LUẬN THÀNH DUY THỨC
成唯識論
(T31n1585)
Bản dịch Việt
TUỆ SỸ
(chương 1)
(chương 2)
(chương
3)
(chương 4)
(chương 5)
(chương 6)
(chương
7)
(chương 8)
Phụ bản: Thành Duy Thức Luận (T31n1585)
Thư mục chú thích
Chương VIII. Thể nghiệm của thức
1.
Tư lương vị
2.
Gia hành vị
3.
Thông đạt vị
1.
Vô phân biệt trí
2.
Kiến đạo
3.
Chín loại tâm
4.
Hậu đắc trí
5.
Sáu hiện quán và hai kiến đạo
4.
Tu tập vị
1.
Chuyển y
2.
Mười địa
3.
Mười ba-la-mật
4.
Mười trọng chướng
5.
Mười chân như
6.
Quá trình chuyển y
7.
Hai quả chuyển y
5.
Cứu cánh vị
1.
Vô lậu giới
2.
Giải thoát thân
3.
Mâu-ni danh pháp
1.
Biệt tướng của ba thân
2.
Năm pháp
3.
Phẩm chất của ba thân
4.
Ba thân và hai lợi
5.
Ba thân và quốc độ sở y
6.
Phật thân Phật độ đồng dị
7. Thân và độ năng biên và sở biến
8.
Nghĩa duy thức
CHƯƠNG VIII. THỂ NGHIỆM CỦA THỨC
Như vậy, tính và tướng của duy thức đã đã thành lập.
Ai, và trải qua bao nhiêu giai đoạn, có thể ngộ nhập?
Hạng có đủ hai loại chủng tính
của Đại thừa có thể ngộ nhập, nói tổng quát, lần lượt trải qua năm giai
vị.
Hai loại chủng tính của Đại thừa là gì?
1. Chủng tính bản tính trụ.
Đó là nhân để chứng đắc pháp vô lậu, là pháp nhĩ mà kể từ vô thủy y tựa
trên bản thức.
2. Chủng tính được tập thành.
Những gì được tập thành do bởi sau khi nghe pháp từ pháp giới đẳng lưu
rồi huân tập bằng những gì được tác thành do bởi nghe, v.v.
Cần phải có đủ hai loại chủng tính Đại thừa này mới có
thể lần lượt ngộ nhập duy thức.
Năm giai vị để ngộ nhập duy thức là những gì?
1. Tư lương vị, tu tập thuận giải thoát phần thuộc Đại
thừa.
2. Gia hành vị, tu tập thuận quyết trạch phần thuộc
Đại thừa.
3. Thông đạt vị, kiên đạo mà Bồ tát an trụ.
4. Tu tập vị, tu đạo mà Bồ tát an trụ.
5. Cứu cánh vị, an trú nơi Vô thượng Chính đẳng Bồ đề,
v.v.
Thế nào là lần lượt ngộ nhập duy thức? Ở trong giai
đoạn tư lương, Bồ-tát tin hiểu một cách sâu sắc tướng và tính của duy
thức, Rồi ở giai đoạn gia hành, dần dần trấn phục sở thủ, năng thủ, dẫn
phát chân kiến. Tại giai vị thông đạt, thông đạt một cách như thật.
Trong tu tập vị, y theo lý như đã được thấy mà thường xuyên tu tập để
trấn áp và đoạn trừ các chướng còn lại. Cho đến cứu cánh vị, thoát ly
mọi chướng, đạt được viên minh, có thể suốt cùng vị lai giáo hóa các
loại hữu tình khiến cho cũng được ngộ nhập tướng và tính của duy thức.
1. TƯ LƯƠNG VỊ
Thứ nhất, tư lương vị; đặc tính của nó như thế nào?
Tụng:
乃至未起識
求住唯識性
於二取隨眠
猶未能伏滅
Cho đến khi chưa khởi thức, cầu an trụ trong duy thức
tính; đối với tùy miên của hai thủ vẫn chưa thể trấn áp trừ diệt.
Từ khi phát tâm đại bồ đề một cách sâu xa vững chắc
cho đến khi thức thuận quyết trạch
chưa khởi, cầu trụ trong chân thắng nghĩa tính của duy thức, trong giới
hạn ấy là tư lương vị.
Vì mục mục đích hướng đến Vô thượng chính đắng bồ-đề
mà tu tập nhiều tư lương khác nhau. Và vì các hữu tình mà cần cầu giải
thoát, do đó giai đoạn này cũng được gọi là thuận giải thoát phần.
Trong giai đoạn này, Bồ-tát y vào bốn lực thù thắng là
nhân, thiện hữu, tác ý và tư lương,
nhờ đó mà tin hiểu sâu sắc nghĩa duy thức, nhưng chưa thể thấu rõ không
của năng và sở thủ, phần nhiều trú bên ngoài cửa mà tu Bồ-tát hành.
Do đó, vẫn chưa có đủ năng lực để trấn áp và trừ diệt các tùy miên được
dẫn sinh bời hai thủ khiến
chúng
không phát động hai thủ thành hiện hành.
Từ “hai thủ” ở đây chỉ thủ bởi hai thủ, vì tính chất
chấp thủ năng thủ và sở thủ.
Tập khí của hai thủ được gọi là tùy miên của chúng, vì theo đuổi hữu
tình mà tiềm phục trong tàng thức, hoặc do lỗi tùy tăng mà gọi là tùy
miên.
Nó là chủng tử của sở tri chướng và phiền não chướng.
a. Phiền não chướng, đó là 128 phiền não căn bản
và các tùy phiền não là những đẳng lưu
của chúng, trong đó đứng đầu là tà kiến tát-ca-da,
sự cố chấp cái bị biến kế sở chấp như là thật ngã. Những thứ này quẩy
rối thân tâm của hữu tình gây chướng ngại niết-bàn nên được gọi là phiên
não chứớng.
b. Sở tri chướng, đó là kiến, nghi, vô minh, ái, nhuế,
mạn các thứ,
đứng đầu là đứng đầu là tà kiến tát-ca-da, sự cố chấp cái bị biến kế sở
chấp như là thật ngã. Vì chúng che lấp cảnh sở tri vốn có tính không
điên đảo, chướng ngại bồ-đề, do đó gọi là sở tri chướng.
Sở tri chướng này không câu hữu với thức dị thục; vì
thức này mờ nhạt, vi tế, và không tương ưng với vô minh hay huệ.
Vì thức này cùng hiện khởi với trí phẩm về pháp không.
Trong bảy chuyển thức, số tương ưng nhiều hay ít với
sở tri chướng,
tùy theo sự thích hợp như phiền nào não mà nói.
Năm thức, kể từ mắt, vì không có sự phân biệt,
nên tất nhiên không tương ưng với pháp kiến và pháp nghi các thứ.
Còn lại, có ý lực, đều có thể dẫn khởi.
Loại chướng này chỉ tương ưng với hai loại tâm là bất
thiện và vô ký.
Vì Luận nói vô minh chỉ thông với tính bất thiện và vô ký. Vì si và vô
si không tương ưng với nhau.
Trong phiền não chướng tất có sở tri chướng.
Vì chúng lấy sở tri chướng làm sở y. Thể tuy không khác, nhưng dụng khác
biệt. Do đó, hai loại tùy miên tùy theo tác dụng của Thánh đạo,
có thắng có liệt, nên sự đoạn trừ có trước có sau.
Sở tri chướng này, trong tính chất vô ký vô phú, nó là
dị thục sinh, chứ không phải ba loại kia.
Tức vì thế dụng của oai nghi các thứ mỏng và yếu nên không thể là sở tri
chướng che lấp bồ-đề. Từ Nhị thừa mà nhìn, nó là vô phú, nhưng từ Bồ-tát
mà nhìn nó cũng là hữu phú.
Nếu sở tri chướng có kiến và nghi các thứ, vì sao
chủng tử của nó được nói trong Khế kinh là vô minh trụ địa?
Vì vô minh nên tổng quát nói là vô minh, chứ không phải không có kiến
các thứ. Như từ chủng tử phiền nào mà lập bốn trụ địa là kiến nhất xứ,
Dục ái, Sắc ái, và Vô sắc ái.
Trong đó há không có mạn, vô minh?
Trong hai loại chướng như vậy, những gì được phát khởi
bởi phân biệt thuộc kiến sở đoạn; nhưng gì phát khởi tự nhiên thuộc tu
sở đoạn.
Hang Nhị thừa chỉ có thể đoạn phiền não chướng. Bồ
tát đoạn từ cả hai.
Vĩnh viến đoạn trừ chủng tử của chúng duy chỉ bằng
Thánh đạo.
Trấn áp hiện hành của hai loại ấy cũng bằng cả hữu lậu đạo. Bồ tát đứng
vững trong giai đoạn tư lương này tuy có thể trấn áp hiện hành phần thô
của hai chướng, nhưng phân vi tế và tuy miên của chướng chừa thể trấn áp
để diệt trừ vì năng lực chỉ quán còn yếu.
Trong giai đoạn này chân như của duy thức chưa được
chứng; y vào lực xác tín mà tu các thắng hành, nên biết, nó cũng được kể
trong giải hành địa.
Những yếu tố để tu tập thắng hành ấy là gì? Tóm tắt,
có hai, phước và trí. Trong thắng hành, những gì có tính thuộc huệ đều
được gọi là trí. Ngoài ra, đều là phước.
Vã, y vào sáu ba-la-mật-đa, cả sáu đều có dặc tính
là phước và trí. Về đặc tính riêng, năm ba-la-mật-đa đầu là phước đức.
Thứ sau là trí tuệ. Hoặc, nói cách khác, ba ba-la-mật đầu duy chỉ thuộc
phước đức. Một ba-la-mật cuối chỉ thuộc trí. Còn lại, thông cả hai.
Lại có hai loại thắng hành khác: tự lợi và lợi tha.
Thắng hành được tu tập, tùy theo ảnh hưởng của ý lạc mà tất cả đều thông
cả hành tự lợi và lợi tha. Y theo đặc tính riêng biệt mà nói,sáu
ba-la-mật và các bồ-đề phần đều thuộc hành tự lợi. Bốn nhiếp sự, bốn vộ
lượng các thứ, tất cả đều thuộc lợi tha hành.
Những sự sai biệt như vậy thật là không cùng tận,
thảy đều là thắng hành được tu tập trong giai vị này.
Trong giai vị vị, hai chướng tuy chưa được trấn áp
trừ diệt, khi tu thắng hành có ba trường hợp khiến thối khuất nhưng có
thể bằng ba yếu tố để mài luyện tâm
mà
dũng mãnh tu tập không để thoất thất đối với những gì đã chứng được.
1. Nghe đến sự sâu xa rộng lớn của Vô thượng chính
đẳng bồ-đề tâm liền thối khuất, nhưng ngĩ đến có những vị khác đã chứng
đại bồ-đề, lấy đó mà mài luyên tâm khiến dũng mành không thoái thất.
2. Nghe nói đến sự tu tập các ba-la-mật cực kỳ khó
hành tâm liên thối khuất, nhưng bằng sự tự xét mình đã có ý lạc có thể
tu các ba-la-mật, lấy đó mà mài luyên tâm khiên trở thành dũng manh
không thối thất.
3. Nghe nói đến sự chuyển y viên mãn của chư Phật
là cực kỳ khó chứng tâm liền thối khuất, nhưng gằng cách nghĩ đến điều
thiện thô hiển của kẻ khác trong khi đó mình đã có nhân vi diệu hơn, lấy
đó mà mài luyện tâm khiên trở thành dũng mãnh không thối thất.
Do ba yếu tố ấy mà mài luyện tâm trở thành kiên cố,
nhiệt hành, tu các thắng hành.
2. GIA HÀNH VỊ
Thứ đến, gia hành vị, đặc tính như thế nào?
Tụng;
現前立少物
謂是唯識性
以有所得故
非實住唯識 //28/
Ngay hiện tiền dựng dậy một
vật gì đó, cho rằng đó là duy thức tính. Nhưng vì có cái được thủ dắc,
nên không thất sự trụ trong duy thức tính.
Luận:
Bồ tát trước tiên ở trong vô số kiếp thứ nhất khéo léo
hoàn bị các tư lương phước đức và trí tuệ, đã viên mãn thuận giải thoát
phần, với mục đích nhập kiến đạo, an trụ trong duy thức tính, lại tu tập
gia hành với noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất,
để trấn áp và đoạn trừ hai thủ.
Bốn gia hành này gọi chung là thuận quyết trạch
phần, vì thuận dẫn hướng đến sự quyết trạch sự chân thật.
Do gần với kiến đạo nên gọi là gia hành,
chứ không phải trong giai đoạn tư kương trước đó không hàm nghĩa gia
hành.
Bốn pháp, kể từ noãn, y bốn tầm tư, bốn như thật
trí, theo giai đoạn đầu và cuối cuối mà lập.
Bốn tầm từ là tầm tư danh, nghĩa, tự tính và sai
biệt,
tồn tại chỉ là giả danh mà thực tế là không tồn tại.
Sự biến tri như thực về bốn điều này là không tách
rời ngoài thức và thức cũng không thực hữu, đó gọi là như thật trí.
Đặc tính của danh và nghĩa khác nhau do đó sự tầm
cầu riêng biệt, nhưng cả hai có hai sự tương đồng
do đó tổng hợp mà tư sát.
Y chỉ minh đắc định phát khởi hạ phần tầm tư quán
không tồn tại sở thủ, lập làm trình độ noãn. Ở trong trình độ
này bắt đầu quán sát sở thủ là bốn pháp kể từ danh, rằng thảy đều là
biến thái của tâm được khái niệm giả định như là thực hữu nhưng không
thể bắt nắm. Đầu tiên có được măt trời tuệ đi trước, do hành tướng đó mà
gọi là minh đắc. Tức đó là do là ngọn lửa của đạo mới nhận được làm dấu
hiệu dẫn đường nên nói là noãn.
Y chỉ minh tăng định, phát khởi tầm từ bậc thượng,
quán sở thủ không tồn tại, lập làm trình độ đỉnh. Ở trong trình độ này,
quán lặp lại về sở thủ là bốn pháp kể từ danh, rằng thảy đều là biến
thái của tâm, được khái niệm giả định như là tồn tại, nhưng không thể
bắt nắm. Minh tướng càng trở mãnh liệt hơn, do đó gọi là minh tăng.
Trình đô tầm tư ở đỉnh cao, nên gọi là đỉnh.
Y ấn thuận định,
phát khởi hạ phần như thật trí, ghi dấu ấn
một cách quyết định vào sự không sở thủ, và cũng có thuận lạc nhẫn
trong sự không tồn tại năng thủ. Cảnh đã không thực sự tồn tại tách biệt
ngoài thức năng thủ, há thật sự tồn tại thức tách rời cảnh sở thủ? Vì
năng thủ và sở thủ tồn tại trong quan hệ đối đãi. Khi có ấn thuận nhẫn,
gọi chung là nhẫn. Ấn trước, thuận sau đặt tên là ấn thuận. Nhẫn, ghi
nhận cảnh và thức đều không do đó cũng gọi là nhẫn.
Y vô gián định
phát khởi thượng phẩm như thật trí ghi dấu ấn hai thủ không, lập thế đệ
nhất pháp. Trước đó nhẫn thượng phẩm duy chỉ ghi dấu ấn năng thủ không,
ở đây thế đệ nhất pháp ghi dấu ấn cả hai đặc tính đều không. Từ đây một
cách vô gián chắc chắn nhập kiến đạo, do đó lập tên là vô gián.
Trong pháp dị sinh, nó la tối thắng, do đó gọi là thế đệ nhất pháp.
Như vậy, noãn và đỉnh y nơi thức năng thủ mà quán
sở thủ là không. Khi nhẫn bậc hạ phát sinh, đặc tính không của cảnh đối
tượng được ấn khả. Nhẫn bậc trung, trình độ tiến thêm, thuận lạc mà ấn
khả thức năng thủ cũng như cảnh là không. Trong trình đọ khi nhẫn bậc
thượng phát sinh, năng thủ được ấn khả là không. Thế đệ nhất pháp ấn khả
đặc tính không của cả hai, khách và chủ thể.
