LUẬN THÀNH DUY THỨC

成唯識論

(T31n1585)

Bản dịch Việt

TUỆ SỸ


Mục lục

(chương 1) (chương 2) (chương 3) (chương 4)
(chương 5) (chương 6) (chương 7) (chương 8)

Phụ bản: Thành Duy Thức Luận (T31n1585)

Thư mục chú thích



Chương VII. Ba tự tính

1. Định nghĩa

1. Biến kế

2. Y tha khởi

3. Viên thành thật

2. Các vấn đề

1. Sáu vô vi

2. Bảy chân như

3. Sáu phạm trù

4. Năm sự

5. Bốn chân thật

6. Bốn thánh đế

7. Ba giải thoát

8. Hai pháp tướng

9. Trí phàm thánh

10. Giả thật

11. Dị và bất dị

3. Ba vô tính


 

CHƯƠNG VII. BA TỰ TÍNH

Nểu duy chỉ có thức, vì sao nhiều nơi trong Kinh đức Thế Tônnói có ba tính?

Nên biết, ba tính cũng không biệt lập ngoài thức. Vì sao?

Tụng:

由彼彼遍計

遍計種種物

此遍計所執

自性無所有 //20//

依他起自性

分別緣所生

圓成實於彼

常遠離前性//21//

故此與依他

非異非不異

如無常等性

非不見此彼//22//

Do sự phân biệt (biến kế) như thế như thế mà sự vật được phân biệt. Tính thể tự hữu của biến kế sở chấp này hoàn toàn không tồn tại./20

Tính thể tự hữu y tha khởi, đó là cái phân biệt xuất hiện do các duyên. Tính thể tự hữu viên thành thật, đó là tính vắng bặt vĩnh viễn sự kiên trước ở nơi y tha./21

Do vậy, nó đối với y tha khởi vừa không phải dị biệt, vừa không phải không dị biệt. Như tính vô thường chẳng hạn. Khi cái này không được nhìn thấy thì cái kia cũng không được nhìn thấy./22

Luận:

1. ĐỊNH NGHĨA

1. Biến kế[1]

i. Giải thích của Nan-đà[2]

Suy tính cùng khắp, gọi là biến kế.[3]

Phẩm loại có rất nhiều, nói là “như thế như thế”[4] Đây chỉ cho cái phân biệt hư vọng biến kế. Nghĩa là, do sự phân biệt hư vọng như thế như thế, mà biến kế thành đa dạng vật được biến kế. Sự đa dạng của vật được biến kế là sự sai biệt của tự tính, hoặc ngã, hoặc pháp, như uẩn, xứ, giới, v.v., bị nhận thức sai lầm.

Sự sai biệt của tự tính bị nhận thức sai lầm này được gọi chung là tự tính bị biến kế chấp. Tự tính như vậy[5] hoàn toàn không tồn tại, vì theo lý và giáo nó là cái không thể bắt nắm được.[6]

ii. Giải thích của Hộ Pháp

Hoặc câu đầu[7] nêu rõ thức biến kế.[8] Câu thứ hai, chỉ rõ cảnh bị biến kế.[9] Nửa sau của bài tụng mới phô diễn tự tính của những cái bị chấp, hoặc ngã, hoặc pháp, không tồn tại, vì đã nêu rõ[10] chi tiết nó là cái không thể bắt nắm.

a. Năng biến kế

Tự tính của cái biến kế là gì?

1. Có giải thích nói, đó là tám thức và các tâm sở, thuộc hữu lậu, thảy đều là cái biến kế.[11] Vì tự tính của nó là sự phân biệt hư vọng. Vì nó xuất hiện như là ảnh tợ của sở thủ và năng thủ.[12] Và vì nói rằng a-lại-da  lấy chủng tử của tự tính bị biến kế sở chấp làm đối tượng sở duyên.[13]

2. Giải thích khác nói,[14] các tâm phẩm thứ sáu và thứ bảy, chúng chấp ngã và pháp, là những cái biến kế.[15] Vì chỉ nói ý thức là cái biến kế.[16] Vì ý và ý thức đều được gọi chung là ý thức.[17]Vì cái biến kế là cái phân biệt thẩm tra.[18] Vì cái chấp ngã và pháp tất nhiên là huệ.[19] Vì cả hai thứ chấp đều phải câu hữu với vô minh.[20] Vì không nói rằng vô minh có thiện tính.[21] Vì si và vô si, v.v. không tương ưng[22]. Không thấy đâu nói tâm có chấp lại dẫn đạo Không trí[23]. Vì chấp hữu và đạt vô[24] không cùng khởi. Vì chưa hề có sự kiện có chấp mà không phải là năng huân.[25]

Vì tâm hữu lậu v.v. không chứng thật lý,[26] tất cả đều được gọi là phân biệt hư vọng.[27] Mặc dù xuất hiện với ảnh tợ như là sở thủ, năng thủ,[28] nhưng không phải tất cả được được kể là năng biến kế. Không nên nói rằng tâm vô lậu cũng có chấp.[29] Vì nếu thừa nhận như vậy thì trí hậu đắc của Như Lai cũng có chấp.[30] Vì Kinh nói, Phất trí hiện thân và độ  với nhiều hình thái khác nhau, như tấm gương.[31] Nếu không có tác dụng như là duyên,[32] đó có thể không phải là trí.

Mặc dù nói rằng tàng thức duyên đến chủng tử biến kế,[33] nhưng không nói duy chỉ duyên đến biến kế, do đó biện minh này không vững.

Do ý nghĩa như vậy, duy chỉ các tâm phẩm thứ sáu và thứ bảy là có năng biến kế. Phẩm loại thức tuy chỉ có hai, nhưng các loại biến kế bất đồng, hoặc hai, hoặc, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười.[34]

b. Sở biến kế

Tự tính của cái bị biến kế là gì? Nhiếp Đại thừa[35] nói, đó là y tha khởi, vì là sở duyên duyên của tâm biến kế các thứ.

Tính viên thành thật há không phải là đối tượng của nó? Vì tính ấy là chân thật, không phái là cảnh sở duyên cho chấp thủ hư vọng. Nếu căn cứ theo tính cách bắc cầu[36], thì cũng có thể nói chân như cái bị biến kế. Cái bị biến kế chấp tuy là mối trường của tâm biến kế kia, nhưng không phải là sở duyên duyên[37] của nó, nên cái đó không phải là cái bị biến kế.

c. Biến kế và y tha

Đặc tính của biến kế là thế nào? Nó có những điểm khác biệt gì đối với y tha?

1. Có giải thích nói,[38] tâm và tâm sở thuộc cả ba giới, do bị huân tập từ vô thủy, tự thể của chúng tuy là một nhưng xuất hiện tợ như là hai, là kiến phần và tướng phần, tức năng thủ và sở thủ. Hai phần như vậy, về tình thì có nhưng về lý thì không. Tính chất ấy được nói là biến kế sở chấp. Tự thể làm sở y cho cả hai,về thực chất, được sản sinh do quan hệ các duyên. Tự tính của cái đó không phải không tồn tại, nó được gọi là y tha khởi. Vì nó được sản sinh bởi các yếu tố phân biệt hư vọng. Do đâu mà biết? Các Thánh giáo nói, cái phân biệt hư vọng là y tha khởi; hai thủ được gọi là biến kế sở chấp. [39]

2. Giải thích khác nói,[40] hết thảy tâm và tâm sở, do bị chi phối bởi sự huân tập, biến thái thành hai phần. Hai phần như vậy được sản sinh do bởi các duyên, và do đó cũng là y tha khởi. Biến kế chấp y vào phán đoán lệch lạc này mà xác định thực hữu hay không thực hữu, đồng nhất hay dị biệt, câu hữu hay không câu hữu. Do tính nhị nguyên như vậy nó mới được gọi là biến kế sở chấp.

Các Thánh giáo nói, duy chỉ là lượng, là hai, là đa thù,[41] đều chỉ cho y tha khởi.

Lại nữa, bốn pháp,[42] và mười một thức,[43] các Luận[44] đều nói là được bao hàm trong y tha khởi.

a. Nếu không phải như vậy, hai phần của phẩm trí hậu đắc vô lậu[45] đáng lẽ được gọi là biến kế sở chấp. Thừa nhận điều này,[46] hẵn Thánh trí hoạt động mà không duyên đến cái đó[47]; hoặc có duyên đến, thế thì phẩm trí đó không thuộc về đạo đế. Nếu không thừa nhận điều này, nên biết, hữu lậu cũng vậy.[48]

b. Lại nữa, nếu hai phần là biến kế sở chấp, ắt hẵn như sừng thỏ các thứ, [49]  không phải là sở duyên duyên. Vì thể của biến kế sở chấp không tồn tại.

c. Lại nữa, hai phần hẵn không được huân tập thành chủng tử,[50] thức sát-na sau[51] khi xuất hiện ắt sẽ không có hai phần.[52]

d. Lại nữa, các tập khí đều được bao hàm trong tướng phần,[53] há rằng pháp không tồn tại mà có thể làm nhân duyên?

e. Lại nữa, kiến và tướng phần nội tại được sản sinh bởi các duyên, nếu không phải là y tha khởi, thế thì thể sở y của cả hai phần cũng vậy,[54] vì không có nhân dị biệt.[55]

Do nghĩa lý như vậy, tự thể của tâm và các tâm sở, cùng tướng và kiến phần, thuộc hữu lậu và vô lậu, được sản sinh bởi các duyên, thảy đều là y tha khởi. Vì chúng sinh khởi do lệ thuộc các điều kiện, tức những cái khác với chính nó.

2. Y tha khởi

Tụng nói, sự phân biệt phát sinh do bởi các duyên,[56] nên biết, đó là đề cập y tha về phần nhiễm. Vì y tha phần tịnh cũng chính là viên thành thật.[57]

Hoặc các tâm, tâm sở nhiễm hay tịnh đều được nói là phân biệt, vì chúng duyên lự.[58] Thế thì tất cả y tha hoặc nhiễm hoặc tịnh đều được bao hàm trong y tha khởi này.

3. Viên thành thật

1. Thật tính của các pháp thành tựu viên mãn được hiển thị bởi hai Không, đó gọi là viên thành thật.[59] Nó được hiển thị như là phổ biến, thường hằng, tự thể không hư dối; loại ra ngoài tự tướng, cộng tướng, hư không, ngã các thứ.

Hữu vi hữu lậu mà loại bỏ điên đảo, đạt cứu cánh, thắng dụng phổ biến, cũng được gọi với danh từ này. Thế nhưng, ở đây trong tụng chỉ được đề cập ý nghĩa đầu chứ không phải ý nghĩa sau[60].

2. Tính thể của nó chính là chân như được hiển thị bởi hai Không, tuyệt đối loại trừ tính đầu tiên là biến kế sở chấp nơi y tha khởi kia.

Từ ngữ “ở nơi cái kia”[61], nêu rõ rằng viên thành thật và y tha khởi không tương tức cũng không tương ly.

Cụm từ “vĩnh viễn vắng bặt”[62] nêu rõ sự không tồn tại vĩnh viễn của năng thủ và sở thủ bị nhận thức một cách lệch lạc.

Từ ngữ “sự kiện trước”[63] nhắm nêu rõ y tha không phải là trống không.

Vĩ thanh “tính”[64] nêu rõ hai Không không phải là viên thành thật, vì chân như vượt ngoài tính hữu và tính vô.

3. Do lý được nêu trước đó, viên thành thật này cùng với y tha khởi vừa không phải di biệt, vừa không phải không dị biệt.[65] Nếu dị biệt, chân như không phải là thật tính của nó. Nếu không phải dị biệt, tính thể (chân như) này là vô thường.[66] Cái này và cái kia, ắt hẵn thảy đều là đối tượng tịnh và không phải tịnh,[67] như vậy tác dụng của căn bản và hậu đắc trí sẽ không khác biệt.

