃ vā nirdhāryate sarveṣāṃ ca pramāṇānāṃ pratyakṣaṃ pramāṇaṃ gariṣṭham ity asaty arthe katham iyaṃ buddhir bhavati pratyakṣam iti.  Do thế lực của tri lượng mà phán định có hay không có. Trong cả tri lượng, hiện lượng có thẩm quyền nhất. Vậy, nếu không tồn tịa đối tượng ngoại giới, làm sao có tri giác hiện hượng này? Cf. Nhị thập luận.

[42] Viṃśatikā: yadā ca sā pratyakṣabuddhir na bhavatīdaṃ me pratyakṣam iti tadā na so’rtho dṛśyate manovijñānenaiva paricceddāc cakṣrvijñānasya ca tadā niruddhatvād iti. Khi một người nói rằng tôi đang trực giác cái này, đó không phải là giác tri hiện lượng; bấy giờ cảnh không hiện tiền, mà do phân biệt bởi ý thức, vì khi đó nhãn thức đã diệt. Cf. Nhị thập luận.

[43] Viṃśatikā, k. 16: pratyakṣabuddhiḥ svapnādau yathā sā ca yadā tadā| na so'rtho dṛśyate tasya pratyakṣatvaṁ kathaṁ matam. Giác tri hiện lượng cũng như trong chiêm bao các thứ. Khi ấy, đối tương không hiện thực, thì làm sao tin được là có hiện lượng? Nhị thập luận: 現覺如夢等 已起現覺時 見及境已無 寧許有現量

[44] Vimśatikā, k. 17cd.: svapne dṛgviṣayābhāvaṁ nāprabuddho'vagacchati. Khi chưa tỉnh giác, không biết cảnh được thấy trong chiêm bao là không thực. Cf. Nhị thập luận: 未覺不能知 夢所見非有.

[45] Nhị thập luận: Nếu duy chỉ là thức, vậy tha tâm trí có biết được tâm của người khác không?

[46] Thuậy ký: ảnh chiếu của tha tâm hiện trên tự tâm, đó là  sựnhận biết tha tâm.

[47] Giải thâm mật 3, T16n676,tr. 698b4: 此中無有少法能見少法然即此心如是生時即有如是影像顯現。Trong đây, không có bất pháp nào nhận thức bất cứ pháp nào. Nhưng chính tâm nay khi phát sinh như vậy, những ảnh tượng như vậy xuất hiện trên nó. Cf. Dẫn bởi Nhiếp luận (Vô Tính), tr. 400a16.

[48] Nạn vấn, hệ luận từ tha tâm trí. Đã có tâm người khác, tồn tại biêt lập ngoài tâm ta, đâu có thể nói duy chỉ có thức, tức đối tượng chỉ tồn tại trong thức của ta?

[49] Skt. sarvabījaṁ hi vijñānaṁ pariṇāmas tathā tathā| yātyanyo'nyavaśād yena vikalpaḥ sa sa jāyate||18||

[50] Sthiramati: tatra sarvadharmotpādanaśaktyanugamāt sarvabījam/ Do hàm chứa công năng sản sinh tất cả các pháp nên nó là hạt giống của tất cả (sarvabīja: nhất thiết chủng)

[51] Vì quả ly hệ (visaṃyogaphala) thuộc pháp vô vi, không sản sinh từ chủng tử.

[52] Thánh đạo vô lậu.

[53] Lần lượt chứng đắc.

[54] Chỉ hư vọng phân biệt, abhūtaparikalpa: cấu trúc bất thực, được nói đoạn trên.

[55] Chỉ các thức hiện khởi. Họac các thức được nói theo quan niệm Tiểu thừa

[56] Chỉ hạt giống nảy mầm cây cối các thứ. Hoặc tự tính (prakṛti) được quan niệm bởi Số luận. Sthiramati: vijñānaṃ hy asarvabījād apy asti, ataḥ sarvabījam ity āha/

[57] Ba loại tập khí: danh ngôn tập khí, ngã chấp tập khí, hữu chi tập khí. Sẽ được giải thích ở đoạn sau.

[58] Giải thích từ “phân biệt” trong câu 4.

[59] Giải thích từ “bĩ bĩ” trong Hán dịch.

[60] Kośa, k. ii.61: catvāraḥ pratyayā uktāḥ. kvoktāḥ? sūtre: catasraḥ pratyayatāḥ, hetupratyayatā, samanantarapratyayatā, ālambanapratyayatā, adhipatipratyayatā ca. Được nói là có bốn duyển? Được nói ở đâu? Trong Kinh: có bốn duyên tính: nhân duyên tính, đẳng vô gián duyên tính, sở duyên duyên tính, tăng thượng duyên tính. Huyền Tráng, Câu-xá 7, tr. 36b14; Thuận chính lý 18, tr. 440a7: 如契經中說四
<lb n="0036b15"/>緣性謂因緣性等無間緣性所緣緣性增上
<lb n="0036b16"/>緣性Xem thêm, Madhyamaka, k.i: catvāraḥ pratyayā hetuś cālambabam anantaraṃ/ tathaivādhipateyaṃ ca pratyayo nāsti pañcamaḥ. Có bốn duyên…, không có duyên thứ năm. La-thập: 因緣次第緣 緣緣增上緣  四緣生諸法 更無第五緣. Đại trí độ, T 15, tr. 296b12. Du-già, T 30, tr. 292a1, 301b9: Hiển dương, T 31, tr. 570c28.

[61] Hán: công năng sai biệt (śaktiviśeṣa), chủng tử tồn tại dưới dạng năng lực, khi hội đủ điều kiện, nó biến chuyển đến điểm quyết định để được triển khai. Điểm quyết định của năng lực này gọi là công năng sai biệt.

[62] Chủng tử sát na trước diệt làm nhân cho chủng tử cùng loại sát na tiêp theo sinh. liên tiếp không gián đoạn. Phương diện thứ nhất của nhân duyên: chủng tử sinh chủng tử, nhân qủa dị thời.

[63] Chủng tử trực tiếp sản sinh kết quả cùng loại: chủng tử sinh hiện hành, nhân quả đồng thời.

[64] Phật quả tuyệt đối viên mãn nên không còn huân tập. Pháp vô ký quá yếu, không đủ nằn lực huân tập.

[65] Nhân duyên: hiện hành trực tiếp huân thành chủng tử cùng loại.

[66] Thức thứ tám, bao gồm cả tâm và tâm sở.

[67] Các pháp này cũng là hiện hành nhưng không huân tập chủng tử nên không có tính chất nhân duyên.

[68] Hiện hành đối với hiện hành, không có tính nhân duyên. Cái trực tiếp sản sinh hiện hành là chủng tử, chứ không phải hiện hành sát na trước làm duyên cho hiện hành sát na sau phát sinh.

[69] Hữu bộ (Câu-xá 7, tr. 36b14; Thuận chính lý 18, tr. 440a7) có sáu phạm trù nhân, trong đó, trừ năng tác nhân (karaṇa-hetu), năm loại nhân đều có tính nhân duyên (hetu-pratyayatā): câu hữu (sahabhū-hetu), đồng loại (sabhāga-hetu), tương ưng (samprayuyktaka-hetu), biến hành (sarvatraga-hetu), dị thục. Đó là những pháp hiện hành, hoặc đồng loại, hoặc dị loại, mà cái này cóa thể làm nhân để sản sinh cái khác tùy theo một trong năm phạm trù. Tạp tập luận4 (713a12) nói cả sáu nhân này đều có tính nhân duyên; nhưng Hiển dương 18 (tr. 570a12) bác bỏ cả sáu nhân theo quan điểm của Hữu bộ đều không có tính nhân duyên. Ở đây giải thích, Tạp tập luận nói theo ước lệ, hoặc tùy thuận cách nói của Hữu bộ.

[70] Du-già 3, T 30, tr. 292a1: nhân duyên, đó là chủng tử. Hiển dương 18, T 31, tr. 570c28: chủng tử của các pháp, đó là nhân duyên.

[71] Y hiển thắng. Thuật ký: Thế nào là hiển thắng? Vì thường hằng tương tục. Thắng hiện hành, như thóc nẩy mầm, vì đặc tính hiển hiện rõ nơi hiện hành.

