LUẬN THÀNH DUY THỨC
成唯識論
(T31n1585)
Bản dịch Việt
TUỆ SỸ
(chương 1)
(chương 2)
(chương
3)
(chương 4)
(chương 5)
(chương 6)
(chương
7)
(chương 8)
Phụ bản: Thành Duy Thức Luận (T31n1585)
Thư mục chú thích
Chương VI. Tiến trình sinh tử
Tiết 1. Giải thích văn nghĩa
1. Thích từ
2. Thích văn
3. Tổng thích
Tiết 2. Mười hai hữu chi
1. Tổng quát
2. Quan hệ các chi
3. Các vấn đề
1. Giả thật
2. Nhất sự và phi nhất sự
3. Nhiễm và bất nhiễm
4. Độc nhất và phối hợp
5. Sắc và phi sắc
6 & 7. Hữu lậu – Hữu vi
8. Ba tính
9. Giới hệ
10. Đối trị
11. Học và vô học
12. Đoạn trừ
13. Ba thọ
14. Ba khổ
15. Bốn đế
16. Bốn duyên
17. Hoặc – Nghiệp – Khổ
4. Ý nghĩa sanh tử
1. Hai dạng sinh tử
2. Biện minh
CHƯƠNG VI. TIẾN TRÌNH SINH TỬ
Tuy tồn tại
thức nội tại, nhưng nếu không có các điều kiện ngoại tại, do đâu mà có
dòng tương tục sinh tử cuar các hữu tình?
Tụng:
由諸業習氣
二取習氣俱
前異熟既盡
復生餘異熟
//19//
Do tập khí của các nghiệp, cùng với
tập khí của hai thủ, khi dị thục trước đã hết các dị thục khác lại được
sản sinh.
TIẾT 1. GIẢI THÍCH VĂN NGHĨA
1. THÍCH TỪ
Luận:
1. Các nghiệp
gồm có phước, phi phước và bất động, tức các nghiệp do tư
bất thiện và thiện hữu lậu. Các quyến thuộc của nghiệp
cũng được gọi là nghiệp, vì cùng dẫn sinh và hoàn mãn quả dị thục.
2. Các nghiệp
ấy vừa được thực hiện thì diệt ngay không gián cách,
do đó không thể dẫn đến quả dị thục trong tương lai. Nhưng nó huân tập
bản thức để sản sinh công năng của chinh nó. Công năng ấy được gọi là
tập khí.
Đó là cái được tác thành bởi sự huân tập của khí phần của nghiệp. Để gạt
ra ngoài nghiệp đã từng hiện hành nên gọi là tập khí.
Tập khí tiếp nối vận chuyển cho đến khi chín muồi thì nó sản sinh ra quả
dị thục. Điều này nêu rõ nó là tăng thượng duyên có ưu thế của quả dị
thục.
3. Tướng và
kiến, danh và sắc, tâm và tâm sở, cùng với căn bản và chi mạt;
sự chấp thủ của chúng được được bao hàm trong hai thủ.
Công năng trên bản thức được huân phát
bởi chúng và sản sinh chúng; công năng ấy được gọi là tập khí của hai
thủ.
Điều này nêu rõ các chủng tử làm nhân duyên cho tâm và các tương ưng của
nó như là quả dị thục trong đời sau.
4. Từ “cùng
với”
chỉ cho chủng tử nghiệp cùng với chủng tử của hai thủ, có nghĩa là chúng
hỗ tương trợ lực như là điều kiện xa và gần.
Nghiệp dẫn đến sinh được thấy rõ nên tụng nêu lên trước.
5. “Dị thục
trước”: quả dị thục của nghiêp từ rất nhiều đời trước. “Dị thục khác”,
quả dị thục của nghiêp rất nhiều đời sau.
Tuy chủng tử
của hai thủ khi thành quả được lãnh thọ sẽ không cùng tận, nhưng tập khí
của nghiệp khi thành quả lãnh thọ thì có cùng tận.
Bởi vì, tính chất của quả dị thục vốn đa dạng, và khó chiêu cảm;
trong khi tình chất đảng lưu và tăng thượng
thì đồng nhất, và dễ chiêu cảm.
Khi mà sự thọ
dụng của quả dị thục trước đã hết sạch, bấy giờ chủng tử của nghiệp
chiêu cảm đời khác chín muồi, lại sản sinh quả dị thục cho đời khác nữa.
Do ý nghĩa này mà sự lưu chuyển của sinh tử không hề cùng tận. Vậy, cần
gì phải bám vào các điều kiện ngoại tại mới có thể có tương tục?
