ĐẠO LÀM ANH
TRONG MỖI DỊP
XUÂN VỀ
Con người đối xử
với nhau và muôn loài dễ thương, là bởi trong con người có thiện tánh
biểu hiện. Và con người đối xử với nhau và muôn loài dễ ghét là vì trong
con người biểu hiện ác tánh.
Ác tánh trong con
người do được nuôi dưỡng bởi thầy tà, bạn ác, bởi những nhận thức sai
lầm từ các giáo thuyết, học thuyết, triết thuyết và chủ
thuyết.
Và thiện tánh trong
con người lại được nuôi dưỡng từ Thầy hiền, bạn tốt, bởi những cái hiểu,
cái thương đúng đắn từ những giáo lý nhân ái, bác ái, từ bi, vị tha, vô
ngã và nhân duyên.
Thế nào là thầy tà,
bạn ác và thế nào là những nhận thức sai lầm từ các giáo thuyết, học
thuyết, triết thuyết và chủ thuyết?
Thầy tà là vị thầy
giáo dục không hướng dẫn học trò sống nếp sống cao thượng và chính bản
thân của vị thầy đó cũng không hề có đời sống ấy. Hoặc vị thầy ấy chỉ
nói những điều tốt đẹp cho người khác làm, còn chính bản thân không làm,
bản thân sống bê bối.
Bạn ác là những
người bạn đưa ta đi đến chỗ phe nhóm, băng đảng ăn chơi trác táng, đọa
lạc.
Và những nhận thức
sai lầm từ các giáo thuyết, học thuyết, triết thuyết, chủ thuyết, khi
mà những
thuyết ấy cho rằng, con người chỉ thuần về vật chất và vật chất có thẩm
quyền giải quyết toàn bộ vấn đề hạnh phúc của con người, hay con người
chỉ thuần về tâm linh, tâm linh quyết định mọi yếu tố hạnh phúc của con
người.
Những giáo thuyết
như vậy, không phải sai, nhưng chỉ là một khía cạnh của con người. Con
người khổ đau hay sinh hoạt mất bình thường là do nghiêng về một trong
hai khía cạnh và cho một trong hai khía cạnh ấy là tất cả.
Nhận thức như vậy
là nhận thức sai lầm, giáo thuyết dạy cho con người sống như vậy là giáo
thuyết sai lầm, học và hiểu như vậy là học và hiểu theo học thuyết sai
lầm; phân tích, chia chẻ, luận lý, chứng minh cho quan điểm ấy, cho lập
trình ấy là đúng, đó là triết thuyết sai lầm và chủ trương sống và hành
động như vậy, buộc mọi người phải sống như
vậy, không thể sống khác đi, đó là chủ thuyết sai lầm. Chính ý nghĩ sai
lầm đó, huân tập tạo thành tri kiến sai lầm. Và từ tri kiến sai lầm, tạo
thành chủng tử sai lầm, lại từ chủng tử sai lầm tạo thành ác tánh, nên
con người đã đối xử với nhau và muôn loài bằng những ác tính ấy.
Có những ngày từ 4
giờ sáng sớm, tôi đã đi thiền hành, từ chùa Thuyền Lâm về đường Lê Lợi,
Nguyễn Trường Tộ, qua đường Trần Phú và trở lại chùa, và cứ mỗi buổi
sáng như vậy, tôi lại thấy phần nhiều mọi người dậy sớm không phải để
làm thiện mà để làm ác. Chùa và nhà Thờ ánh đèn điện đều sáng choang,
nhưng chỉ lác đác vài tiếng kinh cầu vọng ra từ bàn thờ Phật và Chúa,
nhưng khi nghe tiếng những chiếc xe nổ, tôi đã nhìn thấy nhiều người chở
những thây heo trên xe để đi tới các
quán ăn nhậu, và các quán ăn nhậu nầy, lại có những cô thiếu nữ, mặt mày
cũng tươi tắn đang cầm dao phanh chặt và xẻ thây của những chú heo ra
từng mảnh rồi bỏ vào nồi nước đang sôi sùng sục. Nhìn những cảnh ấy, tôi
đứng yên lặng, lạnh người và tự nghĩ, con người mở đầu cho một cuộc sống
là như vậy đó hả?
Con người mở đầu
cuộc sống chỉ là đồ tể trực tiếp và gián tiếp hay là những người đồng
tình với đồ tể ấy ư?
Có khi nào con
người tự hỏi lại chính mình, tại sao ta phải ăn thịt? Nếu không ăn thịt
thì ta có thể sống được không? Có ai ăn thịt người không? Và mình có
muốn người khác và loài khác ăn thịt mình không và ăn thịt bà con mình
không?
Ngày trước tôi còn
nhỏ, mẹ tôi kể cho tôi nghe, quỷ La sát là loài quỷ ở trên các hải đảo,
là loài thích ăn thịt người, từ đó tôi ghét loài quỷ La sát lắm, tôi
không muốn nhắc nhở đến tên của loài quỷ La sát nầy, nhưng thật ra có
loài quỷ La sát nào ăn thịt người đâu, chỉ là chuyện kể thôi mà, nhưng
trong thực tế, ta chỉ thấy người ăn thịt mới là quỷ La sát của mọi loài.
Ngày ba mươi tết,
tiếng heo kêu en ét bởi những lát dao và những bước chân của những chú
bò, chú trâu rùng mình với đôi mắt rươm rướm bước vào lò mổ, quỳ xuống
trước dao búa của con người đồ tể. Nếu con người có chút thiện tánh, họ
tự đặt lại câu hỏi, ta ăn tết, ta vui xuân, ta cầu cho ta và gia đình ta
được bình an và hạnh phúc, vậy các loài nầy có ăn tết, có vui xuân, có
cầu cho nó và những gì liên hệ với nó bình an không hả? Ta
chỉ cần biết đặt câu hỏi như vậy thôi, thì ác tánh nơi ta không còn đủ
cơ hội để biểu hiện và thiện tánh nơi ta bắt đầu xuất hiện.
Làm sao ta có mùa
xuân và sự bình an, khi muôn loài và sự sống quanh ta đang bị ta tàn
hại? Xuân về cho ta sự sống, đáng lẽ con người là anh cả của muôn loài,
con người biết tiếp nhận sự sống và biết tạo ra sự sống cho cả muôn loài
để cùng nhau vui xuân, thì con người mới phải đạo làm người và đạo làm
anh chứ?
TĂNG TRƯỞNG
TÂM BỒ ĐỀ
Chiều ngày 08 tháng
07 năm Nhâm Thân (1992), tại giảng đường chùa Từ Đàm-Huế có buổi hội
thảo của Tăng Ni Thừa Thiên, để đóng góp cho việc tu chỉnh Hiến chương
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), trong hội nghị nầy, tôi tham gia
với tư cách đại diện Tăng chúng và Phật tử chùa Phước Duyên, và đã phát
biểu về nhận định của mình đối với Hiến chương của GHPGVN như sau:
1. Phương châm hoạt
động của GHPGVN là: “Đạo pháp-Dân tộc-Xã hội chủ nghĩa”.
Tôi đề nghị, nên bỏ vế “Xã hội chủ
nghĩa” trong phương châm hoạt động của Giáo hội (GH). Tại sao? Tại vì
Tăng Ni Phật tử chúng ta không thể nào gặp người Cọng sản ở nơi XHCN, và
người Cọng sản cũng không thể nào gặp Tăng Ni Phật tử chúng ta ở nơi Đạo
Pháp. Nếu chúng ta có gặp nhau chăng, là gặp nhau ở nơi lý tưởng phụng
sự dân tộc.
Tăng Ni Phật tử Việt Nam chúng ta nỗ lực
học hỏi, tu tập để rút được những tinh hoa của Đạo Pháp, nhằm phụng sự
dân tộc, nơi mà chúng ta đã có nhân duyên sinh ra và lớn lên.
Và người Cọng sản cũng nên rút tỉa
những tinh hoa của chủ nghĩa Mác-Lê để phụng sự dân tộc, bởi vì không
một ai trong người Việt Nam chúng ta không là gốc rễ Việt Nam trước khi
trở thành người Cọng sản, hay trở thành tín đồ của các Tôn giáo.
Vì vậy, Tăng Ni Phật tử Việt Nam chúng
ta, chỉ hoạt động trong phạm vi Đạo Pháp và Dân tộc, còn Xã hội chủ
nghĩa là để cho những người Cọng sản hoạt động.
Do đó, trong Hiến chương GH, nên chấm
dứt cái đuôi “Xã hội chủ nghĩa” theo sau.
2. Trong Hiến
chương của GHPGVN, không có Đạo kỳ. Tại sao? Năm 1963, chính quyền của
Tổng thống Ngô Đình Diệm, chỉ vì ra lệnh triệt hạ cờ Phật giáo vào ngày
8/04/Âm lịch, nên đã đưa đến nhiều hậu quả nghiêm trọng và cuối cùng dẫn
đến sự cáo chung của nền Đệ nhất Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam.
Trong Hiến chương
GHPGVN không công nhận giáo kỳ, là Giáo hội ấy tự phủ nhận công lao của
Tăng Ni Phật tử Việt Nam trong một giai đoạn tất yếu của lịch sử.
3. Tổ chức Gia đình
Phật tử (GĐPT) là một tổ chức giáo dục thanh thiếu niên theo tinh thần
Phật giáo, để góp phần xây dựng đất nước. Tại sao trong Hiến chương
GHPGVN không có? Làm thế nào mà chúng ta lại có thể triệt hạ mầm móng
của chúng ta ngay trong pháp lý hoạt động.
4. Tổ chức mang
danh nghĩa Phật giáo là để phụng sự con người
và nhân loại theo hướng trí tuệ và từ bi, mà không phải phục vụ cho một
cá nhân, một tập thể, một triều đại hay một chủ nghĩa nào.
Do đó, GHPGVN không
nên là “thành viên đáng tin cậy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”.
Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam (MTTQVN) chỉ là một tổ chức chính trị, mục đích là để tuyên
truyền đường lối chính sách, chủ trương của Đảng Cọng sản Việt Nam.
Trái lại, tổ chức
Phật giáo, mục đích là để kế thừa và hoằng truyền chánh pháp của Đức
Phật, lịch đại Tổ sư qua các thời đại để giúp đời, nên hai tổ chức ấy
không thể gắn liền với nhau, và không thể lầm lẫn mục đích của nhau.
Bản Hiến chương của
GHPGVN ra đời năm 1981, sau khi đọc xong, tôi có đến đảnh lễ Hòa Thượng
Thích Mật Hiển (tức là Ôn Hòa Thượng Trúc Lâm) và trình bày với Hòa
Thượng rằng:
“Bạch Ôn! Ôn là
Trưởng tiểu ban soạn thảo Hiến chương của GH, sao Ôn lại viết GH hoạt
động theo phương châm: Đạo pháp-Dân tộc-Xã hội chủ nghĩa; sao trong Hiến
chương không có giáo kỳ; không có tổ chức GĐPT và tại sao GH lại là
thành viên đáng tin cậy của MTTQVN?”.
Ôn dạy: “Tôi không
hề soạn Hiến chương ấy, Hiến chương ấy do Ban Tôn giáo Chính phủ, và
MTTQVN tự biên, tự diễn, rồi họ mượn danh của tôi đặt vào”.
