PHẬT LÝ CƠ BẢN
Thích Đức Thắng
(Mục Lục)
MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN
(dvādaśāṅgapratītya-samutpāda)
Mười hai Nhân duyên là pháp được
đức Đạo sư hiện quán xuôi nghịch trong lúc Ngài tọa thiền dưới bóng cây
Bodhivṛksa
(Bồ-đề) mà khám phá ra bộ mặt thật của các pháp là vô thường-khổ-vô ngã;
nhưng vì vô minh mê mờ nên chúng sanh không nhận ra được bộ mặt thật của
chúng mà chấp vào chúng cho là thường còn bất diệt, để rồi từ vô minh mê
mờ này mà tạo ra nghiệp nhân đau khổ rồi cảm quả trong ba cõi sáu đường.
Sự khám phá bộ mặt thật của các pháp này là một sự kiện phát hiện
mới về những nguyên nhân trói buộc chúng sanh vào con đường sinh tử luân
hồi, và phương pháp để diệt trừ những khổ đau mà chúng sanh phải gánh
chịu. Đây là những điều mà trước kia Ngài đã từng cưu mang. Đạo lý giải
thoát của Ngài được đặt nền tảng chính yếu qua thập nhị nhân duyên và tứ
đế.
Với thập nhị nhân duyên Ngài đã khám phá ra
nguyên nhân chính yếu của vòng tròn sinh khởi và huỷ diệt khổ đau của
sinh tử luân hồi. Theo phương pháp quán thuận nghịch, tức là cách quán
lưu chuyển và hoàn diệt của thập nhị nhân duyên. Trong 49 ngày đêm Ngài
ngồi tư duy dưới bóng cây Bồ-đề không ngoài vấn đề này. Vấn đề sinh,
lão, bệnh, tử được Ngài đặt ra như là một tiên quyết là làm sao biết
được vấn đề con người từ đâu sinh ra? Và khi chết sẽ đi về đâu?
Đây là giáo nghĩa cơ bản của những lời dạy căn
bản của đức Phật đối với ngoại hàm trong cách giải thích mọi hiện tượng
nhân duyên sinh khởi và biến dịch của nhân sinh cùng vũ trụ được Ngài
triển khai rộng theo thời gian và không gian của ba đời theo luật tắc
nhân quả, qua nhận thức quán chiếu lưu chuyển và hòan diệt theo định
thức duyên khởi quán hay còn gọi là duyên sinh quán. Mười hai nhân duyên
được dịch nghĩa từ tiếng Phạn dvādaśāṅgapratīya-samutpāda, còn
gọi là mười hai duyên sinh, hay mười hai duyên khởi. Mười hai chi này
làm nhân và duyên vào nhau mà hiện khởi theo chiều lưu chuyển sinh khởi
hay ngược lại, làm nhân duyên cho nhau mà biến diệt theo chiều hòan diệt
trong nhận thức quán lưu chuyển và hòan diệt. Theo kinh A-hàm thì mười
hai chi nhân duyên này được thành lập như sau:
Vô minh (avidyā)
Hành (saṃskāra)
Thức (vijñāna)
Danh sắc (nāma-rūpa)
Lục xứ (ṣaḍ-āyatana)
Xúc (sparśa)
Thọ (vedanā)
Ái (tṛṣṇā)
Thủ (upādāna)
Hữu (bhava)
Sinh (jāti)
Lão tử (jarā-maraṇa).
A. NỘI
DUNG VÀ Ý NGHĨA MƯỜI HAI CHI NHÂN DUYÊN.
1/ Vô minh, Phạn ngữ gọi là
avidyā Pāli gọi là avijjā, là một tiếng gọi khác của phiền
não căn bản, tức là vì phiền não che lấp phủ kín nên chúng ta không nhận
thức một cách như thật về sự vật và, không thông đạt được cái lý chân
thật cùng khả năng lý giải rõ ràng về những trạng thái tinh thần qua sự
tướng của sự vật cùng đạo lý chân thật của cuộc sống. Vô minh là
chi thứ nhất của mười hai chi duyên khởi; vì phiền não hoặc chúng biến
chúng ta thành những kẻ vô trí, ngu si đặc biệt chúng ta không nhận thức
được đạo lý thế tục của những lời dạy đức Phật. Và, cuối cùng vô minh
chính là một chi trong mười hai chi của mười hai nhân duyên mà chúng ta
đang bàn đến.
Căn cứ vào trong mười hai duyên khởi mà giải
thích thì vô minh chính là căn bổn của tất cả mọi thứ phiền não.
Theo kinh A-hàm đối với chân lý (bốn sự
thật) của những lời dạy của đức Đạo sư vì không có trí tuệ nên nhận biết
một cách sai lầm về chúng đó gọi là vô minh; hơn nữa nó còn câu hữu với
khát ái trong quan hệ tạo ra si mê mà trong Tông Câu Xá và tông
Duy Thức gọi là tác si (moha). Cũng vô minh này các nhà
Thuyết nhất thiết hữu bộ dùng nhân quả lưỡng trùng qua ba đời để
giải thích mười hai duyên khởi. Ở đây vô minh thuộc về cấp vị phiền não
quá khứ của năm uẩn; vì tác dụng của vô minh mạnh nhất, cho gọi chung
phiền não kiếp trước là vô minh. Nhưng theo Duy thức tông dùng nhân quả
nhất trùng cho hai đời để giải thích vô minh cùng với hành có khả năng
dẫn thức nên còn gọi là “năng dẫn chi” cùng với thức thứ sáu tương ưng
với si mê, nên phát khởi nghiệp thiện ác gọi chúng là vô minh.
Các nhà Hữu bộ cùng Duy thức đem vô
minh phân ra làm hai: tương ưng vô minh và bất cộng vô minh. Tương ưng
vô minh cùng với các loại tham căn bản phiền não tương ưng với nhau cùng
sinh khởi, trong khi bất cộng vô minh không cùng tương ưng để duyên
khởi, vì nó tự sinh khởi nên gọi là độc đầu vô minh. Duy Thức học còn
khu biệt vô minh thành chủng tử và hiện hành. Ngoài ra vô minh còn phân
ra căn bản vô minh và chi mạt vô minh, Cộng cùng bất cộng, tương ưng
cùng bất tương ưng, mê lý cùng mê sự, độc đầu cùng câu hành, phú nghiệp
cùng phát nghiệp.
Căn cứ vào kinh Thắng Man thì vô minh
tương ưng cùng kiến hoặc và tu hoặc của ba cõi, gọi là hoặc của bốn trụ
địa cộng với hoặc của vô thỉ vô minh trụ địa thành hoặc của năm trụ địa.
Trong đây vô thỉ vô minh trụ địa là căn bản tất cả mọi thứ phiền não chỉ
có trí giác ngộ của Như lai mới đọan được nó.
Vô minh theo Đại thừa khởi tín luận thì vô
minh là bất giác. Bất giác được phân ra làm hai: Căn bản vô minh và chi
mạt vô minh. Căn bản vô minh tức chỉ cho tâm động vi tế mà các thứ hoặc,
nghiệp, khổ đều lấy tâm nhất niệm khởi động này làm căn bản. Đây chính
là vô thỉ vô minh hoặc trụ địa, còn chi mạt vô minh tạo ra chi mạt bất
giác, tức là nó y vào căn bản vô minh mà khởi lên tâm nhiễm ô của chi
mạt, gồm có nghiệp hoặc của ba tế, sáu thô.
Theo tam quán (không-giả-trung) của các nhà
Thiên thai thì, muốn đọan trừ vô minh hoặc (Kiến tư, trần sa và, vô
minh hoặc) tức là muốn trừ mê lý đối với chẳng phải có, chẳng phải không
làm hoặc chướng ngại trung đạo thì phải dùng pháp quán trung để đọan trừ
đối tượng vô minh hoặc.
