PHẬT LÝ CƠ BẢN
Thích Đức Thắng
(Mục Lục)
四 諦
BỐN SỰ THẬT
(catur-vidhaṃ satyam)
Tứ đế là pháp đầu tiên được đức Phật chuyển pháp
luân nơi vườn Lộc dã cho năm người bạn cũ đã tu khổ hạnh trước đó với
Ngài, sau khi Ngài thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tứ đế là giáo
nghĩa cơ bản dùng để giải thích mọi hiện tượng nhân sinh vũ trụ được quy
nạp từ thập nhị nhân duyên, là con đường trung đạo duy nhất giải thoát
sinh tử luân hồi, là những lời dạy đại cương trên đại thể của giáo nghĩa
nguyên thỉ của đức Phật cho cả Tiều thừa lẫn Đại thừa sau này.
Bốn sự thật đó là:
KHỔ ĐẾ (Dukkha-satya)
TẬP ĐẾ (Samudaya-satya)
DIỆT ĐẾ (Nirodha-satya)
ĐẠO ĐẾ (Marga-satya)
I - SỰ THẬT VỀ KHỔ
(duḥkha-satya):
Đức Phật đã căn cứ vào những hiện tượng duyên
khởi-hiện hữu-vô thường-biến dịch của nhân sinh và vũ trụ mà xác nhận
rằng thế gian là giả tạm, bất toàn, trống rỗng, là Dukkha. Ngay đến
những trạng thái mà người đời cho rằng hạnh phúc an vui cũng luôn bị
luật vô thường chi phối nên chúng chỉ là những trạng thái có được giả
tạm không thật hữu, nên chúng cũng thuộc về Dukkha. Do đó, Dukkha bao
gồm tất cả mọi ý nghĩa được quan niệm có được phát xuất từ ba phương
diện: Khổ-khổ (Dukkha-dukkha), hoại-khổ (viparināma-dukkha), và hành-khổ
(samkhāra-dukkha).
a) Khổ-khổ chỉ cho những trạng thái khổ não bức
bách thân tâm phát xuất từ sanh-lão-bệnh-tử và khi tiếp xúc với những
liên hệ duyên khởi đối với mọi hoàn cảnh sống chung quanh chúng ta phát
sanh ra những thứ tình cảm buồn-đau của nghịch ý (oán tắng hội); và phải
lìa xa những người chúng ta thương yêu quí mến và những hoàn cảnh yêu
thích của ta (ái biệt ly); cùng những gì mà chúng ta mong muốn đạt được
nhưng chúng không thuận tình với mong ước của chúng ta (cầu bất đắc); và
tất cả những đau khổ về thể xác cũng như tinh thần khi năm ấm chúng
không điều hòa được, sinh ra xung đột (ngũ ấm xí thạnh). Những thứ đau
đớn khổ sở này phát xuất từ tám thứ khổ mà bất cứ ai trong chúng ta cũng
có thể nhận rõ bộ mặt thật của chúng là dukkha cả. Dukkha ở đây thuộc
nghĩa khổ thông thường, nó chính là khổ-khổ.
b) Hoại-khổ là cái khổ phát xuất từ trạng thái
tâm lý cả những cảm giác hoan lạc, hạnh phúc nào đó đã được chúng ta
kinh qua nhưng những trạng thái cảm giác hoan lạc, hạnh phúc vui sướng
này chúng không trường cửu và thực hữu như ý muốn của chúng ta. Chúng sẽ
qua đi và bị thay đổi bởi luật vô thường. “Trong Kinh Tăng chi bộ
(Anguttara-nikàya), một trong năm tạng kinh nguyên thỉ bằng tiếng Pali,
chứa đựng những bài thuyết pháp của đức Phật, có những bảng kê những
hạnh phúc (sukkàni), như hạnh phúc của cuộc đời ẩn sĩ và hạnh phúc của
cuộc sống gia đình, hạnh phúc của khoái lạc giác quan và hạnh phúc của
sự từ bỏ thế tục, hạnh phúc của sự ràng buộc và hạnh phúc của sự giải
thoát, hạnh phúc vật lý và hạnh phúc tâm linh v.v…
Nhưng tất cả những điều này đều bao gồm trong dukkha. Cả đến những cảnh
giới tâm linh rất thuần khiết của thiền (dhyàna - suy tư, tĩnh lự), đạt
được nhờ thực hành Thiền quán, hoàn toàn thoát khỏi cả đến bóng dáng của
khổ đau theo nghĩa thông thường, những cảnh giới có thể gọi là hạnh phúc
thuần túy cũng như cảnh giới thiền đã vượt khỏi những cảm giác vừa lạc
(sukkha), vừa khổ (dukkha), và chỉ còn là thức thuần tịnh - cả đến những
cảnh giới tâm linh rất cao siêu đó, cũng được bao hàm trong dukkha.
Trong một quyển Kinh của bộ Majjhima-nikàya (cũng thuộc một trong năm
tạng nguyên thỉ), sau khi ca tụng hạnh phúc tâm linh của những cảnh
thiền ấy, đức Phật dạy rằng “chúng đều là vô thường, khổ (dukkha), và
phải chịu đổi thay (aniccà dukkhà viparimàmadhammà)”. Theo đức Phật,
như vậy những gì đổi thay, biến đổi, nó phát sinh ra mọi đau khổ và bất
hạnh đối với chúng ta, cho dù đó là những cảnh giới hạnh phúc chúng ta
đạt được của Thiền định tối cao đi nữa, chúng vẫn bị lệ thuộc vào vô
thường và mang mầm mống của dukkha, vì chúng còn nằm trong vòng cảnh
giới được thủ đắc bởi chúng ta, huống chi là những cảm giác khoái lạc,
hạnh phúc tình thường của thế gian, hay những cảm giác đau khổ khác mà
chúng ta gánh chịu trong cuộc sống. Dukkha ở đây thuộc về nghĩa
hoại-khổ.
Đó là hai hình thức dukkha (khổ) mà mỗi người
trong chúng ta ai cũng có thể hiểu được và không một ai có thể chối cãi
rằng chúng không phải dukkha thông thường hằng ngày chúng ta kinh nghiệm
đối với sự thật khổ thứ nhất.
c) Hành-khổ, đây là hình thức quan trọng nhất đối
với khía cạnh triết lý trong sự thật thứ nhất. Theo đức Phật chữ “hành”
ở đây chỉ cho năm tích hợp (ngũ uẩn) cho ra một “thực thể”, một “cá
thể”, hay “ngã”. Như vậy cái mà chúng ta gọi là thực thể, cá thể, hay
bản ngã chính là sự phối hợp các năng lực của tâm vật lý được gọi là ngũ
uẩn (pañcakkhandha) này, đức Phật cho là dukkha. Như Samkhittena
pancupàdànakkhandhà dukkhà đức Phật dạy: “Tóm lại, năm uẩn trói buộc
là dukkha.” Và có nơi đức Phật lại định nghĩa một cách rõ ràng:
“Dukkha là gì? Phải nói rằng đấy là ngũ uẩn.” Qua những lời dạy của
đức Phật cho chúng ta hiểu một cách rõ ràng rằng năm hành uẩn chính là
dukkha, và ngược lại dukkha chính là năm hành uẩn, chúng không phải là
hai cũng không phải là khác. Như vậy, dukkha ở đây chính là hành-khổ.
Muốn hiểu rõ ràng và tường tận về hành-khổ thì bắt buộc chúng ta phải
thấu hiểu về năm hành uẩn phối hợp cấu tạo ra cái mà chúng ta gọi là bản
ngã, cái tôi hay thực thể như thế nào? Và năm uẩn là gì?
Dưới đây là năm uẩn:
1/ Sắc uẩn
2/ Thọ uẩn
3/ Tưởng uẩn
4/ Hành uẩn
5/ Thức uẩn.
1. Sắc uẩn:
(Skrt: rūpa-skandha, Pāli: rūpakkhandha). Uẩn thứ
nhất là chỉ cho thế giới vật thể có thể thấy được, rờ mó động chạm được
thuộc về ngoại giới hay có thể hình dung được qua ký ức những hình ảnh
còn tồn đọng rơi rớt lại trong nội tâm, và còn có một vài quan điểm ý
nghĩ hay tư tưởng ở trong phạm vi là những đối tượng của ý. Chúng bao
gồm bốn đại là: đất, nước, lửa, gió, (địa, thủy, hỏa, phong) và những
chất do từ bốn đại tạo ra. Trong những sắc chất do từ bốn đại tạo ra nầy
gồm có năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) khi tiếp xúc với những đối
tượng ngoại giới tương đương với năm căn chính là năm cảnh (hình sắc, âm
thinh, mùi, vị), những vật có thể động chạm khi tiếp xúc (sắc, thinh,
hương, vị, xúc). Tất cả thế giới vật thể, thuộc nội tâm cũng như ngoại
giới như vậy, chúng đều được xếp vào trong sắc uẩn.
Sắc uẩn được quan niệm như vậy, không những chỉ
cho thế giới vật chất, chúng ta có thể nhận thấy qua những hình ảnh bằng
mắt, bằng xúc chạm đối với thế giới bên ngoài, mà còn mang những hình
ảnh biểu tượng cho đối tượng của tâm thức qua ký ức nữa. Những hình sắc
biểu tượng này theo đức Phật dạy trong Kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1,
phẩm 1, Tương ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đến kinh 7, đức Phật dạy các
Tỳ-kheo là hãy quán sát và tư duy chân chánh về sắc uẩn một cách rõ ràng
là vô thường. Tỳ-kheo nào đối với sắc không biết, không rõ, không đoạn
tận, không ly dục thì không thể đoạn trừ khổ não; tâm không giải thoát,
thì không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào
đối với sắc mà yêu thích, thì đối với khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào
đối với sắc, không biết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải
thoát thì sẽ không vượt qua khỏi - sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.
Tỳ-kheo nào yêu thích sắc, thì cũng yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ thì
đối với khổ không được giải thoát. Và cũng trong kinh Tạp A-hàm q. 1,
Đ. 1, phẩm 2, Tương ưng I, phần Ngũ uẩn, từ kinh 8 – 12, đức Phật
cũng dạy các Tỳ-kheo, sắc quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là sắc
hiện tại. Sắc là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải
ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào
quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hay sắc là vô thường. Vô
thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì
cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chân
thật chánh quán. Hoặc sắc là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các sắc,
chúng cũng vô thường. Vậy, các sắc được sanh ra từ nhân và duyên vô
thường, làm sao có thể là thường được? Hay sắc là vô thường. Nhân và
duyên sanh ra các sắc chúng cũng vô thường. Vậy, các sắc được sanh từ
nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Đó chính là
những lời dạy của đức Phật cho các Tỳ-kheo về sắc uẩn, qua đây sắc uẩn
chính là đối tượng của quan sát và xúc chạm khi năm giác quan tiếp xúc
với năm trần cảnh bên ngoài như là chính nó, chưa mang lại cho chúng ta
tác ý hay phân biệt nào thì những hình ảnh biểu tượng này, chúng chỉ là
những huyễn tướng, chúng mang tính chất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng
phải được chúng ta quan sát và tư duy một cách chân chánh về chúng như
vậy, và sau khi chúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậy rồi thì buộc
chúng ta phải xa lìa chúng, vì bản thân chúng chính là vô thường, khổ,
vô ngã, không có sở hữu. Chúng chính là khổ trói buộc, nên chúng ta muốn
giải thoát khổ trói buộc thì phải xa lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa
lìa sinh-già-bệnh-chết trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
2. Thọ uẩn:
(Skt: vedanā-skandha, Pāli: vedanàkkhandha). Uẩn
thứ hai là chỉ cho cảm giác. Trong uẩn này bao gồm tất cả những cảm giác
vui, khổ, hoặc không vui không khổ, cảm giác được sinh ra từ cảm nhận do
sự tiếp xúc giữa những cảm quan vật lý (6 căn) với thế giới bên ngoài (6
cảnh). Những cảm giác này có 6 loại: những cảm giác phát sinh khi mắt
xúc tiếp với những hình sắc, tai với âm thanh, mũi với mùi, lưỡi với vị,
thân thể với những vật cứng mềm, và ý (mà trong triết học Phật giáo được
xem là quan năng thứ sáu) với những đối tượng của ý thức như tư tưởng, ý
nghĩ. Tất cả mọi cảm giác vật lý và tâm lý của ta đều bao hàm trong uẩn
này.
