LUẬN THÀNH DUY THỨC

成唯識論

(T31n1585)

Bản dịch Việt

TUỆ SỸ


Mục lục

(chương 1) (chương 2) (chương 3) (chương 4)
(chương 5) (chương 6) (chương 7) (chương 8)

Phụ bản: Thành Duy Thức Luận (T31n1585)

Thư mục chú thích



Chương VI. Tiến trình sinh tử

Tiết 1. Giải thích văn nghĩa

1. Thích từ

2. Thích văn

3. Tổng thích

Tiết 2. Mười hai hữu chi

1. Tổng quát

2. Quan hệ các chi

3. Các vấn đề

1. Giả thật

2. Nhất sự và phi nhất sự

3. Nhiễm và bất nhiễm

4. Độc nhất và phối hợp

5. Sắc và phi sắc

6 & 7. Hữu lậu – Hữu vi

8. Ba tính

9. Giới hệ

10. Đối trị

11. Học và vô học

12. Đoạn trừ

13. Ba thọ

14. Ba khổ

15. Bốn đế

16. Bốn duyên

17. Hoặc – Nghiệp – Khổ

4. Ý nghĩa sanh tử

1. Hai dạng sinh tử

2. Biện minh


 

CHƯƠNG VI. TIẾN TRÌNH SINH TỬ

Tuy tồn tại thức nội tại, nhưng nếu không có các điều kiện ngoại tại, do đâu mà có dòng tương tục sinh tử cuar các hữu tình?

Tụng:

由諸業習氣 

二取習氣俱

前異熟既盡   

復生餘異熟 //19//[1]

Do tập khí của các nghiệp, cùng với tập khí của hai thủ, khi dị thục trước đã hết các dị thục khác lại được sản sinh.

TIẾT 1. GIẢI THÍCH VĂN NGHĨA

1. THÍCH TỪ

Luận:

1. Các nghiệp gồm có phước, phi phước và bất động, tức các nghiệp do tư[2] bất thiện và thiện hữu lậu. Các quyến thuộc của nghiệp[3] cũng được gọi là nghiệp, vì cùng dẫn sinh và hoàn mãn quả dị thục.[4]

2. Các nghiệp ấy vừa được thực hiện thì diệt ngay không gián cách,[5] do đó không thể dẫn đến quả dị thục trong tương lai. Nhưng nó huân tập bản thức để sản sinh công năng của chinh nó. Công năng ấy được gọi là tập khí.[6] Đó là cái được tác thành bởi sự huân tập của khí phần của nghiệp. Để gạt ra ngoài nghiệp đã từng hiện hành nên gọi là tập khí.[7] Tập khí tiếp nối vận chuyển cho đến khi chín muồi thì nó sản sinh ra quả dị thục. Điều này nêu rõ nó là tăng thượng duyên có ưu thế của quả dị thục.

3. Tướng và kiến, danh và sắc, tâm và tâm sở, cùng với căn bản và chi mạt;[8] sự chấp thủ của chúng được được bao hàm trong hai thủ.[9] Công năng trên bản thức được huân phát[10] bởi chúng và sản sinh chúng; công năng ấy được gọi là tập khí của hai thủ.[11] Điều này nêu rõ các chủng tử làm nhân duyên cho tâm và các tương ưng của nó như là quả dị thục trong đời sau.

4. Từ “cùng với”[12] chỉ cho chủng tử nghiệp cùng với chủng tử của hai thủ, có nghĩa là chúng hỗ tương trợ lực như là điều kiện xa và gần.[13] Nghiệp dẫn đến sinh được thấy rõ nên tụng nêu lên trước.[14]

5. “Dị thục trước”: quả dị thục của nghiêp từ rất nhiều đời trước. “Dị thục khác”, quả dị thục của nghiêp rất nhiều đời sau. [15]

Tuy chủng tử của hai thủ khi thành quả được lãnh thọ sẽ không cùng tận, nhưng tập khí của nghiệp khi thành quả lãnh thọ thì có cùng tận.[16] Bởi vì, tính chất của quả dị thục vốn đa dạng, và khó chiêu cảm[17]; trong khi tình chất đảng lưu và tăng thượng[18] thì đồng nhất, và dễ chiêu cảm.

Khi mà sự thọ dụng của quả dị thục trước đã hết sạch, bấy giờ chủng tử của nghiệp chiêu cảm đời khác chín muồi, lại sản sinh quả dị thục cho đời khác nữa. Do ý nghĩa này mà sự lưu chuyển của sinh tử không hề cùng tận. Vậy, cần gì phải bám vào các điều kiện ngoại tại mới có thể có tương tục?

Đại ý bài tụng này nói, do nghiệp và hai thủ mà sự luận hối sinh tử đều không diễn ra ngoài thức, và tính thể của nó là tâm, tâm sở pháp.

2. THÍCH VĂN

Lại nữa, sinh tử tương tục do các tập khí. Tổng quát, có ba loại tập khí.[19]

1. Danh ngôn tập khí:[20] chủng tử trực tiếp của từng pháp hữu vi cá biệt.[21] Danh ngôn có hai: Một, danh ngôn biểu nghĩa, đó là sự sai biệt của âm thanh chuyển tải ý nghĩa. Hai, danh ngôn hiển cảnh,[22] tức tâm, tâm sở pháp nhận thức đối tượng cá biệt.[23] Tùy theo hai danh ngôn mà chủng tử được huận tập thành để làm nhân duyên cho từng pháp hữu vi cá biệt.

2. Ngã chấp tập khí,[24] đó là chủng tử của ngã và ngã sở được chấp thủ một cách bất thực. Ngã chấp có hai: Một, câu sinh ngã chấp, loại kiến chấp về ngã và ngã sở bị đoạn trừ bởi tu đạo. Hai, phân biệt ngã chấp, lọai kiến chấp ngã, ngã sở bị đoạn trừ bởi kiến đạo.

Tùy theo chủng tử được huân tập thành hai loại ngã chấp này mà có sự sai biệt ta và nó trong các hữu tình.

3. Hữu chi tập khí,[25] đó là chủng tử của nghiệp dẫn đến dị thục trong ba cõi. Hữu chi có hai: Một, thiên hữu lậu, tức nghiệp dẫn đến quả khả ái. Hai, bất thiện, nghiệp dẫn đến quả không khả ái. Tùy theo chủng tử được huân tập bởi hữu chi mà có sự sai biệt của các cõi do bởi nghiệp dị thục.

Nên biết, tập khí ngã chấp và hữu chi là tăng thượng duyên cho quả sai biệt.

Bài tụng này nói “tập khí của nghiêp”, nên biết, đó là tập khí hữu chi. “Tập khí của hai thủ”, nên biết, đó là hai loại tập khí ngã chấp và danh ngôn. Do bởi khái niệm[26] về ngã và ngã sở, và khái niệm bởi danh ngôn huân tập mà thành nên chúng được gọi là thủ.

Từ “cùng vơi” và các từ còn lại, ý nghĩa như đã giải thích trên.

3. TỔNG THÍCH

Lại nữa, dòng tương tục của sinh tử được tạo thành bởi hoặc, nghiệp, khổ.[27] Hoặc[28], chỉ cho phiền não phát nghiệp[29] và nhuận sinh[30]. Nghiệp ở đây là những loại nghiệp dẫn sinh hậu hữu. Khổ, đó là các loại khổ được dẫn sinh bởi nghiệp.

Chủng tử của hoặc, nghiệp, khổ, đều được gọi là tập khí. Hai loại tập khí đầu làm tăng thượng duyên cho khổ sinh tử, vì chúng trợ lực làm phát sinh khổ. Loại tập khí thứ ba làm nhân duyên cho khổ sinh tử, vì nó trực tiếp sản sinh khổ.

Về ba loại tập khí này, trong bài tụng, theo ý nghĩa thích hợp, nên biết, hoặc-khổ được gọi là thủ, vì là năng thủ, sở thủ. Thủ ở đây có nghĩa là sự nắm chặt.[31]

Từ “cùng vơi” và các từ còn lại, ý nghĩa như đã giải thích trên.

Hoặc-nghiệp-khổ ở đây, nên biết, bao quát cả mười hữu chi, từ vô minh cho đến già-chết, như Luận giải thích chi tiết.

TIẾT 2. MƯỜI HAI HỮU CHI

1. TỔNG QUÁT

Tổng quát, mười hai chi được phân thành bốn nhóm[32]:

1. Chi năng dẫn: vô minh và hành;[33] chúng dẫn phát chủng tử của năm chi quả bắt đầu từ thức[34]. Vô minh trong đây chỉ đề cập đến khía cạnh phát động nghiệp thiện ác dẫn đến đời sau. Cái được phát động bởi nó, gọi là hành. Do ý nghĩa này, tất cả nghiệp đưa đến lãnh thọ hiện tại và nghiệp trợ lực quả cá biệt tương lai,[35] thảy đều không phải là chi hành này.

2. Chi sở dẫn:[36] năm loại chủng tử trong bản thức trực tiếp sản sinh quả dị thục tương lai, bao gồm thức, danh sắc, sáu xứ, xúc và thọ. Chúng là những cái được dẫn phát bởi hai chi trước.

Chủng tử thức được nói ở đây là nhân của bản thức. Trừ nhân của ba chi sau, còn lại đều thuộc về chủng tử của danh sắc.[37] Nhân của ba chi sau, như tên gọi theo thứ tự, chính là chủng tử của ba chi sau. Hoặc chủng tử của danh sắc bao hàm tổng quát nhân của tất cả năm chi; trong đó tùy theo sự ưu thắng mà lập chủng tử của bốn chi. Trường hợp tổng và biệt của sáu xứ và thức cũng vậy[38].

a. Tập luận nói thức cũng là năng dẫn, [39] đó là vì chủng tử của nghiệp trong thức được gọi là thức chi; và vì chủng tử của thức dị thục thuộc về danh sắc.

b. Kinh[40] nói thức chi thông cả năng dẫn, đó là vì chủng tử của nghiệp và chủng tử của thức đều được gọi là thức; và vì thức là sở y của danh sắc, nó không được bao hàm trong danh sắc.

c. Chủng tử của năm chi, bắt dầu từ thức, mặc dù được huân tập và phát khởi bởi nghiệp thật sự đồng thời; nhưng, hoặc do sự khác nhau vể chủ và phụ, tổng và biệt, ưu và liệt, nhân và quả, cho nên Thánh giáo giả thuyết chúng theo thứ tự trước sau.[41] Hoặc căn cứ theo thứ tự của các giai đoạn hiện khởi trong tương lai nên liệt kê chúng trước sau.

d. Do ý nghĩa vừa nêu, năm chi này cũng được nói là thuộc hiện hành.[42] Nhưng trong thời của nhân, tất nhiên chúng không có ý nghĩa hiện hành.[43]

e. Lại nữa, do vậy mà nói rằng sinh khởi và dẫn khởi đồng thời;[44] vì khi được tẩm ướt và khi chưa được tẩm ướt tất không đồng thời.[45]

3. Chi năng sinh: đó là ái, thủ và hữu; vì chúng sản sinh sinh và già-chết trong tương lai gần.[46] Do mê mờ quả dị thục bên trong[47] khiến ngu muội phát động các nghiệp dẫn đến hậu hữu; đó là điều kiện dẫn phát chủng tử của năm quả[48] trong giai đoạn sinh và già-chết trong tương lai.

Lại nữa, do vì sự mê mờ quả tăng thượng bên ngoài khiến ngu muội duyên vào thọ ngoại cảnh[49] mà phát khởi tham ái. Duyên ái lại phát sinh bốn thủ.[50]

Chủng tử của nghiệp năng dẫn,[51] cùng với nhân sở dẫn,[52] khi được tẩm ướt bởi hỗn hợp ái và thủ, bấy giờ chúng đổi tên thành hữu;[53] vì chúng[54] thảy đều tiếp cận quả hậu hữu của hữu.

Có nơi chỉ nói chủng tử của nghiệp là hữu,[55] vì nó mới thực sự chiêu cảm quả dị thục.

Nơi khác lại chỉ nói chủng tử năm chi quả là hữu,[56] vì chúng trực tiếp sản sinh chủng tử của năm chi tương lai kể từ thức.