Vì hai hai tính thể ây không phải khác biệt hay không khác biệt? Như tính thể vô thường, vô ngã kia, v.v. Nếu vô thường tính mà khác biệt đối với pháp, như các hành chẳng hạn, pháp ấy tất không phải là vô thường. Nếu không phải khác, vô thường sẽ không phải là yếu tính phổ quát của các pháp. Bằng thí dụ này để nêu rõ viên thành thật này cũng với y tha kia không phải đồng nhất, không phải dị biệt. Pháp đối với pháp tính, theo lý, tất phải vậy. Vì thắng nghĩa và thế tục tồn tại theo quan hệ đối đãi.

4. Không phải rằng không chứng kiến viên thành thật này mà có thể thấy được y tha khởi tính kia.[68] Vì nếu chưa thấu triệt tính thể của biến kế sở chấp là không, thì không thể biết một cách như thật về sự tồn tại của y tha.[69] Sau khi trí vô phân biệt chứn chân như, bấy giờ ở trong trí hậu đắc mới có sự thấu triệt sự thể như huyễn[70] v.v. nơi y tha.

Tuy từ vô thủy tâm và tâm sở có thể duyên đến tướng và kiến phần[71] các thứ của chính nó, nhưng vì sự chấp ngã và chấp pháp luôn luôn cùng hiện hành, cho nên không nhận thức được một cách như thật đó là những biến hiện hư vọng của tâm và tâm sở được dẫn khởi bởi các duyên. Cũng như huyễn sự, quáng nắng, cảnh chiêm bao, ảnh tượng trong gương, bóng sáng, tiếng dội, trăng dưới nước, vật biến hóa thành;[72] những thứ đó tuy không có nhưng tợ như là có.

Că cứ theo ý nghĩa đó, cho nên tụng nói “nếu không thấy chân như, không thể rõ các hành, là huyễn sự các thứ, tuy có nhưng không chân thật.”[73] Đại ý bài tụng nói ba loai tự tính đều không xa lìa tâm, tâm sở pháp. Nghĩa là, tâm, tâm sở và những cái được biến hiện[74] đều xuất hiện do các duyên, như huyễn sự các thứ, không phái có mà tợ hồ như có, dối gạt kẻ ngu; tất cả đều được gọi là tính y tha khởi. Kẻ ngu ở nơi đó mag chấp ngang ngã và pháp, hoặc có hoặc không, hoặc nhất hoặc dị, hoặc cả hai hay không cả hai, v.v., như hư không chẳng hạn, tính và tướng đều hoàn toàn không; hết thảy đều được gọi là biến kế sở chấp.

Ngã pháp bị chấp trước sai lầm căn cứ trên y tha thày đều không. Chân tính của thức các thứ được hiển thị bởi cái Không này được gọi là viên thành thật.

Cho nên, cả ba tính này đều không tách biệt ngoài tâm.

2. CÁC VẤN ĐỀ

1. Sáu vô vi

Sáu vô vi, như hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi trạch diệt vô vi, v.v., chúng được bao hàm trong tự tính nào? Được bao hàm trong cả ba.

Hư không tướng các thứ là ảnh tợ biến thái của tâm, tùy tâm mà sinh, do đó, được bao hàm trong y tha khởi.

Kẻ ngu quan niệm sai lầm cho là có thật, do đó nó thuộc về tính biến kế sở chấp.

Nếu ở nơi chân như mà giả thi thiết là có nghĩa hư không các thứ, nó được bao hàm trong viên thành thật.[75] 

Tâm hữu lậu các thứ[76] tất nhiên thuộc y tha. Tâm vô lậu các thứ[77] được bao hàm bởi hai tính. Vì được sản sinh bởi các duyên nên chúng thuộc y tha. Vì không điên đảo nên chúng thuộc viên thành thật.

2. Bảy chân như

Ba tính như vậy, trong bảy chân như, bao hàm những chân như nào?

Bảy chân như[78]:

1. Lưu chuyển chân như, thật tính của sự lưu chuyển của các pháp hữu vi.

2. Thật tướng chân như, thật tính được hiển thị bởi hai vô ngã.

3. Duy thức chân như, thật tính duy thức của pháp nhiễm và tịnh.

4. An lập chân như, thật tính của khổ.

5. Tà hành chân như, thật tính của tập.

6. Thanh tịnh chân như, thật tính của diệt.

7. Chính hành chân như, thật tính của đạo.

Bảy thật tính này được bao hàm trong viên thành thật, vì là đối tượng của hai trí căn bản và hậu đắc.

Nếu theo các đặc tính thứ yếu,.ba chan như lưu chuyển, khổ và tập được bao hàm trong hai tính đầu, vì là tạp nhiiễm vọng chấp. Bốn còn lại đều thuộc về viên thành thật.

3. Sáu phạm trù

Trong sáu pháp,[79] ba tính bào hàm những pháp nào?

Cả sáu pháp đều đủ cả ba tính. Sắc, thọ, tưởng, hành thức và vô vi đều có ý nghĩa vọng chấp và duyên sinh.

4. Năm sự

Ba tính bao hàm năm sự như thế nào?

i. Năm pháp[80]

Các Thánh giáo nói sự bao hàm không nhất định.

1. Hoặc có trường hợp nói y tha khởi bao hàm tướng, danh, phân biệt và chính trí; viên thành thật bao hàm chân như. Biến kế sở chấp không bao hàm pháp nào trong năm pháp.[81] Theo đó,[82] các ảnh tợ biến thái của tâm, tâm sở, được mô tả bởi danh, được gọi là tướng. Ảnh tợ như là sự mô tả chuyển tải các khái niệm, được gọi là danh. Tâm, chủ thể biến thái, được lập làm phân biệt. Tâm vô lậu vượt ngoài các hý luận được gọi chung là chính trí, không nói là cái mô tả hay cái được mô tả. Cả bốn pháp đều phát sinh từ các duyên, thảy đều được bao hàm bởi y tha.

2. Cũng có trường hợp nói y tha khởi bao hàm tướng và phân biệt. Biến kế chỉ bao hàm danh. Chính trí và chân như được bao hàm bởi viên thành thật.[83] Theo đó, tướng phần của tâm, tâm sở hữu lậu được gọi là tướng. Các phần còn lại, được gọi là phân biệt. Biến kế sở chấp, vì hoàn toàn vô thể, để hiển thị tính phi hữu, được khái niệm là danh. Cả hai,  chính trí và chân như, vì là không điên đảo, đều được bao hàm trong viên thành thật.

3. Trường hợp khác nói y tha khởi tính chỉ bao hàm phân biệt. Biến kế sở chấp bao hàm tướng và danh. Chính trí và chân như được bao hàm trong viên thành thật.[84] Theo đó, tướng và kiến phần các thứ của tâm và tâm sở hữu lậu được gọi chung là phân biệt, vì tự tính của chúng là phân biệt không hiện thực. Biến kế sở chấp, bao gồm sự mô tả và cái được mô tả, tùy thích hợp, bao hàm hai sự danh và tướng.

4. Lại có trường hợp nói danh thuộc y tha khởi tính; nghĩa[85] thuộc biến kế sở chấp. Theo đó, tướng và kiến phần các thứ của tâm và tâm sở pháp hữu lậu do thế lực của danh mà trở thành cái bị biến kế, do đó chúng được gọi là danh. Biến kế sở chấp tùy theo danh mà bị nhận thức lệch lạc, tự thể không phải thật hữu, theo quy ước mô tả, gọi nó là nghĩa.[86]

Văn nói về năm sự trong các Thánh giáo  tuy có những bất đồng, nhưng ý nghĩa không mâu thuẫn nhau. Song, trong trường hợp đầu, văn diễn tả không rối loạn, chi tiết rộng rãi, nên biết,  như được nói trong luận Du-già.

ii. Năm tướng

Trong Thánh giáo, có nói đến năm tướng.[87] Chúng được bao hàm như thế nào trong ba tính?

Sở thuyên và năng thuyên, mỗi tướng đều đủ cả ba tính. Tức là, nếu là cái bị nhận thức lệch lạc thì thuộc về tính biến kế sở chấp. Tương quan với danh, tướng, phân biệt,[88] tùy theo sự thích hợp, sở thuyên và năng thuyên thuộc y tha khởi. Đối với chân như và chính trí,[89] tùy theo sự thích hợp, sở thuyên và năng thuyên thuộc viên thành thật, vì hậu đắc biến tợ tướng năng thuyên.

Hai tướng tương thuộc duy chỉ được bao hàm trong tự tính đầu, vì  nhận thức lệch lạc về nghĩa và danh nhất định do sự lệ thuộc lẫn nhau.

Tướng chấp trước duy thuộc y tha khởi, vì tự tính của nó là phân biệt hư vọng.

Không chấp trước duy chỉ là viên thành thật, vì tự tính của nó là trí vô lậu.[90]

5. Bốn chân thật

Lại nữa, trong Thánh giáo nói đến bốn chân thật.[91] Chúng quan hệ như thế nào với ba tính?

Chân thật được cực thành bởi thế giàn đạo lý thuộc về y tha khởi, vì nó bao hàm ba sự[92]. Hai sự thật, là cảnh giới sở hành của hai trí thanh tịnh, thuộc về viên thành thật, vì bao hàm hai sự[93].

Biện trung biên nói chân thật thứ nhất chỉ được bao hàm trong tự tính đầu, vì là điều được thừa nhận một cách phổ thông.[94] Chân thật thứ hai thuộc chung cả ba tính,[95] vì lý thông cả chấp và vô chấp, tạp nhiễm và thanh tịnh. Hai chân thật cuối chỉ thuộc tự tính thứ ba.[96]

6. Bốn Thánh đế

Ba tính bao hàm bốn Thánh đế như thế nào?

Trong bốn đế, mỗi một đế đều đủ cả ba tính.

i. Khổ đế

a. Vô thường.- Vã, bốn hành tướng trong khổ đế,[97] vô thường có ba: 1. Vô tính vô thường, vì tính thể vĩnh viễn không tồn tại. 2. Khởi tận vô thường, vi có sinh và có diệt. 3. Cấu tịnh vô thường, vì chuyển biến trạng thái.[98]

b. Khổ.- Khổ có ba: 1. Sở thủ khổ, vì bị chấp thủ bởi hai chấp ngã và pháp. 2. Sự tướng khổ, do ba khổ tướng. 3. Hòa hiệp khổ, vì sự kết hợp với đặc tính khổ.[99]

c. Không.- Không có ba: 1. Vô tính không, vi thính thể không thực hữu. 2. Dị tính không, vị khác biệt với tự tính bị nhận thức lệch lạc. 3. Tự tính không, vì là tự tính được hiển thị bởi hai không.[100]

d. Vô ngã.- Vô ngã có ba: 1. Vô tướng vô ngã, vì ngã không có tướng. 2. Dị tướng vô ngã, vì khá biệt với tướng của ngã bị nhận thức lệch lạc. 3. Tự tướng vô ngã, tự tướng được hiển thị bằng vô ngã.[101]

ii. Tập đế

Tập đế có ba:[102] 1. Tập khí tập khởi; tập khí của tự tính biến kế sở chấp; sự chấp chặt tập khí ấy được khái niệm quy ước với tên gọi ấy.[103] 2. Đẳng khởi tập,[104] đó là nghiệp và phiền não.[105] 3. Vị ly hệ tập, vì chưa thoát ly sự chướng ngại chân như.[106]

iii. Diệt đế

Diệt đế có ba:[107] 1. Tự tính diệt, vì tự tính bất sinh.[108] 2. Hai thủ diệt, do trạch diệt, hai thủ không phát sinh.[109] 3. Bản tính diệt, vì là chân như.[110]

iv. Đạo đế

Đạo đế có ba:[111] 1. Biến tri đạo, vì biến tri biến kế sở chấp. 2. Vĩnh đoạn đạo, vì đoạn trừ y tha khởi. 3. Tác chứng đạo, vì chứng viên thành thật.[112] Tuy nhiên, biến tri đạo cũng thông cả hai tính sau.

