LUẬN THÀNH DUY THỨC
成唯識論
(T31n1585)
Bản dịch Việt
TUỆ SỸ
(chương 1)
(chương 2)
(chương
3)
(chương 4)
(chương 5)
(chương 6)
(chương
7)
(chương 8)
Phụ bản: Thành Duy Thức Luận (T31n1585)
Thư mục chú thích
Chương VII. Ba tự tính
1. Định nghĩa
1. Biến kế
2. Y tha khởi
3. Viên thành thật
2. Các vấn đề
1. Sáu vô vi
2. Bảy chân như
3. Sáu phạm trù
4. Năm sự
5. Bốn chân thật
6. Bốn thánh đế
7. Ba giải thoát
8. Hai pháp tướng
9. Trí phàm thánh
10. Giả thật
11. Dị và bất dị
3. Ba vô tính
CHƯƠNG VII. BA TỰ TÍNH
Nểu duy chỉ có
thức, vì sao nhiều nơi trong Kinh đức Thế Tônnói có ba tính?
Nên biết, ba
tính cũng không biệt lập ngoài thức. Vì sao?
Tụng:
由彼彼遍計
遍計種種物
此遍計所執
自性無所有
//20//
依他起自性
分別緣所生
圓成實於彼
常遠離前性//21//
故此與依他
非異非不異
如無常等性
非不見此彼//22//
Do sự phân biệt (biến kế) như thế
như thế mà sự vật được phân biệt. Tính thể tự hữu của biến kế sở chấp
này hoàn toàn không tồn tại./20
Tính thể tự hữu y tha khởi, đó là
cái phân biệt xuất hiện do các duyên. Tính thể tự hữu viên thành thật,
đó là tính vắng bặt vĩnh viễn sự kiên trước ở nơi y tha./21
Do vậy, nó đối với y tha khởi vừa
không phải dị biệt, vừa không phải không dị biệt. Như tính vô thường
chẳng hạn. Khi cái này không được nhìn thấy thì cái kia cũng không được
nhìn thấy./22
Luận:
1. ĐỊNH NGHĨA
1. Biến kế
Suy tính cùng
khắp, gọi là biến kế.
Phẩm loại có rất
nhiều, nói là “như thế như thế”
Đây chỉ cho cái phân biệt hư vọng biến kế. Nghĩa là, do sự phân biệt hư
vọng như thế như thế, mà biến kế thành đa dạng vật được biến kế. Sự đa
dạng của vật được biến kế là sự sai biệt của tự tính, hoặc ngã, hoặc
pháp, như uẩn, xứ, giới, v.v., bị nhận thức sai lầm.
Sự sai biệt của tự
tính bị nhận thức sai lầm này được gọi chung là tự tính bị biến kế chấp.
Tự tính như vậy
hoàn toàn không tồn tại, vì theo lý và giáo nó là cái không thể bắt nắm
được.
Hoặc câu đầu
nêu rõ thức biến kế.
Câu thứ hai, chỉ rõ cảnh bị biến kế.
Nửa sau của bài tụng mới phô diễn tự tính của những cái bị chấp, hoặc
ngã, hoặc pháp, không tồn tại, vì đã nêu rõ
chi tiết nó là cái không thể bắt nắm.
a. Năng biến kế
Tự tính của cái
biến kế là gì?
1. Có giải thích
nói, đó là tám thức và các tâm sở, thuộc hữu lậu, thảy đều là cái biến
kế.
Vì tự tính của nó là sự phân biệt hư vọng. Vì nó xuất hiện như là ảnh tợ
của sở thủ và năng thủ.
Và vì nói rằng a-lại-da lấy chủng tử của tự tính bị biến kế sở chấp làm
đối tượng sở duyên.
2. Giải thích khác
nói,
các tâm phẩm thứ sáu và thứ bảy, chúng chấp ngã và pháp, là những cái
biến kế.
Vì chỉ nói ý thức là cái biến kế.
Vì ý và ý thức đều được gọi chung là ý thức.Vì
cái biến kế là cái phân biệt thẩm tra.