Nghe Ôn dạy: Tôi
cúi đầu đảnh lễ, và không biết ăn nói làm sao nữa, ôm nỗi đau ấy trong
lòng, cho đến 14 giờ chiều 08/07/năm Nhâm Thân (1992), tại giảng đường
chùa Từ Đàm, trước đông đảo Tăng Ni Thừa Thiên-Huế, tôi chỉ nói lên được
một vài điều như đã trình bày. Nỗi đau ấy vẫn liên lỉ tiếp tục cho đến
nay, và không biết đến khi nào mới chấm dứt. Bấy giờ, trước khi nói, tôi
đã biết chắc chắn rằng, mọi khó khăn sẽ đến với tôi, nhưng tôi đã sẵn
sàng chấp nhận những khó khăn ấy, như là những chất liệu bổ dưỡng để
tăng trưởng tâm bồ đề của mình.
HÃY CÙNG NHAU NIỆM PHẬT
Niệm Phật là ta làm
cho hình dung của các Đức Phật có mặt trong ta, ta làm cho lý tưởng giác
ngộ của các Ngài sinh khởi trong tâm thức ta, và ta làm cho hạnh nguyện
của các Ngài có mặt trong ước nguyện, cũng như trong mỗi cử chỉ và hành
động thực tế của ta, khiến cho ta có mặt trong các Ngài và các Ngài có
mặt trong ta, khiến cho thế giới Tịnh độ của các Ngài từ từ hiển lộ
trong tâm thức ta và ta sẽ có mặt một cách tự nhiên ở nơi thế giới Tịnh
độ của các Ngài.
Ta niệm Phật như
vậy, càng lúc tâm ta càng trong sáng, phiền não trong tâm thức ta càng
lúc càng lắng yên, mọi oán kết giữa ta và mọi người cũng như mọi loài từ
từ được giải tỏa, tình thương trong ta lớn rộng, tầm nhìn của ta không
còn bị đóng khung trong những phạm trù chật hẹp và phước đức của ta càng
ngày càng trở nên viên mãn.
Và ta niệm Phật như
vậy, thì Đức Phật ở trong tâm ta sẽ biểu hiện mỗi ngày trong đời sống
của ta, khiến cho lời nói của ta luôn luôn biểu hiện theo hướng giác ngộ
mà không biểu hiện theo hướng sai lầm, khiến cho hành động của ta luôn
luôn biểu hiện về hướng cao thượng mà không thể biểu hiện theo hướng
sinh tử. Và khiến cho tâm ý của ta luôn luôn biểu hiện theo hướng giải
thoát mà không biểu hiện theo hướng sa đọa và hệ lụy sinh tử.
Niệm Phật,
khiến cho đời sống của ta tương ưng với đời
sống Tịnh độ và có khả năng thiết lập quê hương Tịnh độ cho ta và cho
hết thảy chúng sanh với bất cứ ở đâu và lúc nào.
Nên, niệm
Phật là điều kiện quý báu nhất, giúp ta tiếp xúc trực tiếp được với chư
phật mười phương và ba đời, và là điều kiện gọi mời hay đánh thức Đức
Phật trong tâm ta đản sanh hay thị hiện giữa cuộc đời, để giúp chúng
sanh thoát khỏi khổ đau và cùng nhau dựng xây Tịnh độ.
Ta niệm Phật
như vậy, là mỗi ngày đi qua đời ta, là mỗi ngày đưa ta đi về với sự giác
ngộ, với quê hương đích thực rộng lớn, tự do và bình an.
Vậy, ta muốn
chuyển hóa những khổ đau trong đời sống của ta và ta muốn có tự do, muốn
có một quê hương đích thực rộng lớn và bình an cho tất cả chúng ta, thì
chúng ta hãy cùng nhau niệm Phật!
LẠY PHẬT
Lạy Phật sinh khiêm
tốn
Tâm kiêu mạn lìa xa
Trong lòng ta có
Phật
Phật thường trú
trong ta
Ta lạy Phật mỗi
ngày là mỗi ngày ta nuôi lớn hạt giống khiêm tốn trong tâm thức ta và
trong đời sống của ta, khiến tâm kiêu mạn trong ta không có điều kiện để
sinh khởi. Vì vậy, ta có rất nhiều điều kiện để sống cùng và sống chung
với mọi người.
Tâm kiêu mạn đã làm
trở ngại sự học hỏi và thương yêu của ta. Tâm kiêu mạn làm cho cảm giác
cô đơn của ta càng lúc càng tăng lên, khiến cho đời sống của ta như
những hạt cơm chiên rời rạc.
Nên, mỗi lần ta lạy
Phật là mỗi lần ta rời xa tâm kiêu mạn.
Tâm kiêu mạn của ta
không còn, thì Phật sẽ xuất hiện trong ta và Ngài sẽ thường trú với ta,
khiến ta luôn luôn sống trong tỉnh thức và tròn đầy sự giác ngộ.
ĐƯỢC VÀ MẤT
Trong đời sống, ta
biết đặt cái riêng vào trong cái chung, thì đời sống của ta sẽ có hương
thơm, không phải một nơi mà nhiều nơi, không phải một đời mà nhiều đời
và mọi người, mọi loài ai cũng muốn gần gũi ta.
Và nếu ta chỉ biết
lấy cái chung để làm cái riêng, thì đời sống của ta trở nên xú uế không
những một nơi mà nhiều nơi, không những một đời mà nhiều đời và mọi
người, mọi loài ai cũng muốn lánh xa ta.
Người sống biết đặt
cái riêng vào cái chung, người ấy không có gì cả mà có tất cả, người lấy
cái chung để làm cái riêng, người ấy hình như có tất cả mà thực sự đã
mất hết tất cả!
CHỈ CÓ BẬC ĐẠI NHÂN
Những bông hoa và
mọi sinh vật trên trái đất đang nhìn những sinh hoạt của thế giới con
người với đôi mắt đầy khinh miệt.
Vì sao? Vì tất cả
mọi loài đang bị con người tàn hại hoặc bằng cách này hoặc bằng cách
khác, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Và tất cả đều là nạn nhân của con
người và đều bị con người bóc lột.
Con người đã bóc
lột muôn thú, biển cả, sông ngòi, núi rừng, đất đai,… không những vậy,
họ còn bóc lột chính đồng loại của họ nữa.
Những bông hoa và
muôn thú cũng đang nói với nhau như vậy về con người và loài nào cũng
chán ghét loài người cả, chỉ có các bậc đại nhân có lòng thương lớn đối
với loài người, dạy đạo đức cho con người, khiến cho con người biết sống
độ lượng với nhau, không khởi tâm tàn hại lẫn nhau, để khỏi bị những oan
khiên trong cõi luân hồi, và dạy cho con người biết sống không phải để
tàn hại muôn loài mà để che chở muôn loài, khiến cho muôn loài đều biết
ơn và kính nể.
NGÔI NHÀ CÓ Ý NGHĨA
Ta làm xong một
ngôi nhà có đầy đủ mọi tiện nghi, nhưng ngôi nhà ấy không hẳn đã có ý
nghĩa.
Ngôi nhà chỉ có ý
nghĩa, khi mọi sinh hoạt trong ngôi nhà ấy có ý nghĩa. Mọi sinh hoạt
trong ngôi nhà một khi đã không có ý nghĩa, thì dù cho ngôi nhà ấy nguy
nga tráng lệ đến mấy, cũng chỉ là ngôi nhà chết, và chỉ là ngôi nhà sản
xuất ra những xác chết cho xã hội, tạo nên những rối rắm cho con người.
Ngôi nhà có ý
nghĩa, khi mọi sinh hoạt của con người có ý nghĩa được biểu hiện ở trong
đó.
TRỐNG RỖNG
Lòng tham, sự hận
thù, tính kiêu căng, tâm ích kỷ và những ý niệm bè phái trong tâm ta
chưa lắng yên và chưa đi về nẻo vô tham, xả kỷ và từ bi, thì mọi hạnh
phúc và an lạc do ta diễn tả, chỉ là những loại ngôn ngữ rỗng tuếch,
chúng không hề có tác dụng gì đến những ước vọng thoát ly khổ đau của
ta.
CHÂN LÝ
Sự biến diệt không
ngừng là chân lý của mọi sự hiện hữu. Chân lý ấy xưa cũng vậy, nay cũng
như vậy và ngàn sau cũng như vậy, ở nơi này cũng như vậy và ở nơi kia
mọi hiện hữu cũng chư vậy.
Nên, chân lý không
có mới và cũ. Mới và cũ là do tiến trình nhận thức của ta. Và do không
gian và thời gian mà ta đang đứng để nhìn và cảm nhận.
Cùng một vật, nhưng
ta đặt nó vào một không gian nầy để nhìn, thì nó sẽ biểu hiện cho ta là
như thế nầy, và nếu ta đặt nó vào một không gian khác để nhìn, thì nó
lại biểu hiện cho ta là như thế kia
Ta nhìn nhận sự vật
là thế nầy, là thế kia là do cách nhìn của ta, là do tâm ta, do thời
điểm và do không gian vật lý cũng như không gian tâm thức liên hệ với
nhau và quan trọng hơn hết là do bản chất trống rỗng của các sự kiện
tương hợp, liên hệ giữa tâm và vật, giữa thời gian và không gian.
Nên đổi mới
chân lý là cách nói của những kẻ đầy bệnh hoạn, và nỗ lực duy trì chân
lý là việc làm của những kẻ điên loạn. Vì sao? Vì tự thân của chân lý là
chân lý, nên chẳng cần bất cứ ai đổi mới hay duy trì nó cả. Có chăng, ta
chỉ cần đổi mới những nhận thức cũ kỹ của ta và ta phải biết đứng từ
nhiều điểm để nhìn tới một điểm và ta phát hiện trong một điểm, lại hàm
chứa rất nhiều điểm.
KHÔNG THỂ THẤY NHƯ LAI
Nếu bạn nghe một
người ca ngợi về một truyền thống tốt đẹp hay những giá trị đạo đức của
họ, thì bạn cứ ngồi yên lặng để nghe, nhưng không vội tin, mà bạn chỉ
tin khi một truyền thống tốt đẹp hay mọi giá trị đạo đức ấy, được bạn
hiểu cặn kẽ, rồi bạn đem ra áp dụng và có hiệu quả tốt đẹp thiết thực
cho bạn trong đời sống.
Và nếu bạn ngồi
nghe một người hay một đám người ca ngợi những thành quả tốt đẹp của họ,
bạn không cần phải suy nghĩ mà liền biết ngay đó là tạp niệm và tà ngữ,
chúng có gốc rễ từ tà kiến và lòng kiêu căng, những người ấy đang đi
theo đường tà và không thể thấy Như Lai.
NHỮNG BÔNG HOA MỈM CƯỜI
VÀ KHINH MIỆT
Nếu bạn là con
người, thì những bông hoa đang nhìn bạn mỉm cười và khinh miệt.
Vì sao vậy? Vì bạn
sống có lợi ích gì cho muôn loài đâu. Sự sống của bạn đã gây ra thiệt
hại cho muôn loài nhiều nhất.