Tổng kết: ba lần bảy,[113] theo thứ tự thích hợp, phổi trí với ba tính. Nay, ba tính được phối trí trong đây hoặc giả, hoặc thật, cần được nhận thức theo lý.

7. Ba giải thoát

Cảnh giới sở hành của ba giải thoát môn cùng với ba tính này được bao hàm như thế nào?

Lý thật, tất cả đều thông. Tùy đặc tính của mỗi thứ, không, vô nguyện, vô tướng, theo thứ tự, nên biết.[114]

Duyên vào đây lại phát sinh ba vô sinh nhẫn: 1. bản tính vô sinh nhẫn, 2. tự nhiên vô sinh nhẫn, 3. cảm khổ vô sinh nhẫn.[115] Vì, theo như thứ tự, ba nhẫn này cũng là cảnh của ba giải thoát.

8. Hai pháp tướng

Ba tự tính này bao hàm hai đế[116] kia như thế nào?

Nên biết, thế tục đủ cả ba. Thắng nghĩa duy chỉ là viên thành thật tính.

Thế tục có ba:[117] 1. giả thế tục, 2. hành thế tục, 3. hiển liễu thế tục. Theo thứ tự, nên biết, cũng chính là ba tính này.

Thắng nghĩa có ba:[118] 1. nghĩa thắng nghĩa, tức chân như, vì nghĩa của cái tối thắng[119]; 2. đắc thắng nghĩa, tức niết-bàn, vì nghĩa tức tối thắng;[120] 3. hành thắng nghĩa, chỉ Thánh đạo, vì lấy tối thắng làm nghĩa.[121] Không biến dị, không điên đảo, tùy theo sự thích hợp,[122] do đó đều được bao hàm trong viên thành thật.

9. Trí phàm thánh

Ba tính như vậy bao hàm trí sở hành như thế nào? Biến kế sở chấp hoàn toàn không phải là sở hành của trí; vì không có tự thể, không phải là sở duyên duyên. Ngu phu chấp là tồn tại, Thánh giả thấu triệt là không tồn tại, cho nên nó cũng là đối tượng của cả phàm và Thánh trí. Y tha khởi tính là sở hành của hai trí. Viên thành thật duy chỉ là đối tượng của Thánh trí.[123]

10. Giả thật

Trong ba tính này, bao nhiêu giả? bao nhiêu thật? Biến kế sở chấp, do quy định lệch lạc nên có thể nói là giả. Nhưng vì nó không có thể tướng nên không phait giả cũng không phải thật.[124]

Y tha khởi tính có giả mà cũng có thật. Do tụ tập, do tiếp nối liên tục, và do tính phần vị[125], nên nói là giả hữu. Tâm, tâm sở, sắc, được sản sinh từ các duyên, nên nói là thật hữu. Nếu pháp thật không tồn tại, thì pháp giả cũng không, vì giả y trên thật mà thi thiết.[126]

Viên thành thật tính duy chỉ là thật hữu, vì được thi thiết mà không y nơi các duyên khác.

11. Dị và bất dị

Bá tính này, dị biệt hay không dị biệt?  Cả hai đều không phải. Chúng không có tự thể biệt lập đối với nhau, nên không phải dị biệt nhau. Nhưng chúng cũng khác biệt nhau, vì thứ nhất do quan niệm sai lầm, thứ hai do duyên mà khởi, thứ ba, nghĩa chân thật.

Ý nghĩa của ba tự tính như vậy thật không cùng tận, nhưng e răng văn tự rườm ra, cho nên cho lược thuật những điểm chính yếu.

3. BA VÔ TÍNH

Nếu tồn tại ba tính, vì sao Thế Tôn nói hết thảy các pháp đều không có tự tính?

Tụng:

即依此三性

立彼三無性

故佛[07]密意說

一切法無性 //23/

初即相無性

次無自然性

後由遠離前

所執我法性 //24/

此諸法勝義

亦即是真如

常如其性故

即唯識實性 //25/

Tức y nơi ba tính này mà lập ba vô tính kia. Do đó, Phật, bằng mật ý, nói hết thảy pháp đều vô tính. [127]

Thứ nhất, tướng vô tính. Thứ hai tự nhiên vô tính. Sau hết, do tách lìa tự tính của ngã và pháp bị chấp trước đã nói trước đó.[128]

Đây là thắng nghĩa của các pháp. Cũng tức là chân như. Tự tính thường như nó là nó. Tức thật tính Duy thức.[129]

Luận

Tức y trên ba tính đã được nói trước đây mà lập ba vô tính sẽ được nói sau đây. Đó là, tướng, sinh và thắng nghĩa vô tính.[130] Do đó, bằng mật ý, Phật nói hết thảp pháp đều không có tự tính,[131] không phải rằng hoàn toàn không có tự tính.

Từ “mật ý”[132] chỉ rõ rằng đó chưa phải là liễu nghĩa. Theo đó, tự thể của hai tự tính sau không phải không tồn tại, nhưng kẻ phàm ngu gán ghép một cách sai lầm cho rằng tự tính của ngã và pháp thật sự tồn tại.[133] Điều này được gọi là biến kế sở chấp. Để loại trừ sự chấp trước này Phật Thế Tôn mới nói chung là vô tính cho cả tồn tại và không tồn tại.

Y nơi ba tính này mà lập ba vô tính kia như thế nào?

Y nơi tự tính thứ nhất là biến kế sở chấp mà lập tướng vô tính, do bởi thể tướng ấy tuyệt đối không tồn tại như hoa đốm hư không. [134] 

Thứ đến, y nơi y tha mà lập sinh vô tính. Nó giống như trò ảo thuật, gá vào các duyên mà phát sinh. Không tồn tại bởi tự nhiên tính như được nhận thức một cách lệch lạch, y theo đó giả thuyết là vô tính, chứ không phải hoàn toàn không tự tính.[135]

Y nơi tự tính sau cùng, viên thành thật, lập thắng nghĩa vô tính. Tức, theo nghĩa tuyệt đối, do bởi viễn ly tự tính ngã và pháp bị biến kế sở chấp mà giả thuyết là vô tính, chứ không phải hoàn toàn không có tự tính.[136] Như hư không bao la tuy phổ biến trong tất cả sắc nhưng nó được hiển thị như là tính thể không tồn tại của các sắc.[137]

Mặc dù, y tha khởi vì không phải là thắng nghĩa mà cũng có thể nói là thắng nghĩa vô tính,[138] song nó lẫn lộn với tính thứ hai[139], do đó ở đây Tụng không đề cập.

Tự tính ấy là thắng nghĩa của tất cả các pháp. Vì nó là chân lý tuyệt đối, thắng nghĩa đế, của tất cả các pháp.

Tuy nhiên, thắng nghĩa có bốn:[140]1. Thắng nghĩa thế gian, chi các khái niệm uẩn, xứ, giới, v.v. 2. Thắng nghĩa đạo lý, như bốn Thánh đế, khổ v.v. 3. Thắng nghĩa chứng đắc, tức chân như của hai Không. 4. Thắng nghĩa thắng nghĩa, chỉ pháp giới nhất chân (tức nhất thể tuyệt đối). Trong đó, thắng nghĩa (vô tính) là y lớp thắng nghĩa cuối cùng, vì đó là đối tượng (nghĩa) sở hành của đạo tối thắng. Để loại trừ ba lớp thắng nghĩa đầu nên nói như vậy: “Thắng nghĩa của các pháp cũng chính là chân như.”[141] Chân nghĩa là chân thật, nêu rõ là không phải hư vọng. Như là như thường, biểu thị không biến dịch.[142] Theo đó, sự chân thật này trong tất cả mọi giai đoạn nó thường hằng như là tự tính của nó, do đó nói là chân như.[143] Tức có nghĩa là trạm nhiên (một cách trong suốt) không hư vọng.

Từ “cũng”[144] chỉ rõ rằng nó còn có nhiều tên gọi nữa, như nói pháp giới, thật tế, v.v.,[145] được nói trong các Luận, tùy ý nghĩa mà giải thích chi tiết.

Tự tính đó chính là duy thức tính. Theo đó, tóm tắt mà nói, duy thức tính có hai: 1. hư vọng, chi biến kế sở chấp; 2. chân thật, tức viên thành thật tính. Vì để loại bỏ hư vọng mà nói là thật tính.

Nó là có hai nữa: 1. Thế tục, tức y tha khởi. 2. Thắng nghĩa, tức viên thánh thật. Vì để loại bỏ thế tục mà nói là thật tính.

Ba bài tụng tông quát nêu rõ điều mà trong các Khế kinh nói là vô tính, điều đó chưa phải là liễu nghĩa. Những bậc trí giả không nên y theo đó mà bác bỏ tông thể rằng tất cả các pháp đều không có tự tính.



[1] Triṃś. k. 20: yena yena vikalpena yad yad vastu vikalpyate| parikalpita evāsau svabhāvo na sa vidyate||20| |Sự vật được phân bố bằng sự phân bố đa dạng. Tự thể của những cái bị phân bố toàn diện ấy không tồn tại.

[2] Theo  Thuật ký.

[3] Châu biến kế độ周遍計度, định nghĩa y theo nội hàm của từ Hán, không hoàn toàn theo nguyên ngữ  Skt. parikalpita: cái được cấu trúc toàn diện. Cf. Tạp tập12 tr. 751b2: 諸愚夫於色等相。周遍計度起增益執; Samuccaya, Tatia p.12.27: parikalpitaḥ svabhāvao … yad bālā rūpādilakṣaṇasamāropataḥ parikalpayanti: tự tính bị phân bố cấu trúc, đó là sự gán ghép (samāropata, Hán: tăng ích chấp) yếu tính của sắc v.v.  mà những hạng ngu si phân bố thành cấu trúc (parikalpayati, Hán: châu biến kế độ). Sthiramati: ādhyātmabāhyavikalpyavastubhedena vikalpyānām ānantyaṃ pradarśayann āha/ Do sự đa dạng của sự vật được phân bố chi tiết bên trong và bên ngoài, mà hiển thị tính vô cùng tận của những cái được phân bố (cấu trúc).

[4] Hán: bĩ bĩ彼彼. Skt. yena yena, đại từ liên hệ, chỉ định danh từ vikalpena; tức là phương thức phân bố có đa dạng, chứ không chỉ cho số lượng của vật được phân bố (Hán: phân biệt, hay biến kế), như được giải thích trong Luận.

[5] Giải thích cụm từ: “thử biến kế sở chấp tự tính.” Skt. parikalpita evāsau svabhāvaḥ/

[6] Giải thích cụm từ “vô sở hữu”. Skt. na vidyate.

[7] Tức cụm từ đầu trong  Skt. yena yena vikalpena.

[8] Thứ như là chủ thể biến kế, chủ thể của sự cấu trúc phân bố thành thế giới đa dạng (vikalpana = parikalpana).

[9] Cụm từ thứ hai trong  Skt.: yad yad vastu vikalpyate. Sthiramati: yad vastu vikalpaviṣaya yasmāt sattābhāvān na vidyate: sự vật nào là đối tượng của sự phân bố cấu trúc, sự vật ấy không tồn tại, vì nó không có thực.

