THIỀN
TRÚC LÂM
ĐINH QUANG MỸ
[MỤC LỤC]
CHƯƠNG VI.
KẾT LUẬN
I. TƯ TƯỞNG TRIẾT LÝ
Để tổng kết và mở ra một tầm
nhìn có thể có đối với sự nghiệp tư tưởng của Phái Thiền Trúc lâm
Yên tử, chúng ta nên ghi nhớ hai tác phẩm trọng yếu đã mở đầu cho
phái Thiền này. Đó là bản Ngữ lục của Tuệ trung Thượng Sỹ và Khóa
hư lục của Trần Thái Tông. Hai tác phẩm này, một đằng có thể
khảo sát trên khía cạnh lý thuyết, và một đằng có thể được chiêm
nghiệm trên phương diện thực hành, là những bản tổng kết của một
thời gian dài phát triển tư tưởng của Phật giáo Việt nam.
Thượng Sỹ Ngữ lục,
một cách nào đó, có thể không mấy có tính chất sáng tạo về mặt tư
tưởng Thiền, nhưng quả thực nó là sự kết tinh của Thiền học và tất
cả các tông phái Đại thừa khác tại Việt Nam. Nhờ vào hệ thống công
án, Thượng Sỹ Ngữ lục đã có thể phát biểu kiến giải của mình
một cách thông dong về tất cả các chủ điểm ách yếu trong các khuynh
hướng dị biệt của Phật học. Sau Thượng Sỹ ngữ lục, công án
vẫn còn được tiếp tục với tinh thần tương tợ, như chúng ta có thể
thấy trong Tam tổ đã tạo ra cho công án một vóc dáng lớn, bao
hàm cả tư tưởng Tam giáo, không riêng gì Thiền hay Phật giáo.
Từ các công trình đã được thực
hiện, chúng ta thấy hình như còn có những vấn đề chưa được khai thác
tận căn đề. Nêú lịch sử đã để dành cho Thiền Trúc lâm có các cơ hội
thuận thiên hơn, có lẽ chúng ta đã có một trường phái Phật học rất
xứng danh. Ở đây, xin ghi nhận một vài vấn đề có thể có mà chưa khai
triển.
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHẤT TÂM
Thọat nhìn, chưa ai thấy đây là
vấn đề mới mẻ và đặc sắc của Trúc lâm. Trong các lời nói của các
người khai sáng nhà Trần, hay khai sáng Thiền Trúc lâm, tâm thường
được nhắc đến theo nghĩa rất bình thường. Nhưng cho tới khi Đại
chân Viên giác thanh xuất hiện, chân tâm đó mặc nhiên được gắn
liền với chân tâm của kinh Lăng nghiêm. Đây chỉ là sự nương
tựa cần phải có, nghĩa là cần có một hậu thuẫn từ kinh văn của Phật
giáo Đại thừa. Điểm đáng lư ý hơn, là cái chân tâm đã được đồng hóa
với Thiên địa chi tâm. Nếu chân tâm có hai tác dụng
như thực và diệu dụng phổ biến, thì thiên địa chi tâm cũng
biểu hiệu dưới những tác dụng tương giao của âm và dương. Đến chỗ
này, thì biểu hiệu cụ thể nhất của tương giao tác dụng đó phải nói
là thời tiết. Và như vậy, thời tiết như là nguyên lý
hữu hiệu để làm căn bản cho pháp môn tu tập được mô tả trong Khóa
hư lục. Đây là sự phản ảnh quá rõ sự phối hợp niềm tin siêu hình
bắt nguồn từ Ấn độ với một xã hội liên tục phấn đấu với thiên nhiên
để tồn tại.
Nếu chúng ta nói một cách khác,
Chân Tâm là bản thể và thời tiết là tác dụng, nhất dịnh chúng ta
tưởng tượng ra được chiều hướng phát triển Trúc lâm. Nhưng lịch sử
đã không cho phép có sự phát triển rầm rộ về điểm đó. Tuy nhiên, nếu
có đủ thì giờ khảo cứu, với những tư tưởng gia lỗi lạc, ngày nay
chúng ta vẫn hy vọng làm sống dậy thể tài này với tất cả các sắc
thái độc đáo của nó, ít nhất là về mặt học thuật.
