LUẬN THÀNH DUY THỨC
成唯識論
(T31n1585)
Bản dịch Việt
TUỆ SỸ
(chương 1)
(chương 2)
(chương
3)
(chương 4)
(chương 5)
(chương 6)
(chương
7)
(chương 8)
Phụ bản: Thành Duy Thức Luận (T31n1585)
Thư mục chú thích
Chương V:
Sở biến của Thức
Tiết 1. Bến thái của thức
Tiết 2. Chứng minh giáo nghĩa duy thức
1. Giáo chứng
2. Lý chứng
3. Các nghi vấn
Tiết 3. Duy thức duyên khởi
1. Bốn duyên
1. Nhân duyên
2. Đẳng vô gián duyên
3. Sở duyên duyên
4. Tăng thượng duyên
2. Mười nhân
1. Mười nhân và mười lăm y xứ
2. Mười nhân và hai nhân
3. Bốn duyên và mười lăm y xứ
3. Năm quả
a. Định nghĩa
b. Các y xứ
c. Quả với nhân và duyên
Tiết 4. Chủng tử và hiện hành
CHƯƠNG V: SỞ BIẾN
CỦA THỨC
Ở trên, đã phân
tích chi tiết các yếu tính của ba loại thức, như là các chủ thể biến
thái, làm sở y cho hai phần, kiến và tướng, tức là những ảnh tượng được
biến thái từ bản thân chúng.
Nên hiểu như
thế nào điều được nói rằng ngã và pháp chỉ là những giả thuyết
y trên sự biến thái của thức; chúng không phải là những thực hữu riêng
biệt,
do đó nói tất cả duy chỉ là thức?
Tụng:
是諸識轉變
分別所分別
由此彼皆無
故一切唯識
[17]
Sự chuyển biến của các thức, đó là
cái phân biệt, cái được phân biệt. Do ý nghĩa này, cái đó không tồn tại,
vì vậy nói tất cả duy chỉ là thức.
TIẾT 1. BIẾN THÁI CỦA THỨC
Luận:
1.
“Các thức ấy”, chỉ cho ba thức năng biến đã được nói, cùng với các tâm
sở của chúng. Chúng biến tợ
thành hai phần kiến và tướng, nên nói là chuyển biến.
Cái được biến
thái như là kiến phần được gọi là phân biệt, vì nó thu nhận các yếu
tính.
Cái được biến
thái như là tướng phần được gọi là sở phân biệt, vì nó được tiếp nhận
bởi kiến phần.
Do chính lý
này, một cách xác định, không có thật ngã và thật pháp nào tồn tại ngoài
thức, vì ngoài cái tiếp nhận (năng thủ) và cái được tiếp nhận (sở thủ)
không còn vật nào khác nữa, và vì không thật vật nào khác tồn tại ngoài
hai hình thái ấy.
Vì vậy, tất cả
hữu vi, vô vi, hoặc thật, hoặc giả, thảy đều không tách rời khỏi thức.
Nói là “duy chỉ”
là để phủ nhận thật vật ngoài thức, chứ không phải phủ nhận các pháp tâm
sở vốn không tách rời thức.
2.
Hoặc từ “chuyển biến” chỉ cho thức nội tại chuyển thành ảnh tượng xuất
hiện ngoại giới như là ngã và pháp. Cái chuyển biến ấy được gọi là phân
biệt, vì tự tính của nó là hư vọng phân biệt, tức tâm và tâm sở hệ thuộc
tam giới.
Cảnh được chấp thủ này được gọi là cái được phân biệt, tức cái được chấp
thủ một cách sai lầm như là thật ngã và thật pháp. Do sự phan biệt này,
(tự thể của thức) xuất hiện thành ảnh tợ ngoại giới như là ngã và pháp.
Cái được phân biệt như là thật ngã và thật pháp ấy hiển nhiên hoàn tòn
không tồn tại. Điều này đã được phê bình chi tiết với dẫn chứng giáo lý
ở đoạn trước.
3. Vì vậy, tất
cả duy chỉ là thức, vì sự tồn tại của cái phân biệt hư vọng được chứng
thực một cách phổ biến.
Từ “duy chỉ” đã
không loại trừ các pháp không tachs rời thức, cho nên chân không các thứ
cũng là tồn tại thể. Do vậy mà tránh xa hai cực đoan tích cực và tiêu
cực, chứng thành ý nghĩa Duy thức, khế hội với trung đạo.
TIẾT 2. CHỨNG MINH GIÁO NGHĨA DUY
THỨC
Do giáo và lý
nào mà chứng thành ý nghĩa Duy thức?
Há chẳng phải
điều đó đã được nói rồi?
Tuy đã có nói, nhưng chưa đầy đủ. Không phải rằng chỉ phê bình các
thuyết khác mà giáo nghĩa của mình được chứng thành. Do đó, ở đây cần
tình bày xác thực những giáo và lý để chứng thành.
1. Giáo
chứng
Như Khế kinh
nói: “Tam giới duy tâm.”
Lại nói: “Sở
duyên của thức duy chỉ là cái được hiển hiện bởi thức.”
Lại nói: “Các
pháp đều không lìa tâm.”
Lại nói: “Hữu
tình, tùy theo sự cáu bẩn hay thanh tịnh của tâm.”
Lại nói: “Bồ
tát thành tựu bốn trí có thể tùy theo đó ngộ nhập duy chỉ thức, không có
đối tượng.
“Một, trí về
thức tướng tương vi: Ở tại một điểm, sở kiến của quỷ, người, trời khác
nhau, tùy theo sự sai biệt của nghiệp. Nếu cảnh có thật, là sao giải
thích được điều này?
“Hai, trí về
thức không có sở duyên: Đối tượng thuộc quá khứ, vị lai, trong chiêm
bao, ảnh tượng, chúng không phải là cảnh có thật, nhưng thức vẫn có thể
nhận bắt được như là hiện thực. Cảnh ấy không có thật; các cảnh khác
cũng vậy.
“Ba, trí về sự
không điên đảo không cần dụng công: trí của kẻ phàm ngu khi đạt được
cảnh thật, trí ấy tự nhiên thành, không điên đảo, không do dụng công mà
tự nhiên được giải thoát.
“Bốn, trí tùy
chuyển theo ba trí sau đây: Một, trí tùy chuyển theo trí của vị đã tự
tại, tức vị đã đạt tự tại tùy theo ý muốn có thể chuyển đổi đất các thứ.
Nếu cảnh có thật, làm sao có thể biến đổi? Hai, trí tùy chuyển theo trí
của người quán sát, tức vị đã đạt được thắng đinh mà tu pháp quán, khi
quán tập trung trên một đối tượng mà mội hiện tượng đều hiện yiền. Nếu
cảnh có thật, làm sao nó biến chuyển theo tâm? Ba, trí tùy chuyển theo
trí vô phân biệt, tức là khi phát khởi trí vô phân biệt thực chứng, bấy
giờ mọi đặc tính của đối tượng không hiện tiền. Nếu cảnh có thật, vì sao
chúng không xuất hiện?”
Bồ tát thành
tựu bốn trí quyết định ngộ nhập lý Duy thức.