[72] Nhiếp luận bản, T 31 tr. 135b15: 諸法於識藏 識於法亦爾  更互為果性 亦常為因性. Thế Thân thích, T 31 tr. 330b20: các loại tập khí (=chủng tử) tồn tại trong a-lai-da, cùng với các pháp (=hiện hành) hỗ tương làm nhân duyên.

[73] Samuccaya (Tatia, p. 37, 23): kathaṃ samanantarataḥ/ nairantaryasamanantarato ’pi, sabhāga-visabhāgacittacaittotpattisamanantarato’pi samanantarapratyayo draṣṭavyaḥ/ Thế nào là đẳng vô gián? Trực tiếp, không có gián cách ở giữa. Sự sinh khởi của tâm, tâm sở, đồng loại, dị loại, không có gián cách ở giữa; đó là đẳng vô gián duyên. Cf. Tạp tập 5, T 31 tr. 714a10. Câu-xá 7, T 29 tr. 36b16: các tâm, tâm sở phát đã sinh, trừ tối hậu nơi vị A-la-hán sắp nhập niết-bàn, đều có tính chất đẳng vô gián duyên (Kośa, k.ii.61: arhataḥ paścimānapāsyotpannāś cittacaittāḥ samanantarapratyayaḥ). Du-già 3, T 30 tr. 292a3: Nếu thức này, trực tiếp không gián cách, quyết định sản sinh các thức kia; thức này là đẳng vô gián duyên của các thức kia.

[74] Pháp đồng loại, nhưng đồng thời, không thể làm đẳng vô gián duyên. Nhiều chủng tử đồng loại: thức hiện hành, như nhãn thức, được sản sinh bởi nhiều chủng tử cùng hoạt động đồng thời.

[75] Xem Ch. iii, tiết 2, đoạn 3: Đẳng vô gián duyên y.

[76] Tâm và tâm sở có chung đồng nhất sở duyên, đồng nhất sở y, đồng thời vận chuyển, và đồng nhất bản tính.

[77] Trong tám thức, thức này (như mắt) không là đẳng vô gián duyên cho thức kia (tai), nhưng trong các tâm sở, cái này có thể là đẳng vô gián duyên cho cái kia.

[78] Tâm của A-la-hán váo sát-na cuối cùng trước khi nhập vô dư  niết bàn. Du-già 80, tr. 748a14: “Các A-la-hán trụ tâm nào để nhập niết-bàn trong vô dư y niết bàn giới? Không còn tư duy đến tất cả tướng, duy chân chính tư duy chân vô tướng giới, dần dần nhập diệt định, diệt các chuyển thức, thứ đến, dị thục thức xả y chỉ, vì dị thục thức bấy giời không còn gì để chấp thủ; các chuyển thức sau khi diệt không còn sinh khởi trở lại nữa; duy chỉ tồn tại chân pháp giới thanh tịnh vo vi vô cấu.”

[79] Pháp đẳng vô gián: pháp được sản sinh trực tiếp ngay sau đó, không có trung gian giác cách.

[80] Du-già 3, đã dẫn, cht. 73; Hiển dương 18, T 31, tr. 570c28: “Nếu từ thức này mà các thức kia, trực tiếp không gián cách, quyết định sinh khởi; thức này là duyên đẳng vô gián cho các thức kia.”

[81] Xem Ch. ii., tiết 7, đoạn 2: các biệt danh cửa a-lại-da.

[82] Thức a-đà-na ở giới địa này diệt làm điều kiên khai đạo cho thức thuộc giới địa khác sinh. Trong các tên gọi chỉ thức thứ tám, tên gọi a-đà-na áp dụng cho suốt cả năm giai đoạn tu chứng, từ sơ phát tâm cho đến thành Phật.

[83] Thức thứ tám chuyển y thành trí Đại viên kính.

[84] Thức thứ tám, hữu lậu vô ký làm điều kiện khai đạo dẫn sinh vô lậu thiện; trái lại vô lậu thiện không dẫn sinh hữu lậu vô ký. Vì chỉ có thức thứ tám nơi Phật mới có tính thiện. Nói cách khác, thức dị thục trực tiếp không gián cách dẫn sinh thức vô cấu (nơi Phật); nhưng ngược lại thì không.

[85] Phàm phu trực tiếp phát tâm cầu thành Phật, không qua Nhị thừa. Thuật ký: Hạng Bồ tát đốn ngộ khi qua địa thứ tám nhất định sinh lên đệ tứ thiền, sau khi đạt được thân thù thắng, chuyển thành thân biến dịch. Tức không còn chịu sinh tử phần đoạn, chỉ còn thân biên dịch chịu biến dịch sinh tử. Giải thích này liên hệ tư tưởng Thăng man. Thuật ký dẫn Du-già 80. Nhưng trong đó không nói từ biến dịch sinh tử. Đoạn văn liên hệ (tr. 749a5-a25) nói, hạng Thanh văn hồi hướng đại bồ đề, vì nếu nhập niết bàn vô dư y thì không còn phát tâm được nữa, nên y trên hữu dư y niết bàn, lưu thân tối hậu để tiếp tục tu Đại thừa cho đến khi thánh Phật. Vị ấy bảo lưu thân có căn, hóa hiện thành một hóa thân khác mà phương tiện thị hiện nhập vô dư y niết bàn; nhưng thân hữu căn thật mới chính xác được bảo lưu ở một nơi nào đó trong châu Thiêm bộ. Nguyên đoan văn không nhắc đến từ biến dịch sinh tử.

[86] Hoa nghiêm 27, T 9 tr. 574c7: Bồ tát pháp vân địa (dharmameghabhūmika) phần nhiều làm Thiên vương Ma-hê-thủ-la (Maheśvara: Đại Tự Tại).  Du-già 4, tr. 295a10: Trong cõi trời thuộc tứ thiền, có năm tầng  gọi là Tịnh cư thiên (Suddhāvāsa) dành riêng cho các Thánh giả. Tầng cao nhất, thứ năm, là Sắc cứu cánh (Akaniṣṭha). Vượt lên Sắc cứu cánh có cung Đại Tự Tại (Maheśvara-vimāna) là trú xứ của Bồ-tát địa thứ mười. Hiển dương 2, tr. 488a23: Do tu tập vô lượng tam-ma-địa của Bồ tát, trong hàng Bồ tát địa thứ mười, đạt được thiền thứ tứ, vượt qua Sắc cứu cánh trong Tịnh cư thiên mà đi qua cung Đai Tự Tại. Tuy nhiên, cung Đại Tự Tại của thập địa Bồ tát thật sự ở đâu, các thuyết không nhất định. Thuật ký: đây là cõi Tha thọ dụng độ, trú xứ của báo thân Bồ tát hàng thập địa. Trong A-hàm, Phật nhập niết-bàn sau khi nhập đệ tứ thiền. Căn cứ theo đây có thể nói, trên biên tế định của tứ thiền, tức vượt qua Sắc cứu cánh, là trú xứ của Phật thọ dụng thân, cũng là trú xứ của Bồ tát hàng thập địa, hay từ địa thứ tám trở lên.

[87] Thập địa kinh luận 5, T 26 tr. 312b15: Hạng Thanh văn, Độc giác thuộc chủng tính bất định, trụ ở địa vị vô học, tuy không còn phiền não, nhưng do chí cầu bồ-đề, bằng lực của định và nguyện, bảo lưu thân tương tục tu Đại thừa hành. Du-già 80, tr. 749a5-a25: Thanh văn hồi hướng đại bồ đề, y chỉ hữu dư y niết-bàn, bảo lưu thân này, kéo dài thêm thọ hành cho đến khi thành Phật… Thân có căn của vị ấy được bảo lưu tại Dục giới này, trong châu Thiệm-bộ.

[88] Nghĩa diễn 8, tr. 731a19: giải thích của Hộ Pháp.

[89] Thanh văn trong Sắc giới: các vị A-na-ham trong Tịnh cư thiên, ở đó chứng A-la-hán, không nhập niết-bàn, mà lưu thân Sắc giới cho đến khi thành Phật. Quán tâm pháp yếu 7, tr. 401a4: “A-na-hàm sinh Sắc giới, chứng A-la-hán, thân chưa nhập diệt, tức bảo lưu thân đợi cho đến công đức viên mãn. Nhưng sinh vào Tịnh cư thiên thì không có lý hồi thú Đại thừa.”