TRIẾT LÝ ÂM THANH
Chỉ từ nhà Lê về sau người ta
mới thấy quả có một nền triết lý về âm thanh trong Thiền học Trúc
lâm. Trước đó, hiệu lực của âm thanh vẫn được coi trọng, đặc biệt
trong các lối trì tụng chân ngôn của Mật giáo. Thế nhưng, triết lý
về âm thanh như được trình bày trong Đại chân Viên giác thanh
lại không có liên hệ gì tới Mật giáo. Nguồn mạch của nó là kinh
Thủ-lăng-nghiêm và dịch học Trung hoa. Ngoài sự kiện hình như được
gợi hứng từ hạnh nguyện tầm thanh cứu khổ của Bồ tát Quán Thế Âm,
triết lý âm thanh trong Đại chân Viên giác thanh còn là một
nổ lực cho tư tưởng Tam giáo đồng qui, nhưng chính âm thanh mới là
tác dụng kéo tất cả về một mối. Nổ lực này có tầm mức quan trọng
đáng kể. Quan trọng nhất, là nhắm giải quyết sự xung đột giữa Phật
của Ấn độ và truyền thống của Trung hoa mà hậu quả còn dây dưa cho
đến Việt Nam. Tuy nhiên, đây chỉ là mới nổ lực dự tưởng, và công
trình đó không được nhắc nhở, cho nên trong nhất thời chúng ta khó
nhận xét đúng mức về chiều hứng phát triển có thể có của nó.
II. TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO
Chúng ta đã biết rằng, có những
dữ kiện rất sớm trong lịch sử chung của Phật giáo Trung hoa và Việt
nam, chứng tỏ rằng đất Giao châu ngày xưa và Bắc kỳ ngày nay là khu
vực của thần bí, của tín ngưỡng tôn giáo. Đó là khu vực gây nên
những tinh thần trái ngược với khuynh hướng tư tưởng xã hội của
Trung hoa ở Bắc phương. Khởi hành từ Trung hoa, càng đi về phía Nam,
sắc thái thần bí của tín ngưỡng tôn giáo càng nặng. Cho nên, Giao
châu đã là một nơi thu hút những tâm hồn thiên trọng tín ngưỡng tôn
giáo của người Trung hoa. Dân bản xứ cố nhiên đã có thiên bẩm tôn
giáo đặc biệt.
Trải qua thời gian dài của lịch
sử, qua nhiều cuộc cai trị với những chính sách văn hóa của người
Trung Hoa, sắc thái thần bí và tín ngưỡng tôn giáo của giống dân
Giao chỉ cũng phải chịu nhiều thay đổi. Cuối cùng, người ta chứng
kiến tại đây đã có mặt của một nền tôn giáo thế tục. Nghĩa là một
nền tôn giáo mà thần linh cũng có các quan hệ bổn phận với gia đình
và xã hội, ngoài khả năng siêu nhiên của mình. Tín ngưỡng nổi bật
nhất là tín ngưỡng Quán Thế Âm.
Về mặt sinh hoạt thực tế, chúng
ta khó mà biết nền tín ngưỡng này liên hệ với phái Thiền Trúc lâm
như thế nào. Nhưng về mặt tư tưởng thì quả tình Đại chân Viên
giác thanh đã nổ lực xây dựng một nền triết học đồng qui cho
Tam giáo trên căn bản tín ngưỡng này.
Trước thời Lê, và có lẽ cả thời
Trần, tín ngưỡng tôn giáo có thế lực rất lớn trong xã hội Việt nam.
Những phong trào chính trị lớn của lịch sử đã có liên hệ với các
hoạt động lấy tín ngưỡng tôn giáo làm phương tiện. Nhưng từ nhà Lê
về sau, hai tín ngưỡng Quán Thế Âm xuất hiện như là điểm cao nhất
trong quá trình phát triển ý thức tôn giáo của Việt nam, chúng ta
thấy gần như không còn có phong trào chính trị nào đích thực có tính
chất vận động tôn giáo như trước kia. Tín ngưỡng Quán Thế Âm chỉ
giới hạn trong các tương quan xã hội, với một đạo đức không chỉ nói
tới quan hệ bổn phận giữa các người sống, mà còn quan hệ với tất cả
người sống cũng như người chết, và mức quan hệ còn rộng rãi hơn nữa.