Thọ uẩn được quan niệm như vậy, không những chỉ
cho cảm giác có được về thế giới vật chất, chúng ta có thể nhận biết qua
những trung gian bằng mắt... bằng xúc chạm đối với thế giới bên ngoài
nhờ có tác ý, mà còn mang lại những cảm giác đó trở thành đối tượng của
tâm thức qua ký ức nữa. Và những cảm giác này theo đức Phật dạy trong
kinh Tạp A-hàm q.1, Đ. 1, phẩm I, Tương ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đến
kinh 7, đức Phật dạy các Tỳ-kheo là hãy quán sát và tư duy chân
chánh về cảm giác (thọ uẩn) một cách rõ ràng là vô thường. Tỳ-kheo nào
đối với cảm giác không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục thì
không thể đoạn trừ khổ não; tâm không giải thoát, thì không vượt qua
khởi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào đối với cảm giác mà
yêu thích, thì đối với khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào đối với cảm giác,
không biết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát thì sẽ
không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào yêu
thích cảm giác, thì cũng yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ thì đối với khổ
không được giải thoát. Và cũng trong Kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm
2, Tương ưng I, phần Ngũ uẩn, từ kinh 8 - 12 đức Phật cũng dạy các
Tỳ-kheo, cảm giác quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là cảm giác
hiện tại. Cảm giác là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng
phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo
nào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hay cảm giác là vô
thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng
phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy
gọi là chân thật chánh quán. Hoặc cảm giác là vô thường. Nhân và duyên
sanh ra các cảm giác, chúng cũng vô thường. Vậy, các cảm giác được sanh
ra từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Hay cảm
giác là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các cảm giác chúng cũng vô
thường. Vậy, các cảm giác được sanh từ nhân và duyên vô thường, làm sao
có thể là thường được? Đó chính là những lời dạy của đức Phật cho các
Tỳ-kheo về thọ uẩn, qua đây, thọ uẩn chính là những cảm giác vui, khổ,
hoặc không vui không khổ, cảm giác được sinh ra từ cảm nhận do sự tiếp
xúc giữa những cảm quan vật lý (6 căn) với thế giới bên ngoài (6 cảnh),
sinh ra bởi sự tác ý của ý thức mà có được. Những cảm giác này chúng
cũng mang tính chất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải được chúng ta
quan sát và tư duy một cách chân chánh về chúng như vậy, và sau khi
chúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậy rồi thì buộc chúng ta phải
xa lìa chúng, vì bản thân chúng chính là vô thường, khổ, vô ngã, không
có sở hữu. Chúng chính là khổ trói buộc, nên chúng ta muốn giải thoát
khổ trói buộc thì phải xa lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa lìa
sinh-già-bệnh-chết trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
3. Tưởng uẩn:
(Skt: saṃjñā-skandha, Pāli:
sannàkkhandha). Chỉ cho tri giác, cũng như “thọ uẩn”, “tưởng uẩn” (tri
giác) cũng bao gồm sáu căn bên trong và sáu cảnh bên ngoài. Cũng như
những cảm giác (thọ), “tri giác” được phát sinh do sự tiếp xúc giữa sáu
căn nội giới với sáu trần (cảnh) ngoại giới. Chính những tri giác nầy,
nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linh. Tưởng uẩn được quan niệm như
vậy, cũng như cảm giác, tri giác có được về thế giới vật chất, chúng ta
có thể nhận biết qua những trung gian bằng mắt... bằng xúc chạm đối với
thế giới bên ngoài, không những chỉ có tác ý thôi mà cộng thêm vào phân
biệt nữa và còn mang những tri giác đó trở thành đối tượng của tâm thức
qua ký ức nữa như thọ uẩn. Và những tri giác này theo đức Phật dạy trong
Kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 1, Tương ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1
đến kinh 7, đức Phật dạy các Tỳ-kheo là hãy quán sát và tư duy chân
chánh về tri giác (tưởng uẩn) một cách rõ ràng là vô thường. Tỳ-kheo nào
đối với tri giác không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục thì
không thể đoạn trừ khổ não; tâm không giải thoát, thì không vượt qua
khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào đối với tri giác mà
yêu thích, thì đối với khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào đối với tri giác,
không biết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát thì sẽ
không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào yêu
thích tri giác, thì cũng yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ thì đối với khổ
không được giải thoát. Và cũng trong kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm
2, Tương ưng I, phần Ngũ uẩn, từ kinh 8 – 12, đức Phật cũng dạy các
Tỳ-kheo, tri giác quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là tri giác
hiện tại. Tri giác là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng
phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo
nào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hay tri giác là vô
thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng
phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy
gọi là chân thật chánh quán. Hoặc tri giác là vô thường. Nhân và duyên
sanh ra các tri giác, chúng cũng vô thường. Vậy, các tri giác được sanh
ra từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Hay tri
giác là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các tri giác chúng cũng vô
thường. Vậy, các tri giác được sanh từ nhân và duyên vô thường, làm sao
có thể là thường được? Đó chính là những lời dạy của đức Phật cho các
Tỳ-kheo về tưởng uẩn, qua đây tưởng uẩn chính là những tri giác biết
phân biệt đối với nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linh vui hay, khổ,
hoặc không vui không khổ đối với mọi sự vật chung quanh chúng ta: nào
tốt xấu, đúng sai, thành bại v.v... tri giác được sinh ra từ cảm nhận do
sự tiếp xúc giữa những cảm quan vật lý (6 căn) với thế giới bên ngoài (6
cảnh) sinh ra bởi sự tác ý và phân biệt của ý thức mà có được. Những tri
giác này chúng cũng mang tính chất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải
được chúng ta quan sát và tư duy một cách chân chánh về chúng như vậy,
và sau khi chúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậy rồi thì buộc
chúng ta phải xa lìa chúng, vì bản thân chúng chính là vô thường, khổ,
vô ngã, không có sở hữu. Chúng chính là khổ trói buộc, nên chúng ta muốn
giải thoát khổ trói buộc thì phải xa lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa
lìa sinh-già-bệnh-chết trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
4. Hành uẩn:
(Skt: vijñāna-skandha, Pāli: samkhàrakkhandha).
Uẩn thứ tư là chỉ cho những sự tạo tác của tâm thức hay các hoạt động
của ý chí, gồm xấu hay tốt. Những tác nhân do tâm ý tạo ra thuộc nội tâm
thì thường được gọi là nghiệp, chúng thuộc vào uẩn nầy. Như chính đức
Phật đã định nghĩa về nghiệp như sau: “Hỡi các Tỳ Kheo, chính ý muốn
ta gọi là nghiệp. Khi đã muốn, thì người ta liền thực hành bằng thân,
miệng, ý. Ý muốn là sự tạo tác bằng tâm ý, hoạt động tâm linh. Công việc
của nó là dắt dẫn tâm ý trong phạm vi những hoạt động xấu, tốt hoặc
không xấu không tốt” (trang 19, sđd). Cũng như cảm giác (thọ) hay
tri giác (tưởng), hành cũng gồm sáu loại, tương quan với lục căn (sáu
quan năng nội giới) và sáu cảnh (6 đối tượng ngoại giới tương ứng) cho
cả vật lý và tâm lý. Ở đây, cảm giác và tri giác không phải là những
hoạt động ý chí, vì chúng không phát sinh những nghiệp quả, chỉ có những
hoạt động do ý chí mới phát sinh nghiệp quả. Có tất cả 52 tâm sở (những
hoạt động tâm ý) như thế, tạo nên hành uẩn.
Hành uẩn ở đây được quan niệm như là những hoạt
động của ý chí vậy. Cũng như cảm giác, tri giác, ý chí có được về thế
giới vật chất, chúng ta có thể nhận biết qua những trung gian bằng
mắt... bằng xúc chạm đối với thế giới bên ngoài, không những chỉ có tác
ý thôi mà còn cộng thêm vào phân biệt nữa và còn mang những tri giác đó
trở thành đối tượng của tâm thức qua ký ức nữa như thọ uẩn, tưởng uẩn.
Nhưng ở đây, ý chí khác với cảm giác và tri giác ở chỗ: cảm giác và tri
giác không phát sinh ra những nghiệp quả, còn hoạt động của ý chí phát
sinh ra nghiệp quả. Và những ý chí này theo đức Phật dạy trong kinh
Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 1, Tương ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đến kinh 7,
đức Phật dạy các Tỳ-kheo là hãy quán sát và tư duy chân chánh về ý chí
(hành uẩn) một cách rõ ràng là vô thường. Tỳ-kheo nào đối với ý chí
không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục thì không thể đoạn
trừ khổ não; tâm không giải thoát, thì không vượt qua khỏi sự sợ hãi về
sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào đối với ý chí mà yêu thích, thì đối
với khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào đối với ý chí, không biết, không rõ,
không lìa tham dục, tâm không giải thoát thì sẽ không vượt qua khỏi sự
sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào yêu thích ý chí, thì cũng
yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ thì đối với khổ không được giải thoát.
Và cũng trong kinh Tạp A-hàm q.1, Đ.1, phẩm 2, Tương
Ưng I, phần Ngũ uẩn, từ kinh 8 – 12,
đức Phật cũng dạy các Tỳ-kheo, ý chí quá khứ, vị lai là vô thường huống
chi là ý chí hiện tại. Ý chí là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức
là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của
ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hay ý chí
là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì
chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát
như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hoặc ý chí là vô thường. Nhân và
duyên sanh ra các ý chí, chúng cũng vô thường. Vậy, các ý chí được sanh
ra từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Hay ý chí
là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các ý chí chúng cũng vô thường. Vậy,
các ý chí được sanh từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường
được? Đó chính là những lời dạy của đức Phật cho các Tỳ-kheo về hành
uẩn, qua đây hành uẩn chính là những ý chí. Ý chí này chính là ý muốn,
là sự tạo tác bằng tâm ý, nói chung đó là hoạt động tâm linh. Công việc
của nó là dắt dẫn tâm ý trong phạm vi những hoạt động xấu, tốt hoặc
không xấu không tốt. Những ý chí tạo ra nghiệp này chúng cũng mang tính
chất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải được chúng ta quan sát và tư duy
một cách chân chánh về chúng như vậy, và sau khi chúng ta quan sát tư
duy chân chánh như vậy rồi thì buộc chúng ta phải xa lìa chúng, vì bản
thân chúng chính là vô thường, khổ, vô ngã, không có sở hữu. Chúng chính
là khổ trói buộc, nên chúng ta muốn giải thoát khổ trói buộc thì phải xa
lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa lìa sinh-già-bệnh-chết trong quá khứ
hiện tại và tương lai.
5. Thức uẩn:
(Skt: vijñāna-skandha, Pāli: vinnànakhandha). Uẩn
thứ năm là thức, là một phản ứng có căn bản, phát xuất từ sự phối hợp
giữa sáu căn và sáu cảnh để có được sáu thức, là một trong sáu giác
quan, và đối tượng tương ứng của một trong sáu giác quan là một trong
sáu hiện tượng ngoại giới. Chẳng hạn, nhãn thức có được nhờ con mắt tiếp
xúc với một hình sắc thấy được làm đối tượng... và cho đến ý thức có
được là nhờ có tâm ý làm căn bản, một sự vật thuộc tâm giới, như một ý
niệm hay tư tưởng (pháp), làm đối tượng, để phát sinh ra sáu thức. Như
vậy, thức liên quan với những quan năng khác và cũng như thọ, tưởng,
hành, thức gồm sáu loại tương quan với sáu căn và sáu cảnh.
Như vậy rõ ràng thức không nhận ra một đối tượng
là gì chỉ vì thức ở đây chưa qua tác ý, chỉ là một thứ rõ biết về sự
hiện diện của một đối tượng mà thôi. Như khi mắt xúc tiếp với một màu
xanh chẳng hạn, nhãn thức liền phát sinh, nhưng chỉ là một sự ý thức về
sự hiện diện của màu sắc, chứ không nhận ra đấy là màu xanh. Ở đoạn này
chỉ xuất hiện có thấy đối tượng như là chính nó, chứ chưa qua tác ý nhận
thức là gì, tức là không có sự nhận thức. Chỉ khi nào có sự can thiệp
của tri giác mới nhận ra rằng đấy là màu xanh. Vậy “nhãn thức” là một từ
ngữ triết học ám chỉ cùng một ý như chữ thấy, nghe, ngửi mùi, nếm vị,
xúc chạm, ý, thông thường. Thấy không có nghĩa nhận biết. Các loại khác
của thức (nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức) cũng vậy. Như đức
Phật đã dạy cho một vị đệ tử tên là Sāti (What the Buddha Taught, by
Ven. Walpola Rahula (1959, 1974) Thích nữ Trí Hải dịch Saigon 1966 -
trang 20): “Thức được gọi tên tùy theo bất cứ điều kiện đối tượng nào
nhờ đấy nó phát khởi: nhờ con mắt và những hình dáng mà một thức phát
sinh, và nó được gọi là nhãn thức; nhờ tai và âm thanh mà một thức phát
sinh và nó được gọi là nhĩ thức; nhờ mũi và mùi mà một thức phát sinh và
nó được gọi là tỷ thức; nhờ lưỡi và vị mà một thức phát sinh và nó được
gọi là thiệt thức; nhờ thân thể và những sự vật sờ mó được mà một thức
phát sinh và nó được gọi là thân thức; nhờ tâm ý và những đối tượng tâm
giới (tư tưởng hoặc ý nghĩ) mà một thức phát sinh, và nó được gọi là ý
thức.” Và những thức này theo đức Phật dạy trong Kinh Tạp A-hàm
q. 1, Đ. 1, phẩm 1, Tương Ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đến kinh 7, đức
Phật dạy các Tỳ-kheo là hãy quán sát và tư duy chân chánh về thức (thức
uẩn) một cách rõ ràng là vô thường. Tỳ-kheo nào đối với ý chí không
biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục thì không thể đoạn trừ khổ
não; tâm không giải thoát, thì không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh,
già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào đối ý chí mà yêu thích, thì đối với khổ
cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào đối với thức, không biết, không rõ, không
lìa tham dục, tâm không giải thoát thì sẽ không vượt qua khỏi sự sợ hãi
về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào yêu thích thức, thì cũng yêu thích
khổ. Ai yêu thích khổ thì đối với khổ không được giải thoát. Và cũng
trong Kinh Tạp A-hàm q.1, Đ.1, phẩm 2, TươngƯng I, phần Ngũ uẩn, từ
kinh 8 8 -12, đức Phật cũng dạy các Tỳ-kheo, thức quá khứ, vị lai là
vô thường huống chi là thức hiện tại. Thức là vô thường. Vô thường tức
là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng
phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh
quán. Hay thức là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải
ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào
quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hoặc thức là vô thường.
Nhân và duyên sanh ra các thức, chúng cũng vô thường. Vậy, các thức được
sanh ra từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Hay
thức là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các thức chúng cũng vô thường.
Vậy, các thức được sanh từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là
thường được? Đó chính là những lời dạy của đức Phật cho các Tỳ-kheo về
thức uẩn, qua đây thức uẩn chính là những ý thức. Ý thức này chúng cũng
mang tính chất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải được chúng ta quan sát
và tư duy một cách chân chánh về chúng như vậy, và sau khi chúng ta quan
sát tư duy chân chánh như vậy rồi thì buộc chúng ta phải xa lìa chúng,
vì bản thân chúng chính là vô thường, khổ, vô ngã, không có sở hữu.
Chúng chính là khổ trói buộc, nên chúng ta muốn giải thoát khổ trói buộc
thì phải xa lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa lìa sinh-già-bệnh-chết
trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Qua ngũ uẩn như chúng tôi trình bày ở trên, cho
thấy cái mà ta gọi là một "linh hồn" hay "cá thể" hay "tôi", chúng cũng
chỉ là một cái tên gọi, một nhãn hiệu chúng ta đặt cho một sự tích hợp
của năm uẩn đó, để phân biệt với cái khác cùng lúc hiện hữu với nó.