4. Chi sở sinh: sinh và già-chết; chúng là những cấi được sản sinh gần nhất của ái, thủ, hữu.[57] Tất cả những gì trong khoảng từ trung hữu cho đến bản hữu mà chưa bị suy biên, thảy đều thuộc vê chi sinh. Từ giai đoạn có suy biến về sau được gọi chung là già. Cho đến khi thân hoại mạng chung mới gọi là chết.

2. QUAN HỆ CÁC CHI

Già, không nhất định phải có, nên phụ thuộc nó và chi chết.[58]

a. Vì sao bệnh không là chi? Vì nó không phổ biến, và không tất yếu. Già tùy không tất yếu nhưng là phổ biến, cho nên lập thành chi. Vì trong ba giới, năm thú, bốn sinh, trừ hạng yểu nửa chừng, thảy đều có hiện tượng suy hủ vào lúc cuối đời.

b. Danh sắc cũng không phải là phổ biến,[59] vậy sao lập làm chi? Nhưng nó tất yếu; vì trong các loài tha sinh, noãn sinh, thấp sinh, và trong giai đoạn mà sáu xứ chưa đủ, tất yếu phải có danh sắc.

Vã lại, chi danh sắc cũng tồn tại phổ biến. Vì sự hóa sinh của loài có sắc trong giai đoạn tối sơ thọ sinh tuy đủ năm căn nhưng chưa hoạt động, bấy giờ chưa gọi là chi sáu xứ.

Và vì rằng, tối sơ sinh Vô sắc[60] tuy tất yếu có ý căn nhưng nó không sáng suốt, cũng chưa được gọi là ý xứ.

Do ý nghĩa đó, Luận[61] nói, ở hai giới trên, một phần của tất cả mười hữu chi[62] đều có mặt.

c. Ái không hiện hữu phổ biến đâu có thể lập riêng thành một chi, vì tuy sinh vào cõi dữ nhưng đâu có yêu thích nó?

Vì tất yếu,[63] nên nó được lập riêng thành một chi. Trừ những hạng không mong có hậu hữu; sinh vào thiện thú tất phải có ái.[64] Vị Bất hoàn tuy không hiện khởi ái để tẩm ướt, nhưng nơi vị ấy tất yếu của chủng tử của thủ. [65]

Vã lại, ái cũng phổ biến; vì sinh trong cõi dữ đối với tự ngã và cảnh giới hiện tại cũng có ái.[66]

d. Vì lý do gì trong các chi sở sinh lập sinh và già-chết, trong các chi sở dẫn lại lập riêng năm chi kể từ thức?[67] Trong giai đoạn đang là nhân, khó nhận thức được chúng, vì các đặc tính sai biệt của chúng, do đó căn cứ vào giai đoạn kết quả trong tương lai[68] mà lập riêng thành năm chi. Nghĩa là, trong giai đoạn tục sinh,[69] đặc tính của thức như là nhân được thấy rõ. Tiếp theo, trước khi các căn đầy đủ, các đặc tính của danh sắc phát triển. Tiếp theo, khi các căn đầy đủ, sáu xứ phát triển hiệu lực. Y trên đó mà xúc phát sinh. Nhân xúc, sinh khởi thọ. Bấy giờ được nói là đỉnh điểm của kết quả được lãnh thọ. Căn cứ giai đoạn kết quả này mà lập năm chi cho giai đoạn nhân.[70]

Trong điều kiện là kết quả, các sắc thái sai biệt dễ nhạn biết, do đó tổng quát lập hai chi, để nêu rõ ba đặc tính khổ. [71]

Thế nhưng, đối với quả sở sinh, nếu thuộc về vị lai, vì mục đích sinh nhàm tởm nên nêu sinh và già-chết. Nếu nó đã đến hiện tại, vì để nhận thức rõ sự tương sinh trong các giai đoạn nên nêu năm chi kể từ thức.

e. Vì sao trong điều kiện phát động nghiệp tổng quát lập vô minh? Trong điều kiện tẩm ướ nghiệp lập riêng thành ái và thủ?

Tuy các phiền não đều có thể phát động và tẩm ướt nghiệp, nhưng trong giai đoạn phát động nghiệp ảnh hưởng của vô minh tăng, vì nó có đủ cả mười một điểm đặc sắc, như sở duyên v.v., chi tiết như được nói trong Kinh.[72]

Trong giai đoạn tẩm ướt nghiệp, ảnh hưởng của ái nôit bật; vì ái được nói là như nước tẩm ướt. Nhưng cần phải thường xuyên tưới tẩm hạt mới nảy mầm; căn cứ phần đầu và phần cuối mà có hai chi ái và thủ. Căn cứ theo nghĩa không tái phát động mà lập một chi vô minh. Mặc dù trong chi thủ bao hàm các phiền não, nhưng sự tẩm ướt của ái nổi bật nên nói nó là sự tăng trưởng của ái. [73]

f. Các chi duyên khởi đều căn cứ theo bản địa của nó.[74] Nhưng cũng có hành được phát động mà căn cứ trên vô minh của địa khác[75]; như vô minh thuộc địa dưới phát động hành thuộc địa trên.[76] Nếu không phải vậy, thì khi mới trấn áp tạp nhiểm địa dưới mà khởi sỉnh bậc trên bấy giờ hẵn không phải hành chi, vì vô minh thuộc địa giới đó chưa khởi.[77]

g. Từ địa dưới sinh lên địa trên, hay từ trên sinh xuống dưới, trường hợp đó duyên vào thọ gì mà khởi chi ái? Ái đó cũng duyên vào thọ thuộc địa sẽ sinh,[78] hoặc hiện hành, hoặc chủng tử. Điều này không có gì phi lý.

h. Trong mười hai chi này, mười chi thuộc nhân và hai chi thuộc quả, chúng nhất định không đồng một đời[79]. Trong nhân, bảy chi đầu có thể cùng một đời hoặc khác đời với ái và thủ. Các nhóm chi nhất định đồng một đời là nhóm hai, nhóm ba và nhóm bảy.[80]

Mười hai chi như vậy thành một lớp nhân quả đủ để nêu rõ sự luân chuyển và viễn ly đoạn thường. Sự thi thiết hai lớp nhân quả thật ra vô dụng. Hoặc có thể nhiều lớp hơn nữa, thành ra vô cùng.[81]

3. CÁC VẤN ĐỀ

1. Giả thật

Cề những sắc thái đặc biệt của mười chi, trong đó chín chín là thật hữu, ba chi giả. [82] Hữu là chi tổng hợp của sáu chi[83] đã được tẩm ướt. Sinh và già-chết là các trạng thái khác nhau của ba tướng hữu vi của năm chi kể từ thức.

2. Nhất sự và phi nhất sự

Năm chi, gồm vô minh, thức, xúc, thọ và ái, là nhất sự. Còn lại, phi nhất sự.[84]

3. Nhiễm và bất nhiễm

Ba chi, duy chỉ là nhiễm, vì tính thể của chúng là phiền não. Bảy chi, duy bất nhiễm, vì là quả dị thục.[85] Nhưng bảy chi này trong các trạng thái khác nhau[86] cũng được giả thuyết là thông cả hai.[87] Còn lại, thông cả hai.[88]

4. Độc nhất và phối hợp

Vô minh, ái và thủ được nói là độc nhất tướng, vì chúng không giao tạp với các chi khác. Còn lại là tạp tướng.[89]

5. Sắc và phi sắc

Sáu chi duy chỉ là phi sắc. Đó là vô minh, thức, xúc, thọ, ái và thủ. Còn lại, thông cả hai.

6 & 7. Hữu lậu – Hữu vi

tất cả đều hữu lậu, và duy chỉ thuộc hữu vi. Vô lạu và vô vi không phải là hữu chi.

8. Ba tính

Vô minh, ái, thủ thông cả bất thiện và vô ký hữu phú. Hành duy chỉ thiện và bất thiện. Hữu thông cả thiện, bất thiện và vô ký vô phú. Bảy chi còn lai duy chỉ là vô ký vô phú. Trong bảy phần vị, chúng có khi khởi thiện, có khi khởi nhiễm. [90]

9. Giới hệ

Tất cả đều thông cả ba giới hệ. Nhưng có nơi một phần, có nơi toàn phần.[91]

10. Đối trị

Chi hành thuộc địa trên có có trấn phục địa dưới. Tức bằng sáu hành tướng,[92] do có sự mong cầu sinh lên địa trên mà hành ở đó được phát khởi.

11. Học và vô học

Tất cả đều phi học và vô học. Thánh giả khi phát khởi nghiệp thiện hữu lậu lấy minh làm duyên, chống trái các hữu chi[93]; do đó trong các vị này không bao hàm các hữu chi.

Do ý nghĩa này, nên biết, Thánh giả tất nhiên không tạo nghiệp dẫn đến hậu hữu, vì không mong cầu một cách mê lầm quả khổ đời sau.

Thánh giả Bất Hoàn tạp tu các tĩnh lự,[94] bằng tư trợ nghiệp cũ mà sinh Tịnh cư[95]; điều này không có gì phi lý.

12. Đoạn trừ

a. Có quan điểm cho rằng vô minh duy chỉ thuộc kiến sở đoạn. Cố nhiên vì do mê lý Thánh đế nó mới phát động hành.[96] Và vì Thánh giả tất nhiên không tạo nghiệp dẫn đến hậu hữu.[97]

Hai chi ái và thủ duy chỉ thuộc tu sở đoạn. Do vì tham cầu hữu đương lai mà chúng tẩm ươt mầm tái sinh. Và vì chín loại tâm khi mạng chung cùng hiện diện với ái câu sinh.[98]

Chín chi còn lại thông cả kiến và tu sở đoạn.

b. Quan điểm khác nói, tất cả đều thông cả hai đoạn. Luận nói, quả Dự lưu đã đoạn một phần của tất cả mười hai chi. Nếu chi vô minh duy thuộc kiến sở đoạn, há có thể nói Dự lưu không đoạn toàn phần? [99] Nếu các chi ái và thủ duy chỉ thuộc tu sở đoạn, há có thể nói vị ấy đã đoạn một phần của tất cả mười hai chi?

Luận cũng nói, trong toàn thể giới tất cả phiền não đều có thể kết sinh. [100] Hành dẫn đến ác thú chỉ có thể được phát khởi bởi phiền não do phân biệt. Luận không nói tẩm ướt tái sinh duy chỉ tu sở đoạn, vì các hành dẫn đến hậu hữu đều được phát động bởi kiến sở đoạn.

Do vậy, nên biết, ba chi vô minh, ái và thủ thông cả kiến và tu sở đoạn.  Nhưng chính thức phát động hành là vô minh thụộc kiến sở đoạn; nếu là hành hỗ trợ thì bất định. Hai chi ái và thuể, nếu chính thức tẩm ướt tái sinh thì duy chỉ thuộc tu sở đoạn; nều là hỗ trợ thù bất định.

Lại nữa, tự tính của pháp nhiễm ô thuộc loại phải bị đoạn trừ, vì khi đối trị phát khởi[101] chúng vĩnh viễn bị đoạn trừ. Tất cả các pháp hữu lậu không có tính nhiễm ô[102], không thuộc loại phải bị đoạn, vì không trái ngược với đạo.

Tuy nhiên, nói là đoạn, vì nó có hai nghĩa.[103] Một, thoát ly hệ phược,[104] đoạn trừ phiền não duyên vào đó,[105] và các phiền não xen tạp vào đó.[106] Hai, vì không sinh, tức vì sở y của nó bị đoạn[107] nên nó vĩnh viễn không sinh nữa. 

Căn cứ theo sự đoạn trừ do bởi thoát ly hệ phược, nói rằng thiện hữu lậu và vô ký vô phú chỉ thuộc tu sở đoạn.[108] Căn cứ sự đoạn từ do không tái sinh, nói rằng các ác thú, [109] vô tưởng định, v.v.,[110] duy chỉ thuộc kiến sở đoạn.

Nói rằng mười hai chi thông cả hai đoạn, nên biết tùy theo sự thích hợp trong các đoạn đã nói trên.

13. Ba thọ

Mười chi cùng có mặt với lạc và xả thọ.[111] Trừ chi thọ, vì nó không tương ưng với thọ.[112] Và trừ chi già chết, vì trong giai đoạn này, đa phần không có lạc thọ và xả thọ khách.[113] Mười một chi cùng có  mặt với khổ, trừ chi thọ vì nó không cùng có với thọ.