2/ Hành, Phạn ngữ gọi là saṃskāra, Pāli
gọi là saṅkhāra, dịch âm là san-ca-la, hay tăng-sa-ca-la, có
nghĩa là hành động, tạo tác, cũng còn có nghĩa là biến hóa dời đổi, là
chi thứ hai trong mười hai chi duyên khởi.
a/ Tạo tác, có cùng nghĩa với nghiệp. Ở đây,
trong mười hai duyên khởi thì, hành là chi thứ hai trong mười hai chi
duyên khởi. Hành có khả năng chiêu cảm nghiệp nhân ba đời trong quá khứ
cho quả báo hiện tại. Hành cũng chỉ cho tất cả mọi họat động của thân
và tâm của con người.
b/ Biến hóa dời đổi, ở đây hành theo nghĩa hữu vi
pháp, chúng lệ thuộc vào mọi hiện tượng hình thành và biến dịch của các
pháp hữu vi, chúng do nhân duyên tạo tác mà hiện hữu hay biến dịch, cho
nên chúng liên hệ và lệ thuộc vào luật tắc vô thường chi phối đối với
các pháp hữu vi. Hành trong các hành vô thường chúng thuộc vào loại hành
này. Cũng như hành uẩn trong ngũ uẩn chúng thuộc nghĩa thứ hai. Do đó
hành không phải chỉ có nghĩa là tạo tác hành động không thôi mà hành
cũng được định nghĩa như là biến dịch dời đổi từ trạng thái này sang
trạng thái khác từ hình tướng này sang hình tướng khác dành cho các pháp
hữu vi. Nhưng hành ở đây chỉ liên hệ đến sự tác nghiệp và sự chiêu cảm
nghiệp nhân đưa đến nghiệp quả trong sự liên hệ qua mười hai chi duyên
khởi, còn nghĩa thứ hai chúng ta chưa cần phải đề cập đến chúng trong
tiêu đề này, mặc dù chúng cũng liên hệ đến năm thủ uẩn.
3/ Thức, Phạn ngữ gọi là vijñāna, Pāli gọi
là viññāṇa, ở đây Vi có nghĩa là phân tích, phân biệt,
phân chia; jñāna có nghĩa là hiểu, biết, là chi thứ thứ ba trong
mười hai chi duyên khởi. Theo nguyên ngữ của vijñāna thì có nghĩa
là phân tích, phân loại đối tượng để sau đó cho chúng ta nhận biết tác
dụng về chúng trong những thời kỳ đầu khi đức Đạo sư còn tại thế; nhưng
mãi đến những thời kỳ phát triển sau này, chúng có khi được định nghĩa
như là một citta (tâm) hay của một mano (ý) cả Đại thừa
lẫn Tiểu thửa cùng chấp nhận. Trong thời kỳ đức Phật còn tại thế Ngài
tùy thuộc vào căn cơ, môi trường xã hội, mà nói pháp nên chưa có bất cứ
hệ thống nào, nên việc sử dụng mang tính cách hỗn hợp, tùy duyên tùy căn
cơ, tùy thời tùy đối tượng mà nói. Đó là cách định nghĩa chung cho Thức
trên mặt phổ quát; tuy nhiên thức trong những thời ký phát triển sau này
qua các bộ phái thì chúng được sắp xếp trở lại có hệ thống hơn; hay cũng
có những định nghĩa chuyên môn và lệ thuộc vào những thuộc tính mà những
biểu thức, chúng muốn chúng ta đề cập đến sự lệ thuộc đó qua từng thuộc
tính một. Như thức của tiền ngũ thức chúng mang bộ mặt của thức uẩn chưa
qua tác ý, nên chưa có sự phân biệt, phân tích hay phân chia, chỉ là một
thứ rõ biết về sự hiện diện của một đối tượng như là chính nó chưa qua
bất cứ danh tự hay danh xưng nào khác do tác ý can thiệp vào, nên mỗi
thức tự mang thuộc tính của chính mình, như nhãn thức chỉ thuộc của thức
về mắt thôi … cho đến thân thức chỉ thuộc thức về thân thôi. Thức ở đây
chỉ là những cảm giác đơn thuần tác dụng khi các căn của chúng ta tiếp
xúc với các đối tượng bên ngoài sinh ra; nhưng chúng chưa đủ để có sự
nhận thức phân biệt về đối tượng. Ở đây chỉ có đệ lục thức của ý mới
tổng hợp được những đối tượng của các pháp rơi rớt lại từ tiền ngũ thức
cộng với ý tưởng khởi lên hình ảnh làm đối tượng cho ý duyên mà phát
sinh ý thức có đầy đủ sự nhận thức phân biệt đối với các hiện tượng sự
vật đó mà sinh ra tác dụng; nhưng vẫn còn dạng đơn thuần theo chức năng
của ý thức.
Như vậy đối với thức của tiền ngũ thức chỉ đơn
thuần có được do sự tiếp xúc căn và cảnh mà sinh ra thức. Thức này được
gọi là các biệt cảnh thức, thức thuộc về mỗi quang năng độc lập giao
tiếp với đối tượng sinh ra thức độc lập. Trong khi thức của đệ lục thì
không chỉ tác dụng đối với chính nó đệ lục ý thức mà còn đồng khởi lên
cùng với tiền ngũ thức nữa, nên thường gọi là nhất thiết cảnh thức, nó
có khả năng biến duyên khắp tất cả cảnh nội cũng như ngoại bất luận là
hữu hình hay vô hình trong ba thời, theo chức năng của nó.
Đối với các nhà Đại và Tiểu thừa đều chấp nhận ý
nghĩa thuyết lục thức tối sơ trong lục thức, tức là ý thức của lục thức.
Sau này lục thức được triển khai theo xu thế phát triển các bộ phái thì
lục thức được mang có đến mười tên gọi khác nhau tùy theo các bộ phái và
nhận thức của từng khía cạnh thuộc tính của nó như: phú dư lục thức, ý
thức, phân biệt sự thức, tứ trụ thức, phàn duyên thức, tuần cựu thức, ba
lãng thức, nhơn ngã thức, phiền não chướng thức, phân đọan tử thức.
Ngoài lục thức này ra, trong tông Duy thức còn đề cập đến Mạt-na thức
và, A-lại-da thức thành lập thành tám thức và, tiền thất thức lấy
A-lại-da thức làm chỗ dựa cho bảy thức trên mà duyên các cảnh chuyển
khởi nên thường gọi là thất chuyển thức hay chuyển thức. Ở trên tiền lục
thức có khả năng phân biệt rõ ràng đối tượng cho nên còn gọi là liễu
biệt cảnh thức (thức phân biệt riêng từng đối tượng). Riêng thức thứ bảy
gọi là tư lương thức (thức tư duy cân nhắc) và thức thứ tám A-lại-da gọi
là dị thục thức (thức thể nhân quả nghiệp báo). Hành giả nào muốn tham
cứu kỹ hơn thức theo các chủ trương của các kinh luận và các bộ phái
khác xin đọc Kinh Tạp A-hàm 36, Câu xá luận 2, 9, Thành duy thức luận 5,
Đại thừa khởi tín luận, Lăng già kinh 1, Nhiếp luận thích, Nhiếp luận
tông v.v…
Riêng ở đây chúng tôi xin trình bày thức phù hợp
với đề tài mười hai duyên khởi theo đức Đạo sư trong kinh Tạp A-hàm
39 Đ. 2, trang, 286 b thì, “Lúc bấy giờ ma Ba tuần nói kệ:
Trên dưới cùng các phương
Tìm khắp thần thức kia
Đều không thấy nơi này
Cù-đê-ca ở đâu?”