Vì cái chấp ngã và pháp tất nhiên là huệ.
Vì cả hai thứ chấp đều phải câu hữu với vô minh.
Vì không nói rằng vô minh có thiện tính.
Vì si và vô si, v.v. không tương ưng.
Không thấy đâu nói tâm có chấp lại dẫn đạo Không trí.
Vì chấp hữu và đạt vô
không cùng khởi. Vì chưa hề có sự kiện có chấp mà không phải là năng
huân.
Vì tâm hữu lậu
v.v. không chứng thật lý,
tất cả đều được gọi là phân biệt hư vọng.
Mặc dù xuất hiện với ảnh tợ như là sở thủ, năng thủ,
nhưng không phải tất cả được được kể là năng biến kế. Không nên nói rằng
tâm vô lậu cũng có chấp.
Vì nếu thừa nhận như vậy thì trí hậu đắc của Như Lai cũng có chấp.
Vì Kinh nói, Phất trí hiện thân và độ với nhiều hình thái khác nhau,
như tấm gương.
Nếu không có tác dụng như là duyên,
đó có thể không phải là trí.
Mặc dù nói rằng
tàng thức duyên đến chủng tử biến kế,
nhưng không nói duy chỉ duyên đến biến kế, do đó biện minh này không
vững.
Do ý nghĩa như
vậy, duy chỉ các tâm phẩm thứ sáu và thứ bảy là có năng biến kế. Phẩm
loại thức tuy chỉ có hai, nhưng các loại biến kế bất đồng, hoặc hai,
hoặc, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười.
b. Sở biến kế
Tự tính của cái bị
biến kế là gì? Nhiếp Đại thừa
nói, đó là y tha khởi, vì là sở duyên duyên của tâm biến kế các thứ.
Tính viên thành
thật há không phải là đối tượng của nó? Vì tính ấy là chân thật, không
phái là cảnh sở duyên cho chấp thủ hư vọng. Nếu căn cứ theo tính cách
bắc cầu,
thì cũng có thể nói chân như cái bị biến kế. Cái bị biến kế chấp tuy là
mối trường của tâm biến kế kia, nhưng không phải là sở duyên duyên
của nó, nên cái đó không phải là cái bị biến kế.
c. Biến kế và y
tha
Đặc tính của biến
kế là thế nào? Nó có những điểm khác biệt gì đối với y tha?
1. Có giải thích
nói,
tâm và tâm sở thuộc cả ba giới, do bị huân tập từ vô thủy, tự thể của
chúng tuy là một nhưng xuất hiện tợ như là hai, là kiến phần và tướng
phần, tức năng thủ và sở thủ. Hai phần như vậy, về tình thì có nhưng về
lý thì không. Tính chất ấy được nói là biến kế sở chấp. Tự thể làm sở y
cho cả hai,về thực chất, được sản sinh do quan hệ các duyên. Tự tính của
cái đó không phải không tồn tại, nó được gọi là y tha khởi. Vì nó được
sản sinh bởi các yếu tố phân biệt hư vọng. Do đâu mà biết? Các Thánh
giáo nói, cái phân biệt hư vọng là y tha khởi; hai thủ được gọi là biến
kế sở chấp.
2. Giải thích khác
nói,
hết thảy tâm và tâm sở, do bị chi phối bởi sự huân tập, biến thái thành
hai phần. Hai phần như vậy được sản sinh do bởi các duyên, và do đó cũng
là y tha khởi. Biến kế chấp y vào phán đoán lệch lạc này mà xác định
thực hữu hay không thực hữu, đồng nhất hay dị biệt, câu hữu hay không
câu hữu. Do tính nhị nguyên như vậy nó mới được gọi là biến kế sở chấp.
Các Thánh giáo
nói, duy chỉ là lượng, là hai, là đa thù,
đều chỉ cho y tha khởi.