Đại ý bài tụng
này nói, do nghiệp và hai thủ mà sự luận hối sinh tử đều không diễn ra
ngoài thức, và tính thể của nó là tâm, tâm sở pháp.
2. THÍCH VĂN
Lại nữa, sinh
tử tương tục do các tập khí. Tổng quát, có ba loại tập khí.
1. Danh ngôn
tập khí:
chủng tử trực tiếp của từng pháp hữu vi cá biệt.
Danh ngôn có hai: Một, danh ngôn biểu nghĩa, đó là sự sai biệt của âm
thanh chuyển tải ý nghĩa. Hai, danh ngôn hiển cảnh,
tức tâm, tâm sở pháp nhận thức đối tượng cá biệt.
Tùy theo hai danh ngôn mà chủng tử được huận tập thành để làm nhân duyên
cho từng pháp hữu vi cá biệt.
2. Ngã chấp tập
khí,
đó là chủng tử của ngã và ngã sở được chấp thủ một cách bất thực. Ngã
chấp có hai: Một, câu sinh ngã chấp, loại kiến chấp về ngã và ngã sở bị
đoạn trừ bởi tu đạo. Hai, phân biệt ngã chấp, lọai kiến chấp ngã, ngã sở
bị đoạn trừ bởi kiến đạo.
Tùy theo chủng
tử được huân tập thành hai loại ngã chấp này mà có sự sai biệt ta và nó
trong các hữu tình.
3. Hữu chi tập
khí,
đó là chủng tử của nghiệp dẫn đến dị thục trong ba cõi. Hữu chi có hai:
Một, thiên hữu lậu, tức nghiệp dẫn đến quả khả ái. Hai, bất thiện,
nghiệp dẫn đến quả không khả ái. Tùy theo chủng tử được huân tập bởi hữu
chi mà có sự sai biệt của các cõi do bởi nghiệp dị thục.
Nên biết, tập
khí ngã chấp và hữu chi là tăng thượng duyên cho quả sai biệt.
Bài tụng này
nói “tập khí của nghiêp”, nên biết, đó là tập khí hữu chi. “Tập khí của
hai thủ”, nên biết, đó là hai loại tập khí ngã chấp và danh ngôn. Do bởi
khái niệm
về ngã và ngã sở, và khái niệm bởi danh ngôn huân tập mà thành nên chúng
được gọi là thủ.
Từ “cùng vơi”
và các từ còn lại, ý nghĩa như đã giải thích trên.
3. TỔNG THÍCH
Lại nữa, dòng
tương tục của sinh tử được tạo thành bởi hoặc, nghiệp, khổ.
Hoặc,
chỉ cho phiền não phát nghiệp
và nhuận sinh.
Nghiệp ở đây là những loại nghiệp dẫn sinh hậu hữu. Khổ, đó là các loại
khổ được dẫn sinh bởi nghiệp.
Chủng tử của hoặc,
nghiệp, khổ, đều được gọi là tập khí. Hai loại tập khí đầu làm tăng
thượng duyên cho khổ sinh tử, vì chúng trợ lực làm phát sinh khổ. Loại
tập khí thứ ba làm nhân duyên cho khổ sinh tử, vì nó trực tiếp sản sinh
khổ.
Về ba loại tập khí
này, trong bài tụng, theo ý nghĩa thích hợp, nên biết, hoặc-khổ được gọi
là thủ, vì là năng thủ, sở thủ. Thủ ở đây có nghĩa là sự nắm chặt.
Từ “cùng vơi” và
các từ còn lại, ý nghĩa như đã giải thích trên.
Hoặc-nghiệp-khổ ở
đây, nên biết, bao quát cả mười hữu chi, từ vô minh cho đến già-chết,
như Luận giải thích chi tiết.
TIẾT 2.
MƯỜI HAI HỮU CHI
1. TỔNG QUÁT
Tổng quát, mười
hai chi được phân thành bốn nhóm:
1.
Chi năng dẫn: vô minh và hành;
chúng dẫn phát chủng tử của năm chi quả bắt đầu từ thức.
Vô minh trong đây chỉ đề cập đến khía cạnh phát động nghiệp thiện ác dẫn
đến đời sau. Cái được phát động bởi nó, gọi là hành. Do ý nghĩa này, tất
cả nghiệp đưa đến lãnh thọ hiện tại và nghiệp trợ lực quả cá biệt tương
lai,
thảy đều không phải là chi hành này.