14. Ba khổ

Một phần nhỏ của mười một chi thuộc hoại khổ. Trừ chi già-chết, vì trong giai đoạn này đa phần không có lạc thọ. Căn cứ lạc thọ mà có quan niệm về hoại khổ, do đó ở đây loại trừ chi này.

Một phần nhỏ của mười hai chi thuộc khổ khổ. Vì khổ có mặt trong trong tất cả chi.

Toàn phần mườihai chi thuộc hành khổ. Vì các pháp hữu lậu đều thuộc hànhkhổ. Căn cứ xả thọ, nói một phần nhỏ của mười một chi, trừ chi già-chết, như được nói trong hoại khổ.

Ý nghĩa chân thật là như vậy. Nhưng trong các Thánh giáo tùy theo tinh chất nổi bật của nó mà nói không nhất định.

15. Bốn đế

Tất cả đều thuộc khổ đế, vì tính thể của chúng là thủ uẩn.[114] Năm chi cũng thuộc tập đế, vì tính thể của chúng là nghiệp, phiền não.[115]

16. Bốn duyên

Các chi quan hệ với nhau tất yếu có tăng thượng duyên. Ba duyên còn lại, có hay không, không nhất định. Khế kinh căn cứ tính tất yếu duy chỉ đề cập một duyên.[116]

Ái trong quan hệ với thủ,[117] hữu quan hệ với sinh,[118] đều mang ý nghĩa nhân duyên.

Nếu nói thức chi là chủng tử của nghiệp, hành quan hệ với thức,[119] nó cũng là nhân duyên.

Các chi còn lại, mối quan hệ giữa chúng không hàm nghĩa nhân duyên.

Nhưng Tập luận nói vô minh trong quan hệ với hành hàn nghĩa nhân duyên.[120] Đây là căn cứ theo sự có mặt của tập khí nghiệp đồng thời với vô minh mà nói. Đó là vô minh được nói theo ước lệ, mà thật sự là chủng tử của hành.

Du-già đề cập sự quan hệ giữa các chi trong đó không nói đến nhân duyên.[121] Đây là chỉ nói về ái và thủ hiện hành,[122] và hữu chỉ là chủng tử của nghiệp.[123]

Vô minh quan hệ với hành, ái quan hệ với thủ; sinh quan hệ với già-chết; hàm hai duyên còn lại.[124]

Hữu quan hệ với sinh, thọ quan hệ với ái, không có đẳng vô gián duyên, nhưng có sở duyên duyên.

Các chi còn lại quan hệ với nhau không có cả hai.

Trong đây vã lại y theo duyên khởi đích thật mà nói, tức  quan hệ kế cận, thuận thứ, không tạp loạn.[125] Quan hệ giữa các chi với nhau không như vậy duyên không xác định. Những vị thông tuệ nên theo lý thích hợp mà tư duy.

17. Hoặc – Nghiệp – Khổ

Ba phạm trù hoặc – nghiệp – khổ bao hàm mười hai chi: vô minh, ái, thủ, được bao hàm trong hoặc. Hành và một phần hữu được bao hàm trong nghiệp. Bảy chi còn lai và một phàn hữu được bao hàm trong khổ.[126]

Có nơi nói, nghiệp bao hàm toàn bộ hữu.[127] Nên biết, đó là y theo nghiệp hữu[128] mà nói.

Có nơi nói thức được bao hàm trong nghiệp;[129] đây do căn cứ chủng tử của nghiệp là thức chi mà nói.

Nhừng gì được chiêu cảm bởi hoặc-nghiệp độc nhất được gọi là khổ, vì chúng được báo hàm duy chỉ trong khổ đế, với mục đích khiến phát sinh sự nhàm tởm.

Do bởi hoặc – nghiệp – khổ, tức bao hàm mười hai chi, do đây mà tạo thành dòng sinh tử tương tục.

4. Ý NGHĨA SINH TỬ

1. Hai dạng sinh tử

Lại nữa, sinh tử tương tục do nhân duyên nội tại, không cần đến ngoại duyên, do đó, duy chỉ có thức. Nhân ở đây là hai loại nhgiệp hữu lậu và vô lậu.[130] Vì chúng dẫn đến sinh tử nên nói là nhân. Duyên ở đây là hai phạm trù chướng ngại, phiền não chướng và sở tri chướng. Vì chúng trợ lực để dẫn đến sinh tử nên được gọi là duyên.

Vì sao? Có hai dạng sinh tử.

a. Phần đoạn sinh tử.[131] Đó là quả dị thục thô trọng trong ba giới, được chiêu cảm bởi các nghiệp bất thiện và thiện hữu lậu, với thế lực hỗ trợ của các duyên là phiền não chướng. Sự dài ngắn của thân mạng tùy theo ảnh hưởng của nhân duyên mà có phần hạn nhất định, do đó nói là phần đoạn.

b. Bất tư nghị biến dịch sinh tử.[132] Đó là quả dị thục vi tế thù thắng được chiêu cảm bới nghiệp vô lậu có phân biệt,[133] với thế lực hỗ trợ của các duyên là sở tri chướng. Do lực của bi và nguyện mà thân mạng được cải chuyển[134] không có phần hạn xác định, do đó gọi là biến dịch. Vì diệu dụng được chiêu cảm hoàn toàn được tư trợ bởi nguyện và định vô lậu, nên nói là bất tư nghị[135]. Hoặc cũng được gọi là ý thành thân,[136] vì tùy theo ý nguyện mà được tác thành.

Như Khế kinh nói,[137] cũng như lấy thủ làm duyên, lấy nghiệp hữu lậu làm nhân tiếp nối hậu hữu để sản sinh ba hữu. Cũng vậy, do vô minh tập địa[138] làm duyên, nghiệp vô lậu làm nhân, phát sinh ba loại ý thành thân của A-la-hán, Độc giác, và Bồ-tát đã đắc tự tại.

Hàng vô học trong Thanh văn đã hoàn toàn diệt tận hậu hữu làm sao có thể chứng Vô thượng Bồ-đề? Y biến hóa thân mà chứng Vô thượng giác, chứ không phải y thân do nghiệp báo, cho nên không có gì phi lý.[139]

2. Biện minh

Biện minh 1:

Nạn vấn 1.- Nếu nghiệp vô lậu được trợ lực bởi sở tri chướng dẫn đến sinh tử, hạng định tính thuộc Nhị thừa đáng lẽ không vĩnh viễn nhập vô dư niết-bàn?[140]

Vì cũng như hàng dị sinh bị câu thúc bởi phiền não.[141]

Nhưng đạo đế làm sao cho thể thực sự chiêu cảm khổ?[142]

Ai nói rằng thật sự chiêu cảm?

Nếu không như vậy, thì ý nghĩa như thế nào?

Định và nguyện vô lậu tư trợ nghiệp hữu lậu khiến cho quả đạt được tiếp nối lâu dài, càng lúc càng phát triển thành vi tế thù thắng. Theo ý nghĩa đó mà nói một cách ước lệ là chiêu cảm. Khi có sự chiêu cảm như vậy, là do sở tri chướng làm duyên trợ lực, chứ không phải độc nhất nghiệp vô lậu mà có thể chiêu cảm.[143]

Tuy nhiên, sở tri chướng không chướng ngại giải thoát; vì nó không hiệu lực phát động nghiệp và tẩm ướt mầm tái sinh.

Nạn vấn 2.- Vậy cần gì phải tư trợ để chiêu cảm khổ sinh tử?[144]

Tự chứng bồ-đề, vì sự lợi lạc cho nhiều người. Độc giác và Thanh văn thuộc hạng bất định tính, và hạng Bồ tát đại nguyện và đã đắc tự tại; các hạng này đã vĩnh viễn đoạn trà, trán phục phiền não chướng, do đó sẽ không còn thọ nhận thân phần đoạn trong tương lai. Nhưng vì e rằng phải bỏ dỡ sự tu tập Bồ tát hành, bèn dùng định[145]  và nguyện lực vô lậu thù thắng, nhưng phương pháp kéo dài tuổi thọ, tư trợ nhân của thân hiệ hữu jghếin cho nó tồn tại lâu đài cùng với quả không bị cắt đứt, thường xuyên bằng sự tư trợ của định và nguyện lực như vậy cho đến khi chứng đắc Vô thượng bồ đề.

Nạn vấn 3.- Nó[146] sao lại phải cần đến tư trợ của sở tri chướng?

Vì chưa chứng đại bi vô tướng một cách viên toàn, nếu không chấp rằng bồ đề và hữu tình là thật hữu, thì không do đâu mà phát khởi bi nguyện mãnh liệt nhạy bén.

Lại nữa, sở tri chướng chướng ngại bồ-đề. Để vĩnh viễn đoạn trừ nó mà lưu thân tồn tại lâu dài.

Lại nữa, sở tri chướng là sở y cho hữu lậu. Nếu không có nó, nhất định cũng không có hữu lậu. Vì vậy, nó trợ lực rất lớn cho sự tồn tại của thân.

Nếu thân được bảo lưu mà được tư trợ bởi nguyện và định hữu lậu, thân ấy thuộc phần đoạn, là đối tượng sơ tri của Nhị thừa và dị sinh. . Được tư trợ bởi nguyện và định vô lậu, đó là thân thuộc biến dịch; đây không phải là đối tượng của các hạng ấy.[147]

Do ý nghĩa này, nên biết, tính chất của biến dịch sinh tử là hữu lậu, thuộc quả dị thục. Đối với nghiệp vô lậu, nó là tăng thượng quả.

Có nơi Thánh giáo nói rằng nó là vô lậu, siêu xuất tam giới, đó là tùy theo trợ nhân mà nói.

Biện minh 2

Trong tụng nói, “tập khí của các nghiệp” tức chi chủng tử của hai loại nghiệp được nói trên. Nói “tập khí của hai thủ” tức chỉ chủng tử của hai chướng được nói trên. Vì cả hai đều chấp trước. Các từ khác, “cùng với” v.v., ý nghĩa như đã giải thích.

Tuy biến dịch sinh tử không có ý nghĩa như phần đoạn, theo đó, dị thục này hết thì dị thục khác được sản sinh, nối tiếp nhau trước sau; nhưng nó thường xuyên được tư trợ, tiếp nối trước sau cải chuyển, do đó cũng có ý nghĩa là cái trước hết thì cái sau sinh.

Mặc dù dòng tương tục của sinh tử cũng do hiện hành, nhưng chủng tử nhất định phải có, do đó tụng đặc biệt đề cập.

Hoặc để hiển thị rằng quả dị thục chân thật không tồn tại ngoài bản thức, do đó tụng không nói đến hiện hành. Chuyển thức có gián đoạn, vì không phải là dị thục.[148]

Sinh tử luân hồi trong ba tế, tiền, trung và hậu, không cần đợi ngoại duyên, mà đã do nội duyên.

Dòng tương tục của tịnh pháp, nên biết, cũng vậy. Từ vô thủy đến nay, đã tồn tại chủng tử vô lậu y tựa nơi bản thức. Do được các chuyển thức thường xuyên huân tập dần dần nó được tăng trưởng, cho đến khi cữu cánh thành Phật, bấy giờ loại bỏ chủng tử của thức tạp nhiễm từ trước mà chuyển đổi bâtư đầu phát khỏi thức hàm chứa chủng tử thanh tịnh, duy trì chủng tử của thết thảy mọi phẩm tính, do năng lực của bản nguyện, suốt cùng vị lai khởi các diệu dụng, tiếp nối không cùng tận.