Thảy đều còn mang dấu vết ấn tượng chứ chưa thật sự
chứng nghiệm, do đó nói Bồ tát trong bốn trình độ này dựng lên một cái
gì đó ngay trước mặt, nói rằng đó là chân thắng nghĩa duy thức tính. Vì
ở đây hai đặc tính không và hữu chưa bị loại trừ, tâm vẫn còn ghi dấu ấn
tượng khi quán sát, còn có cái được bắt nắm, cho nên không thật sự an
trụ trong lý chân duy thức. Khi nào ấn tượng ấy biến mất mới thật sự an
tru.
Y trên ý nghĩa này, có bài tụng nói: “Bồ tát trong
trạng thái định, quán sát ảnh tượng duy chỉ là tâm, ấn tượng đối tượng
tức thì biến mất. Quán sát kỹ duy chỉ là tưởng của tự tâm. Bằng sự an
trú nội tâm như vậy, biết rằng sở thủ không tồn tại, rồi đến năng thủ
cũng không, cuối cùng duy nhất là vô sở đắc.”
Trong giai vị gia hành này sự hệ phược bởi tướng
chưa bị loại bỏ, hệ phược thô trọng cũng chưa bị cắt đứt.
Duy chỉ có thể trấn áp trừ diệt hai thủ, vì chúng trái nghịch với kiến
đạo. Nhưng hai thủ thuộc loại câu sinh và tùy miện của chúng tâm tâm
quán sát thuộc hữu lậu, vì còn có cái để bắt nắm, và vì có phân biệt, do
đó, chưa hoàn toàn bị trấn áp và trừ diệt.
Trong giai vị này, Bồ tát học quán sát cả nơi an
lập đế
và phi an lập đế, vì để dẫn phát hai loại kiến đạo trong tương lai, vì
trấn áp hai loại chướng thuộc phân biệt, do đó phi an lập đế là đối
tượng quán sát chính thức, không phải như Nhị thừa chỉ quán sát an lập
đế.
Bồ tát y vào các thiện căn này, kể từ noãn, tuy
trong khi phương tiện thông cả các tĩnh lự,
nhưng y trên tĩnh lự thứ tư mới được thành mãn, vì cần phải nương trên
sở y tối thắng mà vào kiến đạo. Duy y trên thân thuộc thiện thú trong
Dục giới mà phát khởi, vì ở nơi khác tâm yếm ly của tuệ không đặc sắc.
Giai vị này cũng thuộc trong giải hành địa,
vì chưa chứng chân thắng nghĩa duy thức.
3. THÔNG ĐẠT VỊ
Tiếp theo là thông đạt vị, đặc tính như thế nào?
Tụng:
若時於所緣
智都無所得
爾時住唯識
離二取相故 //28/
Khi mà
trí hoàn toàn không nắm bắt sở duyên, lúc bấy giờ nó trụ trong duy thức
tính, vì đã lìa tướng của hai thủ.
Luận:
1. Vô phân biệt trí
Khi mà trí vô phân biệt của Bồ tát hoàn toàn không
có sự nắm bắt
nơi cảnh sở duyên, vì không chấp thủ các hình thái hý luận; lúc bấy giờ
mới thật sự nói là trụ trong chân thắng nghĩa duy thức tính, tức chứng
chân như, vì trí và chân như đều bình đằng, tuyệt đối bình đẳng, cả hai
đều loại bỏ các đặc tính năng và sở thủ, và vì các đặc tính năng và sở
thủ đều là tâm phân biệt, còn có cái để nắm bắt, là hiện hành của hý
luận.
Có giải thích nói trí này không có cả hai phần, vì
được nói
rằng nó không có tướng của năng thủ, sở thủ.
Giải thích khác nói trí này vẫn có đủ cả tướng và
kiến, vì đối tượng sở duyên của nó là cái được ghi ảnh tượng trên nó.
Nếu không mang ảnh tượng của cái ấy mà gọi cái là đối tương của nó, thì
nhận thức về sắc cũng là nhận thức về thanh các thứ. Nếu không có kiến
phần, nó không thể vươn đến đến đôiư tượng, làm sao có thể nói đó là trí
lấy chân như làm đối tượng? Không thể nói chân như tính cũng là cái vươn
đến đối tượng. Vì vậy, cần phải khẳng đinh trí này có kiến phần.
Giải thích lại nói, trí này có kiến phần nhưng
không có tướng phần. Vì được nói rằng thủ mà không có tướng, vì không
chấp thủ tướng.
Tuy có kiến phần, nhưng nó là vô phân biệt. Nói rằng không có năng thủ,
không phải hoàn toàn không có thủ. Tuy không có tướng phần nhưng khi
khởi nó mang theo ảnh tượng của chân như, vì nó không tách lìa ngoài
chân như. Như tự chứng phần khi duyên đến kiến phần, nó không biến thái
để duyên;
ở đây cũng vậy. Biên thái để mà duyên đến, không phải là chứng nghiệm
trực tiếp, như trí hậu đắc, hẵn phải có phân biệt.
Cho nên, cần phải thừa nhận trí này có kiến phần nhưng không có tướng
phần.
2. Kiến đạo
Bằng sự gia hành không gián đoạn, khi trí này phát
sinh, chân như được thể hội, giai đoạn này được gọi là thông đạt vị. Vì
lần đầu tiên soi chiêu chân lý, nên cũng được gọi là kiến đạo.
Tuy nhiên, tóm tắt mà nói,kiến đạo ở đây có hai:
a. Chân kiến đạo, tức vô phân biệt
trí như đã được đề cập. Bằng trí này mà thật chứng chân lý được hiển thị
bởi hai không, thật sự đoạn trừ tuy miên của hai chướng thuộc loại phân
biệt. Tuy trải qua nhiều sát-na thì sự mới cứu canh, nhưng các đặc tính
đều đồng đẳng do nó gọi chung là một tâm.
Có giải thích nói trong đây hai không được tiệm
chứng và hai chướng được tiệm đoạn, vì có sự khác biệt về sâu và cạn,
thô và tế.
Giải thích khác nói, trong đây, hai không và hai
hai chướng đều được đốn chứng và đốn đoạn, vì do ảnh hưởng bởi ý lạc mà
có sự kham năng.
b. Tướng kiến đạo. Ở đay lại có hai:
i. Phi an lập đế.
Quán chân đế phi an lập có ba phẩm tâm: (1) Bằng duyên trí nội tại loại
trừ hữu tình giả
mà đoạn trừ các tùy miên phân biệt thuộc tầm yếu. (2) Bằng duyên trí nội
tại loại trừ pháp giả mà đoạn trừ tùy phiền não phân biệt thuộc tầm
trung. (3) Phổ biến bằng duyên trí loại trừ cả hữu tình và pháp giả mà
đoạn trừ tất cả tùy miên thuộc loại phân biệt.
Hai trí đầu gọi là pháp trí, vì duyên đến đối tượng
riêng rẻ. Trí thứ ba được gọi là loại trí, vì duyên tổng hợp.
Pháp chân kiến đạo
được thiết lập y trên biệt và tổng của vô gián đạo và giải thoát đạo
đối với các chướng bị đoạn trừ của nó thuộc kiến phần của hai không, gọi
là tướng kiến đạo.
Có giải thích nói ba tâm này đều chân kiến đạo, vi
tướng kiến đạo duyên đến bốn Thánh đế.
Giải thích khác nói, cả ba đều là tướng kiến đạo,
vi trong chân kiến đạo không có sự duyên đến các hành tướng riêng biệt.
ii. An lập đế.
Duyên an lập đế
làm đối tượng có mười sáu tâm. Ở đây lại có hai:
a. Một, y quán sở thủ và năng thủ, cá biệt lập
thành pháp và loại gồm mười sáu tâm. Tức là, ở nơi khổ đế có bốn tâm: 1.
Khổ pháp trí nhẫn,
quán chân như của khổ đế trong ba giới, chính thức đoạn trừ 28 loại tùy
miên phân biệt
thuộc loại bị đoạn trừ khi thấy khổ. 2. Khổ pháp trí, nhẫn trực tiếp
không gián cách, quán chân như trước đó, chứng nghiệm sự giải thoát do
đoạn trừ phiền não nói trước đó.
3. Khổ loại trí nhẫn, trí vô gián tuệ vô lậu phát sinh, nội thân chứng
nghiệm cá biệt nơi pháp nhẫn trí, tức phần theo sau này cũng là loại tợ
của Thánh pháp.
4. Khổ loại trí, tiếp theo đó vô gián phát sinh trí vô lậu, thẩm định ấn
khả khổ lọai trí nhẫn.
Ở trong khổ đế có bốn tâm, trong tập, diệt và đạo,
nên biết, cũng như vậy.
Trong mười sáu tâm này, tám quán chân như, tám quán
chính trí.
Pháp chân kiến đạo được thiết lập y trên sự sai
biệt của kiến và chứng phần với vô gián đạo và giải thoát đạo,
được gọi là tướng kiến đạo.
b. Thứ hai, y quán cảnh chân đế hạ giới và thượng
giới lập pháp và loại với mười sáu tâm. Tức là, quán bốn chấn đê, từ
khổ, thuộc giới hệ hiện tiền và không hiện tiền,
mỗi đế có hai tâm: hiện quán nhẫn, và hiện quán trí. Tùy theo sự thích
hợp, hiện quán Thấnh đế với kiến phần của vô gián, giải thoát, trong
pháp chân kiến đạo.
Đaọn trừ 128 tùy miên phân biêt thuộc loại bị đoạn
trừ trong kiến đạo, gọi là tướng kiến đạo.
3. Chín loại tâm
Nếu y theo đạo lý của sự quáng bá Thánh giáo, nói
tướng kiến đạo có chín tâm. Đây là đặc biệt
thiết lập y nơi chỉ quán duyên an lập đế nói trước đó làm đối tượng với
hai loại mười sáu tâm. Theo đó, nhẫn và trí thuộc pháp và loại được tổng
hợp
thành mỗi loại có bốn quán tức là tám tâm. Chỉ tương ưng với tám, nói
chung làm một.
Tuy trong kiến đạo, chỉ và quán được song vận,
nhưng ý nghĩa của kiến thuận với quán hơn là chỉ, cho nên có sự khai và
hiệp bất đồng cho quán và chỉ. Do đó, chín tâm này được gọi là tướng
kiến đạo.
Y theo chân và giả
mà nói rằng các tướng kiến đạo phát sinh trực tiếp vô gián từ thế đệ
nhất pháp và đoạn trừ tùy miên, nhưng thật sự không phải như vậy. Nó chí
phát sinh sau chân kiến đạo, vì không phải rằng sau phi an lập mới khởi
an lập. Và tùy miên thuộc loại phân biệt được đoạn trừ ngay trong chân
kiến đạo.
Trước là chân kiến đạo chứng duy thức tính, sau đó
là tướng kiến đạo chứng duy thức tướng. Trong hai, trường hợp đầu ưu
thắng, do đó tụng đặc biệt đề cập.
Chân kiến đạo đi trước thuộc căn bản trí. Tướng
kiến đạo theo sau thuộc hậu đắc trí.
4. Hậu đắc trí
Các trí hậu đắc
có hai phần không?
Có thuyết nói, thảy đều không, vì lìa hai thủ.
Thuyết khác nói, trí này có kiến nhưng không có
tướng phần. Vì nó thuộc phẩm loại có phân biệt. Vì các Thánh trí thảy
đều có thể trực tiếp chiếu cảnh.
Do không có chấp trước mà nói là lìa hai thủ.
Lại thuyết khác nói, trí này có đủ cả hai phần, vì
được nói rằng nó tư duy về tướng tương tợ chân như, chứ không thấy chân
thật chân như tính.
Lại nói, vì trí này phân biệt tự tướng, cộng tướng các thứ của các pháp,
rồi quán sát sự sai biệt căn tính của các hữu tình mà thuyết pháp.
Lại nói, trí này hiện bản thân và quốc độ, thuyết pháp cho các hữu tình.
Nếu không biến hiện ảnh tợ sắc, thanh các thứ, làm sao có thể có những
sự việc như hiện thân thuyết pháp?
Và rồi, sự chuyển sở y sắc uẩn mà không hiện được sắc; chuyển sở y bốn
uẩn mà không có thọ các thứ.
Lại nữa, nếu trí này không biến tợ cảnh làm đối
tượng
như là đối tượng, nhưng pháp tách lìa ngoài tự thể thì không thể là đối
tượng sở duyên, và như vậy khi duyên đến màu xanh chẳng hạn hẵn cũng là
duyên âm thanh. Lại nữa, khi duyên đến pháp vô thể
chẳng hạn hẵn là không có sở duyên duyên, vì thể của pháp ấy không thật,
không có tác dụng làm duyên.
Do ý nghĩa này, hậu đắc trí có đủ cả hai phần.
5. Sáu hiện quán và hai kiến đạo
Hai kiến đạo này và sáu hiện quán, quan hệ bao hàm
lẫn nhau như thế nào?
Sáu hiện quán:
1. Tư hiện quán. đó là tuệ được tác
thành bởi tư tối thượng phẩm tương ưng hỷ thọ. Nó quán sát cọng tướng
của các pháp, dẫn sinh noãn các thứ.
Trong gia hành đạo, tác dụng quán sát các pháp của nó mãnh liệt nhất,
nên đặc biết lập thành hiện quán.
Các pháp như noẫn v.v. không phân biệt pháp một
cách chi tiết, lại cũng chưa chứng nghiêm thật lý, do đó không phải là
hiện quán.
2. Tín hiện quán. Đó là tịnh tín
quyết định thuộc thế gian và xuất thế gian, duyến đến đối tượng là Tam
bảo.
Nó hỗ trở hiện quán để không thối chuyển do đó được lập làm hiện quán.
3. Giới hiện quán. Đó là vô lậu giới.
Nó trừ diệt cáu bẩn của sự pháp giới, kiến quan được thêm sang, do đó
cũng được gọi là hiện quán.
4. Hiện quán trí đế biên hiện quán.
Đó là trí vô phân biệt căn bản và hậu đắc, một cách triệt để, duyên phi
an lập làm đối tượng.
5. Hiện quán biên trí đế hiện quán.
Đó là trí xuất thế gian, duyên các an lập làm đối tượng, sau hiện quán
trí đế hiện quán.
6. Cứu cánh hiện quán. Trí thuộc giai
đoạn cứu cánh, tức tận trí các thứ.
Trong đay, chân kiến đạo bao hàm một phần nhỏ hiện
quán thứ tư. Tướng kiến đạo bao hàm một phần nhỏ hiện quán thứ tư và thứ
năm. Hiện quán thứ hai và thứ ba ở đây cùng khởi nhưng không cùng tự
tính nên khôngbao hàm lẫn nhau.
Bồ tát khi đạt đến hai kiến đạo này là sinh vào gia
tộc Như Lai, trụ Cực hỷ địa,
thiện xảo thông đạt pháp giới, đạt được các bình đẳng, thường xuất hiện
trong các đại tập hội của chư Phật, đã được tự tại trong tăm môn, yự
biết không bao lâu nữa chứng đại bồ-đề, suốt cùng vị lai làm lợi cho tất
cả.
4. TU TẬP VỊ
Thứ đến, tu tập vị, đặc tính như thế nào?
Tụng:
無得不思議
是出世間智
捨二[色-巴+鹿]麁重故
便證得轉依
//29/
Vô đắc,
bất tư nghị, nó là trí xuất thê gián. Do loại bỏ hai phần thô trọng mà
chứng đắc chuyển y.
[114]
Luận:
1. Chuyển y
Bồ tát kể từ khi kiến đạo trước đó đã khởi, vì để
đoạn trừ các chướng còn lại và chứng đắc chuyển y, lại thường xuyên tu
tập trí vô phân biệt. Trí này viễn ly sở thủ và năng thủ nên được nói là
vô đắc và bất từ nghị.
Hoặc nó loại bỏ hý luận mà nói là vô đắc. Diệu của nó khó thăm dò nên
nói là bất tư nghị.
Đó là trí vô phân biệt xuất thế gian. Vì cắt đứt
với thế gian nên nên nói là xuất thế gian.
Tùy miên của hai thủ là gốc rễ của thế gian, duy chỉ bằng trí này chúng
mới có thể bị cắt đứt, do đó chỉ nó mới được nêu tên.
Hoặc từ xuất thế được nói theo hai ý nghĩa: thể vô lậu và chứng chân
như. Trí này đầy đủ cả hai nghĩa như vậy nên chỉ nó được nêu tên là xuất
thế, các trí khác
thì không được vậy. Tức trí vô phân biệt trong mười địa.