Lại nữa, bốn pháp,
và mười một thức,
các Luận
đều nói là được bao hàm trong y tha khởi.
a. Nếu không phải
như vậy, hai phần của phẩm trí hậu đắc vô lậu
đáng lẽ được gọi là biến kế sở chấp. Thừa nhận điều này,
hẵn Thánh trí hoạt động mà không duyên đến cái đó;
hoặc có duyên đến, thế thì phẩm trí đó không thuộc về đạo đế. Nếu không
thừa nhận điều này, nên biết, hữu lậu cũng vậy.
b. Lại nữa, nếu
hai phần là biến kế sở chấp, ắt hẵn như sừng thỏ các thứ,
không phải là sở duyên duyên. Vì thể của biến kế sở chấp không tồn tại.
c. Lại nữa, hai
phần hẵn không được huân tập thành chủng tử,
thức sát-na sau
khi xuất hiện ắt sẽ không có hai phần.
d. Lại nữa, các
tập khí đều được bao hàm trong tướng phần,
há rằng pháp không tồn tại mà có thể làm nhân duyên?
e. Lại nữa, kiến
và tướng phần nội tại được sản sinh bởi các duyên, nếu không phải là y
tha khởi, thế thì thể sở y của cả hai phần cũng vậy,
vì không có nhân dị biệt.
Do nghĩa lý như
vậy, tự thể của tâm và các tâm sở, cùng tướng và kiến phần, thuộc hữu
lậu và vô lậu, được sản sinh bởi các duyên, thảy đều là y tha khởi. Vì
chúng sinh khởi do lệ thuộc các điều kiện, tức những cái khác với chính
nó.
Tụng nói, sự
phân biệt phát sinh do bởi các duyên,
nên biết, đó là đề cập y tha về phần nhiễm. Vì y tha phần tịnh cũng
chính là viên thành thật.
Hoặc các tâm,
tâm sở nhiễm hay tịnh đều được nói là phân biệt, vì chúng duyên lự.
Thế thì tất cả y tha hoặc nhiễm hoặc tịnh đều được bao hàm trong y tha
khởi này.
1. Thật tính
của các pháp thành tựu viên mãn được hiển thị bởi hai Không, đó gọi là
viên thành thật.
Nó được hiển thị như là phổ biến, thường hằng, tự thể không hư dối; loại
ra ngoài tự tướng, cộng tướng, hư không, ngã các thứ.
Hữu vi hữu lậu
mà loại bỏ điên đảo, đạt cứu cánh, thắng dụng phổ biến, cũng được gọi
với danh từ này. Thế nhưng, ở đây trong tụng chỉ được đề cập ý nghĩa đầu
chứ không phải ý nghĩa sau.
2. Tính thể của
nó chính là chân như được hiển thị bởi hai Không, tuyệt đối loại trừ
tính đầu tiên là biến kế sở chấp nơi y tha khởi kia.
Từ ngữ “ở nơi
cái kia”,
nêu rõ rằng viên thành thật và y tha khởi không tương tức cũng không
tương ly.
Cụm từ “vĩnh
viễn vắng bặt”
nêu rõ sự không tồn tại vĩnh viễn của năng thủ và sở thủ bị nhận thức
một cách lệch lạc.
Từ ngữ “sự kiện
trước”
nhắm nêu rõ y tha không phải là trống không.
Vĩ thanh “tính”
nêu rõ hai Không không phải là viên thành thật, vì chân như vượt ngoài
tính hữu và tính vô.
3. Do lý được
nêu trước đó, viên thành thật này cùng với y tha khởi vừa không phải di
biệt, vừa không phải không dị biệt.
Nếu dị biệt, chân như không phải là thật tính của nó. Nếu không phải dị
biệt, tính thể (chân như) này là vô thường.
Cái này và cái kia, ắt hẵn thảy đều là đối tượng tịnh và không phải
tịnh,
như vậy tác dụng của căn bản và hậu đắc trí sẽ không khác biệt.
Vì hai hai tính
thể ây không phải khác biệt hay không khác biệt? Như tính thể vô thường,
vô ngã kia, v.v. Nếu vô thường tính mà khác biệt đối với pháp, như các
hành chẳng hạn, pháp ấy tất không phải là vô thường. Nếu không phải
khác, vô thường sẽ không phải là yếu tính phổ quát của các pháp. Bằng
thí dụ này để nêu rõ viên thành thật này cũng với y tha kia không phải
đồng nhất, không phải dị biệt. Pháp đối với pháp tính, theo lý, tất phải
vậy. Vì thắng nghĩa và thế tục tồn tại theo quan hệ đối đãi.