[1] Kārikā 19. karmaṇo vāsanā grāhadvayavāsanayā saha| kṣīṇe pūrvavipāke'nyad vipākaṁ janayanti tat||19||

[2] Sthiramati: puṇyāpuṇyāneñjyacetanā karma. Câu-xá 13, tr. 67b: Khế kinh nói có hai loại nghiêp. Nghiệp do bởi tư và nghiêp được thực hiện sau khi tư.Mādhyamaka, . 17. 2: cetanā cetayitvā ca karmoktaṃ paramarṣiṇā, nghiêp do tư và nghiêp sau khi tư, được nói bởi đức Tối thắng Đại Tiên.  Samuccaya, Pradhan p. 53, 3, 6: karma katamat? cetanā karma cetayitvā karma … cetanākarma katamat/ puṇyakarma apuṇyakarma āniṃjyakarma ca/ Nghiệp, đó là nghiệp bởi tư và nghiệp sau khi tư. Nghiệp bởi tư  là phước nghiệp, phi phước nghiệp và bất động nghiệp. Cf. Tạp tập 6, tr. 727b8; Câu-xá 15, tr. 81a5; Du-già 9, tr. 319c121: phước nghiệp, là nghiệp thiện chiểu cảm dị thục của cõi thiện, và dẫn đến tái sinh trong năm cõi. Phi phươc nghiệp, nghiệp bất thiện chiêu cảm dị thục của cõi dữ, và dẫn tái sinh trong năm cõi. Bất động nghiệp, nghiệp chiêu cảm dị thục của Sắc và Vô sắc, và dẫn tái sinh trong Sắc và Vô sắc.

[3] Thuật ký: năm uẩn, các luật nghi thiện và bất thiện, là quyến thuộc của nghiệp. Nghĩa uẩn: năm uẩn, khi náo chúng trợ lực cho nghiệp thiên, ác để dẫn đến quả thiện, ác, bấy giờ chúng là quyến thuộc của nghêp.

[4] Samuccaya, Pradhan, p.54, 13; taccākṣepakena karmaṇā paripūrakeṇa ca karmaṇā …ākṣepaṃ karma … yena phalavipāko’bhinirvarttate/ paripūrakaṃ karma … yenopapanna iṣṭāniṣṭaphalaṃ vedayate/ Có dẫn nghiệp và mãn nghiệp. Dẫn nghiệp, do bởi nó mà quá trình xử lý quả được tiến hành. Mãn nghiệp, do bởi nó mà quả, mong muốn hay không mong muốn đã phát sinh, được cảm thọ. Cf Tập luận 4, tr. 679b2; Tạp tập 7, tr. 728b16.

[5] Prasannapada, xvii. 14: pattraṃ yathā’vipraṇāśas tatharṇam iva karma ca … iha kuśalaṃ karma kṛtaṃ sadutpādānantaram eva nirudhyate na ca tasmin niruddhe phalābhāvaprasaṅgaḥ/ yasmād yadaiva tatkarmotpadyate tadaitasya karmaṇo’vipraṇāśo nāma viprayukto dharmaḥ kartuḥ saṃtāne samupajāyate ṛṇapattrasthānīyaḥ/ nghiệp như món nợ; giá trị không bị hủy của nó như chứng khoán… Ở đây, nghiệp thiện khi đã thực hiện xong, nó diệt tức thì không gián cách ngay sau khi vừa phát khởi, và trong điều kiện như vậy sự sai lầm nghiệp quả không tồn tại. Nhưng bất cứ khi nào nghiệp phát sinh nó đều liên hệ với cái được gọi là không mất; cái không bị hủy mất của nghiệp đó phát sinh trong dòng tương tục, tồn tại như một chứng khoán của món nợ được vay. Cf. Trung luận xvvi. 14.

[6] Du-già 6, tr. 305b3: Nghiệp quá khứ tịnh hoặc bất tịnh trong các hành, hoặc hoặc diệt; do nhân duyên này mà dòng tương tục đặc biệt của hành ấy tồn tại; đó được gọi là ttập khí. Cf. Hiển dương 9, tr. 523a22.  Sthiramati: ālayavijñāne sāmarthyamāhītaṃ sā karmavāsanā/ công năng được chứa trong thức a-lại-da, đó là tập khí của nghiệp. Samuccaya, Tatia, p.11,9: skandhādīnāṃ samudācāre tadbījaparipuṣṭir vāsanety ucyate/ Sự nuôi lớn các chủng tử trong  hiện hành uẩn các thứ; sự nuôi lớn ấy được gọi là tập khí. Tạp tập 2, tr. 701a24.

[7] Nghiệp và quả dị thục của nó không hiện hành đồng thời. Thuật ký: bản mạt, nói về quả dị thục hiện hành. Thức thứ tám là căn bản (gốc rễ) của dị thục; các thức khác là chi mạt (ngọn ngành).

[8] Các cơ sở gây nhận thức sai lầm.

[9] Hai thủ (grāhadvaya): sở thủ (grāhygrāha) và năng thủ (grāhakagrāha). Phân biệt hai thủ này (grāha: sự bắt nắm, nhận thức sai lầm) với thủ trong chi duyên khởi hay thủ uẩn (upādāna: chấp thủ, bám lấy làm sở y, tư hữu hóa làm tự thân). các sớ giải Hán thường nhầm lẫn hai khái niệm này. Sthiramati: tatra vijñānāt pṛthag eva svasaṃtānādhyāsitaṃ grāhyam asty adhyavasāyoḥ grāhyagrāhaḥ/ tac ca vijñānena pratīyate vijñāyate gṛhyata iti yo’yaṃ niṣcayaḥ sa grāhakagrāhaḥ/ sự mê chấp rằng cái được nhận thức, vốn là cái lưu trú trong dòng tương tục bản thân, tồn tại biệt lập ngoài thức; sự mê chấp này là nhận thức sai lầm bởi đối tượng (sở thủ). Sự phán đoán rằng, do bởi thức mà cái đó được đạt đến, được biết đến, được bắt nắm; sự phán đoán ấy là nhận thức sai lầm bởi chủ thể.

[10] Huân phát, paribhāvita, quá trìnhh định dạng  được lại lặp nhiều lần, đồng nghĩa với huân tập.

[11] Sthiramati: pūrvotpannagrāhyagrāhakagrāhākṣipatam anāgatatajjātigrāhyagrāhakagrāhotpattibījaṃ grāhadvayavāsanā/ chủng tử của mê chấp bởi sở thủ và năng thủ trong quá khứ được lưu trữ để làm phát sinh sự mê chấp bởi sở thủ vă năng thủ trong tương lai; chủng tử ấy là tập khí của hai thủ.

[12] Thích từ “câu” (saha) trong tụng văn.

[13] Sthiramati: grāhadvayavāsanāyās tu sarvakarmavāsanāṃ yathā svam ākṣiptātmabhāvotpādane pravṛttānāṃ sahakāritvaṃ pratipadyate/ tadyathā aṇvādayo’ṅkurasyotpattāv iti/ Cũng như do có sự cộng đồng hợp tác của hạt giống, nước, v.v., các thứ mà mầm nảy sinh. Cũng vậy do sự cộng động hợp tác với tập khí của hai thủ mà từ tập khí của nghiệp hữu thể tồn tại sản sinh từ bản thân của nó.

[14] Tụng văn đạt từ “tập khí của nghiêp” (karmaṇo vāsanā) làm chủ từ.

[15] Sthiramati: pūrvajannopacitena karmaṇā ya iha vipāko’bhinirvṛttas tasmin kṣīṇe iti/ ākṣepakāle paryantāvasthite yathābalaṃ karmavāsanā grāhadvayavāsanāsahitā upabhuktād vipākād anyadvipākaṃ tad evālayavijñānaṃ janayanti/ Khi mà dị thục ở đây, tức dị thục do bởi nghiệp tích lũy đời trước thành hình trong đời này, khi mà dị thục này, vào giai đoạn cuối cùng của quá trìnhh xử lý, được tiêu thụ hết sạch, bấy giờ tập thí của nghiệp kết hợp với tập khí của hai thủ, tùy theo lực của nó, sản sinh dị thục khác nữa; dị thục này chính là thức a-lại-da. 

[16] Nhiếp luận (Vô Tính) 3, tr. 398a22, b7: thức a-lại-da có hai đặc tính, thọ dụng cùng tân, và thọ dụng không cùng tận. Chủng tử  thiện và bất thiện khi đã thành quả dị thục, bấy giờ nó cạn sạch. Nhưng không cạn sạch, đó là chủng tử của danh ngôn huân tập, bời vì kể từ thời vô thủy nó là chủng tử lưu chuyển hý luận.

[17] Vì quả dị thục phải đợi thời gian mới thành hình.

[18] Tinh chất của danh ngôn tập khí.

[19] Nhiếp luận 1 tr. 137a28, (Thế Thân) 3, tr. 183c6; (Vô Tính) 3, tr. 336b27: có ba phạm trù khác nhau của  huân tập (= tập khí, vāsanā) : danh ngôn huân tập (abhilāpavāsanā), ngã kiến huân tập (ātmadṛṣṭivāsanā), hữu chi huân tập (bhavāṅgavāsanā).

[20] Skt. abhilāpavāsanā, Nhiếp luận (Vô Tính) 3, tr. 397a24: danh ngôn dùng để chỉ cho ngã, pháp, hành động, thì rất nhiều. Các từ  liên hệ tự ngã như “người”, “trời” v.v. Các từ liên hệ pháp như “mắt”, “sắc”, v.v. Các từ liên hệ hành động như “đi”, “đến”, v.v. Do ảnh tượng về tự  ngã, về pháp, về hành động, được chuyển tải bới danh ngôn này, công năng đặc biệt (vāsanāviśeṣa, tập khí) được sản sinh trong các thức. 

[21] Madhyānta v. 16: tajjalpabhāvito jalpamanaskāras tadāśrayaḥ, Huyền Trang: 知彼言熏習言作意彼依, Giải thích bởi Sthiramati: y chỉ trên đối tượng xuất hiện như là kách thể-chủ thể (grāhyagrāhaka: sở thủ-năng thủ), băng vào ngôn từ và ý tưởng (vāṅmanas) mà phát biểu rằng đây là khách thể, đây là chủ thể; sự phát biểu (abhilāpa: danh ngôn, ngôn ngữ chuyển tải) ấy là ngôn thuyết (jalpa: phát ngôn, hội thoại). Bằng ngôn thuyết này mà nuôi dưỡng chủng tử  để sản sinh ngôn thuyết loại tợ trong tương lai. Nó đưỡc gọi là tác ý bởi ngôn thuyết (jalpamanaskāra), vì được huân tập bởi ngôn thuyết. Ngôn thuyết được huân tập này tức là danh ngôn tập khí (jalpavāsanā = abhilāpavāsanā).

[22] Hiển cảnh ở đây, Câu-xá gọi là hiển nghĩa. Cf. Kośa ii. 57, vāṅ nāmni pravarttate, nāma arthaṃ dyotayati, ngôn ngữ (=ngữ âm) hoạt động trong danh; danh soi sáng đối tượng (artha: cảnh, hay nghĩa). Huyền Trang (tr. 29b2): 謂語發名,
<lb n="0029a26"/>名能顯義. Trong đó có hái thuyết: ghoṣaviśeṣa iṣyate nāmna utpādakaḥ, sự  sai biệt (của các âm tiết trong) âm thanh là cái làm phát sinh danh (thanh sinh luận); ghoṣaviśeṣa iṣyate nāmna prakāśaka, sự sai biệt âm thanh là cái soi sáng danh (thành hiển luận). Cf . Thuận chính lý 14, tr. 414a6: hình thái của ngữ âm (vāk) không sai biệt, nhưng các âm tiết trong đó, như ka, ca, ṭa, ta, pa, liên tiếp nhau tạo thành một từ (=danh, nāma).

[23] Chân Đế, Nhiếp luận thích 4, tr. 180a28:  chủng tử danh ngôn huân tập, trước tiên bằng âm thanh mà đặt tên cho các pháp gọi là ngôn. Sau đó,  không cần phát ngôn mà tâm duyên trực tiếp đến âm thanh trước đó, gọi là danh. Tự tính của danh là phân biệt các pháp.

[24] Nhiếp luận (Vô Tính) 3, tr. 397a: Ngã kiến tập khí sai biệt (ātmadṛṣṭīvāsanāprabheda): bị chi phối bới hữu thân kiến (satkāyadṛṣṭi), ý bị nhiễm ô bởi bốn phiền não, trong thức a-lại-da có sặ sai biệt huận tập ngã chấp.

[25] Nhiếp luận, ibid.: hữ chi huân tập sai biệt (bhavāṅgavāsanāprabheda),  do lực chủ đạo chi phối bởi các hành phước, phi phước và bất động mà có sự sai biêt huân tập của vô minh cho đến già-chết trong các cõi hữu, trời, người các thứ.