[90] Thuật ký: Vì không có minh văn nào của Kinh bác bỏ điều này. Vì Phật cũng có đi đến đó để giáo hóa các Bồ tát đã sinh lên đó. Vì có thân hữu y (tồn tại thân biến dịch).

[91] Thức thứ tám thành vô lậu, tức chuyển y thành trí Đại viên kính của Phật.

[92] Các đoạn văn trong Đại bát nhã khi liệt kê chư thiên đến cúng dường, lễ, bái Phật, nghe pháp, hay đọc tụng, quảng bá Bát-nhã, thương nêu hết từ ba nghìn đại thiên, mười phương thế giới, trong đó chư thiên từ trời Tứ thiên vương, cho đến trời Quảng quả, và tiếp theo cả năm tầng Tịnh cư. Nhưng, khi nói về những hang đã phát bồ đề tâm (quyển 126) , chỉ liệt kê đến trời Quảng quả. Còn các vị Tịnh cư chỉ đến để cúng dường, tán than người thọ trì Bát nhã. Điều này chứng tỏ Kinh ngụ ý các vị Thanh văn trong Tịnh cư không còn phát đại bồ đề nữa.

[93] Thứ hà giới diệt dẫn sinh thức thượng giới, như thức thứ tám đã nói trên. Thức thứ tám sinh ở giiới địa nào, thức thứ bảy chấp ngã theo đặc tính của giới địa đó.

[94] Thức thứ bảy, tương ưng với ngã chấp là hữu lậu; khi tương ưng với trí bình đẳng tính, nó là vô lậu. Trong mười địa, khi nhập pháp không quán, nó là vô lậu; khi xuất pháp không quán, nó là hữu lậu.

[95] Hữu phú vô ký là nhiễm. Vô phú vô ký là vô nhiễm.

[96] Trong hàng Thanh văn, cứu cánh không phải là đoạn trừ pháp chấp, cho nên khi khởi sinh không quán được nói là vô nhiểm. Trong hang Bồ tát, vì cứu cánh là đoạn trừ pháp chấp, sinh không quán vẫn được xem là nhiễm. Luận ở đây nói theo trường hợp đầu. Vị Sơ quả Thanh văn, khi nhập sinh không quán, bấy giờ thức thứ bảy nhiễm (hữu phú vô ký) dẫn sinh thức thứ bảy vô nhiễm (vô phú vô ký). Khi xuất quán, vô nhiễm dẫn sinh nhiễm. Các vị khác cũng vậy.

[97] Bốn khía cạnh của vấn đề: a. Ba giới: thức từ giới này diệt, dẫn sinh thức giới khác. b. Chín địa; c. Hữu lậu, vô lậu, cũng vậy. d. Ba tính, trong Dục giới, tính này diệt đãn sinh tính kia; nhưng hai giới trên không có bất thiện. Chết từ Dục giới, nếu tái sinh Dục giới, ba tính cvó thể dẫn sinh lẫn nhau. Nhưng nếu tái sinh thượng giới, không thể với thức bất thiện Dục giới có thể dẫn sinh thức thiện thượng giới.

[98] Từ giới địa này tái sinh vào giới địa khác, thức cần được nhuận sinh, tức được tẩm ướt để nảy mầm, của ái thuộc giới địa đó. Nhf từ Dục giới tái sinh Vô sắc; không thể chưa ly nhiễm hạ giới mà có thể sinh thượng giới. Do đó, ở đây, với tử tâm hoặc hữu phú hoặc thiện làm đẳng vô gián duyên dẫn sinh thức nhuận sinh bởi ái thộc Vô sắc để tái sinh lên đó. Nếu từ Vô sắc tái sinh Dục giới, trên kia không có tâm bất thiện, do đó hoặc với tử tâm hữu phú hay thiện, dẫn sinh thức nhuận sinh bởi ái Dục giới. Dục giới đủ cả ba tinh, thiện, bất thiện và vô ký.

[99] Cf. Du-già 69, tr. 684a20, về sinh sai biệt. Tạp tập 5, tr. 714a25: về mười lực dẫn sinh các loại tâm.

[100] Vô lậu tâm của cả Ba thừa tối sơ phát khởi, chỉ có thể được dẫn khởi bởi Sắc giới tâm. Như Sơ quả Thanh văn, khi vào sơ kiến đạo, thấp nhất cũng phải y trên vị chí định.

[101] Quyết trạch phần thiện (nirvedhabhāgīya-kuśla), tức thiên căn được tu tập bởi bốn gia hành: noãn, nhẫn, đỉnh, thế đệ nhất; y chỉ trên bốn thiền để tu tập.

[102] Hai giới: Dục và Sắc. Hại địa: ngũ thú tạp cư địa (Dục giới), ly sinh hỷ lạc địa (Sơ thiền). Ba thức này cũng chỉ hoạt động trong Sơ thiền. Từ Nhị thiên trở lên, chúng không hoạt động.

[103] Hai thức này chỉ hoạt động trong Dục giới, do đó chỉ hỗ tương dẫn sinh theo ba tính trong phạm vi giới địa này mà thôi, không quan hệ đến các giới địa trên.

[104] Nghĩa diễn 8, tr. 735b1: bắt đầu từ Sơ địa, chuyển năm thức thành thành sở tác trí, cho đến địa thứ mười, trong các giai đoạn này, hữu lậu và vô lậu dẫn sinh lẫn nhau.

[105] Thuyết này không cộng nhận năm thức, trừ nơi Phật, là vô lậu.

[106] Căn hữu lậu nên không thể là sở y cho vô lậu sinh khởi.

[107] Thức dị thục là hữu lậu. Tướng phần của nó cũng là hữu lậu. Do đó năm căn cũng là hữu lậu.

[108] Bất cộng y:  trong năm căn, thức nào y trên căn đó mà hoạt động. Ở đây phần lớn căn cứ theo hang Bồ tát từ thất địa trở xuống mà luận. Vì từ bát địa trở lên, nơi Bồ tát các căn đều hỗ dụng; nghĩa là một thức bất kỳ có thể y trên bất cứ căn nào trong năm căn để hoạt động.

[109] Năm thức hoạt động luôn luôn cần có thức thứ sáu làm câu hữu y. Xem Ch. iii, tiết 2, đoạn 2: Tăng thượng duyên y (=câu hữu y).

[110] Thưc và căn phài cùng hướng đến một đối tượng chung.

[111] Thức vô lậu nên cảnh tỏ;  căn hữu lậu nên cảnh mờ. Đồng nhất cảnh, không thể vừa tỏ vừa mờ. Do đó, vô lậu thức không thể được dẫn phát y trên vô hữu lậu căn.

[112] Hán: nhược hữu pháp 若有法; một số Sớ giải giải thích là pháp thực hữu. Trong ngữ pháp dịch của Huyền Tràn, từ “nhược hữu” thường dùng cho thể giả định của √as: syātām, hay yadi … syāt; có thể hiểu: giả sử có một có một gì đó. Thuật ký: có hai giải thích, hoặc sở duyên của thức thông cả giả, hoặc chỉ cho thực. Ở đây gọi chung là hữu pháp, không xác định thể của nó là giả hay thật.

[113] Đái kỹ tướng 帶已相, hay đái bĩ tướng 帶彼相; xem Câu-xá 30, tr. 157b14; Skt. ākāratā; Ālambanaparīkṣā: … alambanaṃ… tatkāraṇatvāt (jñānasya), nó là sở duyên của thức, vì thức ấy mang ảnh tượng của nó. Cf. Quán sở duyên, T 31, tr. 888b8. Thuật ký: tâm năng duyên có tướng tương tợ sở duyên, gọi là đái. Tướng (ākāra) tức hành tướng, chỉ hình thái hoạt động. Phân biệt với tướng (lakṣaṇa) là yếu tính hay đặc điểm, và tướng (nimitta) là dấu hiệu hay tín hiệu. Tướng phần (nimitta-bhāga) là tín hiệu của nhận thức.

[114] Sở lự, sở thác 所慮所託: nắm lấy nó mà tư duy (ālambhita) và bám vào đó để sinh khởi và hoạt động (pratyayita). Do động từ căn √ā-lamb: bám vào, tựa vào. Phât biệt với từ duyên trong bốn duyên: pratyaya,  được hiêu hiểu điều kiện quan hệ, tương quan; do động từ căn pray-√e: đi đến. Hán dịch không phân biệt hai động từ căn khác nhau, nên các Sớ giải Hán thường có những giải thích sai lầm, hoặc gượng ép.