4. Không phải
rằng không chứng kiến viên thành thật này mà có thể thấy được y tha khởi
tính kia.
Vì nếu chưa thấu triệt tính thể của biến kế sở chấp là không, thì không
thể biết một cách như thật về sự tồn tại của y tha.
Sau khi trí vô phân biệt chứn chân như, bấy giờ ở trong trí hậu đắc mới
có sự thấu triệt sự thể như huyễn
v.v. nơi y tha.
Tuy từ vô thủy
tâm và tâm sở có thể duyên đến tướng và kiến phần
các thứ của chính nó, nhưng vì sự chấp ngã và chấp pháp luôn luôn cùng
hiện hành, cho nên không nhận thức được một cách như thật đó là những
biến hiện hư vọng của tâm và tâm sở được dẫn khởi bởi các duyên. Cũng
như huyễn sự, quáng nắng, cảnh chiêm bao, ảnh tượng trong gương, bóng
sáng, tiếng dội, trăng dưới nước, vật biến hóa thành;
những thứ đó tuy không có nhưng tợ như là có.
Că cứ theo ý
nghĩa đó, cho nên tụng nói “nếu không thấy chân như, không thể rõ các
hành, là huyễn sự các thứ, tuy có nhưng không chân thật.”
Đại ý bài tụng nói ba loai tự tính đều không xa lìa tâm, tâm sở pháp.
Nghĩa là, tâm, tâm sở và những cái được biến hiện
đều xuất hiện do các duyên, như huyễn sự các thứ, không phái có mà tợ hồ
như có, dối gạt kẻ ngu; tất cả đều được gọi là tính y tha khởi. Kẻ ngu ở
nơi đó mag chấp ngang ngã và pháp, hoặc có hoặc không, hoặc nhất hoặc
dị, hoặc cả hai hay không cả hai, v.v., như hư không chẳng hạn, tính và
tướng đều hoàn toàn không; hết thảy đều được gọi là biến kế sở chấp.
Ngã pháp bị
chấp trước sai lầm căn cứ trên y tha thày đều không. Chân tính của thức
các thứ được hiển thị bởi cái Không này được gọi là viên thành thật.
Cho nên, cả ba
tính này đều không tách biệt ngoài tâm.
2. CÁC VẤN ĐỀ
Sáu vô vi, như
hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi trạch diệt vô vi, v.v., chúng được
bao hàm trong tự tính nào? Được bao hàm trong cả ba.
Hư không tướng
các thứ là ảnh tợ biến thái của tâm, tùy tâm mà sinh, do đó, được bao
hàm trong y tha khởi.
Kẻ ngu quan
niệm sai lầm cho là có thật, do đó nó thuộc về tính biến kế sở chấp.
Nếu ở nơi chân
như mà giả thi thiết là có nghĩa hư không các thứ, nó được bao hàm trong
viên thành thật.
Tâm hữu lậu các
thứ
tất nhiên thuộc y tha. Tâm vô lậu các thứ
được bao hàm bởi hai tính. Vì được sản sinh bởi các duyên nên chúng
thuộc y tha. Vì không điên đảo nên chúng thuộc viên thành thật.
Ba tính như
vậy, trong bảy chân như, bao hàm những chân như nào?
Bảy chân như:
1. Lưu chuyển
chân như, thật tính của sự lưu chuyển của các pháp hữu vi.
2. Thật tướng
chân như, thật tính được hiển thị bởi hai vô ngã.
3. Duy thức
chân như, thật tính duy thức của pháp nhiễm và tịnh.
4. An lập chân
như, thật tính của khổ.
5. Tà hành chân
như, thật tính của tập.
6. Thanh tịnh
chân như, thật tính của diệt.
7. Chính hành
chân như, thật tính của đạo.