Ở đây, thức được quan niệm như là chủ thể của tâm
thức, tức chỉ cho tâm hay còn gọi là thần thức (xem kinh đã giới thiệu
trên) sau khi thân hoại mạng chung sẽ tùy theo nghiệp thức mà đi nhận
lãnh một thân mới trong ba cõi sáu đường và, có chỗ khác như kinh
Nghĩa túc Đại 4, trang 179 a thì, thần thức được coi như là sinh
mệnh:
“Tất cả bỏ đời, đến nơi nào?
Thần thức bỏ đi, danh còn ở đời.”
Sự hiện hữu và biến dịch của một sinh mệnh luôn
tùy thuộc vào nhân và duyên đủ để hình thành cộng vào với thời gian và
không gian để hiện hữu và biến mất qua thần thức. Đó là quan điểm có
được từ các bộ kinh nguyên thỉ được chính đức Đạo sư nói ra.
4/ Danh sắc, là từ ghép của namā (danh) và
rūpa (sắc) là chi thứ tư của mười hai chi duyên khởi. Đây là chi
gọi chung cho một sinh thể được kết hợp giữa tâm (tinh thần) và vật (vật
chất) trong một cá thể mà thuật ngữ chuyên môn gọi là ngũ uẩn (sắc chỉ
cho hình sắc thân thể của một cá nhân, còn thọ, tưởng, hành, thức chỉ
cho tâm thức không có hình thể để có thể nhận thấy như vật thể của sắc)
có được từ sự kết hợp nhân duyên mà hình thành và hiện hữu. Ở đây danh
chỉ cho phương diện tâm, còn sắc chỉ cho phương diện vật chất.
Quan hệ và ý nghĩa giữa danh và sắc thì theo các
bộ phái phát triển sau này vẫn có những bất đồng về cách giải thích theo
quan điểm nhận thức, vì trình độ căn cơ và việc tu chứng đẻ ra. Theo Hữu
bộ thì, thai sinh (danh sắc) đã hình thành được căn cứ vào mười hai
duyên khởi mà lý giải thì, trong mỗi chi như vậy đều lấy ngũ uẩn làm thể
cho nó. Ở đây ngũ uẩn sẽ xuất hiện khi thần thức thác thai sinh ra kết
quả trong vòng một sát-na tích tắc ban đầu, thời gian này còn gọi là
thức, là chi thức trong mười hai chi. Sau khi thần thức thác thai xong,
nhưng lúc đó bốn sắc căn chưa phát khởi và, trước khi lục xứ chưa đầy
đủ. Trong thời gian này gọi là danh sắc hay còn gọi là chi danh sắc,
trong khi đó theo các nhà Duy thức tông thì, cho rằng chủng tử của dị
thục (quả báo) uẩn chính là danh sắc. Do vậy trong mười hai duyên khởi
ngoại trừ chủng tử của thức gốc, lục căn, xúc và, thọ ra còn tất cả
những chi khác đều thuộc vào danh sắc.
5/ Lục xứ (nhập), tiếng Phạn gọi là
ṣaḍ-āyatana chỉ cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và, ý, chính là sáu
nơi (sáu căn) có khả năng tiếp thu sáu ngoại cảnh (lục xứ) ở bên ngoài
và, làm chỗ nương cho lục thức sinh ra cho nên gọi là xứ. Còn lục căn là
sáu nơi vào thuộc bên trong thân của một chủ thể và, lục cảnh là sáu đối
tượng đi vào thuộc bên ngoài thân thường được gọi chung là mười hai nhập
hay, mười hai xứ.
Tóm lại nếu lục căn và lục cảnh hỗ tương phối hợp
vào nhau mà sinh ra lục thức thì gọi là nhập; còn lục căn lục thức khi
làm chỗ nương tựa cho lục thức phát sinh thì gọi là xứ. Nhưng ở đây
chúng ta chỉ bàn đến lục nhập là chi thứ năm trong mười hai chi duyên
khởi thì, lục nhập có được nhờ duyên vào danh sắc để hình thành. Chính
sự hiện hữu của lục nhập cũng là duyên để cho xúc hiện hữu cho nên lục
nhập vừa là nhân của chính nó vừa là duyên để làm chỗ nương tựa (sở y)
cho xúc hiện hữu.
6/ Xúc, tiếng Phạn gọi là sparśa, Pāli gọi
là phassa, nó là hình thức tác dụng của tâm, là một trong những
tâm sở, là chỉ cho sự giao tiếp tiếp xúc giữa các cơ quan truyền cảm của
các cơ năng (căn) trong thân của một cá thể đối với các trần cảnh đối
tượng bên ngòai để cho ra nhận thức (thức). Ba quan năng này khi hòa hợp
với nhau sản sinh ra tác dụng của tinh thần; cũng chính là những cảm
giác có được, được sản sinh ra bỡi do sự tiếp xúc giữa chủ thể và đối
tượng, giữa chủ quan và khách quan. Như vậy theo trên chúng ta có sáu
căn, sáu trần, sáu thức khi chúng tiếp xúc tiếp cận nhau tạo ra sáu xúc
(lục xúc thân), chúng tùy thuộc vào sự tương ưng của nhiễm ô hay trong
sạch mà có tên gọi khổ-vui hay không khổ không vui.
Ở đây xúc thuộc chi thứ sáu, được chúng ta căn cứ
vào mười hai duyên khởi mà giải thích thì, xúc theo các nhà Hữu bộ
căn cứ vào phân vị của nó trong duyên khởi, nó thuộc vào thời kỳ còn là
anh nhi trẻ thơ nên sự tiếp xúc của sáu căn trong thân, sáu trần cảnh
bên ngoài, sáu thức sinh ra nhưng chưa có một tác ý vào nên chưa có sự
phân biệt khác nhau được trong khổ đau hay khoái lạc khi tiếp xúc chúng,
vì những cảm giác này chưa có sự can thiệp của ý.
7/ Thọ, Phạn ngữ gọi là vedanā, có nghĩa
là cảm thọ, cảm giác. Thọ được phát sinh từ sự duyên khởi liên hệ lệ
thuộc hợp tác giữa sáu cảm quan ( sáu căn) trong thân mỗi cá thể, sáu
đối tượng trần cảnh ở bên ngoài (sáu trần), cùng các chủ thể nhận thức
(sáu thức) hòa hợp tiếp xúc vào nhau mà hiện khởi ra cảm thọ hay, cảm
giác. Trong những trạng thái cảm thọ, cảm giác này có sự can thiệp của ý
nên thọ ở đây có trạng thái buồn, vui, không khổ không vui phát sinh tùy
theo thuộc tính cảm thụ của chúng. Ở đây trạng thái buồn vui tùy thuộc
vào sự tác ý lãnh nạp thuận nghịch đối với mọi sự phân biệt của ý còn
bản thân của căn trần, xúc không quyết định được những trạng thái này,
mà chúng có được nhờ vào sự can thiệp của ý tác động thuộc tinh thần,
nên có những cảm thọ hay những cảm giác khổ, vui, hoặc không khổ không
vui.
Theo kinh Tạp A-hàm 17 thì, thọ có từ một,
hai, ba, bốn, năm, sáu … cho đến vô lượng thọ chúng tùy thuộc vào tự
tướng từ khổ khổ, hoại khổ, hành khổ, tất cả khổ của một thọ cho đến vô
lượng thọ chúng hiện hữu trong quá khứ hiện tại và tương lai ba đời khác
nhau.