Do thường xuyên tu tập mà loại bỏ hai phần thô
trọng. Chủng tử của hai chướng được đặt gọi là thô trọng. Vì tính chất
của nó là khó sử dụng, và không vi tế nhẹ nhàng. Trí này do loại bỏ hai
thứ thô trọng ấy mà chứng đắc đại chuyển y.
Y tức sở y. Đó là y tha khởi,
vì nó làm sở y cho pháp nhiễm và tịnh. Nhiểm là biến kế sở chấp hư vọng.
Tịnh chỉ cho tính viên thành thật chân thật. Chuyển, đó là sự chuyển xả
và chuyển đắc đối với hai phần.
Do thường xuyên tu tập tri vô phân biệt đoạn trừ phần thộ trọng của hai
chướng trong bản thức, do đó mà chuyển xả biến kế sở chấp trên y tha
khởi, và chuyển đắc tính viên thành thật trong y tha khởi. Do chuyển
phiền não mà chứng đắc đại niết-bàn, chuyển sở tri chướng mà chứng vô
thượng giác. Thành lập duy thức là với ý hướng khiến hữu tính chứng đắc
hai quả chuyển y này.
Hoặc y chỉ cho chân như duy thức, vì là sở y của
sinh tử và niết-bàn. Phàm ngu do điên đảo mê mờ chân như này cho nên thọ
khổ sinh tử từ vô thủy. Thánh giả xả ly điên đảo, tỏ ngộ chân như này,
cho nên đạt được an lạc cứu cánh của niết-bàn. Do thương xuyên tu tập
trí vô phân biệt đoạn trừ phần thô trọng của hai chướng trong bản thức,
cho nên chuyển diệt sinh tử có sở y là chân như, mà chuyển chứng
niết-bàn có sở y chân như. Đây túwc là chân như tách rời tính tạp nhiễm.
Như tuy tính tịnh nhưng tướng của nó bị tạp nhiễm. Do đó, khi ly nhiễm
nói tượng trưng là thanh tịnh moiứ. Sjư thanh tịnh mới có này được gọi
là chuyển y.
Đây là sự đoạn chướng và chứng đắc trong tu tập vị.
Mặc dù trong giai đoạn cũng có sự chứng đắc bồ-đề,
nhưng không phải là điều được đề cập theo ý của bài tụng. Ý của bài tụng
chỉ đề cập duy thức tính được chuyển đổi. Giai đoạn viên mãn của Nhị
thừa được gọi là giải thoát thân.
Ở nơi Đại Mâu-ni, được gọi là Pháp thân.
Sự chứng đắc hai loại chuyển y này như thế nào?
Trong mười địa, tu mười thắng hành, đoạn trừ mười trọng chướng, chứng
mười chân như. Hau loại chuyển y do thế mà chứng đắc.
2. Mười địa
Mười địa, đó là:
1. Cực hỷ địa.
Vì đây là tối sơ tiếp nhận Thánh quả, chứng đủ hai không, làm được ích
lợi cho mình cho người, sinh đại hoan hỷ.
2. Ly cấu địa.
Vì đầy đủ tịnh thi-la, lìa xa cấu bẩn phiền não khiến hủy phạm những
điều vi tế.
3. Phát quang địa.
Vì thành tựu thằng định, đại pháp tổng trì,
phát ra ánh sáng vô biên của diệu tuệ.
4. Diệm tuệ địa.
Vì an trụ trong pháp bồ-đề phần tối thắng,
thiểu rụi cũi phiền não, làm bùng lớn ngọn lửa trí tuệ.
5. Cực nan thắng địa.
Vì tổng hợp sự mâu thuẫn đối nghịch hành tướng của hai trí chân và tục,
khiến cho cùng tương ưng, điều cực kỳ khó thực hiện.
6. Hiện tiền địa.
Vì trụ nơi trí duyên khởi,
dẫn phát bát-nhã tối thắng vô phân biệt
khiến cho hiện tiền.
7. Viễn hành địa.
Vì đã đạt đến giới hạn sau cùng của công dụng an trụ nơi vô tương, vượt
quá con đường thế gian và Nhị thừa.
8. Bất động địa.
Vì trí vô phân biệt vận hành tiếp nối một cách tự nhiên, tương, dụng
phiền não đều không thể làm dao động.
9. Thiện tuệ địa.
Vì đã thành tựu bốn vô ngại giải vi diệu, có thể thuyết pháp thiện xảo
khắp trong mười phương.
10. Pháp vân địa.
Vì là đám mây lớn đại trí, hàm chứa các nguồn nước công đức, che lấp tất
cả thô trọng, như hư không, Pháp thân sung mãn.
Mười địa như vậy có tự tính là tổng nhiếp các công
đức hữu vi và vô vi. Nó làm chỗ y tựa đặc sắc cho sự tu hành, khiến cho
được sinh trưởng, cho nđên được gọi là địa.
3. Mười ba-la-mật
i. Mười thắng hành, tức mười ba-la-mật-đa.
1. Thí có ba: tài thí, vô úy thí, pháp thí.
2. Giới có ba: luật nghi giới, nhiếp thiện giới,
nhiêu ích hữu tình giới.
3. Nhẫn có ba: nhẫn nại những sự gia hại của kẻ oán
ghét mình, an nhẫn thọ khổ, đế nhẫn quán sát pháp một cách chân thật.
4. Tinh tấn có ba: tinh tấn khóac khôi giáp, tinh
tấn nhiếp trì thiện, tinh tấn lợi lạc.
5. Tĩnh lự có ba: tĩnh lự an trụ, tĩnh lự dẫn phát,
tĩnh lự biện sự.
6. Bát nhãn có ba: tuệ vô phân biệt về sinh không,
tuệ vô phân biệt về pháp không, tuệ vô phân biệt về cả hai không.
7. Phương tiện thiện xảo có hai: phương tiện thiện
xảo về hồi hướng, phương tiện thiện xảo về bạt tế.
8. Nguyện có hai: nguyện cầu bồ-đề, nguyện lợi lach
hữu tình.
9. Lực có hai: lực tư trạch, lực tu tập.
10. Trí có hai: trí thọ dụng pháp lạc, trí thành
thục hữu tình.
ii. Về tự tính của mười hành này, thí có tự tính là
vô tham và ba nghiệp được phát động bởi vô tham. Giới có tự tính là ba
nghiệp khi thọ trì học xứ Bồ tát. Nhẫn có tự tính là vô sân, tinh tấn,
thẩm sát tuệ, và ba nghiệp được phát động bởi chúng. Tinh tấn có tự tính
là cần và ba nghiệp được phát động bởi cần. Tĩnh lự chỉ lấy đẳng trì, sự
tập trung, làm tự tính. Năm hành sau có tự tính là trạch pháp, vì được
nói là căn bản trí và hậu đắc trí.
Có giải thích nói thắng hành thứ tám có tự tính là
dục, thắng giải, và tín. Vì ba điều này là bản tính của nguyện.
Nếu đây là nói về tự tính. Nếu nói đến nhứng phụ
trợ, thì tự tính của mỗi hành là hết thảy công đức phụ hành.
iii. Về hành tướng của mười hành, mỗi ba-la-mật cần
được bao hàm bởi bảy hành tướng tối thắng mới có thể được thiết lập.
1. Tối thắng về an trụ: cần thiết phai an trụ trong
chủng tính Bồ tát.
2. Tối thắng về y chỉ: cần phải y chỉ tâm đại bồ
đề.
3. Tối thắng về ý lạc: cần phải bi mẫn đối với hết
thảy hữu tình.
4. Tối thắng về sự nghiệp: cần phải thực hiện đầy
đủ tất cả sự nghiệp.
5. Tối thắng về phương tiện thiện xảo: cần phải
được nhiếp thọ bởi trí vô tướng.
6. Tối thắng về hồi hướng: cần phải hồi hướng đến
vô thượng bồ-đề.
7. Tối thắng về thanh tịnh: cần phải không bị gián
tạp bởi hai chướng.
Nếu không được bao hàm bởi bảy điều này, những sở
hành như thí v.v. chẳng phải là đáo bỉ ngạn.
iv. Ở đây số chỉ có mười, không nhiều hơn không ít
hơn, vi trong thập địa để đối trị mười chướng, chứng mười chân như.
Lại nữa, sáu hành đầu không thêm không bớt là vì để
diệt trừ sáu thứ chướng trái nghịch, tiệm thứ tu hành các Phật pháp, và
tiệm thứ thành thục các hữu tình. Những điều còn lại, nên biết, chi tiết
cũng như vậy.
Lại nữa, bà hành kể từ thí là tăng thượng sinh đạo,
vì chiêu cảm tài sản lớn, thể chất lớn và quyến thuộc lớn. Ba hành tiếp
theo kể từ tinh tấn là quyết định thắng đạo,
vì trấn áp phiền não, thành thục hữu tình và Phật pháp.
Lại nữa, ba hành đầu, thuộc nhiêu ích hữu tình: cho
chúng tư tài, không gây tổn hại chúng, kham nhẫn những quấy rối của
chúng, do đó làm lợi ích cho chúng. Ba hành tiếp từ tinh tấn, đối trị
phiền não. Mặc dù chưa trán áp trừ diệt nhưng tinh cần tu các thiện gia
hành đối trị chúng; tĩnh lự, vĩnh viễn trấn áp, và trí tuệ vĩnh viễn trừ
diệt.
Lại nữa, do ba hành đầu mà không trụ niết-bàn, và
do ba hành tiếp theo mà không trụ sinh tử, lấy đó làm tư lương cho
niết-bàn vô trụ xứ. Do vậy, sàu hành này không nhiều hơn, không ít hơn.
Duy chỉ bốn ba-la-mật cuối, vì để hỗ trợ sáu hành
đầu tu hành trọn đủ, không nhiều hơn không ít hơn. Phương tiện thiện
xảo trơ ba hành đầu. Nguyện, trợ tinh tấn. Lực, trọ tĩnh lự. Trí, trọ
bát-nhã, khiến cho tu tập hoàn mãn. Chi tiết, nên biết, như trong kinh
Giải thâm mật.
v. Về thứ tự của mười hành: do ba-la-mật đi trước
dẫn phát ba-la-mật tiếp theo sau; và do ba-la-mật theo theo duy trì và
làm thanh tịnh ba-la-mật đi trước. Lại nữa, ba-la-mật đi trứoc còn thô,
càng về sau càng tinh tế, sự tu tập từ dễ đến khó. Thứ tự là như vậy.
vi. Về ý nghĩa tổng thể và cá biệt của các tên gọi
các ba-la-mật, như được đề cấp nhiều nơi khác.
vii. Về sự tu tập mười hành này, có năm: 1. Y chỉ
nhiệm trì tu, 2. y chỉ tác ý tu, 3. y chỉ ý lạc tu, 4. y chỉ phương tiện
tu, 5. y chỉ tự tại tu. Y chỉ năm tu tập này mà tu tập mười ba-la-mật
thảy đều được viên mãn. Các yếu tố chi tiết như được nói trong Tập
luận,
và các Luận khác.
viii. Về sự bao hàm lẫn nhau của mười hành: mỗi một
hành trong mười hành đều bao hàm các hành còn lại, vì hỗ tương tùy
thuận.
Y nơi sự tu tập của hành trước mà dẫn khởi hành
sau. Về phương diện này hành trước bao hàm hành sau, vì hành sau tùy
thuộc hành trước. Hành sau không bao hàm hành trước, vì hành trước không
tùy thuộc hành sau.
Y nơi sự tu tập hành sau mà duy trì và làm thanh
tịnh hành trước. Về phương diện này, hành sau bao hàm hành trước, vì duy
trì và thanh tịnh hành trước. Hành trước không bao hàm hành sau, vì
không duy trì và làm thanh tịnh hành sau.
Nếu y theo thuần và tạp mà tu tập, các hành quan hệ
với nhau trong bốn trường hợp.
ix. Cac thắng hành thật sự có mười nhưng chỉ nói
sáu, nên biết, bốn ba-la-la-mật cuối được bao hàm trong ba-la-mật thứ
sáu. Triển khai thành mười, thứ sáu chỉ còn thuộc về trí vô phân biệt.
Bốn còn lại đều là trí hậu đắc, vì lấy thế tục làm đối tượng.
x. Quả của mười thắng hành, về hữu lậu, có bốn, trừ
quả ly hệ. Vô lậu, có bốn, trừ quả dị thục.
Nhưng có nơi nói, đủ cả năm quả.
Đó là nói theo phương diện hoặc tư trợ lẫn nhau, hoặc kết hợp cả hai.
xi. Mười thắng hành và ba học bao hàm lẫn nhau.
Giới học có ba: 1. Luật nghi giới, chân chính tránh xa những pháp cần
tránh xa. 2. Nhiếp thiện pháp giới, chân chính tu chứng pháp cần được
chứng. 3. Nhiêu ích hữu tình giới: chân chính lợi lạc hết thảy hữu tình.
Điều này, cùng với Nhị thừa, có cộng và bất cộng,
sâu xa, rộng lớn, như được nói ở nhiều nơi khác.
Định học có bốn: 1. Đại thừa quang minh định,
vì định này phát ra ánh sáng trí tuệ rọi sáng lý, giáo, hành, và quả của
Đại thừa. 2. Tập phước vương định, vì định này tích tập một cách tự tại
vô biên phước như thế lực của vua không gì có thể sánh ngang bằng. 3.
Hiền thủ định, vì đinh này thủ hộ pháp hiền thiện thế gian và xuất thế
gian. 4. Kiện hành định, vì đây là sở hành của Phật, Bồ tát, và các hữu
tình đại dũng kiện. Sở duyên, đối trị kham năng, dẫn phát và tác nghiệp
của bốn định này như được nói ở nơi khác.
Tuệ học có ba: 1. Tuệ vô phân biệt thuộc gia hành.
2. Tuệ vô phân biệt thuộc căn bản. 3. Tuệ vô phân biệt thuộc hậu đắc. Tự
tính, sở y, nhân duyên, sở duyên, và hành của ba tuệ này như được nói ở
nhiều nơi khác.
Về ba tuệ này, trong hai giai vị đầu có chủng tử
của vả ba; trong gia hành chi có hiện hành. Trong thông đạt vị, có hiện
hành của hai tuệ, chúng tử đủ ba. Vì trong kiến đạo vị không có gia
hành.
Trong tu tập vị, bảy địa về trước, hoặc chủng tử, hoặc hiện hành, đểu đủ
cả ba tuệ. Địa thứ tàm trở đi, hiện hành có hai,
chủng tử có ba. Vì vô công dụng đạo trái với gia hành. Và vì ở đây mội
tiến thú đều cần đến hậu đắc
mà trong vô lậu quán nó hiện khởi một cách tự nhiên. Trong cứu cánh vị
hiện hành và chủng tử đều có hai, vì hiện hành và chủng tử của gia hành
đều đã xả.
Về sự bao hàm theo tự tính, giới chỉ bao hàm giới,
định bào hàm tĩnh lự, tuệ bao hàm năm ba-la-mật cuối. Nêu là trợ bạn,
thảy đều bao hàm lẫn nhau đủ cả.
Về bao hàm theo dụng, giứo bao hàm ba ba-la-mật
đầu, vì đó là tư lưong, tự thể và quyên thuộc. Định bao hàm tĩnh lự. Tuệ
bao hàm năm hành cuối. Tinh tấn bao hàm ba cả ba học, vì sách lệ khắp cả
ba.
Về bao hàm theo phương diện hiển thị, giới bao hàm
bốn hành đầu trong đó ba như đã nói, vì thủ hộ. Định bao hàm tĩnh lự.
Tuệ bao hàm năm hành sau.
xii. Hiện hành và chủng tử
Mười hành vị này, trong năm giai vị đều có đủ.