Lại nữa, già-đà
nói: “Sở duyên của tâm, ý thức, thảy đều không tách rời tự tính. Do đo,
Ta nói, tất cả duy chỉ có thức, không có gì khác.”
Thánh giáo để
chứngminh như vậy không phải ít.
2. Lý
chứng
1. Nhãn thức,
mà đã được công nhận chung,
vì tùy theo một trong năm, như các thức khác, không trực tiếp đến các
sắc tách rời chính nó.
2. Thức khác,
vì là thức, như nhãn thức, cũng không trực tiếp duyên đến các pháp tách
rời nó.
3. Sở duyên
trực tiếp của thức này nhất định không tách rời thức này, vì thuộc về một
trong hai phần, như năng duyên kia.
4. Vì là pháp
sở duyên, như pháp tương ưng,
quyết định không lìa tâm và tâm sở.
Những chính lý
để chứng minh như vậy không phải chỉ một hai. Do đó, duy thức cần được
tín thọ một cách sâu sắc.
Ngã và pháp
không phải là hữu thể; không và thức không phải là vô thể. Lìa cả hữu và
vô, như vậy khế hợp trung đạo. Từ Tôn y cứ theo đây mà nói hai bài tụng:
Phân biệt hư vọng thành hữu thể.
Ở đây cả hai đều vô thể.
Trong đó duy chỉ là
không tính.
Nơi cái kia cũng có cái
này.
Do
đó nói hết thảy các pháp,
Không phải không, không
phải bất không.
Do bởi hữu, phi hữu, và
hữu,
Như vậy khế hợp với
trung đạo.
Các bài tụng này y cứ y tha phần
nhiễm mà nói. Lý thật, cũng có y tha phần tịnh.
3. Các
nghi vấn
1. Nếu duy chỉ
là nội thức, xuất hiện thành ảnh tợ như là ngoại cảnh, há chằng thấy
rằng trong thê gian cắc sự vật thuộc hữu tình hay phi tình mà xứ sở,
thời gian, thân thể, tác dụng hoặc xác định, hoặc không xác định?
Trước hết, các
nghi vấn này cần được giải thích bằng cảnh tượng trong chiêm bao, và
bằng các thí dụ khác nữa.
2. Duyên do gì
Thế Tôn nói mười hai xứ?
Y cứ sở biến
của thức, chứ không phải có thật vật riêng biệt.
Để ngộ nhập ngã không nên Phật nói sáu cặp pháp.
Cũng như để loại trừ đoạn kiến, Phật nói đến hữu tình tương tục. Và cũng
để ngộ nhập pháp không, lại nói duy chỉ là thức, khiến cho nhận thức
được pháp ngoại tại cũng không là thật hữu.
3. Há không
phải rằng duy thức tính này cũng là không?
Không phải.
Thế nào?
Vì nó không
phải là cái bị chấp thủ. Y trên sở biến của thức mà chấp thủ một cách
sai lầm là tồn tại thật pháp, nhưng theo chính lý đò không thể nói là
pháp không. Không phải rằng không tồn tại duy thức tính được chứng ngộ
bởi chính trí ly ngôn mà nói là pháp không. Nếu không tồn tại thức này,
sẽ không có tục đế. Do không có tục đế nên chân đế cũng không. Vì chân
và tục được thiết lập bằng sự y chỉ lẫn nhau. Bác bỏ hai đế, đó là chấp
thủ Không một cách tai hại, mà chư Phật nói là không thể trị. Nên biết,
các pháp có không và bất không. Do điều này dức Từ Tôn đã nói hai bài
tụng dẫn trên.
4. Nếu thể của
các sắc xứ cũng là thức, do bởi nhân duyên gì mà thức hiển hiện như là
tợ sắc tướng, vận hành thành một dòng tương tục đồng nhất loại và bền
vững?
Vì chúng được
sản sinh bởi thế lực của danh ngôn huân tập. Vì chúng làm y xứ cho các
pháp nhiễm và tịnh.
Nếu chúng không tồn tại,
sẽ không có sự điên đảo, và do đó không có pháp tạp nhiễm cũng không có
pháp tịnh. Do đó các thức cũng hiển hiện như là ảnh tợ sắc. Như tụng
nói:
Loạn tướng và loạn thể,
Nên nói là sắc thức,
Và là phi sắc thức.
Đây không, kia cũng không.
5. Ngoại cảnh, sắc
các thứ, được hiện chứng một cách phân minh, được nhận thức bằng hiện
lượng, sao lại bác bỏ là không tồn tại?
Khi được tri giác
bằng hiện lượng, nó không được tiếp nhận như là ngoại tại, nhưng sau đó
do phân biệt của ý mà phát sinh ý tưởng sai lầm là ngoại tại.
Vì vậy cảnh của hiện lượng chính là tự tướng phần. Vì là sở biến của
thức nên cũng được nói là tồn tại. Nhưng cái được chấp thủ bởi ý thức,
mà tưởng tượng sai lầm như là thật sắc ngoại giới, do đó nó được nói là
không tồn tại.
Lại nữa, ngoại
cảnh, sắc các thứ, không phải sắc mà tợ sắc, không phải ngoại tại mà tợ
ngoại tại, nhưng các đối tượng trong chiêm bao, không thể quan niệm là
thật có sắc ngoại tại.
6. Nói rằng khi
tỉnh giấc, sắc, thảy đều như cảnh trong chiêm bao, không lìa thức. Như
khi tỉnh giấc chiêm bao, ta biết đó duy chỉ là tâm, nhưng vì sao khi
giác tỉnh, lại không biết rằng cảnh sắc mà ta đang thấy duy chỉ là thức?
Cũng như đang
chiêm bao, chưa tỉnh giác, thì không thể tự mình biết được điều đó, phải
đợi sau khi tỉnh giấc, hồi ức mới biết.
Cảnh sắc trong lúc ta giác tỉnh cũng vậy, khi chưa thật sự giác ngộ thì
cũng không thêt tự mình biết rõ được; chỉ đến khi chân chính giác ngộ,
bấy giờ tru ức mà biết. Chưa chân chính giác ngộ, luôn luôn sống trong
chiêm bao, cho nên Phật nói là đêm dài sinh tử. Do bởi chưa rõ sắc cảnh
duy chỉ là thức.
7. Ngoại sắc thật
sự không tồn tại, nhưng cũng có thể nói nó không phải cảnh bên trong
thức. Như tâm của người khác, há không phải là đối tượng của ta?
Ai nói tâm của
người khác không phải là cảnh của thức của ta? Duy chỉ không nói rằng nó
không phải là đối tượng trực tiếp. Khi thức ta phát sinh, tâm của người
không thật sự có tác dụng, không phải như tay trực tiếp cầm nắm vật
ngoại thân, hay như mặt trời rọi thẳng ánh sang lên ngoại cảnh. Nó giống
như tấm gương mà vật hiện trong dó tợ như ngoại cảnh. Nhận biêt tâm
người khác cũng vậy, không phải trực tiệp nhận biết.
Cái được trực tiếp nhận biêt chính là sở biến của tâm ta.
Cho nên, Khế kinh
nói: Không có bất cứ pháp nào năm bắt pháp khác, mà chỉ là khi thức phát
sinh, trên nó xuất hiện các đặc tính tương tợ vật kia nên gọi là nó nắm
bắt vật kia.