2. Chi sở
dẫn:
năm loại chủng tử trong bản thức trực tiếp sản sinh quả dị thục tương
lai, bao gồm thức, danh sắc, sáu xứ, xúc và thọ. Chúng là những cái được
dẫn phát bởi hai chi trước.
Chủng tử thức
được nói ở đây là nhân của bản thức. Trừ nhân của ba chi sau, còn lại
đều thuộc về chủng tử của danh sắc.
Nhân của ba chi sau, như tên gọi theo thứ tự, chính là chủng tử của ba
chi sau. Hoặc chủng tử của danh sắc bao hàm tổng quát nhân của tất cả
năm chi; trong đó tùy theo sự ưu thắng mà lập chủng tử của bốn chi.
Trường hợp tổng và biệt của sáu xứ và thức cũng vậy.
a.
Tập luận nói thức cũng là
năng dẫn, đó là vì chủng tử
của nghiệp trong thức được gọi là thức chi; và vì chủng tử của thức dị
thục thuộc về danh sắc.
b. Kinh
nói thức chi thông cả năng dẫn, đó là vì chủng tử của nghiệp và chủng tử
của thức đều được gọi là thức; và vì thức là sở y của danh sắc, nó không
được bao hàm trong danh sắc.
c. Chủng tử của
năm chi, bắt dầu từ thức, mặc dù được huân tập và phát khởi bởi nghiệp
thật sự đồng thời; nhưng, hoặc do sự khác nhau vể chủ và phụ, tổng và
biệt, ưu và liệt, nhân và quả, cho nên Thánh giáo giả thuyết chúng theo
thứ tự trước sau.
Hoặc căn cứ theo thứ tự của các giai đoạn hiện khởi trong tương lai nên
liệt kê chúng trước sau.
d. Do ý nghĩa
vừa nêu, năm chi này cũng được nói là thuộc hiện hành.
Nhưng trong thời của nhân, tất nhiên chúng không có ý nghĩa hiện hành.
e. Lại nữa, do
vậy mà nói rằng sinh khởi và dẫn khởi đồng thời;
vì khi được tẩm ướt và khi chưa được tẩm ướt tất không đồng thời.
3. Chi năng
sinh: đó là ái, thủ và hữu; vì chúng sản sinh sinh và già-chết trong
tương lai gần.
Do mê mờ quả dị thục bên trong
khiến ngu muội phát động các nghiệp dẫn đến hậu hữu; đó là điều kiện dẫn
phát chủng tử của năm quả
trong giai đoạn sinh và già-chết trong tương lai.
Lại nữa, do vì
sự mê mờ quả tăng thượng bên ngoài khiến ngu muội duyên vào thọ ngoại
cảnh
mà phát khởi tham ái. Duyên ái lại phát sinh bốn thủ.
Chủng tử của
nghiệp năng dẫn,
cùng với nhân sở dẫn,
khi được tẩm ướt bởi hỗn hợp ái và thủ, bấy giờ chúng đổi tên thành hữu;
vì chúng
thảy đều tiếp cận quả hậu hữu của hữu.
Có nơi chỉ nói
chủng tử của nghiệp là hữu,
vì nó mới thực sự chiêu cảm quả dị thục.
Nơi khác lại
chỉ nói chủng tử năm chi quả là hữu,
vì chúng trực tiếp sản sinh chủng tử của năm chi tương lai kể từ thức.
4. Chi sở
sinh: sinh và già-chết; chúng là những cấi được sản sinh gần nhất
của ái, thủ, hữu.
Tất cả những gì trong khoảng từ trung hữu cho đến bản hữu mà chưa bị suy
biên, thảy đều thuộc vê chi sinh. Từ giai đoạn có suy biến về sau được
gọi chung là già. Cho đến khi thân hoại mạng chung mới gọi là chết.
2. QUAN HỆ CÁC CHI
Già, không nhất
định phải có, nên phụ thuộc nó và chi chết.
a. Vì sao bệnh
không là chi? Vì nó không phổ biến, và không tất yếu. Già tùy không tất
yếu nhưng là phổ biến, cho nên lập thành chi. Vì trong ba giới, năm thú,
bốn sinh, trừ hạng yểu nửa chừng, thảy đều có hiện tượng suy hủ vào lúc
cuối đời.
b. Danh sắc
cũng không phải là phổ biến,
vậy sao lập làm chi? Nhưng nó tất yếu; vì trong các loài tha sinh, noãn
sinh, thấp sinh, và trong giai đoạn mà sáu xứ chưa đủ, tất yếu phải có
danh sắc.