Theo Câu xá luận 1 thì, sự lãnh nạp của
thọ tùy thuộc vào xúc; còn theo Chánh lý luận 2 thì, cho rằng thọ
được lãnh nạp từ cảnh sở duyên (trần cảnh bên ngoài) nên gọi là chấp thủ
thọ; còn lãnh nạp từ sở tùy duyên thì gọi là tự tánh thọ. Theo
A-tỳ-đạt-ma tạng hiển tông luận 2 thì, nếu thọ lãnh nạp từ sở duyên
mà luận nghĩa thì trong nhất thiết tâm mọi tâm sở đều gọi là thọ cả, đặc
biệt chỉ cho sự lãnh nạp tùy thuộc vào xúc. Theo Ngũ sự Tỳ-bà-sa luận
quyển hạ thì, thọ được lãnh nạp từ cảnh sở duyên. Theo Thành Duy
thức luận 3, Thành Duy thức luận thuật ký 3 thì, cho rằng thọ
không thể duyên cùng xúc mà câu sanh, cho nên thọ lãnh nạp theo tướng
của các cảnh giới thuận nghịch, đó là nghĩa của nó.
Trên là nghĩa của thọ theo kinh luận, nhưng ở đây
chúng ta luận theo nghĩa của mười hai chi duyên khởi, đối với thọ là chi
thứ 7 của mười hai chi duyên khởi. Chi này chỉ cho thời thơ ấu thiếu
niên của một cá thể đối với khổ, vui cùng các trạng thái cá thể nhận
biết và phận biệt ra một cách rõ ràng. Theo Thuyết nhất thiết Hửu bộ
đối với phân vị duyên khởi mà nói thì, tuổi ấu thời tuy tri giác về khổ,
vui, nhưng vẫn chưa sinh khởi dâm ái, lúc này mới gọi là thọ; ở đây liên
hệ với thể của năm ấm mà không lấy thọ để làm thể. Theo các nhà Duy
thức thì, dùng vô minh và hành làm chi năng dẫn (dẫn đạo), còn thức
cho đến thọ chỉ là chi tùy thuộc (sở dẫn); lại nữa vô minh và hành thuộc
chủng tử chủ thể huân tập (năng huân), còn năm chi, thức cho đến thọ
thuộc về chủng tử đối tượng huân tập (sở huân). Ở đây có nghĩa là thức,
danh sắc, lục xứ, xúc … do vô minh, hành mà ảnh hưởng đến chủng tử của
A-lại-da thức cho nên gọi là thọ.
8 / Ái, Phạn ngữ gọi là tṛṣṇā, Pāli gọi là
piya, là chi thứ tám trong mười hai chi duyên khởi, có nghĩa là
tham luyến chấp trước đối với tất cả mọi sự vật nói chung và con người
nói riêng. Thông thường chữ ái được hiểu theo một nghĩa là thương yêu,
tham luyến một chiều; nhưng đối với Phật giáo thì ái mang hai bộ mặt
trái ngược nhau như kinh Tăng chi bộ thì ái được đức Đạo sư định
nghĩa như sau: “ái có thể sinh ra ái, cũng có thể sinh ra ghét; ghét
có thể sinh ra ái, cũng có thể sinh ra ghét.” Cho nên Phật giáo bảo
yêu là ghét, ghét là yêu là từ ý nghĩa này.
Như kinh Pháp cú trong kệ 212 đức Phật dạy:
“Từ ái sinh lo âu
Từ ái sinh sợ hãi
Lìa ái không lo âu
Nơi nào có sợ hãi?”
Từ ái nền tảng cơ bản này mà sinh ra bốn loại ái
khác nhau: Thân ái (pema), dục lạc (rati), ái dục (kāma),
khát ái (taṇhā). Về phương diện khác thì ái là một trong chín kết
còn gọi là tùy thuận kết, tức là đối với cảnh sinh tham luyến nhiễm
trước phiền não. Đó là đối với phiền não ác, còn đối với phiền não thiện
tức là chỉ cho tâm không nhiễm ô thì ái lạc pháp (yêu pháp vui) hay, yêu
mến sư trưởng cũng thuộc về ái đối với giải thóat vẫn là pháp chướng
ngại đạo. Theo Câu xá luận 4 thì, “Ái có nghĩa là ái lạc, thể
của nó là lòng tin, song ái có hai: ‘một là có nhiễm ô, hai là không
nhiễm ô. Có nhiễm ô gọi là tham, như yêu vợ con … Không nhiễm gọi là
tín, như yêu sư trưởng’ ...”
9 / Thủ, Phạn ngữ gọi là upādāna, là một
tên gọi của phiền não, nó là chi thứ 9 trong mười hai chi duyên khởi,
tức là chỉ cho lòng chấp trước vào đối cảnh từ chi thứ 8 tức là ái chủ
động thúc đẩy dẫn sanh đưa đến hiện hành mọi họat động nhiệt thành tích
cực hơn trong việc chấp thủ.
Theo Thuyết nhất thiết Hữu bộ thì vấn đề
phân vị của thủ trong mười hai duyên khởi cho rằng: Thủ là chỉ cho thời
kỳ thanh niên của một sinh thể hiện hữu đối với dâm, thực vấn đề khát ái
trở nên đòi hỏi và thúc đẩy nhiều hơn, cho nên việc tìm cầu để thõa mãn
nó thì chúng sinh không biết mệt mỏi, giai đọan này gọi là thủ (chấp
thủ: nắm giữ không để mất). Nhưng đối với Kinh bộ thì, dựa vào
nghĩa sát-na duyên khởi mà định nghĩa thủ là chỉ cho dục tham cùng các
thứ phiền não; cho đến vì hành tướng của nó mạnh mẽ sắc bén có thể khiến
cho lửa nghiệp cháy bừng mà giải thích nghĩa cho nó.
Theo các nhà Đại thừa Duy thức tông thì,
lấy thủ nhiếp giữ đối với chi năng sinh mà liên hệ với các thể phiền não
thông suốt đối với các chủng tử hiện hành.
Ngòai ra, thủ còn phân ra làm bốn loại: là Dục
thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã ngữ thủ. Vì chúng sanh là chủ thể nên
được gọi là năng thủ; đối lại với đối tượng ngoại tại là khách thể, nên
gọi là sở thủ.
10/ Hữu, Phạn ngữ gọi là bhava, có nghĩa
là tồn tại, sinh tồn, sự hiện hữu. Trong Phật giáo hữu được sử dụng rất
rộng rãi về ý nghĩa cũng như cách phân loại phần nhiều không giống nhau
trong chủ trương của các bộ phái phát triển sau này. Tuy nhiên trên đại
thể vẫn có tiếng nói chung chủ yếu chỉ chung thể của quả dị thục của các
chúng sanh hữu tình cùng khả năng chiêu cảm các nghiệp của thể quả dị
thục này cũng phát xuất từ nghiệp nhân thiện ác, để từ đó chiêu cảm quả
báo khổ-vui, các loại nhân quả báo ứng này luôn luôn tương tục không mất
cho nên gọi là hữu.
Theo Câu xá luận 9, Thành Duy thức luận
8 thì, nghiệp hay dẫn dắt quả báo trong tương lai chúng ta gọi nó là
“hữu” Đây chính là “chi hữu” trong mười hai duyên khởi.
Hữu theo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì các
pháp tồn tại thật hữu trong ba đời; nhưng theo các nhà Duy thức
thì lấy các pháp Y tha khởi tự tánh làm “giả hữu” lấy Viên thành thật tự
tánh làm “thật hữu”, chỉ có thật hữu này cùng với thật hữu ba đời của
Thuyết nhất thiết hữu bộ thì ý nghĩa không đồng, vì theo các nhà Duy
thức học chỉ có thật tánh (chân như) của các pháp là thường tồn tại
không bị sinh diệt chi phối, còn mọi hiện tượng do duyên sinh và do
duyên diệt thì sự hiện hữu của chúng là giả hữu, cho nên các nhà Duy
thức đặc xưng là diệu hữu hay chân hữu.