Trong tu tập tập vị, hành tướng của chúng rõ ràng nhất. Nhưng trong hai
giai vị đầu, nơi Bồ tát hạng đốn ngộ chủng tử thông cả hai, hữu lậu và
vô lậu; hiện hành duy chỉ hữu lậu. Nơi Bồ tát hạng tiệm ngộ hoặc chủng
tử hoặc hiện hành đều thông cả hai, hữu lậu và vô lậu, vì đã được được
vô lậu quán về sinh không. Trong thông đạt vị, chủng tử thông ca hai,
hữu lậu và vô lậu; hiện hành duy chỉ vô lậu. Trong tu tập vị, bảy địa về
trước, chủng tử và hiện hành thông cả hữu lậu và vô lậu; từ địa thứ ta,f
trở đi chủng tử thông cả hai, hiệnhành duy chỉ vô lậu. Trong cứu cánh
vị, hoặc hiện hành, hoặc chủng tử, thảy đều duy chỉ vô lậu.
xiii. mười ba-la-mật trong giai đoạn tu nhân, có ba
tên gọi;1. Viễn ba-la-mật-đa, trong vô số kiếp thứ nhất, bấy giờ thế lực
bố thí các thứ còn yếu, bị phiền não chế ngự chứ chưa chế ngự được
chúng, do đó phiền não hiện hàn mà không hay biết. 2. Cận ba-la-mật-đa,
trong vô số kiếp thứ hai, bấy giờ thế lực của thí v.v. dần dần lớn mạnh,
không bị phiền não chế ngư mà trái lại có thể chế ngự chúng, do đó, chỉ
với cố ý phiền não mới hiện hành. 3. Đại ba-la-mât-đa, trong vô số kiếp
thứ ba, bấy giờ thế lực của thí v.v. càng lúc càng lớn mạnh có thế rốt
ráo trấn phục hết thảy các phiền não, do đó mà phiền não vĩnh viễn không
hiện hành, nhưng còn một lớp mỏng hiền hành và chủng tử của sở tri
chướng cùng với chủng tử phiền não nên chưa đến đạt cứu cánh.
Ý nghĩa sai biệt của mười thắng hành như vậy thật
vô biên, nhưng e rằng văn tự rườm rà dễ sinh chán cho nên chỉ lược thuật
những điểm chính.
Mười thằng hành tuy thật sự được tu tập cả trong
mười địa, nhưng tuy theo hành tướng trổi bật mà mỗi địa tu một hành.
Sự thực hành của mười đia mặc dù là có có vô lượng
môn, nhưng tất cả được bao hàm trong mười đáo bỉ ngạn ấy.
4. Mười trọng chướng
Về mười trọng chướng:
1. Chướng bởi dị sinh tính.
Trong hai loại chướng, những gì hiện khởi do bởi phân biệt, y theo chủng
tử của nó lập làm dị sinh tính. Hàng Nhị thừa
khi kiến đạo hiện tiền duy chỉ đoạn trừ một loại chủng tử
goi là thủ đắc Thánh tính.
Hàng Bồ tát khi kiến đạo hiện tiền đoạn trừ đủ cả chủng tử của hai
chướng được nói là thủ đắc Thánh tính.
Khi cả hai loại chân kiến đạo hiện tiền,
chủng tử của hai loại chướng ấy tất không thành tựu.
Cũng như sáng và tối nhất định cùng sinh một lúc,
như sự cao thấp của hai đầu cán cân, các pháp trái nghịch nhau, theo lý,
tất cũng như vậy. Do đó, ở đây không phạm khuyết điểm là hai tính – dị
sinh tính và thánh tính, cùng tồn tại.
Nếu trong vô gián đạo, chủng tử phiền não đã không
còn, vậy cần gì phải khởi giải thoát đạo?
Vì tâm trong kỳ gian đoạn hoặc và chứng diệt khác
biệt.
Vì để xả phần thô trọng của phẩm phiền não ấy.
Trong vô gián đạo tuy không có chủng tử phiền não, nhưng chưa xả bỏ được
tính khó sử dụng của nó. Để loại bỏ tính chất này mà khởi vô gián đạo,
và chứng trạch diệt vô vi của phẩm ấy.
Mặc dù khi kiến đạo phát sinh thì cũng đoạn trừ các
nghiệp quả dẫn đến ác thú, nhưng ở đây chỉ nói đến cái làm sinh khởi
phiền não là căn bản.
Do ý nghĩa này, trong sơ địa nói đến đoạn trừ hai
sự ngu và phần thô trọng của chúng: 1. Ngu chấp trước ngã pháp, tức
trong đay là chướng bởi dị sinh tính. 2. Ngu ác thú tạp nhiễm, tức là
các nghiệp quả dẫn đến ác thú các thứ.
Nên biết, những gì thuộc phẩm loại đều được gọi
tổng quát là ngu.
Các địa sau theo đây mà giải thích.
Hoặc ở đó chỉ nói đến hai hại loại ngu cùng khởi
với phảm loại chướng lợi và độn.
Từ thô trọng được nói ở đó chỉ cho chủng tử của hai
loại ngu ấy, hoặc chỉ cho tính khó sử dụng
phát sinh bởi hai loại ngu ấy.
Như nói, nhập định thứ hai đoạn khổ căn.
Khổ căn bị đoạn được nói đó tuy không phải là hiện hành và chủng tử
nhưng được nói là thô trọng, ở đay cũng vậy. Các từ thô trong trong các
đoạn sau cũng theo đây mà giải thích.
Mặc dú cái bị đoạn ở sơ địa thật sự thông cả hai
chướng, song với chướng bởi dị sinh tính cốt ý nhắm vào sở chướng. Vì
được nói rằng
mười vô minh không mang bản chất nhiễm ô. Vô minh tức là ngu thuộc phẩm
loại mười chướng.
Nhị thừa cũng có thể đoạn phiền não chướng, vì là
cộng thông. Nhưng đó không phải là điều được nói ở đây.
Lại nữa, vô minh không nhiễm ô được nói đến duy chỉ
căn cứ vào tính chất tu sở đoạn trong mười địa. Mặc dù trong sơ địa này
phiền não cũng bị trấn áp, phần thô trọng của nó bị đoạn, nhưng đây
không phải là ý chính. Vì không đoạn tùy miên, cho nên đây không đề cập.
Theo lý, thật sự sơ địa trong giai đoạn tu đạo cũng
đoạn một phần sở tri chướng câu sinh, nhưng ở đây chỉ nói tối sơ đoạn;
sự đoạn trừ trong chín địa tiếp theo, chuẩn theo đây, nên biết.
Trong các thời trụ địa, mãn địa,
thời gian kéo dài đã rất lâu, theo lý cần phải tiến tới đoạn trừ những
thứ chướng cần đoạn trừ. Nếu không vậy, đạo trong ba thời
hẵn không khác nhau.
Do đó nói rằng Bồ tất sau khi đã đắc hiện quán, lại
ở trong giai đoạn tu đạo của mười địa duy chỉ tu đạo vĩnh viễn diệt trừ
sở chướng, nhưng lưu lại phiền não chướng để trợ nguyện thọ sinh.
Không phải như Nhị thừa vội vã đi vào viên tịch. Cho nên, trong tu đạo
vị không đoạn phiền não, cố ý cho đến khi thành Phật thì mới đồng loạt
đoạn trừ.
2. Chướng bởi tà hành.
Một phần câu sinh trong sở tri chướng, và ba nghiệp ngộ phạm được phát
đọng bởi nó. Nó chướng ngại cực tịnh thi-la của nhị địa. Khi vào nhị
địa, nó bị vĩnh viễn đoạn trừ. Do đây, nhị địa được nói là đoạn hai ngu
và phần thô trong của chúng: 1. ngu khiến ngộ phạm vi tế, tức trong đây
một phần câu sinh. 2. Ngu dẫn đến nhiều nghiệp khác nhau, tức ba nghiệp
ngộ phạm được phát động bởi nó.
Hoặc là ngu phát khởi nghiệ, và ngu không hiểu rõ
nghiệp.
3. Chướng bởi ám độn. Một phần câu
sinh của sở tri chướng, khiến lãng sót pháp được nghe, tư duy, tu tập.
Nó chướng ngại thắng định, tổng trì của tam địa và ba tuệ thù thắng được
phát khởi bởi những pháp này. Khi vào tam địa, nó vinh viễn bị đoạn trừ.
Do đây tâm địa được nói là đoạn hai ngu và phần thô
trọng của nó. 1. Ngu bởi dục tham, tức trong đây nólà cái chướng ngại
các thắng định và tu tuệ. Vì trước kia nó phần nhiều cùng hoạt động với
dục tham nên nói là ngu bởi dục tham. Nay đắc thắng định và tu sở thành,
nó đã vĩnh viễn bị đoạn trừ, dục tham theo đó bị trấn áp, vì từ vô thủy
dục thâm y nơi nó mà hoạt động. 2. Ngu dối với sự viên mãn văn trì
đà-la-ni, tức trong đây nó là cái chướng ngai tổng tri, văn tuệ và tư
tuệ.
4. Chướng bởi hiện hành phiền não vi tế.
Một phần câu sinh trong sở tri chướng, thuộc thân kiến v.v.
câu hữu với thức thứ sáu. Vì thuộc tối hạ phẩm, vì duyên đối tượng mà
không tác ý, vì từ lâu xà thường hiện hành theo thân. Nó chướng ngạipháp
bồ-đề phần trong địa thứ tư. Kho nhập tứ địa, nó vĩnh viễn bị đoạn trừ.
Từ xa xưa nó phần nhiều nó cũng hiện khởi như là
đồng thể phiền não chấp ngã kiến các thứ phát sinh một cách tự nhiên
trong thức thứ sáu, do đó gọi nó là phiền não. Ở đay trong địa thứ tư,
pháp bồ-đề phần vô lậu đã đạt được, nó liên bị vĩnh viễn bị đoạn trừ.
Ngã kiến các thứ ấy cũng vĩnh viễn không hiện hành.
Trong sơ địa thực hành thí, nhị địa thực hành giới,
tam địa hành thực tu, hành tướng đồng với thế gian;
trong tứ địa tu, đạt được pháp bồ-đề phần bấy giờ mới gọi là xuất thế,
do đó hai loại thân kiến
vĩnh viễn bị đoạn trừ.
Làm sao biết nó (thân kiến) cùng khởi với thức thứ
sáu? Vì chấp ngã kiến các thứ trong thức thứ bảy trái nghịch với tính và
tướng vô lậu đạo, do đó từ bát địa trở đi mới vĩnh viễn không hiện hành.
Thất địa trở về trước nó vẫn còn hiện khởi, vì làm chỗ tựa cho các phiền
não khác. Một đằng thô, một đằng vi tế,
sự trấn áp có trước có sau, do đó nó tương ưng với thức thứ sáu.
Nói thân kiến các thứ là cũng bao gồm cả định ái,
pháp ái thuộc sở tri chướng vô thủy. Định ái và pháp ái này trong tam
địa còn phát triển, cho đến nhập tứ địa mới bị đoạn trừ viĩnh viễn, vì
pháp bồ-đề phần đắc biệt trái nghịch với chúng.
Do ý nghĩa này, tứ địa được nói là đoạn hai ngu và
phần thô trọng của chúng: 1. Ngu bởi đẳng chí, tức trong đay nói câu
hành với định ái. 2, Ngu bởi pháp ái, tức trong đay nói câu hành với
pháp ái. Hai ngu thuộc trong sở tri chướng bị đoạn cho nên phiền não hai
ái cũng viĩnh viễn không hiện hành.
5. Chướng bởi niết-bàn hạ thừa.
Một phần câu sinh trong sở tri chướng, khiến nhàm chán sinh tử mà ước
muốn đạt đến niết-bàn, đồng với sự chán ghét khổ mà mong cầu tịch diệt
của Nhị thừa. Nó chướng ngại vô sai biệt đạo
trong địa thứ năm. Khi nhập ngũ địa nó mới vĩnh viễn bị đoạn. Do ý nghĩa
này ngũ địa được nói là đoạn hai thứ ngu và phần thô trọng của chúng: 1.
Ngu bởi thuần tác ý quay lưng sinh tử, tức trong đây nói sự nhàm chán
sinh tử. 2. Ngu bởi thuần tác hướng niết-bàn, tức trong đây nói sự mong
cầu đạt niết bàn.
6. Chướng bởi thô tướng hiện hành.
Một phần câu sinh trong sở tri chướng, chấp có hiện hành của hành tướng
thô của nhiễm tịnh. Nó chướng ngại vô nhiễm tịnh đạo trong địa thứ sáu.
Khi nhập địa thứ sau, nó vĩnh viễn bị đoạn trừ. Do ý nghĩa này. địa thứ
sáu được nói là đoạn trừ hai thứ ngu: 1. Ngu bởi quán sát sự lưu chuyển
của các hành, tức trong đây nói chấp có nhiễm, vì sự lưu chuyển của các
hành thuộc phần nhiễm.
2. Ngu bởi hiện hành nhiều với tướng, tức trong đây nói chấp có tịnh. Do chấp thủ
tướng tịnh. nên thực hành nhiều nơi quán tướng mà chưa thể có nhiều thời
gian trụ trong quán vô tướng.
7. Chướng bởi hiện hành tế tướng.
Một phần câu sinh trong sở tri chướng, chấp có hiện hành của tướng vi tế
của sinh sinh diệt.
Nó chướng ngại diệu vô tướng đạo trong địa thứ bảy. Khi nhập địa thứ
nảy, nó vĩnh viễn bị đoạn trừ. Do đây, địa thứ bảy được nói là đoạn hai
thứ ngu và phần trọng trọng của nó: 1. Ngu bởi hiện hành tướng vi tế,
tức trong đây nói chấp có sinh, vì chấp thủ tướng sinh vi tế của sự lưu
chuyển. 2. Ngu bởi thuần tác ý cầu vô tướng, tức trong đây nói chấp thủ
có diệt vì vẫn còn chấp thủ tướng diệt vi tế của hoàn diệt.
Tác ý cần cầu thuần nơi vô tướng thì chưa thể phát
khởi thắng hành trong không.
8. Chướng bởi tác gia hành trong vô tướng.
Một phần câu sinh trong sở tri chướng, khiến sự quán vô tướng không được
phát khởi một cách tự nhiên.
Trong năm địa đầu, phần lớn quán hữu tướng, ít quán
vô tướng. Trong địa thứ sau, quán hữu tướng ít mà phần lớn quán vô
tướng. Trong địa thứ bảy, thuấn quán vô tướng. Tuy thường xuyên tiếp nối
liên tục nhưng vẫn còn có gia hành. Do trong vô tướng còn có gia hành
nên chưa thể hiện tướng và quốc độ một cách tự nhiên. Gia hành như vậy
chướng ngại vô công dụng đạo trong địa thứ tám. Do đó khi vào được dịa
thứ tám nó vĩnh viễn bị đoạn trừ. Do nó vĩnh viên viễn bị đoạn mà đạt
được hai tự tại.
Do vậy, bát địa được nói là đoạn hai ngu và thô
trong của nó: 1. Ngu bởi có dụng công trong vô tướng. 2. Ngu đối với sự
tự tại nơi tướng, vì khiến cho không được tự tịa trong tướng, và vì điều
này một phần bao hàm quốc độ và thân tướng.
Bát địa trở lên, thuần vô lậu đọa phát khởi một
cách tự nhiên, do đó, phiền nào thuộc cả ba giới vĩnh viễn không hiện
hành. Nhưng sở tri chướng vi tế trong thức thứ bảy vẫn còn có thể hiện
hành, vì quả và trí của sinh không
không trái nghịch với nó.
9. Chướng bời không muốn hành lợi tha.Một
phần câu sinh trong sở tri chướng, khiến không muốn cần hành trong sự
nghiệp vì lợi lạc hữu tình, mà chỉ muốn tu hành vì lợi ích của mình. Nó
chướng ngại bốn vô ngại giải
trong địa thứ chín. Khi vào địa thứ chín, nó vĩnh viễn bị đoạn trừ.
Do vậy, địa thứ chín được nói là đoạn hai ngu và
thô trọng của nó: 1. Ngu đối với sự tự tại nơi đà-la-ni của vô lượng
pháp được thuyết, vô lượng danh, cú, âm tiết, và hậu hậu huệ biện. (a)
Tự tại nơi đà-la-ni
của vô lượng pháp được thuyết, đó là nghĩa vô ngại giải; là sự tổng trì
một cách tự tại đối với điều được thuyên giải, vì hết thảy nghĩa xuất
hiện trong một nghĩa. (b) Tự tại nơi đà-la-ni của vô lượng danh, cú, âm
tiết, đó là pháp vô ngại giải; là sự tổng trì tự tại đối với công cụ
thuyên giải, vì hết thảy danh, cú, âm vận xuất hiện trong từng danh, cú,
âm vận. (c) Tự tại nơi đà-la-ni của hậu hậu tuệ biện,
đó là từ vô ngại giải; là sự tổng trì tự tại đối với sự huấn thích thanh
vậnnày tiếp theo thanh vận khác,
vì hết thảy âm thanh xuất hiện trong một âm thanh.