Như duyên đến tâm
người khác, duyên đến sắc các thứ cũng vậy.
8. Đã có cảnh dị
biệt, sao có thể nói là duy chỉ có thức?
Kỳ lạ tha, sự
cố chấp! Đụng đến bất cứ điều gì cũng sinh nghi. Há giáo nghĩa duy thức
nói rằng duy chỉ một thức? Không phải. Vậy thì sao? Ngài hãy lằng nghe
kỹ. Nếu duy chỉ một thức, há có sự sai biệt nhân quả, tôn ty, mười
phương phàm Thánh, và ai nói cho ai nghe pháp gì, để mong cầu gì? Cho
nên, từ “duy thức” có ý thú rất sâu xa.
“Thức” tổng
quát chỉ cho tám thức mà mỗi hữu tình đều có, chỉ cho các tâm sở trong
sáu phạm trù, chỉ cho sở biến là tướng và kiến, sai biệt của phần vị, và
Chân như được hiển thị bởi Không lý ấy. Dố là, theo thé tự liệtk kê, tự
tướng của thức, tương ưng của thức, hai sở biên của thức, ba phần vị của
thức, và bốn Thật tính. Các pháp như vậy đều không tách rời thức, nên
gọi chung là “thức.”
Từ “duy” là để
loại bỏ quan niệm của phàm phu cho rằng nhất định tồn tại sắc có thật
bên ngoài các thức.
Nếu lãnh hội
thâm ý của giáo nghĩa Duy thức như vậy, bấy giờ có thể chuẩn bị hành
trang đầy đủ một cách thiện xảo, không điên đảo, để nhanh chóng ngộ nhấp
pháp không, chứng Vô thượng giác, cứu vơt hàm thức ra khỏi bang xe quay
của sinh tử. Không thể làm thành được những việc như vậy bằng cách hoàn
toàn bác không tồn tại cái gì, chấp thủ Không một cách tai hại, trái
nghịch với giáo lý. Cho nên, cần phải xác tín rằng tất cả duy chỉ là
thức.
TIẾT 3. DUY THỨC DUYÊN KHỞI
Nếu duy chỉ là
thức, hoànd toàn không có các duyên ngoại tại, do đâu mà phát sinh các
hiện tượng sai biệt?
Tụng:
由一切種識
如是如是變
以展轉力故
彼彼分別生
[18]
Thức, hạt giống của tất cả, do tác
động hỗ tương, tiến hành biến thái như vậy, như vậy, do bởi đó, xuất
hiện cấu trúc phân biệt thế này, thế kia.
Luận:
Thức, hạt giống
của tất cả - nhất thiết chủng thức, đó là sai biệt công năng trong bản
thức từ đó sản sinh kết quả của chính nó.
Nó sản sinh các kết quả đẳng lưu, dị thục, sĩ dụng và tăng thượng, do đó
được gọi là nhất thiết chủng, hạt giống của tất cả.
Trừ ly hệ quả, vì
nó không được sản sinh từ chủng tử,
mà chỉ khi nào hiện khởi thắng đạo
đoạn trừ kết sử bấy giờ nó mới xuất hiện. Tuy pháp vô vi cũng có ý nghĩa
tương hỗ,
nhưng không phải là điều được đề cập ở đây. Đây chỉ đề cập đến chủng tử
như là cái làm phát sinh phân biệt.
Thể của nó – chủng
tử - là thức nên nó được gọi là thức. Vì chủng tử không có tính thể biệt
lập ngoài bản thức. Từ kép “chủng thức” để giản lược thức không phải là
chủng tử, vì có thức không phải là chủng tử,
và có chủng tử không phải là thức.
Lại nữa, từ “chủng
thức” là để nêu rõ chủng tử ở trong thức, chứ không phải là thức duy trì
chủng tử. Điều này sẽ đề cập sau.
Chủng tử ở trong
thức này, do sự hỗ trợ bởi các duyên, tiến hành biến thái như vậy, như
vậy, từ giai đoạn nảy sinh cho đến khi chín. Để nêu rõ chủng tử biến
thái có nhiêu nên từ “như vậy” được lặp lại.
Từ “nhất thiết
chủng” bao gồm tất cả ba loại tập khí,
chủng tử cộng và bất cộng của thức.
“Do tác động hỗ
tương”, tức là tám hiện thức cùng kiến và tướng phần tương ứng của chúng
có năng lực hỗ trợ lẫn nhau.
Các hiện thức được
gọi chung là phân biệt;
vì tự tính của chúng là phân biệt hư vọng. Vì chủng loại phân biệt có
nhiều, nên nói “thế này, thế kia.”
Đại ý bài tụng
nói, tuy không có ngoại duyên, nhưng do trong bản thức có hạt giống của
tất cả, chúng tiến hành biến thái sai biệt, là do lực tác động hỗ tương
của tám loại thức hiện hành, cho nên phát sinh sự phân biệt thế này thế
kia. Vậy, cần gì có các điều kiện ngoại tại sự phân biệt mới phát sinh?
Sự sinh khởi của
các pháp tịnh cũng vậy; do chủng tử tịnh và hiện hành làm duyên mà sinh
khởi.
1. BỐN DUYÊN
Nói rằng, do duyên
là chủng tử và hiện hành mà phát sinh sự phân biệt, vậy tính chất của
duyên sinh này nen hiểu như thế nào?
Ở đây, có bốn
duyên:
1. Nhân
duyên
Nhân duyên, đó
là phát hữu vi tự nó trực tiếp tác thành kết quả của nó. Thể tính của
duyên này có hai: chủng tử và hiện hành.
a. Chủng tử,
đó là các công năng đặc sắc
của các giới, địa, thiện, nhiễm, vô ký ở trong bản thức. Nó dẫn sinh
công năng cùng loại kế tiếp,
và sinh khởi hiện quả cùng loại đồng thời.
b. Hiện hành,
đó là bảy chuyển thức cùng các tâm sở tương ưng của chúng, sở biến tương
và kiến phần, ba tính, ba giới, chín địa, v.v. Trừ thiện trong Phật quả,
vô ký cực yếu; còn lại là những
pháp huân tập bản thức để sản sinh chủng tử cùng loại. Các pháp hiện
hành này có tính nhân duyên chỉ đối với chủng tử.
Tâm phẩm thứ
tám,
vì không huân tập cái gì cả; các tâm sở của nó, vì không phải gạt qua sở
y mà có thể đơn độc huân tập; vì cực vi tế, và cực viên mãn, nên cũng
không huân tập thành chủng tử.
Các hiện hành
đồng loại hỗ tương tác động nhưng không phải là nhân duyên, vì được sản
sinh từ chủng tử của chính nó.
Tất cả những
thứ dị loại hỗ tương tác động cũng không phải là nhân duyên, vì không
trực tiếp sản sinh.
Có thuyết nói,
hiện hành dị loại và đồng loại hỗ tương tác động làm nhân duyên;
nên biết, đó là nói theo ước lệ, họăc theo phương diện tùy chuyển.
Có chỗ nói duy
chỉ chủng tử mới có tính nhân duyên.