Và nếu bạn vinh
danh đời sống con người mà thiếu vắng phẩm chất đạo đức, thiếu vắng sự
khoan hòa và độ lượng, thì sự có mặt của bạn là một tai họa lớn cho trần
gian và nuôn loại, trong lúc đó những bông hoa có mặt để hiến tặng cho
đời hương và sắc, còn bạn có mặt chẳng có gì để hiến tặng cho đời mà còn
gây thiệt hại đến muôn loài nữa, vậy làm sao mà những bông hoa không
nhìn bạn mỉm cười và khinh miệt.
TĂNG VÀ GIẢM
Sống trong thời đại
xấu ác, hạnh phúc, an lạc và tuổi thọ của con người càng ngày càng bị
giảm thiểu. Và sự bất hạnh, khổ đau, sợ hãi, thất vọng và sự chết đến
bất ngờ đối với con người càng ngày càng tăng lên.
Tăng ác nghiệp là
thiện nghiệp giảm. Tăng thiện nghiệp là ác nghiệp giảm. Sự tăng hay giảm
của hai mặt thiện và ác như vậy đều là phản ảnh từ nơi tâm thức, sự suy
nghĩ và hành động của con người.
Nếu tâm của một
người có nhiều niệm thiện khởi lên thì sự an lạc, hạnh phúc, yên vui
trong đời sống của họ tăng lên và những khổ đau, thất vọng, sợ hãi và
nghi ngờ của họ đối với cuộc sống giảm thiểu.
Và, nếu tâm của một
người có nhiều niệm ác khởi lên thì khổ đau, thất vọng, sợ hãi, nghi ngờ
của họ đối với cuộc sống tăng lên và sự an lạc, hạnh phúc, an vui, tin
tưởng và bao dung của họ đối với cuộc sống sẽ giảm thiểu.
Nên, ta hãy nhìn
sâu vào tâm ta để thấy rõ mọi sự tăng giảm, nhằm tự điều phục và thay
thế.
ĐI TRẢ NGHIỆP
Bạn không muốn đến
toilet mỗi ngày, nhưng mỗi ngày bạn đều phải đến đó. Tại sao? Tại vì
thân thể của bạn bị nghiệp ăn và uống trói buộc.
Bạn đã mang lấy
nghiệp ăn uống vào thân, thì mỗi ngày bạn phải vào toilet để trả cái
nghiệp ấy.
Bạn càng tham ăn
uống bao nhiêu, thì bạn không những phải vào toilet để trả nghiệp bấy
nhiêu mà còn phải đến nhiều chỗ thấp kém và phiền toái khác để trả
nghiệp nữa đấy!
HỌC TỪ CUỘC SỐNG
Học ở trường, ta có
vốn liếng kiến thức rất ít so với vốn liếng học từ sách vở, và học từ
sách vở ta có vốn liếng kiến thức rất ít so với vốn liếng mà ta học từ
cuộc sống.
Ta biết sử dụng
cuộc sống để học tập, thì sự học tập của ta có giá trị, không còn nằm ở
lý thuyết mà ở ngay nơi thực nghiệm.
Một hạt cát, một
viên sỏi, một bông hoa, một tiếng chim hót, một đám mây bay hay một làn
sương mỏng,… đều là những bài học quý báu và là những vị thầy giáo dạy
và trao truyền cho ta vô biên vốn liếng của cuộc sống.
Nên ta học không
phải để làm ra tiền hay chạy theo đồng tiền mà ta học là để ta biết rõ
và cảm nhận những gì đang diễn ra trong đời sống của ta và chung quanh
ta, nhằm giúp ta loại bỏ những nguyên nhân sinh khởi bất an, để ta có
đời sống vui, đẹp và có ý nghĩa.
THƯƠNG VÀ THẢNH THƠI
Nhiều người thương
bạn không hề làm cho bạn mất tự do, nhưng bạn đi kiếm tìm một người để
thương là bạn hoàn toàn mất hết tự do.
Trong tình thương
của các bậc Đại nhân luôn luôn có chất liệu tự do và đầm ấm, nhưng trong
tình thương của những kẻ phàm tục, thì lại luôn luôn có chất liệu của hệ
lụy và phụ bạc.
Bạn hãy học hạnh
thương yêu của các bậc Đại nhân, để trong tình thương của bạn luôn luôn
có chất liệu của sự tự do và thảnh thơi.
BUÔNG BỎ
Kim cương là một
loại khoáng vật cực kỳ cứng rắn, không có sự cứng rắn nào có thể vượt
qua và không có một sự cứng rắn nào có thể làm thương tổn sự cứng rắn
của kim cương, nhưng những kim cương đồng loại có thể đối chọi và làm
thương tổn chính nó.
Cũng vậy, trong đời
sống hằng ngày, chỉ có đồng nghiệp mới đối chọi và làm thương tổn đồng
nghiệp.
Người viết văn hay
chỉ trích và đối chọi nhau về lỗi viết văn, chứ không phải là những
người làm ruộng.
Người làm ngành y
hay chỉ trích và đối chọi nhau về nghề nghiệp ngành y, chứ không phải là
những họa sĩ.
Người đi dạy thường
chỉ trích và đối chọi nhau về nghề dạy, chứ không phải là người đi buôn.
Người làm chính trị
thường chỉ trích và đối chọi nhau về nghề nghiệp chính trị, chứ không
phải là những nhà ẩn sĩ.
Và chỉ có con người
mới hay chỉ trích và đối chọi với con người, chứ không phải là những
loài vật.
Đồng loại thì chỉ
trích và đối chọi nhau. Dị loại, thì loại mạnh có tiềm năng hay hủy diệt
và triệt tiêu loại yếu.
Tại sao quy luật
của cuộc sống lại nghiệt ngã đến thế? Ta có cách nào vượt ra khỏi những
chỉ trích và đối chọi đối với đồng loại và dị loại không?
Có – ta hãy buông
bỏ mọi ý niệm về tôi và của tôi, thì mọi mâu thuẫn của cuộc sống là mâu
thuẫn tự nhiên để sinh tồn mà không phải là mâu thuẫn để thù hận hay hủy
diệt!
CÁI ĐẦU TRỌC
Có những mục sư Tin
lành đã gặp tôi, và họ đã thuyết giáo cho tôi nghe cả mấy tiếng đồng hồ.
Sau khi thuyết giáo xong, họ hỏi tôi, Thầy thấy giáo lý Tin lành có hay
không? Tôi cười và nói: Mục sư có thấy cái đầu trọc và chiếc áo của tôi
đang mặc không? Cái đầu trọc và chiếc áo tôi đang mặc đã trả lời một
cách chính xác về câu hỏi của Ngài!
NGÔN NGỮ
Ngôn ngữ không phải
là ngôn ngữ, cái đằng sau của ngôn ngữ mới là ngôn ngữ.
Ta không hiểu cái
đằng sau của ngôn ngữ, thì ta không có khả năng sử dụng và đùa chơi với
ngôn ngữ.
Âm thanh của ngôn
ngữ mà ta đang sử dụng để diễn cảm với nhau trong đời sống hằng ngày, đó
là loại âm thanh của ngôn ngữ chết.
Ta thương nhau, ta
đừng tặng cho nhau những thây chết của ngôn ngữ mà ta phải hiến tặng cho
nhau bằng ngôn ngữ đích thực của cuộc sống!
HAI MẶT CỦA MỘT BÀN TAY
Những gì ta có, thì
ta đã có lâu rồi, ta không cần phải chạy vạy tìm kiếm cho có, và những
gì ta không có, thì không có cũng đã lâu rồi, ta không cần phải nỗ lực
làm cho nó có, vì nó vốn là không, nên dù ta nỗ lực làm cho nó có, nó
cũng trở thành không mà thôi.
Ta đau khổ, không
phải là vì ta có hay không có, mà vì ta trốn chạy cái ta đang có để đi
tìm kiếm cái ta không có, nhưng ta đâu biết, có và không là hai mặt của
một thực tại hay là hai mặt của một bàn tay.
CHẠY VÀ SỰ QUÁN CHIẾU
Tự thân của mọi vật
là chạy. Tuy ta ngồi, nhưng mọi vật trong ta đều chạy. Nó chạy tới ta
tăng trưởng, nó chạy lui ta hủy diệt. Nó chạy lui ta tăng trưởng, nó
chạy tới ta hủy diệt. Không có giây phút nào mà cơ thể của ta không chạy
tới và chạy lui, và không có giây phút nào, mà những ý niệm trong tâm
thức ta không chạy tới và chạy lui. Thân tâm ta không có lúc nào là
không chạy, chúng đã chạy với tốc độ cực nhanh, nhanh đến nỗi ta không
thấy nó chạy gì cả.
Nên, ta có tri giác
rằng, mọi vật đang đứng yên, mọi vật không có gì thay đổi, tri giác như
vậy là tri giác sai lầm, do tri giác sai lầm nên cảm giác khổ, vui khởi
lên trong ta cũng sai lầm. Ta đi từ những cảm giác sai lầm này đến những
cảm giác sai lầm khác, ta đi từ những tri giác sai lầm này đến những tri
giác sai lầm khác, ta đi từ những nhận thức sai lầm này đến những nhận
thức sai lầm khác và những sai lầm đã trở thành chủng tử của tâm thức
ta.
Mỗi khi những sai
lầm đã trở thành chủng tử của ta, ta khó mà đặt ra được những câu hỏi
với chúng ta rằng: Ta chỉ là những cái này thôi à? Ta có còn cái gì khác
ngoài những cái này chăng? Khi ta đặt ra được những câu hỏi cho chính ta
như vậy, là ta bắt đầu rọi vào những chủng tử sai lầm ở trong tâm thức
ta, bằng năng lượng của ánh sáng tuệ quán. Và ánh sáng tuệ quán ấy được
ta nuôi dưỡng và thực tập mỗi ngày, và ta thực tập nó càng lúc càng miên
mật, thì những chủng tử sai lầm trong tâm thức ta sẽ được chuyển hóa về
phía của những cái hiểu biết đúng – từ những hiểu biết đúng từng phần,
bán phần, đa phần và dẫn tới sự hiểu biết toàn phần.
Ta nhận ra tự thân
của mọi sự vật là chạy, để ta buông bỏ mọi sự bám víu vào các ảnh tượng
đã được ghi lại trong tâm thức ta, là ta đã dự phần vào trong gia đình
của tuệ giác, và ta nỗ lực tinh cần, thì trước sau gì sự toàn giác cũng
có mặt trong đời sống của ta – Ta chính là sự toàn giác - Sự toàn giác
chính là ta. Ta và sự toàn giác không còn là hai. Cả hai đều thiệp nhập
vào nhau, soi chiếu vô cùng và hiện hữu vô tận.
BẢO VỆ MÔI SINH
Sự lạc quan và yêu
đời của chúng ta không phải là thiết kế hay chạy theo một lý tưởng đẹp
mà chính là tìm ra những nguyên nhân sinh khởi khổ đau và có những
phương pháp đình chỉ những nguyên nhân ấy.
Cái dũng của con
người không phải là khả năng chinh phục vạn binh bên ngoài và chinh phục
thiên nhiên, mà chính là khả năng nhiếp phục và đoạn trừ những hạt giống
phiền não đang lưu trú và hoạt động từ chiều sâu tâm thức của chính ta.