2. Ngu biện tài tự tại. Biện tài tự tại tức là biện vô ngại giải, vì
khéo léo biết rõ cơ nghi mà thuyết pháp một cách thiện xảo.
Sự ngu chướng ngại bốn tự tại này, thảy đều được kể
trong loại chướng của địa thứ chín.
10. Chướng bởi chưa tự tại trong các pháp.
Một phần câu sinh trong sở tri chướng, khiến cho không được tự tại trong
các pháp. Nó chướng ngại pháp trí như đám mây lớn, những điều được hàm
tàng và những sự nghiệp cần thực hiện, trong địa thứ mười. Khi nhập địa
thứ mười, nó vĩnh viễn bị đoạn trừ.
Do ý nghĩanày, địa thứmười được nói là đoạn hai ngu và
thô trọng của nó: 1. Ngu đại thần thông, tức trong đây nói là chướng
ngại sự nghiệp cần được thực hiện. 2. Ngu ngộ nhập bí mật vi tế, tức
trtong đây nói là chướng nại pháp trí như đám mây lớn, và điều được hàm
tàng.
Trong đia này tuy đạt được tự tại trong các pháp nhưng
còn sót chướng nên chưa được gọi là tối cực. Tức là còn có sở tri chướng
vi tế thuộc loại câu sinh và chủng tử phiền não tồn tại tự nhiên. Khi
Kim cang dụ định hiện tiền, tất cả đều nhất loạt bị đoạn trừ mà nhập Như
Lai địa.
Do ý nghĩa này, Phât địa được nói là đoạn hai ngu và
thô trọng của nó: 1. Ngu với sự dính mắc cực kỳ vi tế của tất cả đối
tượng sở tri, tức trong đây nói là sở tri chướng vi tế. 2. Ngu với
chướng ngại cực kỳ vi tế, tức trong đây nói là chủng tử của hết thảy
phiền não tồn tại tự nhiên.
Cho nên, Tập luận nói, khi chứng đắc bồ-đề nhất loạt
đoạn trừ phiền não và sở tri chướng, thành A-la-hán và thành Như Lai, vì
chứng đại niết-bàn, và đại bồ-đề.
Mười một loại chướng trên đây được bao hàm trong hai
chướng.
Trong loại phienè não chướng, chủng tử thuộc kiến sở
đoạn bắt đầu được đoạn trừ bởi kiến đạo trong Hoan hỷ địa. Phiền não
hiện khởi thuộc loại chướng này đã bị trấn áp trước khi chứng nhập địa.
Chủng tử thuộc tu sở đoạn, khi Kim cang dụ định hiện tiền, tất cả nhất
loạt bị đoạn trừ. Hiện khởi của lọai chướng này đã bị trấn áp dần dần
trược khi chứng nhập địa. Từ sơ địa trở đi, nó mới hoàn toàn bị áp chế
khiến cho vĩnh viễn không hiện hành như A-la-hán. Trong bảy địa đầu, do
cố ý, nó tuy co khi tạm thời hiện khởi, nhưng không gây tác hại. Bát địa
trở lên nó mời hoàn toàn không hiện hành.
Trong sở tri chướng, chunngr tử thuộc kiến sở đoạn bắt
đầu bị đoạn trừ bởi kiến đạo trong Hoan hỷ địa. Hiện khởi phiền não
thuộc loại chướng này đã bị trấn áp trước khi chứng nhập địa. Chủng tử
thuộc tu sở đoạn lần lượt đoạn diệt trong mười địa. Cho đến khi Kim cang
dụ định hiện tiền nó mới vĩnh viễn bị đoạn tận. Hiện khởi thuộc loại
chướng này bị áp chế dẫn trước khi chứng nhập địa, cho đến địa thứ mười
mới hoàn toàn bị áp chế vĩnh viễn.
Từ bát địa trở lên, những gì câu hành với thức thứ sáu
không còn hiện hành, vì dòng tương tục của tâm và quả của quán vô lậu
trái nghịch với nó. Những gì câu hữu với thức thứ bảy vẫn còn có thể
hiện hành. Cho đên lúc khởi trí và quả của pháp không chúng mới bị trấn
áp.
Năm chuyển thức đầu dù nếu chưa được chuyển y, do sự
trấn áp bởi vô lậu
mà chướng không hiện khởi.
Mặc dù ở tu đạo, trong mười địa thảy đều không đoạn
diệt chủng tử của phiền não, nhưng phần thô trọng của chúng cũng dần dần
bị đoạn diệt. Do ý nghĩa này mà nói rằng mỗi một thô trong của hai
chướng đều có ý nghĩa đoạn trừ trong ba trụ.
Mặc dù trong các giai vị đều có đoạn thô trọng, nhưng
trong ba giai vị này hiện nhiên nhất nên đặc biệt đề cập.
Tiệm và đốn trong sự đoạn trừ chủng tử hai chướng
như thế nào?
Câu hành với thức thứ bảy: (a) Chủng tử phiền não
chướng, khi đạt được quả vị vô học của ba thừa, trong một sát-sa đoạn
trừ nhất loạt (đốn) cả ba giới. (b) Chủng tử sở tri chướng, khi thành
Phật, trong một sát-na tất cả đoạn trừ nhất loạt (đốn), vì chúng hiện
khởi nội tại một cách tự nhiên, không phân biệt thô và tế.
Câu hành với sáu thức còn lại: (a.) Chủng tử phiên não
chướng, thuộc kiến sở đoạn, (a.1) trong chân kiến đạo thuộc giai đoạn
kiến đạo của ba thừa tất cả nhất loạt đoạn trừ.
(a.2) Thuộc tu sở đoạn, tùy theo sự thích hợp. Với một loại, chín phẩm
thuộc ba giới chín địa, được đoạn riêng biệt lần lượt từng phẩm một bởi
Nhị thừa. Với một loại, ba
giới chín địa họp thành một tụ, chia thành chín phẩm; Nhị thừa đoạn
riêng từng phẩm.
Bồ tát cần phải khởi Kim cang dụ định, trong một sát-na, nhất loạt đoạn
trừ tất cả ba giới.
(b) Chủng tử sở tri chướng, trong sơ địa, sơ tâm
đốn đoạn tất cả kiến sở đoạn. Về tu sở đoạn, sau đó trong mười địa,
trong tu đạo vị, lần lượt đoạn trừ, cho đến khi chính thức khởi Kim cang
dụ định trong một sát-na mới đoạn trừ toàn bộ, duyên đến đối tượng cả
trong và ngoài, cả thô và tế, vì phẩm loại sai biệt có rất nhiều.
Hàng Nhị thừa độn căn, khi lần lượt đoạn chướng,
tất nhiên riêng biệt khởi vô gián, giải thoát. Với gia hành, thắng tiến,
hoặc cá biệt hoặc tổng hợp.
Bồ tát lợi căn trong giai đoạn lần lượt đoạn chướng
không cần thiết phải khởi vô gián và giải thoát riêng biệt, vì trong
từng sát-na, sát-na, đều có thể đoạn và chứng. Bốn đạo, kể từ gia hành,
mỗi sát-na tùy theo đối chiếu trước sau mà có thể có đủ tất cả các đạo.
5. Mười chân như
Mười chân như:
1. Biến hành chân như. Đây là chân như được hiện thị
bởi hai không. Vì không một pháp nào mà trong đó nó không phổ biến.
2. Tối thắng chân như. Đây là chân như có vô biên phẩm
đức. Vì nó tối thắng trong hết thảy pháp.
3. Thắng lưu chân như. Đây là chân như mà từ đó giáo
pháp tuôn chảy. Vì nó cực tôn thắng đối với các giáo pháp khác.
4. Vô nhiếp thọ chân như. Đây là chân như không hệ
thuộc bất cứ cái gì. Vì nó không phải là thủ làm sở y cho ngã chấp.
5. Loại vô biệt chân như. Đây là chân như không có sai
biệt về loại. Vì không có dị biệt loại như mắt v.v.
6. Vô nhiễm tịnh chân như. Đây là chân như mà bản tính
là vô nhiễm. Vì không thể nói về sau mới trở thành tịnh.
7. Pháp vô biệt chân như. Đây là chân tuy có nhiều
giáo pháp, được an lập qua nhiều phương diện khác nhau, nhưng không có
sự dị biệt.
8. Bất tăng giảm chân như. Đây là chân như lìa ngoài
tăng giảm chấp, vì không tùy theo nhiễm tịnh mà có tăng giảm.
Đây cũng gọi là tướng độ tự tại sở y chân như – chân như làm sở cho tự
tại thân tướng và quốc độ.
Tức là nếu chứng đắc chân như này thì tùy ý mà tự tại hiện thân tướng và
hiện quốc độ.
9. Trí tự tại sở y chân như – chân như làm sở y cho sự
tự tại của trí. Nếu chứng chân như này thì tùy ý mà tự tại đạt được vô
ngại giải.
10. Nghiệp tự tại đẳng sở y chân như – chân như làm sở
y cho sự tự tại của nghiệp, v.v. Nếu chứng đắc chân như này thì có thể
tự tại khắp tất cả đối với thần thông, tác nghiệp, tổng trì, định môn.
Tuy chân như tính thật sự không có sự sai biệt nhưng
tùy theo phẩm đức ưu thắng mà lập thành mười loại.
Mặc dù trong sơ địa đã đạt được tất cả nhưng sự chứng
hành chưa được viên mãn, do được thành lập cho được viên mãn trong mỗi
mỗi địa về sau.
6. Quá trình chuyển y
Như vậy, Bồ tát ở trong mười địa dũng mãnh tu hành
mười thắng hành, đoạn mười chướng, chứng mười chân như, và do đó chứng
đắc hai sự chuyển y.
Sự sai biệt của các giai đoạn chuyển y, một cách
tóm tắt, có sáu:
1. Chuyển bởi tăng lực ích năng. Trong hai địa đầu, do
thắng giải và tàm quý làm tổn giảm thế lực của chủng tử nhiêm ô trong
bản thức, tăng cường công năng của chủng tử tịnh trong bản thức.
Tuy chủng tử của chướng chưa bị đoạn để thật sự chứng chuyển y nhưng
hiện hành dần dần bị trấn áp, do đó cũng được nói là chuyển.
2. Chuyển bởi thông đạt. Trong thông đạt vị, do lực
của kiến đạo mà thông đạt chân như, đoạn thô trọng của hai chướng do
phân biệt sinh, chứng đắc một phần chuyển y, chân thật chuyển y.
3. Chuyển bởi tu tập. Trong tu tập vị, do thường xuyên
tu tập các thắng hành của mười địa, lần lượt đoạn trừ thô trọng của hai
chướng thuộc loại câu sinh, lần lượt chứng đắc chân thật mà đạt được
chuyển y.
Nhiếp Đại thừa nói, chuyển bởi thông đạt thuộc sáu địa
đầu, quán hữu tướng và quán vô tướng thông đạt chân như, xen kẽ nhau
hiện tiền, khiến cho có sự hiển hiện của chân và phi chân. Chuyển bởi tu
tập thuộc bốn địa sau, thuần vô tướng quán hiện tiền trong thời gian lâu
dài, dũng mãnh tu tập đoạn trừ thô trọng còn lại, phần lớn khiên cho phi
chân không hiện tiền.
4. Chuyển bởi quả viên mãn. Trong cứu cánh vị, do trải
qua ba đại kiếp a-tăng-xí-da
tu tập vô biên các thắng hành khó hành, khi Kim cang dụ định hiện tiền,
vĩnh viễn đoạn trừ tất cả thô trong từ trước đến nay, đốn chứng Phật quả
viên mẫn, đạt được chuyển y, suốt đên tận cùng vi lai lợi lạc vô tận.
5. Chuyển y hạ liệt. Trong giai vị Nhị thừa, chuyên
cầu tự lợi, chán ghét khổ, mong cầu tịch tdiệt, chỉ có thể thông đạt
sinh không chân như, doạn phiền não, chứng chân trạch diệt, không có sự
thích ứng thù thắng, do đó nói là hạ liệt.
6. Chuyển y quảng đại. Trong giai vị Đại thừa. Vì lợi
tha hướng đến đại bồ-đề, không có sự ghét ưa đối với sinh tử và
niết-bàn, có thể thông đật đầy đủ cả hai không chân như, cùng lúc đoạn
chủng tử của cả sở tri chướng và phiền não chướng, đốn chứng Vô thượng
Bồ-đề Niết-bàn, có khả năng thích ứng lớn, nên được gọi là quảng đại.
Trong đây ý nói sự chuyển y quảng đại do loại bỏ hai thô trọng mà được
chứng đắc.
b. Nghĩa chuyển y.
Về sự sai biệt của nghĩa chuyển y, tóm tắt có bốn:
1. Năng chuyển đạo. Ở đây lại có hai:
(1) Năng phục đạo: thế lực trấn phục tùy miên của hai chướng
khiến không dẫn khởi hiện hành của hai chướng. Ở đây thông cả hai đạo
hữu lậu
và vô lậu,
ba trí là gia hành, căn bản và hậu đắc, tùy sự thích hợp mà trấn phục
hoặc tiệm hoặc đốn. (2) Năng đoạn đạo: Vĩnh viễn đoạn trừ tùy
miên của hai chướng, đạo ở đây nhất định không phải là gia hành hữu lậu.
Vì hữu lậu thuộc loại đã từng tập, được dẫn bới tướng chấp, và chưa xóa sạch
hành tướng. Và già hành thì hướng đến mong cầu sở chứng, sở dẫn
mà chưa được hoàn thành.
Co giải thích nói, căn bản vô phân biệt trí thân
chứng chân lý được hiển thị bởi hai không, vì không có tướng của cảnh,
nên có thể đoạn tùy miên. Hậu đắc trí không phải vậy, do đó không phải
là đoạn đạo.
Giải thích khác nói, hậu đắc vô phân biệt trí tuy
không thân chứng chân lý bởi hai không, không có năng lực đoạn tùy miên
loại mê lý, nhưng nó nhận thức rõ ràng tướng an lập và phi an lập hiện
tiền, chứng nghiêm không điên đảo, do đó cũng có thể đoạn trừ hoàn toàn
tùy miên thuộc loại mê sự. Vì vậy Du-già nói, trong tu đạo vị có
đoạn đạo xuất thế, đoạn đạo thế và xuất thế, không có thuần thế gian đạo
nào có thể hoàn tàn huy hoại tùy miên, vì nó thuộc loại đã từng tập, vì
vì được dẫn bởi tướng chấp.
Do lý thú này, các tùy miên mê lý thuộc kiến sở
đoạn và tu sở đoạn đều chính xác bị đoạn bởi căn bản vô phân biệt trí do
trí này thân chứng chân lý. Các tùy miên mê sự thuộc tu sở đoạn khác đều
có thể bị đoạn bởi cả căn bản và hậu đắc.
2. Sở chuyển y.
Ở đây có hai: (1) Trì chủng y – sở y là cái duy trì chủng tử, đó
là căn bản thức. Do bởi nó duy trì chủng tử của pháp nhiễm và tịnh, đồng
thời cũng là sở y cho pháp niễm và tịnh, bằng Thánh đạo nó bị chuyển thể
để loại bỏ nhiễm, trở thành tịnh. Ngoài ra, y tha khởi tính tuy cũng làm
sở y nhưng vì không duy trì chủng tử nên đây không đề cập. (2) Mê ngộ
y – cái làm sở y cho mê và ngộ, đó là chân như. Do bởi chân như là
gốc rễ, các pháp nhiễm tịnh y trên đó mà sản sinh. Bằng Thánh đạo, chân
như được loại bỏ nhiểm để thành thanh tịnh. Nhừng cái khác, tuy cũng có
thể làm sở y cho pháp mê và ngộ, nhưng vi chúng không phải là gốc rễ nên
không được đề cập.
3. Sở chuyển xả. Ở đây lại có hai: (1) Sở
đoạn xả - loại bỏ cái cần đoạn trừ, đó là chủng tử của hai chướng.
Khi chân vô gián đạo hiện tiền, nó trái nghịch với phần đối trị chướng
do đó bị đoạn diệt, hoàn toàn không thành tựu,
do đó được nói là xả. Do chủng tử của nó đã bị đoạn, không còn hiện hành
chấp trước lệch lạc ngã pháp. Khi đối cảnh là sở chấp ngã pháp không có,
nhận thức sai lầm cũng được nói là bị loại, do đây nói là xả biến kế sở
chấp. (2) Sở khí xả, đó là các chủng tử hữu lậu còn lại
và chủng tử vô lậu yếu kém,
khi Kim cang dụ định hiện tiền dẫn sinh bản thức thuần tịnh cực ký tròn
sáng không còn là sở y cho chúng nữa do đó hoàn toàn bị vất bỏ.