[10] Thuật ký: chi tiết được nêu rõ trong quyển 7 bản Hán. Giải thích này không đúng, xét theo cú pháp trong bản Skt. Bài tụng Skt. gồm hai mệnh đề. Vế đầu của bài tụng, tức 2 câu đầu Hán dịch, là mềnh đề liên hệ với các từ liên hệ yena yena (Hán: bĩ bĩ) liên hệ với từ asau trong về sau của bài tụng là mênh đề chính. Quan hệ nhân quả được nói trong cú pháp của hai mẹnh đề này, chứ không phải trong quyể 7 Hán dịch như Khuy Cơ chỉ điểm. Sthirmati: parikalpita evāsau svabhāva hy atra kāraṇam, cụm từ “tự tính bị phân bố này”, chủ ngữ của mệnh đề chính, là nhân, thuyết minh ý nghĩa của cụm từ vị ngữ na vidyate “(nó) không được tìm thấy (không tồn tại).”

[11] Thuật ký: quan điểm của An Huệ.

[12] Xem chương V, giải thích tụng 17.

[13] Giải thâm mật 1 tr. 692b13, Du-già 76 tr. 719a9: Thức thứ tám chấp thọ tập khí của danh, tướng, phân biệt danh ngôn hý luận. Du-già 51 tr. 580a5, Hiển dương  17 tr. 566a2: Thức thứ tám nhận thức tập khí bị nhận thức sai lầm như là tự tính của những cái bị bị kế sở chấp.

[14] Thuật ký: giải thích của Hộ Pháp, với 10 lý do.

[15] Phật địa luận 7, tr. 323c5: “Nhiếp luận nói (xem cht. 403 dưới) tâm năng biến kế duy chỉ ở tại ý thức, do đó biết rằng năm thức không duyên đến tự tính biến kế sở chấp.”

[16] Nhiếp luận (Vô Tính) 4, tr. 403c2, c15: Trong đây, cái gì là năng biến kế? Cái gì là sở biến kế? Cái gì là tự tính biến kế sở chấp? Nên biết, ý thức là năng biến kế, vì nó có phân biệt. Ý thức dùng danh ngôn huân tập của nó và của tất cả các thức làm chủng tử; do đó ý thức hoạt động phân biệt với vô biên hình thái. Vì nó phân bố (kế độ) khắp tất cả mọi nơi nên được nói là biến kế.

[17] Nhiếp luận chỉ nói ý thức là biến kế. Ở đây biện minh ý thức được nói đó bao gồm cả thức thứ bảy.

[18] Loại bỏ năm thức và thứ tám. Hán: kế độ phân biệt. Thuật ký: kế độ tức hiển thị. Câu-xá 1 tr. 8b:2. có 3 phạm trù phân biệt: tự tính phân biệt (svabhāva-vikalpa: phân bố cấu trúc do bản chất), kế độ phân biệt (abhinirūpaṇa-vikalpa: phân bố cấu trúc bằng sự thẩm tra và định dạng), tùy niệm phân biệt (anusmaraṇa-vikalpa: phân bố cấu trúc do hồi tưởng). Câu-xá ibid.: năm thức không phải là cái phân biệt (vikalpa), vì chúng không có khả năng thẩm sát (nirūpaṇa: kế độ phân biệt), cũng không có hồi ức (anusmaraṇa: tùy niệm). Duy thức kể thêm thức thứ tám. Do đó, năm thức và thứ tám không phải là năng phân biệt.

[19] Bác bỏ năm thức và thứ tám là năng biến kế; chúng không thường xuyên tương ưng với huệ (tâm sở biệt cảnh). Câu-xá ibid.: bản chất của phân biệt (kế độ) là huệ (prajñā).

[20] An Huệ: thứ tám không có huệ thô, nhưng có huệ vi tế. Liễu nghĩa đăng 6 tr. 785c22: Giả thiết có huệ vi tế; nếu thứ tám có chấp ngã, vậy nó có vô minh bất cộng hằng hiện hành? Vì phải do vô minh mới có chấp ngã. Thức bảy chấp ngã, do hằng hành bất cộng vô minh.

[21] Hộ  Pháp: loại bỏ các tâm và tâm sơt tương ưng có tính thiện và vô ký vô phú, vì chúng không tương ưng với vô minh. Du-già nói, vô minh là bất thiện và vô ký hữu phú. Cf. Phật địa luận 7 tr. 323b11: “Có giải thích nói rằng (chấp pháp và vô minh) chỉ có mặt trong các tâm phẩm hữu lậu, bất thiện và vô ký. Du-già sư địa nói, chỉ có hai loại vô minh: bất thiện và vô ký. Hoặc hai loại: nhiễm ô và không nhiễm ô. Không nói là có tính thiện.”

[22] Nghĩa diễn 11 tr. 807b11: An Huệ nói tất cả tâm hữu lậu với ba tính đều là bất thiện; nhưng tâm hữu lậu mà được nói la thiện vì hành tướng bất thiện quá nhẹ, vi tế.

[23] Không trí, bao gồm nhân không và pháp không. Quan điểm vô lậu tâm vẫn có chấp ngã và pháp. Thuật ký: tâm hữu lậu tất có pháp chấp. Gia hành trí có pháp chấp làm sao dẫn đạo Không trí hiện tiền? Liễu nghĩa đăng tr. 786a4: An Huệ có cho rằng tâm vô lậu có biến kế hay không? Chuẩn theo văn ở đây chỉ nói đến tám thức hữu lậu. Nếu theo Phật địa luận 7, biến kế có mặt trong tâm vô lậu của Nhị thừa. Nếu theo An Huệ, trong Nhị thập duy thức luận thích, vô lậu trong Bồ tát địa thứ mười vẫn có biến kế. Cf. Phật địa luận 7, tr. 323b9: “Có giải thích nói rằng pháp chấp và vô minh có mặt khắp trong tất cả thiện, ác, vô ký; trong tâm phẩm hữu lậu, trong tâm phẩm vô lậu của Nhị thừa. Vì không thấu triệt pháp vô ngã.”

[24] Đạt vô, Thuật ký:  Tâm gia hành tùy thuận Thánh giáo khởi quán không về ngã pháp, gọi là “đạt vô”.

[25] Thuật ký: Tâm chấp pháp, tất có thế lực đủ để là năng huân. Thứ tám, dị thục thức  không phải là năng huân. Xem ch. II tiết II đoạn iv. các điều kiện huân tập.

[26] Nghĩa diễn 11, tr. 807c17: Trong gia hành vị, khởi hai không quán về sinh và pháp vẫn còn mang ấn tượng về không tướng, chưa chứng thật lý, nên gọi là giả tướng

[27] Giải thích ý nghĩa “hư vọng phân biệt” trong các kinh luận: Lăng-già (Đường) 1, tr. 593b22: “Khi tập khí của hư vọng phân biệt của  a-lại-da thức diệt…” Laṅkā N. 38: yaduta ālayavijñānasya abhūtaparikalpa-vāsanāvaicitryanirodhaḥ…Kinh không nhất thiết khẳng định thứ tám là năng phân biệt. Biện trung biên thượng tr. 464b16. Hiển dương 16, tr. 558b10, Biện trung biên,.tr. 464b16, c18; Madhyānta, k. i. 9: abhūtaparikalpas tu cittacaittās tridhātukāḥ, sự cấu trúcbất thực ấy là tâm và tâm sở hệ thuộc tam giới; Huyền Trang:三界心心所 是虛妄分別.

[28] Biện trung biên, ibid.: hư vọng phân biệt hữu; Madhyānta k. i. 2: abhūtaparikalpo’sti, cái tồn tại là cái phân bố cấu trúc một cách không hiện thực. Hư vọng phân biệt (abhūtaparikalpa) ở đây là khách thể bị nhận thức, sở thủ (grāhya) và chủ thể nhận thức, năng thủ (grāhaka).

[29] Thuật k ý: trí vô lậu hậu đắc của tất cả Bồ tát và Nhị thừa đều tương ưng hai thủ. Nghĩa diễn 11 tr. 806b2: trí hậu đắc vô lậu hoạt động với kiến và tướng phần, nên có chấp.

[30] Nghĩa diến 11 tr. 806a: theo An Huệ, trí hậu đắc của Phật cũng hoạt động với hai thủ.

[31] Tức chỉ trí đại viên kính của Phật, hóa hiện bản thân và quốc độ, cùng thiên long bát bộ Thanh văn, đạo tràng trang nhiêm các thứ. Trí này được gọi là hậu đắc trí. Bình đằng tính trí hóa hiện thân và độ với 10 tính bình gẳng cũng là hậu đắc trí. Thành sở tác trí cũng hóa hifnj thiện độ đó là căn bản trí chứ không phải hậu đắc trí. Diệu quán sát trí cũng là hậu đắc trí. Bốn trí này hoạt động cũng với hai phần. Phật địa luận 3, tr. 302a12.

[32] Thuật ký: nếu Như Lai không có kiến phần, tức không có hoạt động như là duyên đến đối tượng..

[33] Du-già 51 tr. 580a5: a-lại-da lấy tập khí của biến kế sở chấp tự tính làm đối tượng để duyên đến. Xem cht. 13 trên.

[34] Các phân loại biến kế (parikalpa): (1).  Hai loại biến kế, Nhiếp luận (Thế Thân) 4, tr. 341c29; (Vô Tính) 4, tr. 494b13: tự tính biến kế  chấp (svabhāvaparikalpa), như nói, đây là mắt, và mắt tồn tại như một thực thể; sai biệt biến kế chấp (viśeṣaparikalpa) nơi con mắt, có quan niệm về vô thường vv. Du-già 73 tr. 703c5: không sai biệt và có sai biệt; ibid. tr. 704a7: gia hành chấp, thi thiết chấp; Du-già 74 tr. 705b12: tùy giác biến kế, quán tập tập khí tùy miên. Hiển dưong 16, tr. 558a17: biến kế bởi văn tự, bởi phi văn tự. (2). Ba loại biến kế: Câu-xá 2 tr. 8b2; Tạp tập 2 tr. 703a15: tự tính phân biệt (svabhāva), tùy niệm phân biệt (anusmaraṇa), kế độ phân biệt (abhinirūpaṇa). (3). Bốn loại biến kế, Nhiếp luận (Thế Thân) 4 tr. 342a5: tự tính biến kế (svabhāva), sai biệt biến kế (viśeṣa), hữu giác biến kế (niṣṇāta) thiện xảo danh ngôn, vô giác biến kế (aniṣṇāta) không thiện xảo danh ngôn. Du-già 73 tr. 703b16: biến kế tự tướng, biến kế sai biệt tướng, biến kế năng thủ tướng, biến kế sở thủ tướng. (4). Năm loại, Nhiếp luận (Vô Tính) 4, tr. 404b29. Hiển dương 16 tr. 558a23, Du-già 73 tr. 703c19: y danh biến kế nghĩa, y nghĩa biến kế danh, y danh danh biến kế danh, y nghĩa biến kế nghĩa, y cả hai biến kế cả hai; Du-già ibid.: tham ái gia hành, sân nhuế gia hành,  hiệp hội gia hành, biệt ly gia hành, xả tùy dữ gia hành. (5) Sáu loại, Hiển dương 16 tr. 558a19: tự tính, sai biệt, giác ngộ, tùy miên. gia hành, danh biến kế. (6) Bảy loại, Du-già 1 tr. 280c2. bảy phân biệt:  hứu tướng phân biệt, vô tướng phân biệt, nhiệm vận phân biệt, tầm cầu phân biệt, tư sát phân biệt, nhiễm ô phân biệt, bất nhiễm ô phân biệt. (7) Tám loại, Hiển dương 16 tr. 558b14, tám phân biệt (sinh ba sự: phân biệt hý luận sở y duyên sự, kiến ngã mạn sự, tham ái đẳng sự): tự tính phân biệt, sai biệt phân biệt, tổng chấp phân biệt, ngã phân biệt, ngã sở phân biệt, ái phân biệt, bất ái phân biệt, aia bất ái câu tướng phân biệt. (8) Chín loại, Thuật ký: theo lý, đay là biến kế theo chín phẩm phiền não, chấp theo chín địa. (9) Mười loại, Nhiếp luận (Thế Thân) 4 tr. 342a28, (Vô Tính) 4 tr. 404c11: căn bản phân biệt (mūlavikalpa), duyên tướng phân biệt (nimittavikalpa), hiển tướng phân biệt (nimittābhāsavikalpa), duyên tướng biến dị phân biệt (nimittapariṇāmavikalpa), hiển tướng biến dị phân biệt (nimittābhāsapariṇāmavikalpa), y tha dẫn phân biệt (parānvayavikalpa), bất như lý phân biệt (ayoniśovikalpa), như lý phân biệt (yoniśovikalpa),  chấp trước phân biệt (abhiniveśavikalpa), tán động phân biệt (vikṣepavikalpa). Thuật ký dẫn đến con số 28, và cuối cùng là 62 kiến được gọi là 62 loại biến kế.