Tóm lại hữu được các bộ phái sau này tùy theo
quan điểm và cảm thụ sở đắc của họ đối với những lời dạy của đức Phật,
nên từ đó hữu được phân ra làm nhiều loại: Tam hữu (dục, sắc, vô sắc
giới), Thất hữu (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nhơn, thiên, nghiệp, trung
hữu), Nhị thập ngũ hữu (bao quát chi tiết từ ba đường ác, bốn châu, các
tầng trời, các cõi thiền… cho đến vô sắc giới thiên.), Nhị thập cửu
hữu… nói chung là tất cả các loài hữu tình chịu sinh tử luân hồi trong
ba cõi sáu đường đều thuộc vào sự lệ thuộc của Hữu.
11 / Sanh, Phạn ngữ gọi là jāta, Pāli gọi
là jāti, có nghĩa là sinh khởi từ nghiệp lực quá khứ đưa đến kết
quả trong tương lai một cách chính xác theo nghĩa của chi thứ mười một
trong mười hai chi duyên khởi. Theo Câu xá luận 9 thì, sự quan hệ
này chỉ cho thác thai vào đời vị lai từ một sát-na được kết sinh. Song
theo duy thức tông thì, sự giải thích nghĩa của nó lại rộng hơn, chấp
nhận từ ‘trung hữu’ đến ‘bổn hữu’ chưa có trung gian của lão suy nên chi
sanh thâu nhiếp cả.
- Sanh là một trong bốn tướng (sanh, trụ, dị,
diệt) là hiện tượng hiện khởi tương tục qua bốn tướng, tức pháp hữu vi
sanh từ thời vị lai cho đến thời hiện tại.
- Sanh này là một hiện tượng của sức mạnh sanh
xuyên suốt, sức mạnh này do thật thể mang lại cho chúng ta lý giải từ
sanh trụ dị diệt trong duyên khởi.
- Sanh là một trong bốn hữu, tức sanh hữu, là
sanh trong hiện tại, sát-na khi thác thai thọ sanh vẫn sanh tồn không
biến mất, nó được gọi là kết sanh hay là thọ sanh.
- Sanh còn chỉ cho nghĩa sanh tồn của cuộc sống.
Cuộc sinh tồn trong hiện tại được gọi là kim sanh; sự sanh tồn trong quá
khứ, vị lai thì được gọi là tha sanh.
- Chúng sanh y vào sự sai khác của thọ sanh tùy
theo đó mà chúng ta có thể phân loại. Như thai sanh, thấp sanh, nõan
sanh, hóa sanh, đó là bốn loại sanh. Ngòai ra còn có hữu sắc, vô sắc,
hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng phi vô tưởng ở trong chín loài sanh
hay mười hai loài sanh.
12 / Lão tử, Phạn ngữ gọi là jarā-maraṇa,
là hai từ ghép lại với nhau từ jarā, tức là già và, từ maraṇa có nghĩa
là chết, chúng là từ ghép thuộc chi thứ mười hai trong mười hai duyên
khởi, chỉ cho lúc chúng sanh cá thể suy biến đưa đến họai diệt. Căn cứ
vào nhân quả hai lớp ba đời mà nói thì, sinh chi và lão tử chi là hai
quả của đời vị lai, đối với đời hiện tại sau khi bỏ thân mạng, đó chính
là lúc bắt đầu hình thành thân mạng mới trong thời gian một sát-na để
năm uẩn tích hợp trở lại, lúc này gọi là chi sanh; ở đây sát-na thức
sanh khởi trở về sau theo đó danh sắc xuất hiện, lục xúc bắt đầu họat
động, thọ, ái dần dần tăng thêm cho đến khi nào tất cả đều biến đổi diệt
đi thì gọi là lão tử. Ở trong đây, lão là trạng thái suy biến của sắc và
tâm, còn tử là thọ mạng đã hết nên diệt hoại.
Ngoài ra, các nhà Duy thức lấy nhân quả
một lớp hai đời đối với mười hai duyên khởi thì sanh cùng lão tử là chi
sở sanh, từ ba chi ái, thủ, hữu đối tượng sanh ra sự suy biến của quả
báo năm uẩn cùng thân hoại mạng chung mời là chi lão tử.
Theo Thành duy thức luận
8 thì, trong bốn hiện tượng sanh, lão, bệnh, tử, thành lập sanh là một
chi, lão và tử hợp nhau lại thành một chi, còn bệnh thì không không đưa
vào trong chi nào là do bệnh không mang tính phổ quát cho tất cả mọi
loài chúng sanh, còn lão thì tự thân nó vẫn mang tính phổ quát cho mọi
chúng sanh không ai tránh khỏi lão cho nên lập nó vào một chi với tử.
Trên là tất cả mọi ý nghĩa và nội dung có được
của mười hai chi duyên khởi với ý nghĩa riêng và chung của chúng. Dưới
đây chúng tôi sẽ trình bày phần liên hệ lệ thuộc vào nhau để chúng hiện
khởi trong sinh diệt theo hai chiều lưu chuyển và hòan diệt của mười hai
duyên khởi.
B . SỰ LIÊN HỆ DUYÊN KHỞI CỦA MƯỜI HAI CHI NHÂN DUYÊN.
Theo Trường A-hàm 10, trong kinh Đại duyên
phương tiện thì:
Duyên si nên có hành, duyên hành nên có thức,
duyên thức nên có danh sắc, duyên danh sắc nên có lục nhập, duyên lục
nhập nên có xúc, duyên xúc nên có thọ, duyên thọ nên có ái, duyên ái nên
có thủ, duyên thủ nên có hữu, duyên hữu nên có sanh, duyên sanh nên có
lão tử, ưu, bi, khổ não họan lớn tích hợp, đó chính là duyên khổ ấm lớn.
Trong mười hai chi này chi trước làm nhân sinh khởi cho chi sau và,
ngược lại nếu chi trước diệt thì chi sau cũng diệt, cho nên trong
Trường A-hàm
10 kinh Đại duyên phương tiện, Phật dạy: “Này có nên
kia có, này sanh nên kia sanh; … này không nên kia không, này diệt nên
kia diệt.”
nói rõ về tướng của nó dựa vào sự đối đãi mà có sự quan hệ. Tức là tất
cả tướng mọi sự vật đều câu hữu dựa vào tánh mà hiện hữu, đều do nhân và
duyên thành lập cho nên nói là vô thường, khổ, vô ngã.
Theo kinh Tạp A-hàm 12 của Tiểu thừa[1]
thì cho rằng pháp duyên khởi là chân lý vĩnh hằng thực hữu bất biến,
chính đức Phật đã nhờ quán sát chân lý này mà giác ngộ, và cũng vì chúng
sanh mà khai thị pháp này, theo hai cách quán lưu chuyển và hoàn diệt.
a . Liên hệ duyên khởi theo lưu
chuyển và hòan diệt Quán:
Về sự thành tựu liên hệ khổ đau của con người
trong cuộc sống bằng cách nào, và bằng cách nào để hủy diệt chúng? Đức
Phật dạy:
“Thế nào là pháp nhân duyên[2]?
Là cái này có nên cái kia có, như duyên vô minh nên có hành, duyên hành
nên có thức, cho đến, tụ tập thuần một khối khổ lớn như vậy.
“Thế nào là pháp duyên sanh[3]?
Là vô minh, hành ... Dù Phật có xuất hiện hay chưa xuất hiện ở thế gian
thì pháp này vẫn thường trụ, pháp trụ, pháp giới[4].
Pháp này Như lai đã tự giác tri, thành Đẳng chánh giác, vì người diễn
nói, chỉ dạy, hiển bày rằng: Duyên vô minh có hành, cho đến, duyên sanh
nên có già, bệnh, chết, ưu, bi, não, khổ.
“Dù Phật có xuất hiện hay chưa xuất hiện ở thế
gian thì pháp này vẫn thường trụ, pháp trụ, pháp giới. Pháp này Như lai
đã tự giác tri, thành Đẳng chánh giác, vì người diễn nói, chỉ dạy, hiển
bày rằng: duyên sanh nên có già, bệnh, chết, ưu, bi, não, khổ.