Nhưng nếu năm tích hợp này đứng độc lập thì cái mà chúng ta gọi là linh
hồn, bản thể, cá thể, hay cái tôi chúng sẽ không hiện hữu. Như vậy sự
hiện hữu có được của nó là một hiện hữu giả tạm trên mặt tích hợp, do
nhân duyên hòa hợp nương vào nhau mà sinh khởi và biến dịch theo luật vô
thường. Tất cả chúng đều vô thường, tất cả đều hằng biến. “Bất cứ cái gì
vô thường đều là khổ”. Đó là ý nghĩa chân chính của lời Phật dạy:
“Tóm lại, Ngũ uẩn trói buộc là khổ” (trang 421, sđd).
Tóm lại, về ý nghĩa của đế thứ nhất khổ, là chúng
ta phải hiểu sự thật thứ nhất này một cách rõ ràng và chính xác, bởi vì
như đức Phật dạy: “Người nào thấy rõ được khổ cũng thấy luôn nguyên
nhân của khổ, cũng thấy luôn sự diệt khổ và cũng thấy luôn con đường đưa
đến sự diệt khổ”
(Trang 21 sđd). Vậy thì khổ theo như đức Phật đã dạy ở trên thì điều này
không làm cho Phật tử chúng ta buồn rầu phiền muộn, để rồi đưa đến bi
quan yếm thế như một vài người lầm tưởng. Mà ngược lại, Phật tử chân
chính chúng ta sẽ là những người hạnh phúc nhất trần gian. Bởi vì chúng
ta sẽ không phải chịu khổ đời đời, kiếp kiếp nữa, nếu chúng ta thấy được
khổ của chính chúng ta, để từ đó chúng ta thấy luôn nguyên nhân của khổ;
thấy được sự diệt khổ, sẽ được thực hiện qua việc chúng ta thấy rõ con
đường đưa đến sự diệt khổ và theo đó chúng ta thực hành thì khổ đối với
chúng ta không còn là gì nữa. Đối với nó, chúng ta không sợ hãi lo lắng
và dao động nữa. Chúng ta sẽ có một cuộc sống an bình thanh thoát và sẽ
không bị bất cứ tai nạn hay biến chuyển nào làm cho chúng ta điêu đứng
đảo điên, vì chúng ta đã thấy mọi sự vật đúng như thật. Mặc dù cuộc
sống chúng ta có bất hạnh khổ đau, nhưng một Phật tử chúng ta không nên
thất vọng và buồn đau vì nó, và cũng không nên oán hận hay thiếu kiên
nhẫn vì nó. Theo đức Phật, oán hận hay thù ghét là một trong những điều
xấu xa nhất ở đời. Vì nó là tiền đề đưa chúng ta đến những hành động gây
bất hạnh và đau khổ cho chính chúng ta và chúng sanh khác. Nếu chúng ta
có thái độ thiếu kiên nhẫn trước khổ đau là một thái độ sai lầm. Sự
thiếu kiên nhẫn hay oán hận trước khổ đau không làm cho đau khổ biến
mất. Mà ngược lại sẽ tăng thêm rối ren và làm mọi việc trở nên trầm
trọng trước một hoàn cảnh vốn đã khó chịu đối với chúng ta. Điều quan
trọng ở đây không phải là oán hận hay thiếu kiên nhẫn, mà chúng ta phải
thấu đạt rõ ràng vấn đề khổ đau, nó đã được phát sinh thế nào, làm sao
chúng ta xua đuổi nó ra khỏi cuộc sống, và tùy đó mà hành động theo tám
phương cách chân chánh (bát chánh đạo) như chính đức Phật đã dạy, với ý
chí kiên nhẫn, có nghị lực, sáng suốt và quả quyết. Cứu cánh cuối cùng
của Phật giáo là an vui, tự tại. Theo đức Phật muốn đạt được an vui tự
tại thì phải giải thoát tất cả mọi thái độ tư tưởng buồn đau, phiền
muộn, u ám và chúng ta xem đó là một trở ngại cho việc thực hiện chân lý
đạt Niết-bàn, chúng ta cần phải loại trừ chúng.
II - SỰ
THẬT VỀ TẬP (samudaya-satya):
Còn gọi là nguyên nhân của khổ: Nhận thức đúng về
tất cả nghiệp hoặc phiền não, chúng có khả năng nhóm họp tích chứa quả
khổ sinh tử ba cõi luân hồi. Sự thật về Tập là sự thật chỉ cho quan hệ
duyên khởi cùng căn nguyên nguồn gốc mọi thứ khổ của chúng sanh ở trong
thế gian này. Sự thật thứ hai là sự thật tập khởi về sự phát sinh hay
nguồn gốc của khổ (Dukkhasamudaya - ariyasacca). Định nghĩa về chân lý
thứ hai, được đức Đạo sư giảng dạy cho đồ chúng rải rác trong ba tạng
giáo điển; trong giáo lý khởi nguyên cũng như giáo lý phát triển sau này
của các bộ phái, trong đó có cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. Chúng ta tìm
thấy sự thật này qua các văn bản được kết tập lại sau này. Trong rất
nhiều bản kinh nguyên thủy cũng như phát triển sau này đều ghi nhận ái
(Skr. tṛṣṇā, priya; Pāli. Piya,
taṇhā) là đầu mối trực tiếp phát
sinh ra sự tái sinh của tất cả chúng sanh trong ba cõi, sáu đường. Như
trong kinh Tạp A-hàm 49, kinh số 1307, Đ. 2, tr. 259, đức Phật đã
định nghĩa về sự thật thứ hai đối với sắc tập khởi: “Thế nào là sắc
tập khởi? là tham ái đối với hữu vi vị lai câu hữu với tham, hỷ, mê đắm
nơi này hay nơi kia. Đó gọi là sự tập khởi của thế giới.” Qua đó,
tùy thuộc vào căn cơ của tất cả chúng sinh trong ba cõi mà ái được đức
Đạo sư trình bày giảng dạy:
1- Đầu tiên ái là một chi trong mười hai chi được
đức Phật đề cập trong mười hai nhân duyên, chỉ cho lòng tham luyến chấp
trước đối với tất cả mọi sự vật trên đời nói chung; ngay đến vấn đề
yêu-ghét cũng đều từ gốc ái mà phát sinh, như Tăng-chi-bộ kinh
đức Phật dạy: “Ái có thể sinh ra ái (yêu), cũng có thể sinh ra ghét;
và ghét có thể sinh ra yêu, cũng có thể sinh ra ghét.” Do đó ở đây,
ái phục vụ cho cả ba độc tham, sân, si, là nguyên nhân trực tiếp gây ra
nghiệp nhân, khiến cho tất cả mọi chúng sanh luân hồi tái sinh trong ba
cõi sáu đường theo chiều lưu chuyển của mười hai nhân duyên. Vì sự ham
muốn, khao khát, thèm thuồng, xuất hiện dưới nhiều hình thức của ái, nên
đã phát sinh không biết bao nhiêu hình thái khổ đau của sanh tử. Nhưng
đấy chỉ là nguyên nhân trực tiếp chứ chưa phải là nguyên nhân đầu tiên;
vì theo Phật, mọi sự vật đều tương quan, tương liên phụ thuộc vào nhau,
nên không có bất cứ một nguyên nhân đầu tiên nào. Ngay cả ái được xem
như nguyên nhân phát sinh hay nguồn gốc của đau khổ, nhưng nó cũng tùy
thuộc vào một cái khác để phát sinh ra nó, đó là “thọ” (vedanā), và
“thọ” muốn hiện hữu cũng phải tùy thuộc vào “xúc” (sparśa) và cứ thế nối
tiếp nhau trên một vòng tròn mà thuật ngữ Phật học gọi là Duyên sinh
(Skt: pratiya-samutpāda; Pāli: Paticca-samuppāda).
Tuy ái, không phải là nguyên nhân đầu hay nguyên
nhân duy nhất của sự phát sinh ra khổ đau, nhưng nó là nguyên nhân trực
tiếp và rõ ràng nhất mà chúng ta có thể nhận thấy trong chính cuộc sống
của chúng ta, cũng chính là nguyên nhân chính yếu và phổ quát nhất.
Trong những nguyên bản Pāli tạng, và Hán tạng của Phạn văn định nghĩa về
Tập bao gồm cả những xấu xa bất tịnh, và kể cả những gì tốt đẹp trong
sạch cũng được thêm vào “ái” lúc nào cũng được nêu ra trước như trong
Tăng-chi-bộ kinh
đã dẫn ở trên. Trong giới hạn bài này, ta chỉ cần nhớ rằng trọng tâm của
“ái” này là ý niệm chấp thủ sai lầm về ngã và pháp phát sinh vì vô minh
nên chúng ta phải chịu lưu chuyển tái sinh trong ba cõi sáu đường.
Và cũng từ ái này chuyển sinh ra thân ái (pema),
dục lạc (rati), dục ái (kāma) tùy theo các duyên quan hệ mà ái phát
sinh. Nếu quan hệ tình cảm thương yêu theo thân tộc huyết thống đối với
cá nhân mỗi người thì gọi là ái; đối với tình cảm bạn bè thân hữu không
phải là dòng họ bà con thì gọi là thân ái; đối với một ai đó mà mối quan
hệ tình cảm yêu thương đặc biệt dẫn đến khoái lạc đam mê vật chất thì
gọi là dục lạc; đối với những khát khao mong muốn về những khoái lạc
giác quan nói chung trong tính quan hệ tình cảm thương yêu thì gọi là
dục ái. Đó chính là những đầu mối đưa đến sự tái sinh của mọi chúng sanh
trong ba cõi.
2- Thứ hai ái là một trong chín kết (cửu kết) gọi
là ái kết. Là kết đầu trong chín kết, hay còn gọi là tùy thuận kết. Theo
định nghĩa trong Đại Tỳ-bà-sa luận thì: Ái kết chỉ cho lòng tham
của ba cõi; nhưng lòng tham của ba cõi ở trong chín kết gọi chung là ái
kết, và trong sáu tùy miên thì tùy miên đầu là tham. Tùy miên được phân
ra làm hai: dục tham tùy miên (chỉ cho dục giới) và hữu tham tùy miên
(chỉ cho sắc và vô sắc giới), nên còn gọi là bảy tùy miên. Nhưng theo
một số kinh khác thì thiết lập tam ái: Dục ái, sắc ái và vô sắc ái. Vì
vậy cho nên lòng tham của ba cõi gọi chung là ái kết. Có kinh đức Phật
còn dạy có ba ái như dục ái (kāma-tṛṣṇā)
chỉ cho lòng khát khao ham muốn, chấp giữ che dấu, tham đắm ái nhiễm
trong cõi dục; hữu ái (bhava-tṛṣṇā)
chỉ cho lòng khao khát ham muốn, chấp giữ che dấu, tham đắm ái nhiễm các
cõi sắc và vô sắc; và vô hữu ái (vibhava-tṛṣṇā)
có nơi còn gọi là diệt ái chỉ cho lòng khát khao ham muốn pháp Niết-bàn
chân không.
3- Thứ ba chỉ cho hai ái: không nhiễm ô và nhiễm
ô. Tâm không nhiễm ô là chỉ cho yêu thích pháp, yêu mến thầy và các bậc
tôn trưởng, nơi mọi người đặt niềm tin vào đó để mong cầu đưa đến an vui
hạnh phúc; tâm nhiễm ô là chỉ cho lòng ham thích vợ chồng con cái và các
thứ dục lạc trên đời về tinh thần lẫn vật chất, mà chúng có thể kéo
chúng ta đi đến khổ đau sau đó.
Đó là ba sự thể hiện trong sự có mặt của ái trong
cuộc sống của chúng ta. Như vậy, từ “ái” không những chỉ bao gồm sự ham
muốn, đam mê trói buộc nhau qua những khoái lạc giác quan, tài sản và
thế lực thuộc về vật chất mà còn là sự ham muốn, ràng buộc về tinh thần
với những tư tưởng, ý nghĩ, quan niệm, lý thuyết, khái niệm và sự tin
tưởng về những gì mà chúng ta ham muốn được sở hữu. Theo đức Phật, tất
cả mọi thứ rắc rối xung đột và tranh chấp trên thế gian đều xuất phát từ
những sự va chạm vụn vặt trong gia đình giữa cá nhân với cá nhân, phát
sinh từ tự ái cá nhân cho đến tự ái tập thể về màu da, sắc tộc, tôn
giáo, ý thức hệ chính trị; theo đó những cuộc khủng bố lẫn nhau về cả
hai mặt vật chất và tinh thần cùng những cuộc chiến tranh tàn khốc giữa
các quốc gia với nhau, đều phát sinh do lòng tự “ái” vị kỷ này. Tất cả
mọi vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội đều bắt nguồn từ cội rễ do lòng
tham vị kỷ mà ra. Và những thành tựu của chúng về mặt vật chất có những
tiến bộ vượt bực, nhưng bên cạnh đó chúng nảy sanh ra những tệ hại và
bất ổn khác về tinh thần càng ngày càng trở nên sâu sắc hơn, trong những
mưu đồ bất chính qua những thủ đoạn càng ngày càng tinh vi về mọi mặt,
chúng có thể giết người hàng loạt, có thể tiêu diệt mọi thứ trong nháy
mắt. Những tự ái cá nhân trước kia, bây giờ chúng núp dưới những chiêu
bài tự ái tập thể, để có thể nhân danh chân lý này, chân lý nọ mà thực
hiện những cuộc chiến tranh, những cuộc khủng bố đẫm máu về vật chất,
cũng như những khủng bố về tinh thần, làm cho con người không còn tự làm
chủ chính mình được nữa mà phải cúi đầu vâng dạ làm theo những dục vọng
điên cuồng của bọn ma đầu trục lợi. Chúng nuôi lớn những dục vọng cá
nhân của chúng qua dục vọng tập thể. Cho dù có những nhà đại chính khách
muốn dàn xếp những tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia với các quốc
gia, nhưng họ chỉ đứng trên mặt hiện tượng mà giải quyết và dàn xếp thì
những việc làm này cũng chỉ đi phớt bên ngoài, trong lúc những di hại từ
gốc rễ của chúng lại không giải quyết. Như đức Phật đã dạy Rattapàla:
“Thế gian thiếu thốn, khát khao và bị nô lệ cho dục vọng.”(sđd,
tr. 24)
Vậy, theo đức Phật, muốn giải quyết vấn đề này,
là phải giải quyết ngay gốc rễ của chúng đó, chính là lòng khát ái dục
vọng. Dầu cho vật chất của thế giới này tiện nghi tiến bộ đi đến đâu đi
nữa, nhưng so với lòng dục vọng tham muốn khát khao, của con người vẫn
không sao lấp đầy được, vì lòng tham này là lòng tham không đáy. Cũng do
điều này mà mọi vấn đề rắc rối luôn luôn hiện hữu, những giải quyết như
vậy lúc nào cũng đi theo sau đuôi chúng. Thật ra vấn đề này, nhìn vào
những hiện tượng bên ngoài, ai cũng có thể đánh giá được mọi tệ nạn xấu
xa hiện đã và đang tràn lan trên khắp thế giới. Chúng đều phát sinh từ
lòng dục vọng ích kỷ mỗi người nói riêng và tập thể nói chung, điều này
ai cũng có thể hiểu được không khó. Nhưng ở đây, làm sao lãnh hội được
khát ái dục vọng, ham muốn ấy lại có thể phát sinh ra sự tái sinh luân
hồi và giải quyết để chấm dứt nguồn gốc phát sinh ra chúng? Đây mới là
vấn đề cốt lõi chính để chúng ta bàn về chúng. Ở đây, chúng ta muốn bàn
về chúng cần phải đề cập đến khía cạnh triết lý sâu xa của sự thật thứ
hai, và chúng phải tương ứng với khía cạnh triết lý của sự thật thứ
nhất. Đó là sự quan hệ giữa nhân (sự thật thứ hai) và quả (sự thật thứ
nhất) trong thuyết luân hồi nghiệp báo. Vì ở đây, việc tái sinh của khát
ái dục vọng được bắt nguồn trực tiếp vào thức ăn nuôi dưỡng chúng, nên
trong bốn loại thức ăn này, đoàn thực (kavaḍiṃkārāhāra) là loại
thức ăn vật chất thông thường như chúng ta dùng hằng ngày; xúc thực (sparśākārāhāra),
thức ăn có được nhờ sự tiếp xúc giữa các giác quan, kể cả ý thức với
ngoại giới; Tư niệm thực (manaḥ-saṃcetanākārāhāra),
và Thức thực (vijñānākārāhāra), ý chí hay ý muốn là thức ăn của
tâm thức. Loại thức ăn thứ ba là loại thức ăn trực tiếp, chính là ý chí
muốn sống, muốn tồn tại, tái sinh, tương tục, tăng trưởng nuôi lớn kế
tục khát ái dục vọng đi vào tương lai của chúng ta, đó là Tư niệm thực.