[26] Thủ, grāha: nắm bắt: nghĩa rộng: sự thừa nhận, sự lãnh hội. Madhyānta iii. 15, mười phương diện tà chấp ngã thủ - daśavidha ātmāsadgrāhaḥ, Sthiramati giải thích là mười phương diện ngã kiến – daśavidham ātmadarśanam iti.

[27] Hoặc-nghiệp-khổ = phiền não-nghiệp-khổ; Tì-bà-sa 24, tr. 122b2: pháp duyên khởi 12 chi này chính là phiền não-nghiệp-khổ (kleśa-karman-duḥkha) xoay chuyển làm duyên. Phiền não sinh nghiệp; nghiệp sinh khổ, khổ sinh khổ, khổ sinh phiền não, phiền não sinh phiền não, phiền não sinh nghiệp, nghiệp sinh khổ. Du-già 10, tr. 325b25: trong 12 chi, bao nhiêu chi là phiền não đạo (kleśavartman)? bao nhiêu chi là nghiệp đạo (karmavartman)? bao nhiêu chi là khổ đạo (duḥkhavartman)?

[28] Trong Câu-xá, Huyền Trang dùng từ hoặc để dịch một số từ Sanskrit tuy có ngoại diên tương đương nhưng nội hàm không đồng nhất: anuśaya: tùy miên; āsrava: lậu; kāṅkṣā: nghi hoặc; kleśa: phiền não. Từ hoặc trong  đoạn này, Skt. kleśa, trong mô hình duyên khởi 12 chi: kleśa-karman-duḥkha; xem cht. 27 trên.

[29] Du-già 59, tr. 627a11: có bao nhiều não phát nghiệp (karmasamuṭṭhāna), bao nhiêu không phát nghiệp? Tấ cả đều phát động nghiệp.

[30] Nhuận sinh, Skt. abhisyanda: tẩm nước cho ướt để nảy mầm. Du-già 18, tr. : Thế nào là nhuận sinh …? Như cây đa (nigrodha) được tưới nước, thế gian được tẩm ướt bởi nước ái (tṛṣṇā); do điều kiện này mà phát sinh các cõi hữu. Thập địa kinh luận 5, tr. 312c5: vì không phải là phiền não nên không thể nhuận sinh.

[31] Phân biệt thủdịch từ  Skt. grāha có nội hàm là khái nhiệm; và thủ dịch từ Skt. upādāna trong 12 chi duyên khởi, trong thủ uẩn.

[32] Tạp tập 4, tr. 711b22. Samuccaya, Tatia p. 31, 10: samasya catvāryaṅgāni bhavanty… ākṣepakāṅgaṃ…ākṣiptāṅgam … abhinirvartakāṅgam … abhinirvṛttyaṅgam…Duyên khởi Thánh đạo sơ thắng pháp môn kinh 1, tr. 838a17.

[33] Tạp tập , Sanuccaya, ibid.: năng dẫn chi (ākṣepakāṅga) gồm vô minh (avidyā), hành (saṃskārā) và thức (vijñāna). Chúng dẫn sinh đời sống tương lai, do bởi nhgiệp dẫn đầu bằng sự vô tri đối với các chân lý, được tích lũy như là tập khí trong tâm (cittavāsanārthena).

[34] Gồm thức, danh sắc, sáu xứ, xúc và thọ.

[35] Trợ nghiệp và biệt nghiêp. Trợ nghiệp, những hành vi phụ hỗ trợ mục đích chính của hành động. Biệt nghiệp, nghiệp cá biệt, cá nhân, dẫn đến kết quả cá biệt cho cá nhân.

[36] Tạp tập 4, Samuccaya, ibid.: sở dẫn chi (ākṣiptāṅga), gồm bốn chi: danh sắc (nāmarūpa), sáu xứ (saḍāyatana), xúc (sparśa))  và thọ (vedanā).

[37] Trong sắc uẩn, trừ  săc trong sáu xứ (căn), xúc và thọ, sắc còn lại, cùng với bốn uẩn, tất cả đều thuộc chủng tử danh sắc.

[38] Tổng thể sáu xứ bao gồm cả thức; vì trong sáu xứ bao hàm cả sáu thức giới (vijñānadhātu). Thức là chi cá biệt, vì chỉ cho ý thức.

[39] Xem cht. 23 trên.

[40] Duyên khởi Thánh đạo, dẫn trên, tr. 840b10.

[41] Bốn cặp tương đối: a. Trong năm chi, thức tức bản thức nên là chủ, còn lại là phụ trợ. b. Trong bốn chi tiếp theo, danh sắc là tổng, còn lại là biệt. c. Trong ba chi, sáu xứ là ưu thắng, còn lại thấp kém hơn. d. Hai chi còn lại, thứ tự nhân quả.

[42] Thập địa kinh 4, tr. 553c8; Thập địa luận 8, tr. 170a17 : thức đến thọ, quan đãi thuộc đời này. Năm chi này là qủ báo của nghiệp trong quá khứ.

[43] Duyên khởi thánh đạo, tr. 839b3: Chủng tử của các chi danh sắc, sáu xứ, xúc và thọ đều được dẫn phát đồng thời trong thức dị thục, vì sao nêu thứ tự trước sau? Phật đáp: Vì trong tương lai chúng sinh khởi theo thứ tự trước sau.

[44] Duyên khởi thành đạo, tr. 840b12: Một phần thức, và danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ, chúng được gọi là sở dẫn…. Một phần sắc, sáu xá, cùng với xúc, thọ, cũng đựoc gọi là sở sinh. Các chi như vậy, hoặc dẫn, hoặc sinh, chúng khời đồng một thời, hay khởi theo thứ tự? Phất nói: Đồng một thời khởi, nhưng trìnhh bày theo thứ tự. Nếu đồng một thời khở, vì sao nói dẫn trước, nói sinh sau? Phật nói: Trước phải có dẫn, sau đó mới sinh.

[45] Thuật ký: Khi mới được huân tập mà chưa được tẩm ướt bởi ái, dù trải qua 8 vạn kiếp cũng không sinh quả. Nếu khi vừa mới được huân tập mà đã sinh quả hiện hành, đó là ngay trong lúc được huân tập nó cũng được tẩm ướt bởi ái.

[46] Tạp tập, Samuccaya, ibid.: abhinirvartakāṅgaṃ tṛṣṇā upādānaṃ bhavaś ca, năng sinh chi, đo là ái, thủ và hữu. Do lực chi phối bởi dục ái các thứ (kāmāditṛṣṇādivāsena) vốn chưa được đoạn trừ, do bởi dục tham (chandarāgeṇa) trong các dục (kāmādiṣu), mà dẫn đầu là sự khoái lạc trong các hành vi thiện hay bất thiện, trong khi tồn tại thức câu hữu với thủ, trong giai đoạn mạng chung quả dị thục xuất hiện tùy thuận theo hình thái dục tham, vì tùy theo sự hiện diện của một trong các loại tập khí của nghiệp.

[47] Du-già 93, tr. 828a7: lãnh thọ nghiệp quá khứ nhận được hai quả: a. lãnh thọ quả dị thục nội tại; b. lãnh thọ quả tăng thượng của thọ phát sinh từ cảnh giới ngoại tại.

[48] Tức năm chi sở dẫn nói trên.

[49] Cảnh giới thọ, xem cht. 47 trên.

[50] Bốn thủ: dục, giới cấm, kiến, ngã luận.

[51] Hành trong chi năng dẫn.

[52] Chủng tử của năm quả trong chi sở dẫn.

[53] Du-già 100, tr. 878b, mười hữu: dục hữu (kāmabhava), sắc hữu (rūpabhava), vô sắc hữu (ārūpyabhava), na-lạc-ca hữu (narakabhava), bàng sinh hữu (tiryagbhava), quỷ hữu (pretabhava), thiên hữu (devabava), nhân hữu (manuṣyabhava), nghiệp hữu (karmabhava, trung hữu (antarābhava). Tì-bà-sa 60, tr. 309b15, Câu-xá 7, tr. 42a28, bảy hữu, trừ dục, sắc và vô sắc hữu.

[54] Gồm sáu chi: hành và sáu chi sở dẫn.

[55] Du-già 10, tr. 324c18: Hỏi: Vì sao trong các chi quan hệ nhau không nói đến nhân duyên (hetu-pratyaya)? Đáp: Vì chủng tử của tự thể cá biệt được hiển hiện bởi duyên. Nghĩa uẩn 10, tr. 773a24, giải thích: Vì phạm vi của tăng thượng duyên rất rộng, bao gồm cả sinh khởi nhân. Du-già căn cứ chủng tử nghiệp làm tăng thượng duyên, không căn cứ chủng tử làm nhân duyên sinh khởi, nên nói chủng tử của nghiệp là hữu chi, chứ không kể chủng tử của năm chi quả là hữu chi

[56] . Du-già 10 (tr. 326a14): hữu chi có hai: căn cứ phần ưu thắng thì nó là nghiệp được nhiếp thủ bởi thủ; và căn cứ trên toàn phần, nó bao gồm chủng tử của nghiệp và chủng tử của năm chi quả. Du-già luận ký 3, tr. 368c7: Hữu ở đây chỉ bảy hữu, xem cht. 53 trên. Trong đó, hữu của năm cõi thú và trung hữu là sau hữu thụ động. Nghiệp hữu, là hữu chủ động vì nó dẫn dẫn sinh các cõi hữu.

[57] Tạp tập 4, Sanuccaya ibid.: chi sở sinh (abhinirvṛttyaṅgam): sinh và già-chết, do sự hiện diện của các tập khí đa dạng của nghiệp như vậy, vì đó như là kết thúc của quá trìnhh sinh xuất (abhinirvṛtti) của danh sắc các thứ xuất hiện trong giống loài (nikāyasabhāga) tùy theo di truyền (yathākṣipte) thuộc một trong các định hướng tái sinh khác nhau (anyatarasmin gatiyonyādibhedabhinne).

[58] Tạp tập 4, Samuccaya, ibid.: già và chết kết hợp thành một chi vì không có gì mà vẫn có chết.

[59] Danh sắc là giai đoan căn chưa xuất hiện. Vô sắc giới hoàn toàn không có sắc. Sắc giới, các loài hóa sinh ở Dục giới; các trường hợp này đều không có giai đoạn danh sắc.

[60] Du-già 93, tr. 828a1: Tại Vô sắc giới, thức của các loại hữu tình y nơi chủng tử danh và sắc mà tồn tại; do vì trong thức đó có chủng tử của sắc. Sắc bấy giời tuy bị gián đoạn nhưng về sau sẽ tái sinh trở lại.

[61] Du-già 10, tr. 327b16: Hỏi: có bao nhiêu cho hệ thuộc Dục giới ?  Tất cả chi; vì chúng hòa hiệp cùng sinh khởi. Hỏi: Sắc giới hệ có mấy chi? Đáp: Một phần của tất cả. Hỏi: Vì sao biết ở đó cũng có sự già? Đáp: Các hành ở đó cũng mang tính chất bại hoại mục nát. Như Sắc giới hệ, Vô sứac giới hệ cũng vậy.

[62] Đủ tất cả 12 chi, nhưng mỗi chi thuộc giới hệ này không hàm đẩy đủ đặc tính của giới hệ khác.

[63] Duyên khởi Thánh đạo 1, tr. 839c6: Sự mong cầu gọi là ái. Không ai mong cầu chốn hiểm ác. Nhưng do bởi hành phi phước đã được làm, tuy cầu mong sinh vào thiện thú nhưng lại phát sinh quả trái ngược. Quả đó không có ái để duyên, nên cần phải có thủ làm duyên. Trong trường hợp phi hữu ái (abhavatṛṣṇā: khát vọng hủy diệt, hư vô, không tái sinh). Trong lúc mong cầu phi hữu, nhưng do đã tạo phước hành hay bất đông hành mà kết quả trái ngược phát sinh.

[64] Xem cht. 64 trên.

[65] Vị Bất hoàn đắc diệt tận định, khi tái sinh vào địa khác, không hiện khởi ái để tẩm ướt mầm tái sinh; vì đã trấn áp tất cả phiền não cho đến Hữu đỉnh nên ái không hiện hành nữa. Trường hợp vị này sự tái sinh được tẩm ướt bằng chủng tử ái. Trường hợp vị Bất hoàn thuộc hạng thượng lưu bát-niết-bàn, khi từ Dục giới chết tái sinh Sơ thiền thiên, lần lượt cho đến Sắc cứu cánh, tất cả đều có ái ái hiện hành để nhuận sinh (tấm ướt mầm tái sinh).