Sau khi chủng tử của nó đã bị loại bỏ, các pháp vô
lậu yếu kém
và các pháp hữu lậu hiện hành rốt ráo không sinh. Đã vĩnh viễn không
sinh nên cũng nói là xả. Do đây mà nói là xả sinh tử và pháp yếu kém.
Có giải thích nói, các pháp hữu lậu
còn lại và pháp vô lậu yếu kém, khi Kim cang dụ định hiện tiền,
thảy đều bị loại bỏ, vì chúng bị xả bỏ cùng lúc với chủng tử của hai
chướng.
Giai thích khác nói, lúc bấy giờ chúng vẫn chưa bị
loại, vì không trái nghịch với vô gián đạo,
vì Bồ tát hẵn không có pháp sinh tử,
vì giai đoạn này hẵn không có thức được huân,
vì trụ nơi vô gián đạo hẵn có thể được gọi là Phật.
Do ý nghĩa này, nên biết, các hữu lậu còn lại cho
đến giải thoát đạo mới bị xả bỏ, vì bấy giờ tịnh thức thứ tám không còn
là sở y của chúng.
4. Sở chuyển đắc.
Ở đây lại có hai:1. Sở hiển đắc, tức đại niết-bàn. 2. Sở sinh đắc, tức
đại bồ đề.
7. Hai quả chuyển y
a. Đại Niết-bàn
Quả đạt do hiển lộ, đó là Đại Niết-bàn. Tuy tự tính
của Đại Niết-bàn bản lai vốn thanh tịnh nhưng do bị che phủ bởi phiền
não khách trần nên không được hiển lộ. Khi chân Thánh đạo phát sinh,
chướng ấy bị đoạn, khiến cho tướng thanh tịnh hiển hiện nên nói là chứng
đắc Niết-bàn. Đây căn cứ theo sự ly chướng của chân như mà có khái niệm,
thể của nó tức là pháp giới thanh tịnh.
Tóm tắt mà nói, ý nghĩa sai biệt của Niết-bàn có
bốn:
1. Niết-bàn mà tự tính bản lai thanh tịnh, đó là lý
chân như của hết thảy pháp tướng. Tuy có khách trần nhưng bản tính vốn
tịnh, đầy đủ vô lượng công đức vi diệu, không sinh không diệt, trong
suốt như hư không, mà hết thảy hữu tình đều có chung một cách bình đẳng,
cùng với hết thảy pháp không phải đồng nhất cũng không phải dị biệt, xa
lìa hết thảy tướng, hết thảy phân biệt, con đương bởi tầm từ bị dứt, con
đường bởi ngôn ngữ bị cắt, duy chỉ được chứng nghiệm nội tại bởi bậc
Chân Thánh giả. Vì tính thể của nó bản lai vắng lặng nên được gọi là
Niết-bàn.
2. Niết-bàn hữu dư y, tức chân như đã xuất ly phiền
não chướng, tuy còn có sở y của khổ mờ nhạt chưa bị diệt nhưng chướng
thì đã vĩnh viễn bị dập tắt, do đó nói là Niết-bàn.
3. Niết-bàn vô dư y, tức chân như đã xuất ly khổ
sinh tử, phiền nào đã hoàn bị diệt tận không còn, dư y cũng diệt, mọi
thứ khổ bị dập tắt, nên được gọi là Niết-bàn.
4. Niết-bàn vô trụ xứ, tức chân như đã xúat ly sở
tri chướng, luôn luôn được chắp cánh bởi đại bi và bát-nhã, do đay mà
không trụ sinh tử hay Niết-bàn, lợi lạc hữu tình suốt cùng vị lai, dụng
thường tịch nên nói là Niết-bàn.
Hết thảy hữu tình đều có Niết-bàn thứ nhất. Hang
Nhị thừa vô học có ba Niết-bàn đầu. Duy chỉ nơi đức Phật Thế Tôn mới có
thể nói đầy đủ cả bốn.
Vì sao chỉ nơi đức Thiện Thệ Thế Tôn mới có đủ, nơi
khác thì không?
Tuy không có sở y thật của khổ nhưng tợ như là có.
Hoặc sở y của khổ đã diệt tận nên nói là vô dư y; không phải sở y của
khổ còn hiện tại mà nói hữu dư y.
Do đó Thế Tôn có đủ cả bốn.
Nếu Thanh văn cũng có vô dư y, sao có nơi nói là vị
ấy không có?
Có nơi nói vị ấy thảy đều không hoàn toàn có
Niết-bàn, nhưng đâu có nói vị ấy cũng không có cả hữu dư y?
Nhưng vì nơi Thanh văn Nhị thừa, khi thân trí còn tồn tại, còn có sở y
của khôt là sở tri chướng chưa diệt tận, ý nghĩa viên tịch bị ẩn khuất,
do đó nói là không có Niết-bàn. Không phải nơi các vị ấy phiền não
chướng không thật sự diệt tận, chân lý được hiển hiện, là Niết-bàn hữu
dư. Vì lúc bấy giờ chưa chứng viên tịch vô dư nên cũng nói là vị ấy kông
có vô dư y. Không phải rằng vị ấy về sau khi thân trí đã diệt sở y của
khổ cũng diệt tận mà không có Niết-bàn vô dư.
Hoặc nói Nhị thừa không có Niết-bàn là căn cứ theo
vô trụ xứ chứ không phải căn cứ ba Niết-bàn đầu.
Lại nói vị ấy không có vô dư y, đó là căn cứ nơi
hàn Nhị thừa bất định tính mà nói. Vị ấy vừa mới chứng đắc Niết-bàn hữu
dư liền quyết định hồi tâm hướng đến cầu Vô thượng giác, do lực của định
và nguyện, vị ấy lưu thân tồn tại lâu dài không phải như một loại nhập
vô dư y.
Nghĩa là, có hàng Nhị thừa cực kỳ ái lạc viên tịch, khi đạt được sinh
không quán, chứng chân như, hoàn toàn diệt tận phiền não chướng vốn dẫn
đến thọ sinh, hiển lộ Niêt-bàn hữu dư vốn y nơi lý chân như. Nơi vị ấy
vì phiền não dẫn đến tái sinh đã diệt tận, nên dị thục của hậu hữu không
do đau mà tái sinh, sở y của khổ hiện hữu diệt một cách tự nhiên, các
pháp hữu vi còn lại đã không còn sở y, nên đồng loạt bị xả đồng thời với
sở y khổ kia, hiển lộ Niết-bàn vô dư y vốn y trên lý chân như. Lúc bấy
giờ nơi vị Nhị thừa tuy thân trí không tồn tại nhưng do sự chứng đắc của
vị ấy nên có thể nói vị ấy cungx có vô dư y. Trong giai đoạn này duy chỉ
có chân như thanh tịnh, ly tướng, trong suốt, tịch nhiên, an lạc. Y theo
ý nghĩa này mà nói vị ấy không có gì khác với Phật. Nhưng do bởi bồ-đè,
và sự nghiệp lợi tha nên nói vị ấy khác với Phật.
Các sở tri chướng không dẫn đến tái sinh, vì sao
khi đoạn trừ chúng lại đạt được vô trụ xứ?
Chúng che lấp pháp không chân như khiến không phát
sinh đại bi và bát nhã để suốt cùng vị lai lợi lạc hữu tình, do đó khi
đoạn trừ chúng lý pháp không hiển lộ. Lý ấy chính là Niết-bàn vô trụ xứ,
vì khiến cho không trụ vào bất cứ biên tế nào.
Nếu sở tri chướng cũng chướng Niết-bàn, vì sao đoạn
trừ chúng mà không đạt được trạch diệt?
Trạch diệt là thoát ly hệ phược.
Chúng không phải là hệ phược.
Đã vậy, đoạn trừ chúng há không đắc Niết-bàn?
Không phải các Niết-bàn đều thuộc trạch diệt. Nếu
không vậy, tự tính thanh tịnh hẵn không phải là Niết-bàn. Những gì hệ
phược hữu tình trụ trong sinh tử, khi đoạn trừ chúng, nói là đạt được
trạch diệt vô vi. Các sở tri chướng không dẫn đến sinh tử, không phải
như phiền não mà có thể hệ phược hữu tình, do đó khi đoạn trừ chúng mà
không đạt được trạch diệt. Nhưng đoạn trừ chúng, lý pháp không hiển lộ.
Tương của lý ấy tịch tĩnh nên nói là Niết-bàn; chứ không phải tính thể
của Niết-bàn này là trạch diệt. Do đó, với bốn viên tịch, trong các vô
vi, hai loại đầu và cuối là chân như; hai loại giữa thuộc trạch diệt.
Nếu duy chỉ đoạn trừ hệ phược mà chứng đắc trạch
diệt, vậy hai vô vi – bất động và tượng thọ diệt – thuộc vào đâu trong
bốn vô vi?
Thuộc phi trạch diệt
vì được nói là tạm thời thoát ly hệ phược.Trạch diệt vô vi duy chỉ cứu
cánh diệt. Vì có trường hợp phi trạch diệt không vĩnh viễn diệt tận.
Hoặc vô trụ xứ cũng thuộc trạch diệt, vì đạt được
do lực giản trạch chân chính mà diệt trừ các chướng. Trạch diệt có hai:
(1) Diệt đạt được do diệt trừ hệ phược, tức là đoạn các phiền não dẫn
tái sinh. (2) Diệt đạt được do diệt trừ chướng, tức đoạn trừ các chướng
còn lại mà chứng đắc. Do đó, với bốn viên tịch, trong các vô vi, một
viên tịch đầu tức chân như, ba còn lại đều là trạch diệt. Hai vô vi –
bất động và tưởng thọ diệt – co chỉ tạm thời phục diệt nên thuộc phi
trạch diệt. Những gì bị diệt trừ rốt ráo thì thuộc trạch diệt.
Sở tri chướng cũng chướng Niết-bàn, vì sao đậy chỉ
nói chướng bồ-đề?
Nói phiền não chướng chướng niết-bàn, há rằng như
vậy nó không chướng bồ-đề? Nên biết, Tháng giáo căn cứ công dụng ưu
thắng mà nói, lý thật thảy đều chướng cả hai quả.
Như vậy, trong bốn Niết-bàn được nói ở đây, ba loại
sau chứng đắc do bởi được hiển lộ.
b. Đại Bồ-đề
Thứ đến, quả chuyển y đạt được do sở sinh, đó là
Đại Bồ-đề. Bản lai tuy có chủng tử để phát sinh Đại Bồ-đề, nhưng vì bị
cản trở bởi sở tri chướng nên nên không sinh. Do lực Thánh đạo mà sở tri
chướng bị đoạn, khiến cho từ chủng tử xuất hiện, và được gọi là chứng
đắc bồ-đề. Sau khi khởi, nó tiếp nối liên tục cho đến suốt cùng vị lai.
Đây là tâm phẩm tương ưng với bốn trí.
i. Tâm phẩm tương ưng với bốn trí là những gì?
(1) Tâm phẩm tương ưng trí đại viên kính.
Tâm phẩm này thoát ly các phân biệt.
Sở duyên và hành tướng của nó vi tế khó biết. Nó không quên sót, không
ngu mê đối với tướng của tẩt cả cảnh. Tính và tướng thanh tịnh, thoát ly
các tạp nhiễm,
phâm đức thuần tịnh, tròn đầy, là sở y và duy trì hiện hành và chủng tử.
Nó làm hiển hiện và xuất sinh thân tướng, quốc độ, trí và các ảnh tượng,
không gián cách, không gián đoạn, suốt cùng vị lai. Như tấm gương lớn
tròn đầy trong đó hiện đủ mọi sắc tượng.
(2) Tâm phẩm tương ưng với trí bình đẳng tính.
Tâm phẩm này quán chiếu hết thảy pháp, tự và tha, hết thảy hữu tình,
thảy đều bình đẳng, luôn luôn cùng tương ưng với đại từ bi v.v. Tùy theo
thị hiếu của các hữu tình mà thị hiện những ảnh tượng sai biệt, thọ dụng
thân và độ. Nó là sở y bất cộng của trí diệu quán sát, và do bởi nó mà
Niết-bàn vô trụ được thiết lập, tương tục một vị suốt cùng vị lai.
(3) Tâm phẩm tương ưng trí diệu quán sát.
Tâm phẩm này một cách thiện xảo quán sát tự tướng và cộng tướng của các
pháp, hoạt động không hề bị chướng ngại; hàm chứa quán
sát vô lương tổng trì, định môn, và công đức trân bảo phát sinh từ đo. Ở
trong các tập hội đại chúng, nó tự tại thị hiện vô biên tác dụng sai
biệt, làm mưa cơn mưa lớn chính pháp, dứt trừ mọi nghi hoặc, khiến cho
hữu tình thảy đều được lợi lạc.
(4). Tâm phẩm tương ưng với trí thành sở tác.
Tâm phẩm này, vì muốn lợi lạc hữu tình, nên khắp trong cả mười phương
thị hiện ba nghiệp được biến hóa qua nhiều hình thái, hoàn thành những
điều cần làm theo lực của bản nguyện.
Tâm phẩm tương ưng bốn trí như vậy, tuy mỗi tâm
phẩm tất yếu có hai mươi hai pháp,
chủng tử và hiện hành của năng biến và sở biến
cùng sinh, nhưng do tác dụng tăng thượng của trí nên theo đó mà gọi tên.
Bốn phẩm như vậy là tổng thể bao hàm trọn vẹn tất
cả công đức hữu vi của Phật địa.
ii. Đấy là do chuyển các tấm phẩm tương ưng với các
thức hữu lậu thứ tám, thứ bảy, thứ sáu và năm thức, theo thứ tự, mà đạt
được. Trí không phải là thức, nhưng y nơi thức mà hoạt động. Thức làm
chủ, do đó nó do chuyển thức mà đạt được.
Vã lại, trong giai vị hữu lậu, trí yếu mà thức
mạnh. Trong giai vị vô lậu, trí mạnh mà thức kém. Vớ mục đích khuyến
khích hữu tình y trí, xả thức, do đó nói chuyển tám thức mà đạt được bốn
trí này.
iii. Về tâm phẩm tương ưng với trí đại viên kính,
có giải thích nói, Bồ-tát, khi Kim cang dụ định hiện tiền trí này bắt
đầu hiện khởi; vì chủng tử dị thục thức và chủng tử sở tri chướng cực vi
tế cùng một lúc bị xả bỏ. Và vì lúc bấy giờ nếu trí viên kính chưa khởi
thì không có cái gì để duy trì chủng tử tịnh.
Giải thích khác nói, tâm phẩm này chỉ bắt đầu hiện
khởi trong sát-na giải thoát đạo khi mới thành Phật. Chủng tử của dị
thục thức khiKim cang dụ định hiện tiền vẫn chưa được xả ngay, vì nó
không mâu thuẫn với vô gián đạo.
Pháp hữulậu không thuộc loại chướng ngại, và pháp
vô vi yếu kiém, chúng tất yếu chỉ mẫu thuẫn với Phật quả thôi. Trong Kim
cang dụ định, không có thức được huân tập,
thế thì không có sự tăng trưởng của vô lậu mà lại có thể thành Phật. Do
vậy, tâm phẩm này từ khởi so thành Phật cho đến suốt cùng vị lai hằng
tương tục không gián đoạn, vì duy trì chủng tử vôlậu không để rơi mất.
Về tâm phẩm tương ưng trí bình đẳng tính, Bồ tát,
khi kiến đạo sơ khởi hiện tiền, vì trái nghịch với hai thứ chấp nến trí
này mới có thể khởi.
Về sau, trong mười địa, do bởi chấp chưa bị dứt,
trong trạng thái hữu lậu,
nó có gián đoạn. Sau Pháp vân địa, cùng với tịnh thức thứ tám hỗ tương y
chỉ, tương tục suốt cùng vị lai.
Về tâm phẩm tương ưng trí diệu quán sát, với phẩm
loại sinh không quán, nó có thể bắt đầu hiện khởi trong giai đoạn kiến
đạo của Nhị thừa. Về sau, lần lượt cho đến địa vị vô học, hoặc đến cuối
cùng giải hành địa của Bồ tát, hoặc đến các giai vị trên, nếu khi không
phải là tâm hữu lậu, hay vô tâm, bấy giờ nó đều có thể hiện khởi.