Từ ý chí muốn sống, muốn hiện hữu, muốn tồn tại,
muốn tái sinh tương tục này, mà qua thân khẩu ý, khát ái dục vọng đã tạo
ra không biết bao nhiêu nghiệp thiện, ác (kusalàkusalakama). Nó
cũng như ý chí (tư - cetàna), là nguyên nhân trực tiếp tạo ra
nghiệp nhân khổ trong quá khứ để trong hiện tại chúng ta nhận quả khổ
của nhân quá khứ, và trong hiện tại chúng ta tạo nhân nghiệp cho quả khổ
trong tương lai. Như đức Phật đã bảo chính ý chí là nghiệp, như chính
đức Phật đã dạy trong Hành uẩn ở trên đã định nghĩa. Nói đến tư niệm
thực vừa kể trên, đức Phật đã dạy: “Khi người ta hiểu tư niệm thực,
người ta sẽ hiểu được ba thứ ái.” (sđd, tr. 24) Qua đây, chúng ta
nhận thấy những từ ngữ ái, ý chí, tư niệm, hay nghiệp, tất cả chúng đều
ám chỉ cho cùng một thứ dục vọng, ý muốn hiện hữu, tồn tại, tái sinh,
trở thành, tăng trưởng, tích hợp, là nguyên nhân, là nguồn gốc trực tiếp
phát sinh ra khổ đau. Chúng luôn hiện diện và được tìm thấy trong hành
uẩn, một trong năm uẩn hình thành sự hiện hữu của một hữu tình chúng
sinh.
Vậy quả khổ của chúng ta trong hiện tại có được,
chúng phát xuất từ nhân khổ đã tập khởi trong quá khứ, do chính chúng ta
tạo ra bởi những hành động chấp trước sai lầm. Chính khát ái dẫn dắt mà
chúng ta đã tái sinh vào cuộc đời này để thọ quả khổ do nhân sai lầm
trước kia mang lại. Vậy việc sinh ra trong hiện tại của chúng ta hay tái
sinh trong tương lai, chúng đã và đang mang mầm mống của đau khổ ngay
trong bản chất của chính nó (đau khổ), và cũng chính trong mầm mống khổ
đau được sinh ra này, chúng cũng đều thuộc về bản chất của diệt, như
chính đức Phật đã từng dạy: “Yam kinci samudaya dhammam sabbamtam
nirodha dhammam - Bất cứ cái gì thuộc về bản chất của sinh đều cũng
thuộc về bản chất của diệt.” (sđd, tr. 25) Vì bản chất của khổ
đau là vô thường, vô ngã. Dù chúng có hiện hữu sinh ra đi nữa, thì sự
hiện hữu phát sinh của chúng cũng chỉ là một sự hiện hữu do nhân duyên
hòa hợp sinh ra. Vì vậy, chúng chỉ là một sự hiện hữu phát sinh giả hợp,
không có thật. Chúng được sinh ra nhờ duyên thì chúng diệt đi cũng nhờ
duyên để diệt. Bất cứ một vật nào hiện hữu được nhờ sự sinh khởi của các
duyên, thì chính ngay trong bản chất của sự sinh khởi này đã có sẵn bản
chất, mầm mống của sự chấm dứt và hủy diệt. Như vậy, đau khổ có trong
nó, bản chất phát sinh ra nó, và cũng có luôn trong nó bản chất hủy diệt
của nó. Theo đức Phật, chính điều này có được nên chúng ta mới có tu
đạo, có đoạn trừ để chấm dứt những thứ vô minh sai lầm mang lại khổ đau
cho chúng sinh. Và điều này chúng tôi sẽ trình bày lại trong sự thật thứ
ba (nirodha-satya
Như trên chúng ta đã đề cập đến ý chí có thể tạo
ra nghiệp thiện hay ác tương đối. Và cũng từ đây phát sinh nghiệp lực
thiện thì sẽ tùy theo sức mạnh của nghiệp nhân thiện mạnh hay yếu mà
phát sinh thiện quả nhanh hay chậm, và nghiệp lực ác phát sinh quả ác
nhanh hay chậm, chúng tùy thuộc vào năng lực này. Lòng tham dục, ý chí,
nghiệp dù thiện hay ác đều có một năng lực đưa đến kết quả tùy thuộc vào
độ chín mùi của nhân nghiệp đã thuần thục hay chưa mà thôi. Năng lực
tiếp tục này chính là sức mạnh của nghiệp - tiếp tục trong chiều hướng
thiện hay ác. Dù thiện hay ác, nó đều là tương đối, đều ở trong vòng
luân hồi ba cõi sáu đường. Trong khi một vị A-la-hán, mặc dù có hành
động như chúng ta, những chúng sanh hữu tình, nhưng vẫn không tạo ra
nghiệp nhân, để rồi nhận lấy nghiệp quả như một chúng sanh hữu tình; bởi
vì vị ấy đã thoát khỏi ý tưởng sai lầm về ngã, và pháp, thoát khỏi lòng
tham muốn tiếp tục tái sinh và hiện hữu, nên thoát khỏi tất cả mọi sự
trói buộc bất tịnh nhiễm ô khác. Đối với vị ấy không còn luân hồi tái
sinh nữa.
Thuyết luân hồi nghiệp báo lệ thuộc vào luật tắt
nhân quả trong hành động và phản ứng có điều kiện. Chúng không dính dáng
can hệ gì đến ý tưởng công bằng hay thưởng phạt như quan niệm của một số
tôn giáo nhất thần, cùng những giáo điều luân lý của một xã hội nào đó.
Ở đây chỉ căn cứ vào hành động do ý muốn tạo ra để đưa đến kết quả hay
hậu quả tốt, xấu của nó mà đánh giá. Như vậy, việc nhận lãnh hậu quả này
không phải do sự thưởng hay phạt của một bàn tay nào ngoài bàn tay chúng
ta quyết định về hậu quả của nó. Bởi vì những hậu quả tất yếu mà mọi
người đang gánh chịu là do những hành vi tạo tác trước kia của chúng ta
đã tạo ra chúng, chứ không phải là sự công bằng, hay thưởng phạt do một
người nào hay một quyền năng nào ngồi phán xét hành vi của chúng ta, mà
đó chính là bản chất nhân quả của riêng nó, và là luật lệ của chính nó.
Khát ái, ý chí, sự ham muốn, dục vọng, lòng khao khát hiện hữu, tiếp tục
tăng trưởng, là một năng lực có khả năng dời đổi toàn thể mọi đời sống
cá nhân hay tập thể và ngay cả thế giới vũ trụ. Theo Phật giáo, sức mạnh
này liên tục nối tiếp nhau như dòng chảy của thác nước, không dừng nghỉ,
cho dù xác thân có bị biến hoại theo duyên diệt qua hình thức chết đi
nữa; nhưng chúng lại tiếp tục thể hiện trong một hình thức khác, để tiếp
tục phát khởi sự tái sinh mà chúng ta gọi là luân hồi ba cõi sáu đường
của dòng sống.
Một đứa trẻ được sinh ra, ban đầu mọi khả năng
vật chất, tâm linh đều yếu ớt non kém, nhưng trong chúng đã có sẵn tiềm
năng để trở thành một người lớn đầy đủ về vật chất cũng như tinh thần.
Vì không có bất cứ một cái gì gọi là bất biến và vĩnh cửu nên một hữu
thể hiện hữu, luôn luôn được thay đổi theo thời gian để trưởng thành
biến đổi và đưa đến hoại diệt, trong một khoảng thời gian nào đó chúng
tự cho phép theo sức mạnh của sức sống của một nghiệp lực. Bởi thế, vì
hiển nhiên không có cái gì trường cửu hay bất biến nên tự chúng cũng có
thể lưu chuyển trong luân hồi từ đời này đến một đời sau. Chúng là một
chuỗi dài nối tiếp không gián đoạn, biến đổi từ sát na này sang sát na
khác. Sự chuyển dịch đó giống như một dòng thác tiếp nối nhau liên tục
không gián đoạn, do sinh diệt biến đổi tạo ra xuyên suốt từ vô thỉ cho
đến vô chung, chuyển động xê dịch một vòng tròn mắt xích. Chúng không
phải cùng là một giọt nước, nhưng chúng cũng không phải khác. Cũng vậy,
một đứa trẻ lớn lên thành một người già tám, chín mươi tuổi, và hiện tại
là một người già chín mươi tuổi, trên mặt hình tướng dĩ nhiên cụ không
phải là một đứa trẻ chín mươi năm về trước nhưng cũng không thể bảo cụ
là khác được. Cho nên một người chết ở nơi này tái sinh nơi khác vào
kiếp kế tiếp đương nhiên chúng ta không thể bảo người chết kia với người
tái sinh ra lúc này và nơi đây là người đó được, nhưng ở đây chúng ta
cũng không thể bảo là khác được.
Tóm lại, qua những trình bày trên, Tập chính là ý
chí muốn sống, tái sinh của một sinh mệnh như là một dòng chuỗi liên
tục, lúc nhanh lúc chậm tùy theo sự chi phối sức mạnh của nghiệp, là
hiện tượng sinh khởi: Niệm này có thì niệm kia có, niệm này diệt đi thì
nọ cũng diệt đi, và cứ như thế niệm niệm sinh diệt biến đổi liên tục
không dừng như một vòng tròn lửa. Ban đầu là một đốm lửa và sau đốm lửa
đầu khởi lên làm tiền đề quyết định cho đốm lửa kế tiếp và cứ như thế
trở thành một vòng tròn lửa liên tục không có sự gián đoạn. Mỗi ý nghĩ
của chúng ta cũng vậy, niệm này khởi lên để quyết định cho niệm kế tiếp
và như thế, sự sống đang hiện hữu như một dòng sống liên tục. Do đó,
trong giáo lý của đức Đạo sư, vấn đề đời trước, đời sau không phải là
một chuyện thần thoại huyền bí gì cả. Đối với người Phật tử hiểu biết
chân chánh, họ sẽ không bao giờ băn khoăn vấn đề này. Khi mà chúng sinh
còn sự khát khao hiện hữu trở thành, còn khát ái, muốn tái sinh thì vòng
luân hồi vẫn tiếp tục. Chúng chỉ dừng lại khi nào sức mạnh dẫn dắt đó,
sự khát ái, bị đoạn trừ nhờ vào trí huệ thấy rõ bộ mặt như thật của
chính mình, thì sự chi phối và bị lệ thuộc vào vòng sinh tử luân hồi sẽ
không còn trói buộc được nữa.
III - SỰ
THẬT VỀ DỨT KHỔ (Nirodha-satya):
Là chỉ cho quả chứng
Niết-bàn. Theo luật tắc nhân quả thì hai sự thật trước của Tứ đế gọi là
nhân quả thế gian, còn hai sự thật sau thì gọi là nhân quả xuất thế
gian. Sự thật thứ ba là kết quả sau khi chúng sanh hữu tình đã diệt trừ
và chấm dứt được dục ái nguồn gốc của mọi khổ đau và ngay từ trong cái
khổ nối kết tương tục không dứt này mà mọi loài hữu tình chúng sanh đạt
được mọi giải thoát tự do. Sự thật thứ ba là nơi có một lối thoát cho
khổ đau, ra khỏi sự tiếp nối của chính nó. Đó gọi là sự thật về sự chấm
dứt khổ, là Niết-bàn, mà thuật ngữ Pāli Phật giáo Tiểu thừa gọi là
Nibbāna và thuật ngữ Phật giáo Đại thừa, Phạn ngữ gọi là Nirvāna.