Vã lại, chi
danh sắc cũng tồn tại phổ biến. Vì sự hóa sinh của loài có sắc trong
giai đoạn tối sơ thọ sinh tuy đủ năm căn nhưng chưa hoạt động, bấy giờ
chưa gọi là chi sáu xứ.
Và vì rằng, tối
sơ sinh Vô sắc
tuy tất yếu có ý căn nhưng nó không sáng suốt, cũng chưa được gọi là ý
xứ.
Do ý nghĩa đó,
Luận
nói, ở hai giới trên, một phần của tất cả mười hữu chi
đều có mặt.
c. Ái không
hiện hữu phổ biến đâu có thể lập riêng thành một chi, vì tuy sinh vào
cõi dữ nhưng đâu có yêu thích nó?
Vì tất yếu,
nên nó được lập riêng thành một chi. Trừ những hạng không mong có hậu
hữu; sinh vào thiện thú tất phải có ái.
Vị Bất hoàn tuy không hiện khởi ái để tẩm ướt, nhưng nơi vị ấy tất yếu
của chủng tử của thủ.
Vã lại, ái cũng
phổ biến; vì sinh trong cõi dữ đối với tự ngã và cảnh giới hiện tại cũng
có ái.
d. Vì lý do gì
trong các chi sở sinh lập sinh và già-chết, trong các chi sở dẫn lại lập
riêng năm chi kể từ thức?
Trong giai đoạn đang là nhân, khó nhận thức được chúng, vì các đặc tính
sai biệt của chúng, do đó căn cứ vào giai đoạn kết quả trong tương lai
mà lập riêng thành năm chi. Nghĩa là, trong giai đoạn tục sinh,
đặc tính của thức như là nhân được thấy rõ. Tiếp theo, trước khi các căn
đầy đủ, các đặc tính của danh sắc phát triển. Tiếp theo, khi các căn đầy
đủ, sáu xứ phát triển hiệu lực. Y trên đó mà xúc phát sinh. Nhân xúc,
sinh khởi thọ. Bấy giờ được nói là đỉnh điểm của kết quả được lãnh thọ.
Căn cứ giai đoạn kết quả này mà lập năm chi cho giai đoạn nhân.
Trong điều kiện
là kết quả, các sắc thái sai biệt dễ nhạn biết, do đó tổng quát lập hai
chi, để nêu rõ ba đặc tính khổ.
Thế nhưng, đối
với quả sở sinh, nếu thuộc về vị lai, vì mục đích sinh nhàm tởm nên nêu
sinh và già-chết. Nếu nó đã đến hiện tại, vì để nhận thức rõ sự tương
sinh trong các giai đoạn nên nêu năm chi kể từ thức.
e. Vì sao trong
điều kiện phát động nghiệp tổng quát lập vô minh? Trong điều kiện tẩm ướ
nghiệp lập riêng thành ái và thủ?
Tuy các phiền
não đều có thể phát động và tẩm ướt nghiệp, nhưng trong giai đoạn phát
động nghiệp ảnh hưởng của vô minh tăng, vì nó có đủ cả mười một điểm đặc
sắc, như sở duyên v.v., chi tiết như được nói trong Kinh.
Trong giai đoạn
tẩm ướt nghiệp, ảnh hưởng của ái nôit bật; vì ái được nói là như nước
tẩm ướt. Nhưng cần phải thường xuyên tưới tẩm hạt mới nảy mầm; căn cứ
phần đầu và phần cuối mà có hai chi ái và thủ. Căn cứ theo nghĩa không
tái phát động mà lập một chi vô minh. Mặc dù trong chi thủ bao hàm các
phiền não, nhưng sự tẩm ướt của ái nổi bật nên nói nó là sự tăng trưởng
của ái.
f. Các chi
duyên khởi đều căn cứ theo bản địa của nó.
Nhưng cũng có hành được phát động mà căn cứ trên vô minh của địa khác;
như vô minh thuộc địa dưới phát động hành thuộc địa trên.
Nếu không phải vậy, thì khi mới trấn áp tạp nhiểm địa dưới mà khởi sỉnh
bậc trên bấy giờ hẵn không phải hành chi, vì vô minh thuộc địa giới đó
chưa khởi.
g. Từ địa dưới
sinh lên địa trên, hay từ trên sinh xuống dưới, trường hợp đó duyên vào
thọ gì mà khởi chi ái? Ái đó cũng duyên vào thọ thuộc địa sẽ sinh,
hoặc hiện hành, hoặc chủng tử. Điều này không có gì phi lý.
h. Trong mười
hai chi này, mười chi thuộc nhân và hai chi thuộc quả, chúng nhất định
không đồng một đời.