Bảy thật tính
này được bao hàm trong viên thành thật, vì là đối tượng của hai trí căn
bản và hậu đắc.
Nếu theo các
đặc tính thứ yếu,.ba chan như lưu chuyển, khổ và tập được bao hàm trong
hai tính đầu, vì là tạp nhiiễm vọng chấp. Bốn còn lại đều thuộc về viên
thành thật.
Trong sáu pháp,
ba tính bào hàm những pháp nào?
Cả sáu pháp đều
đủ cả ba tính. Sắc, thọ, tưởng, hành thức và vô vi đều có ý nghĩa vọng
chấp và duyên sinh.
Ba tính bao hàm
năm sự như thế nào?
Các Thánh giáo
nói sự bao hàm không nhất định.
1. Hoặc có
trường hợp nói y tha khởi bao hàm tướng, danh, phân biệt và chính trí;
viên thành thật bao hàm chân như. Biến kế sở chấp không bao hàm pháp nào
trong năm pháp.
Theo đó,
các ảnh tợ biến thái của tâm, tâm sở, được mô tả bởi danh, được gọi là
tướng. Ảnh tợ như là sự mô tả chuyển tải các khái niệm, được gọi là
danh. Tâm, chủ thể biến thái, được lập làm phân biệt. Tâm vô lậu vượt
ngoài các hý luận được gọi chung là chính trí, không nói là cái mô tả
hay cái được mô tả. Cả bốn pháp đều phát sinh từ các duyên, thảy đều
được bao hàm bởi y tha.
2. Cũng có
trường hợp nói y tha khởi bao hàm tướng và phân biệt. Biến kế chỉ bao
hàm danh. Chính trí và chân như được bao hàm bởi viên thành thật.
Theo đó, tướng phần của tâm, tâm sở hữu lậu được gọi là tướng. Các phần
còn lại, được gọi là phân biệt. Biến kế sở chấp, vì hoàn toàn vô thể, để
hiển thị tính phi hữu, được khái niệm là danh. Cả hai, chính trí và
chân như, vì là không điên đảo, đều được bao hàm trong viên thành thật.
3. Trường hợp
khác nói y tha khởi tính chỉ bao hàm phân biệt. Biến kế sở chấp bao hàm
tướng và danh. Chính trí và chân như được bao hàm trong viên thành thật.
Theo đó, tướng và kiến phần các thứ của tâm và tâm sở hữu lậu được gọi
chung là phân biệt, vì tự tính của chúng là phân biệt không hiện thực.
Biến kế sở chấp, bao gồm sự mô tả và cái được mô tả, tùy thích hợp, bao
hàm hai sự danh và tướng.
4. Lại có
trường hợp nói danh thuộc y tha khởi tính; nghĩa
thuộc biến kế sở chấp. Theo đó, tướng và kiến phần các thứ của tâm và
tâm sở pháp hữu lậu do thế lực của danh mà trở thành cái bị biến kế, do
đó chúng được gọi là danh. Biến kế sở chấp tùy theo danh mà bị nhận thức
lệch lạc, tự thể không phải thật hữu, theo quy ước mô tả, gọi nó là
nghĩa.
Văn nói về năm
sự trong các Thánh giáo tuy có những bất đồng, nhưng ý nghĩa không mâu
thuẫn nhau. Song, trong trường hợp đầu, văn diễn tả không rối loạn, chi
tiết rộng rãi, nên biết, như được nói trong luận Du-già.
Trong Thánh
giáo, có nói đến năm tướng.
Chúng được bao hàm như thế nào trong ba tính?
Sở thuyên và
năng thuyên, mỗi tướng đều đủ cả ba tính. Tức là, nếu là cái bị nhận
thức lệch lạc thì thuộc về tính biến kế sở chấp. Tương quan với danh,
tướng, phân biệt,
tùy theo sự thích hợp, sở thuyên và năng thuyên thuộc y tha khởi. Đối
với chân như và chính trí,
tùy theo sự thích hợp, sở thuyên và năng thuyên thuộc viên thành thật,
vì hậu đắc biến tợ tướng năng thuyên.