Phiền não đã làm
cho môi trường của tâm ta ô nhiễm và khiến cho lời nói của ta không có
trong sáng, không có từ hòa và khiêm cung, dẫn tới ô nhiễm môi trường
sinh hoạt của gia đình và xã hội, và đã tạo ra những thác ghềnh, hầm hố
giữa con người và con người, giữa con người và cảnh vật và cũng chính vì
phiền não đã làm cho môi trường nơi tự tâm ta ô nhiễm, khiến cho những
hành động của ta không có trí tuệ và từ bi, dẫn đến sự ô nhiễm môi
trường sinh hoạt của gia đình, xã hội và thế giới của chúng ta.
Tình trạng đời sống
gia đình và xã hội của chúng ta bất ổn, có nhiều tệ nạn xảy ra không
phải do thiếu những tiện nghi vật chất mà do không biết sử dụng vật chất
với một tâm hồn không ô nhiễm.
Niệm Phật là một
trong những phương pháp làm cho bụi bặm phiền não nơi tâm ta lắng yên,
làm cho môi trường hoạt động của tâm ta trong sạch, khiến cho ta đi đứng
nằm ngồi trong tỉnh giác, nói cười trong từ bi và đối xử với nhau trong
hỷ xả.
Chúng ta hãy nhắc
nhở nhau phát khởi đại nguyện niệm Phật mỗi ngày, để mỗi ngày bụi bặm
phiền não trong tâm thức ta được tiêu trừ và lắng yên, khiến cho môi
trường hoạt động trong tâm thức ta càng ngày càng trở nên trong sáng và
thuần tịnh, để cho sự bảo vệ môi trường trong sáng ở nơi thế giới của
chúng ta không phải là những điều khoản của hiệp ước, không phải là
những luật lệ và những hình phạt mà chính là những tiếng niệm Phật khởi
sinh từ ý thức tỉnh giác và đại nguyện từ bi một cách sinh động.
NÔ LỆ
Ta có khả năng biết
làm ra tiền, nhưng ta không có khả năng biết tiêu tiền, thì khả năng
biết làm ra tiền của ta là một khả năng vô vị và vô nghĩa.
Và ta có khả năng
biết tiêu tiền, nhưng ta không có khả năng biết làm ra tiền, thì khả
năng biết tiêu tiền của ta là một khả năng đáng lo ngại, vì khả năng ấy
chắc chắn sẽ đẩy ta rơi xuống vực thẳm đen tối của cuộc đời.
Ta có khả năng biết
làm ra tiền, ta có khả năng biết tiêu tiền, nhưng ta không có khả năng
biết buông bỏ nó đúng chỗ và đúng thời, điều đó chứng tỏ rằng, ta không
có khả năng gì đáng gọi là quý báu cả, vì ta chỉ là kẻ nô lệ!
SA MẠC QUẠNH HIU
Cái tôi của ta đã
làm cho cuộc sống của ta trở thành lửa dữ đốt cháy hết thảy hạnh phúc,
đã khiến cho cuộc sống của ta trở thành nước dữ cuốn trôi mọi sự an lạc,
đã khiến cho cuộc sống của ta trở thành địa chấn dữ dội, vùi dập hết trí
tuệ, khiến cho tâm ta nhỏ nhoi, cái nhìn của ta thiển cận, ngôn ngữ phát
ra của ta hoặc là thô lậu, hoặc là ngọt ngào đểu giả, và khiến cho ta mở
đầu cuộc sống trong những bất mãn, hành động trong cô độc và kết thúc
cuộc sống trong sa mạc quạnh hiu!
THẤP KÉM VÀ CAO THƯỢNG
Ta khen ta là tức
khắc, ta trở thành kẻ thấp kém, ta biết học hỏi và khen ngợi điều hay
của người, là tức khắc ta trở thành cao thượng.
Không một ai có thể
làm cho ta thấp kém và cũng không một ai có thể làm cho ta trở thành cao
thượng, ngoại trừ tâm ý và hành động của ta.
Vì nghĩ đến hạnh
phúc của người mà nói và làm, ta trở thành cao thượng, vì nghĩ đến hạnh
phúc của ta mà nói và làm, ta liền trở thành kẻ thấp kém.
Nên, sự thấp kém
hay cao thượng của ta đều có mặt ngay nơi tâm ý, hành động và lời nói
của ta, mà không phải từ gia đình, dòng họ, vị trí trong tổ chức xã hội
hay tôn giáo.
ĐỪNG
GIẾT CHẾT NHẬN THỨC
Nếu bạn là một nhà
giáo dục, thì bạn hãy tạo điều kiện để cho người khác nhận thức, chứ bạn
không nên nhận thức thế cho người khác.
Nếu bạn nhận thức
thế cho người khác, là bạn đã giết chết khả năng hiểu biết nơi người
khác và khả năng giáo dục ở nơi chính bạn.
Áp đặt nhận thức
của bạn lên người khác, bạn sẽ là kẻ ác độc hơn những tên đồ tể giết
người.
Tại sao? Vì tên đồ
tể chỉ giết chết thân mạng con người trong một đời, còn bạn là tên đồ tể
giết chết nhận thức của người khác nhiều đời và nhiều thế hệ.
Khi nhận thức của
con người đã bị giết chết, thì sự có mặt của con người hoàn toàn vô
nghĩa!
PHÉP LẠ BÌNH AN
Sống chân thật sẽ
tạo ra sức mạnh cho ta, khiến ta không có sợ hãi khi trực diện với những
kẻ sống bằng dối trá và thủ thuật.
Sống chân thật là
một phép lạ tạo ra sự an ổn cho tâm hồn, sáng trong trong lời nói và
thảnh thơi trong bước đi.
ĐẠI HẠNH
CỦA BI VÀ TRÍ
Nếu bạn có tâm và
hạnh đại bi, bạn sẽ có tự do trong mọi lãnh vực của tình cảm. Và không
có bất cứ một loại tình cảm nào có thể làm cho bạn bị hệ lụy.
Và nếu bạn có tâm
và hạnh đại trí, bạn sẽ có tự do trong mọi lãnh vực của nhận thức. Bạn
không bị những nhận thức của bạn sai khiến, mà bạn có khả năng sai khiến
những nhận thức của bạn.
MÈO NÓI VỚI CHUỘT
Mấy chú mèo gọi mấy
chú chuột mà bảo rằng: “Kể từ nay về sau, chúng tôi cho phép các chú
chuột sống chung tự do với chúng tôi, và có quyền lợi bình đẳng như
chúng tôi”.
Các chú chuột con
mừng hí hửng, nhưng các chú chuột trưởng thành và có kinh nghiệm đều bịt
tai và bỏ chạy!
XIN ĐỪNG
GỌI NHAU LÀ TRI KỶ
Trong thế giới của
con người mang đầy ngã tính và kịch tính, ta đừng đi tìm tri kỷ, vì
chẳng có ai tri kỷ để tìm. Tri kỷ chỉ là tiếng gọi khát thèm, là lời ru
của gió nội, là những giọt sương mơ hồ đong đưa trên những phiến lá về
đêm!
Bởi vậy, ta đừng
gọi nhau bằng tri kỷ để ngày mai kia giữa thế giới sắc thanh, danh lợi
ta không có giận hờn nhau và ta không còn gọi nhau là phản bội!
BẬC HIỀN TRÍ VÀ HIẾN ĐỨC
Mỗi ngày bạn mở đầu
và kết thúc cuộc sống như thế nào? Chẳng lẽ bạn mở đầu cuộc sống trong
ngày bằng những tính toán hơn thua, lợi hại và kết thúc cuộc sống trong
ngày cũng bằng những tính toán hơn thua, lợi hại ấy, và rồi cuộc sống
của bạn sẽ đi về đâu? Và nếu vậy, thì làm sao bạn có bình an trong ngày
và có giấc ngủ ngon ở trong đêm?
Những người có đời
sống tâm linh, họ không mở đầu cuộc sống trong ngày bằng những tính toán
lợi hại hơn thua mà bằng sự tĩnh tâm thiền định, hay bằng sự lạy Phật,
niệm Phật hoặc cầu nguyện. Và họ kết thúc cuộc sống trong ngày cũng như
vậy.
Nên, năng lượng
tĩnh tâm, năng lượng thiền định, năng lượng lạy Phật và niệm Phật hay
cầu nguyện ấy, giúp họ vượt qua những gì khó khăn trong ngày đến với họ
và họ đã sống một ngày thật có ý nghĩa và bình an.
Và họ cũng đã kết
thúc một ngày bằng sự tĩnh tâm, thiền định, lạy Phật, niệm Phật và nghĩ
đến những điều tốt đẹp trong ngày, nên họ đã bắt đầu một đêm có ý nghĩa
và một đêm kết thúc với họ thật có ý nghĩa và bình yên.
Những bậc có trí ở
trong đời, họ mở đầu cho một ngày và kết thúc một ngày cho đời sống của
họ thật có ý nghĩa và họ mở đầu cho một đêm và họ kết thúc một đêm cho
đời sống của họ thật có ý nghĩa. Ngày và đêm đối với đời sống của những
bậc có trí trong đời đều có ý nghĩa, và đều đem đến sự bình an cho chính
họ và cho những người chung quanh họ. Họ chính là những bậc hiền trí và
hiền đức ở trong đời.
GỐC CỦA CON NGƯỜI
Kẻ tiểu nhân trong
đời, thấy việc khó thì tránh, thấy việc nghĩa thì bỏ, thấy lợi thì nhảy
vào, nhưng những bậc quân tử trong đời thấy việc khó thì nhảy vào, thấy
việc phi nghĩa thì tránh, thấy quyền lợi thì bỏ mà nhường lại cho người,
đến và đi đều chỉ có một tấm lòng thanh bạch.
Nên, tiểu nhân hay
quân tử không phải ở nơi dòng họ, không phải ở nơi học vị, không phải ở
nơi uy thế xã hội mà cũng không phải là những kẻ ở nơi những lâu đài
nguy nga tráng lệ, mà chính là ở nơi lòng người và cách hành xử của họ.
Ta hãy nhìn hành xử
của con người để biết lòng họ và ta hãy nhìn vào lòng người để biết quá
khứ và tương lai của họ.
Gốc của con người
không phải ở trên trời cao cũng không phải ở dưới lòng đất sâu mà nằm
chính trong lòng của chính nó. Lòng trong, thì trí sáng, lời nói rõ
ràng, bước đi ngay thẳng, và hành động không thiên lệch, nên ta hãy
nhìn sâu vào mọi hành xử của con người để biết được tấm lòng của họ. Tấm
lòng của con người là gốc của nó.
THẤY
Ta thích cái gì và
cái gì làm cho ta vinh quang, thì chính những cái đó đã vắt cạn hết mọi
sinh lực của ta và đã biến thân thể của ta trở thành đồ phế thải.
CHỐNG
Ta muốn chống tham
nhũng, thì hãy uống nước trong và hãy sống thật giản dị.
Sống giản dị là vũ
khí chống tham nhũng có hiệu quả nhất và uống nước trong là để nuôi
dưỡng đời sống giản dị ấy.
VINH HẠNH VÀ BẤT HẠNH
Ta phải học tập
hạnh thua người để ta có nhiều cơ hội học hỏi và tiến bộ.
Niềm vinh hạnh lớn
nhất của con người là không có ai hơn ta và bằng ta, nhưng chính nó cũng
là nỗi bất hạnh lớn nhất và nỗi cô đơn khủng khiếp nhất của con người
được sinh ra từ niềm vinh hạnh ấy.