Đó là y cứ theo đặc tính nổi bật,
chứ không phải thuyết lý rốt ráo. Vì Thánh nói chuyển thức cùng với
a-lại-da hỗ tương tức động làm nhân duyên.
2. Đẳng vô gián duyên
Đẳng vô gián,
đó là tám hiện thức cũng các tâm sở của chúng, tụ trước đối với tụ, đồng
chủng loại, liên tục không gián đoạn, cái trước mở đường làm điều kiện
cho cái sau quyết định sinh khởi.
Nhiều chủng tử
đồng loại cùng vận hành đồng thời,
như pháp không tương ưng tâm, không có tính chất của loại duyên này. Do
ý nghĩa này, tám thức không hỗ tương làm duyên.
Tâm sở tuy
thường xuyền cùng vận hành với tâm,
chúng tương ưng với tâm, hòa hiệp tợ như một, không thể quan niệm chúng
tách rời nhau để thành biệt lập, do đó hỗ tương làm đẳng vô gián duyên.
Tâm khi nhập vô
dư cực kỳ vi tế, mờ nhạt,
không có tác dụng mở đường, nó cũng không dẫn khởi pháp đẳng vô gián,
cho nên không có tinh chất của duyên này.
Nên hiểu điều
đó như thế nào?
Luận thực sự có
nói rõ, nếu thức này làm điều kiện đẳng vô gián cho thức kia quyết định
sinh khởi, tức nói rằng thức này là duyên đẳng vô gián của thức kia.
Ý nghĩa này cần
được giải thích như sau:
a. Thức
a-đà-na,
trong ba giới, chín địa, đều có thể làm đẳng vô gián duyên, vì sinh tử
trong các cõi dưới, trên, có thể mở đường cho nhau.
Thức hữu lậu trực tiếp không gián cách có thức vô lậu sản sinh. Thức vô
lậu nhất định không sản sinh hữu lậu, vì sau khi đã khởi Kính trí
tất không còn gì để đoạn trừ nữa. Quan hệ của thức thiện với thức vô ký
cũng vậy.
Thức này từ sau
giới nào thì dẫn sinh vô lậu? Hoặc từ sau Dục giới, hoặc từ sau Sắc
giới. Các hạng dị sinh cầu Phật quả
nhất định sau Sắc giới mới dẫn sinh vô lậu; vì hạng này về sau tất định
đi lên Tịnh cư thiên, trong cung Đại Tự Tại,
rồi mới chứng đắc Bồ-đề.
Nếu là hàng Nhị
thừa hồi chuyển đại bồ-đề, nhất định sau Dục giới thì dẫn sinh vô lậu.
Vì chỉ có trong Dục giới mới có sự hồi chuyển và lưu thân.
Hạng này tuy cũng sẽ sinh lên cung Đại Tự Tại rồi mới thành Phật, nhưng
vì lực của bản nguyện, nên thân được bảo lưu duy chỉ thuộc Dục giới.
Quan điểm khác
nói rằng,
trong Sắc giới cũng có hạng Thanh văn hồi thú Đại thừa, nguyện bảo lưu
thân, điều này đối với
giáo và lý đều không có gì mâu thuẫn.
Cho nên, thức thứ tám vô lậu
của Thanh văn cũng có thể hiện tiền ngay sau tâm thuộc Sắc giới. Thế
nhưng, trong Tịnh cư không có sự hồi thú, vì Kinh không nói ở đó có sự
phát khởi đại tâm.
b. Chuyển
thức thứ bảy, trong ba
giới chín địa, cũng hỗ tương làm duyên đẳng vô gián; vì hệ thuộc theo
sinh xứ của thức thứ tám.
Hữu lậu và vô lậu
cũng có thể hỗ tương sản sinh, vì trong các vị mười địa chúng có thể hỗ
tương dẫn sinh. Quan hệ giữa thiện và vô ký cũng vậy.
Trong vô ký,
nhiễm và vô nhiễm
cũng hỗ tương khai đạo; vì trong các địa vị trước và sau trí và quả của
sinh không, chúng có thể dẫn sinh lẫn nhau.
Ở đây, duy chỉ
hữu lậu trong Dục giới và Sắc giới mới có thể dẫn sinh vô lậu, chứ không
phải trong Vô sắc giới; vì Bồ tát trong mười địa không sinh lên đó.
c. Chuyển
thức thứ sáu, trong ba
giới, chín địa, hữu lậu với vô lậu, thiện với bất thiện,
có thể hỗ tương làm đẳng vô gián duyên; vì trong các giai đoạn nhuận
sinh,
chúng dẫn sinh lẫn nhau.
Tối sơ khởi vô
lậu duy chỉ sau Sắc giới;
vì thiện thuộc quyết trạch phần
duy chỉ có ở Sắc giới.
d. Năm thức,
trong đó, các thức của mắt, tai và thân thuộc hai giới, hai địa; hai thức lưỡi và
mũi thuộc một giới một địa,
đồng loại thì làm đẳng vô gián duyên lẫn nhau. Quan hệ giữa thiện các
thứ với nhau, nên biết, cũng vậy.
Có giải thích
nói, năm thức hữu lậu và vô lậu, đồng loại làm đẳng vô gián duyên lẫn
nhau, vì khi chưa thành Phật chúng có thể dẫn sinh lẫn nhau.
Giải thích khác
nói, vô lậu được dẫn khởi sau hữu lậu, chứ không phải sau vô lậu có thể
dẫn khởi hữu lậu.
Vì nếu không phải là Phật thì không có năm thức vô lậu. Và vì năm sắc
căn kia tất nhiên là hữu lậu.
Và cũng vì chúng thuộc tướng phần của thức dị thục.
Căn hữu lậu,
vốn bất cộng,
cần có câu hữu y,
và đồng nhất cảnh,
mà lại dẫn phát thức vô lậu, đó là điều không phù hợp chính lý. Vả lại,
đối với cả hai, đối cảnh có tỏ và mờ
khác nhau.
3. Sở
duyên duyên
Pháp nào
mà tâm, hoặc tương ưng của tâm, mang ảnh tượng của nó,
được tư lự, được ỷ thác,
pháp ấy được gọi là sở duyên duyên.
Thể của nó có
hai, thân và sơ.
Nếu nó là cái không tách ngoài tự thể của năng duyên, được tự lự, được
ỷ thác thuộc nội tại bởi kiến phần, nên biết, đó là thân sở duyên duyên.
Hoặc cái mà tách ngoài thể năng duyên,
nhưng nó là chất thể
dẫn khởi cái được tư lự, được ỷ thác nội tại, cái đó gọi là sơ sở duyên
duyên.
Tất cả năng
duyên đều có thân sở duyên duyên, vì nếu không có cái để nó tư lự, ỷ
thác nội tại thì thức không thể sinh khởi. Đối với sơ sở duyên duyên, có
thể có, hoặc có thể không; vì không cần đến cái bên ngoài làm chỗ để ỷ
thác và tư lự, thức vẫn có thể sinh khởi.
a.
Về tâm phẩm thứ tám,
(1)
Có giải thích nói, nó duy chỉ có thân sở duyên duyên; tùy theo lực của
nghiệp nhân mà đối tượng xuất hiện một cách tự nhiên.