Định nghĩa về chân lý thứ ba, được đức Đạo sư
giảng dạy cho đồ chúng rải rác trong ba tạng giáo điển; trong giáo lý
khởi nguyên cũng như giáo lý phát triển sau này của các bộ phái trong đó
có cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa, mà chúng ta tìm thấy qua các văn bản được
kết tập lại sau này trong rất nhiều bản kinh nguyên thủy cũng như phát
triển sau này đều ghi nhận ái (Skr. tṛṣṇā,
priya; Pāli. Piya, taṇhā) là
đầu mối trực tiếp phát sinh ra sự tái sinh của tất cả chúng sanh hữu
tình trong ba cõi sáu đường. Nên muốn trừ diệt đau khổ một cách hoàn
toàn, chúng ta phải diệt trừ tận cội gốc chính của đau khổ đó là lòng
dục khao khát hay tham ái “tanhā”, như ta đã thấy ở trên. Vì vậy,
Niết-bàn còn gọi là diệt ái, sự diệt trừ dục vọng hoàn toàn không còn để
sót.
Vì tình trạng căn cơ cảm thụ của các loài hữu
tình chúng sanh khác nhau, nên những định nghĩa cho phù hợp với chúng
trở nên đa thù sai biệt và để tránh đi những tình trạng hiểu lầm qua
luận lý ngôn ngữ, đức Đạo sư thường dùng những danh từ phủ định cho
những việc dạy bảo của Ngài hơn là khẳng định. Cảnh giới của tự chứng
Niết-bàn vượt ra ngoài phạm vi ngôn ngữ bình thường của con người nên
những định nghĩa về nó nếu có cũng chỉ là những định nghĩa tạm thời, tùy
thuộc vào căn cơ của chúng sanh mà Ngài sử dụng. Vì vậy Niết-bàn ở đây,
dù được nhiều bộ kinh luận có đề cập đến đi chăng nữa thì đó cũng chỉ là
một biện pháp phương tiện tạm thời. Nếu chúng ta không nắm rõ được điều
này thì mọi định nghĩa về nó cũng chỉ làm cho chúng ta hoang mang thêm
mà thôi, chứ không giúp gì cho chúng ta trong việc hiểu và làm sáng tỏ.
Biện pháp hợp lý duy nhất và khả dĩ để chúng ta có thể tiếp cận được một
cách trực tiếp là phải trải qua kinh nghiệm tâm linh cá biệt trong thực
nghiệm siêu việt, chứ không thể nào có được giải đáp đầy đủ và thỏa đáng
bằng danh từ qua ngôn ngữ, vì ngôn ngữ con người quá nghèo nàn, không đủ
khả năng để diễn đạt bản chất thực sự của chân lý tuyệt đối, hay thực
tại tối hậu là Niết-bàn được. Ngôn ngữ chúng ta dùng được con
người tạo ra và để sử dụng trong việc giao tiếp cùng, diễn tả những sự
vật và ý tưởng mà những giác quan và ý thức chúng ta đã kinh qua cuộc
sống thường nghiệm. Trong khi một kinh nghiệm siêu việt không phải là
một thường nghiệm, như kinh nghiệm về thực tại tuyệt đối, không thuộc
vào phạm trù thường nghiệm thì, làm sao chúng ta có thể dùng chúng để
diễn đạt một phạm trù khác (siêu nghiệm) mà chúng chưa từng kinh qua. Vì
vậy ngôn ngữ mà chúng ta đang sử dụng không có những từ ngữ để diễn đạt
về kinh nghiệm thuộc phạm trù này, cũng như con cá không có trong từ
vựng “đi” trong ngôn ngữ của chúng khi mà con rùa đã dùng từ vựng “đi”
này để nói với nó, trong việc dùng từ vựng này để diễn tả tính chất của
đất cứng trên đất liền mà con rùa đã từng kinh qua. Con rùa nói với con
cá bạn của nó rằng, nó vừa mới “đi” dạo trên đất liền và đã trở về hồ
đây! Và lúc này con cá với lối hiểu thường nghiệm kinh qua của nó thì
“anh bảo là anh đã bơi lội trên ấy chứ gì?” Con rùa giải thích rằng,
người ta không thể “bơi” hay “lội” trên đất cứng được, và người ta “đi”
trên đó. Nhưng con cá vẫn một mực khăng khăng bảo rằng không có chuyện
như vậy được, mà trên đó phải là chất nước lỏng như hồ ao này, có sóng
nước nơi đó “người ta” có thể nhào lộn và bơi lội tự tại như ở đây vậy.
Ngôn ngữ văn tự cũng chỉ là những ký hiệu dùng
diễn đạt những sự vật và ý tưởng mà ta biết được qua thường nghiệm trong
chính cuộc sống, và những ký hiệu này được đặt ra để phân biệt so sánh
các sự vật bên nhau trong giao tiếp tạm thời. Như vậy chúng cũng không
mang bản chất đích thực của sự vật ngay cả những sự vật thông thường. Vì
chúng chỉ là những sự vật tương đối hiện hữu và sẽ biến dịch theo luật
vô thường nên ngôn ngữ văn tự cũng được xem như là tương đối, chúng có
khả năng lừa dối và làm sai lạc trong vấn đề tìm hiểu chân lý. Vì vậy
cho nên chính đức Đạo sư đã từng dạy trong kinh Lăng-già (Lankàvatàra-sutra)
rằng, người ngu bị dính chặt vào danh từ cũng như một con voi bị sa lầy.
Do đó ngôn ngữ văn tự chúng cũng như một con dao hai lưỡi có thể giúp
được chúng ta giao thiệp tiếp cận nhau trong giao tiếp và cũng có thể
làm hại chúng ta trong vấn đề giải thoát, nếu con người coi chúng như là
một giải pháp cứu cánh.
Tuy nhiên, về mặt tương đối chúng ta không thể
không cần đến ngôn ngữ văn tự, vì nếu thiếu chúng thì chúng ta khó bề
tiếp cận với cảnh giới tự chứng của chúng được. Do đó đối với Niết-bàn
luôn luôn đức Đạo sư dùng từ ngữ phủ định và thường tránh đi cách diễn
đạt và giải thích bằng những từ ngữ khẳng định. Vì nếu dùng những từ
khẳng định đối với cảnh giới tự chứng siêu nghiệm thì, chúng ta chấp
ngay vào những từ ngữ mà chúng ta áp đặt lên một ý tưởng nào đó, và cho
rằng nó là như vậy, rồi an tâm cho rằng Niết-bàn là như vậy, là như vậy,
nhưng kỳ thực chúng có thể hoàn toàn mâu thuẫn lại với cảnh giới
Niết-bàn. Bởi vậy, Niết-bàn thường được đức Đạo sư diễn tả bằng những từ
ngữ phủ định, khiến cho mọi người ít ngộ nhận và hiểu lầm hơn là khẳng
định, đó là một hình thái ít nguy hiểm và an toàn hơn. Cho nên Niết-bàn
thường được đức Đạo sư nhắc đến qua nhiều kinh luật luận bằng những danh
từ phủ định như: Tanhakkhaya
là diệt ái, nghĩa là dục vọng bị tiêu diệt; Asamkhata
là vô vi, nghĩa là không bị kết hợp, không bị giới hạn;
Viràga
là vô tham, nghĩa là không tham; Nirodha
là sự chấm dứt; Nibbàna
là tịch diệt, nghĩa là sự thổi tắt, hay sự tắt hẳn. Tất cả những từ ngữ
này được đức Phật dùng với mục đích là nhằm phủ định những khẳng định bị
giới hạn lệ thuộc vào trong trói buộc, ngược lại với tinh thần tự tại
giải thoát của Ngài chủ xướng.
Sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu một số kinh luận
mà đức Phật có đề cập đến vấn đề Niết-bàn của Tiểu thừa và Đại thừa.
1- Niết-bàn theo quan điểm Tiểu thừa:
Dưới đây là một vài định nghĩa và mô tả về cảnh
giới Niết-bàn được tìm thấy trong các nguyên bản Pāli:
Niết-bàn ở đây được đức Phật quan niệm như là sự
chấm dứt, vứt bỏ, chối từ, thoát khỏi, rứt ra một cách rốt ráo của chính
dục vọng, đức Phật dạy:
“Đấy là sự chấm dứt rốt ráo của chính dục vọng:
vứt bỏ nó, chối từ nó, thoát khỏi nó, rứt ra khỏi nó”. Mhvg. P.10; SV.
P. 421 (sđd, tr. 28)
Và chỗ khác đức Phật dạy:
“Sự im bặt của mọi sự vật bị giới hạn, sự dứt
bỏ mọi xấu xa, sự diệt “dục vọng”, sự giải thoát chấm dứt,
Niết-bàn” SI, p. 136 (sđd, tr. 29). Ở đây, Niết-bàn được đức Phật
xem như là sự im bặt của mọi sự vật, sự vất bỏ mọi thứ xấu xa, diệt dục
vọng, đó chính là giải thoát, Niết-bàn.
Chỗ khác, đức Phật dạy:
“Hỡi các Tỳ-kheo, thế nào là cái tuyệt đối không
bị giới hạn (Asamkhata)? Đấy là, này các Tỳ-kheo, sự diệt tắt của ham
muốn (ràgakkhayo), sự diệt tắt của hận thù (dosakkhayo), sự diệt tắt của
vọng tưởng (mohakkhayo). Này các Tỳ-kheo, đấy gọi là cái tuyệt đối”.
SIV, p. 359 (sđd, tr. 29). Ở đây, đức Phật bảo các Tỳ-kheo về cái tuyệt
đối không bị giới hạn, đó chính là sự diệt tắt các thứ ham muốn, hận
thù, vọng tưởng, đó chính là cái tuyệt đối Niết-bàn.
Ở chỗ khác đức Phật dạy:
“Này Ràdha, sự tiêu tan của dục vọng là
Niết-bàn” SIII, p. 190 (sđd, tr. 29). Niết-bàn ở đây chính là sự
tiêu tan của dục vọng. Và ở chỗ khác đức Phật dạy các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, dù có những pháp (sự vật) bị
giới hạn hay không bị giới hạn, trong số ấy pháp giải thoát (viràga,
thoát khỏi dục vọng) là cao cả nhất. Ấy nghĩa là giải thoát khỏi kiêu
mạn, trừ diệt lòng tham, nhổ gốc rễ sự trói buộc (hệ phược), cắt đứt sự
tiếp tục, diệt hẳn dục vọng, giải thoát, chấm dứt, Niết-bàn”. A (PTS)
II, p. 34 (sđd, tr.29). Ở đây đức Phật lại dạy dù là pháp bị giới hạn
hay không bị giới hạn thì pháp nào giải thoát khỏi dục vọng thì pháp
giải thoát cao cả nhất đó chính là Niết-bàn. Cũng ở nơi khác đức Phật
dạy:
“Sự từ bỏ, phá tan dục vọng và lòng tham ái
đối với ngũ uẩn: đấy là sự chấm dứt dukkha” MI (PTS), p. 191 (sđd,
tr. 29). Ở đây đức Phật lại đề cập đến sự chấm dứt khổ, sau khi hành giả
từ bỏ, phá tan dục vọng và lòng tham đối với năm thủ uẩn.
Cuối cùng, nói đến Niết-bàn, đức Phật dạy:
“Hỡi các Tỳ-kheo, có cái không sinh, không tăng
trưởng, không bị giới hạn. Nếu không có cái không sinh, không tăng
trưởng và không bị giới hạn, thì sẽ không có lối thoát cho cái sinh, cái
tăng trưởng và bị giới hạn. Bởi vì có cái không sinh, không tăng trưởng,
không bị giới hạn, cho nên có lối thoát cho cái sinh, cái tăng trưởng và
bị giới hạn”. Ud, p. 129 (sđd, tr. 29). Ở đây đức Phật dạy có cái không
sinh, không tăng trưởng, không bị giới hạn. Chính nhờ những cái này mà
có lối thoát cho cái sinh, cái tăng trưởng và bị giới hạn. Đó chính là
Niết-bàn bất sinh, bất diệt, bất tăng, bất giảm của con đường trung đạo
giải thoát. Và tiếp theo đó, đức Phật dạy:
“Ở đây không có chỗ cho bốn đại: đất, nước, gió,
lửa; những khái niệm về dài, rộng, thô, tế, xấu, tốt, danh và sắc (danh
từ và hình dáng) đều hoàn toàn bị phá hủy, không có đời này hay đời sau,
không có đến hay đi, không có tử hay sinh, không có đối tượng giác
quan.” Ibid, p. 128. DI, p. 172 (sđd, tr. 29). Mọi phủ định được đức
Phật dùng ở đây cốt là để dẹp mọi thứ kiến chấp thuộc vọng tưởng điên
đảo phân biệt của chúng sinh. Vì theo đức Phật mọi sự hiện hữu có được
của tất cả những pháp trên đều phát xuất từ nhân duyên sinh khởi mà hiện
hữu; chính vì chúng hiện hữu do nhân duyên sinh khởi nên tự tánh của
chúng là không và hiện tướng của chúng cũng vì thế mà là huyễn tướng
không thật có.
Qua những bản kinh luận đề cập về Niết-bàn được
đức Đạo sư diễn đạt bằng những từ ngữ phủ định như vậy, nên có nhiều
người đã có một quan niệm sai lầm rằng Niết-bàn của Phật giáo là một chủ
trương tiêu cực, đưa đến sự tự hủy diệt. Nhưng thật sự Niết-bàn qua ngôn
ngữ văn tự được đức Phật dùng những phủ định để chỉ cho nó, qua đó họ
cho rằng đức Phật chủ trương tiêu cực hay đoạn diệt ngã, thì rõ ràng là
không hiểu gì về tinh thần giải thoát của đức Phật cả. Sở dĩ đức Phật
dùng từ ngữ phủ định như vậy để biểu trưng cho Niết-bàn là vì sợ chúng
sanh sẽ hiểu lầm việc xác định Niết-bàn là như thế nay, là như thế kia
rồi khiến người ta chấp chặt vào đó thì sẽ đi ngược lại con đường giải
thoát của Ngài, nên phải phương tiện dùng thể phủ định để diễn tả một
Niết-bàn như vậy. Hơn nữa phủ định không có nghĩa đưa đến tự hủy diệt
ngã; vì theo đức Phật, chúng sanh đâu có ngã thật sự mà hủy diệt. Nếu đã
không có ngã thì hủy diệt cái gì? Ở đây có sự hủy diệt đi chăng nữa là
hủy diệt vọng tưởng điên đảo, của ý niệm sai lầm về ngã mà thôi. Và sẽ
không đúng khi có người bảo rằng Niết-bàn là tiêu cực hay tích cực. Vì
những ý tưởng “tiêu cực” hay “tích cực” cũng chỉ là tương đối, thuộc
trong lãnh vực đối đãi nhau. Trong khi Niết-bàn theo đức Phật như là một
chân lý thực tại tuyệt đối, nó vốn ở ngoài Nhị nguyên và tương đối để
chúng ta tư duy và tìm hiểu bằng vào thường nghiệm của chúng ta.