Với phầm loại pháp không quán, trong giai đoạn kiến
đạo của Bồ tát nó mới có thể hiện khởi. Về sau, lần lượt cho đến các
giai vị trên, nếu không phải là tâm hữu lậu, nếu khi không phải là trí
và quả của sinh không, hoặc vô tâm, bấy giờ nó đều có thể hiện khởi.
Vê tâm phẩm tương ưng trí thành sở tác, có giải
thích nói, Bồ tát trong tu đạo vị do được dẫn bởi hậu đắc
cũng có thể bắt đầu hiện khởi.
Giải thích khác nói, cho đến thành Phật nó mới có
thể khởi. Vì trong mười địa, thức y trên mắt v.v. là sở biến của thức dị
thục vốn không phải vô lậu. Vì không thể hợp lý để nói rằng các căn hữu
lậu, bất cọng và câu hữu,
cùng chung cảnh,
mà có thể phát vô lậu thức. Vì hai loại thức này đối với cảnh có sáng
có mờ khác nhau.
Do vậy, vớiphẩm loại này, phải đợiđến khi thành Phật, y trên căn vô lậu,
nó mới có thể hiện khởi. Nhưng thường xuyên gián đoạn, vì phải có tác ý
mới khởi.
iv. Chủng tính của bốn tuy thảy đều thuộc bản hữu,
nhưng cần phải được huân tập mới có thể phát hiện hành. Trong giai vị tu
nhân, nó tiệm tăng, cho đến Phật quả mới viên mãn, không tăng không giảm
cho đến suốt cùng vị lai;
song ở đây, từ chủng tử sinh thì không huân tập thành chủng tử, vì không
nên nói phẩm đức của Phật trước hơn phẩm đức của Phật sau.
v. Về sở duyên, có giải thích nói tâm phẩm tương
ưng trí đại viên kính chỉ duyên đến chân như làm đối tượng. Nó là vô
phân biệt trí chứ không phải hậu đắc trí, vì không thể biết được hành
tướng và sở duyên của nó.
Giải thích khác nói, nó duyên đến hết thảy pháp. Vì
luân Trang nghiêm
nói trí đại viên kính không ngu mê đối với hết thảy cảnh. Vì Kinh
Phật địa nói gương trí của Như lai trong đó hiện lên ảnh tượng của
các xứ, cảnh, các thức.
Lại nữa, chắc chắn nó duyên đến chủng tử vô lậu và các ảnh tượng của
thân, độ v.v. Và vì hành tướng và sở duyên vi tế nên nói là không thể
biết, như a-lại-da, nó cũng duyên đến thế tục.
Duyên đến chân như nên nó là vô phân biệt. Do duyên
đến các đối tượng khác nên nó thuộc hậu đắc trí. Thể chỉ là một, nhưng
tùy theo dụng ma phân thành hai. Nhân thức tục là do chứng chân, cho nên
nói là hậu đắc.
Với các trí khác, một phân thành hai, chuẩn theo
đây, nên biết.
Về tâm phẩm tương ưng trí bình đẳng tính, có giải
thích nói nó chỉ duyên đến tịnh thức thứ tám, vì cũng như nhiễm ô thứ
bảy duyên đến tàng thức vậy.
Giải thích khác nói, nó chỉ duyên đến đối tượng là chân như, vì lấy tính
bình đẳng của hêt thảy pháp làm đối tượng. Lại giải thích khác nói, nó
duyên đến khắp đối tượng chân và tục. Vì Kinh Phật địa nói trí
bình đẳng tính chứng đắc mười tính bình đẳng. Vì luận Trang nghiêm
nói, duyên đến các hữu tình, tự tha bình đẳng; tùy theo sự tin hiểu của
hữu tình mà thị hiện vô biên ảnh tượng Phật.
Do vậy, tâm phẩm này duyến đấn cả chân và tục, thuộc cả hai trí – vô
phân biệt và hậu đắc.
Về tâm phẩm tương ưng trí diệu quán sát, duyên đến
tự ướng và cộng tướng của hết thảy pháp, hàon toàn không bị chướng ngại,
thuộc về cả hai trí.
Về tâm phẩm thành sở tác, có giải thích nói nó chỉe
duyên đến năm loại đối tượng hiện hành.
Vì luận Trang nghiêm nói, năm căn của Như Lai, bất cứ căn nào
cùng hoạt động trên cả năm cảnh.
Giải thích khác nói, tâm phẩm này cũng duyên đến khắp các pháp thuộc ba
đời; điều này không mâu thuẫn với chính lý. Kinh Phật địa nói trí
thành sở tác phát khởi hoạt động ba nghiệp và các sự thể được biến hóa,
quyết trạch sự sai biệt tâm hành của hữu tình,
lãnh thọ các đối tượng quá khứ, vị lai, hiện tại v.v.. Nếu không đuyên
đến phổ biến không thể có công năng như vậy.
Tuy nhiêm, tâm phẩm này này theo ảnh hưởng của ý
lạc mà duyên đến một pháp, hoặc hai, hoặc nhiều. Vã lại, nói rằng năm
căn hoật động nơi năm cảnh, chứ không nói duy chỉ. Do đó không có gì mâu
thuẫn. Nó phát sinh tùy theo tác ý, duyên đến các đối tượng sự thể, yếu
tính, phát khởi các nghiệp biến hóa,
do đó thuộc hậu đắc trí.
vi. Bốn tâm phảm này tuy phổ biến thẩy đều đến hết
thảy pháp, nhưng dụng có khác nhau. Phẩm trí viên kính hiện Tự thọ dụng
thân, hình thái tịnh độ, duy trì chủng tử vô lậu. Phẩm trí bình đẳng
hiện Tha thọ dụng thân, hình thái tịnh độ. Phẩm trí thành sở tác hiện
Biến hóa thân và hình thái quốc độ. Phẩm trí diệu quán sát quán sát các
ưu khuyết điểm nơi công năng của tự và tha, mưa con mưa đại pháp, dứt
trừ lưới nghi, lợi lạc hữu tình.
Nhiều phương diện khác nhau như vậy được đề cập.
Bốn tâm phẩm này được gọi là sở sinh đắc – quả
chuyển y đạt được bởi xuất sinh. Sở sinh đắc này được gọi chung là
Bồ-đề, và Niết-bàn được nói trên là sở chuyển đắc. Tuy ý nghĩa chuyển y
tổng quát có bốn, nhưng ở đây chỉ chọn lấy hai sở chuyển đắc.
Vì tụng nói “chứng đắc chuyển y.”
Trong tu tập vị này nói đến khả năng chứng đắc, chứ
không phải đã chứng đắc, vì nó thuộc giai đoạn tu nhân.
V. CỨU CÁNH VỊ
Cuối cùng là cứu cánh vị, đặc tính như thế nào?
Tụng:
此即無漏界
不思議善常
安樂解脫身
大牟尼名法 //30/
Đó chính là vô lậu
giới, là bất tự nghị, thiện thường, là an lạc, giải thoát thân. Vị Đại
Mâu-ni ấy được gọi là Pháp.
Sự chuyển y đạt được trong tu tập vị trước đây, nên
biết, chính là các dấu hiệu của cứu cánh vị. Điều nầy có nghiã là hai
quả chuyển nói trước đó chính là thuộc về cứu cánh vô lậu giới.
1. VÔ LẬU GIỚI
Những gì mà các lậu đã hoàn toàn dứt sạch, không
còn tùy tăng bởi lậu, tự tính thanh tịnh, tròn đầy, trong sáng, do đó,
được gọi là vô lậu.
Giới có nghĩa là (hàm) tàng, trong dó hàm chưa vô
biên đại công đức hy hữu. Hoặc nó có nghĩa nhân, vì từ đó phát sinh các
sự nghiệp lợi lạc thế gian và xuất thế gian.
Pháp giới thanh tịnh có thể được nói là duy vô lậu,
nhưng tâm phẩm bốn trí vì sao nói duy vô lậu?
Thuộc đạo đế nên nói duy vô lậu. Tức là, các công
đức của Phật cùn với thân và độ v.v. thảy đều là nhừng gì được xuất sinh
bởi chủng tử vô lậu, vì chủng tử hữu lậu đã vĩnh viễn bị loại bỏ. Tuy
Phật có thị hiện những loại tợ khổ đế, tập đế, như nghiệp, phiền não vơi
thân sinh tử, nhưng thực sự thuộc về đạo đế vô lậu.
Tập luận nói,
mười lăm giới duy chỉ hữu lậu. Như Lai há không có năm căn, năm thức, và
năm ngoại giới?
Có giải thích nói, công đức, thân và độ của Như Lai
thật sâu thẳm, vi diệu, không phải có không phải không, thóat ly các
phân biệt, dứt bặt các hý luận, không phải là những gì có thể được bao
hàm trong giới, xứ các thứ. Do đó, điều mà Luận ấy nói không có gì mâu
thuẫn chính lý.
Giải thích khác nói, năm căn, năm cảnh của Như Lai
được phát sinh từ diệu định do đó thuộc sắc trong pháp giới.
Năm thức của các hàng không phải là Phật tuy cũng y chỉ trên sự biến hóa
này,
nhưng sự thô và tế khác nhau nên không được kể trong năm cảnh; năm thức
của Như Lai không phải là năm thức giới. Vì kinh nói tâm Phật hằng ở
trong định.
Và vì Luận nói tình của năm thức là tán loạn.
Trí thành sở tác tương ưng thức nào?
Thức thứ sáu. Vì phát khởi tác dụng biến hóa.
Nó có gì khác với trí diệu quán sát?
Nó quan tự tướng, cộng tướng của các pháp, và duy
chỉ khởi tác dụngbiến hóa. Do đó có sự khác biệt.
Nếu vậy hai phẩm trí này hẵn không thể cúng sinh.
Vì trong một loại,
hai thức không cùng khởi?
Cho rằng không cùng khởi cũng không có gì phi lý.
Đồng một thể mà dụng phân hai cũng không phải là điều sai lầm.
Hoặc thành sở tác tương ưng với tịnh thức thứ bảy.
Y nơi các căn, con mắt v.v., duyền đến đối tượng như sắc v.v., đó là tác
dụng sai biệt của trí bình đẳng. Nghĩa là, tịnh thức thứ bảy khi khởi
tha thọ dụng thân và hình thái quốc đô bấy giờ nó thuộc phẩm trí bình
đẳng; khi khởi biến hóa, nó thuộc phẩm trí thành sở tác.
Há không phải rằng phẩm trí này do chuyển năm thức
mà đạt được?
Không phải do chuyển năm thức mà đạt được thì thể
của nó là năm thức. Như chuyển sinh tử, nói rằng đạt được Niết-bàn,
không thể nói Niết-bàn cũng được bao hàm đồng với sinh tử. Do đó, ở đây
không nên có nạn vấn này.
Giải thích khác nói, công đức của Như Lai, cùng với
thân tướng và quốc đọ, tùy theo sự thích hợp, được bao hàm trong uẩn,
xứ, giới. Ba khoa này đều thông cả hữu lậu và vô lậu.
Các luận, như Tập luận, nói mười lăm giới
duy chỉ là hữu lậu, đó là căn cứ nơi đối tượng thô và cạn của Nhị thừa
mà nói, không phải là tất cả. Theo đó, các giới còn lại để họp thành
mười tám giới,
trong đó, ba giới cuối thông cả vô lậu. Sự thành tựu của Phật mặc dù
thảy đều vô lậu, nhưng không thuộc về đối tượng sở tri của Nhị thừa.
Tuy nhiên, nơi khác nói công đức của Phật được kể
là phi giới – không được xếp vào trong giới, xứ v.v.,
vì không đồng với các đặc tính của giới, xứ vốn là đối tượng sở tri của
trí thấp kém của Nhị thừa. Tất nhiên lý phải như vậy.
Vì sao? Nói rằng pháp hữu vi thảy đều được xếp trong uẩn, nói rằng hết
thảy pháp được bao hàn trong giới, xứ. Giới thứ mười chín các thứ là
điều Thánh bác bỏ.
Nếu nói tuyệt hý luận tức phi giới – không phải giới, xứ các thứ, thế
thì cũng không nên nói vô lậu giới là thiện, thường, an lạc, giải thoát
thân.
Vã lại, nhiều nơi Kinh nói chuyển uẩn vô thương mà
đạt được uẩn thường hằng.
Giới, xứ cũng vậy. Đâu có thể nói rằng Như Lai phi uẩn, xứ, giới.
Do đó, Kinh nói phi, là nói bởi mật ý.
Lại nói, tính của năm thức là tán loạn,
đó là nói thành tựu nơi khác,
chứ không phải được thành tựu nơi Phật. Cho nên, trong thân Phật, mười
tám giới v.v. thảy đều đầy đủ nhừn thuần vô lậu.
Quả chuyển y này lại là bất tư nghị,
vì siêu việt con đường tầm tư, ngôn luận; và vì là vi diệu thậm thâm,
được chứng nghiệm nội tại, không phải thể thí dụ bằng những thí dụ của
thế gian.
Lại nói là thiện,
vì là pháp bạch tịnh; và vì là pháp giới thanh tịnh, viễn ly sinh diệt,
cực kỳ an ổn; vì diệu dụng của tâm phẩm bốn trí không thể mô phỏng, cực
kỳ thiện xảo phương tiện; vì cả hai loại – hữu vi và vô vi, đều có đặc
tính thuận ích; vì trái nghịch với bất thiện. Vì vậy, thảy đều nói là
thiện.
Luận nói, trong các xứ, gới, tám duy chỉ là vô ký;
vậy Như Lai há không có năm căn, ba cảnh? Trong đây có ba giải thích, mà
chi tiết cũng như trên.
Tất cả các pháp nơi Như Lai, như thân tướng, quốc
độ,v.v., đều được bao hàm trong diệt và đạo đế, do đó duy chỉ là thiện.
Vì Thánh nói diệt và đạo duy chỉ có tính chất thiện. Vì quốc độ của Phật
v.v. không phải là khổ và tập.
Những sở biến bởi thức của Phật mà mang đặc tính hữu lậu, bất thiện, vô
ký, thảy đều được sản sinh từ chủng tử thiện vô lậu, được bao hàm trong
thiện vô lậu.
Lại nữa, đấy là thường,
vì không có kỳ gian cùng tận. Pháp giới thành tịnh không sinh,không
diệt, tính thể không biến dịch, do đó nóilà thường.
Tâm phẩm bốn trí, vì sở y là thường hằng, và vì
không có sự đoạn tận, nên cũng được nói là thường; chứ không phải tự
tính của các tâm phẩm này là thường hằng. Vì phát sinh từ nhân, vì cái
gì có sinh tất có diệt, đó là phán đoán khẳng định, và vì không đâu được
thấy sắc tâm không phải là vô thường. Tuy nhiên, phẩm bốn trí, do naqưng
lực của bản nguyện, mà hữu tình cần được hóa độ thì không có kỳ hạn tận
cùng, cho nên, suốt cùng vị lai, không hề đoạn tận.
Lại nữa, đấy la an lạc,
vì không có sự bức não. Pháp giới thanh tịnh, vì các tướng thảy đều tịch
tĩnh, do đó nói là an lạc.
Tâm phẩm bốn trí, do hoàn toàn thoát ly mọi sự não
hại, nên cũng đượcnói là an lạc.
Tự tính của hai quả này không có sự bức não, và
khiến hết thảy hữu tình an lạc, do đó cả hai chuyển y – Niết-bàn và Bồ
đề, đều được gọi là an lạc.
2. GIẢI THOÁT THÂN
Hai quả chuyên y đạt được bởi Nhị thừa duy chỉ vĩnh
viễn thoát ly sự hệ phược của phiền não chướng chứ không có pháp gì đặc
sắc, do đó chỉ được gọi là giải thoát thân.
3. MÂU-NI DANH PHÁP
Sự thành tựu nơi Thế Tôn Đại giác là pháp tịch mặc
vô thượng, do đó được gọi là Đại Mâu-ni. Hai quả đạt được bởi đức Đại
Mau-ni vĩnh viễn thoát ly hai chướng cũng được gọi là pháp thân.
Vì được trang nghiêm bằng vô lượng vô biên pháp đại công đức như lực, vô
úy, v.v.
Là tự thể, là y chỉ, là tu tập, được gọi chung là
thân.