[115] Du-già, tr. 292a2: cảnh giới làm đối tượng cho tâm và tâm sở, gọi là sở duyên duyên.

[116] Trực tiếp nhận thức và gián tiếp.

[117] Đối tượng xuất hiện trong thức của một người khác, hay trong một người nhưng thức khác (tai) được phản chiếu lên thức này (mắt).

[118] Chất hay bản chất (bimba), hình thật đối với ảnh phản chiếu (pratibimba) trong gương hay dưới nước. Xem dẫn dụ bởi Câu-xá, tr. 44c14, 18; dẫn chứng và giải thích Giải thâm mật bơi Du-già 77, tr. 724a6.

[119] Đối tượng mà thức thứ tám bám vào để hiện khởi và hoạt động là căn thân và khí thế gian, tức biến thái của những chủng tử ở trong nó, được duy trì bởi nó. Sự biến thái thành chủ thể và khách thể nơi nó không phải do nó chủ động, mà bị chi phối bởi nghiệp.

[120] Căn thân và khí thế giới của nó là biến thái của chính nó. Nhưng không có hữu tình nào tồn tại đơn độc, do đó có sự thọ dụng hỗ tương bởi thức của hữu tình này và của nhiều hữu tình khác. Tức có sự hỗ tương cộng đồng biến thái, tương tác biến thái. Do tương tác biến thái, thức thứ tám cũng cần có điều kiện ngoại tại để sinh khởi và hoạt động, tức có sơ sở sở duyên duyên.

[121] Được nói là của Hộ Pháp.

[122] Phê bình thuyết thứ nhất.

[123] Thức thứ tám của hữu tình khác. Cần phải xác nhận có sự tồn tại của bản thân và thế giới của các hữu tình khác mà các thức thứ tám, của hữu tình và các hữu tình khác, có thể hỗ tương thọ dụng. Xem cht. 120 trên.

[124] Phê bình thuyết thứ hai.

[125] Số lượng chủng tử nơi mỗi hữu tinh nhiều ít không đồng nhau; chủng tinh cũng bất đồng.

[126] Trong điều kiện tu nhân, sơ sở duyên duyên bất định: trong Sắc giới tồn tại thế giới ngoại tại nên nó co sơ sở duyên duyên; trong Vô sắc giới không tồn tại thế giới ngoại tại do đó không có sơ sở duyên duyên. Trong điều kiện chuyển y, khi Kính trí duyên đến Chân như, bấy giờ không có sơ sở duyên duyên. Khi Kính trí duyên đến thế tục, bấy giờ đối tượng là sơ sở duyên duyên.

[127] Lấy kiến phần của thức thứ tám là chất thể ngoại tại.

[128] Ảnh hưởng chi phối tích cực hay tiêu cực, tức sự hiện diện của thuận duyên và sự vắng mặt của nghịch duyên, cả  hai đều có tính tăng thượng duyên.

[129] Kośa, k. 62: ya eva kāraṇahetuḥ sa evādhipatỉpatyayaḥ, bất cứ cái gì tác động đến sự tác thành một cái khác đều là tăng thượng duyên, điều kiện chi phối. Cf. Câu-xá 7. Ti-bà-sa 2,tr. 11a15: trừ tự tính, tất cả pháp hữu vi đều là tăng thượng duyên. Du-già 3, tr. 292a: trừ chủng tử, tất cả sở y khác đều là tăng thượng duyên. Như nhãn căn và các pháp trợ bạn là tăng thượng duyên đối với nhãn thức.

[130] Bốn xứ: sinh, chi phối để cho sản sinh. Trụ, chi phối để duy trì tồn tại. Thành, chi phối để hoàn thành. Đắc, chi phối để đạt đến mục đích. Tạp tập, tr. 715c7, ảnh hưởng chi phối trong 9 trường hợp: nhiệm trì tăng thượng (pratiṣṭhādhipatitaḥ: chi phối do bởi duy trì), dẫn phát tăng thượng (āvedhādhipatitaḥ: lực dẫn phát), câu hữu tăng thượng (sahabhāvādhipatitaḥ), cảnh giới tăng thượng (viṣayādhipatitaḥ), sản sinh tăng thượng (prasavādhipatitaḥ), trụ trì tăng thượng (sthānādhipatitaḥ), thọ dụng quả tăng thượng (phalopabhogādhipatitaḥ), thế gian thanh tịnh ly dục tăng thượng (laikikaviṣuddhyadhipatitaḥ), xuất thế gian thanh tịnh ly dục tăng thượng (lkottarādhipatitaḥ).

[131] Căn, Skt. indriya, thế lực ưu việt khiến phát triển; phân biệt với căn mà Skt. mūla: rễ cây. Kośa ii: kaḥ punar indriyārthaḥ idi paramiśvarye. tasya indantīti indriyāṇi. ata ādhipatyārtha indriyārthaḥ. Căn là gì? Do động từ căn √id (= ind: đốt cháy) có ngiã là ưu thế và chủ động. Chúng nó đốt cháy, do đó chúng nó là căn. Căn như vậy có nghĩa là sự chi phối. Hán dịch (Huyền Trang): 最勝自在光顯名根由此總成根增上
<lb n="0013b13"/>Căn, theo đó, có ba nghĩa: tối thằng, tự tại, tăng thượng.

[132] Kośa, k.i.17: saṇṇam anantarātītaṃ vijñānaṃ yad dhi tan manaḥ. Trong sáu thức, thức nào thuộc quá khứ vô gián, vừa diệt trong sát na trước trực tiếp không gián cách, thức ấy trở thành ý căn. Hán (Huyền Trang): 由即六識身 </l><l>無間滅為意. Duy thức lập tám thức, nên cả tám thức vô gián diệt đèu là ý căn.

[133] Xem tương ưng thọ với các thức trong các phần trước.

[134] Chỉ định và huệ trong năm biệt cảnh, và các tâm sở thiện tương ứng.

[135] Năm giai vị, tức năm giai đoạn tu chứng. Thuật ký: thể tính tùy theo giai vị, nên nói là “thể vị.”

[136] Kiến đạo có 16 sát na; thể của căn này chỉ tồn tại trong 15 sát na đầu.

[137] Thắng thiện pháp dục: dục liên hệ pháp thiện thù thắng, tức dục tâm muốn đạt đến thiện pháp thù thắng, phát tâm cầu Bồ-đề, Niết-bàn.

[138] Thuận quyết trạch phần (nirvedha-bhāgiya), giai đoạn tu tập bốn thiên căn (noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất), quán sát 16 hành tướng của Thánh đế, trước khi vào kiến đạo. Xem phần sau, về năm vị tu chứng của Duy thức.

[139] Trừ phi tưởng phi phi tưởng định.

[140] Thắng kiến đạo. Tại tư lương vị và gia hành vị, do thường xuyên tu tập và chứng đắc bốn thiền, tám định, huân tập thành chủng tử thế tục trí. Khi vào kiến đạo, chủng tử thế tục trí được phát triển. Kiến đạo của hạn này gọi là thắng kiến đạo. Bởi vì trước đó, do đắc tứ thiền bát định, nên các phiền não thuộc Sắc và Vô sắc, trừ phi tưởng phi phi tưởng, đã được trấn phục; do đó, sau 15 sát na đâu của hiện quán Thánh đế, tức 15 sát na kiến đạo, đến sát na thứ 16, vị ấy nếu đã đắc tứ thiền, các phiền não thuộc Dục giới hoàn bị trấn phục, do đó chứng quả A-na-hàm. Nếu đã dắc cả tám định, các phiền não thuộc ba xứ đầu của Vô sắc, khi vào kiến đạo, chủng tử thế tục trí được đăc biệt phát triển thành vị tri đương tri căn, do đó đến sát na thứ 16 sáu, nếu là Thanh văn, vị ấy đoạn trừ các phiền não còn lại thuộc phi tưởng phi phi tưởng và chứng đắc A-la-hán. Không phải tất cả khi vào kiến đạo đều đã đắc tứ thiền bát định, nên nói là “có trường hợp.”