Thông thường theo luận lý hình thức phủ định
chúng luôn mang bộ mặt tiêu cực, nhưng ở đây, nhất là đối với cảnh giới
Niết-bàn đức Phật không ngụ ý chỉ một trạng thái tiêu cực, mà hơn thế
nữa chúng chỉ cho trạng thái tích cực nhất có được. “Danh từ Pāli
hay Sanskrit như để chỉ sức khỏe là ārogya, một danh từ
phủ định, có nghĩa là “không có bệnh họan”. Nhưng ārogya
(sức khỏe) không chỉ một tình trạng tiêu cực. Danh từ “Bất tử”
(Skr. Amita hay Pāli Amata) cũng là một đồng nghĩa
Niết-bàn, là phủ định, nhưng nó không chỉ một tình trạng tiêu cực mà còn
ngược lại là tích cực hơn. Sự phủ nhận những giá trị phủ định không phải
tiêu cực. Một trong những tiếng đồng nghĩa của Niết-bàn ai cũng biết đến
là giải thoát (Pali: Mutti, Skt: Mukti).
Không ai nói rằng giải thoát là tiêu cực.” (sđd, tr. 29).
Trong kinh Phân Biệt Giới Dhātuvibhanga
(kinh 140) của bộ Majjhima-nikāya (Trung Bộ kinh), đã được
đức Phật thuyết cho Pukkusāti, người mà đức Phật gặp trong một
chòi tranh của người thợ gốm vào một đêm yên tĩnh. Ta có thể có một ý
niệm về Niết-bàn như Chân lý tuyệt đối. Và ở chỗ khác đức Phật dùng hẳn
danh từ Chân lý thay thế chữ Niết-bàn: “Ta sẽ dạy các người chân
lý và con đường đưa đến chân lý” SV (PTS), p.369. (sđd, tr. 30).
Ở đây, nhất định chân lý có nghĩa là Niết-bàn.
Như vậy, chân lý tuyệt đối theo đức Phật là không
có bất cứ cái gì gọi là tuyệt đối trên thế gian này, tất cả đều tương
đối, bị giới hạn ràng buộc và vô thường; chúng không có một bản thể nào
bất biến, vĩnh viễn, tuyệt đối như bản ngã, linh hồn hay Atman
ở trong hay ở ngoài. Đó gọi là chân lý tuyệt đối. Sự
thực hiện chân lý ấy, kinh qua thấy biết sự vật như thật, không có vọng
tưởng phận biệt hay si mê (vô minh - avijjà),
là sự dập tắt dục vọng và sự diệt trừ hoàn toàn mọi thống khổ, đó chính
là Niết-bàn theo một số kinh luận được rút ra từ những quan niệm của các
nhà Tiểu thừa.
2- Niết-bàn theo quan niệm của Đại thừa:
Ở đây, quan điểm Niết-bàn của Đại
thừa không khác với quan điểm Niết-bàn của Tiểu thừa trên chiều tuyệt
đối; nhưng trên mặt sự tướng sinh diệt của tương đối thì có sự sai biệt
trên căn cơ cảm thụ và thủ đắc nên Niết-bàn theo đó cũng trở thành mâu
thuẫn nhau trên quan điểm qua các bộ phái phát triển sau này. Ngay như
những bản kinh chúng tôi đã dẫn trên của hệ thống kinh tạng Pāli khi đức
Đạo sư dạy về Niết-bàn hay chân lý tuyệt đối thì sự thực hiện chân lý
hay Niết-bàn ấy phải kinh qua thấy biết sự thật như thật, không bị lệ
thuộc vào vọng tưởng điên đảo phân biệt si mê. Do đó Niết-bàn cũng tùy
thuộc vào quan điểm, tùy thuộc vào cái nhìn của chúng ta theo chủ quan
hay khách quan. Quan điểm này đã được Bồ-tát Long Thọ xiển dương trong
Trung quán luận, triển khai từ những tư tưởng được tìm thấy trong
những nguyên bản khởi nguyên của Phật giáo mà ta vừa vắn tắt bàn đến như
“Bất sinh, bất diệt”, “Giải thoát”, “Chân lý tuyệt đối” hay như “Giữa
sinh tử và Niết-bàn không sai khác” đã được ghi lại trong Pāli
tạng hay trong Hán tạng thuộc các bộ phái phát triển sau này. Có nghĩa
là, Niết-bàn không ở đâu xa mà Niết-bàn ở ngay trong cõi Ta-bà này, ngay
trong ba cõi này, như kinh Rohitassa (Tăng chi 1) tương đương với
trong kinh 1307 (Tạp A Hàm) thuộc Hán tạng đã dạy: “Tại chỗ nào, bạch
Thế Tôn, không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (bất
diệt), không có sanh khởi (bất sanh), chúng con có thể đến để thấy, để
biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?”. Đức Phật trả lời
:
“Này Hiền giả, ta tuyên bố rằng:
tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ
đời này, không có khởi đời khác, thời không có thể đi đến để thấy, để
biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới. Nhưng này hiền giả, trong
cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, ta
tuyên bố về thế giới tập khởi, thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến
thế giới đoạn diệt.”
Niết-bàn sẽ hiện hữu ngay trong cõi này, ngay
trong xác thân này, nếu ai giải thoát được mọi trói buộc đau khổ của tập
khởi, của đoạn diệt, bằng cách không khởi tâm điên đảo, phân biệt chấp
trước đối với cuộc sống, thì người đó sẽ đạt được Niết-bàn ngay trong
cuộc sống này. Chính vì không hiểu rõ như vậy cho nên những gì đức Phật
đã phương tiện dạy cho chúng ta con đường đi đến giải thoát, thì họ đã
biến chúng thành con đường nô lệ trói buộc.
Niết-bàn cùng thế gian
Không có tí phân biệt
Thế gian cùng Niết-bàn
Cũng không tí phân biệt.
(Trung quán luận, phẩm quán Niết-bàn)
Về Năm uẩn nhân duyên, tướng của chúng đứng về
mặt dụng mà nói, thì chúng là tướng sanh diệt biến đổi liên tục qua lại,
và gọi chúng là thế gian. Nhưng đứng về mặt tánh mà nói, thì cứu cánh
của chúng là Không, Tịch diệt, không chấp thủ, đó là Không tướng. Ở đây,
vì tất cả các pháp chẳng sanh, chẳng diệt cho nên thế gian cùng Niết-bàn
không có sự phân biệt và ngược lại Niết-bàn cùng thế gian cũng không có
sự phân biệt nào. Lại nữa,
Thật tế của Niết-bàn,
Cùng thật tế thế gian;
Cả hai thật tế đó,
Không mảy may sai biệt.
(Trung quán luận, phẩm quán Niết-bàn)
“Cả hai thật tế Niết-bàn và thế gian, không có
bất cứ mảy may sai biệt nào cả. Vì sao? Vì khi chúng ta tìm kiếm thật tế
cứu cánh của chúng, thì cứu cánh của chúng là bình đẳng. Do đó, mọi tìm
kiếm đều không thể đạt được, chỉ vì chúng không có bất cứ mảy may sai
biệt nào.” (Đoạn này chúng tôi trích lại bài viết của chúng tôi về
Niết-bàn đã đăng trong Tập San Nghiên Cứu Phật Học Thừa thiên-Huế số 1)
Hơn nữa, Niết-bàn không phải là kết quả tự nhiên
của sự dập tắt dục vọng. Niết-bàn không là kết quả của cái gì hết. Vì
nếu Niết-bàn mà chúng ta hiểu như là một kết quả thì chúng mâu thuẫn với
Niết-bàn là bất sinh, bất diệt. Nếu Niết-bàn là một kết quả do diệt trừ
dục vọng, hay dập tắc dục ái để cho ra kết quả, thì kết quả này rõ ràng
nó phải được phát sinh bởi một nguyên nhân. Vậy thì Niết-bàn đã trở
thành “bị phát sinh” và “bị giới hạn” bởi những lệ thuộc khác của các
pháp hữu vi sinh diệt thì sẽ mâu thuẫn với tư tưởng giải thoát. Như vậy
Niết-bàn không phải là tác nhân cũng không phải là thọ quả. Niết-bàn
cũng không phải là một phát sinh như một trạng thái thần bí, tâm linh,
tinh thần nào đó, như Thiền (dhyàna) hay định (samàdhi)
chẳng hạn. Sự hiện hữu của Chân lý, sự hiện hữu của Niết-bàn có
được là nhờ chúng ta phải thực chứng bằng vào tự thân thấy nó, thực hiện
nó. Đó chính là sự sống giải thoát tự tại xa lìa mọi sự trói buộc, xa
lìa mọi giới hạn của sinh, già, bệnh, chết,… xa lìa dục ái, xa lìa tất
cả mọi thứ vọng tưởng điên đảo phân biệt chấp trước của chúng ta đối với
cuộc sống, là có một con đường đưa đến sự thực hiện Niết-bàn qua sự thể
hiện tự tại giải thoát không có bất cứ một bản ngã nào xen vào để làm
chủ. Con đường thể hiện đó chúng tôi tạm gọi là Niết-bàn, hay còn gọi là
con đường Trung đạo. Nhưng Niết-bàn không phải là kết quả của con đường
ấy. Chúng ta có thể đi đến Niết-bàn kinh qua một con đường Trung đạo,
nhưng Niết-bàn không phải là kết quả, không phải hậu quả của con đường
Trung đạo, mà Niết-bàn chính là con đường Trung đạo, con đường Trung đạo
chính là Niết-bàn khi sự thể hiện, sự hiện hữu của chúng kinh qua lối
sống vô phân biệt của tự tại giải thoát. Bạn có thể thấy ánh sáng, nhưng
ánh sáng không phải là kết quả của sự thấy, mà chính chúng không phải là
hai và cũng không phải là một.
Thông thường chúng ta có những nhận thức sai lầm
về một thứ Niết-bàn nào đó có thể đạt được để chúng ta thủ đắc và vì vậy
thường có những câu hỏi như có gì ở sau Niết-bàn? Câu hỏi như vậy trở
nên xa vời không tưởng, chỉ vì họ đã hiểu lầm là có một Niết-bàn để thủ
đắc nên họ nghĩ rằng đằng sau chúng phải có một cái gì để chúng ta nhận
được! Nếu chúng ta hiểu và nghĩ như vậy thì thật là sai lầm, vì trước
hết Niết-bàn là Chân lý Tối hậu, tức là chân lý sau cùng không có gì sau
nó. Nhưng nếu là sau cùng, là tối hậu, thì rõ ràng không thể có gì ở
đằng sau nó cả. Sau nữa, nếu thật sự có một cái gì ở sau Niết-bàn thì
chính cái đó (cái mà chúng ta đã quan niệm bằng vào sự thủ đắc) chứ
không phải Niết-bàn, hay chân lý Tối hậu gì hết. Điều này quá rõ ràng
như khi Sa-môn tên Rādha đặt câu hỏi ấy với đức Phật dưới một
hình thức khác, nhưng cùng ý nghĩa là ở đằng sau của Niết-bàn còn có một
cái gì đó bằng vào tinh thần hay vật chất mà chúng ta muốn đạt đến để
chiếm hữu như: “Niết-bàn là để dùng vào một mục đích gì?” Câu hỏi
này đặt ra một ví dụ, giả thiết có một mục đích nào đó hay một cứu cánh
nào cho một Niết-bàn để tìm hiểu hay chiếm hữu nó. Cho nên đức Phật muốn
đánh tan mọi ý nghĩa sai lầm về một Niết-bàn nào đó có thể nắm bắt và
chiếm hữu được mà thủ lợi, vì vậy nên Ngài trả lời:
“Này Rādha, câu hỏi ấy không nhằm chỗ.
Người ta sống đời thánh thiện với Niết-bàn như là sự thể nhập cuối cùng
vào chân lý tuyệt đối, như mục đích của đời sống ấy, như cứu cánh tối
hậu của nó.” (S III (PTS), p. 189. sđd, trang. 31)
Những phủ định trên về năm uẩn là vô ngã đã nảy
sanh ra những nạn vấn hỏi thông thường khác như: Nếu không có ngã, không
có ātman, thì ai sẽ là người để thực hiện Niết-bàn, ai là người
đạt Niết-bàn, ai là người nhập Niết-bàn? Ở đây, vì chúng ta, những hữu
tình chúng sanh đang sống trong vọng tưởng điên đảo phân biệt chấp trước
nên có một cái ngã hiện hữu, một cái ta hiện hữu, một cái ātman hiện
hữu; cũng từ cái ngã cái ta, cái ātman hiện hữu này nên mới có một cái
Niết-bàn để chúng ta thủ đắc, để chúng ta đạt tới, để chúng ta nhập vào!