“Các pháp này pháp trụ, pháp không[5],
pháp như, pháp nhĩ, pháp chẳng lìa như, pháp chẳng khác như, chân đế,
chân thật, không điên đảo. tùy thuận duyên khởi như vậy, đó gọi là pháp
duyên sanh[6].
Tức là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu,
sanh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, não, khổ. Đó gọi là pháp duyên sanh.
“Đa văn Thánh đệ tử đối với pháp nhân duyên và
pháp duyên sanh này bằng chánh tri mà thấy rõ như thật, không truy tìm
về đời trước[7]
mà nói rằng: ‘Tôi trong đời quá khứ hoặc có, hay không có? tôi trong quá
khứ là loài gì, tôi trong quá khứ như thế nào?[8]
Không truy tìm tương lai mà nói rằng: ‘Tôi ở đời vị lai hoặc có, hay
[84b] không có? tôi là loài gì, tôi sẽ như thế nào?’ Bên trong chẳng do
dự:[9]
‘Đây là những thứ gì? tại sao có cái này? Trước đây chúng là cái gì? Sau
này chúng sẽ là cái gì? Chúng sanh này từ đâu đến? ở đây mất rồi sẽ đi
về đâu?[10]
“Nếu các Sa-môn, Bà-la-môn nào khởi các kết sử
kiến[11]
phàm tục, tức là, kết sử của ngã kiến, kết sử của chúng sanh, kết sử của
thọ mệnh, hoặc kết sử của kiến chấp cữ kiêng tốt xấu.[12]
Khi tất cả những điều đó được đoạn tận, được biến tri, cắt đứt gốc rễ,
như chặt ngọn cây đa-la, ở đời vị lai thành pháp bất sanh. Đó gọi là đa
văn Thánh đệ tử đối với pháp nhân duyên và pháp duyên sanh bằng chánh
trí mà như thật khéo thấy, khéo tỉnh giác, khéo tu tập, khéo thể nhập.”
Theo các nhà Tiểu thừa thì pháp duyên sinh này dù
có Phật ra đời hay không ra đời pháp này vẫn thường trụ, pháp trụ, pháp
giới. Pháp này Như Lai đã tự giác tri thành Đẳng chánh giác, vì chúng
sanh mà diễn nói chỉ dạy, hiển bày, rằng:
- Chúng sanh từ vô thỉ cho đến nay, vì vô minh
hoặc nghiệp các phiền não theo đó mà khởi, nên đối với thật sự, thật lý
không nhận thức một cách rõ ràng minh bạch. Đó gọi là vô minh.
- Vì đối với thật sự, thật lý không biết rõ nên
tạo ra các tác nghiệp. Đó gọi là hành.
- Khi nghiệp nhân quá khứ mang thần thức đi thác
thai trong sát-na ban đầu. Đó gọi là thức.
- Sau khi nhập thai, thì cá thể kia có đầy đủ hai
yếu tố là sắc (chỉ cho thân xác), và phi sắc (chỉ cho thọ, tưởng, hành,
thức); nhưng lúc này sáu giác quan chưa hoàn thành. Đó gọi là danh sắc.
Danh (thọ, tưởng, hành, thức) sắc (chỉ cho xác thịt).
- Sau khi nhập thai xong, sáu giác quan của thai
nhi bắt đầu dần dần tăng trưởng hình thành. Đó gọi là lục nhập.
- Sau khi thai nhi ra đời, thời gian từ 1 tuổi
cho đến 3 tuổi là thời gian đứa trẻ bắt đầu dùng sáu giác quan (lục căn)
của mình tiếp xúc với hoàn cảnh chung quanh (lục trần) của mình để phát
sinh biết (lục thức). Trong thời gian này, tuy có sự tiếp xúc, có phát
sinh ra biết, nhưng những cảm giác đối với việc khổ việc vui chưa nhận
ra rõ ràng minh bạch được. Đó gọi là xúc.
- Khi đứa bé lên 4 tuổi và cho đến 15 tuổi, đây
là thời gian đối với những việc khổ, vui đứa bé bắt đầu có cảm giác
phân biệt rõ ràng, từ đó sinh ra tri giác; nhưng thời gian này chưa khởi
lên tham dục. Đó gọi là thọ.
- Con người theo thời gian càng lớn, ham muốn dục
vọng càng tăng trưởng. Lòng dục thúc đẩy (Ý) được thể hiện ra ngoài hành
động (thân, khẩu), nhưng vẫn chưa tìm cầu sâu rộng lắm. Đó gọi là ái.
- Khi tuổi hoàn toàn trưởng thành, con người muốn
đạt được tất cả mọi thứ mong cầu, nên đi khắp nơi tìm kiếm đem về cho
mình. Đó gọi là thủ.
- Vì có sự tìm cầu, chứa nhóm cho mình, nên các
hoặc nghiệp cũng từ đó phát sinh. Đó gọi là hữu.
- Do nghiệp lực hiện tại, nên sau khi từ bỏ xác
thân này, lại phải tiếp tục dẫn khởi thần thức ở trong sát-na đầu thai
vào trong tương lai. Đó gọi là sanh.
- Mỗi sát-na, từ khi sinh cho đến khi từ bỏ thân
mạng, giai đoạn thời gian này gọi là lão tử.
Đó là cách quán lưu chuyển hay còn gọi là quán
thuận qua mười hai nhân duyên, ngược cách quán này gọi là quán hoàn diệt
hay còn gọi là quán nghịch bắt đầu từ vô minh khát ái diệt bằng không
tạo ra tác nhân thì thọ quả hành cũng không, … cho đến sanh, lão tử cũng
không hiện hữu, và như vậy vòng xích mười hai nhân duyên không còn nữa.
Đó là cách giải thích thông thường quán thuận nghịch theo kinh nguyên
thỉ của các nhà Tiểu thừa.
Còn theo các nhà Đại thừa thì cách
quán của mười hai duyên khởi cũng giống như cách quán của bốn sự thật
(Tứ đế) về thuận và nghịch hay còn gọi là lưu chuyển quán hay hòan diệt
quán. Theo truyện Thích tôn nhờ cách quán thuận nghịch mười hai
nhân duyên này mà khai ngộ chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Theo A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận 4, cũng y cứ vào chi vô minh lấy
làm nguyên nhân đầu phát sinh cho sự duyên khởi quán trong quán mê lưu
chuyển theo chiều nghiệp lực sinh khởi trong tạp nhiễm quán, đối với
chúng sanh hữu tình trong ba cõi sáu đường. Đây là con đường mê sinh
khởi bắt đầu từ vô minh vọng động mê mờ tối tăm bất giác khởi lên, để
đưa đến hành động tạo nghiệp liên tục trong chiều thuận dòng sinh tử bất
tận, mà chiêu cảm cho quả khổ trong tương lai, qua sự thác thai để tiếp
tục hành trình theo sự dẫn dắt của vô minh vọng động trong suốt chiều
dài quá trình sinh hóa lưu chuyển luân hồi, không đầu không cuối trong u
u minh minh của kiếp sống.
Ở đây vô minh không phải là nguyên nhân đầu tiên
của vòng luân hồi sinh hóa biến diệt này đâu, mà vô minh chỉ là một
trong mười hai chi được đức Đạo sư nhận diện và tạm thời lấy nó làm
nguyên nhân đầu trong một vòng tròn mắc xích này mà thôi, nên vô minh
được tạm thời lấy làm nguyên nhân chính trong quán pháp lưu chuyển này.