[141] Chín địa: từ dục giới cho đến phi tưởng phi phi tưởng.

[142] Trong Thanh văn địa, sinh không trí, đắc vô ngã, là cụ tri căn. Nhưng trong hàng Bồ tát, nếu chưa khởi pháp không trí, thảy đều là vị tri đương tri căn.

[143] Kiến đạo của Bồ tát có hai: tướng kiến đạo trong đó có 16 sát na hiện quán Thánh đế, và chân kiến kiến chỉ trong một sát-na, do đó nói là thời gian rút ngắn. Xem đoạn sau, phàn tu chứng Duy thức.

[144] Chín căn, như trong vị tri đương tri căn nói trên.

[145] Hữu đỉnh, tức phi tưởng phi phi tưởng xứ, do muốn thọ dụng vô lậu nên nhập diệt tận định, gọi là “du quán vô lậu.” Trong định này, phần định thắng phần tuệ, nên không thành vô lậu căn.

[146] Du quán : du ngọan hay thưởng ngọan. Du-già 11, tr. 331c24 : “Thế nào là bình đẳng trụ xả? Hàng trong trạng thái bình đẳng; tâm du quán trong bình đẳng vị.” Quyển 72, tr. 694b26: Thánh đệ tử đắc thần thông, du quán bến ông, du quán hang núi, du quán ngạ quỹ thú…

[147] Xem Du-già 57, tr. 614a17 tt. Xem thêm, Câu-xá, phẩm ii: Phân biệt căn.

[148] Du-già 5, tr. 301b4; Hiển dương 18, tr. 570c4, 15 y xứ cho nhân duyên: 1. ngữ, 2. lãnh thọ, 3. tập khí, 4. hữu nhuận chủng tử, 5. vô gián diệt, 6. cảnh giới, 7. căn, 8. tác dụng, 9. sĩ phu dụng, 10. chân thật kiến, 11. tùy thuận, 12. sai biệt công năng, 13. hòa hipệ, 14. chướng ngại, 15. bất chướng ngại.

[149] Du già 5, tr. 301b9; quyển 38, tr. 501a10; Hiển dương 18, tr. 570c8; Tạp tập 4, tr. 713b13: Nhân sai biệt, đó là 10 nhân, 4 duyên và 5 quả. Mười nhân: 1. tùy thuyết nhân (anuvyavahāra-hetu), 2. quan đãi nhân (apekṣā-), 3. khiên dẫn nhân (ākṣepa-), 4. sinh khởi nhân (abhinrvṛtti-), 5. nhiếp thọ nhân (parigraha-), 6. dẫn phát nhân (āvāhaka-), 7. định dị (định biệt) nhân (pratiniyama-), 8. đồng sự nhân (sahakāri-), 9. tương vi nhân (virodha-), 10. bất tương vi nhân (avirodha-).

[150]Tùy thuyết, Skt. anuvyavahāra, ngôn ngữ quy ước được hình thành bởi sinh hoạt quán xã hội.   Bodhisattvabhūmi, tr. 69: tatra sarvadharmāṇāṃ yan nāma nāmapūrvikā saṃjñā saṃjñāpūrvikaś cābhilāpaḥ, ayam ucyate teṣām dharmāṇām anuvyavahārahetuḥ:.danh của tất cả các pháp, tưởng dẫn đầu bởi danh, và ngôn thuyết được dẫn đầu tưởng, đây là tùy thuyết nhân của các pháp ấy. Du-già, tr. 301b14: Pháp trong các giới hệ được khái niệm đến, trước hết do danh (nāma) dẫn khởi tưởng (saṃjñā); do tưởng dẫn khởi ngữ (vāk), do ngữ mà tùy theo cái được thấy, được nghe, được cảm, được biết (dṛṣṭa-śruta-mata-vijñāta)  ngôn thuyết (abhilāpa) được dẫn khởi. Do đó, y trên ngữ y xứ (vāg-adhiṣṭhāna) mà lập tùy thuyết nhân (anuvyavahāra-hetu).

[151] Cái nói, năng thuyết, tức ngữ hay ngôn ngữ, là nhân cho những cái được nói, tức tất cả các pháp.

[152] Tập luận, tr. 671b, Tạp tập 4, tr. 713b13: “Tùy thuyết năng tác, đó là danh, tưởng, và sự thấy.  Do theo danh tự như vậy mà nắm bắt tướng, rồi chấp chặt mà dẫn khởi ngôn thuyết.” Cf. Samuccaya, Gokhale, p. 27, 11; Tatia, p.36, 16: vyavahārakāraṇaṃ tadyathā nāma saṃjñā dṛṣṭiś ca … yathānāmadheyaṃ nimittodgrahaṇenā ‘bhiniviśyānuvyavaharaṇāt, “tác nhân do bởi tập quán ngôn ngữ, đó là tùy theo danh, tưởng và sự thấy … tức là do ngôn ngữ giao hoán thường nhật được tiêm nhiễm thành tập quán do bới năm bắt tín hiệu tùy theo danh tự chuyển tải. Tức là, tùy theo danh tự chuyển tải (nāmadheya) mà tín hiệu (nimitta) về đối tượng được nắm bắt, tức các đặc tính hay các đặc điểm của đối tượng được ghi nhận thành ấn tượng (saṃjñā), tùy theo ấn tượng đã trở thành tập quán ước lệ mà tri giác về đối tượng khởi lên.

[153] Danh, tưởng, kiến, là y xứ của ngữ.

[154] Lãnh thọ, Skt. anubhava, cảm nghiệm, kinh nghiệm. Cf. Kośa, i. 14: vedanā’ nubhavaḥ, thọ là sự cảm nghiệm.Hán (Huyền Trang): 受領納隨觸.

[155] Xem cht. 130.

[156] Bodisattvabhūmi, p. 69: tatra yadapekṣaṁ yaddhetukaṁ yasmin vastunyarthitvamupādānañca bhavaty ayam asyocyate'pekṣāhetuḥ| tadyathā hastāpekṣaṁ hastahetukamādānakarma| pādāpekṣaṁ pādahetukam abhikramapratikramakarma| parvāpekṣaṁ parvahetukaṁ samiñjitaprasāritakarma| jighatsāpipāsāpekṣaṁ jighatsāpipāsāhetukaṁ bhojanapānādānaṁ paryeṣaṇatā ca| ity evaṁ bhāgīyo'pramāṇa-nayānugataḥ apekṣāheturveditavyaḥ| Cái làm quan hệ như là nhân cần, cái mà do có nó nên có sự hy vọng, có có chiếm hữu nơi các sự vật, cái đó được gọi là quan đãi nhân, nguyên nhân quan hệ tương tác. Như do quan hệ với tay mà có hành vi cầm nắm; do quan hệ với chân mà có hành vi đi lại; do quan hệ tứ chi mà có sự co duỗi; quan hệ với đói khát mà có sự mong muốn ăn uống. Vô số trường hợp tương tự, nên biết, đó là quan đãi nhân. Samuccaya, Gokhale p. 27, 11: apekṣākāraṇaṃ yad apekṣya yatrārthitvam utpadyate, tadyathā jighatsām apekṣya bhojane, cái làm nguyên quan hệ tương tác là cái mà do quan hệ tương tác với nó mà sự  mong cầu phát sinh, như do quan hệ với sự đói mà có sự mong cầu nơi cơm. Cf. Tạp tập 4, tr. 713b. Du-già 5, ibid.: y trên lãnh thọ nhân y xứ (aubhavahetv-adhiṣṭhāna) mà có khái niệm về quan đãi nhân. Do các hữu tình, hoặc có dục cầu khoái lạc Dục giới hệ, cái này quan hệ với cái kia mà có sự mong cầu, sự thủ đắc, sự tích tập hay sự thọ dụng nơi phương tiện của dục … hoặc để tránh xa (cái không muốn) hay để mong cầu, thủ đắc, thọ dụng (cái mong muốn).

[157] Tập khí y xứ, hay tập khí nhân y xứ , Skt. vāsanāhetvadhiṣṭhāna.

[158] Tập luân, Tạp tập luận: chiêu dẫn nhân.