[66] Xu yếu 2, tr. 650c7:  Từ hai cõi trên tái sinh vào ác thú, không thấy hình thái ác, nhưng thấy hình ảnh đồng loại bèn phát sinh mong cầu. Nghĩa diễn 6, tr. 947b20: Tái sinh vào giới địa nào, nó được tẩm wots bằng ái thuộc giới địa đó. Từ Dục giới tái sinh vào thú khác trong năm thú cũng được tẩm ướt bằng ái nơi sẽ tái sinh. Nhưng do do nghiệp mà các khổ cụ (nơi sẽ tái sinh) biến thành lạc cụ khiến cho phát sinh ái; tức phát sinh ái đối với lạc cụ đang xuất hiện trước tự thân, đo đó Luận nói là “hiện ngã thân” (tự thân của ta hiện tại), chứ không phải là cảnh hiện tại của ta.

[67] Năm chi sở dẫn thuộc hiện hành, hai chi sở sinh thuộc chủng tử, nhưng cả bảy chi này đều là quả dị thục; tự thể của chúng không dị biệt.

[68] Du-già luận ký 3, tr. 369a13: căn cứ vào giai đoạn hiện khởi của năm chi này trong quá trìnhh sinh và già-chết trong tương lai.

[69] Tục sinh (pratisandhi), cũng dịch là kết sinh tương tục: sát na tối sơ của sinh hữu, nối kết hai đời sống quá khứ và hiện tại.  Tì-bà-sa 23: Thức là gì? Là tâm tục sinh và các trợ bạn của nó. op,cit. 72 tr. 371: tục sinh là nghiệp dụng của thức. Du-già 1: Lúc bấy giờ thức đã an trụ thành kết sinh tương tục, giai đoạn này được gọi là kiết-la-lam (kalalama, phôi mới kết). Nhiếp luận (Vô Tính) 3, tr. 392c: Trong thai mẹ, khi thức dị thục và hai chất trắng đỏ kết hợp, chúng hòa hiệp nhau thành phôi bào, gọi là kiết-la-lam. Du-già 93: Trong thai mẹ, thức thuộc nhân làm điều cho thức như là quả tục tính tiếp nối tồn tại không đoạn tuyệt.

[70] Từ kết sinh cho đến đầy đủ năm căn, có năm giai đoan trong thai mẹ (thai nội ngũ vị), Câu-xá 9, tr. 47c23: kiết-lặc-lam (kalalam), át-bộ-đàm (arbudam), bế-thi (oeśin), kiền-nam (ghanam), bát-la-xa-khư (praśākhā). Cf. S. i. 206: paṭhamaṃ kalalaṃ hoti/ kalalā hoti abbudaṃ/ abbudā jayate pesī/ pesī nibbati ghano// ghanā pasākhā jayanti kesā lomā nakhāni ca/ Tối sơ là kalala, phôi mới kết như cặn dầu mè. Từ kalala sinh abbuda, phôi bào như bong bong. Tiếp đến là pesī, giọt lỏng ngưng kết. Từ pesī sinh ghana, khối thịt. Từ ghana phát sinh pasākhā, các chi tiết, như chồi non mới lú, và ssu đó là tóc lông, móng các thứ.

[71] Samuccaya, ibid: các từ sinh-già-chết là do bởi sự khống chế của ba đặc tính của hữu vi (saṃskṛta-lakṣaṇatrayādhikāreṇa). Du-già 10:  Những chi nào thuộc hoại khổ (vipariṇāma-duḥkhatā)? Hành câu hữu với lạc thọ, và một phần của hành câu hữu với phi thọ.  Những chi nào thuộc khổ khổ (duḥkha-duḥkhatā)? Hành câu hữu với khổ thọ, và một phần của hành câu hữu với phi thọ. Những chi nào thuộc hành khổ (saṃskāra-duḥkhatā)? Những chi nào thuộc hoại khổ và khổ khổ đều là những chi thuộc hành khổ. Duyên khởi Thánh đạo 1, tr.. 839c24: Sinh mang đặc tinh của hành khổ. Già mang đặc tính của hoại khổ. Chết mang đặc tính của khổ khổ.

[72] Duyên khởi Thánh đạo 1, tr. 837c15: Vì sao được gọi là “Phân biệt duyên khởi sơ thắng pháp môn”? Vì có 11 điểm thù thắng, mà trong duyên khởi thứ nhất vô minh được công bố là duyên tính: 1. sở duyên thù thắng (vì phổ biến trong tất cả đối tượng nhiễm và tịnh); 2. hành tướng thù thắng (che lấp chân thật, hiển hiện hư vọng); 3. nhân duyên thù thắng (làm căn bản sở y cho các phiền não, nghiệp, sinh); 4; đẳng khởi thù thắng (nó là động lực cho tất cả năng dẫn, sở dân, năng sinh, sở sinh); 5. chuyển dị thù thắng (bốn phạm trù vô minh chuyển dị, biến thái, theo tùy miên, triền phược, tương ưng, bất công); 6. tà hành thù thắng (nhận thức thêm hay bớt đối với chân lý) ; 7. tướng trạng thù thắng (vi tế, và phổ bếin trong tất cả ái và phi ái); 8. tác nghiệp thù thắng (tạo tác tất cả sở y cho lưư chuyển, hay tịch diệt); 9. chướng ngại thù thắng (nó chướng ngại tháng pháp); 10. tùy phược thù thắng (hoạt động cho đến Hữu đỉnh); 11. đối trị thù thắng (vì là đối trị phần của hai loại diệu trí).

[73] Thập địa luận 8, tr. 169a1: ái phát triển được gọi là thủ.

[74] Du-già 56, tr. 612b5: Sinh tại giới địa nào, các chi duyên khởi thuộc về giới địa đó.

[75] Duyên khởi Thánh đạo 1, tr. 839a10: hai chi ái và thủ thuộc Dục giới không thể làm điều kiện phát động bất động hành thuộc thượng giới, vì không đồng địa giới. Duy chỉ vô mình là thắng duyên cho bất động hành.

[76] Đặt vấn đề để dung hội Du-giàDuyên khởi; xem cht. 74 & 75 trên.

[77] Thuật ký: Thượng định trong Luận được hiểu là vị chí định của định bậc trên. Khi mới bắt đầu trấn áp tạp nhiễm hạ địa, định thuộc thượng địa được phát khởi sẽ không phải là hành, nếu không cho rằng vô minh thuộc địa dưới có thể phát động hành thuộc địa trên, vì lúc bấy giờ vô minh thượng địa chưa khởi thì duyên nào phát động hành? Quan điểm của Du-già là căn cứ theo đa số trường hợp. Kinh Duyên khởi Thánh đạo căn cứ trường hợp đặc biệt. Diễn bí 6, tr. 947c11, nêu một giải thích khác rằng định thượng địa được nói đây là căn bản dịnh chứ không phải vị chí định. Nhưng vị chí hay căn bản đều được phát động bởi vô minh hạ đia.

[78] Ái địa nào duyên vào thọ địa đó. Từ địa này chuyển sinh sang địa khác, ái và thọ cũng đồng một địa giới, không giống như trường hợp vô minh và hành.

[79] Lấy giới hạn từ sinh đến chết làm một đời (thế).

[80] Nhóm hai: sinh và già-chết chung một đời. Nhóm ba: ái, thủ và hữu. Nhóm bảy: từ vô minh trở đi, gồm bảy chi.

[81] Thuật ký: Một lớp, nếu cho là chưa đủ lập thành hai lớp. Nhưng hai lớp cũng có thể chưa đủ, thêm nhiều lớp nữa, hóa thành vô cùng. Ti-bà-sa 23 tr. 117a26;  Câu-xá 9, tr. 48a, phân 12 chi làm ba đoạn gọi là tam tế (trīṇi kāṇḍāni); đoạn đầu 2 chi, cuối 2 chi, giữa có 8 chi. 8 chi này cùng hiện hành trong một đời sống (ekajanman). Nêu phân theo nhân quả, thành hai đoạn: đoạn đầu, tiền tế, gồm 7 chi từ vô minh đến thọ, trong đó 2 chi đầu thuộc nhân quá khứ cho 5 chi tiếp theo thuộc quả hiện tại. Đoạn sau, hậu tế, gồm 5 chi từ ái đến già-chết, trong đó 3 chi đầu thuộc nhân hiện tại cho quả vị lại là 2 chi tiếp. Căn cứ theo đây nói là thuyết tam tế lưỡng trùng nhân quả của Hữu bộ. Câu-xá nói là ba tế chứ không phải ba thế. Tì-bà-sa, ibid., thí dụ như một cây thang có 12 bậc, chia làm ba đoạn (trīṇi kāṇḍāni). Do đó, tiền tế ở đây là đoạn đầu cây thang, không phải biên tế tối sơ (pūrvakoṭi). Hữu bộ nói, vì không thể luận hết mọi cá ngã (pudgala) nên dùng 12 chi như một cây thang 12 nấc để giải thích sư lưu chuyển liên tục của chúng sinh. Theo đó, khi cây thang di chuyển, đoạn đầu có thể trở thành giữa hay đoạn cuối. Một số nhà chú giải Thành duy thức Trung hoa vì không phân biệt nghĩa khác nhau của từ Hán tam tế nên có những nhận định sai lầm về thuyết tam tế và nhị tế của Hữu bộ. Tập thành biên 36, tr. 753c, chỉ trích sự sai lầm này: “Nói như thế là nang ngược… Ba thừa đều quán 12 nhân duyên theo hai trùng nhân quả mà đắc đạo không phải là ít… Phật tùy cơ mà thuyết pháp”

[82] Ba chi giả hữu: hữu, sinh và già-chết. Cf. Du-già 10.tr. 327a17.

[83] Sáu chi: hành đã được nhuận bởi ái và thủ, cộng với năm chi tiếp theo.

[84] Nhất sự (ekavastu): một sự thể đơn nhất, không do tổng hợp nhiều sự thể. Du-già 10 tr. 327a18.

[85] Vô minh, ái, thủ: ba chi này, tự thể là phiền não. Năm chi: thức cho đến thọ, sinh và già-chết: quả dị thục thuộc vô ký nên bất nhiễm.

[86] Bảy phần vị (avasthā): bảy trạng thái hay bảy giai đoạn của quả dị thục hiện hành: hiện tại, từ thức làn lượt trải qua cho đến thọ. Vị lai: sinh và già-chết.

[87] Du-già 10 tr. 327b14: Những chi nào nhiễm ô? Những chi nào không nhiễm ô? Ba chi nhiễm, còn lại, thông cả hai.

[88] Hai chi: hành và hữu.

[89] Du-già 10 tr. 325c1: Những chi nào là độc tướng (pratyekalakṣaṇa)? Những chi nào có tạp tướng (saṃsṛṣṭalakṣaṇa)? Ba chi độc tướng. Còn lại, hành v.v., tạp tướng. Vì sao hành, hữu là tạp tướng? Vì có hai loại được nói đến. Tức là, vì dẫn đến quả ái, phi ái (tức thể của nó là hành chi); và vì dẫn sinh các cõi thú sai biệt (tức thể của nó là hữu chi).  Vì sao môt phần của thức cũng với danh sắc sáu xứ có tạp tướng? Vì có ba loại được nói đến. Tức là, căn cứ thời gian tạp nhiễm, căn cứ thời gian tẩm ướt, căn cứ  thời gian chuyển. Vì sao thức chó đến thọ, cùng với già-chết co tạp tướng?  Do có hai loại được nói đến. Tức là, vì để nêu rõ tướng khổ, và vì để nêu rõ sự dẫn sinh các sai biệt.

[90] Du-già 10, tr. 326c15: Bốn chi duy có phẩm tính tạp nhiễm. Cả chi còn lại thông cả tạp nhiễm và thanh tịnh. Sinh thông cả hai; vì nếu sinh vào ác thú hoặc nơi có nguy hiểm, nó chỉ có phẩm tính tạp nhiễm. Nếu sinh làm người, chư thiên, hay nơi không có nguy hiểm, nó thông cả nhiễm và tịnh.