Đây là sự kết hợp của tín ngưỡng tôn giáo Đại thừa với trật tự luận
lý của Khổng giáo. Cho nên, tín ngưỡng Quán Thế Âm đích thực đã tạo
cho tín ngưỡng bình dân Việt Nam hoàn toàn là một nền tín ngưỡng thế
tục.
Đây cũng có thể nói là chiều
phát triển của Phật giáo trong lòng quần chúng. Tức là, vẫn nỗ lực
hướng tới lý tưởng cao cả mà kinh điển đề ra, nhưng đồng thời cũng
không quên các bổn phận rất thông tục theo truyền thống cố hữu của
mình.
III. SỰ NGHIỆP PHẬT GIÁO CỦA TRÚ LÂM
Tư tưởng triết lý, và tín
ngưỡng tôn giáo là hai thành quả lớn mà Thiền Trúc lâm đã mang lại
cho Phật giáo Việt nam, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, vì chính Trúc
lâm đã sáng tạo một lối học và hành đặc sắc trên phương diện triết
lý. Nói là gián tiếp, vì tín ngưỡng tôn giáo là tinh thần cố hữu mà
Trúc lâm thừa hưởng, và chỉ đóng góp một phần nào cho sự tiến bộ của
nó về sau. Hai phương diện đó là những đóng góp lớn lao của Trúc lâm
qua các điểm khác. Các điểm này sẽ được bao gồm trong hai điểm lớn:
Lý tưởng và thực tế.
Về phương diện lý tưởng, Trúc
lâm quả tình đã kết hợp khéo léo giữa lý tưởng Quốc gia và Phật đạo.
Sáo ngữ ngày nay thường nói Phật giáo và Dân tộc. Đây không chỉ cách
nói tuyên truyền nhất thời với một hậu ý chính trị nào đó. Lý tưởng
Quốc gia và Phật đạo đã có mặt trước cả đời nhà Trần, như chúng ta
chứng kiến trong các cuộc vận động cho quyền tự chủ và ý thức dân
tộc của các Thiền sư trước thời Lý. Cho đến đời nhà Trần, lý tưởng
này đã được khẳng định nhiều lần do chính miệng của những người sáng
lập triều đại nhà Trần.
Nếu xét kỹ, có lẽ chúng ta phải
thấy rằng lý tưởng Quốc gia và Phật đạo vốn là khía cạnh của lý
tưởng tôn giáo đại đồng. Đó là một nền tín ngưỡng lấy niềm tin nơi
con người làm đối tượng cứu cánh, không giới hạn vào biên giới quốc
gia. Tư tưởng Tam giáo đồng qui thực sự cũng được hỗ trợ bởi một lý
tưởng tôn giáo như thế.
Về mặt thực tế, điểm phải kể
trước nhất là các nhà khai sáng Trúc lâm đã tạo cho Phật giáo Việt
nam kể từ đây trở đi mang nhiều sắc thái thế tục hơn. Một phần, vì
những nhà lãnh đạo tinh thần thời đó là cư sĩ. Vừa có thẩm quyền về
đạo cũng như về đời, nên ảnh hưởng về thái độ thể hiện giáo lý của
Phật thực tế không phải là nhỏ. Phật giáo thế tục, tức Phật giáo bận
tâm nhiều đến các công tác thế tục hơn. Thí dụ, chăm sóc đến đời
sống của dân chúng, không những về mặt tinh thần, mà còn đặc biệt ở
các phương tiện vật chất.
Trên đây chỉ là tóm tắt sự
nghiệp tinh thần của Trúc lâm đối với Phật giáo Việt Nam. Ngoài ra,
những sự nghiệp khác, như đối với sự tiến bộ của văn học, nghệ
thuật, vân vân…..chỉ là những thành quả đương nhiên. Và cũng vì giới
hạn của tập Tiểu luận này chỉ nằm trong vòng sự nghiệp tư tưởng, mà
những khảo cứu của chúng tôi đã có thể chấm dứt được ở đây.