Hạnh phúc của con
người không phải là đứng trên con người mà được cùng với mọi người vui
chơi trong sự sống.
PHỤNG SỰ
Ở trong thế gian,
thiện và ác lúc nào và ở đâu cũng có.
Thiện tạo ra thiên
đàng và hạnh phúc cho mỗi người, ác tạo ra địa ngục và khổ đau cho mỗi
người.
Điều ấy, phản ảnh
hết sức trung thực trong đời sống của con người.
Người nào biết
phụng sự điều thiện là người biết phụng sự mình một cách đích thực. Và
người nào không biết phụng sự điều thiện là người đó tự làm khổ và hủy
diệt chính mình chứ không phải ai khác.
ANH!
Con người được vinh
danh là cả của muôn loài trên trái đất.
Vậy, bạn là con
người, bạn đã làm gì để bảo vệ trái đất và che chở muôn loài, hay ngày
nào bạn cũng làm cho trái đất bị ô nhiễm và ngày nào cũng ức hiếp muôn
loài, ngày nào bạn cũng gắp thịt muôn loài để ăn, như vậy bạn là gì của
trái đất và muôn loài bạn có biết không?
ĐỪNG RUỔI RONG
Trong gia tài tâm
linh và gia tài văn hoá của ta, có rất nhiều châu báu, ta không biết
dừng lại để tiếp nhận và sử dụng, ta lại mãi mê ruổi rong tìm cầu, để
nhân cách của ta bị rách nát, khí lực của ta bị kiệt tàn, cuộc đời của
ta chỉ còn lại những mảnh giấy vụn và lại bị cuộc đời vứt vào sọt rác!
“Ruổi rong cho
mệt hình hài
Rồi hai tay
trắng cũng hoàn trắng tay”.
GIẢI TỎA
Có người nói xấu
ta, nhưng ta không tìm cách nói xấu họ, ta nhìn sâu vào điểm tốt của họ
để khuếch đại ra, ta phải thực tập sống như vậy với bất cứ ở đâu và lúc
nào, thì phước đức của ta tăng lên, tai họa trong đời sống của ta càng
ngày, càng giảm thiểu, oán thù càng lúc càng được giải tỏa và ta sẽ có
đời sống tự do.
BIẾT CHẮP TAY
Trong cuộc sống,
đối với những gì thánh thiện ta nguyện đến gần và chắp tay kính lễ, đối
với những gì không thánh thiện ta nguyện buông xuôi tay và tránh xa.
CĂN BẢN CỦA HẠNH PHÚC
Ta không đi tìm
hạnh phúc hay đời sống có ý nghĩa ngoài những điều kiện vốn có của ta.
Vì đi tìm hạnh phúc
và ý nghĩa của cuộc sống như vậy, chỉ làm cho ta lao tâm mệt trí mà kết
quả tốt đẹp xảy ra với ta quả thật hiếm hoi.
Đi, đứng, nằm,
ngồi, ăn, uống, nói, cười, thở, nghe, thấy và nhận thức,…là những hạnh
phúc căn bản của con người.
Ta không thể bảo
rằng, một người hạnh phúc là người không có khả năng đi, không có khả
năng đứng, không có khả năng nằm, không có khả năng ngồi, không có khả
năng ăn uống, nói cười, nhìn nghe và nhận thức.
Ở trong đời, ai có
khả năng như thế, người đó có căn bản của hạnh phúc.
Và căn bản hạnh
phúc ấy, nếu được con người nuôi dưỡng bằng chánh niệm, bằng ý thức tuệ
giác và tâm từ bi, thì chúng sẽ dẫn đến tròn đầy và cuộc sống con người
trở thành có một ý nghĩa đích thực.
KHAI THÔNG
Có khi đối diện với
cuộc sống, ta khen cũng không được mà chê lại rắc rối, im lặng lại càng
bị ngộ nhận và khó khăn hơn. Nên, người hỏi ta ngã đông, ta lại trả lời
ngã tây, để khai thông ngõ bí.
ĐỪNG TRÁNH NÉ
Ta đừng sợ khổ đau,
ta hãy đối diện với khổ đau, ôm ắp và chăm sóc nó, khiến nó teo lại,
không loan lỗ ra trong đời sống của ta, là hạnh phúc từ từ sẽ có mặt
trong ta.
Ta phải biết làm
bạn với khổ đau và thương yêu nó, thì những khổ đau trong ta sẽ được
chuyển hóa. Nó không còn là đối tượng đối lập với ta. Nếu ta tránh né nó
thì nó lại tiếp tục dai dẵng trong ta. Ta chỉ có hạnh phúc, khi những
hạt giống khổ đau trong tâm thức ta không còn có điều kiện để biểu hiện,
vì nó đã được ta ôm lại và chăm sóc!
TRUNG TÂM QUYỀN
LỰC
Cái đói sai sử ta
đi tìm kiếm thức ăn; cái khát sai sử ta đi tìm kiếm nước uống; cái đại
tiện và tiểu tiện sai sử và buộc ta phải đi vào toilet để ngồi và cho
phép ta đứng dậy khi nó không còn muốn.
Vậy, từ vua quan
cho đến thứ dân, từ kẻ trí thức cho đến người thiếu học, từ kẻ giàu có
cho đến hạng cùng đinh đều là kẻ bị đói khát sai sử, và đều là kẻ bị đại
tiện, tiểu tiện điều khiển mỗi ngày và bắt buộc mỗi ngày phải đến hầm xí
để ngồi.
Trong đời sống,
không ai dám điều khiển vua, chúa; không ai dám điều khiển tổng thống,
thủ tướng. Nhưng vua chúa, tổng thống, thủ tướng hay điều khiển mọi
người, thế mà cái đại tiện, tiểu tiện có quyền lực hơn cả vua, chúa,
tổng thống, thủ tướng, bắt buộc các vị ấy phải vào toilet để ngồi mỗi
ngày mà trong họ không có ai dám chống lệnh. Chống lại lệnh của đại
tiện, tiểu tiện, không phải chỉ hết phước mà là chết!
Nên, cái đói khát và cái đại tiện, tiểu
tiện mới là cái có toàn quyền ra lệnh cho ta và là trung tâm quyền lực
cao nhất sai sử cho ta hành động mỗi ngày, mà trong tất cả chúng ta
không một ai là không tuân thủ, và không một ai dám phản đối.
Con người có thể chiến thắng để vượt hơn
cả muôn loài, nhưng con người đã bị cái đói khát và cái đại tiện, tiểu
tiện sai sử một cách tội nghiệp. Ta càng ham ăn, ham uống, thì ta lại
càng bị đại tiện, tiểu tiện điều khiển và ta hoàn toàn mất hết chủ
quyền.
Như vậy, đối với cái đại tiện, tiểu tiện
mà ta chưa hơn và không có ai hơn. Vậy ta hơn ai và hơn cái gì giữa cuộc
đời nầy mà ta tự hào và khoa trương lắm thế!
Đại tiện và tiểu tiện là trung tâm quyền
lực tối cao của tất cả chúng ta mà trong thế gian nầy không một ai có đủ
khả năng thách thức đối với chúng.
Nếu ta thách thức với chúng, là tức khắc
ta trở thành người bê bối, bị mọi người tránh xa và ta tự hủy diệt!
Biết vậy, để ta sống trong sự khiêm tốn
và tĩnh lặng, học hỏi và hành động một cách thiết thực và sự thương yêu
cũng như sự hiểu biết không còn là những mớ lý thuyết, quảng cáo trên
phim ảnh, trên sách vở, hay chỉ là những thứ “đầu môi chót lưỡi”.
Ý THỨC THIỀN NIỆM
Tự giác là chất
liệu đích thực tạo thành sự tự do cho ta. Trong đời sống hằng ngày, ta
thiếu ý thức tự giác, là thiếu tự do.
Tự do không một ai
có thể hiến tặng cho ta, nếu ta không có ý thức tự giác.
Không có ý thức tự
giác, con người sẽ không có đạo đức mà chỉ là nô lệ đạo đức; không có ý
thức tự giác con người sẽ không có niềm tin mà chỉ là kẻ nô lệ niềm tin;
không có ý thức tự giác, con người sẽ không có tự do mà là kẻ nô lệ tự
do; không có ý thức tự giác con người không có khả năng tự bảo vệ mình
và người khác; không có ý thức tự giác, con người bị nô lệ bởi tổ chức
tôn giáo, bởi những quy ước luật lệ, bởi tư tưởng, bởi những thần tượng.
Nên, ta có ý thức
tự giác là ta có tất cả những gì tốt đẹp của con người và của các bậc
đại nhân.
Thiền tập là để ta
có cơ hội thắp sáng ý thức tự giác nơi mỗi chúng ta, trong mọi khi và
mọi nơi chốn.
Nếu ta thiền tập mà
thiếu ý thức tự giác, chúng chỉ đẩy ta vào bóng đêm của cuộc sống, và cứ
thiền tập ta trở thành trơ lỳ và vô cảm.
Ta niệm phật là để
đánh thức ý thức tự giác nơi ta đứng dậy và biểu hiện tự nhiên nơi ta.
Nếu ta niệm Phật
thiếu ý thức tự giác, chúng sẽ đẩy chúng ta đi tới tình trạng nói nhãm,
và không có tác dụng thay đổi tâm thức, cũng như cuộc sống và cảnh giới
của ta.
Ta thiền tập hay
niệm Phật có nội dung của ý thức tự giác là ngay khi ta nghĩ đến những
buổi thiền hành hay những thời khóa niệm Phật là hạnh phúc của ta đã có
mặt và chúng sẽ được nuôi dưỡng liên tục cho đến khi ta thực sự thiền
hành, thiền tọa hay ta thực sự nắm lấy danh hiệu của Phật trong bước đi
hay trong tư thế ngồi của ta, và những hạnh phúc đó sẽ tiếp diễn đối với
ta, sau những thời khóa thiền tập hay niệm Phật chấm dứt.
Bởi vậy, không có ý
thức tự giác ta sống như một kẻ nô lệ hoàn toàn mất trắng tự do và hạnh
phúc, ta sống như một kẻ bệnh hoạn, gượng ép và chết ở trong những sự
nghi ngờ và ân hận.
TỰ THÂN GIÁC LIỄU
Bạn có một đạo Phật
để tôn thờ, đó là một trong những phước đức và may mắn trong đời sống
của bạn. Và nếu bạn biết đem những lời dạy trong đạo Phật để áp dụng vào
đời sống của bạn trong mọi lĩnh vực, thì phước đức và sự may mắn của bạn
không phải là chỉ giới hạn ngay đó mà lại càng vỹ đại hơn.
Bạn thử tập nhìn
mọi sự biến thiên của cuộc đời bằng con mắt trầm tĩnh, bạn thử tập nghe
mọi âm thanh khen chê của cuộc đời bằng sự lắng yên và bạn hãy thực tập
buông bỏ những gì bạn đang có…, thì bạn sẽ có được hạnh phúc lớn, may
mắn lớn, phước đức lớn và quan trọng hơn nữa là bạn có được sự tự do lớn
trong đời sống của bạn một cách tự nhiên.