[159] Bodhisattvabhūmi, ibid.: tatra bījamāvasānikasya svaphalasyākṣepahetuḥ, chủng tử đối với kết quả sau này của chính nó là khiên dẫn nhân. Samuccaya, Gokhale p. 27, 12; Tatia, p. 36, 18: āpekṣakāraṇaṃ vidūraḥ pratyayaḥ tadyathāvidyā jarāmarraṇasya … tadanvayāvasthāntaraparāparabhāvina āvedhakatvāt, khiên dẫn năng tác, đó là duyên cách xa, như vô minh đối già chết …tức là, từ trạng thái này đến trạng thái khác lần lượt dẫn đến hữu đượng lai. Cf. Tạp tập 4, tr. 713b15. Du-già 5, ibid.: Đó là các hành thuộc cả ba giới được huân tập bởi nghiệp tịnh và bất tịnh, dẫn đến tự thể khả ái hay không khả ái trong các cõi đáng muốn hay không đáng muốn. lại nữa, do sự chi phối của nó mà ngoại vật có thịnh có suy. Do đó, y trên tập khi y xứ, là các hành được huân tập bởi nghiệp tịnh và bất tịnhmà thiết lập khiien dẫn nhân.

[160] Hữu nhuận chủng tử, Skt. sābhiniṣyandaṃ bījaṃ, hạt giống đang được ngâm nước.

[161] Bodhisattvabhūmi, ibid.: tadeva bījaṁ svaphalasya nirvṛttihetuḥ, sinh khởi nhân, đó là chủng tử đối với kết quả, tức mầm, của chính nó. Samuccaya, ibid.: abhinirvṛttikāraṇam, āsannaḥ pratyayaḥ, tadyathāvidyā saṃskārāṇām … anatarabhāvino janakatvāt, nguyên nhân sinh khởi hay sản sinh, đó là duyên kế cận, như vô minh đối với hành, vì nó  trực tiếp không gián cách sản sinh hữu thể. Du-già 5, ibid.: Do pháp trong các giới hệ Dục, Sắc, Vô sắc, mỗi thứ được sản sinh từ chủng tử của chính nó; ái là nước tẩm ướt, chủng tử là hạt giống được tẩm ướt; do các chủng tử được tẩm ướt này, các tự thể các biệt đã được ủ mầm trước đó sẽ được sản sinh. Như Kinh nói, nghiệp là nhân cảm sinh, ái là nhân sainh khởi.

[162] 無間滅因依處, śliṣṭa-nirodhaṃ hetv-adhiṣṭhānam, diệt liên tục, không đứt đoạn.

[163] Thuật ký: như cái búa đối với sự chặt, chẻ.

[164] Sĩ dụng, Skt. puruṣakāra, thực hiện bởi con người, nhân lực.

[165] Thuật ký: như đối với thóc lúa, người là sĩ dụng; đất nước các thứ là tức dụng (tác cụ). Hoặc theo Du-già, đất, nước các thứ là sĩ dụng; mắt tròi, sự cày bừa, là tác dụng (tác cụ).

[166] Bodhisattvabhūmi, ibid.: bījanirmuktaḥ tadanyaḥ pratyayaḥ parigrahahetuḥ| Nhiếp thọ nhân, nguyên nhân giúp ích, nguyên nhân hỗ trợ, trừ chủng tử của chính nó ra, các điều kiện khác như đất, nước. Samuccaya, ibid.: parigrahakāraṇaṃ tadanyaḥ pratyayaḥ, tadyathā kṣetrodakapāṣyādikaṃ sasyodayasya … svabījotpādina upotdbalavāt. Các duyên khác (trừ chủng tử của nó), như ruộng, nước, phân, đối với sự sinh trượng của hạt lúa, vì là lực hỗ trợ tuy chúng sinh từ hạt giống của chính mình. Du già 5, ibid.: pháp trong các giới hệ, hoạt động của các hành (samskāra) đều nhờ sàu yếu tố này như là nguyên nhân trợ lực.

[167] Thiện hấp dẫn cái thiện cao hơn, bất thiện hấp dẫn cái bất thiện cao hơn.

[168] Dẫn phát, Skt. āvāhaka, sự mời gọi, lôi cuốn, khiến mang cái khác đến với mình; lực hấp dẫn. Bodhisattvabhūmi, ibid.: tatpunarbījanirvṛttaṁ phalamuttarasya bījākṣiptasya phalasyāvāhakahetuḥ| Samuccaya, ibid.: āvāhakakāraṇam anukūlataḥ pratyayaḥ, tadyathā samyagrājāsevā rājārādhanāyāḥ … tadānukūlyenākarṣaṇāt/ tác nhân dẫn phát, hấp dẫn về phía mình, đó là điều kiện phục tùng, như sự phục vụ vua đúng mức dẫn đến (hấp dẫn) sự hài lòng của vua… vì nó hấp dẫn bằng sự phục tùng. Du-già 5, ibid.: vô ký hấp dẫn vô ký cao hơn, như thức ăn đoạn thực khiến cho sự tồn tại, sự an ổn, thế lực tăng trưởng đến với hữu tình thọ sinh.

[169] Sai biệt công năng, Skt. śaktivaicitrya, sự đa dạng, đa biệt của năng lực; năng lực tác thành sự đa dạng.

[170] Định dị, hay định biệt, Skt. pratiniyama, quy luật giới hạn cá biệt, hạn định cái này với cái khác.

[171] Bodhisattvabhūmi, ibid.: nānāvijātīya-vibhinnakāraṇatvaṁ pratiniyamahetuḥ| sự phân hạn, phân định các chủng loại khác nhau, là nguyên nhân định di, hay định biệt; quy định sự sai biệt đa dạng. Samuccaya, ibid.: pratiniyamakāraṇaṃ, pratyayavaicitryaṃ, tadyathā pañcagatỉpatyayāḥ pañcānāṃ gatīnām bhinnasvabhāvatayānyonyaphalatvāt/ nguyên nhân định biệt, đó là sự đa dạng của các điều kiện, như các điều kiện dẫn đến cõi thọ sinh đối với năm cõi thọ sinh. Do tự thể khác nhau dẫn đến kết quả khác nhau.

[172] Hòa hiệp, sāmagrī, toàn thể tính.

[173] Bodhisattvabhūmi, ibid.: yaś cāpekṣāhetuḥ yaścākṣepahetuḥ yaśca parigrahaheturyaśca nirvṛttihetur yaś cāvāhakaheturyaśca pratiniyamahetur ity etān sarvān hetūn ekadhyam abhisaṁkṣipya sahakārihetur ity ucyate| Các nhân, từ quan đãi nhân cho đến định dị nhân, sự tổng hợp các nhân này thành một, gọi là đồng sự nhân, sự cộng đồng hợp tác của các nhân.  Samuccaya, ibid.: sahakārikāraṇaṃ, pratyaya-sāmagrī, tadyathā vijñānasyemdriyam aparibhinnaṃ viṣaya ābhāsagatas tajjaś ca manaskāraḥ pratyutpasthitaḥ … svakāryanirvartane kāraṇāntarāpekṣnāt/ đồng sự nhân, đó là sự tổng hợp các điều kiện, như căn không hủy hoại, cảnh hiện rõ ràng, tác ý hiện tiền, là điều kiện tổng hợp để thức sinh khởi, vì để hoàn tất tác sự của chính nó, nó cần đến các tác nhân khác nữa.

[174] Bodhisattvabhūmi, ibid.: utpattāvāntarāyiko hetuvirodhahetuḥ| Cái gây chướng ngại cho nhân sản sinh, là tương vi nhân. Samuccaya, ibid.: virodhakāraṇam, antarāyaḥ, tadyathā sasyasyāśaniḥ … vighnakaraṇāt/ tắc nhân vi nghịch, đó là cái gây chướng ngại, như mưa đá đối với lúa, vì nó gây tổn hại.

[175] Bodhisattvabhūmi, ibid.: antarāyavaikalyama virodhahetuḥ/ cái không đủ khả năng gây trở ngại, là tương vi nhân. Samuccaya, ibid.: avirodhakāraṇam, anantarāyaḥ, tadyathā tasyaivāntarāyasyābhāvaḥ, tác nhân không vi nghịch, là cái không gây trở ngại, như sự vắng mặt của cái gây trở ngại đối với nó.