Do đó tính thể của Pháp thân này là năm pháp, không phải duy chỉ tịnh
pháp giới độc nhất được gọi là Pháp thân. Vì cả hai quả chuyển y đều
được bao hàm trong đây.
1. Biệt tướng của ba thân
Pháp thân như vậy có ba biệt tướng:
1. Tự tính thân.
Đó là pháp giới chân tịnh của các Như Lai, sở y
bình đẳng của Thọ dụng thân và Biến hóa thân, ly tướng, tịch nhiên, dứt
tuyệt các hý luận, đầy đủ công đức chân thường không biên tế. Đó là thật
tính bình đẳng của hết thảy pháp. Chính tự tính này cũng được gọi là
Pháp thân, vì là sở y chỉ cho pháp đại công đức.
2. Thọ dụng thân.
Thân này có hai:
(1) Tự thọ dụng. Đó là vô biên công dức chân thật
của các Như Laihiện khởi do bởi tư lương vô lượng phước trí được tu tập
qua ba vô số kiếp và sắc thân biến mãn, thường hằng, tuyệt đối tròn đầy,
thanh tịnh. tương tục một cách trong suốt cho đến suốt cùng vị lai, hằng
tjư thọ dụng pháp lạc quảng đại.
(2) Tha thọ dụng thân. Đó là thân công đức vi diệu
của các Như Lai được thị hiện bởi trí bình đẳng ở trong cõi thuần tịnh
độ, vì các chúng Bồ tát an trụ trong mười địa mà hiện đại thần thông,
chuyển chính pháp luân, quyết đoán các lưới nghi, khiên cho các vị ấy
thọ dụng pháp lạc Đại thừa. Hiệp cả hai thân này lại gọi là Thọ dụng
thân.
3. Biến hóa thân
Đó là vô lượng Hóa thân tùy loại của các Như Lai
được biến hiện bởi trí thành sở tác ở trong cõi uế độ, vì các chúng Bồ
tát chưa bước vào mười địa, hàng Nhị thừa và dị sinh, tùy theo cơ nghi
thích hợp của các chúng mà hiện thần thông thuyết pháp, khiến cho mỗi
mỗi đều được sự thể lợi ích an lạc.
2. Năm pháp
Bằng năm pháp
tính mà bao hàm ba thân, có giải thích nói, hai tính đầu bao hàm Tự tính
thân. Vì Kinh nói chân như là Pháp thân.
Vì Luận nói chuyển đổi thức a-lại-da đạt được Tự tính thân;
hay chuyển đổi tàng thức mà đạt được trí viên kính.
Hai trí giữa bao hàm Thọ dụng thân. Vì được nói là
trí bình đẳng hiện Phật thân trong quốc độ thuần tịnh cho các Bồ tát.
Trí diệu quán sát tự tại xuất hiện trong các đại chúng tập hội thuyết
pháp đoạn trừ các nghi. Chuyển các chuyển thức mà đạt được Thọ dụng
thân.
Một phẩm trí sau cùng bao hàm Biến hóa thân, vì
được nói rằng trí thành sở tác hiện vô lượng biến hóa bất khả tư nghị
trong mười phương quốc độ.
Lại nữa, trí thù thắng đầy đủ bao hàm cả ba thân.
Do đó, nên biết, ba thân đều có thật trí.
Giải thích khác nói, một pháp đầu bào hàm Tự tính
thân. Vì được nói rằng bản tính của Tự tính thân là thường trụ.
Và vì được nói rằng Pháp thân của Phật không có sinh diêt.
Và vì được nói rằng đạt được bởi chứng nhân, chứ không phải bởi sinh
nhân.
Lại nói, Pháp thân là pháp cộng hữu của chư Phật, phổ biến khắp hết thảy
pháp như hư không, vô tướng, vô vi, không phải sắc tâm.
Nhưng nói rằng chuyển đổi tàng thức mà đạt được, đó
là chuyển diệt phần thô trọng của hai chướng trong thức thứ tám mà Pháp
thẩn hiển hiện. Nói trí thù thắng trong Phap thân, vì đó là y chỉ của
trí, và thật tính của trí.
Tự tính Pháp thân tuy có vô biên công đức chân thật
nhưng là vô vi, do đó không thể nói là sắc hay là tâm, hay bất cứ vật
gì.
Công đức chân thật trong bốn phâm trí, và sắc thân
thường hằng, biến mãn được hiện khởi bởi trí viên kính bao hàm Tự thọ
dụng. Phật thân được thị hiện bởi trí bình đẳng bao hàm Tha thọ dụng. vô
số thân tương tùy loai được thị hiện bởi trí thành sở tác bao hàm Biến
hóa thân.
Nói răng trí viên kính là Thọ dung Phật,
vì chuyển các chuyển thức mà được thọ dụng. Tuy chuyển tàng thức cũng
đạt được Thọ dụng,
nhưng nói chuyển thức ấy mà hiển hiện Pháp thân, do đó lược qua không đề
cập sự đạt được Thọ dụng.
Lại nói Pháp thân không sinh không diệt, duy đạt
được bởi chứng nhân, không phải là sắc tâm, v.v., phẩm trí viên kính mâu
thuẫn với những điều này, nếu không phải Thọ dụng, thì nó thuộc vào thân
nào?
Lại nữa, Thọ dụng thân bao hàm thật đức hữu vi bất
cộng của Phật, do đó bốn phẩm trí thật có sắc tâm, đều thuộc vào Thọ
dụng.
Lại nữa, Tha thọ dụng và Biến hóa thân thảy đều là
phương tiện thị hiện để giáo hóa thân nhân, do đó không thể nói thật trí
là thể.
Tuy nói rằng Hóa thân được bao hàm bởi trí thù
thắng nhưng thân ấy được thị hiện như là tợ trí, hoặc được phát khởi bởi
trí, giả thuyết là trí, mà tự thể thất sự không phải là trí.
Ở đó chỉ nói rằng trí bình đẳng và trí thành sở tác
thị hiện Thọ dụng thân và Hoa thân của ba nghiêp, không nói rằng hai
thân này chính là hai trí. Do đó, hai trí này được bao hàm trong Thọ
dụng thân.
Tuy nhiên, Biến hóa thân và Tha thọ dụng tuy không
có tâm tâm sở chân thật, nhưng có tâm và tâm sở pháp được hóa hiện. Thần
lực của đấng Vô thượng giác thật khó mà nghĩ bàn, do đó có thể hóa hiện
pháp mà không có hình chất.
Nếu không như thế,
làm sao Như Lai hiện tham, sân các thứ, vì vốn đã bị đoạn từ lâu rồi?
Làm sao Thanh văn, và bàng sinh các thứ biết được tâm của Như Lai,
vì tâm thật của Như lai cho đến Bồ tát hàng đẳng giác còn chưa thể biết?
Do đây mà Kinh nói, Như Lai biên hóa ra vô lượng
loài, khiến cho thảy đều có tâm. Lại nói, trí thành sở tác của Như Lai
biến hóa thành ba nghiệp.
Lại nói Biến hóa thân có tâm y tha. Y trên tâm thật của tha thể mà hóa
hiện thành tướng phần.
Tuy nói biến hóa không xảy ra với căn, tâm các thứ,
nhưng đó là căn cứ nơi những hàng khác chứ không phải căn cứ nơi Như
Lai. Vã lại, sắc căn, tâm, tâm sở pháp, nhưng thứ được biến hóa này
không có tác dụng như là căn thật các thứ, do đó Luận nói là không có
biến hóa.
3. Phẩm chất của ba thân
Ba thân như vậy tuy thảy đều có đầy đủ vô biên công
đức nhưng mỗi thân có khác nhau.
Tự tính thân duy chỉ có công đức vô vi vố là sở y
cho các pháp thiện thoát ly tạp nhiễm, chân thật thường, lạc, ngã, tịnh;
không có tướng và dụng sai biệt của sắc tâm các thứ.
Tự thọ dụng thân có đầy đủ công đức chân thật của
vô lượng sắc tâm vi diệu
Nếu Tha thọ dụng va Biến hóa thân duy chỉ có đầy đủ
vô biên công đức với các đặc tính được hóa hiện và tác dụng, với vô biên
tợ sắc, tợ tâm các thứ, vì mục đích lợi lạc tha nhân.
4. Ba thân và hai lợi
Tự tính thân chính xác thuộc về tự lợi, vì là sự
tịch tĩnh, an lạc, không dao động, nhưng cũng kiêm cả lợi tha vì làm
tăng thượng duyên vì khiến cho các hữu tình được lợi lạc. Lại nữa,
thân này làm y chỉ cho Thọ dụng và Biến hóa thân, do đó thuộc về cả hai
lợi.
Tự thọ dụng thân duy chỉ thuộc tự lợi.
Nếu là Tha thọ dụng và Biến hóa thân thì duy chỉ
thuộc lợi tha, vì hóa hiện do vị tha.
5. Ba thân và quốc độ sở y
Lại nữa, tự tính thân y chỉ Tự tính độ. Tuy thể của
thân và quôsc độ này không sai biệt, nhưng khác nhau về tướng và tính
thuộc Phật và pháp. Phật thân và Phật độ ở đây thuộc về phi sắc. Tuy
không thể nói hình lượng lớn hay nhỏ, nhưng tùy sự tướng mà lượng ấy vô
biên, như hư không biến mãn khắp mọi nơi.
Tự thọ dụng thân lại y chỉ trên quốc độ của bản
thân. Nghĩa là, tịnh thức tương ưng vớ trí viên kính, do nhân duyên của
Phật độ thuần tịnh, vô lậu, tự lợi, vốn đưỡ tu tập từ xa xưa bày đã
thành thục, từ khởi sơ thành Phật cho đến suốt cùng vị lai tương tục
biên thành Phật độ thuần tịnh, châu biến, tròn đầy, không biên tế, được
trang nghiêm vô lương trân bảo. Thân Tự thọ dụng luôn luôn y trên đây mà
an trú. Nhưng lượng của tịnh đọ, lượng của thân cũng vậy. Tương hảo của
các căn, mỗi mỗi vô biên, vì được dẫn sinh bởi vô hạn thiện căn. Công
đức trí tuệ đã không phải là sắc pháp, tuy khong thể nói hình lượng lớn
hay nhỏ, nhưng y nơi sở chứng và thân sở y mà nói là phổ biến khắp mọi
nơi.
Tha thọ dụng thân cũng y chỉ trên quốc độ của bản
thân. Tức là nhân duyên của Phật độ thuần tịnh, vô lậu, lợi tha, đã được
tu tập từ xa xưa, nay đã thành thục, tùy theo sự thích nghi cho Bồ tát
dã trụ trong mười địa mà biến làm tịnh độ, hoặc lớn joặc nhỏ, hoặc hạ
liệt, hoặc thù thắng, và có biến chuyển thay đổi tùy theo thời gian. Tha
thọ dụng thân y nơi đó mà an trú. Lương của than năng y cũng không hạn
đinh.
Nếu là Biến hóa thân thì y chỉ Biến hóa độ. Tức là,
do bởi năng lực của đại từ bi, do bởi nhân duyên của Phật đọ tịnh hay
uế, vô lậu, lợi tha, được tu tập từ xa xưa nay đã thành thụ, trí thành
sở tác biến hòa làm Phật độ thích hợp cho các hữu tình chưa cào hàng
mười địa; Phật độ ấy có thể tịnh, có thể nhiễm, hoặc lớn, hoặc nhỏ, có
thể thay đổi biên chuyển theo thời gian.
6. Phật thân Phật độ đồng dị
Tự tính thân và đô, vì hết thảy Như Lai đồng chứng,
nên thể không có sai biệt.
Tự thọ dụng thân và quốc độ sở y, tuy hết thảy chư
Phật đều biến hóa với những cá biệt bất đồng nhưng thảy đều là vô biên,
không chướng ngại lẫn nhau.
Hai thân và độ còn lại, tùy theo các hữu tình cần
được Như Lai giáo hóa, có cộng và bất cộng. Nếu hữu tình cấn hóa độ là
chung, thì đồng thời và đồng xứ chư Phật cá biệt biến làm thân và độ,
hình trạng tương tọ mà không chướng ngại lẫn nhau, lần lượt đan xen nhau
làm tăng thượng duyên, khiến cho hàng được hóa độ xuất sinh sự biến hiện
từ thức của chính mình, và cho rằng có một quốc đọ, có một Phật thân
hiện thần thông thuyết pháp mang lại lợi ích. Nếu hang thọ hóa mà không
chung, duy một Phật biến hiện. Chủng tính của các loài hữu tình kể từ vô
thủy, theo pháp nhĩ tự nhiên, hệ thuộc lẫn nhau, hoặc nhiều thuộc về
một, hoặc một thuộc về nhiều. Do đó các loài thọ hóa có cộng, có bất
cộng. Nếu không vậy, nhiều Phật trụ lâu ở đời, mỗi mỗi tốn công nhọc sức
mà vô ích. Vì một vị Phật vốn đã làm lợi cho tất cả chúng sinh rồi.
7. Thân và độ năng biên và sở biến
Các thân và độ này, hoặc tịnh hoặc uế, nếu là những
sở biến trên thức vô lậu, cùng với thức năng biến đồng là vô lậu. Vì
được sản sinh bởi nhân duyên vô lậu, thuộc về đạo đế, chứ không phải
khổ, tập. Tướng phần của thức, và uẩn các thứ, bất tất thảy đều đồng
nhất, bởi vì ba pháp này
được dẫn sinh một cách gián tạp bởi nhân duyên.
Nếu là những sở biên trên thức hữu lậu, chúng là
hữu lậu đồng với thức năng biến. Vì thuần nhất được sản sinh từ nhân
duyên hữu lậu, thuộc về khổ, tập, chứ không phải diệt, đạo. Tướng phần
của thức, thiện các thứ, bất tất thảy đều đồng nhất, vì chúng được dẫn
sinh một cách gián tạp bởi nhân duyên thuộc ba tính. Đồng hay dị của uẩn
các thứ, suy theo đây, nên biết. Nếu không vậy, hẵn không có năm uẩn,
mười hai xứ, mười tám giới.
8. Nghĩa duy thức
a. Tuy nhiên, tướng phần các thứ
y thức biến hiện không phải là thật trong y tha như tính thể của thức.
Nếu không vậy, lý duy thức không được chứng minh. Vì cho rằng nội thức
và cảnh đều thật hữu.
b. Hoặc kiến và tướng của thức phát sinh từ các
duyên, thảy đều là y tha mà khởi, hư thật như thức.
Từ “duy” chỉ loại bỏ ngoại giới chứ không bác bỏ
nội cảnh. Nếu không vậy chân như hẵn không phải là thật.
Nếu nội cảnh và thức thảy đều không phải hư giả,
làm sao chỉ nói là duy thức chứ không phải cảnh?
Thức tồn tại bên trong, cảnh thông cả bên ngoài. Vì
e nhầm lần với bên ngoài nên nói duy chỉ là thức.
Hoặc các hạng phàm ngu mê chấp nơi cảnh, khởi
nghiệp phiền não mà trầm luân sinh tử, không biết quán sát tâm cần cầu
xuất ly. Vì thương xót chúng nên nói duy chỉ là thức, để khiến cho biết
quán sát tâm minh mà giải thoát sinh tử, chứ không phải rằng nội cảnh
cũng hoàn toàn không tồn tại như ngoại cảnh.
c. Hoặc tính thể của tướng phần các thứ đều là
thức,
do chịu ảnh hưởng của huân tập mà phát sinh thành tương tợ nhiều phần.
Chân như cũng là thật tính của thức, cho nên trừ thức tính đi thì không
còn có pháp nào nữa. Trong đây từ “thức” cũng chỉ cho tâm sơt. Vì tâm và
tâm sở tất yếu cùng tương ưng.
Luận này gồm có ba phần để thành lập duy thức, do
đó nói là luận Thành duy thức. Luận này cũng được nói là có tên
Tịnh duy thức, vì sự diễn giải lý duy thức cực kỳ trong sáng.
Luận gốc của nó gọi là Duy thức tam thập, do
ba mươi bài tụng trình bày lý duy thức đến mức hoàn hảo, không nhiều hơn
hay ít hơn.
Đã y trên Thánh giáo và chính lý phân biệt ý nghĩa
tính và tướng của duy thức. Công đức có được này xin rải đến mọi loài,
nguyện cùng nhanh chóng bước lên Vô thượng giác.
|