[91] Trong Dục giới, các chi đều toàn vẹn tất cả đặc tính. Sắc giới và Vô sắc giới, cả 12 chi không có nhiễm.Trong Vô sắc, chỉ có xả thọ..

[92] Sáu hành tướng (ākāra) trong tu tập hữu lậu đạo. Quán sát hạ giới với ba hành tướng: thô (audārikatas), khổ (duḥkhilatas), chướng (sthūlabhittikatas); thượng giới với ba hành tướng: tĩnh (śāntatas), diệu (praṇītatas), ly (niḥsaraṇatas). Do quán sát ba phẩm chất của địa trên mà các phiền não thuộc địa dưới bị trấn phục.Cf, Câu-xá 24, tr. 127c19.

[93] 12 chi duyên khởi được gọi là 12 hữu chi, tất yếu dấn đến hậu hữu trong dòng lưu chuyển, nên không có nơi các Thánh giả.

[94] Tạp tu tĩnh lự (dhyāna-vyavakīrṇa), Câu-xá 24 tr. 125c14, Thuận chính lý 65, tr. 6980b20: Vị A-na-hàm y trên đệ tứ thiền tu “xen kẽ” các tĩnh lự. Khi nhập vô lậu đạo, trong nhiều sát na liên tục vô lậu hiện tiền; rồi từ đó dẫn sinh hữu lậu hiện tiền tiền trong nhiều sát-na liên tục; cuối cùng trong nhiều sát na tiếp theo vô lậu hiện tiền. Trong hạng thượng lưu bát-niết-bàn, nếu không có tạp tu tĩnh lự, vị ấy phải lần lượt tái sinh trong tất cả cõi Sắc giới, duy chỉ không đi qua năm Tịnh cư thiên, sau đó sinh lên Hữu đinh mới nhập niết-bàn. Với vị có tạp tu tĩnh lự thứ tư, sau khi sinh lên Sức giới sơ thiền, rồi chết tại đây, vị ấy tái sinh thẳng lên Sắc cứu cánh và nhập niết-bàn tại đây. Du-già 14, tr. 353a14, Tạp tâp 13 tr. 755c7: Vị Bât Hoàn có tạp tu tĩnh lự thứ tư, tùy theo năm trìnhh độ mà tái sinh vào năm tầng Tịnh cư khác nhau. Nghĩa diễn 10: Năm phảm tạp tu tĩnh lự thứ tư của vị Bất Hoàn: 1. Hạ phẩm có ba tâm, niệm đầu vô lậu, niệm trung gian hữu lậu, niệm cuối vô lậu; tái sinh lên Vo phiền thiên. 2. Trung phẩm có sáu tâm, niệm đầu vô lậu, thứ hai hữu hậu, thứ ba vô lậu, thứ tư vô lậu, thứ năm hữu lậu, thứ sáu vô lậu; tái sinh Vô nhiệ thiên. 3. Thượng phẩm, chín tâm, 6 tâm như trước, thứ bày vô lậu, thứ tám hữu lậu, thứ chín vô lậu; tái sinh Thiện hiện thiên.  4. Thượng thắng phẩm, 12 tâm, chuẩn như trên; tái sinh Thiện kiến thiên. 5. Thượng cực phẩm, 15 tâm, tái sinh Sắc cứu cánh.

[95] Thánh giả Bất Hoàn không phải do tạo nghiệp mới để tái sinh trong năm Tịnh cư. Bằng nghiệp cũ là các nghiệp thuộc ba tầng dưới Tịnh cư (Vô vân thiên, Phước sinh thiên, Quảng quả thiên), do tạp tu bằng tĩnh lự thứ tư, các nghiệp này được chuyển sinh lên năm Tịnh cư. Tư trợ nghiệp cũ, chuyển túc tàn nghiệp thành dị thục mới theo ý muốn. Câu-xá 3, tr. 15b9: A-la-hán muốn lưu thọ hành (kéo dài tuổi thọ), trước hết bố thí Tăng một cái gì đó. Sự bố thí này là nghiệp dẫn đến dị thục sung túc. Vị ấy phát nguyện, tức quyết ý chuyển nghiệp này thành dị thục trường thọ, sau đó nhập biên tế tĩnh lự thứ tư. Sau đó xuất định, tâm niêm đồng thời miệng nói: “Nghiệp chiêu càm phú dị thục của ta hãy chuyển thành thọ dị thục.” Hoặc vị ấy có thể y trên một túc tàn nghiệp tương xứng, rồi cũng phát nguyện, nhập đệ thứ biên tế tĩnh lự, và xuất định.

[96] Thuật ký: Đối pháp 7 nói cả hai loại ngu đều thuộc kiến đoạn, vì đã thấy Thánh đế thì không còn ngu về chân thật nghĩa. Cf. Tạp tập 7, tr. 728c9, c17: Vô minh bao gồm hai loại ngu (saṃmūḍha), a. Ngu do dị thục (phalavipākasaṃmūḍha), b. Ngu đối với chân thật nghĩa (tattvārthasaṃmūḍha). Vị đã thấy Thánh đế không còn ngu chân thật nghĩa nữa.

[97] Xem đoạn trên, cht. 95.

[98] Tạp tập 5 tr. 714c27; Samuccaya Tatia p. 39. 9: tâm khởi do lực kết sinh (pratisaṃdhibalena), đó là chín loại tử tâm tương ưng với khát ái về tự thân (nava cittāny ātmabhāvatṛṣṇāsaṃprayuktāni): từ Dục giới chết tái sinh Dục giới, tử tâm tương ưng tự thể ái thuộc Dục giới (kāmāvacaram ātmabhāvatṛṣṇāsaṃprayukaṃ maraṇacittam) được nối kết với đời sống (pratisaṃdhiṃ badhnataḥ) mới trong Dục giới. Nếu từ đó tái sinh Sắc giới, hay Vô sắc giới, tử tâm tương ưng tự thể ái thuộc Sắc giới, hay Vô sắc giới (rūpārūpyāvacaram). Sáu tâm còn lại, theo chuẩn như vậy.

[99] Du-già 10 tr. 327b24: Quả Dự lưu đã đoan bao nhiêu chi? Một phần của tất cả 12 chi, không đoạn toàn vẹn chi.

[100] Du-già 59 tr. 629c9: kết sinh tương tục trong giới hệ này hay giới hệ kia, trong thân này hay kia, nên nói, tất cả phiền não trong toàn bộ giới hệ đều là kết sinh chăng? Hay không toàn bộ? Nên nói, toàn bộ chứ không phải không toàn bộ. Nếu với hạng chưa ly dục chỉ có thể thọ sinh nơi sinh xứ của chính mình. Vã lại, đối với hạng chưa ly dục, các cấp thô trọng của phiền nào luôn luôn trói buộc tự thân, làm nguyên nhân sản sinh thân khác. Lại nữa, khi sắp thọ sinh, trên tự thể của nó tham ái hiện hành, hoặc yêu hoặc ghét đốia với nam giới hay nữ giới.

[101] Tì-bà-sa 53: Cac tâm, tâm sở ô nhiễm đều là tự tính đoạn, trái nghịch Thánh đạo. Tùy theo phẩm loại liên hệ, khi Thánh đạo hiện tiền phẩm loại ấy bị đoạn trừ.

[102] Chỉ các pháp có tính chất thiện, vô ký vô phú.

[103] Thuận chính lý 6 tr. 362c28: Có hai phạm trù đoạn. a. Tự tính đoạn (svabhāva-prahāṇa), bị đoạn trừ do bản chất, khi đến giai đoạn đối trị nó nhất thiết bị đoạn trừ. b. Sở duyên đoạn (ālambanakleśa-prahāṇa), do phiền não bị đoạn mà đối với sự thể làm sở duyên được thoát ly.

[104] Nghĩa diễn 10 tr. 190c: Khi phiền não duyên các căn để khởi bị đoạn, bấy giờ các căn ấy được thoát ly, goi là duyên phược đoạn, tức sở duyên đoạn.

[105] Duyên bĩ phiền não, Thuật ký,  phiền não trong bảy thức duyên đến đối tượng hữu lậu thiện hay vô ký vô phú. Các đối tượng này không phải là pháp hệ phược nhưng bị các năng duyên hệ phược. Nếu phiền não năng duyên bị đoạn, đối tượng sở duyên được nói là đoạn. Khi phiền não trong thức thứ bảy bị đoạn, thức thứ tám cũng được gọi là duyên phược đoạn (= sở duyên đoạn).

[106] Tạp bĩ phiền não, Xu yếu 2, có ba loại: câu sinh tạp, dẫn sinh tạp, và gián sinh tạp. Thuật ký: a. Khi thức thứ bảy khởi phiền não, tuy duyên đến các pháp sáu thức các thứ nhưng sáu thức do đó mà thành tính chất hữu lậu; vì nó được gọi là sở ô y, sở y của pháp nhiễm ô. Các phiền não này thường xuyên khởi trong các trạng thái, ba tính, của sáu thức. Khi thức thứ bảy đoạn phiền não, sác thức được thoát ly. b. Khởi xen kẽ nhau (gián sinh tạp), trong sáu thức, các pháp thiện và vô ký, trước sau khởi xen kẽ các phiền não. c. Thiện hữu lậu do phiền não dẫn sinh nên thành hữu lậu tính (dẫn sinh tạp). d. Tâm và các biến hành vốn không phải là nhiễm pháp nhưng cùng khởi với phiền não, chúng được gọi là phiền não phược (tương ưng phược, bị hệ phược do liên hệ). Khi phiền não bị đoạn, do liên bị cẳt đứt, tâm và các biến hành cũng được thoát ly và được nói là đoạn. Đây gọi là đoạn trừ phiền não xen tạp với nó. Nhưng trong bốn giải thích trên (a, b, c, d), Thuật ký bình chọn hai giải thích (b) và ba (c).

[107] Thuật ký: y tức nhân, tức sở y xứ. Liễu nghĩa đăng 5, tr. 754c11, 25, có bốn phạm trừ đoạn: tự tính, tương ưng, duyên phược, và bất sinh. Bất sinh đoạn, tức không tái sinh vào ác thú, dị thục, vô tưởng định, v.v. Tức khi vào kiến đạo, sẽ không tái sinh vào những nơi đó. Phiền não lấy những nơi đó làm sở y được nói là bị đoạn.

[108] Du-già 66 tr. 668a20: Những pháp nào bị đoạn bởi kiến đạo? Năm kiến; tham, ssan, mạn y kiến khởi; vô minh tương ưng, vô minh bất cộng, si đối với các Thánh đế; và nghiệp dẫn đến các ác thú. Những pháp nào bị đoạn bởi tu đạo? Tất cả pháp hữu lậu thuộc tính thiện, tất cả pháp vô ký vô phú; và trừ các pháp nhiễm ô bị đoạn bởi kiến dạo, tất cả các nhiễm ô còn lại.

[109] Du-già 66, xem cht. 108 trên. Tạp tập 4 tr. 711a8, Samuccaya Gokhale p.35. 23,  Tatia p. 30.7: Nhừng gì thuộc kiến sở đoạn? Nhừng gì bị ô nmhiễm, kiến (kliṣṭā dṛṣṭi), nghi (vicikitsā), kiến xứ (dṛṣṭisthānaṃ), những gì là tà hành, phiền não và tùy phiền não trong kiến (ye ca dṛṣṭau vipratipannāḥ kleṣopaklṣāḥ), những gì là thân ngữ nghiệp được phát động bởi kiến (dṛṣṭyā samutthāpitaṃ kāyavākkarma), và tất cả uẩn, giới xứ trong các cõi hạ liệt (sarvaṃ cāpāyikaṃ skandhadhātāvāyatanaṃ).

[110] Thuật ký: Luận nói “đẳng” (v.v.) bao hàm Vô tưởng thiên (Vô tượng dị thục), bán-trạch-ca (paṇḍaka), nhị hình (ubhayavyañjana), Bắc Uất-đan-việt (Uttarakuradvīpa). Những nới, khi đã vào kiến đạo, se không bao giớ tái sinh vào.

[111] Thuật ký: căn cứ vào giai đoạn sẽ sinh khởi.