[176] Bản địa phần, chương xv Bồ tát địa, phẩm vii. Bồ đề,  Du-già 38, tr. 501b10. Bodhisattvabhūmi, ibid.: yad ākṣepakaṃ nirvatakañ ca bījaṃ taj janako hetuḥ/ avaśiṣṭā hetava upāyahetủ veditavyaḥ/

[177] Hiện hành sản sinh chủng tử.

[178] Luận chỉ đề cập khiên dẫn nhân và sinh khởi nhân là năng sinh nhân.

[179] Trạng thái sống (sinh): hạt giống chưa được tẩm ướt để ủ mầm, chỉ chủng tử làm khiên dẫn nhân. Trạng thái chín (thục): hạt giống đã được tẩm ướt đến độ nảy mầm, chỉ chủng tử làm sinh khởi nhân.

[180] Bản địa phần, chương Hữu tầm hữu tứ địa, Du-già 5, tr. 302a29.

[181] Du-già 5, tr. 302a19. Cf. Hiển dương 18, tr. 570c28.

[182] Bốn y xứ: ngữ y xứ, lãnh thọ, vô gián diệt và sĩ dụng y xứ.

[183] Trong liệt kê bốn duyên, đẳng vô gián và sở duyên được kể ở trung gian, nên gọi chúng là hai duyên trung gian.

[184] Du-già 5, các dẫn thượng.

[185] Trong mười nhân, sáu nhân hàm nhân duyên. Còn lại là bốn nhân: lãnh thọ, nhiếp thọ, đồng sự và bất tương vi.

[186] Trong nhiếp thọ nhân có sáu y xứ, trong đó hai xứ hiển nhiên nhất là vô gián diệt làm y xứ cho đẳng vô gián duyên, và cảnh giới y xứ làm y xứ cho sở duyên duyên.

[187] Nhâ duyên trong hai loại nhân,

[188] Tham khảo, Câu-xá 6; Thuận chính lý 18; Du-già 5, 38; Biện trung biên 3; Hiển dương 18; Tạp tập 15.

[189] Dị thục quả, Skt. vipāka-phala. Bodhisattvabhūmi, tr. 72: akuśalānāṁ dharmāṇāmapāyeṣu vipāko vipacyate| kuśalasāsravāṇāṁ sugatau| tadvipākaphalam| sự chín muồi của các pháp bất thiện được nấu chiín trong các ác đạo, các pháp thiện hữu lậu trong các thiện thú, đó là quả dị thục (trái cấy đã chín).

[190] Năm loại mang tính chất vô ký: dị thục sinh (vipākaja), oai nghi lộ (airyāpathika), công xảo xứ (śailpasthānika), biến hóa tâm (nairmāṇika), tự tính.- Du-già 66, tr. 668a8.

[191] Tự tương tục (svasantati), trong tự thân chứ không nới thân người khác, hay nơi phi hữu tình. Câu-xá 6 tr. 35b11: quả dị thục chỉ hiện diện trong pháp vô ký, hạn cuộc trong hữu tình chứ không có trong phi tình.

[192] Đẳng lưu, Skt. niṣyanda, giọit nước, dòng nước chảy ra từ bể nước. Bodhisattvabhūmi, ibid.: yat punar akuśalābhyāsād akuśalārāmatā saṁtiṣṭhate akuśalabahulatā kuśalābhyāsāt kuśalārāmatā kuśalabahulatā pūrvakarmasādṛśyena vā paścātphalānuvartanatā tan niṣyandaphalam| do tập quán bất thiện, khoái lach bất thiện củng cố, pháp bất thiện gia tăng; do tập quán thiện, khoái lạc nơi thiên pháp củng cố, pháp thiện gia tăng; hoặc quả vận hành của theo sau loại tợ hành vi đi trước; đó là quả đẳng lưu. Cf. Du-già 38, tr. 502b4.; Hiển dương 18 tr. 571a.

[193] Ly hệ, visamyoga, dứt khỏi sự trói buộc. Bodhisattvabhūmi, ibid.: āryāṣṭāṅgasya mārgasya kleśanirodho visaṁyogaphalam| yaḥ punar laukikena mārgeṇa kleśanirodhaḥ sa nātyantam anuvartate pṛthagjanānām| tasmāttanna visaṁyogaphalam| sự diệt tận phiền não ô nhiễm của Thánh đạo tám chi, quả ly hệ. Sự diệt trừ phiền não ô nhiễm bằng thế gian đạo của phàm phu, vì nó không tiến hành đến cùng đích nên không phải là quả ly hệ. Du-già 38, ibid.; Hiển dương 18 ibid.

[194] Du-già 3 tr. 293c: vô vi thiên và vô vi vô ký. Du gì luận ký 1: trạch diệt vô vi là thiện vô vi. Hư không vo vi, v.v., là vô ký vô vi.

[195] Sĩ dụng, puruṣakāra, hành vi bởi người, nhân tạo, nhân công. Bodhisattvabhūmi ibid.: yat punar ekatyadṛṣṭe dharme'nyatamānyatamena śilpakarmasthānasanniśritena puruṣakāreṇa yadi vā kṛṣyā yadi vā vaṇijyayā yadi vā rājapauruṣṭeṇa lipi-gaṇana-nyasana-saṁkhyā-mudrayā sasyādikaṁ lābhādikañca phalam abhinirvartayati idam ucyate puruṣakāraphalam| một phần trong pháp hiện tại, bằng hành động bởi con người, y trên kỹ năng như canh nông, thương mại, hoặc quan chức vua làm các việc như chép sách, kế toán, bói toán, thuật số, thủ ấn, mà thu hoạch được thành quả như thóc lúa, tài lợi các thứ; thành quả đạt được ấy gọi là quả sĩ dụng.

[196] Bodhisattvabhūmi ibid.: cakṣuvijñānañ cakṣurindriyasyādhipatiphalam| evaṁ yāvan manovijñānaṁ mana-indriyasya| tathā prāṇair aviyogo jīvitendriyasya| iti sarveṣām indriyasya| iti sarveṣām indriyāṇāṁ dvāviṁśatīnāṁ svena svenādhipatyena yat phalaṁ nirvartate tad adhipatiphalaṁ veditavyam| nhãn thức là quả tăng thượng của nhãn căn. Cũng vậy, cho đến ý thức đối với ý căn. Như sự chưa phân rã của các cảm quan là quả tăng thượng của mạng căn. Như vậy, tất cả đều là quả tăng thương của căn. Trong 22 căn, quả mà tiến hành bằng thế lực chi phối (tăng thượng) cá biệt của chính nó, quả ấy nên biết là quả tăng thượng.

[197] Du-già 5 ibid.; Hiển dưong 18 ibid.

[198] Giải thích đoạn dẫn Du-già trên.

[199] Bao gồm năm y xứ: tập khí, hữu nhuận, sai biệt công năng, hòa hiệp vag bất chướng ngại.

[200] Bao gồm bảy y xứ: tập khí y xứ đối với chủng tử đồng loại; hữu nhuận chủng tử y xứ đối với hiện hành và chủng tử đồng loại; chân thật kiến đối với hiện hành đồng loại; thùy thuận, sai biệt công năng, hòa hiệp, và bất chướng ngại.

[201] Bao gồm năm y xứ: chân kiến, tùy thuận, sai biệt công năng, hòa hiệp, bất chướng ngại.

[202] Bao gồm năm y xứ: lãnh thọ, sĩ dụng, tác dụng, hòa hiệp, bất chướng ngại.

[203] Các y xứ còn lại: ngữ, cảnh giới, căn, chướng ngại.

[204]Câu-xá 6 tr. 33a5: duy chỉ các pháp thiện và bất thiện có nhân dị thục. Samuccaya, Gokhale p.27, 23. Tatia p. 37, 20: kathaṃ parigrahataḥ/ akuśalāḥ kuśalasāsravāś ca dharmāḥ/ ātmabhāvaparigrahāya/ … vipākahetur punar āyatyām ekāntavisadṛśasyaivānivṛtavyākṛtasyātmabhāvasaṃgḥhītasya vipākasyākṣepa-katvāt parigrahārthena vyavasthāpitaḥ…/ Dị thục nhân, đó là các pháp bất thiện, và thiện hữu lậu, mà tự thể của chúng được bảo tồn, vì trong tương lai chúng dẫn đến quả dị thục, đến tình trạng chín muồi, mà tự thể của nó được bảo tồn với tính chất vô ký nhưng hữu phú hoàn toàn khác với nhân.