Hai tướng tương
thuộc duy chỉ được bao hàm trong tự tính đầu, vì nhận thức lệch lạc về
nghĩa và danh nhất định do sự lệ thuộc lẫn nhau.
Tướng chấp
trước duy thuộc y tha khởi, vì tự tính của nó là phân biệt hư vọng.
Không chấp
trước duy chỉ là viên thành thật, vì tự tính của nó là trí vô lậu.
Lại nữa, trong
Thánh giáo nói đến bốn chân thật.
Chúng quan hệ như thế nào với ba tính?
Chân thật được
cực thành bởi thế giàn đạo lý thuộc về y tha khởi, vì nó bao hàm ba sự.
Hai sự thật, là cảnh giới sở hành của hai trí thanh tịnh, thuộc về viên
thành thật, vì bao hàm hai sự.
Biện trung
biên nói chân thật thứ
nhất chỉ được bao hàm trong tự tính đầu, vì là điều được thừa nhận một
cách phổ thông.
Chân thật thứ hai thuộc chung cả ba tính,
vì lý thông cả chấp và vô chấp, tạp nhiễm và thanh tịnh. Hai chân thật
cuối chỉ thuộc tự tính thứ ba.
Ba tính bao hàm
bốn Thánh đế như thế nào?
Trong bốn đế,
mỗi một đế đều đủ cả ba tính.
i. Khổ đế
a. Vô thường.-
Vã, bốn hành tướng trong khổ đế,
vô thường có ba: 1. Vô tính vô thường, vì tính thể vĩnh viễn không tồn
tại. 2. Khởi tận vô thường, vi có sinh và có diệt. 3. Cấu tịnh vô
thường, vì chuyển biến trạng thái.
b. Khổ.-
Khổ có ba: 1. Sở thủ khổ, vì bị chấp thủ bởi hai chấp ngã và pháp. 2. Sự
tướng khổ, do ba khổ tướng. 3. Hòa hiệp khổ, vì sự kết hợp với đặc tính
khổ.
c. Không.-
Không có ba: 1. Vô tính không, vi thính thể không thực hữu. 2. Dị tính
không, vị khác biệt với tự tính bị nhận thức lệch lạc. 3. Tự tính không,
vì là tự tính được hiển thị bởi hai không.
d. Vô ngã.-
Vô ngã có ba: 1. Vô tướng vô ngã, vì ngã không có tướng. 2. Dị tướng vô
ngã, vì khá biệt với tướng của ngã bị nhận thức lệch lạc. 3. Tự tướng vô
ngã, tự tướng được hiển thị bằng vô ngã.
Tập đế có ba:
1. Tập khí tập khởi; tập khí của tự tính biến kế sở chấp; sự chấp chặt
tập khí ấy được khái niệm quy ước với tên gọi ấy.
2. Đẳng khởi tập,
đó là nghiệp và phiền não.
3. Vị ly hệ tập, vì chưa thoát ly sự chướng ngại chân như.
Diệt đế có ba:
1. Tự tính diệt, vì tự tính bất sinh.
2. Hai thủ diệt, do trạch diệt, hai thủ không phát sinh.
3. Bản tính diệt, vì là chân như.
Đạo đế có ba:
1. Biến tri đạo, vì biến tri biến kế sở chấp. 2. Vĩnh đoạn đạo, vì đoạn
trừ y tha khởi. 3. Tác chứng đạo, vì chứng viên thành thật.
Tuy nhiên, biến tri đạo cũng thông cả hai tính sau.
Tổng kết: ba
lần bảy,
theo thứ tự thích hợp, phổi trí với ba tính. Nay, ba tính được phối trí
trong đây hoặc giả, hoặc thật, cần được nhận thức theo lý.
Cảnh giới sở
hành của ba giải thoát môn cùng với ba tính này được bao hàm như thế
nào?
Lý thật, tất cả
đều thông. Tùy đặc tính của mỗi thứ, không, vô nguyện, vô tướng, theo
thứ tự, nên biết.