[35] Nhiếp luận 2 tr. 139b16, (Thế Thân) 4, tr. 341b, (Vô Tính) 4 tr. 403c.

[36] Hán: triển chuyển. Nhiếp luận, ibid., Viên thành thật (pariniṣpanna) là ở nơi y tha mà không hiện khởi ảnh tượng hư vọng. Vì thế, khi y tha bị biến kế, thì gián tiếp viên thành thật cũng bị biến kế.

[37] Tức không phải đối tượng trực tiếp, mà qua trung gian bắc cầu.

[38] Thuật ký: thuyết của An Huệ. Nghĩa diễn 11, tr. 813c7, quan điểm của Án Huệ, tự chứng phần có thực thể; kiến và tướng phần vốn vô thể.

[39] Madhyānta i. 6, Thế Thân: arthaḥ parikalpitaḥ svabhāvaḥ, abhūtaparikalpaḥ paratantraḥ svabhāvaḥ, đối tượng của nhận thức, đó là hữu thể được phân bố cấu trúc. Cái (tác viên) phân bố cấu trúc mà không hiện thực, đó là hữu thể tương y. Sthiramati giải thích: grāhyaṃ grāhakaṃ ca svabhāvaśūnyatvād abhūtam api astitvena parikalpyata iti parikalpita ucyate,  khách thể (sở thủ) và chủ thể nhận thức (năng thủ) tuy không thực hữu vì tự tính của chúng là không nhưng chúng vẫn được phân bố cấu trúc như là đang tồn tại, vì vậy cái đó được gọi là cái bị biến kế. ibid. k. i. 9ab: abhūtaparikalpaś ca cittacaittās trsidhātukāḥ, cái (tác viên) phân bố cấu trúc mà không hiện thực ấy chính là tâm và các tâm sở hệ thuộc ba giới. Huyền Trang: 三界心心所 是虛妄分別. Hiển dương 16, tr. 558b13: thể tính của sự phân biệt, nên biết, là tâm, tâm sở hệ thuộc ba giới分別體應知 二界心心法.

[40] Quan điểm của Hộ Pháp.

[41] Nhiếp luận (Thế Thân) 4, tr. 339b; (Vô Tính) 4 tr. 401c: 唯識二種種 觀者意能入: hành giả nỗ lực thâm nhập tính chất duy chỉ là thức (tanmātratva), tính nhị nguyên (dvayatva) và tính đa thù (nānātva). Thế Thân: tanmātra: duy lượng, duy chỉ là cái đó, tức duy chỉ là thức, vì đối tượng của thức không tồn tại. dvayatva: tính nhị nguyên, vì một thức xuất hiện như là hai phần, chủ thể (kiến phần) và khách thể (tướng phần). nānātva: tính đa thù, mỗi phần biến thái thành nhiều hình thái ảnh tượng khác nhau.

[42] Năm pháp trong Lăng-già trừ chân như: Laṅkā, N. 224: nāma danh, nimittaṃ tướng, vikalpaḥ phân biệt, samyagjñānaṃ chính trí, tathatā chân như.

[43] Mười một thức, Nhiếp luận (bản) 2 tr. 138a1, (Thế Thân) 4 tr. 338b14, (Vô Tính) 4 tr. 399a1: Thế nào là y tha khởi tướng (paratantralakṣaṇa)? Đó là các thức được kể là những tác viên phân biệt hư vọng lấy a-lại-da thức làm chủng tử. Đó là những gì? Đó là, 1. thân thức (dehaviuñapti), 2. thân giả thức (dehivijñapti), 3. thọ giả thức (bhotṛviuñapti), 4. bĩ sở thọ thức (tadupabhukta-vijñapti), 5. bĩ năng thọ thức (tadupabhoktṛ-vijñapti), 6. thế thức (kāla-vijñapti), 7. số thức (saṃkhyā-vijñapti), 8. xứ thức (deśa-vijñapti), 9. ngôn thuyết thức (vyavahāra-vijñapti), 10. tự tha sai biệt thức (svaparaviśeṣa-vijñapti), 11. thiện thú ác thú tử sinh thức (sugatidurgati-cyutyupapatti-vijñapti).

[44] Du-già 72 tr. 696a1, Hiển dương 16, tr. 557b27: năm sự  (năm pháp, pañcadharma, như Lăng-già).

[45] Hai phần trong hoạt động của trí hậu đắc nơi Phật.

[46] Thuật ký: thừa nhận rằng hai phần, kiến và tướng vô lậu, cũng như trong Nhị thừa, vẫn có biến kế chấp. Bác bỏ An Huệ, theo đó, vô lậu trong Bồ tát địa thứ mười vẫn có biến kế chấp; xem cht. 23.

[47] Duyên tướng phần của chính nó làm đối tượng.

[48] Lập luận phản đề: tâm hữu lậu có hai phần, hẵn sẽ như vô lậu, không có biến kế chấp.

[49] An Huệ không thừa nhận tính thực hữu của hai phần.

[50] Vì không thữ hữu thì không thể huân tập. Nghĩa diễn 11, tr. 813a: Hộ Pháp đem quan điểm riêng của mình áp đặt cho An Huệ. Theo An Huệ, sự huân tập thành chủng tử không nhất thiết phải có thực thể.

[51] Kiến phần của thức thuộc sát-na sau lấy tướng phần của thức sát-na trước làm đối tượng. Xem Ch.v, tiết 3, đoạn 3 cht. 221.

[52] Không có hiện hành của hai phần vì không có chủng tử.

[53] Thuật ký: các tập khí hữu lậu đều là tướng phần của thức.

[54] An Huệ: tướng và kiến phần đều là biến kế sở chấp, không có thực thể; chúng là biến thái của tự thể thức.

[55] Nhân, tức chủng tử. An Huệ: cả hai phần và thức thể đều có chung một chủng tử.

[56] Triṃś. k. 21ab: paratantrasvabhāvas tu vikalpaḥ pratyayodbhavaḥ| tính thể tự hữu của y tha, đó là sự  (tác viên) phân bố cấu trúc (Hán: phân biệt) được thực hiện thông qua các điều kiện. Madhyānta, i. 6, Sthiramati giải thích: parair hetupratyayais tantrayate janyate na tu svayam bhavatīti paratantraḥ, cái được sản sinh  bởi và tùy thuộc theo các nhân và duyên khác với chính nó, chứ không tồn tại bởi tự thân, cái đó là y tha.

[57] Nhiếp luận bản. tr. 138a15: viên thành thật, đó là sự tuyết đối không tồn tại của đối tượng như là ảnh tượng tương tợ nơi y tha khởi.

[58] Duyên lự, Skt. √ālabh: bám vào, vin vào; hoặc ālambanī-kṛ: hoạt động bằng cách vin vào, bám vào các khác; thức hoật động theo ý hướng tính. Định nghĩa y tha khởi, Nhiếp luận, xem cht. 43 trên.

[59] Tṛṃś k. 21cd: niṣpannas tasya pūrveṇa sadā rahitatā tu yā ||21|| cái được hoàn chỉnh, viên thành thật, là cái mà tình thể của nó loại bỏ sự phân bố cấu trúc nơi mối quan hệ tương y. Madhyānta, k.i. 6, Thế Thân: grāhyagrāhakābhāvaḥ pariniṣpannaḥ svabhāvaḥ, cái mà nơi đó không tồn tại khách thể (sở thủ) và chủ thể (năng thủ), đó là tự tính viên thành thật. Sthiramati: nirvikārapariniśpattyā’ viparītapariniśpattyā ca pariniṣpannatvāt parinṣpanna ucyate/ Do bởi tính hoàn chỉnh, với sự hoàn chỉnh không biến dạng, và sự hoàn chỉnh không đảo lộn, nó được gọi là cái hoàn chỉnh, viên thành thật.

[60] Nói đến chân như, chứ không đề cập phần tịnh.

[61] Hán: ư bĩ, trong tụng văn. Skt. tasya, đại từ , sở hữu cách, làm chủ ngữ cho từ rahitatā (sự loại trừ, viễn ly). Theo ngữ pháp, nguyên Skt. tasya, biến cách thứ sáu (ṣaṣṭhī, sở hữu cách), quan hệ với rahitatā, Huyền Trang dịch thành cách thứ bảy (saptamī, sở y cách), theo ngữ pháp Pāṇini 2.3.39, áp dụng: gavāṃ svāmī (chủ nhân của/sở hữu những con bò) = goṣu svamī (chủ nhân nơi/ sở y những con bò), trong quan hệ chủ-nô (svasvāmi-sambandha), mà ở đây là quan hệ bất khả phân. Cf. Sthiramati: tasyeti paratantrasya, đại từ tasya (của cái đó) thay thế từ paratantrassya (của y tha). Xem cht. 59.

[62] Hán: thường viễn ly. Skr. sadā rahitatā. Sthiramati: sadā sarvakālaṃ atyantarahitatā, sự vắng mặt một cách tuyệt đối, vĩnh viễn, trong tất cả mọi thời.

[63] Hán: tiền. Skt. pūrveṇa; Sthiramati: pūrveṇeti parikalpitena, sự kiện trước, chỉ cho cái được phân bố cấu trúc (biến kế sở chấp, được nói trước đó).

[64] Đuôi – trong từ Skt. rahitatā, lập thành danh từ trừu tượng cho phân từ thụ động rahita (bị tách rời) để chỉ bản thể của tồn tại.

[65] Giải thích vế đầu và nửa vế sau tụng 22. Skt. ata eva sa naivānyo nānyaḥ paratantrrātaḥ/ anityātādivad vācyo//22abc/ Sthiramati giải thích: rahitatā ca dharmatā dharmān nānyā nānanyā yujyate/ pariniṣpannaś ca paratantradharrmatety ataḥ paratantrāt pariniṣpanno nānyo nānanya iti boddhavyaḥ/ Tính vắng bặt (viễn ly) là pháp tính (của cái bị thoát ly). Không thể nói pháp tinh là khác biệt hay không khác biệt đối với pháp. Viên thành thật là pháp tính của y tha. Do vậy, nên biết rằng viên thành thật không phải khác biệt, cũng không phải không khác biệt, đối với y tha.