Bạn có thể đến với
đạo Phật bằng tín ngưỡng, nhưng đạo Phật sẽ đến với bạn và giúp bạn bằng
con đường tự mình thực nghiệm để giác liễu và chứng ngộ.
CỢT ĐÙA VÀ LỪA PHỈNH
Nếu bạn là người
hèn nhác thì thiên hạ sẽ phủ lên trên đời sống của bạn bằng bạo lực; nếu
bạn là người tham lam, thiên hạ sẽ phủ lên đời sống của bạn bằng tiền
tài; nếu bạn là người đam mê quyền lực, thì thiên hạ sẽ phủ lên đời sống
của bạn bằng những danh xưng; nếu bạn đam mê ăn uống, thiên hạ sẽ phủ
lên đời sống của bạn bằng những thực phẩm; nếu bạn là người đam mê trang
điểm, thiên hạ sẽ phủ lên đời sống của bạn bằng những mỹ phẩm, và nếu
bạn không đam mê gì cả, thì thiên hạ chẳng có cái gì để phủ lên bạn, bạn
sẽ không bị thiên hạ cợt đùa và lừa phỉnh.
Và nếu bạn muốn
thiên hạ không cợt đùa và lừa phỉnh, thì trước hết bạn đừng phỉnh lừa
những cảm giác và tri giác của bạn.
Tri giác và cảm
giác là một trong những yếu tố khiến cho mọi vật hiện hữu giữa thế gian
cợt đùa và lừa phỉnh bạn, nhưng chúng cợt đùa và lừa phỉnh bạn rất ít,
còn bạn lại cợt đùa và lừa phỉnh đời sống của chính bạn cả hàng triệu
lần, bạn có biết điều đó không?
THÂN TÂM HÒA ĐIỆU
Trong cơ thể ta có
bao nhiêu bộ phận và có bao nhiêu tế bào là ta có bấy nhiều điều kiện để
tạo ra hạnh phúc cho ta, nếu ta biết chăm sóc chúng bằng những thực phẩm
và những sinh hoạt lành mạnh của ta từ vật chất đến tinh thần.
Và nếu ta không
biết chăm sóc chúng bằng những thực phẩm và những sinh hoạt lành mạnh
của ta, thì bất cứ bộ phận nào hay bất cứ tế bào nào trong cơ thể của ta
đều có thể tạo thành bệnh hoạn và gây nên những khổ đau cho thân và tâm
ta.
Một trong những
nguyên nhân tạo ra những xung đột, mất bình thường cho thân tâm ta là
những hưởng thụ thái quá hay là những ép xác thái quá.
Hưởng thụ vật chất
hay hưởng thụ tinh thần thái quá đều đưa tới cho ta một đời sống mất
bình thường.
Sự điềm tĩnh và
trong sáng là một trong những thực phẩm nuôi tâm ta lành mạnh, và những
thực phẩm chế biến từ thảo mộc, không sử dụng hóa học là những thực phẩm
nuôi thân lành mạnh.
Ta hãy nuôi dưỡng
thân tâm ta bằng những thực phẩm ấy hằng ngày, thì hằng ngày thân và tâm
ta đều có sự điều hòa, tạo nên sự an lạc trong đời sống của ta và hiến
tặng cho ta hạnh phúc.
Và sự an lạc lớn
nhất trong đời sống của ta chỉ xảy ra khi ta biết ly dục. Vì tham dục
càng nhiều thì khổ đau càng lắm.
Đạo đức của xã hội
xuống cấp trầm trọng là do mọi sinh hoạt của xã hội đang quảng cáo và
ngã sa vào hướng đa dục. Người có đời sống đa dục, thì không thể nào
thảnh thơi. Xã hội đa dục là xã hội sinh hoạt về đêm. Và xã hội sinh
hoạt về đêm là xã hội của ma đói mà không phải xã hội của con người .
Ta mang thân người
mà sinh hoạt theo cách ma quỷ hay ma lanh thì làm sao mà thân ta không
bệnh hoạn, tâm ta không điên đảo.
Chỉ cần một tế bào
nơi thân ta không chịu hòa điệu với toàn thân là sự bình an và hạnh phúc
của ta có nguy cơ hủy diệt.
Bởi vậy, ta muốn có
một thân thể không tật bệnh, một tâm hồn không phiền não để sống an lạc
và hạnh phúc là ta phải biết điều hòa thân thể và tâm hồn. Khiến cho
thân thể và tâm hồn của ta hòa điệu tuyệt đối với nhau trong mỗi khi ta
hành xử.
VỞ KỊCH NGÀN ĐỜI
Đời vốn là một vở
kịch, bạn đừng tạo thêm bất cứ vở kịch nào cho cuộc đời nữa.
Bởi bất cứ vở kịch
nào do đầu óc và con tim của con người nhào nặn để tạo ra đều phải hạ
màn, nhưng những vở kịch của cuộc đời, thì mãi còn trên sân khấu của
cuộc đời.
Khen thuê, khóc
mướn là những bi kịch do lòng dạ của con người vì đam mê lợi nhuận, hay
khiếp đãm trước bạo quyền, khiến cho vở kịch ấy, thời nào và ở đâu cũng
có người đóng, cũng có người vỗ tay, nhưng cũng có lắm người mỉm môi
cười nhạo.
Kẻ ngu, thì dựa vào
nơi khả năng diễn xuất mà khen chê người đóng kịch, nhưng những người có
hiểu biết sâu xa, thì không khen chê người đóng kịch mà khen chê kẻ viết
kịch, và bậc có trí trong đời khi xem kịch, không khen chê người đóng
kịch, người viết kịch mà khen chê người ra lệnh viết kịch.
Kẻ điêu ngoa, thì
ra lệnh cho người viết kịch một cách xảo trá, dối trên, lường dưới, gạt
người chung quanh; kẻ chân thực thì ra lệnh cho người viết kịch phơi bày
sự thực cuộc đời cho ai có mắt có thể nhìn thấy, có trí có thể nhìn ra
sự thực và có tâm, thì có thể cảm nhận được sự thực một cách sâu xa và
thưởng lãm cuộc sống một cách có ý nghĩa.
Vở kịch ngàn đời
vẫn là vở kịch, nhưng những vở kịch nào lột trần được gian nguỵ của
người đời, nói lên được ý nghĩa đích thực của cuộc sống, tấm lòng chân
thực của con người thì vở kịch ấy sẽ còn mãi với con người.
NÓI CHUYỆN
VỚI CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU
Nhiều người ngoại
quốc, nhất là giới nghiên cứu, khi họ đến Việt Nam, họ có tìm đến chùa
Từ Hiếu để gặp tôi và hỏi tôi về đạo Phật Việt Nam, họ đã đặt ra những
câu hỏi cho tôi rằng, đạo Phật Việt Nam khác với đạo Phật Trung Hoa,
Nhật Bản, Nam Triều Tiên và ngay cả Ấn Độ như thế nào?
Đạo Phật Việt Nam
khác với đạo Phật Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, Campuchia và Lào như
thế nào? Và hiện nay tại Việt Nam có trường phái nào đại diện cho các
trường phái Phật giáo bị phân chia sau khi Phật nhập Niết Bàn hơn hai
trăm năm không?
Chính quyền Cọng
Sản Việt Nam đã đối xử với Phật giáo cũng như các Tôn giáo Việt Nam như
thế nào suốt thời gian họ cầm quyền?
Họ còn hỏi tôi tại
Việt Nam hiện nay khách sạn và nhà hàng nhiều hơn bệnh viện và trường
học phải không Thầy?
Tôi đã bị chất vấn
bao nhiêu câu hỏi; mà câu hỏi nào cũng nặng nề và hóc búa, nhưng tôi đã
trả lời với các vị ấy rằng, những câu hỏi của quý vị đặt ra để nghiên
cứu và hỏi tôi rất là hay, nhưng hay hơn hết là các bạn hãy thở cùng với
tôi. Tôi đã dắt tay họ cùng đi thiền hành với tôi và bám sát từng hơi
thở, sau đó họ cùng tôi ngồi xuống ở Thất Lắng Nghe chùa Từ Hiếu, tôi
lại hỏi họ: các bạn có làm chủ được hơi thở của các bạn không? Hơi thở
của các bạn do đâu mà có? Nếu không có hơi thở, các bạn có thể tồn tại
được không? Các bạn lấy gì để nuôi dưỡng hơi thở? Và nếu những vấn đề
nầy các bạn không hiểu, không nhận ra, thì những câu hỏi trước đó của
các bạn đặt ra cho tôi giúp ích được gì cho các bạn? Và nếu có chăng,
chỉ là những kiến thức?
Tôi nói cho các bạn
biết rằng, kiến thức về đạo Phật không phải là đạo Phật và nó cũng chẳng
bà con gì với đạo Phật. Kiến thức về lịch sử, không phải là lịch sử và
kiến thức về Việt Nam không phải là Việt Nam. Và kiến thức về hơi thở
không phải là hơi thở, nên không có hơi thở là ta chết, nhưng không có
kiến thức về hơi thở thì chẳng có ai chết cả.
Sau đó, tất cả họ
với tôi cùng nhau ngồi thở có ý thức khoảng ba mươi phút, một trong họ
đã tự phát biểu: “Hơi thở là sự sống, và những câu hỏi chúng tôi đặt ra
cho Thầy là những kiến thức, và những kiến thức nầy lại làm rối rắm hơi
thở mà không phải là nuôi dưỡng và thăng hoa hơi thở”. Tất cả họ đã cảm
ơn tôi và chào tạm biệt, tôi chỉ thở và đưa mắt tiễn họ mà không nói với
họ thêm một lời nào!.
TRƠ TRẼN
Ai cũng muốn sống
gần gũi và trở thành Thượng đế, nhưng chẳng có mấy ai đến gần gũi và trở
thành như Ngài .
Chỉ có những kẻ láo
lường, vô luân, tự phong cho mình là Thượng đế, sống trần truồng giữa
những sự “xin cho” một cách trơ trẽn.
Sống và chết, thở
và cười, chẳng ai cho và chẳng ai có quyền cho. Vui thì ta cười, buồn
thì ta khóc, ai mà cấm ta nhỉ và ai có quyền ban phát cho ta nhĩ! Đủ
duyên ta sống, hết duyên ta chết ai mà ban phát sự sống chết cho ta!
Buồn, vui, sống,
chết đã không có quyền ban phát, thì Thượng đế còn có nghĩa gì mà tại
sao lắm kẻ tự phong mình là Thượng đế để gây ra lắm chướng ngại và tai
hoạ cho mọi sinh hoạt của thế giới con người một cách trơ trẽn?
SỐNG ÊM ĐỀM
Ngày 05/6/06, Hai
vị có chức năng an ninh của tỉnh Thừa Thiên Huế đến tại Thiền Thất Cây
Thị, chùa Thuyền Lâm gặp tôi và hỏi mấy lâu nay Thầy có khoẻ không?
Tôi cười và nói:
“Thế gian thường thì tôi cũng thường; Thế gian mất bình thường, thì tôi
cũng mất bình thường”.
Hai vị an ninh nói
tôi rằng: “Thầy lại nói triết lý”.
Tôi nói với họ, tôi
không nói triết lý với hai anh, tôi nói chính cuộc sống đấy.
Thực vậy, ta sống
trong một gia đình, cha mẹ ta gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống của gia
đình và xã hội, làm con trong một gia đình như vậy, làm sao ta có thể
sống bình thường trong cái mất bình thường của gia đình và xã hội ấy
được?