(2)
Giải thích khác nói, tất nhiên
nó cũng có sơ sở duyên duyên; vì cần phải dựa gá chất thể sở biến bởi
thức khác bấy giờ chính nó mới biến thái.
(3)
Lại giải thích khác
bác bỏ cả hai giải thích trên, nói rằng (a)
thân và độ của chính nó và của thức khác
có thể hỗ tương thọ dụng; vì sở biến của thức khác có thể làm chất thể
cho chính nó. (b)
Nhưng chủng tử của chính nó không thể được thọ dụng bởi thức khác; vì sở
biến của thức khác trở thành sở biến của thức này là không hợp lý, và vì
không phải chủng tử của hết thảy hữu tình đều đồng nhau.
Nên nói tâm phẩm này không xác định có hay không có sơ sở duyên duyên
trong tất cả mọi trạng thái.
b.
Vê tâm phẩm thứ bảy, trong trạng thái chưa được chuyển y, vì nó là câu
sinh tất phải dựa gá chất thể bên ngoài,
cho nên nhất định có sơ sở duyên duyên. Trong điều kiện đã được chuyển
y, không nhất định phải có, vì duyên đến chân như thì không cần đến chất
thể ngoại tại.
c.
Tâm phẩm thứ sáu, hành tướng của nó mãnh liệt, nhạy bén, nó vận hành một
cách tư tại trong tất cả mọi trạng thái, hoặc Thánh hoặc phàm, có thể
cần dựa gá ngoại chất, cũng có thể không cần; sơ sở duyên duyên không
nhất định có hay không có.
d.
Về năm tâm phẩm đầu, trong điều kiện chưa được chuyển y, nó thô, chậm
lụt, yếu kém, nên cần gá chất thể ngoại tại, do vậy nhất định phải có sơ
sở duyên duyên. Trong điều kiện đã được chuyển y, không nhất định phải
có sơ sở duyên duyên, vì khi duyên đến các sự quá khứ hay vị lai các thứ
thì không cần đến ngoại chất.
4. Tăng
thượng duyên
a. Tổng quát.-
Nếu pháp mà có thế dụng chi phối, có thể tùy thuận hay vi nghịch các
pháp khác,
pháp ấy được gọi là tăng thượng duyên.
Ba duyên kể
trước tuy cũng có tính chất tăng thượng, nhưng ở trừ ba trường hợp duyên
đã nói, còn lại được bao hàm trong duyên thứ tư này.
Tác dụng tùy
thuận và vi nghịch gây ảnh hưởng trong bốn trường hợp, tức bốn căn cơ
khác nhau; đó là: sinh, trụ, thành và đắc.
b. Căn tăng
thượng.- Tác dụng tăng
thượng, tùy theo sự thể, tuy có nhiều, nhưng uy thế trổi vượt nhất chỉ
có hai mươi hai loại. Nên biết, đó là hai mươi hai căn.
Đầu tiên, năm sắc căn lấy tịnh sắc của mắt v.v., sở biến của bản thức,
làm tính thể. Hai căn nam và nữ thuộc thân căn, tức lấy một phần của
thân căn làm tính thể. Mạng căn là khái niệm y trên phần vị của chủng tử
trực tiếp của bản thức; nó không có tình thể riêng biệt. Ý thức, tổng
thể lấy tám thức làm tính thể.
Năm thọ căn, tùy theo sự tích ứng, mỗi thức có tính thể của thọ riêng
biệt.
Năm căn, tin v.v., lấy tín v.v., và niệm thiện các thứ
làm tính thể.
c. Ba vô lậu
căn.- Thể vị
của căn vị tri đương tri có ba loại: (1) Trong căn bản vị, tại kiến đạo,
trừ sát-na tối hậu vì bấy giờ không còn cái gì chưa biết để sẽ biết.
(2) Trong gia hành vị, tức bốn thiện căn noãn, đỉnh, nhẫn và thế đệ
nhất; ở đây nó trực tiếp dẫn phát căn bản vị. (3) Trong tư lương vị, từ
chỗ chuẩn bị để đạt được hiện quán Thánh đế nên phát khởi quyết định
thắng thiện pháp dục,
cho đến trước khi đạt được thuận quyết trạch phần,
các thiện căn trong khỏang đó gọi là tư lương vị, vì gián tiếp nó tư trợ
phát sinh căn bản vị.
Trong cả ba
giai vị này, tính thể của căn này là năm thiên căn (tín, v.v.), và các
căn ý, hỷ, lạc, xả. Trong các giai vị gia hành và tư lương, do mong cầu
chứng đắc thắng pháp cao hơn mà sinh buồn rầu do đó cũng có ưu căn,
nhưng nó không phải là thiện căn thực sự nên phần nhiều không đề cập.
Ba Vô sắc đầu
cũng có căn này, vì có trường hợp ở trong thắng kiến đạo
do đặc biệt tu tập thêm mà đạt được.
Hoặc ở hàng Nhị
thừa mà hồi thú Đại thừa mà chưa chứng pháp không, trước khi vào Sơ địa
Bồ tát, trí vô lậu về sinh không trong cả chín địa
đối với Bồ tát đều là căn vị tri đương tri.
Kiến đạo của Bồ
tát cũng có vị tri đương tri căn, nhưng nói là trước khi vào Sơ địa, vì
thời gian rút ngắn.
Bắt đầu sát na
tối hậu của kiến đạo cho đến định kim cang dụ, trong khoảng đó, chín căn
vô lậu, gồm tín v.v., thảy đều là dĩ tri căn.
Hạng chưa ly dục, do mong cầu giải thoát cao honư mà sinh ưu sầu, nhưng
đây không phải là thiện căn thực sự cho nên phần nhiều không đề cập.
Chín vô lậu căn
trong hang vô học, tất cả đều là cụ tri căn.
Trong Hữu đỉnh,
tuy du quán
vô lậu, nhưng vì không sang tỏ và nhạy bén nên không phải là ba căn
cuối.
Tự tính của hai
mươi hai căn là như vậy. Những vấn đề còn lại, nên biết, như Luận đã
nói.
2. MƯỜI NHÂN
1. Mười nhân và mười lăm y xứ
Bốn duyên như
vậy, y trên mười lăm xứ,
do ý nghĩa sai biệt nên lập mười nhân.
Như thế nào, y trên mười lăm xứ mà lập?
a. Tùy
thuyết nhân và ngữ y xứ
(1) Ngữ y xứ,
tính thể của ngôn ngữ được dẫn khởi bởi pháp, danh, tưởng. Y trên cơ sở
này mà lập tùy thuyết nhân.
Theo đó, y trên ngữ này mà nói lên ý nghĩa của những gì được thấy, được
nghe các thứ. Đây là cái nói làm nhân cho cái được nói.
Luận giải khác
nói, đó là danh, tưởng và thấy.
Tức là tùy theo danh tự, tướng được nắm bắt, được chấp chặt, mà tùy theo
đó ngôn thuyết khởi lên. Theo luận giải này, vậy nhân này là y xứ của
ngữ.
b. Quan
đãi nhân và lãnh thọ y xứ
Lãnh thọ y xứ,
đó là tính chất quan hệ tương tác giữa cái lãnh thọ và cái được lãnh
thọ. Y trên cơ sở này mà lập quan đãi nhân. Tức là, do quan hệ tương tác
với cái này mà các sự vật kia hoặc sinh, hoặc trụ, hoặc thành, hoặc đắc.