Cũng theo đức Đạo sư muốn diệt được vòng tròn mắc xích vô minh sinh khởi
này thì tạm thời lấy lão tử làm kết quả cuối cùng để tìm ra nguyên nhân
duyên khởi tạo ra nó và, được coi như là mắt xích kết quả cuối cùng
trong cách quán hòan diệt hay, còn gọi là quán nghịch chiều sinh tử. Ở
trong cách quán này cũng giống như pháp quán trong bốn sự thật thì, diệt
đế củng là nguyên nhân đầu cũng là nguyên nhân cuối để tiêu diệt khổ và
cũng là kết quả chứng đắc Niết-bàn an vui cuối cùng để chấm dứt sinh tử,
còn trong mười chi duyên khởi thì lão tử cũng làm nhiệm vụ như vậy, vừa
làm nhân duyên đầu vừa làm kết quả cuối cùng trong việc diệt tận sinh tử
luân hồi. Từ lão tử theo thứ tự quán nghịch lên trở lại cũng theo chiều
sanh khởi như quán thuận cho đến khi nào chi vô minh không còn nữa thì,
phương pháp quán gọi là nghịch quán hay còn gọi tạp nhiễm nghịch quán.
Đối với cách quán nghịch này, nói chung chúng ta bắt đầu từ chi nào cũng
được, vì trong vòng xích mười hai duyên khởi này, nếu bất cứ một mắc
xích nào đó mà bị vô hiệu hóa chức năng sinh diệt của chúng thì tòan bộ
vòng tròn mắc xích đó bị phá tung. Ở đây chữ nghịch có nghĩa là nghịch
lại với sinh tử chứ không nghịch với duyên khởi lưu chuyển. Vì chúng ta
cũng có thể quán nghịch sinh tử tức là hòan diệt quán bắt đầu từ chi vô
minh cũng được. Nếu chúng ta bắt đầu quán hòan diệt từ chi vô minh xuôi
xuống lão tử thì lối quán này được gọi là thuận quán của hòan diệt, còn
nếu chúng ta bắt đầu từ lão tử nghịch lên vô minh thì gọi là nghịch quán
hòan diệt. Đây là cách quán thuận hòan diệt: Do vô minh diệt nên hành
diệt và duyên khởi như vậy cho đến lão tử diệt, đó là cách quán thuận để
đưa hành giả đến việc chấm dứt sinh tử chứng ngộ Niết-bàn thành tựu
trong hiện quán, còn gọi là thanh tịnh thuận quán. Và đây là cách quán
nghịch của hòan diệt: Do lão tử diệt nên sinh diệt và duyên khởi như vậy
cho đến vô minh diệt, đó là cách quán nghịch để đưa hành giả đến việc
chấm dứt sinh tử chứng ngộ Niết-bàn thành tựu hiện quán, cách quán này
còn gọi là thanh tịnh nghịch quán.
Theo Đại Tỳ-bà-sa luận 24
thì, phương pháp quán mê lưu chuyển sinh khởi trong mười hai chi phải
trừ hai chi vô minh và hành ra vì chúng thuộc hai chi quá khứ, còn quán
hòan diệt để đưa đến việc chấm dứt mê thành tựu hiện quán thì phải dùng
hết mười hai chi.
Trên là cách nhận thức về mười hai duyên khởi,
chúng liên hệ trong nhân duyên sanh khởi như thế nào qua mười hai chi
tạo thành dòng sinh mệnh khổ đau qua nhân quả ba đời, và cách quán thuận
nghịch để trước hết nhận chân ra bộ mặt thật của các pháp trong đó ngã
pháp được hình thành ra sao và biến dịch ra sao? Chiều nào là thuận
đường sinh tử khổ đau, chiều nào là nghịch dòng sinh tử giải thóat khổ
đau đưa hành giả đến chứng đắc Niết-bàn an vui giải thóat?
b. Mười hai duyên khởi và vấn đề nhân quả.
Vấn đề nhân quả luôn tùy thuộc vào thời gian, cho
dù là thời gian ngắn, nhỏ nhiệm đến đâu nhân quả cũng có mặt. Trong mười
hai chi duyên khởi cũng tùy thuộc vào thời và nhân quả để hình thành
hiện hữu tồn tại biến dịch qua luật tắc vô thường chi phối. Do đó mười
hai nhân duyên sinh khởi cũng tùy thuộc vào thời gian ngắn dài mà nhân
quả của mười hai duyên khởi được định hình theo đó. Theo sự liên hệ giải
thích qua mười hai duyên khởi của Kinh Trường A-hàm như trên đã
cho hành giả chúng ta một cái nhìn căn đễ cơ bản về sự hình thành nhân
quả qua mười chi duyên khởi như thế nào rồi. Theo đây chúng tôi sẽ trình
bày nhân quả qua mười hai chi duyên khởi theo các bộ phái như thế nào.
Theo Câu xá luân 9 thì, mười hai duyên
khởi được giải thích theo bốn cách nhân quả khác nhau theo thời gian như
sau:
1/ Sát-na duyên khởi: tức một sát-na trong
tâm khi chúng ta khởi lên thì chúng đầy đủ cả mười hai chi cùng lúc, ví
dụ như nhân vào tâm tham của mình khởi lên tâm sát sinh, ngay trong thời
gian đó trong tâm nó đã có đầy đủ ngu si vô minh, cho nên khi vô minh có
mặt tức là hành có mặt, mà hành có mặt thì thức có mặt, thức có mặt thì
danh sắc có mặt, danh sắc đã có mặt thì lục nhập có mặt và như thế cả
mười hai chi có mặt cùng trong một thời gian sát-na khởi lên, vì theo
nguyên tắc duyên khởi như Đức Đạo đã dạy về duyên khởi như trên thì:
“Đây có nên kia có, đây sanh nên kia sanh; … đây không nên kia không,
đây diệt nên kia diệt.”
2/ Liên phược duyên khởi: Đây là nguyên
tắc thời gian gần trong việc hình thành nhân quả trong hiện tại của mười
hai chi duyên khởi qua nguyên tắc nhân quả tiền nhân hậu quả đi theo sau
đó tức thời. Như mvậy thì mười hai chi này liên tục duyên khởi không có
bất cứ một thời gian nào gián đọan xen vào, chúng hình thành mười hai
duyên khởi lệ thuộc vào tiền nhân hậu quả trong quan hệ theo thứ tự.
3/ Phần vị duyên khởi: Phần vị mười hai
chi duyên khởi là biểu thị quá trình cùng trạng thái lưu chuyển sinh tử
của chúng sinh hữu tình qua thời gian, tùy thuộc vào nghiệp lực của
nghiệp nhân mạnh hay yếu trong việc thọ quả nhanh hay chậm.
4/ Viễn tục duyên khởi: Ở đây căn cứ vào
thời gian lâu dài để giải thích sự hiện hữu của chúng theo hệ thống nhân
quả chiêu cảm từ đời trước qua đời này và hình thành quả mãn của quá khứ
trong hiện tại và, tạo tác nhân mới cho sự chiêu cảm quả trong tương lai
nữa mà thuật ngữ chuyên môn gọi là tam thế lưỡng trùng nhân quả để giải
thích hay có thể nhiều đời tùy thuộc vào tác nhân nghiệp đã tạo ra
trong quá khứ.