Ta chỉ sống êm đềm,
khi gia đình và xã hội của ta êm đềm, và ta không thể nào sống êm đềm,
khi gia đình và xã hội của ta đang sống trong tình trạng không có êm
đềm.
Bởi vậy, ta có thể
làm bất cứ điều gì có thể làm được, để đem lại sự êm đềm cho gia đình và
xã hội là ta làm, đó là ta đang sống êm đềm.
YẾU CHỈ MỚI
Có vị Tăng sinh
thưa với tôi: “Con có đi giảng dạy giáo lý cho các đạo tràng tu học,
nhưng con không có xin phép Thầy, con xin sám hối với Thầy.
Tôi nói: “Con đi
giảng dạy giáo lý cho các đạo tràng tu học, với tâm vô cầu danh lợi, đem
lại niềm tin cho quần chúng đối với Phật, Pháp, Tăng; đối với nhân quả
tội phước; đối với sự hiếu kính cha mẹ, ông bà và giang sơn tổ quốc,
sống có tình nghĩa giữa con người với con người, thì dù con không xin
phép Thầy, nhưng đã bằng mười lần xin phép.
Và nếu con đi
giảng, vì mong cầu danh lợi, làm mất tín tâm người nghe đối với Tam bảo,
đối với đạo lý nhân quả, đối với đạo đức hiếu kính của gia đình và xã
hội, dù cho con có xin phép Thầy đi nữa, thì cũng bằng mười không xin
phép”.
Trong xã hội thiếu
chi người xin phép và cho phép, thiếu gì cơ quan cho và xin phép, nhưng
“xin và cho” chẳng có gì khác hơn là mong cầu danh lợi.
Cho vì danh lợi mà
cho, xin vì danh lợi mà xin, cả hai đều đưa nhau đến chỗ phá sản. Trước
hết là họ phá sản nhân cách của “xin và cho” và sau cùng, họ phá sản tất
cả những gì mà họ đang có được trong tay và trong đời sống của chính họ.
Vị Tăng sinh cúi
đầu chắp tay và thưa: “Sáng nay con lại nhận được yếu chỉ mới từ Thầy”.
TÌNH YÊU BIẾN THỂ
Sống giữa đời, ai
cũng cần có một chút tình để sống. Nhưng tình ấy có thể biến thành vị
ngọt, thành chất bổ dưỡng nuôi sống con người và nó cũng có thể biến
thành vị đắng, thành chất độc để giết chết sự sống của con người.
Ta hãy nhìn sâu vào
tình cảm của ta đối xử với người, mà không có sự chiếm hữu, riêng tư, ta
biết rõ đó là tình cảm biến thể để trở thành từ bi và trí tuệ, và trở
thành bậc có giới đức trong đời.
Và nếu ta nhìn sâu
vào tình cảm của ta đối xử với người, mà có sự chiếm hữu, có những nỗi
nhớ nhung thất thường và bâng khuâng, có những giận hờn, khi người ta
thương trái ý, có những trách móc, khi người ta thương không đáp ứng
được những nhu cầu của ta, có những ghen tuông, khi ta thấy người ta
thương đang vui cười, trò chuyện với những người khác phái, là ta biết
rõ tình cảm của ta đã biến thể để sà cánh xuống thấp và đẩy ta đi vào
khung cửa hẹp, khiến ta chịu đựng những oi bức và thiêu đốt của tình
cảm, những khô cằn của cuộc sống, những lận đận của cuộc đời và chết
cứng giữa tuyết băng tình cảm.
Nên, sống giữa đời
ta cần có một chút tình để sống, nhưng là chút tình có khả năng biến thể
cùng khắp, đưa ta chạm đến muôn ngàn sự sống!
NGƯỜI LỚN
TRONG ĐÔI MẮT TRẺ THƠ
Thúy Quỳnh có người
con trai học lớp bốn, bị bệnh đưa vào bệnh viện, Thúy Quỳnh nhờ một
người thân chăm sóc con trai của mình.
Rồi, một chiều Thúy
Quỳnh làm việc ở cơ quan của mình xong, ghé vào bệnh viện để thăm cậu
con trai, bé trai xoay mặt vào tường và tỏ vẻ không vui, Thúy Quỳnh phải
xin lỗi con vì công việc làm ăn và công việc xã hội, sau đó đã ôm con
trai của mình vào trong lòng, và đã nghe cậu con trai của mình nói: “Mẹ
cho tiền bác sĩ đi, chứ không bác sĩ không chăm sóc bệnh của con và mỗi
khi chích thuốc là con bị chích đau lắm mẹ ạ!”.
Nghe con trai mình
nói, Thúy Quỳnh rất xót xa, và đã tìm gặp bác sĩ điều trị, để tỏ lời
“cảm ơn”.
Ngày mai đi làm
công sở về, Thúy Quỳnh ghé bệnh viện thăm con trai, và hỏi con trai có
khoẻ không và bác sĩ đã đối xử với con như thế nào?
Bé trai trả lời, từ
khi mẹ biết “cảm ơn” bác sĩ điều trị, con lại được chăm sóc tốt hơn, và
những mũi kim chích vào con nhẹ nhàng và ít đau hơn.
Xuất viện, bé trai
về nhà xin mẹ đi học thêm Anh văn, Thuý Quỳnh nói: “Để mẹ dạy Anh văn
cho con, con khỏi đi học thêm”. Bé trai nói: “Con không đi học thêm Anh
văn với cô, con sẽ bị cô trù dập ở trường!”.
Cuối cùng, Thúy
Quỳnh phải để cho con trai mình đi học thêm Anh văn với cô, mặc dù mình
đủ khả năng ngoại ngữ để dạy cho con mình!
Có thể đã rất nhiều
hình ảnh và nhân cách của người lớn trong xã hội Việt Nam ngày nay đã bị
nghi ngờ và xóa sạch trong đôi mắt trẻ thơ.
Trẻ thơ Việt Nam
không còn tin tưởng vào tấm lòng nhân hậu và tư cách của người lớn, của
những người giáo dục, của những người thầy thuốc và ngay cả những người
cầm cán cân công lý, thì xã hội Việt Nam tương lai sẽ đi về đâu?
Và nếu trẻ thơ Việt
Nam sinh ra là con thứ ba trong gia đình, khi lớn lên sẽ thù ghét chính
quyền Việt Nam hiện nay, và nó đã nhận ra sự can đảm và hy sinh to lớn
của cha mẹ nó đối với nó, nếu không, nó sẽ bị cha mẹ nó triệt tiêu nó
ngay trong buồng trứng, vì cha mẹ của nó được chính quyền cho phép sinh
hai con, nếu sinh con thứ ba thì sẽ bị phạt và đuổi việc. Nó trở thành
những đứa con vô thừa nhận của luật pháp và xã hội. Như vậy, ở xã hội
Việt Nam hiện nay, những người con thứ ba trong gia đình có phải là
người không? Và chính quyền Cọng Sản Việt Nam sẽ nói gì với trẻ thơ làm
con thứ ba trong các gia đình dân tộc Việt Nam? Và phải giải thích như
thế nào, khi bản thân trẻ thơ của nó và cha mẹ của nó bị người lớn, có
học, có nghề nghiệp bóc lột dưới nhiều dạng, từ học đường, bệnh viện, cơ
quan chủ quản hộ khẩu, hộ tịch,…
Tuy là mới học lớp
hai, lớp ba, phần nhiều trẻ thơ Việt Nam hiện nay, đã nghe những tiếng
than thở nhiều mặt sa đọa của xã hội, và những vật lộn khó khăn của cuộc
sống gia đình.
ĐIỀU HIỂN NHIÊN
Công lý của những
kẻ cầm súng đạn và cầm tiền tuyên bố là những thứ công lý rất đáng khinh
bỉ và những thứ công lý do những tri thức quy ước lại càng đáng khinh bỉ
hơn.
Hành động của ta
như thế nào, thì kết quả sẽ xảy ra cho ta như thế ấy, đó là công lý tự
nhiên. Công lý ấy không thuộc về kẻ cầm súng đạn, nhưng người cầm súng
đạn phải chịu lấy hậu quả của nó; công lý ấy không thuộc về người cầm
tiền, nhưng người cầm tiền phải nhận lấy hậu quả của nó và công lý ấy
không thuộc về những tri thức quy ước, nhưng những gì tri thức quy ước
về công lý thì phải chịu lấy hậu quả của nó.
Hậu quả xảy ra cho
ta như thế nào là hoàn toàn tùy thuộc vào xu hướng của tâm thức ta, từ
khi chúng khởi phát và xuyên suốt trong quá trình hành động của ta.
Công lý đích thực
là ai gây nhân, người ấy tự nhận lấy hậu quả và người ta gieo nhân gì là
người ta phải tự nhận lấy hậu quả ấy.
PHÁ VÀ XÂY
Một trong những
điểm phát triển của xã hội Việt Nam hiện nay là nhà hàng và khách sạn.
Làm cho nước sông,
không khí và môi trường Việt Nam ô nhiễm là một trong những nguyên nhân
từ các nhà hàng và khách sạn sang trọng ấy gây ra.
Nhà hàng càng sang
trọng, khách sạn càng cao xa ngất nghểu, thì rác rưởi càng nhiều và ký
sinh trùng càng lắm.
Trong xã hội đã có
lắm người làm giàu nhờ những đống rác rưởi và nhờ những đám ký sinh
trùng ngày đêm hoạt động rúc rỉa trong những đống rác rưởi ấy.
Nhìn những nhà hàng
và những khách sạn sang trọng, ngất nghểu mà không thấy những đống rác
khổng lồ, những ký sinh trùng vĩ đại của xã hội ở trong đó, thì làm sao
ta có thể bảo vệ được môi trường trong sạch của thiên nhiên và xã hội?
Tôi đã từng nói với
những vị có chức quyền, muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình, và các gia đình
có những bữa ăn đầm ấm, thì hãy dẹp hết các nhà hàng sang trọng, muốn
triệt những ký sinh trùng của xã hội, ta hãy triệt ngay các khách sạn
xây dựng cao sang ngất nghểu ấy, vì chúng là những ổ chứa đủ các loại ký
sinh trùng làm tiêu băng mọi thân thể lành mạnh của con người và xã hội.
Và muốn bảo vệ môi
sinh, môi trường, thì trước hết là phải triệt hạ những nhà hàng và khách
sạn, vì chúng là nơi sản xuất những đống rác khổng lồ của xã hội và
nhiều loại ký sinh trùng đục khoét và rúc rỉa cuộc sống con người và tài
nguyên đất nước một cách vô nghĩa và tàn khốc.
Phá hủy một khạch
sạn để xây thêm một trường học, phá hủy một nhà hàng để xây thêm một
bệnh viện, phá hủy một nhà tù để xây thêm một thiền đường hay một nhà
tĩnh tâm, ta biết cách phá và cách xây như vậy là phá và xây có lương
tâm với con người và xã hội. Ta biết phá và xây như vậy, ta là kẻ biết
yêu nước, thương nòi, biết yêu cái đẹp của con người và thiên nhiên!
Nhưng thử hỏi đến
khi nào, những người lãnh đạo xã hội đủ khả năng để thấy rõ điều đó và
có khả năng để phá và xây như vậy?