[66] Sthiramati: yadi hi pariniṣpannaḥ paratantrād anyaḥ syād evaṃ na parikalpitena paratantraḥ śūnya syāt/ athānanya evam api pariniṣpanno na viśuddhālambanaḥ syāt paratantravāt saṃkleśātmakatvāt/ Nếu, thật vậy, viên thành thật khác biệt với y tha, ắt hẵn y tha không phải là không đối với cái bị phân bố cấu trúc.Vã lại, nếu không khác biệt, thế thì viên thành thật không phải là sở duyên tịnh, vì cũng như y tha tự thể của nó là ô nhiễm.

[67] Y tha là phần nhiễm, viên thành thật là phần tịnh. Cả hai nêu không khác biệt, y tha có thể tịnh, viên thành có thể nhiễm.

[68] Giải thích nửa vế sau tụng 22. Skt. nādṛṣṭe’smin sa dṛśyate//22d/ Sthiramati: nirvikalpalokottara-jñānadṛśye pariniṣpanne svabhāve adṛṣṭe apratividdhe asākṣatkṛte tatpṛalabdhaśuddhalaukikajñāna-gamyatvāt paratantro’nyena jñānena na gṛhyate/ Khi mà tự tính viên thành thật, vốn được thấy bởi trí xuất thế vô phân biệt, không được hiện kiến, không được quyết trạch, không được thân chứng, thì khi ấy không có trí nào khác thấy được y tha, vốn là cái có thể được tiếp cận bởi trí thế gian thanh tịnh hậu đắc.

[69] Thuật ký: theo đây, không thể nói y tha là cảnh giới của phàm trí.

[70] Có 8 sự kiện bất thực được nêu ở đoạn sau.

[71] Quan điêm của Hộ Pháp: tướng và kiến phần thuộc y tha khởi.

[72] Sthiramati, dẫn kinh Nhập vô phan biệt đà-la-ni (Nirvikalpapraveśāyāṃ dhāraṇyām): tatpṛṣṭalabdhena jñānena māya-marīci-svapna-pratiśrutkaudakacandra-nirmitasamān sarvadharmān pratyetīti/ Bằng trí hậu đắc mà nhận các pháp như là trò huyễn thuật, ảo tượng, chiêm bao, tiếng dội, trăng dưới nước, vật hóa hiện.

[73] Thuật ký: bài tụng dẫn từ kinh Hậu nghiêm tức Đại thừa Mật nghiêm kinh, nhưng chưa tìm thấy nguyên văn chính xác.

[74] Thuật ký: tâm và tâm sở chỉ tự chứng phần. Những cái được biến hiện chỉ tướng và kiến phần.

[75] Sthiramati: pariniṣpannaś cākāśavad ekarasaḥ jñānaṃ ca yathoktaṃ nirvikalpena jñānenākāśa-samatāyāṃ sarvadharmān paśyatīti/ viên thanh thật là trí thuần nhất vị như hư không; như nói, bằng trí vô phân biệt mà quán chiếu các pháp trong tính bình đẳng như hư không.

[76] Thuật ký: tâm hữu lậu, và những biến thái của nó,  như hư không v.v.

[77] Thuật ký: tâm vô lậu và những biến thái của nó, như hư không v.v.

[78] Giải thâm mật 3, tr. 699c19, bảy chân như: 1. Lưu chuyển chân như (pravṛtti-tathatā), thật tính không có trước sau của hết thảy các hành. 2. Thật tướng chân như (lakṣaṇa-tathatā), thật tính bổ-đặc-già-la vô ngã và pháp vô ngã của hết thảy các pháp. 3. Liễu biệt chân như (vijñapti-tathatā), thật tính duy chỉ là thức của tất cả các hành. 4. An lập chân như (saṃniveśa-tathatā), Thánh đế về các khổ mà Phật nói. 5. Tà hành chân như (mithyāprratipatti-tathatā), Thánh đế về các tập khởi. 6. Thanh tịnh chân như (viśuddhi-tathatā), diệt Thánh đế. 7. Chính hành chân như  (samyakpratipatti-tathatā), đạo Thánh đế. Cf. Phật địa luận 7, tr. 323a12; Du-già 77, tr. 725c18; Hiển dương 3, tr. 493b10.

[79] Sáu phạm trù phân loại các pháp của Duy thức: 5 uẩn hữu vi, và 1 vô vi. Du-già 3, tr. 293c20, pháp giới phân loại thành sáu phạm trù: thọ, tưởng, hành tương ưng, hành không tương ưng, sắc, vô vi.

[80] Lăng-già, xem cht. 42.

[81] Du-già 74, tr.704c23; Hiển dương 6, tr. 508c8; ibid. 16 tr. 557b27.

[82] Du-già 72 tr. 696a1, Hiển dương 6, tr. 507a17: tướng (nimitta), nếu nói vắn tắt, là y xứ của tất cả mọi ngôn thuyết (abhilāpa). Danh (nāma), từ mô tả (Hán: tăng ngữ, adhivacana) y cứ nơi các tướng. Phân biệt (vikalpa), là tâm và tâm sở hệ thuộc ba giới. Chân như (tathatā), sở hành của Thánh trí (āryajñānagocara) được hiển thị bởi pháp vô ngã, không phải là y xứ của tất cả ngôn thuyết. Chính trí (samyagjñāna), tóm tắt có hai: thế gian và xuất thế gian.

[83] Biện trung biên trung tr. 469c29.

[84] Lăng-già (Đường) 5, tr. 620b27, ba tính: vọng kế tính, duyên khởi tính và viên thành tính; bản Ngụy 7, tr. 577c25, văn không rõ. Lṅkā, N.227.

[85] Nghĩa, ở đây nên hiểu là vật thể (artha) mà danh (nāma) trỏ vào. Thế Thân, Nhiếp luận 5, tr. 343a5: Nếu không có quan hệ với danh (nāma), sẽ không có giác tri (bodhi) về vật thể (artha, Hán: nghĩa) như cái ghè (ghaṭa) chẳng hạn. Bỏ ra ngoài danh ghè (bình danh, ghaṭanāma), sẽ không không có sự giác tri về vật thể ghè (Hán: bình nghĩ, ghaṭārtha).

[86] Thuật ký hiểu nghĩa ở đây là ý nghĩa, nên diễn giải thêm:  đây chỉ có cái nghĩa bị chấp trước chứ không có cái danh tùy y tha, nêu rõ rằng viên thành thật lìa danh lìa nghĩa.

[87] Du-già 81, tr. 751a21, năm tướng: a. Tướng sở thuyên, đồng với tướng trong năm pháp. b. Tướng năng thuyê, tức danh y chỉ trên tướng ấy; nó thuộc biến kế sở chấp. c. Tướng tương ưng của hai tướng trên, sự hỗ tương liên hệ giữa sở thuyên và năng thuyên. Nó là sở y chỉ của biến kế sở chấp. d. Tướng chấp trước, biến kế sở chấp và tùy miên của nó trong dòng lưu chuyển tương tục từ vô thủy của phàm ngu. c. Tướng không chấp trước, do dã thấy Thánh đế mà như thật thấu rõ biến kế sở chấp và giải thoát khỏi tập khí của nó.

[88] Thuật ký: liên hệ năm sự, toàn phần phân biệt, một phần danh và tướng, là sở thuyên. Một phần khác của tướng và danh là năng thuyên.

[89] Toàn phần chân như, một phần chính trí, là sở thuyên

[90] Hiển dương 16, tr. 559b25: tướng đầu và thứ hai, y trên cả ba tự tính. Tướng thứ ba, y biến biến kế sở chấp. Tướng thứ tư, y chỉ y tha khởi. Tướng thứ năm, y chỉ viên thành thật.

[91] Du-già 36, tr. 486b9, Hiển dương 6, tr. 507b9, Biện trung biên 2, tr. 469b12, bốn chân thật nghĩa (tattvārtha): a. thế gian cực thành chân thật (lokaprasiddha), sự thật được nhận thức theo tập quán và quy ước của thế gian; b. đạo lý cực thành chân thật (yuktiprasiddha), sự thật được nhận thứ theo lý tính; c. phiền não chướng tịnh trí sở hành chân thật (kleśāvaraṇaviśuddhijñānagocara), sự thật được nhận thức bởi trí thanh tịnh của Thanh văn và Độc giác, dã diệt trừ phiền não chướng; d. sở tri chướng tịnh trí sở hành chân thật (jñeyāvaraṇa-viśuddhijñānagocara), sự thật được nhận thức bởi trí thanh tịnh không còn sở tri chướng.

[92] Bao hàm tướng, danh và phân biệt trong năm sự.

[93] Bao hàm chính trí và chân như trong năm sự.

[94] Biện trung biên, ibid.: những sự kiện mà cả cộng đồng thế gian thừa nhận, tán thưởng. Madhyānta, k. v.12a: lokaprasiddham ekasmāt/

[95] Madhyānta k.v.12b:  trayād yuktiprasiddham/ đạo lý cực thành từ cả ba tính. Sự thật được thừa nhận căn cứ trên ba nguồn nhận thức: hiện lượng (pratyakṣa), tỷ lượng (anumāna) và Thánh giáo lượng (āgama)

[96] Madhyānta k. v. 12cd: viśuddhgocaraṃ dvedhā ekasmād eva kīrtitam/

[97] Bốn đặc tính trong khổ đế: vô thường, khổ, không, vô ngã. Hiển dương 14, tr. 547c29: biến tri khổ do vô thường, khổ không, vô ngã. Tạp tập 6, tr. 720a3: quán sát khổ Thánh đế bắng bốn hành tướng. Biện trung biên 2 tr. 469a12; Madhyānta, k. v. 5 aviparyāsatattvam, chân thật vô đảo.

[98] Biện trung biên ibid. Madhyānata k. v. 5cd, ba vô thường: asadartha, vô thường vì bất thực (Hán: vô tính); utpādavyayārtha, vì xuất hiện rồi biến mất (Hán: khởi tận); samalāmalārtha, có cấu nhiêm và không cấu nhiễm (Hán: cấu tịnh). Sthiramati giải thích: thứ nhất thuộc biến kế (parikalpitasvabhāva), thứ hai thuộc y tha khởi (paratantra), thứ ba thuộc viên thành thật (pariniṣpanna) vì cấu hay tịnh chỉ là những đặc tịnh tạm thời như khách trần (samalāmalārthalakṣaṇeāgantukena). Hiển dương 14, tr. 548a13, sáu vô thường: vô tính, thất hoại, chuyển dị, biệt ly, đắc, đương hữu. Hoặc quan sát từ tám phương diện: sát-na, tương tục, bịnh, già, chết, tâm, khí cụ, thọ dụng.

[99] Biện trung biên, ibid.; Madhyānta, k. v. 6cd: duḥkham ādānalakṣmākhyaṃ sambandhenāparaṃ matam/ Sthiramati: 1. khổ do thủ (ādāna= upādāna) vì bám chặt lấy ngã và pháp (pudgaladharmābhiniveśa), thuộc biến kế sở chấp. 2. Khổ do dấu hiệu (lakṣman = lakṣaṇa) , thuộc y tha khởi; tức do ba khổ tính: khổ khổ tính (duḥkhaduḥkhatā), hoại khổ tính (vipariṇāmaduḥkhatā), hành khổ tính (saṃskāraduḥkhatā). 3. Khổ do liên kết hay kết hợp (sambandha). Pháp viên thành thật do kết hợp bởi khổ được nói là khổ (taddharmasya pariniṣpannasyāpi duḥkhasambandhād duḥkham ucyate).