Duyên vào đây
lại phát sinh ba vô sinh nhẫn: 1. bản tính vô sinh nhẫn, 2. tự nhiên vô
sinh nhẫn, 3. cảm khổ vô sinh nhẫn.
Vì, theo như thứ tự, ba nhẫn này cũng là cảnh của ba giải thoát.
Ba tự tính này
bao hàm hai đế
kia như thế nào?
Nên biết, thế
tục đủ cả ba. Thắng nghĩa duy chỉ là viên thành thật tính.
Thế tục có ba:
1. giả thế tục, 2. hành thế tục, 3. hiển liễu thế tục. Theo thứ tự, nên
biết, cũng chính là ba tính này.
Thắng nghĩa có
ba:
1. nghĩa thắng nghĩa, tức chân như, vì nghĩa của cái tối thắng;
2. đắc thắng nghĩa, tức niết-bàn, vì nghĩa tức tối thắng;
3. hành thắng nghĩa, chỉ Thánh đạo, vì lấy tối thắng làm nghĩa.
Không biến dị, không điên đảo, tùy theo sự thích hợp,
do đó đều được bao hàm trong viên thành thật.
Ba tính như vậy
bao hàm trí sở hành như thế nào? Biến kế sở chấp hoàn toàn không phải là
sở hành của trí; vì không có tự thể, không phải là sở duyên duyên. Ngu
phu chấp là tồn tại, Thánh giả thấu triệt là không tồn tại, cho nên nó
cũng là đối tượng của cả phàm và Thánh trí. Y tha khởi tính là sở hành
của hai trí. Viên thành thật duy chỉ là đối tượng của Thánh trí.
Trong ba tính
này, bao nhiêu giả? bao nhiêu thật? Biến kế sở chấp, do quy định lệch
lạc nên có thể nói là giả. Nhưng vì nó không có thể tướng nên không
phait giả cũng không phải thật.
Y tha khởi tính
có giả mà cũng có thật. Do tụ tập, do tiếp nối liên tục, và do tính phần
vị,
nên nói là giả hữu. Tâm, tâm sở, sắc, được sản sinh từ các duyên, nên
nói là thật hữu. Nếu pháp thật không tồn tại, thì pháp giả cũng không,
vì giả y trên thật mà thi thiết.
Viên thành thật
tính duy chỉ là thật hữu, vì được thi thiết mà không y nơi các duyên
khác.
Bá tính này, dị
biệt hay không dị biệt? Cả hai đều không phải. Chúng không có tự thể
biệt lập đối với nhau, nên không phải dị biệt nhau. Nhưng chúng cũng
khác biệt nhau, vì thứ nhất do quan niệm sai lầm, thứ hai do duyên mà
khởi, thứ ba, nghĩa chân thật.
Ý nghĩa của ba
tự tính như vậy thật không cùng tận, nhưng e răng văn tự rườm ra, cho
nên cho lược thuật những điểm chính yếu.
3. BA VÔ TÍNH
Nếu tồn tại ba
tính, vì sao Thế Tôn nói hết thảy các pháp đều không có tự tính?
Tụng:
即依此三性
立彼三無性
故佛[07]密意說
一切法無性
//23/
初即相無性
次無自然性
後由遠離前
所執我法性
//24/
此諸法勝義
亦即是真如
常如其性故
即唯識實性
//25/
Tức y nơi ba tính này mà lập ba vô
tính kia. Do đó, Phật, bằng mật ý, nói hết thảy pháp đều vô tính.
Thứ nhất, tướng vô tính. Thứ hai tự
nhiên vô tính. Sau hết, do tách lìa tự tính của ngã và pháp bị chấp
trước đã nói trước đó.
Đây là thắng nghĩa của các pháp.
Cũng tức là chân như. Tự tính thường như nó là nó. Tức thật tính Duy
thức.
Luận
Tức y trên ba tính đã được nói trước
đây mà lập ba vô tính sẽ được nói sau đây. Đó là, tướng, sinh và thắng
nghĩa vô tính.
Do đó, bằng mật ý, Phật nói hết thảp pháp đều không có tự tính,
không phải rằng hoàn toàn không có tự tính.