Riêng theo các nhà Hữu bộ dùng thuyết phần
vị duyên khởi trên mà chủ trương về nhân quả hai lớp ba đời, tức vô minh
cùng với hành là phần vị của các loài hữu tình khi tạo nghiệp phiền não
thuộc đời quá khứ, chỉ cho thân tâm mà nói. Y cứ vào hai nhân thời quá
khứ này mà thần thức trong sát-na mới thác thai vào bụng mẹ, phần vị của
hữu tình bấy giờ là thức; trong sát-na thứ hai của thác sinh trở về sau,
lúc này phần vị lục căn chưa đầy đủ gọi là danh sắc; khi phần vị lục căn
trong thai đầy đủ rồi thì gọi là lục xứ; sau khi ra khỏi thai cho đến ba
tuổi, thời gian này chỉ có tiếp xúc giữa căn và cảnh sinh ra xúc giác
nhưng chưa có sự tác ý; thời gian từ bốn tuổi cho đến mười lăm tuổi là
thời gian cảm thọ, cảm giác chín mùi vì có sự tác ý phân biệt lấy bỏ nên
phần vị lúc này là thọ: giai đọan từ phần vị thức cho đến phần vị thọ
được gọi là năm quả trong hiện tại. Thời gian 16 - 30 tuổi là thờ gian
ái dục mạnh mẽ, nên lúc này ở vào phần vị ái; thời gian từ 30 trở về sau
là giai đọan tâm tham trước mạnh mẽ, nên lúc này ở vào phần vị thủ; như
vậy mà tạo ra nghiệp thì gọi là phần vị hữu; ba phần vị trên là ba nhân
hiện tại đời này. Do nhân này mà cảm quả phần vị đời vị lai là sanh; và
từ đó cho đến khi thân hoại mạng chung là phần vị lão tử. Hai chi này
chính là hai quả của đời vị lai. Sự phân loại này phân ra là ba đời quá,
hiện và, vị lai, lập lại hai lớp nhân quả, đó gọi là tam thế lưỡng trùng
nhân quả như trên chúng tôi đã trình bày.
Theo Duy thức luận
8 thì, từ vô minh cho đến hữu là nhân, sanh, lão tử là quả, cho nên các
nhà Duy thức tông
chỉ lập một lớp nhân quả mà thôi. Vì hai chi vô minh, hành liên hệ với
nhân của năm chi từ thức cho đến thọ trong chức năng dẫn dắt: hai chi vô
minh, hành là năng dẫn, trong khi năm chi từ thức cho đến thọ là sở dẫn;
bảy chi này gọi chung là nhân dẫn dắt. Vì nhân của ba chi ái, thủ, hữu
làm năng sinh cho hai chi sanh, lão tử trong tương lai, nên ba chi này
gọi là chi năng sanh hay, nhân sanh khởi; còn hai chi sanh, lão tử gọi
là chi sở sanh hay, sở dẫn sanh.
Đó là những chủ trương và những quan niệm của các
bộ phái sau này về cách nhìn theo nhân quả đối với mười hai duyên khởi;
tuy sự phân chia khác nhau về thời gian tính và tùy thuộc vào thuộc tính
của các chức năng phần vị trong từng chi một; nhưng tựu trung chúng chỉ
khác nhau về quan niệm thời gian, chậm nhanh, dài, ngắn để hình thành
quan niệm của mỗi bộ phái về nhân quả qua mười hai duyên khởi. Ở đây chỉ
có sát-na duyên khởi là không tùy thuộc vào thời gian qua luật tắc nhân
quả; nhưng vì thời gian quá nhanh để mắt thường tình chúng sanh hữu tình
như chúng ta không thấy được, tuy vậy chúng ta cũng có thể y cứ vào nhứt
niệm thời gian hiện hữu thì vô lượng thời gian hiện hữu trong nhau, nên
ở đây chúng ta có thể có một quan niệm về đồng thời nhân quả từ sát-na
sinh diệt hiện hữu qua mười hai duyên khởi có được.
Tóm lại, mười hai duyên khởi như
chúng tôi đã y cứ vào các kinh điển nguyên thỉ, các kinh điển bộ phái
phát triển sau này của Đại thừa và Tiểu thừa cho hành giả chúng ta một
nhận thức về sự hình thành một nhân sinh quan cùng vũ trụ quan qua sự
sinh khởi biến dịch của nhân duyên. Qua đó nhân quả duyên khởi được biểu
hiện rõ nét qua từng thuộc tính cá biệt đặc thù sai biệt và tính phổ
quát hỗ tương nhau trong việc hình thành nghiệp nhân và nghiệp quả khổ
đau trong ba cõi sáu đường, theo phần vị thời gian kích động của nghiệp
lực mà tạo thành một vòng tròn mắc xích sinh hóa trong chiều biến dịch
của lưu chuyển nhiễm ô thuận quán. Cũng từ trong hiện quán nhiễm ô lưu
chuyển thuận quán này theo đức Đạo sư nếu hữu tình chúng sanh muốn vượt
ra khỏi vòng tròn sinh hóa biến dịch lưu chuyển của khổ đau này thì, chỉ
cần hành giả quán nghịch lại con đường sinh hóa đó bằng hai cách quán
thanh tịnh dù thuận hay nghịch với chiều sinh tử cũng khiến hành giả
vượt ra khỏi mê lộ để trở về chánh lộ thanh tịnh giải thóat đạt an vui
Niết-bàn trong tịch tịnh ngay trong hiện quán.
[1]
Đ. 2, Tạp A-hàm kinh, q. 12, kinh 334, tr. 92b-92c.
[2]
Nhân duyên pháp, hay lý duyên khởi. Pāli: paṭiccasamuppāda.
[3]
Duyên sanh pháp, hay duyên dĩ sanh. Pāli: paṭiccasamuppanna
dhamma.
[4]
Pāli: uppādā vā tathāgatānaṃ anuppādā vā tathāgatānaṃ, ṭhitā va
sā dhātu dhammaṭṭhitatā dhammaniyāmatā idappaccayatā, Các Như
lai xuất hiện hay không xuất hiện, giới này (đạo lý này) vốn
thường trú; đó là tính a n trụ của pháp (pháp trụ tánh), tính
quyết định của pháp (pháp vị tánh), và tính y duyên (tương y
tương duyên).
[5]
Pháp trụ, pháp không
法住,
法空;
trong bản Pāli: dhammāṭṭhitatā (pháp trụ tánh), dhammaniyāma
(pháp vị tánh, pháp định tánh).
[6]
Pāli: katame ca, bhikkhave, paṭiccasamuppannā dhammā?
jarāmaraṇaṃ, bhikkhave, aniccaṃ saṃkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ
khayadhammṃ vayadhammaṃ virāgadhammaṃ nirodhadhammaṃ, các pháp
duyên sanh (duyên sanh pháp) là gì? Già chết là vô thường, hữu
vi, do duyên mà khởi, chịu quy luật đào thải, tiêu vong, ly
tham, diệt tận.
[7]
Hán: tiền tế
前際,
Pāli: pubbantaṃ
[8]
Pāli: ahosiṃ nu kho ahaṃ atītamaddhānaṃ, nanu kho ahosiṃ
atītamaddhānaṃ, kiṃ nu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ, kathaṃ nu kho
ahosiṃ atītamaddhānaṃ, kiṃ hutvā kiṃ ahosi nu kho ahaṃ
aittāmaddhānaṃ, quá khứ tôi hiện hữu hay không hiện hữu? Quá khứ
tôi là gì, tôi là thế nào? Quá khứ, do hiện hữu cái gì mà tôi
hiện hữu?
[9]
Pāli: etarahi paccuppannaṃ addhānaṃ ajjhattaṃ kathaṃkathī
bhavissati, hoặc ở đây trong đời hiện tại mà nên trong có nghi
hoặc.
[10]
Pāli: ahaṃ nu kho’smi, no nu kho’ smi, kiṃ nu kho’smi, kathaṃ nu
kho’smi, ayaṃ nu hko sattā kuto āgato, so kuhiṃ gamissatī’ti, ta
đang hiện hữu, hay không đang hiện hữu? ta đang là cái gì? ta
đang là thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Rồi nó sẽ đi đâu?
[11]
Hán: kiến sở hệ
見所繫.
Pāli: diṭṭhi-saṃyojana.
[12]
Kỵ húy cát khánh kiến sở hệ ?
忌諱吉慶見所繫
|