Trong nhân, bảy chi đầu có thể cùng một đời hoặc khác đời với ái và thủ.
Các nhóm chi nhất định đồng một đời là nhóm hai, nhóm ba và nhóm bảy.
Mười hai chi
như vậy thành một lớp nhân quả đủ để nêu rõ sự luân chuyển và viễn ly
đoạn thường. Sự thi thiết hai lớp nhân quả thật ra vô dụng. Hoặc có thể
nhiều lớp hơn nữa, thành ra vô cùng.
3. CÁC VẤN ĐỀ
1. Giả
thật
Cề những sắc
thái đặc biệt của mười chi, trong đó chín chín là thật hữu, ba chi giả. Hữu là chi tổng
hợp của sáu chi
đã được tẩm ướt. Sinh và già-chết là các trạng thái khác nhau của ba
tướng hữu vi của năm chi kể từ thức.
Năm chi, gồm vô
minh, thức, xúc, thọ và ái, là nhất sự. Còn lại, phi nhất sự.
Ba chi, duy chỉ
là nhiễm, vì tính thể của chúng là phiền não. Bảy chi, duy bất nhiễm, vì
là quả dị thục.
Nhưng bảy chi này trong các trạng thái khác nhau
cũng được giả thuyết là thông cả hai.
Còn lại, thông cả hai.
Vô minh, ái và
thủ được nói là độc nhất tướng, vì chúng không giao tạp với các chi
khác. Còn lại là tạp tướng.
Sáu chi duy chỉ
là phi sắc. Đó là vô minh, thức, xúc, thọ, ái và thủ. Còn lại, thông cả
hai.
tất cả đều hữu
lậu, và duy chỉ thuộc hữu vi. Vô lạu và vô vi không phải là hữu chi.
Vô minh, ái,
thủ thông cả bất thiện và vô ký hữu phú. Hành duy chỉ thiện và bất
thiện. Hữu thông cả thiện, bất thiện và vô ký vô phú. Bảy chi còn lai
duy chỉ là vô ký vô phú. Trong bảy phần vị, chúng có khi khởi thiện, có
khi khởi nhiễm.
Tất cả đều
thông cả ba giới hệ. Nhưng có nơi một phần, có nơi toàn phần.
Chi hành thuộc
địa trên có có trấn phục địa dưới. Tức bằng sáu hành tướng,
do có sự mong cầu sinh lên địa trên mà hành ở đó được phát khởi.
Tất cả đều phi
học và vô học. Thánh giả khi phát khởi nghiệp thiện hữu lậu lấy minh làm
duyên, chống trái các hữu chi;
do đó trong các vị này không bao hàm các hữu chi.
Do ý nghĩa này,
nên biết, Thánh giả tất nhiên không tạo nghiệp dẫn đến hậu hữu, vì không
mong cầu một cách mê lầm quả khổ đời sau.
Thánh giả Bất
Hoàn tạp tu các tĩnh lự,
bằng tư trợ nghiệp cũ mà sinh Tịnh cư;
điều này không có gì phi lý.
a. Có quan điểm
cho rằng vô minh duy chỉ thuộc kiến sở đoạn. Cố nhiên vì do mê lý Thánh
đế nó mới phát động hành.
Và vì Thánh giả tất nhiên không tạo nghiệp dẫn đến hậu hữu.
Hai chi ái và
thủ duy chỉ thuộc tu sở đoạn. Do vì tham cầu hữu đương lai mà chúng tẩm
ươt mầm tái sinh. Và vì chín loại tâm khi mạng chung cùng hiện diện với
ái câu sinh.
Chín chi còn
lại thông cả kiến và tu sở đoạn.
b. Quan điểm
khác nói, tất cả đều thông cả hai đoạn. Luận nói, quả Dự lưu đã đoạn một
phần của tất cả mười hai chi. Nếu chi vô minh duy thuộc kiến sở đoạn, há
có thể nói Dự lưu không đoạn toàn phần? Nếu các chi ái và
thủ duy chỉ thuộc tu sở đoạn, há có thể nói vị ấy đã đoạn một phần của
tất cả mười hai chi?
Luận cũng nói,
trong toàn thể giới tất cả phiền não đều có thể kết sinh. Hành dẫn đến ác
thú chỉ có thể được phát khởi bởi phiền não do phân biệt. Luận không nói
tẩm ướt tái sinh duy chỉ tu sở đoạn, vì các hành dẫn đến hậu hữu đều
được phát động bởi kiến sở đoạn.