Cái này là quan đãi nhân của cái kia.
c.
Khiên dẫn nhân và tập khí y xứ
Tập khí y xứ,
đó là chủng tử, hoặc nội tại hoặc ngoại tại, chưa đến giai đoạn chín
muồi; y trên cơ sở này mà lập khiên dẫn nhân.
Vì nó lôi kéo dẫn đến kết quả của chính nó.
d. Sinh
khởi nhân và hữu nhuận chủng tử y xứ
Hữu nhuận chủng
tử y xứ,
đó là các loại chủng tử nội hay ngoại tại đã đến giai đoạn chín muồi; y
trên cơ sở này mà lập sinh khởi nhân; vì nó sản sinh kết quả gần của
chính nó.
e. Nhiếp
thọ nhân và tổng thể sáu y xứ
Thứ năm, vô
gián diệt y xứ,
đó là đẳng vô gián duyên của tâm, tâm sở các thứ.
Thứ sáu, cảnh
giới y xứ, đó là sở duyên duyên của tâm, tâm sở các thứ.
Thứ bảy, căn y
xứ, đó là sáu căn làm sở y cho tâm, tâm sở.
Thứ tám, tác
dụng y xứ, đó là tác dụng công cụ đối với nghiệp được tạo tác.
Tức trừ chủng tử, các duyên khác hiên diện trợ lực.
Thứ chín, sĩ
dụng y xứ,
đó là tác dụng của tác giả đối với nghiệp được tạo tác. Tức trừ chủng
tử, các duyên khác hiên diện tác thành.
Thứ mười, chân
thật kiến y xứ, đó là kiến vô lậu; trừ việc dẫn sinh chủng tử của chính
nó, những gì hỗ trợ, dẫn sinh, chứng đắc pháp vô lậu.
Y trên tổng thể
sáu cơ sở này lập nhiếp thọ nhân.
Tức là, năm điều kiện nhiếp thọ trợ lực hoàn thành pháp hữu lậu, và đủ
cả sáu điều kiện nhiếp thọ trợ lực hoàn thành vô lậu
f. Dẫn
phát nhân và tùy thuận y xứ
Thứ mười một,
tùy thuận y xứ, đó là các hành, bao gồm cả chủng tử và hiện hành, với
các tính chất vô ký, nhiễm, thiện; chúng tùy thuận các pháp đồng loại có
ưu thế hơn.
Y trên cơ sở này lập dẫn phát nhân.
g. Định
dị nhân và sai biệt công năng y xứ
Thứ mười hai,
sai biệt công năng y xứ,
đó
là các pháp hữu vi, mà mỗi thứ, có thế lực khiến phát khời hay chứng đắc
quả của chính nó; y trên cơ sở này lập định dị nhân.
Tức là, mỗi thứ sản sinh quả trong giới hệ của nó, và khiến đạt được quả
trong Thừa của nó.
Thứ mưới ba,
hòa hiệp y xứ,
lực hòa hiệp của các y xứ, từ lãnh thọ cho đến sai biệt công năng y xứ,
trong sự sản sinh, tồn tại, hoàn thành, đạt quả. Y trên cơ sở này lập
đồng sự nhân. Tức là, từ quan đãi nhân cho đến định dị nhân, các nhân
này đều cùng chung hoạt động như sản sinh, tồn tại, v.v.
Chướng ngại y
xứ, đó là pháp gây chướng ngại trong quá trình sản sinh, tồn tại, hoàn
thành, đạt quả. Y trên cơ sở này lập tương vi nhân. Vì nó vi nghịch các
sự kiện sinh v.v.
Bất chướng ngại
y xứ, đó là pháp không gay chướng ngại trong quá trình sinh, trụ, thành,
đắc. Y trên cơ sở này lập bất tương vi nhân. Vì nó không vi nghịch sự
kiện sinh v.v.
2. Mười nhân và hai nhân
Mười nhân như
vậy được bao hàm trong hai nhân: năng sinh nhân và phương tiện nhân. Bồ
tát địa
nói, chủng tử dẫn khởi và chủng tử sinh khởi, gọi là năng sinh nhân.
Ngoài ra, được kể trong phương tiện nhân. Điều này có nghĩa rằng, các
chủng tử làm nhân duyên trong các nhân khiên dẫn, sinh khởi, định dị,
đồng sự, bất tương vi, trong trạng thái chưa chín muồi, được gọi là
chủng tử khiên dẫn. Khi ở trong điều kiện đã chín muồi, nó được gọi là
chủng tử sinh khởi. Vì các chùng tử làm nhân duyên trong sáu loại nhân
đều thuộc về một trong hai trạng thái này.
Mặc dù cũng có
pháp hiện khởi là năng sinh nhân,
như trong bốn nhân, nó sản sinh chủng tử của nó, nhưng phần nhiều gián
đoạn, vì vậy Luận bỏ qua không đề cập.
Hoặc cái trực
tiếp hoàn thành quả, cái đó cũng được gọi là chủng tử. Thí dụ, các thứ
hiện hành như thóc lúa cũng được gọi là chủng tử.
Các nhân còn
lại, nhân thứ nhất tùy thuyết, thứ hai quan đãi, thứ năm nhiếp thọ, thứ
chín tương vi, và các pháp không phải là nhân duyên mà thuộc trong sáu
nhân nêu trên, chúng được kể ở ngoài các chủng tử làm nhân duyên trong
trạng thái sống hay chín,
do đó được kể chung trong phương tiện nhân.
Không phải rằng
hai loại chủng tử này duy chỉ thuộc hai nhân kia; vì trong bốn nhân còn
lại cũng có chủng tử làm nhân duyên. Không phải rằng tám nhân đó được
nói là những nhân còn lại. Vì trong hai nhân ấy cũng có chủng tử không
phải là nhân duyên.
Hữu tầm địa
nói, sinh khởi nhân là năng sinh nhân, còn lại được kể trong phương
tiện. Đại ý đoạn văn này nói, trong sáu nhân, hiện hành hay chủng tử nào
làm nhân duyên, nó được gọi là sinh khởi nhân, vì nó trực tiếp sản sinh
quả đồng loại của chính nó. Ngoài ra, thảy đều được kể trong phương
tiện.
Không phải rằng
sinh khởi nhân nói ở đây duy chỉ thuộc (sinh khởi) nhân (trong mười
nhân) kia; vì trong năm nhân còn lại cũng có nhân duyên. Cũng không phải
rằng chín nhân kia được gọi là những nhân còn lại, vì trong sinh khởi
nhân cũng có cái không phải là nhân duyên.
Hoặc chủng tử
khiên dẫn và chủng tử sinh khởi được nói trong Bồ tát địa cũng chính là
hai nhân kia (trong mười nhân). Các nhân còn lại, tức tám nhân còn lại.