Từ “mật ý”
chỉ rõ rằng đó chưa phải là liễu nghĩa. Theo đó, tự thể của hai tự tính
sau không phải không tồn tại, nhưng kẻ phàm ngu gán ghép một cách sai
lầm cho rằng tự tính của ngã và pháp thật sự tồn tại.
Điều này được gọi là biến kế sở chấp. Để loại trừ sự chấp trước này Phật
Thế Tôn mới nói chung là vô tính cho cả tồn tại và không tồn tại.
Y nơi ba tính này mà lập ba vô tính
kia như thế nào?
Y nơi tự tính thứ nhất là biến kế sở
chấp mà lập tướng vô tính, do bởi thể tướng ấy tuyệt đối không tồn tại
như hoa đốm hư không.
Thứ đến, y nơi y tha mà lập sinh vô
tính. Nó giống như trò ảo thuật, gá vào các duyên mà phát sinh. Không
tồn tại bởi tự nhiên tính như được nhận thức một cách lệch lạch, y theo
đó giả thuyết là vô tính, chứ không phải hoàn toàn không tự tính.
Y nơi tự tính sau cùng, viên thành
thật, lập thắng nghĩa vô tính. Tức, theo nghĩa tuyệt đối, do bởi viễn ly
tự tính ngã và pháp bị biến kế sở chấp mà giả thuyết là vô tính, chứ
không phải hoàn toàn không có tự tính.
Như hư không bao la tuy phổ biến trong tất cả sắc nhưng nó được hiển thị
như là tính thể không tồn tại của các sắc.
Mặc dù, y tha khởi vì không phải là
thắng nghĩa mà cũng có thể nói là thắng nghĩa vô tính,
song nó lẫn lộn với tính thứ hai,
do đó ở đây Tụng không đề cập.
Tự tính ấy là thắng nghĩa của tất cả
các pháp. Vì nó là chân lý tuyệt đối, thắng nghĩa đế, của tất cả các
pháp.
Tuy nhiên, thắng nghĩa có bốn:1.
Thắng nghĩa thế gian, chi các khái niệm uẩn, xứ, giới, v.v. 2. Thắng
nghĩa đạo lý, như bốn Thánh đế, khổ v.v. 3. Thắng nghĩa chứng đắc, tức
chân như của hai Không. 4. Thắng nghĩa thắng nghĩa, chỉ pháp giới nhất
chân (tức nhất thể tuyệt đối). Trong đó, thắng nghĩa (vô tính) là y lớp
thắng nghĩa cuối cùng, vì đó là đối tượng (nghĩa) sở hành của đạo tối
thắng. Để loại trừ ba lớp thắng nghĩa đầu nên nói như vậy: “Thắng nghĩa
của các pháp cũng chính là chân như.”
Chân nghĩa là chân thật, nêu rõ là không phải hư vọng. Như là như
thường, biểu thị không biến dịch.
Theo đó, sự chân thật này trong tất cả mọi giai đoạn nó thường hằng như
là tự tính của nó, do đó nói là chân như.
Tức có nghĩa là trạm nhiên (một cách trong suốt) không hư vọng.
Từ “cũng”
chỉ rõ rằng nó còn có nhiều tên gọi nữa, như nói pháp giới, thật tế,
v.v.,
được nói trong các Luận, tùy ý nghĩa mà giải thích chi tiết.
Tự tính đó chính là duy thức tính.
Theo đó, tóm tắt mà nói, duy thức tính có hai: 1. hư vọng, chi biến kế
sở chấp; 2. chân thật, tức viên thành thật tính. Vì để loại bỏ hư vọng
mà nói là thật tính.
Nó là có hai nữa: 1. Thế tục, tức y
tha khởi. 2. Thắng nghĩa, tức viên thánh thật. Vì để loại bỏ thế tục mà
nói là thật tính.
Ba bài tụng tông quát nêu rõ điều mà
trong các Khế kinh nói là vô tính, điều đó chưa phải là liễu nghĩa.
Những bậc trí giả không nên y theo đó mà bác bỏ tông thể rằng tất cả các
pháp đều không có tự tính.
|