Do vậy, nên
biết, ba chi vô minh, ái và thủ thông cả kiến và tu sở đoạn. Nhưng
chính thức phát động hành là vô minh thụộc kiến sở đoạn; nếu là hành hỗ
trợ thì bất định. Hai chi ái và thuể, nếu chính thức tẩm ướt tái sinh
thì duy chỉ thuộc tu sở đoạn; nều là hỗ trợ thù bất định.
Lại nữa, tự
tính của pháp nhiễm ô thuộc loại phải bị đoạn trừ, vì khi đối trị phát
khởi
chúng vĩnh viễn bị đoạn trừ. Tất cả các pháp hữu lậu không có tính nhiễm
ô,
không thuộc loại phải bị đoạn, vì không trái ngược với đạo.
Tuy nhiên, nói
là đoạn, vì nó có hai nghĩa.
Một, thoát ly hệ phược,
đoạn trừ phiền não duyên vào đó,
và các phiền não xen tạp vào đó.
Hai, vì không sinh, tức vì sở y của nó bị đoạn
nên nó vĩnh viễn không sinh nữa.
Căn cứ theo sự
đoạn trừ do bởi thoát ly hệ phược, nói rằng thiện hữu lậu và vô ký vô
phú chỉ thuộc tu sở đoạn.
Căn cứ sự đoạn từ do không tái sinh, nói rằng các ác thú, vô tưởng định,
v.v.,
duy chỉ thuộc kiến sở đoạn.
Nói rằng mười
hai chi thông cả hai đoạn, nên biết tùy theo sự thích hợp trong các đoạn
đã nói trên.
Mười chi cùng
có mặt với lạc và xả thọ.
Trừ chi thọ, vì nó không tương ưng với thọ.
Và trừ chi già chết, vì trong giai đoạn này, đa phần không có lạc thọ và
xả thọ khách.
Mười một chi cùng có mặt với khổ, trừ chi thọ vì nó không cùng có với
thọ.
Một phần nhỏ
của mười một chi thuộc hoại khổ. Trừ chi già-chết, vì trong giai đoạn
này đa phần không có lạc thọ. Căn cứ lạc thọ mà có quan niệm về hoại
khổ, do đó ở đây loại trừ chi này.
Một phần nhỏ
của mười hai chi thuộc khổ khổ. Vì khổ có mặt trong trong tất cả chi.
Toàn phần
mườihai chi thuộc hành khổ. Vì các pháp hữu lậu đều thuộc hànhkhổ. Căn
cứ xả thọ, nói một phần nhỏ của mười một chi, trừ chi già-chết, như được
nói trong hoại khổ.
Ý nghĩa chân
thật là như vậy. Nhưng trong các Thánh giáo tùy theo tinh chất nổi bật
của nó mà nói không nhất định.
Tất cả đều
thuộc khổ đế, vì tính thể của chúng là thủ uẩn.
Năm chi cũng thuộc tập đế, vì tính thể của chúng là nghiệp, phiền não.
Các chi quan hệ
với nhau tất yếu có tăng thượng duyên. Ba duyên còn lại, có hay không,
không nhất định. Khế kinh căn cứ tính tất yếu duy chỉ đề cập một duyên.
Ái trong quan
hệ với thủ,
hữu quan hệ với sinh,
đều mang ý nghĩa nhân duyên.
Nếu nói thức
chi là chủng tử của nghiệp, hành quan hệ với thức,
nó cũng là nhân duyên.
Các chi còn
lại, mối quan hệ giữa chúng không hàm nghĩa nhân duyên.
Nhưng Tập
luận nói vô minh trong quan hệ với hành hàn nghĩa nhân duyên.
Đây là căn cứ theo sự có mặt của tập khí nghiệp đồng thời với vô minh mà
nói. Đó là vô minh được nói theo ước lệ, mà thật sự là chủng tử của
hành.
Du-già đề cập
sự quan hệ giữa các chi trong đó không nói đến nhân duyên.
Đây là chỉ nói về ái và thủ hiện hành,
và hữu chỉ là chủng tử của nghiệp.
Vô minh quan hệ
với hành, ái quan hệ với thủ; sinh quan hệ với già-chết; hàm hai duyên
còn lại.
Hữu quan hệ với
sinh, thọ quan hệ với ái, không có đẳng vô gián duyên, nhưng có sở duyên
duyên.
Các chi còn lại
quan hệ với nhau không có cả hai.
Trong đây vã
lại y theo duyên khởi đích thật mà nói, tức quan hệ kế cận, thuận thứ,
không tạp loạn.