[100] Madhyānta v. 7ab: abhāvaś cāpy atadbhāvaḥ prakṛtiḥ śūnyatā matā/ Sthiramati: 1. vô thể không, vì tự thân bất thực như sừng thỏ (śaśaviṣāṇādisvarūpavad), thuộc biến kế sở chấp; 2. bất như, tự phủ định, nó không như là nó, thuộc y tha khởi, không tồn tại do bởi vọng tưởng của những kẻ phàm ngu, chứ không phải hoàn toàn không tồn tại; 3.  không, do bản chất, do bản tính nguyên thủy, thuộc viên thành thật.

[101] Madhyānta v. 7cd-8a:  alakṣaṇañca nairātmyaṃ tadvilakṣaṇam eva ca// svalakṣaṇañca nirdiṣṭam/ 1. vô tướng, vì không có yếu tính (lakṣaṇābhāvāt), thuộc biến kế sở chấp; 2. phi tướng, yếu tình mà từ đó ngã được nhận thức không phải là yếu tính trung thực của chính tự ngã, mà chỉ là do gán ghép tưởng tương của phàm ngu (na tu tad yathā bālaiḥ parikaplyate dvayatvena/ tadvilakṣaṇam iti parikalpitalakṣaṇenā’ sadṛśam), thuộc y tha khởi; 3. yếu tính tự hữu, tức yếu tính tự thân không tồn tại tính nhị nguyên chủ-khách thể (grāhyagrāhakābhāvảūpatvāt), thuộc viên thành thật.

[102] Madhyānta, v.  8cd: vāsanātha samutthānam avisaṃyoga eva ca//

[103] Tên gọi ấy: chỉ danh từ tập, hay tập khới: samudaya. Khuy Cơ hiểu tên gọi chỉ cho biến kế sở chấp, vì tập khí tức chủng tử có thực, y tha tính, nhưng do chấp trước sai lầm thành biến kế. Giải thích này không chính xác. Sthiramati: do có sự bám chặt (abhiniveśam upādāya) trên hữu thể tự hữu bị phân bố cấu trúc mà các pháp hệ thuộc thế gian duy trì sự tồn tại của tập khí phiền não, chúng là tác viên phân biệt cấu trúc. Do đó, tự tính biến kế sở chấp được gọi là sự tập khởi do tập khí (vāsanāsamudaya).

[104] Thuật ký: đẳng khởi, bình đẳng mà khởi; thiếu chính xác. Skt. samutthāna, động lực thúc đấy cho một tự thể hay tự ngã thực sự xuất hiện (Sthiramati: samutthāna ātmalābhaḥ, đẳng khởi đắc tự thể).

[105] Sthiramati: cái mà do bởi đó tự ngã hay tự thể xuất hiện, cái đó là sự tập khởi do đẳng khởi hay động lực phát khởi; động lực đó là nghiệp và phiền não, thuộc tự tính y tha khởi.

[106] Sthiramati: do chân như chưa thoát ly khỏi những chướng ngại, mà có sự tập khởi của khổ, do đó nói là tập khởi do bởi sự chưa thoát ly hệ phược (avisaṃyoga).

[107] Madhyānta, v. 9ab: svabhāvadvyanotpattir malaśāntidvayaṃ matam//

[108] Sthiramati: tự tính bất sinh (svabhāvānutpatti), biến kế sở chấp. Do không có tự tính (niḥsvabhāvatvād), nó tuyệt không không hiện khởi, như con trai của thạch nữ (vandhyāputravat).

[109] Sthiramati: sự không hiện khởi của sở thủ và năng thủ (grāhyagrāhakayor anutpattiḥ), thuộc y tha. Do y tha hoàn toàn không mang hình thái sở thủ năng thủ, tự thể của hai sự mê lầm không hiện hkởi.

[110] Madhyānta: diệt do đình chỉ cáu bẩn, có hai (malaśāntidvayam). Sthiramati: cấu nhiễm (mala) là hai chướng, tham và vô minh (rāgāvidyāvaraṇa), là cái bị biến kế. Tịch tĩnh (śānti: đinh chỉ), tức trạch diệt vô vi (pratisaṃkhyānirodha). Bằng trí vô lậu mà chủng tử bị nhổ trốc khỏi sở y, khi ấy do bởi cấu nhiễm tham các thứ tuyệt đối không hiên khởi, tự thân trở thành tịch tĩnh. Thứ nữa, tịch tĩnh là chân như (śāntitathatā). Do trì bất nhị có sở hành cảnh giới là chân như (tathatāgocara), nên cấu nhiễm bởi biến kế sở chấp không hiên khởi, tự thể trở nên tịch tĩnh. Giải thích của Hộ Pháp trong Luận, bất đồng với  An Huệ trong giải thích  Madhyānta.

[111] Madhyānta, v. 9cc-10a:  parijñāyāṃ prahāṇe ca prāptisākṣātkṛtāv api// mārgasyaṃ samākhyātam/

[112] Biện trung biên, Thế Thân giải: biến kế sở chấp chu biến tri đạo. Y tha khởi có cả biến tri và vĩnh đoạn. Viên thành thật có biến tri và chứng đắc. Sthiramati giải: biến kế sở chấp là bất thực do đó không có vĩnh đoạn (na astaḥ praḥāṇaṃ yujyate). Biến tri (parijñā) có hai: trí biến tri (jñānaparijñā) và đoạn biến tri (prahāṇaparijñā). Trí biến tri cóa trong biến kế chấp và viên thành thật. Y tha có cả hai biến tri. Thân chứng (sākṣātkriyā) cũng có hai: trí thân chứng (jñānasākṣātkriyā) và đắc thân chứng (prāptasākśātkriyā). Trí thân chứng có trong ca ba tự tính. Đắc thân chứng chỉ có trong viên thành thật. Về hai biến tri, xem Câu-xá 21 tr. 112a19.

[113] Khổ đế có 4 hành tướng. Các đế còn lại, chỉ  đề cập một. Như vây, tất cả có 7. Trong 7 hành tướng, mỗi cái có 3 tính chất.

[114] Du-già 74 tr. 705a20, H iển dương 6 tr. 508b24: do tự thể biến kế sở chấp thiết lập không giải thoát môn; do tự thể y tha lập vô nguyện giải thoát môn; do tự thể viên thành thật lập vô tướng giải thoát môn.

[115] Du-già 74 tr. 705a14, Hiển dương 6 tr. 508b27:   do tự thể biến kế sở chấp mả nói bản lai vô sinh nhẫn; do tự thể y tha khởi mà nói tự nhiên vô sinh nhẫn; do tự thể viên thành thật mà nói phiền não khổ cấu vô sinh nhẫn. Ba loại nhẫn này thuộc địa bất thối chuyển.

[116] Hai đế: 1. thằng nghĩa đế (paramārtha-satya), cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế hay chân đế; chân lý thuộc phạm trù siêu nghiệm, tuyệt đối; tức chân lý tuyệt đối. 2. Thế tục đế (saṃvṛti-satya), chân lý theo quy ước hay tập quán; chân lý tương đối.

[117] Madhyānta, v. 10bc: prajñaptipratipattitaḥ/ tathodbhāvanayaudāram, Sthiramati: 1. prajñaptisaṃvṛti, giả thi thiết thế tục: sự quy định tên gọi như ghè (ghaṭa),  vải vóc (paṭa) hay sắc (rūpa) cho các đối tượng hay sự vật bất thực (asato’rthasya), và những loại danh ngôn (nāmābhilāpa) như sắc-thọ-tưởng v.v., là những sự thật được quy ước theo khái niệm hay tập quán (saṃvṛti = vyavahāra). Sự thật này thuộc tự tính biến kế. 2. pratipattisaṃvṛti, hành thế tục, sự thật quy ước theo sự lý giải: bằng sự cấu trúc phân biệt mà tùy theo trường hợp chấp chặt ngoại đại chủng hay nội đại chủng như là sắc, hay cái ghè các thứ, sự phân biệt ấy là sự thật quy ước theo sự lý giải. Thức chấp chặt lấy đối tượng mà trong khi đối tượng ấy không hiện thực 3. udbhāvanāsaṃvṛti, hiển thế tục: sự hiển thị (sandarśana) chân như, tính không, thuộc viên thành thật, siêu việt phân biêt danh ngôn, đó là quy ước theo sự hiển thị.

[118] Madhyānta, v. 10d-11ab: paramārthantu ekataḥ// arthaprāptiprapattyā hi paramārthastridhā mataḥ/ Thắng nghĩa có ba, va chỉ thuộc tự tính.

[119] Thế Thân, phân tích hợp từ (samāsa) theo y chủ (tatpuruṣa): paramārthaḥ = paramasya jñānasyārtha ity kṛtvā. Sthiramati giải thích: từ thắng hay đệ nhất ở đây chỉ cho trí xuất thế gian (paramo hi lokottaraṃ jñānam). Chân như là cảnh giới đối tượng của trí ấy  nên được gọi là thắng nghĩa hay đệ nhất nghĩa (tasyārtho viṣaya iti kṛtvā tathatā paramārtha ity ucyate).

[120] Thế Thân, phân tích hợp từ theo karmadhāra (hợp từ mô tả, trì nghiệp thích): paramo’rtha iti kṛtvā. Sthiramati giải thích: parama, vì nó là đỉnh tối thượng của các pháp hữu vi và vô vi (tatra saṃsakṛtā’ saṃskṛtadharmāgratvāt paramaḥ). artha, vì nó là mục tiêu của đạo ( mārgaprayojanatvād arthaḥ). Đạo là mục tiêu hướng đến chứng đắc niết-bàn. Artha ở đây như vậy đồng nghĩa với prāpti chứng đắc; parama tức chỉ cho niết-bàn.

[121] Hợp từ theo hữu tài thích (bahuvṛhī), Thế Thân: paramo’syārtha (mārgasya) ity kṛtvā, Thánh đạo mà đối tượng của nó là tối thắng. Sthiramati: artha ở đay là cảnh vực (viṣaya) hay mục tiêu (prayojna). Cành vực là chân như; mục tiêu là niết-bàn. Ngang qua một cảnh vực (viṣyadvāreṇa) không có hai tối thắng như trong một khu rừng không có hai sư tử  (siṃhavanavat).

[122] Thuật ký: không biến dị là hai nghĩa đầu; không điên đảo là nghĩa thứ ba.

[123] Du-già 74, tr. 705a24:  Tự tính biến kế sở chấp hoàn toàn không phải là sở hành của trí, vì không tồn tịa yếu tính. Y tha khởi sở hành cả cảe phàm và Thánh trí. Nhưng không phải là Thánh trí xuất thế gian. Viên thành duy chỉ sở hành của Thánh trí.

[124] Tập luận 2, tr. 667a16, Tạp tập 3, tr. 704c22; Samuccaya, Pradhan p. 16.2: sở hành, hay môi trường hoạt động, của căn (indriyagocara), mà không lệ thuộc danh ngôn hay những thứ khác, nó tồn tại có thực thể (drvyamat). Tại lại, là tồn tại theo khái niệm quy ước (prajñaptimat).

[125] Thuật ký: ba phạm trù giả. 1. Tụ tập giả, như lu hũ các thứ, nhiều pháp tụ tập mà thành. 2. Tương tục giả, do nhân quả tiếp nối liên tục trong nhiều giai đoạn thời gian, tức như năm uẩn sinh diệt liên tục từng sát na. 3. Phần vị giả, như các bất tương ưng hành, một pháp được nhận thức tồn tại trong một thời điểm nhất định.

[126] Hiển dương 16, tr. 558c27: Không nên tuyên bố các pháp duy chỉ là giả hữu. Vì pháp giả tất phái có nhân làm sở y. Không thể không có thật vật mà có thể quan niệm pháp giả.