[112] Thuật ký: vì tự thể nó là thọ. ( Tự thể không tương ưng với tự thể).

[113] Khách xả thọ: cảm thọ phi khổ phi lạc.

[114] Tì-bà-sa 23 tr. 118c6: Căn cứ theo 12 trạng thái lập 12 chi. Mỗi một chi đều đủ cả năm uẩn.

[115] Hai chi hành và hữu thuộc nghiêp. Ba chi vô minh, ái và thủ thuộc phiền não.

[116] Duyên khởi Thánh đạo tr. 849b: Phât nói, “Ta căn cứ tổng tướng của các hành mà nói có bốn duyên. Nay, trong ý nghĩa ở đây, Ta chi căn cứ duy nhất một tăng thượng duyên mà nói vô minh duyên hành, lần lượt cho đến già-chết.”

[117] Sự phát triển của ái là thủ. Chủng tử của ái sản sinh thủ: quan hệ nhân duyên.

[118] Thuật ký: Chủng tử của năm chi, kể từ thức, được gọi là hữu; hiện hành sở sinh được gọi là sinh: quan hệ nhân duyên.

[119] Thuật ký: hiện hành của hành là nghiệp. Hành hiện hành huân tập thành chủng tử của hành. Chủng tử của hành được gọi là thức chi.

[120] Tập luận 2, tr. 670c28; Tạp tập 4, tr. 711c11; Samuccaya, Gokhale p. 26.9, Tatia p. 32. 11: vô minh trong quan hệ với hành, làm nhân duyên, do bởi sự tích lũy nghiệp hậu hữu (punarbhavikakarrmopacayāt).

[121] Du-già 10, tr. 324c11: vô minh đối với hành là tăng thượng duyên; đối với vô sắc hành, nó là đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên và tăng thượng duyên. Các chi còn lại, theo đây mà biết.

[122] Vì không phải quan hệ y trên chủng tử nên không hàm nghĩa nhân duyên. Du-già bid.: Vì sao các chi quan hệ với nhau mà không có nhân duyên? Vì nói nhân duyên là nói chủng tử của tự thể làm duyên.

[123] Hữu, chủng tử của nghiệp chứ không phải của năm chi kể từ thức.

[124] Đẳng vô gián và sở duyên. Vì tăng thượng duyên đã được xác định là tất yếu.

[125] Các chi quan hệ làm duyên cho nhau theo thứ tự tiếp nối mật thiết, không nhảy lớp, không cách chi, trước sau không rối loạn.

[126] Tì-bà-sa 24 tr. 122a; Câu-xá 9 tr. 49a23: Vô minh, ái và thủ, tự tính của chúng là phiền nào (kleśávabhāva). Hành và hữu, tự tính là nghiêp (karmasvabhāva). Bảy chi còn lại, tự tính là sự (vastusvabhāva). Cf. Du-già 56 tr. 612b6. Biện trung biên 1 tr. 465b; Madhyānta k. i. 12, có ba tạp nhiễm: a. Phiền não tạp nhiễm (kleśasaṅkleśa) là vô minh, ái và thủ; a. Nghiệp tạp nhiễm (karmasaṅkjeśa) là hành và hữu. c. sinh tạp nhiễm (janmasaṅkleśa) là các chi còn lại.

[127] Xem cht. 126 trên.

[128] Nghiệp hữu: chủng tử nghiệp là hữu.

[129] Tập luận 2 tr. 671a, Tạp tập 4 tr. 712b4, Samuccaya, Gokhale p. 26. 22, Pradhan p. 27. 14, Tatia p. 37. 17, về chi tạp nhiễm (aṅgasaṃkleśa) : a. Vô minh, ái, thủ: phiền  não tạp nhiễm. b. Hành, thức, hữu: nghiệp tạp nhiễm. c. Còn lại: sinh tạp nhiễm. Vì sao thức chi được bao hàm trong nghiệp tạp nhiễm? Vi nó được hiển thị bởi tập khí của hành (saṃskāravāsanāprabhāvitatvāt).

[130] Tì-bà-sa 114 tr. 591b22: các nghiệp vô lậu có tự thể bạch tịnh nhưng không có quả dị thục bạch tịnh. Câu-xá 17 tr. 91b2: nghiệp vô lậu không dẫn đến quả dị thục. Đại Bát-nhã 536 tr. 755a28:  Nhưng các loại hữu tình do không biết thấu suốt yếu tính của tất cả các pháp là tính không, do đó hoặc tạo các nghiệp thiện, bất thiện, hay nghiệp vô lậu. .. Do gia hành và căn bản của nghiệp vô lậu mà có sự sai biệt chủng tính của các hạng Hiền Thánh.

[131] Thắng man tr. 219c: phần đoạn tử.  Kim cang tiên 9, tr.. 864c21.

[132] Thắng man tr. 219c: bất tư nghị biến dịch tử. Lăng già (Ngụy) 2, tr. 252c18: bất khả tư nghị huân tập biến dịch tử;  (Đường) 2. tr. 596c9: bất tư nghị biến dịch tử. Laṅkā, N. 63: acintyācyutigata (vipariṇāmakī cyuti). 

[133] Vô lậu hữu phân biệt nghiệp, Liễu nghĩa đăng 6: nghiệp có phân biệt, nghiệp được phát động bởi tư (cetanā) cùng khởi với trí duyên sự hậu đắc. Tức trí hậu đắc lấy sự làm đối tượng. Từ “duyên sự trí” không thấy được đề cập trong các kinh luận khác.

[134] Cải chuyển, tức biến chuyển, biến dịch (vipariṇāma).

[135] Phật địa luận 2, tr. 300a: Thanh văn chuyển hướng Bồ-đề, bằng lực của định và nguyện, thường xuyên tư trợ nhân đã có từ trước mà chiêu cảm hiện thân, khiến cho sinh quả tiếp nối liên tục càng lúc càng thù thắng, cho đến khi thành Phật công năng này mới hết. Quả dị thục này tuy được chiêu cảm bởi nhân hữu lậu trực tiếp, nhưng do tư trợ của định và nguyện vô lậu, nên được gọi là bất tư nghị biến dịch tử.

[136] Ý thành thân, hoặc ý sinh thân, Lăng-già (Đường) 4, tr. 607b23; Laṅkā iii, N. 136, ba loại ý thành thân (manomayakāya): Tam-muội lạc ý thành thân (samādhisukhasamāpattimanomaya), thân do ý tác thành đạt được do chứng đắc an lạc của các thiền. b. Giác pháp tự tính ý thành thân (dharmasvabhāvābodha-manomaya), ý thành thần đạt được do giác ngộ tự tính của các pháp. c. Chủng loại câu sinh vô tác hành ý thành thân (nikāyasahasaṃskārakriyāmanomaya), thân ý thành do sự nghiệp tác thành tùy theo bộ loại (chúng sinh). Skt. asaṃskārakriyā, các bản Hán đều đọc là asaṃskārakriyā, do đó dịch là vô tác hành, và các giải thích theo đó, Thuật ký: hành vô tương, vô công dụng. D.T Suzuki dịch theo ý các bản Hán: the will-body which assumed [by a Bodhisattva according to] the class of being [to be saved] and which perfects and achieve [without a thought of its own achievement].

[137] Thắng man tr. 220a16.

[138] Vô minh tập địa, Thắng man: vô minh trụ địa. Laṅkā: avidyāvāsanābhūmi. Thang man hiểu là do gốc động từ vas (vasati): trụ, lưu trú. Duy thức hiểu do gốc vās (vāsayati): xông hương.

[139] Hiển dương 16 tr. a16.

[140] Nạn vấn 1, từ Kinh nói ‘vô lậu là chính nhân’. Các bộ phái Tiểu thừa đều khẳng định các Thánh giả vô học sẽ vĩnh viễn nhập vô dư  niết-bàn. Phật địa luận 5 tr. 312c1: Thanh văn, Độc giác, còn có tập khí sở tri chướng chưa bị diệt, làm sao chứng cứu cánh niết-bàn? Tập khí sở tri chướng là vô tri chứ không phải nhiễm ô. Nó chướng ngại quả Bồ-đề, chứ không chướng ngại Niết-bàn. Nếu không có nguyện lực, hồi chuyển tâm về đại bồ-đề cho đến địa vị vô học (Phật), khi vị ấy hết tuổi thọ, sẽ vĩnh viễn nhập niết-bàn.

[141] Văn hàm ẩn, Thuật ký đề nghị 3 giải thích: a. Đồng pháp dụ, theo đó, định tính Nhị thừa bị câu thúc bởi xu hướng tịch diệt nên không thể vĩnh viễn nhập niết-bàn, như phàm phụ bị câu thúc bởi phiền não. Nghĩa uẩn 5 tr. 474a2 cho rằng giải thích này không phù hợp với Du-già. b. Suy luận diễn dịch, tức vấn đề nêu trên, diên dịch bằng loại suy thành nạn vấn. Nạn vấn này không chính xác. c. Đoạn văn này, cùng với đoạn văn trước và cả câu hỏi tiếp theo, họp thành nạn vấn thứ nhất, về ý nghĩa mà Kinh nói ‘vô lâu nghệp là chinh nhân’, sẽ được trả lời  trong đoan văn tiếp theo. Đề nghị thứ ba được cho là xác đáng.

[142] Nghiệp vô lậu có phân biệt tức thuộc đạo đế. Nạn vấn về ý nghĩa vô lậu là chính nhân.

[143] Du-già 80 tr. 749a13: Dù chỉ là vị A-la-hán hướng còn không có thêm một đời nữa, vậy vị A-la-hán đã chứng niết bàn giới hữu dư y (sa-upadhiśeṣa) mà hồi chuyển Đại bồ-đề làm sao có thể trải qua nhiều đời để thành Phật? Vị ấy cần phải kéo dài thọ hành để hoàn thành sự nghiệp. Bằng vào bốn như ý túc mà Thế Tôn đã mật ý nói, vi ấy tăng thọ hành (āyuḥsaṃskārān sthāpayati), lưu lại thân hữu căn (sendriyakāya), biến hóa thành một thân khác thị hiện cho các vị đồng pháp (sahadharmka) khác thấy là đã nhập niết bàn-giới vô dư y. Do nhân duyên này, các vị đồng pháp nghĩ rằng ‘Tôn giả kia đã nhập niết-bàn giới vô dư y.’ Nhưng vị kia đã thân hữu căn chân thật, ở ngay trong châu Thiệm-bộ (Jambudvīpa) này, tùy theo nơi nào thích hợp, mà cả đến chư thiên cũng không thể nhìn thấy. Bởi vì vị ấy có xu hướng an trú niết-bàn tịch tĩnh, nhưng vẫn du hành khắp mọi thế giới, cúng dường thân cận Phật Bồ tát, tu tập các Thánh đạo làm tư lưong cho bồ đề, cho đến cuối cùng thành Phật, vĩnh viễn nhập niết-bàn giới vô dư y. Thân hữu căn được lưu ở đây gọi là thân biến dịch tử. Nhưng trong Du-già không có từ ‘biến dịch tử’.

[144] Nạn vấn 2, từ Phật địa luận 2 tr.  299b10: Các Thanh văn đều đã an truh bẫ vô học, khi hết hạn của báo thân dị thục này chắc chắn nhậpdiệt trong niết-bàn giới vô dư, tịch tĩnh an lạc không khác với Phật; vì sao phải thú hướng Đại bồ đề để phái chịu khổ lâu dài?

[145] Thắng định, Thuật ký: Theo cựu phái, biên tế định của thiền thứ tư. Nhưng bản văn không xác định là biên tế của đinh nào, nên bốn định đều có thể. Câu-xá 3 tr. 15b13. Xem cht. 95.

[146] Chỉ nghiệp vô lậu.

[147] Du-già 80: Thân ấy, thiên nhãn cũng không thể nhìn thấy. Xem cht. 143.

[148] Chân dị thục, xem chương II, tiết VIII, về Đại thừa giáo chứng, đoạn 3. Thú và sinh.

cập nhật : 15-09-2009   

Google


www.phatviet.com website khác

Trao đổi ý kiến và đăng sách báo, bài viết sáng tác, dịch thuật, nghiên cứu, v.v... xin gởi đến email: Ban Tu Thư Phật Việt (hoặc hanhqua@gmail.com)