Quan hệ giữa các chi với nhau không như vậy duyên không xác định. Những
vị thông tuệ nên theo lý thích hợp mà tư duy.
Ba phạm trù
hoặc – nghiệp – khổ bao hàm mười hai chi: vô minh, ái, thủ, được bao hàm
trong hoặc. Hành và một phần hữu được bao hàm trong nghiệp. Bảy chi còn
lai và một phàn hữu được bao hàm trong khổ.
Có nơi nói,
nghiệp bao hàm toàn bộ hữu.
Nên biết, đó là y theo nghiệp hữu
mà nói.
Có nơi nói thức
được bao hàm trong nghiệp;
đây do căn cứ chủng tử của nghiệp là thức chi mà nói.
Nhừng gì được
chiêu cảm bởi hoặc-nghiệp độc nhất được gọi là khổ, vì chúng được báo
hàm duy chỉ trong khổ đế, với mục đích khiến phát sinh sự nhàm tởm.
Do bởi hoặc –
nghiệp – khổ, tức bao hàm mười hai chi, do đây mà tạo thành dòng sinh tử
tương tục.
4. Ý NGHĨA SINH TỬ
1. Hai
dạng sinh tử
Lại nữa, sinh
tử tương tục do nhân duyên nội tại, không cần đến ngoại duyên, do đó,
duy chỉ có thức. Nhân ở đây là hai loại nhgiệp hữu lậu và vô lậu.
Vì chúng dẫn đến sinh tử nên nói là nhân. Duyên ở đây là hai phạm trù
chướng ngại, phiền não chướng và sở tri chướng. Vì chúng trợ lực để dẫn
đến sinh tử nên được gọi là duyên.
Vì sao? Có hai
dạng sinh tử.
a. Phần đoạn
sinh tử.
Đó là quả dị thục thô trọng trong ba giới, được chiêu cảm bởi các nghiệp
bất thiện và thiện hữu lậu, với thế lực hỗ trợ của các duyên là phiền
não chướng. Sự dài ngắn của thân mạng tùy theo ảnh hưởng của nhân duyên
mà có phần hạn nhất định, do đó nói là phần đoạn.
b. Bất tư nghị
biến dịch sinh tử.
Đó là quả dị thục vi tế thù thắng được chiêu cảm bới nghiệp vô lậu có
phân biệt,
với thế lực hỗ trợ của các duyên là sở tri chướng. Do lực của bi và
nguyện mà thân mạng được cải chuyển
không có phần hạn xác định, do đó gọi là biến dịch. Vì diệu dụng được
chiêu cảm hoàn toàn được tư trợ bởi nguyện và định vô lậu, nên nói là
bất tư nghị.
Hoặc cũng được gọi là ý thành thân,
vì tùy theo ý nguyện mà được tác thành.
Như Khế kinh
nói,
cũng như lấy thủ làm duyên, lấy nghiệp hữu lậu làm nhân tiếp nối hậu hữu
để sản sinh ba hữu. Cũng vậy, do vô minh tập địa
làm duyên, nghiệp vô lậu làm nhân, phát sinh ba loại ý thành thân của
A-la-hán, Độc giác, và Bồ-tát đã đắc tự tại.
Hàng vô học
trong Thanh văn đã hoàn toàn diệt tận hậu hữu làm sao có thể chứng Vô
thượng Bồ-đề? Y biến hóa thân mà chứng Vô thượng giác, chứ không phải y
thân do nghiệp báo, cho nên không có gì phi lý.
Biện minh 1:
Nạn vấn 1.-
Nếu nghiệp vô lậu được trợ lực bởi sở tri chướng dẫn đến sinh tử, hạng
định tính thuộc Nhị thừa đáng lẽ không vĩnh viễn nhập vô dư niết-bàn?
Vì cũng như
hàng dị sinh bị câu thúc bởi phiền não.
Nhưng đạo đế
làm sao cho thể thực sự chiêu cảm khổ?
Ai nói rằng
thật sự chiêu cảm?
Nếu không như
vậy, thì ý nghĩa như thế nào?
Định và nguyện
vô lậu tư trợ nghiệp hữu lậu khiến cho quả đạt được tiếp nối lâu dài,
càng lúc càng phát triển thành vi tế thù thắng. Theo ý nghĩa đó mà nói
một cách ước lệ là chiêu cảm. Khi có sự chiêu cảm như vậy, là do sở tri
chướng làm duyên trợ lực, chứ không phải độc nhất nghiệp vô lậu mà có
thể chiêu cảm.