Trước hết, chúng ta cũng căn cứ vào những hiện hữu mà chúng ta đang sai
lầm bảo rằng chúng là có thật: Từ ngã tác nhân đến ngã thọ quả
(Niết-bàn) theo quan điểm thực hữu của chúng ta để bàn thì: Ai đang suy
nghĩ bây giờ, nếu bảo rằng không có ngã? Như trong phần thứ nhất khi bàn
về ngũ uẩn, chúng ta đã thấy rằng chính tâm ý là cái đang suy nghĩ,
nhưng không có người suy tư ở đằng sau tư tưởng và không có cái ngã nào
khác đằng sau sự thực chứng. Chính không có người tư duy sau tư tưởng và
không có cái ngã nào đằng sau sự thực chứng đã nói lên sự sai lầm trong
nhận thức của chúng ta về một cái ngã và cái Niết-bàn thực hữu để có
người đạt Niết-bàn, có Niết-bàn thực hữu cho con người đạt đến. Trong
khi bàn về nguồn gốc của đau khổ ở trên, chúng ta thấy rằng bất cứ cái
gì: người, vật hay một tập thể. Nếu nó có bản chất sinh ra hay hình
thành, thì trong chính nó có luôn bản chất, và mầm mống của sự
chấm dứt, hay sự hủy diệt, điều này đã được đức Đạo sư dạy cho chúng
ta trong sự thật thứ nhất khi bàn về khổ. Theo Ngài thì khổ, sanh tử,
luân hồi vốn đã có bản chất của sự sinh khởi, nên chính nó cũng mang bản
chất của sự hủy diệt. Chính nguồn gốc trực tiếp phát sinh ra đau khổ là
do “dục ái” (tanhā), và nếu muốn nó chấm dứt thì phải nhờ huệ (Pannā,
Bát-nhã). Nhưng “dục” và “huệ” cả hai đều ở trong ngũ thủ uẩn, như chúng
ta đã thấy đức Đạo sư đã phân tích ở trước. Sự sinh khởi và hủy diệt
luôn ở trong nhau nhờ vào luật tắc vô thường, nên bản tính sinh diệt của
chúng được hiện rõ qua sát-na sinh diệt nếu là nhanh, và nếu là chậm thì
được thể hiện qua phân đoạn sinh diệt trong một kiếp người từ sinh ra
cho đến tử. Bởi vậy cho nên, đức Đạo sư đã từng dạy đệ tử của mình qua
lời nói danh tiếng: “Chính ngay trong thân này, ta nói có thế
giới, và con đường đưa đến sự chấm dứt của thế giới.” (A.
(Colombo, 1929), p.218, sđd, trang: 32) Như vậy qua đây, đức Đạo sư cho
chúng ta thấy rằng, Tứ đế (bốn sự thật) được tìm thấy trong Ngũ uẩn,
ngay trong ta, trong chính mỗi người. Ở đây, ngũ thủ uẩn mang cả hai bản
chất sinh khởi và hủy diệt (qua những lời dạy trên, danh từ “thế giới”
(loka) được dùng để thay cho danh từ đau khổ). Như vậy, rõ ràng
đức Đạo sư đã xác nhận rằng không có một quyền năng nào bên ngoài chính
ta hay mỗi con người chúng ta phát sinh ra nguyên nhân và sự chấm dứt
đau khổ của chính chúng ta, mà là do chính ta, mỗi người chịu trách
nhiệm về sự phát sinh và hủy diệt này.
Và để tránh đi những sai lầm trong cách nhận thức
về Niết-bàn như là một thế giới nào đó: hoặc có một nơi nào đó ở nơi
đây, hoặc ở ngoài ba cõi, hoặc nơi một thế giới nào khác, để rồi từ đó
tưởng tượng ra một thế giới tốt đẹp nào đó đang hiện hữu cần phải tìm
kiếm và đạt đến để được an vui sung sướng. Đó là những từ ngữ thông
thường như “Đức Phật nhập vào Niết-bàn hay, bát Niết-bàn”
(Parinirràna). Từ ngữ mà chúng ta thường gặp trong lúc đọc hay tụng
kinh văn: “nhập Niết-bàn” không có gì tương đương trong nguyên
ngữ của Pariṇirvāti tiếng
Phạn hay parrinippāti tiếng Pāli. Không có nghĩa là
“Nhập Niết-bàn sau khi chết”; mà có nghĩa là mọi thứ phiền não chấp
trước của thế gian vắng bặt không còn nữa, tức chỉ vô lậu giải thoát;
điểm chủ trương chính của các nhà Đại thừa về Niết-bàn là chỉ cho một sự
thật, đó là Niết-bàn hay pháp giới. Khi một cá nhân nào đó chứng ngộ
mình là sự thật, sinh tử không khác với Niết-bàn thì cá nhân đó trở
thành hoàn thiện giác ngộ. Tâm trí không còn vọng tưởng điên đảo phân
biệt một cách mê mờ nữa về vật chất và kể cả cảm thọ nhận thức. Chúng ta
sẽ chứng được trạng thái trong đó mình và mọi vật không có sự phân biệt
ngăn cách, và không khác với sự tuyệt đối. Parinibbuto của
Pāli chỉ có nghĩa là “hoàn toàn đi mất” “hoàn toàn thổi tắt” hay
“hoàn toàn diệt” bởi vì Phật hay A-la-hán không còn sanh tử sau khi
chết, nên không bị lệ thuộc trói buộc vào vô minh vọng tưởng điên đảo
của chúng sanh nữa.
Từ những định nghĩa trên nên có những câu hỏi
như: Cái gì xảy ra cho Phật hay một vị A-la-hán sau khi chết, bát
Niết-bàn? Những câu hỏi như vậy thuộc loại những câu hỏi không được đức
Đạo sư giải đáp (bất khả thuyết, avyàkata). Chính Ngài cũng xác
nhận rằng không có danh từ nào trong ngôn ngữ loài người để có thể diễn
tả cái trạng thái gì có thể xảy ra cho một vị A-la-hán sau khi chết, nó
là như thế nào? Như khi Ngài trả lời cho du sĩ Parivràjaka, tên
là Vaccha, đức Phật bảo những từ ngữ như “sanh” hay
“bất sanh” không thể dùng trong trường hợp A-la-hán sau khi qua đời.
Vì những pháp ấy: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức luôn có những từ-ngữ như
“sinh” và “không sinh” đi theo, trong khi một vị A-la-hán, những thứ này
đã hoàn toàn bị tiêu diệt và bị bật hết gốc rễ, không bao giờ sinh khởi
trở lại sau khi diệt độ.
Hình ảnh của một vị A-la-hán diệt độ được ví như
một ngọn lửa đã tắt sau khi không còn thêm củi vào, hay ví với một ngọn
đèn dầu đã hết. Trong những ví dụ này đức Đạo sư đã cho chúng ta thấy
một cách rõ ràng rằng một ngọn lửa hay ngọn đèn đã tắt chính là chỉ cho
con người chứ không phải Niết-bàn. Ở đây, “con người” gồm năm uẩn đã
thực hiện Niết-bàn. Niết-bàn không bao giờ được so sánh với một ngọn lửa
tắt hay một ngọn đèn tắt. Bởi vì ngọn lửa, ngọn đèn và con người là chỉ
cho những pháp còn lệ thuộc vào, có sinh có diệt, bị luật vô thường chi
phối, trong khi Niết-bàn vượt ra ngoài những hiện tượng tương đối đó.
Niết-bàn vượt khỏi mọi ý niệm về nhị nguyên và tương đối. Vì nó vượt ra
ngoài mọi khái niệm của chúng ta về thiện ác, phải trái, có không. Ngay
đến danh từ “hạnh phúc” dùng để diễn tả Niết-bàn, ở đây cũng có một ý
nghĩa hoàn toàn khác biệt không phải là một thứ hạnh phúc tầm thường của
tình cảm do ái dục sinh ra. Hạnh phúc này chúng ta sẽ tìm thấy ý nghĩa
của nó qua sự kiện đối đáp giữa tôn giả Xá-lợi-phất và Udàyi. Một
hôm, tôn giả Xá-lợi-phất bảo Udàyi: “Ồ bạn, Niết-bàn là hạnh
phúc! Niết-bàn là hạnh phúc!” Khi ấy Udàyi liền hỏi: “Nhưng
này bạn Xá-lợi-phất, hạnh phúc nào có thể có, khi không có cảm
giác?” Câu trả lời của ngài Xá-lợi-phất vô cùng triết lý và vượt
khỏi tầm hiểu biết thông thường: “Chính sự không có cảm giác ấy mới
là hạnh phúc.” Vì ở đây hạnh phúc không phải được quan niệm như là
một biểu cảm của một cảm giác tình cảm bình thường, của một hữu tình
chúng sanh, mà nó vượt ra ngoài trạng thái thường nghiệm của khổ đau và
hạnh phúc mà chúng ta có được.
Do vậy, Niết-bàn cũng vượt ra ngoài mọi lý luận
và phán đoán (atakkàvacara) tương đối. Dù chúng ta có đi vào
trong những bàn cãi tư duy siêu hình đi nữa thì đó chỉ là một thứ tiêu
khiển vô bổ của tri thức. Nói về Niết-bàn, Chân lý tối hậu hay Thực tại,
chúng ta cũng sẽ không bao giờ hiểu được Niết-bàn với cách này, mà ngược
lại chúng sẽ trở thành Niết-bàn của luân hồi sinh tử chứ không phải là
Niết-bàn siêu nghiệm tự thân tác chứng của mỗi người. Bí mật của sự sống
sẽ lộ diện khi hành giả thực hành con đường đưa đến diệt khổ thứ tư. Lúc
này chúng ta liền thấy bí mật của sự sống, thực tại của mọi sự vật, đúng
như thật chính nó. Khi bộ mặt thật chính mình đã được khám phá rồi, thì
lúc đó là lúc chân lý được tìm thấy. Lúc này tất cả mọi sức mạnh quay
cuồng phát sinh ra dòng sinh tử do phiền não vọng tưởng, điên đảo khuấy
động sẽ tự nhiên trở nên vắng lặng và lúc này không thể tạo tác thêm
nghiệp nào nữa. Bởi vì vọng tưởng điên đảo đã không còn nữa, không còn
ham muốn sinh tử của dục ái nữa.
Thật ra trong giáo pháp, đức Phật đã phương tiện
dùng hai hình thức Nhân quả và Duyên khởi, để một mặt đối trị về nhân
quả tội phước, và mặt khác giải phóng những phương tiện đó qua duyên
khởi để hoàn thành Trung đạo giả danh trở về Không tánh. Đó là con đường
giải thoát thật sự như chính trong kinh Xà Dụ, hệ Pāli
đã dạy: “Chánh pháp còn buông bỏ huống chi là phi
pháp”. Đức Phật chưa bao giờ chủ trương
lấy Hữu-Vô làm lập trường chính để đưa chúng sanh đến giải thoát cả, mà
Ngài chủ trương: “Mọi vật đều không”
(Sarvam sùnyam)
nhằm phủ định có và không của các pháp và xiển dương tự tánh Không, cũng
là mở bày cho một hướng đi vượt thoát, đó là Trung đạo qua tướng giả
danh. Chính vì Không này mà các nhà Tiểu thừa sau này đã quan niệm sai
lầm về nó, để đẻ ra một cái tự tánh thực hữu nào đó của các pháp, mà đi
ngược lại chính quan điểm của đức Phật. Cũng chính vì muốn khôi phục lại
con đường của đức Phật, ngài Long Thọ Bồ-tát mới viết ra bộ
luận Trung quán,
nhằm xiển dương con đường Trung đạo mà đức Phật đã từng đi, đã từng sống
với nó. Ngài Long Thọ bảo cái Không ở đây không phải là cái không của
không đối lập với cái có, mà là cái KHÔNG của :
Các nhân duyên sanh pháp
Ta nói tức là Không
Đó cũng là giả danh
Cũng là nghĩa Trung đạo.
(Trung quán luận, phẩm quán Tứ đế)
Ở đây, mọi vật đều Không, được quan niệm như là
một cứu cánh để phá hủy tất cả mọi quan điểm sai lầm về các pháp. Qua
đó, Bát Bất được Ngài sử dụng như là một phủ định tuyệt đối cho phương
pháp luận của Ngài, nhằm triệt tiêu mọi chấp thủ có-không (nhị nguyên),
vừa xây dựng lý duyên khởi hiện tướng qua Trung đạo giả danh để hiển Thể
duyên khởi Tánh Không của chúng như trong bài kệ trên đã nói.
Người đã chứng ngộ Chân lý, Niết-bàn, chính là
con người đang đi trên con đường hạnh phúc tại trần gian này. Người ấy
giải thoát khỏi mọi “thứ mặc cảm” và “ám ảnh”, mọi phiền não và lo âu
làm cho mọi người điêu đứng hoang mang. Giờ đây, người đã đang đi trên
con đường Trung đạo, họ không hối tiếc quá khứ, cũng không mơ mộng về
tương lai. Họ sống hoàn toàn trong hiện tại với tâm không còn phân biệt
nhị nguyên tốt xấu, phải trái, thiện ác. Họ vui vẻ, hoan hỉ, thưởng thức
sự sống thuần khiết, các giác quan đều khinh an, không còn lo lắng, bình
an và thanh thoát. Vì họ giải thoát dục vọng, ích kỷ, hận thù, vô minh,
kiêu căng, ngã mạn và tất cả mọi thứ “bất tịnh” xấu xa của con người mà
họ đã có được từ những sai lầm do vọng tưởng điên đảo mang lại. Họ đã
làm trong sạch, trở nên từ hòa, lòng thương yêu, từ bi, tử tế, thiện
cảm, thông cảm và khoan dung tự nhiên biểu lộ một cách tự nhiên. Họ phục
vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất không mưu cầu và hậu ý, vì không còn
nghĩ về mình. Họ không kiếm chác gì, tích chứa gì, ngay cả những gì
thuộc tâm linh, bởi vì họ đã thoát khỏi ảo tưởng về ngã, và lòng khao
khát “trở thành.” Nên giờ này cuộc sống trở thành thanh tịnh, ba nghiệp
thân, khẩu, ý không là tác nhân của mọi thứ vọng tưởng điên đảo nữa, mà
là một cuộc sống hoàn toàn mang bộ mặt mới của giải thoát và tự tại.