Tuy trong hai nhân này cũng có cái không phải là năng sinh nhân, nhưng
vì chủng tử làm nhân duyên có ưu thế, điều này được thấy rõ, nên đặc
biệt nói riêng. Trong các nhân còn lại tuy cũng có cái không phải là
phương tiện nhân, nhưng ảnh hưởng chi phối lớn, điều này được thấy rõ
nên đặc biệt nói riêng.
Hữu tầm địa
nói, sinh khởi nhân, đó là năng sinh nhân, ngoài ra là phương tiện. Sinh
khởi nói ở đây tức là sinh khởi nhân (trong mười nhân) kia. Các nhân còn
lại, nên biết đó là chín nhân kia.
Tuy trong sinh
khởi cũng có chủng tử không phải là nhân duyên, nhưng các quả rất gần,
để nêu rõ điều này này đặc biệt nói riêng. Tuy trong khiên dẫn chũng có
chủng tử là nhân duyên nhưng vì cách quá khá xa, ẩn nên không đề cập.
Ngoài ra được
kể là phương tiện nhân, cần được biết, chuẩn theo trên đây.
3. Bốn
duyên và mười lăm y xứ
Bốn duyên như
đã được nói được lập trên cơ sở nào? Vả, chúng bao hàm mười nhân và hai
nhân như thế nào?
Luận
nói, nhân duyên được lập y trên chủng tử. Y vô gián diệt lập đẳng vô
gián duyên. Y cảnh giới lập sở duyên duyên. Y trên những gì còn lại lập
tăng thượng duyên.
Trong đó, nói
chủng tử, là các chủng làm nhân duyên thuộc trong sáu y xứ: thứ tư (hữu
nhuận chủng tử y xứ), thứ mười một (tùy thuận y xứ), thứ mười hai (sai
biệt công năng y xứ), thứ mười ba (hòa hiệp y xứ), thứ mười lăm (bất
chướng ngại y xứ).
Tuy những thứ
hiện hành trong bốn y xứ
cũng có thứ làm nhân duyên, nhưng vì phần nhiều gián đoạn nên đây lược
qua không đề cập.
Hoặc các hiện
hành này cũng có thể trực tiếp hoàn thành quả của nó, như ngoại giới
thóc lúa các thứ, nên cũng được gọi là chủng tử.
Hoặc nói chủng
tử duy chỉ thuộc thứ tư (hữu nhuận chủng tử y xứ). Các vấn đề, thân và
sơ, ẩn và hiển, thủ và xả, y như đã nói trên.
Nói vô gián
diệt và cảnh giới y xứ, nên biết, đó là nêu tổng quát y xứ của hai
duyên, chứ không phải chỉ có hai y xứ thứ năm và thứ sáu này. Trong các
y xứ còn lại cũng có nghĩa của hai duyên trung gian.
Hoặc nói duy
chỉ y xứ thứ năm và thứ sáu. Các y xứ còn lại tuy có, nhưng vì ít và ẩn
nên lược qua không đề cập.
Luận
nói nhân duyên bao hàm năng sinh nhân. Tăng thượng duyên tính tức phương
tiện nhân. Hai duyên trung gian bao hàm nhiếp thọ nhân.
Mặc dù trong
phương tiện nhân hàm đủ ba duyên sau, nhưng tăng thượng duyên nhiều hơn,
do đó được nêu riêng.
Các nhân còn
lại
cũng có hai duyên trung gian, nhưng trọng nhiếp thọ nhân nó hiển nhiên
hơn
nên đây đặc biệt nêu riêng.
Duyên thứ nhất
bao hàm trong năng sinh nhân, tho các phương diện cộng thông, hay cục
bộ, như trước.
3. NĂM QUẢ
Nhân duyên như
được nói tất phải có quả. Có bao nhiêu loại quả? Y trên những xứ nào mà
có?
a. Định
nghĩa
Quả, có năm
loại:
1. Dị thục,
đó là pháp vô ký, thuộc dị thục sinh,
trong tương tục của bản thân,
được chiêu dẫn bởi các pháp bất thiện và thiện hữu lậu.
2. Đẳng lưu,
đó đồng loại được dẫn bới tập tính thiện v.v.; hoặc quả vận chuyển theo
sau tương tợ nghiệp đi trước.
3. Ly hệ quả,
đó là pháp vô vi, thiện,
được chứng đắc do đoạn trừ các chướng bằng Thánh đạo vô lậu.
4. Sĩ dụng quả,
đó là các sự nghiệp được hoàn tất bởi các công cụ hành động dựa vào các
tác giả.
5. Tăng thượng
quả,
trừ bốn trương hợp trên, các quả đạt được còn lại.
b. Các y
xứ
Các Luận, như
Du-già,
nói y trên tập khí y xứ mà đạt được quả dị thục. Y tùy thuận y xứ đạt
được quả đẳng lưu. Y chân kiên y xứ được quả ly hệ. Y sĩ dụng y xứ được
quả sĩ dụng. Y trên các y xứ còn lại đạt được quả tăng thượng.
a.
Giải thích 1.
Nói tập khí xứ, là chỉ cho các y xứ
mà trong đó tất cả các công năng chiêu cảm quả dị thục.
Nói tùy thuận
xứ, là chỉ các y xứ
mà trong đó tất cả các công năng dẫn đến quả đăng lưu.
Nói chân kiến
xứ, là chỉ các y xứ
mà trong đó tất cả các công năng chứng quả ly hệ.
Nói sĩ dụng xư,
là chỉ các y xứ
tất cả công năng trong hoàn tất cảm quả sĩ dụng.
Nói các y xứ
còn lại, là chỉ tất các y xứ
tất cả công năng trong đạt được quả tăng thượng.
Nếu không như
vậy, sẽ phạm lỗi hoặc quá rộng, hoặc quá hẹp.
b.
Giải thích 2. Hoặc nói tập khí là duy chỉ nói đến y xứ thứ ba.
Tuy dị thục nhân
cũng có mặt trong các y xứ khác,
và trong y xứ này cũng có mặt dị thục nhân. Nhưng trong dị thục nhân,
nhân và quả cách nhau xa.
Trong tập khí này cũng vậy. Do đó đặc biệt nêu riêng.
Tùy thuận duy
chỉ thuộc y xứ thứ mười một. Tuy quả đẳng lưu cũng đạt được trong các y
xứ khác,
và trong y xứ (tùy thuận) này quả phi đẳng lưu cũng đạt được. Nhưng ở
đây nhân là cái hấp dẫn cái cao hơn, hành tướng này rất hiển nhiên. Tùy
thuận y xứ cũng vậy, do đặc biệt nêu riêng.
Nói chân kiến
xứ, duy chỉ đề cập xứ thứ mười. Tuy trong các xứ khác
cũng có sự chứng quả ly hệ, và trong xứ này quả phi ly hệ cũng đạt được.
Nhưng trong đây hình thái của sự chứng quả ly hệ rất rõ ràng, do đó nói
riêng.
Nói sĩ dụng xứ,
duy chỉ đề cập xứ thứ chín. Tuy các xứ khác
cũng dẫn đến hoàn tất quả sĩ dụng, và trong xứ này nó cũng lôi cuôn quả
tăng thượng. Nhưng tên gọi của nó đã cho thấy rõ, do đó nói riêng.