Tuy nhiên, sở
tri chướng không chướng ngại giải thoát; vì nó không hiệu lực phát động
nghiệp và tẩm ướt mầm tái sinh.
Nạn vấn 2.-
Vậy cần gì phải tư trợ để chiêu cảm khổ sinh tử?
Tự chứng bồ-đề,
vì sự lợi lạc cho nhiều người. Độc giác và Thanh văn thuộc hạng bất định
tính, và hạng Bồ tát đại nguyện và đã đắc tự tại; các hạng này đã vĩnh
viễn đoạn trà, trán phục phiền não chướng, do đó sẽ không còn thọ nhận
thân phần đoạn trong tương lai. Nhưng vì e rằng phải bỏ dỡ sự tu tập Bồ
tát hành, bèn dùng định
và nguyện lực vô lậu thù thắng, nhưng phương pháp kéo dài tuổi thọ, tư
trợ nhân của thân hiệ hữu jghếin cho nó tồn tại lâu đài cùng với quả
không bị cắt đứt, thường xuyên bằng sự tư trợ của định và nguyện lực như
vậy cho đến khi chứng đắc Vô thượng bồ đề.
Nạn vấn 3.-
Nó
sao lại phải cần đến tư trợ của sở tri chướng?
Vì chưa chứng
đại bi vô tướng một cách viên toàn, nếu không chấp rằng bồ đề và hữu
tình là thật hữu, thì không do đâu mà phát khởi bi nguyện mãnh liệt nhạy
bén.
Lại nữa, sở tri
chướng chướng ngại bồ-đề. Để vĩnh viễn đoạn trừ nó mà lưu thân tồn tại
lâu dài.
Lại nữa, sở tri
chướng là sở y cho hữu lậu. Nếu không có nó, nhất định cũng không có hữu
lậu. Vì vậy, nó trợ lực rất lớn cho sự tồn tại của thân.
Nếu thân được
bảo lưu mà được tư trợ bởi nguyện và định hữu lậu, thân ấy thuộc phần
đoạn, là đối tượng sơ tri của Nhị thừa và dị sinh. . Được tư trợ bởi
nguyện và định vô lậu, đó là thân thuộc biến dịch; đây không phải là đối
tượng của các hạng ấy.
Do ý nghĩa này,
nên biết, tính chất của biến dịch sinh tử là hữu lậu, thuộc quả dị thục.
Đối với nghiệp vô lậu, nó là tăng thượng quả.
Có nơi Thánh
giáo nói rằng nó là vô lậu, siêu xuất tam giới, đó là tùy theo trợ nhân
mà nói.
Trong tụng nói,
“tập khí của các nghiệp” tức chi chủng tử của hai loại nghiệp được nói
trên. Nói “tập khí của hai thủ” tức chỉ chủng tử của hai chướng được nói
trên. Vì cả hai đều chấp trước. Các từ khác, “cùng với” v.v., ý nghĩa
như đã giải thích.
Tuy biến dịch
sinh tử không có ý nghĩa như phần đoạn, theo đó, dị thục này hết thì dị
thục khác được sản sinh, nối tiếp nhau trước sau; nhưng nó thường xuyên
được tư trợ, tiếp nối trước sau cải chuyển, do đó cũng có ý nghĩa là cái
trước hết thì cái sau sinh.
Mặc dù dòng
tương tục của sinh tử cũng do hiện hành, nhưng chủng tử nhất định phải
có, do đó tụng đặc biệt đề cập.
Hoặc để hiển
thị rằng quả dị thục chân thật không tồn tại ngoài bản thức, do đó tụng
không nói đến hiện hành. Chuyển thức có gián đoạn, vì không phải là dị
thục.
Sinh tử luân
hồi trong ba tế, tiền, trung và hậu, không cần đợi ngoại duyên, mà đã do
nội duyên.
Dòng tương tục
của tịnh pháp, nên biết, cũng vậy. Từ vô thủy đến nay, đã tồn tại chủng
tử vô lậu y tựa nơi bản thức. Do được các chuyển thức thường xuyên huân
tập dần dần nó được tăng trưởng, cho đến khi cữu cánh thành Phật, bấy
giờ loại bỏ chủng tử của thức tạp nhiễm từ trước mà chuyển đổi bâtư đầu
phát khỏi thức hàm chứa chủng tử thanh tịnh, duy trì chủng tử của thết
thảy mọi phẩm tính, do năng lực của bản nguyện, suốt cùng vị lai khởi
các diệu dụng, tiếp nối không cùng tận.
|