[205] Các y xứ khác: tức trong năm y xứ có mặt dị thục nhân dẫn đến dị thục quả, như trong giải thích trên. Xem cht. 199.

[206] Dị thục nhân dẫn đến dị thục quả; nhân quả cách biệt nhau bằng các quãng thời gian.

[207] Trong bảy y xứ; xem cht. 200.

[208] Trong năm y xứ, xem cht. 201.

[209] Gồm năm y xứ, xem cht. 202.

[210] Đề tài chính trong tiết này là bốn duyên, tức các điều kiện cho quá trìnhh quan hệ và biến thái của thức.  Tức ý nghĩac mà tụng 18 nói: “Bĩ bĩ phân biệt sinh.” Quan hệ này gồm có chủng tử với chủng tử, chủng tử với hiện hành, và hiện hành với hiện hành

[211] Giả thích ý nghĩa của từ “phân biệt”  (vikalpa) trong tụng 18. Ở đây nói về các điều kiện để chủng tử sinh hiện hành.

[212] Các năng duyên: các tâm tâm sở hiện hành, Thuật ký: Năng duyên, chỉ kiến phần của các thức. Trừ năm thức đầu và thức thứ bảy, chúng không bao giờ duyên đến chủng tử. Thức thứ sáu, không thường xuyên. Thức thứ tám, thương trực duyên chủng tử.

[213] Các điều kiện để hiện hành sinh hiện hành

[214] Quan hệ của các thức hiện hành nơi bản thân một hữu tình này với thức hiện hành nơi các hữu tình khác, như trường hợp tha tâm trí.

[215] Trong tám thức, mỗi một thức bao gồm cả các pháp tương ưng, cùng kiến và tương phần tạo thành một nhóm gọi là thức tụ.

[216] Thức thứ tám là sở duyên duyên cho bảy chuyển thức. Thức thứ bảy duyên vào kiến phần của trhức thứ tám. Năm thức đầu duyên tương phần của thứ tám. Thức thứ sáu duyên cả kiến phẩn và tướng phần của thứ tám.

[217] Xem cht, 118.

[218] Năm thức đàu chỉ duyên ngoại giới nên thứ bảy không làm sở duyên. Ý thức duyên đến mọi pháp, kể cả thức thứ bảy.

[219] Thức thứ bảy không bao giờ lấy sáu thức làm đối tượng để duyên đến.

[220] Năm thức lấy tướng phần thứ tám làm chất thể để duyên đến.

[221] Trần-na, Quán sở duyên duyên, T31, tr. 888c23: 或前為後緣 引彼功能故.Thuât ký: Trần-na theo quan điểm nhân quả dị thời của Kinh bộ. Kiến phần của thức thuộc sát-na sau lấy tướng phần của thức sát-na trước làm đối tượng. Khi năm thức duyên đối tượng ngoại giới, tướng phần hiện hành của năm thức được huân tập thành chủng tử. Sát-na tiếp theo, chủng tử này xuất hiện thành hiện hành tướng phần làm đối tượng. Đó là điều mà Trần-na nói là thức niệm sau duyên đến thức niệm trước. Cf. Sớ sao 13 tr. 402b2.

[222] Năm thức huân thành chủng tử tướng phần của thứ tám. Thứ bảy huân thành chủng tử kiến phần.

[223] Tâm và các tâm sở trong một tụ thức là những dị thể.

[224] Mối quan hệ không có sở duyên duyên. Tâm và tâm sở cùng duyên đến một đối tượng thì không thể duyên lẫn nhau.

[225] Cùng gá vào một chất thể mà hoạt động, tức chúng cùng chung một đối tượng; tâm và tâm sở đồng nhất sở duyên. Vì thế, chúng không thể làm sở duyên cho nhau. Xem định nghĩa về sở duyên duyên trong mục bốn duyên ở trên. Cf. Tì-bà-sa 9. tr. 42c14, 43c14, bác bỏ quan điểm của Pháp mật bộ (Dharmagupta) theo đó tâm, tâm sở pháp có thể nhận thức các pháp tương ưng. Không nhận thức được. Vì tâm và tấm sở pháp cùng duyên đến một đối tượng chung.  Như một đám người  tụ tập tại một chỗ, cùng nhìn chung lên trời, họ không thể nhìn thấy mặt nhau.

[226] Tâm và tâm sở tưong ưng của nó khi hoat động đều gồm hai phần bất tương ly: kiến phần (chủ thể) và tướng phần (khách thể). Kiến phần của tâm không thể là đối tượng cho kiến phần của tâm sở. Nhưng tướng phần của chúng thì có thể làm đối tượng cho nhau. Như khi thức xúc chạm đối đối tượng, nó biết xúc; nghĩa là, nó biết nó đang xúc cái gì. Tức là chỉ biết được tướng phần của xúc. KHi thức khởi, tâm sở tương ưng của nó như xúc cũng khởi theo. Xúc khởi do bám vào cái mà thức đang thấy, tức tướng phần của thức, chứ không phải bám vào bản thân thức (kiến phần).

[227] Tướng phần là ảnh chiếu của đối tượng lên thức. Ảnh chiếu ấy xuất phát từ một thực thể, như bóng trong gương là ảnh chiếu của hình chất bên ngoài gương. Như tâm sở xúc tương ưng của thức thứ tám. Nó hoạt động với hai phần bất khả ly. Tướng phần của nó là ảnh chiếu từ chất thể là chủng tử trong thức thứ tám. Thứ tám hoạt động cũng với hai phần, kiến và tướng. Khi thức khởi, xúc biến hành cũng khởi; nó lấy tướng phần của thức thứ tám làm chất thể, bám vào đó, lấy đó làm sở duyên. Như vậy, kiến phần của tấm và tươn sở tương ưng không làm đối tượng (sở duyên duyên) cho nhau, nhưng tướng phần của chúng thì có.

[228] Trong Vô sắc giới tất nhiên thức vẫn tồn tại, và do đó tâm sở tương ưng của nó, như biến hành xúc cũng tồn tại. Nhưng ở đây không có hiện hành sắc làm chất thể để phản chiếu thành tướng phần trên xúc. Vậy chất thể cho tướng phần trên xúc chính là chủng tử.

[229] Thánh giả Bất hoàn sinh Vô sắc giới, khi quán sát hạ giới, do định lực mà sắc xuất hiện, đó không phải do hiện hành sắc của hạ giới là chất thể, mà do chủng tử trong thức thứ tám làm chất thể cho tướng phần.

[230] Kiến phần của thức thứ tám và thứ sáu trong Vô sắc khi Thánh giả Bất hoàn quán sát hạ giới. Chất thể cho tướng phần của cả hai đều đồng nhất.

[231] Thuật ký: như trong tâm sở thọ, tướng và kiến phần là đồng thể. Tổng quát, cả bốn phần là đồng thể.

[232] Tức kiến phần làm hai duyên; tự chứng phần chỉ một.

[233] Tự chứng phần và chứng tự chứng phần.

[234] Đoạn này chỉ căn cứ trên quan hệ hiện hành với hiện hành.

[235] Bàn về hoạt động của thức nơi quả vị Phật.

[236] Ý nghĩa của từ “phân biệt” (vikalpa) trong tụng văn.

[237] Tức chủng tử sinh hiện hành và hiện hành sinh hiện hành.

[238] Tức hiện hành sinh chủng tử, và chủng tử sinh chủng tử.

[239] Tức đẳng vô gián duyên và sở duyên duyên.

[240] Nhân duyên và tăng thượng duyên.

[241] Tức chủng tử khác tính chất.

[242] Các con sô chỉ khoa mục phân loại về ý nghĩa của sự phân biệt, sẽ được giải thích trong chương về ba tính. Lăng-già 5 (545a8-a15), nói đến 10 phân biệt. Du-già 36 (tr. 489c), Hiển dương 16 (tr. 558b16) nói đến 8 loại phân biệt.

cập nhật : 15-09-2009   

Google


www.phatviet.com website khác

Trao đổi ý kiến và đăng sách báo, bài viết sáng tác, dịch thuật, nghiên cứu, v.v... xin gởi đến email: Ban Tu Thư Phật Việt (hoặc hanhqua@gmail.com)