Còn lại tức chỉ
mười y xứ còn lại. Tuy trong mười một y xứ này các quả khác cũng đạt
được, và trong các xứ khác cũng dẫn đến quả tăng thượng, nhưng trong
mười một xứ này dẫn đến quả tăng thượng nhiều nhất, do đó đặc biệt nêu
riêng.
c. Quả
với nhân và duyên
Trong năm quả
được nói như vậy, quả dị thục được đạt đến từ các nhân khiên dẫn, sinh
khởi, định dị, đồng sự, bất tương vi, và duyên tăng thượng.
Quả đẳng lưu
đạt được từ các nhân khiien dẫn, sinh khởi, nhiếp thọ, dẫn phát, định
dị, đồng sự, bất tương vi, và duyên thứ nhất.
Qủa ly hệ đạt
được từ các nhân nhiếp thọ, dẫn phát, định dị, đồng sự, bất tương vi, và
duyên tăng thượng.
Quả sĩ dụng, có
hai thuyết, a. đạt được từ các nhân quan đãi, nhiếp thọ, đồng sự, bất
tương vi và duyên tăng thượng; b. từ quan đãi, khiến dẫn, sinh khởi,
nhiếp thọ, dẫn phát, định dị, đồng sự, bất tương vi, và ba duyên trừ sở
duyên.
Quả tăng
thượng, từ tất cả mười nhân và bốn duyên. Đã luận xong vấn đề phụ, nay
nên trở lại đề tài chính.
TIẾT 4. CHỦNG TỬ VÀ HIỆN HÀNH
a. Chủng tử
sinh hiện hành.- Trong bản thức, các chủng tử có thể tạo thành
ba duyên, trừ đẳng vô gián, làm phát sinh hiện hành phân biệt.
(1) Mỗi thức đều có chủng tử trực tiếp của nó, đó là nhân duyên. (2) Làm
sở duyên duyên cho các năng duyên.
(3) Nếu đối với các hiện hành mà chủng tử có sự trợ lực hoặc không
chướng ngại, đó là tăng thượng duyên.
Sự phát sinh các
hiện hành tịnh, nên biết, cũng vậy.
b. Hiện hành
sinh hiện hành.- Các pháp hiện hành phân biệt trong quan hệ với
nhau
có thể làm ba duyên, không kể nhân duyên.
(1) Trong các loại
hữu tình, quan hệ tự thân và tha thân
có thể có hai duyên, trừ đẳng vô gián.
(2) Tự nội bộ của
tám tụ thức,
mối quan hệ giữa tụ này với tụ kia tất nhiên có tăng thượng duyên; sở
duyên duyên, hoặc có hoặc không. Thức thứ tám đối với bảy thức kia thì
có sở duyên duyên;
nhưng bảy thức đối với thứ tám thì không. Vì bảy thức kia không phải là
chất thể
để thức thứ tám dựa vào. Thức thứ bảy đối với sáu thức đầu, năm không,
một có.
Sáu thức kia đối với thứ bảy, hoàn toàn không.
Thức thứ sáu không làm sở duyên duyên cho nắm thức đầu; nhưng năm thức
này có thể làm sở duyên duyên cho thứ sáu. Bởi vì năm thức chỉ gá vào
tướng phần của thứ tám.
(3) Trong nội bộ
mỗi thức, hiện hành trước sau đồng loại, thứ sáu có thể làm ba duyên.
Các thức còn lại, ahi duyên, trừ sở duyên. Vì chúng chỉ bắt nắm đối
tượng hiện tại.
Nếu cho rằng
kiến phần thuộc niệm sau của năm thức có thể duyên đến tương phần thuộc
niệm trước của chúng, thế thì niệm trước và niệm sau của năm thức và thứ
bảy cũng có ba duyên. Như vậy, bảy thức có thể làm sở duyên cho thứ tám,
vì chúng huân tập thành chủng tử tướng và kiến phần của thứ tám.
(4) Đồng một tụ
nhưng khác thể
mà quan hệ với nhau thì chỉ có tăng thượng duyên. Vì chúng không duyên
đến nhau.
Chất thể mà các pháp tương ưng gá vào đồng nhất với nhau.
Hoặc căn cứ theo
kiến phần mà nói thì chúng không là sở duyên duyên cho nhau. Căn cứ theo
tướng phần mà nói thì có duyên đến nhau.
Tức các tướng phần làm chất thể cho nhau để hiện khởi;
như chủng tử ở trong thức trở thành chất thể của tướng phần cho xúc các
thứ. Nếu không như vậy, trong Vô sắc giới chúng không có đối tượng.
Giả sử ở đó có sự biến hiện của sắc,
nhưng nhất đinh cũng chỉ duyên đến chủng tử. Không nên nói rằng cảnh của
kiến phần
không đồng một chất thể.
(5) Trong trường
hợp đồng thể,
tướng phần làm hai duyên cho kiến phần. Kiến phần đối với tướng phần chỉ
là tăng thượng duyên.
Kiến phần đối với
tự chứng phần cũng vậy.
Hai phần còn lại,
quan hệ hỗ tương, cả hai đều làm hai duyên cho nhau.
Trong, không căn
cứ chủng tử để nói đến tướng phần, mà chỉ nói hiện khởi làm duyên cho
nhau.
(6) Tám tụ tịnh
thức,
tự thân và tha thân đều có sở duyên, vì có thể duyên khắp. Duy chỉ kiến
phần không phải là sở duyên của tướng phần; vì theo lý tướng phần không
có tác dụng làm chủ thể duyên.
c. Hiện hành
sinh chủng tử.- Như trên đã nói, hiện hành phân biệt
do duyên vào chủng tử và hiện hành mà phát sinh;
vậy, theo lý, chủng tử tất cũng duyên vào hiện hành và chủng tử được sản
sinh. Hiện hành và chủng tử đối với chủng tử
có thể làm bao nhiêu duyên?
Chủng tử được sản
sinh tất không phải do hai duyên giữa,
vì hai duyên này chỉ có ý nghĩa đối với tâm, tâm sở đang hoạt động.
Hiện hành làm đủ
cả hai duyên
đối với chủng tử trực tiêp của nó; nếu không phải là chủng tử trực tiêp
của nó thì chỉ có tăng thượng duyên.
Chủng tử đối với
chủng tử trực tiếp của nó cũng có đủ hai duyên; nếu không phải là chủng
tử trực tiếp
thì chỉ có tăng thượng duyên.
Căn cứ trên mối
quan hệ hỗ tương trong nội thức làm điều kiện cho sự sinh khởi, lý và
giáo về nhân quản của phân biệt được chứng minh. Chủ trương rằng cần có
các điều kiện ngoại tại, giả sử tồn tại điều kiện như vậy, thì sự tồn
tại ấy cũng không có tác dụng gì. Huống nữa quan điểm ấy trái với lý và
giáo, vậy sao vẫn cố chấp?
Mặc duy từ “phân
biệt” chỉ chung cho tâm và tâm sở của cả ba giới; nhưng trong các Thánh
giáo tùy theo sự ưu thắng mà ý nghĩa được hiện thị qua nhiều phương diện
khác nhau, hoặc nói có hai, có ba, bốn, năm, v.v.
Ý nghĩa phân biệt được phân tích chi tiết trong các luận.
|