[127] Triṃś: trividhasya svabhāvasya trividhāṃ niḥsvabhāvatāṃ/ saṃdhāya sarvadharmāṇāṃ deśitā niḥsvabhāvatā//23/ Do ám chỉ ba loại tính thể không tự hữu của ba tự thể mà Phật nói hết thảy các pháp đều không có tính thể tự hữu. Sthiramati; tính thể tự hữu (svabhāva) là cái đang hiện hữu với yếu tính cá biệt của nó,  với tự tướng của nó (svena svena lakṣaṇea bhavati), như cái được biết là đang hiện hữu (vidyamānavat).

[128] Triṃś: prathamo lakṣaṇenaiva niḥsvabhāvo’paraḥ punaḥ/ na svayaṃbhāva etasyety aparā niḥsvabhāvatā// 24// Thứ nhất, tính thể không tự hữu chính do bởi yếu tính. Một tính thể không tự hữu khác nữa, đó là, nó không hiện hữu tự nhiên bởi chính nó. Hai câu sau trong bản Hán (24cd) không tương đương trong bản Phạn. Sthiramati: 1. Thứ nhất, đó là tự thể bị cấu trúc phân biệt (parikalpitaḥ svabhāvaḥ). Tự thể ấy không tự hữu do chính bởi yếu tính (lakṣaṇenaiva niḥsvabhāvaḥ: tướng vô tính); vì yếu tính của nó chỉ là cái được tưởng tượng (tallakṣaṇasyotprekṣitatvāt). Sắc có yếu tính là sắc (rūpalakṣaṇaṃ rūpaṃ), thọ có yếu tính là sự cảm nghiệm (anubahalakṣaṇā vedanā). Như hoa đốm hư không, tính thể không tồn tại với bản sắc hay tự thể của chính nó (svarūpenaiva niḥsvabhāvaḥ). 2. Thứ đến là tự tính y tha. Cái đó không hiện hữu tự nhiên bởi chính nó, như trò ảo thuật, vì sự xuất hiện của nó lệ thuộc điều kiện ngoài bản thân (parapratyaya). Do đó, sự xuất hiện của nó là không có tính thể tự hữu (utpattiniḥsvabhāvatā: sinh vô tính tính).

[129] Triṃś: dharmāṇāṃ paramārthaś ca sa yatas tathatāpi saḥ/ sarvakālaṃ tathābhāvāt saiva vijñaptimātratā //25// Chân lý tuyệt đối của các pháp, đó là tính như như. Vì trong tất cả thời gian, nó tồn tại như là chính nó. Và chính nó cũng là duy thức tính. Sthiramati: parama (tối thắng, tuyệt đối) là trí xuất thế gian (lokottarajñānaṃ).; đối tượng (artha: nghĩa) của nó là paramārtha: thắng nghĩa, tuyệt đối thể. Như hư không tuyệt đối thuần nhất vị, khộng bị cấu nhiễm, không bị biến dạng, tự tính viên thành thật như vậy được nói là thắng nghĩa. Bởi vì tự tính viên thành thật là thắng nghĩa của bản thân y tha của tất cả các pháp, vì pháp tánh là như vậy, do đó chính tự tính viên thành thật là thắng nghĩa vô tính (parmārtha-niḥsvabhāvatā), vì không tồn tại tính thể tự hữu của cái viên thành thật.

[130] Hiển dương 16, tr. 557b9; Du-già 13 tr. 354c2; 76 tr. 719c12 dẫn Giải thâm mật 2 tr. 694a5.

[131] Giải thâm mật 2 tr. 694a5” “Này Thắng Nghĩa Sinh, nên biết, Ta y nơi ba tính không tự tính mà mật ý nói hết thảy pháp đều không có tự tính.”  Tập luận 6 tr. 687c29; Tạp tập 12 tr. 752a6, Samuccaya, Gokhale p. 35. 15,  Tatia p. 114.14: yad uktaṃ vaipulye - niḥsvabhāvāḥ sarvadharmā iti, tatra ko ’bhisaṃdhiḥ, trong kinh Phương quảng, Phật nói hết thảy pháp đều không có tự thể tự hữu, ẩn ý ở đây là gì?

[132] Từ “mật ý” trong tụng văn. Skt. saṃdhāya, một cách thỏa hiệp, hay ám chỉ.

[133] Samuccaya, ibid.: bālagrāhavac cālakṣaṇatām upādāya... bālagrrāhānurūpena svabhāvena virahitatvān niḥsvabhāvaḥ, ẩn ý, vì do bởi tính chất không yếu tính, tức là nó không tồn tại như là chính nó vì nó không tự hữu như điều mà kẻ phàm ngu nhận thức.

[134] Samuccaya, ibid.: parikalpite svabhāve lakṣaṇaniḥsvabhāvatām upādāya... tatra parikalpitasya svalakṣaṇam eva nāsty ataḥ svalakṣaṇanīhsvabhāvatayā niḥsvabhāvaḥ, Nói hết thảy pháp không tự tính, là do bởi không tồn tại yếu tính như là tính thể tự hữu ở nơi tự thể bị biến kế chấp. Ở đây thật sự không tồn tại yếu tính tự hữu của cái bị cấu trúc phân bố (biến kế sở chấp), do đó tính thể tự hữu không tồn tại vì không tồn tại đặc tính hay yếu tính đặc hữu  như là yếu tính của chính nó. Giải thâm mật, ibid.: tướng vô tự tính tính (svalakṣaṇaniḥsvabhāvatā: tự tướng, tức yếu tính của tự thể không tồn tại như là tính thể tự hữu, không tại như nó chính là nó), đó là tướng của biến kế sở chấp (parikalpitasya svalakṣaṇam: yếu tính tự thể của cái bị phân bố cấu trúc) của các pháp. Nó được quan niệm như là yếu tính do bởi quy ước của khái niệm (prajñapti: giả danh), chứ không phải do chính tự thể yếu tính của nó (svalakṣaṇa: tự tướng) là như vậy.

[135] Samuccaya ibid.: paratantre utpattiniḥsvabhāvatām upādāya ... paratantrasya svayam utpatiir nāsti  pratyayāpekṣaṇād ato nāsya svena bhāvena bhāva ity utpattiniḥsvabhāvatayā niḥsvabhāvaḥ. Mật ý, do bởi không tồn tại tính thể tự hữu của sự sinh khởi. Không có sự sinh khởi tự nhiên, do bởi chính nó (svayam utpatti), của những cái tồn tại do lệ thuộc điều kiện bên ngoài nó (y tha), vì bị lệ thuộc mối quan hệ của các điều kiện. Do đó, sự sinh khởi không tồn tại với hữu thể tự hữu, đó la  nói tính thể không tự hữu vì không tồn tại tính thể tự hữu của sự sinh khởi. Giải thâm mật, ibid.: sinh vô tự tính (utpattiniḥsvabhāvatā), đó là đặc tính y tha khởi của các pháp, hiện khởi do lệ thuộc các điều kiện ngoài bản thân (pratyayāpekṣaṇāt). Nó hiện hữu do bởi ảnh hướng các điều kiện ngoài bản thân, chứ không hiện tự nhiên, bởi chính nó (nāsya svena bhāvena bhāvaḥ).

[136] Samuccaya ibid.: pariniṣpanne paramārthaniḥsvabhāvatām upādāya ... pariniṣpanno viśuddhy-ālambabatvāt paratantraparikalpitalākṣaṇābhāvasvabhāvatvāc ca paramārthaś caiṣa niḥsvabhāvatā-prabhāvitaś ceti paramārthaniḥsvabhāvatayā niḥsvabhāvaḥ ity evaṃ ca kṛtvā niḥsvabhāvāḥ sarvadharmā draṣṭavyāḥ na tu sarvathālakṣaṇābhāvam adhikṛtyeti. Thắng nghĩa vô tính , y nơi viên thành thật. Viên thành thật, do bởi là sở duyên thanh tịnh, do bởi tính thể tự hữu là không tòn tại yếu tính của y tha và biến kế, và vì tuyệt đối thể hay thắng nghĩa được hiện hiện như là tính thể không tự thể. Do vậy cần phải quán chiếu rằng hết thảy pháp đều không tự thể; nhưng không nói rằng tuyệt đối không tồn tại yếu tính. Giải thâm mật ibid.: Thắng nghĩa vô tính: trong các pháp, nếu cảnh giới sở duyên thanh tịnh, ở đó thắng nghĩa được hiển thị như là vộ tự tính tính (paramārthaś caiṣa niḥsvabhātāprabhāvitaś ca). Lại nữa, thật tướng viên thành của các pháp cũng được gọi là thắng nghĩa vô tự tính tính. Vì tự tính vô ngã của hết thảy các pháp được gọi là thắng nghĩa, và cũng được gọi là vô tự tính tính. Vì là chân lý tuyệt đối của tất cả các pháp. Vì nó được hiển thị như là vô tự tính tính. Do các ý nghĩa này mà gọi là thắng nghĩa vô tự tính tính.

[137] Thi dju được dẫn theo Giải thâm mật, ibid.

[138] Du-già 76, tr. 719c17:  Thắng nghĩa là tính thể không tự tính, vì đối với các pháp sinh la tính thể không tự tính. Tức pháp duyên sinh cũng được gọi là thắng nghĩa vô tự tính tính. Hiển dương 16, tr. 559b18: Y tha khởi tự tính, do tướng dị biệt, cũng được gọi là thắng nghĩa vô tính, nghĩa là không tồn tại tính thể tự hữu như là thắng nghĩa.

[139] Lẫn lộn thắng nghĩa vô tính nơi viên thành với thắng nghĩa vô tính nơi y tha.

[140] Du-già luận ký 18, tr. 707a22; Du-già lược toản 14 tr. 203a9  Du già không có minh văn về bốn thắng nghĩa, nhưng các Luận sư phương Tay căn cứ ba thế tục được nói trong Du-già 64 (tr.) mà lập bốn lớp thắng nghĩa.

[141] Nguyên văn tụng: 此諸法勝義</l>   <l>亦即是真如. Triṃś: dharmāṇāṃ paramārthaś ca sa yatas tathatāpi.

[142] Giải thích từ kép theo Hán: chânnhư.  Skt. tathatā, từ đơn, không thể tách đôi để giải thích như vậy. Định nghĩa thó chính tụng văn Skt. saḥ/ sarvakālaṃ tathābhāvāt, thắng nghĩa được nói là chân như hay như như tính (tathatā), vì trong tất cả mọi thời tự thể của nó như là chính nó.

[143] Sthiramati: tathatā, tathā hi pṛthagjanaśaikṣāśaikṣāv avasthāsu sarvakālaṃ tatheva bhavati/ chânh như hay như như tính; nói là như (tathā), vì trong tất cả mọi giải đoạn phàm phu, hữu học, vô học, trong tất cả mọi thời nó luôn luôn là như vậy (tathaiva bhavati).

[144] Từ diệc trong tụng văn Há; api trong Skt.

[145] Thuật ký: Đại bát-nhã có 12 danh, Tập luận 1, tr. 666a23, Tạp tập 2 tr. 702b6, có 7 danh: chân như (tathatā), vô ngã tính (nairātmyatā), không tính (śūnyatā), vô tướng (animitta), thật tế (bhutakoṭi), thắng nghĩa (paramārtha), pháp giới (dharmadhātu).

cập nhật : 15-09-2009   

Google


www.phatviet.com website khác

Trao đổi ý kiến và đăng sách báo, bài viết sáng tác, dịch thuật, nghiên cứu, v.v... xin gởi đến email: Ban Tu Thư Phật Việt (hoặc hanhqua@gmail.com)