IV - SỰ THẬT VỀ CON ĐƯỜNG
(Marga-satya):
Sự thật thứ tư là con đường trực
tiếp đưa đến sự giải thoát chấm dứt khổ đau. Sự thật này là tác nhân
giải thoát hiện tại đưa đến chấm dứt quả khổ gần hay xa trong tương lai
theo luật tắc nhân quả biến dịch hay phân đoạn của xuất thế gian. Là con
đường Trung Đạo (Madhyamā-Paratipad), tránh xa hai cực đoan tà
chấp là chạy theo tìm kiếm hạnh phúc qua khoái lạc giác quan vật chất
thấp hèn, thường nghiệm, không mang lại bất cứ lợi ích nào trong hiện
tại cũng như tương lai sau đó, và tìm kiếm hạnh phúc qua hình thức khổ
hạnh tự ép xác dưới nhiều hình thức khác nhau, vì sự tìm kiếm này cuối
cùng cũng không thấy hạnh phúc đâu mà chỉ mang lại thân tàn ma dại, ảnh
hưởng trực tiếp lên tinh thần buồn khổ chán chê mất tính tự chủ sáng
suốt. Theo giáo thuyết A-hàm mà nói thì nhờ vào thực tiễn của con đường
này mà chính đức Đạo sư đã xa lìa chủ nghĩa khoái lạc và khổ hạnh trong
thực hành trước khi Ngài thành đạo. Đức Đạo sư với kinh nghiệm của chính
mình, Ngài đã tìm ra Trung Đạo và nhờ vào chính nó mà hoàn thành trí tuệ
giải thoát đưa đến Bồ-đề Niết-bàn. Đó chính là con đường trung đạo tám
ngành, hay nói một cách chính xác hơn thì chân lý mười hai nhân duyên,
nếu đem lý giải thì chính nhờ vào nó mà đức Phật đã xa lìa chủ trương
thường kiến, chấp chặt vào ngã cho là một chủ thể sinh mệnh hữu tình
chúng sanh luôn tồn tại; cùng xa lìa chủ trương đoạn kiến cho rằng sau
khi chết hữu tình chúng sanh sẽ vĩnh viễn mất luôn không còn tồn tại
nữa; hay xa lìa lập trường chủ trương tự nhiên trong những kiến giải của
hữu kiến thế gian, cùng chủ trương chủ nghĩa hư vô cho rằng tất cả đều
là không, không có gì hết của vô kiến mà tất cả mọi người vào lúc bấy
giờ dùng bốn cách nhìn thiên kiến sai lệch này đối với nhân sinh và vũ
trụ, trong lúc Ngài quán thuận và nghịch mười hai nhân duyên này. Đó gọi
là chánh kiến của trung đạo quán. Trung Đạo này thường được diễn tả là
Bát chánh đạo (āryāṣṭāṅgika-mārga): tám con đường chân chính, bởi
vì nó gồm có tám ngành, cũng có thể gọi là tám phạm trù:
1- Chánh kiến (samyag-dṛṣṭi): sự thấy biết
chân chính, tức là thấy khổ đau về vật chất cũng như tinh thần là khổ
đau, thấy sự tập khởi của khổ đau là sự tập khởi khổ đau, thấy sự diệt
tận của khổ đau là sự diệt tận khổ đau, thấy con đường đưa đến sự diệt
tận là con đường đưa đến sự diệt tận khổ đau; có nghiệp thiện ác, có quả
báo nghiệp thiện ác, có đời này đời kia, có cha có mẹ, có chân nhơn đi
đến nơi thiện, hướng thiện; đối đời này đời kia có thể tự giác ngộ, tự
thân tác chứng thành tựu đạo quả giải thoát.
2- Chánh tư duy (samyag-sankappa): suy
nghĩ chân chính, tức là có ý chí đúng, phân biệt đâu đúng đâu sai, hiểu
biết nhớ nghĩ chính xác, tức là không có tham dục giác, sân nhuế giác và
hại giác.
3- Chánh ngữ (samyag-vāca): lời nói chân
chính, tức là lời nói đúng đắn, chân thật. Tức là không còn sử dụng
những lời nói dối, lời nói hai lưỡi đâm thọc gây chia rẽ, lời nói thô ác
xấu xa, lời nói thêu dệt thêm bớt không chính xác.
4- Chánh nghiệp (samyag-kammanta): còn gọi
là chánh hạnh, là việc làm chân chính, tức là những hành động trong tạo
tác đúng với Chánh pháp, xa lìa sát sinh, không cho mà lấy, cho đến việc
tà hạnh, những giới chúng ta đã phát nguyện thọ trì.
5- Chánh mạng (samyag-ājīva): sự sống chân
chính, tức là chúng ta bỏ lối sống mê tín sử dụng chú thuật cầu đảo…
theo tà mạng. Phải như pháp mà cầu y phục đồ ăn thức uống, giường nằm,
thuốc men trị bệnh và tất cả những phương tiện tùy thân khác trong sinh
hoạt hằng ngày.
6. Chánh tinh tiến (samyag-vāyāma): cố
gắng chân chính, tức là luôn cố gắng nỗ lực trong việc chuyển ác thành
thiện đối với cuộc sống: Nên phát nguyện đối với những điều ác đã phát
sinh thì nên tìm cách tiêu diệt chúng, những điều ác chưa phát sinh thì
không khiến chúng phát sinh, những điều thiện chưa phát sinh thì nên tìm
cách khiến cho nó phát sinh ra, những điều thiện đã phát sinh rồi hãy
tiếp tục làm cho nó tăng trưởng nhiều hơn nữa.
7- Chánh niệm (samyag-satti): nhớ tưởng
chân chính, là ý nhớ nghĩ đến thân, thọ, tâm, pháp. Đó là bốn pháp mà
chúng ta cần phải nhớ nghĩ đến, còn gọi là bốn niệm xứ.
8- Chánh định (sammā samādhi): tập trung
chân chính, tức là xa lìa các pháp dục ác bất thiện để thành tựu bốn
thiền từ sơ thiền đến tứ thiền.
Trong cuộc đời thuyết pháp độ sinh của đức Đạo sư
qua bốn mươi lăm năm, Ngài luôn luôn tùy thuộc vào căn cơ trình độ hiểu
biết của mọi chúng sinh hữu tình mà dùng con đường đưa đến sự diệt khổ
đau tám ngành này mà theo đó giảng dạy cho đồ chúng của mình. Ngài giảng
dạy chúng bằng những phương cách khác nhau và cách dùng dụng ngữ cũng
khác nhau cho những người có trình độ hiểu biết cảm thụ khác nhau, tùy
trình độ phát triển cho phù hợp với trình độ, mọi tầng lớp trong xã hội
vào lúc bấy giờ. Nhưng tinh túy nội dung tư tưởng giải thoát của nó vẫn
nhất quán trong thuyết giáo của mình, hàng trăm ngàn bài thuyết giáo rải
rác trong ba tạng giáo điển của Ngài, được chúng ta tìm thấy đều nói lên
nội dung tư tưởng giải thoát của Bát Chánh Đạo, qua sự hoàn thiện tam vô
lậu học Giới-định-tuệ trong mục tiêu làm trong sạch ba độc tham-sân-si
bằng vào thanh tịnh hóa ba nghiệp thân khẩu ý, qua tám phạm trù được thể
hiện trong cuộc sống.
Qua tám phạm trù hay tám ngành này, được phân bố
theo chức năng của ba học trong việc tu tập đối với kỷ luật tâm linh
những lời dạy của đức Phật. Như vậy, không nhất thiết là phải theo thứ
tự từ một cho đến tám trong việc áp dụng thực hành theo thứ tự như trên.
Chúng phải được thực hành phát triển gần như cùng lúc với nhau, càng
nhiều càng tốt tùy theo khả năng căn cơ từng người một. Tất cả tám phạm
trù này, chúng liên kết nhau và mỗi phạm trù hỗ trợ cho sự đào luyện
những phạm trù khác.
Tám phạm trù này chúng được phân nhóm vào ba học
Giới (Sila) Định (Samādhi) và Huệ (Pannā) thì chúng
sẽ tùy thuộc vào đó mà mang ý nghĩa và giá trị của từng nhóm một.
Giới (sila)
một kỷ luật phổ quát dành cho việc xây dựng tình yêu và tình thương xót
đối với tất cả mọi sinh vật hữu tình chúng sanh đang hiện hữu, theo ý
nghĩa nền tảng căn bản của giáo lý đức Phật. Đức Phật ban bố giáo lý từ
bi của Ngài trong tu tập tự lợi và lợi tha như kinh Đại
Phương Đẳng
24, T. 13, p. 0170b dạy: “Bồ-tát Ma-ha-tát nào muốn
thành tựu Chánh đẳng Chánh giác thì phải tu tập từ bi.”
Hay vì muốn lợi ích cho nhiều người, hạnh phúc cho nhiều người, do từ bi
đối với thế gian, trong kinh
Ưu-bà-tắc giới 7, T. 24, p. 1074c, đức Phật dạy:
“Này Thiện nam! Người trí nên phải quán sát như vầy:
‘Tất cả phiền não là oán lớn đối với ta. Vì sao vậy? Vì phiền não có khả
năng tự phá mình và phá người. Vì nhân duyên này, nên ta phải tu tập tâm
từ để vì lợi ích tất cả chúng sanh và vì muốn được hoàn thiện vô lượng
pháp. Nếu có người nào bảo lìa từ bi mà có được thiện pháp thì việc này
không nơi nào có!”
Theo đức Đạo sư, mỗi người chúng ta muốn hoàn
thiện cho chính mình thì phải phát triển cả hai đức tính bi (karuṇā)
và trí (jñāna) song song với nhau. Ở đây, ‘Bi’ tượng trưng cho
trái tim biểu thị cho tình cảm, có nghĩa là chỉ cho lòng thương xót, yêu
mến người và vật, sự tử tế với nhau, khoan dung độ lượng, nói chung chỉ
cho lòng trắc ẩn đối với cái khổ của người khác mà khởi tâm muốn cứu
khổ, trong khi ‘Trí’ tượng trưng cho khối óc thuộc về khía cạnh tri thức
hiểu biết, đối với đạo lý tất cả mọi sự vật có khả năng đoán định phân
biệt chuyện thị phi, chánh tà mà lựa chọn lấy bỏ, nên gọi là trí. Nếu
chúng ta chỉ phát triển phần tình cảm mà quên đi phần tri thức lý trí,
thì chúng ta dễ trở thành những kẻ ngu si tốt bụng không biết phân biệt
được đâu là tốt xấu, việc gì nên làm và việc gì không nên làm! Trong khi
nếu chúng ta chỉ phát triển khía cạnh tri thức lý trí mà bỏ quên tình
cảm thì, chúng ta sẽ dễ trở thành một người trí có tim sắt đá không biết
cảm thông thương xót rung động trước mọi người ngoài ta ra. Vì vậy muốn
hoàn thiện một con người, người ta phải phát triển về cả hai mặt tình
cảm và lý trí đồng đều. Đó là mục đích thăng hoa của lối sống theo đức
Phật qua luật tắc nhân quả thế gian; trong đó trí huệ và từ bi liên quan
mật thiết với nhau như ta sẽ thấy sau này qua ba vô lậu học, trong tiến
trình tu tập thực hành đưa đến giải thoát đau khổ tùy theo trình độ căn
cơ lệ thuộc về nhân quả hay duyên khởi.
I - GIỚI: Trong Giới, theo chúng
tôi thì bao gồm năm phạm trù chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng,
chánh tinh tấn, chánh niệm. Trong năm phạm trù này thì ba phạm trù đầu
thuộc về điều thân nói chung, trong đó có thân và khẩu giới, nơi trực
tiếp tạo ra nghiệp nhân để đưa đến kết quả báo nghiệp sau đó thuộc hệ
nhân quả, thuộc hành vi đạo đức của lời nói và hành động, mà mọi người
có thể nhận thấy được những hành vi cử chỉ cùng lời nói có đạo đức hay
không đạo đức được thể hiện ra một cách rõ nét nhất, và cũng nhờ có
những hành vi này mà chúng ta có thể đánh giá được ý hành của mỗi cá
nhân được thể hiện qua chúng là thiện hay bất thiện, là đúng pháp hay
không đúng pháp. Còn hai phạm trù sau tức là Chánh tinh tấn, Chánh niệm
thuộc về điều tâm (ý giới), trước khi vào Định thật sự.
Theo ba học thì chánh ngữ của khẩu thuộc về Giới,
nếu miệng chúng ta không phát ra những lời nói dối trá; không phát ra
lời nói vu khống, hay nói những lời có thể gây thù hằn, ghét bỏ, bất
hòa, hay gây gổ mạ lị giữa những cá nhân hay những nhóm người lẫn nhau;
không nói lời thô lỗ, vô lễ, ác độc, thóa mạ; không nói lời mách lẻo, vô
ích, xuẩn ngốc. Chúng ta cố gắng nhẫn nhịn, không nói những thứ ngôn ngữ
sai quấy và độc hại ấy đối với những người chung quanh chúng ta khi giao
tiếp qua lời nói của cửa miệng, mà chúng ta chỉ dùng những thứ ngôn ngữ
chân thật từ hòa dịu dàng, những từ ngữ thân thiện, khoan hòa, êm ái và
nhã nhặn mà thuật ngữ đức Phật gọi là ái ngữ, có ý nghĩa và lợi ích thì
ngay lúc đó miệng chúng ta không những trở nên trong sạch mà còn tỏa ra
hương vị của từ bi và giải thoát mà chính ý chúng ta cũng thể hiện được
sự trong sạch và hương từ bi thơm mát nữa. Từ đó khi chúng ta giao tiếp
với nhau, mọi người sẽ không còn nói năng bừa bãi, cẩn thận đúng lúc và
đúng chỗ. Trường hợp nếu không thể nói được những lời nói lợi ích cho
nhau thì, tốt hơn nên giữ sự im lặng. Đó chính là những thể hiện của
chánh ngữ qua giới trong lúc hành giả tu tập.
Giới học này không chỉ được giới hạn qua miệng
(khẩu) của lời nói mà còn được giới hạn qua mọi hành vi tạo tác của thân
nữa. Ở đây Chánh nghiệp thuộc về thân nhằm thể hiện những hành vi tạo
tác tương ưng với đạo đức, khả kính và hòa nhã. Trong đó, đức Đạo sư
khuyên chúng ta nên từ bỏ sự sát hại sinh mạng, sự trộm cắp; có làm có
ăn bình đẳng trong sự nghiệp của mỗi người, tránh xa mọi sự tà dâm không
có lợi cho chính gia đình mình và gia đình người khác trong hạnh phúc,
trong một cuộc sống hòa nhã tương kính lẫn nhau trong một cộng đồng xã
hội nhân bản. Khi mà thân chúng ta không hành động tạo tác những hành vi
có hại cho mình, cho người, cho xã hội thì chúng ta nên tránh xa và
ngược lại phóng sanh, giú |