ĐỪNG RƠI VÀO BẪY SẬP
Bạn đừng ghét những
kẻ ngu, nếu bạn ghét những kẻ ngu thì bạn lại ngu hơn những kẻ ấy.
Bạn nên nhớ, bạn
ghét kẻ ngu mà kẻ ngu không khổ, nhưng bạn khổ đấy!
Bạn có thể làm bất
cứ điều gì bằng tất cả tình thương của mình để giúp đỡ cho người ngu
thoát khỏi tình trạng của họ, thì bạn mới là người có trí tuệ.
Người có tình
thương và trí tuệ đích thực, người ấy không bao giờ ghét bất cứ một
người nào, dù người ấy đã từng tàn hại và sỉ nhục họ.
Đây là điều mà
chúng ta cần phải học và tập ngay trong đời sống của mỗi chúng ta, để
chúng ta không bị rơi vào cái bẫy sập thương ghét của vô minh.
LÀM SAO KHÉP LẠI
Có nhiều người bảo
với tôi rằng, chúng ta nên khép lại quá khứ, để mở ra tương lai, nhưng
tôi đã nói với họ, quá khứ của chúng ta không thể nào khép lại, vì tất
cả những gì quá khứ của chúng ta đều đang có mặt một cách mãnh liệt và
sống động ngay trong hiện tại nầy.
Hiện tại ta đang bị
thương tích, những thương tích ấy là do quá khứ đem lại, nên nhìn hiện
tại là ta thấy quá khứ và nhìn hiện tại là ta thấy tương lai.
Không có một hiện
tại nào độc lập với quá khứ và không có một tương lai nào độc lập với
hiện tại.
Ta tuyên bố hiện
tại độc lập với quá khứ hay tương lai độc lập với hiện tại là tức khắc
ta nói chuyện mèo đẻ ra trứng, rắn có chân, để lừa gạt những kẻ nhẹ dạ
hay là những trẻ thơ mới lớn.
Không có hiện tại
nào độc lập với quá khứ, và không có tương lai nào độc lập với hiện tại,
quá khứ và tương lai đang có mặt một cách mãnh liệt và sống động trong
từng tiếng nói, nụ cười, hơi thở và động tác của ta, nên làm sao ta có
thể khép lại một quá khứ đau buồn, hay một quá khứ vinh quang, khi mà
tâm thức ta là một dòng chảy tiếp diễn liên lỉ, mà tác nhân của nó chưa
hề chuyển hóa!
LÀM SAO MUA NỔI
Có vị Đại tá công
an nói với tôi rằng: “Thầy coi chừng Mỹ mua chuộc”.
Tôi cười và nói:
“Chính các anh là người Cọng Sản, nên rất dễ bị Mỹ mua chuộc”.
Ông Đại tá hỏi: Tại
sao Thầy nói vậy? Tôi nói: “các anh là người Cọng Sản theo chủ nghĩa duy
vật. Xem vật chất là trên hết, nước Mỹ giàu hơn nước Việt Nam hơn cả
mười lăm ngàn lần về vật chất, vậy là các anh rất dễ bị mua, còn tôi thì
Mỹ không thể nào mua nổi, tại sao? Vì cả cuộc đời tôi uống nước trong,
nên nước Mỹ cần sự thanh trong của tôi, mà không thể nào mua nổi cái
thanh trong ấy được.
Ông Đại tá nói:
“Thầy lấy cái gì để chứng minh, nước Mỹ giàu hơn nước ta hơn cả mười lăm
ngàn lần?”.
Tôi nói: “Một
Dollar Mỹ ăn bao nhiêu đồng tiền Việt Nam, chắc Đại tá biết chứ?. Nếu
hơn thua vật chất, thì sự hơn thua ấy được khẳng định ở nơi đồng tiền,
phải không thưa Đại tá?”.
Nên, Mỹ không thể
nào mua nổi chúng tôi, vì chúng tôi không chạy theo vật chất, ai chạy
theo vật chất đều có thể bị chi phối và mua chuộc bởi những người giàu.
Nói chuyện với nhau
xong, tôi pha ly nước trong mời ông Đại tá uống và tiễn ông ra về.
DẠ, DẠ, DẠ…?
Thỉnh thoảng tôi
đắp chiếc y thời Phật để tụng kinh hoặc ngồi thiền, lại có vị Tăng sinh
hỏi:
“Thầy tu theo pháp
Đại thừa, sao Thầy lại đắp y Tiểu thừa để tụng kinh?”.
Tôi nói: “Chẳng có
Tiểu thừa hay Đại thừa gì nơi chiếc y cả con ạ, Tiểu thừa hay Đại thừa
là ở nơi tâm hạnh của chúng ta!”.
Nếu ta biết tu tập
với tâm tĩnh giác, biết tâm ta có tham liền hướng tới ly tham; biết tâm
ta có sân liền hướng tới ly sân; biết tâm ta có si liền hướng tới ly si;
biết tâm ta có kiêu mạn liền hướng tới khiêm tốn; biết tâm ta có nghi
liền hướng tới chánh tín; biết tâm ta có ác kiến liền hướng tới chánh
kiến; biết tâm ta có tà trí liền hướng tới chánh trí; biết tâm ta có tà
tuệ liền hướng tới chánh tuệ, và luôn luôn dẫn tâm ta đến với từ bi,
không não hại chúng sanh, không làm cho chúng sanh khiếp đảm, không ăn
thịt chúng sanh, khởi tâm thương yêu bình đẳng với tất cả chúng sanh
không phân biệt, không kỳ thị, không lợi dụng chúng sanh và luôn luôn
khởi tâm tùy hỷ đối với những gì tốt đẹp của chúng sanh, và giúp chúng
sanh luôn luôn có ý thức về vô thường, về sự sống chết, về tính chất bất
thực của các pháp duyên khởi, để buông bỏ ái thủ, hướng đến giải thoát,
ta tu tập với tâm và hạnh như vậy ta mặc áo gì, thì áo ấy là áo Phật, ta
ở nơi ngôi nhà nào, thì nhà ấy là nhà của Phật, ta ngồi nơi pháp tòa nào
thì pháp tòa ấy là pháp tòa của Phật, ta đi con đường nào thì con đường
ấy là con đường của Phật, ta nói lời nào thì lời ấy là lời của Phật.
Phật là vậy, cảnh giới của Phật là vậy, áo của Phật cũng là vậy, nên ta
hãy đi vào cảnh giới của Phật, bằng chính tâm hạnh của các Ngài; mà
không phải đi vào cảnh giới của Phật bằng chiếc áo!
Sau khi vị Tăng
sinh nghe tôi nói, đôi mắt vị ấy sáng lên. Và chỉ nói dạ, dạ, dạ…!
ƯỚC GÌ
Che giấu nhược
điểm, là một trong những tật xấu của chúng ta. Tật xấu ấy, khiến cho ta
đẹp bên ngoài mà xấu bên trong, chẳng khác nào trái ổi, trơn láng bên
ngoài mà trong lòng nó bị sâu và thối.
Đẹp bên ngoài, xấu
bên trong, thật nguy hiểm cho ta và cho những người giao tiếp với ta.
Nhưng, xấu bên ngoài, đẹp bên trong, thì an toàn cho ta, nhưng ta không
hấp dẫn đối với những người xã giao với ta, trái lại nó hấp dẫn với
những người sống lâu ngày với ta.
Tuy vậy, ước gì ta
được tiếp xúc và sống với một người có cái đẹp từ hình thức đến nội dung
dù chỉ một ngày và nếu ước muốn ấy không thành thì ước gì ta được tiếp
xúc và sống với người không có che giấu nhược điểm của mình!
MÙA BÓNG ĐÁ
Tranh hơn thua là
một trong những nghiệp sống của con người. Và vì chính sự tranh hơn thua
nầy mà gia đình tan nát, dòng họ phân ly, xã hội rối bời, quốc gia phân
cắt từng mảnh, thế giới chiến tranh xẩy ra cấp vùng và toàn thể.
Ta tranh hơn thua
nhau về tiền bạc, về danh dự, về tình cảm, về ăn uống, về quyền lợi vật
chất, về quyền lợi tinh thần,…
Người ta tranh hơn
thua nhau bằng miệng, bằng tư tưởng, bằng súng đạn, không những vậy,
người ta còn tranh hơn thua nhau bằng tay và bằng chân.
Mùa bóng đá là
người ta lại bị cái nghiệp tranh hơn thua nhau bằng chân sai khiến, kẻ
vào trận địa thì tranh nhau để hơn thua bằng những cú đá bất ngờ, kẻ cổ
động thì tranh nhau hơn thua bằng mắt, bằng miệng và bằng tay, kẻ đứng
ngoài cá độ thì ăn thua bằng tiền bạc, nhưng tất cả đều là kẻ bại trận,
và chỉ có một người thắng trận duy nhất là người không bị nghiệp hơn
thua sai sử, nên họ sống thanh thản và bình an giữa những đám người bị
cái nghiệp hơn thua cuốn hút ấy.
Ở tu viện, những vị
tu giỏi mới ngồi thiền đến hai giờ khuya, nhưng phần nhiều ít ai tham
thiền đến giờ phút đó. Thế mà đến mùa bóng đá những tu sĩ thức đến giờ
ấy để theo dõi bóng đá trên truyền hình, và có rất nhiều người thanh
niên thức đến giờ phút ấy để theo dõi bóng đá và cá độ, nếu không phải
bị cái nghiệp bóng đá thì bị cái nghiệp gì mà phải như vậy?
CÓ TÂM LÀ CÓ TẤT CẢ
Có nhiều
người hỏi tôi, có Tịnh độ của Phật A Di Đà không; có Bồ tát Quán Thế Âm
không; có Bồ tát Văn Thù Sư Lợi không; có Bồ tát Phổ Hiền không; có Bồ
tát Địa Tạng không,…?
Tôi nói quý vị có
tâm không?
Nếu quý vị không có
tâm, thì không có cõi tịnh độ; không có cõi uế độ; không có cõi Phật,
không có cõi chúng sanh; không có cõi địa ngục; không có cõi thiên đàng;
không có nhân nghĩa; không có thiện ác; không có xấu tốt; không có hạnh
phúc; không có đau khổ; không có cõi nầy; không có cõi kia, nhưng nếu ta
có tâm là ta có tất cả, Phật nào ta cũng có; Bồ tát nào ta cũng có; cái
đẹp nhất ta cũng có mà cái xấu nhất ta cũng có.
Ta có tâm là ta có
tất cả Phật, ta có tất cả Bồ tát Thánh hiền,…và nếu ta không có tâm là
ta không có bất cứ cái gì cả. Vì ta là sỏi, là đá, là cát bụi trên
đường.
Kinh Nikàya dạy cho
chúng ta rằng: “tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác…”.
Vì vậy, nên ta biết
“có tâm là có tất cả, không có tâm là không có tất cả”.
GỐC RỄ CỦA AN LẠC
Ta muốn có hạnh
phúc và an lạc, ta phải biết thực tập và nuôi dưỡng đời sống của Từ, Bi,
Hỷ, Xả.
Trong đời sống của
ta có Từ, Bi, Hỷ, Xả là ta có nội dung của hạnh phúc và an lạc.
Từ là không sợ hãi
khổ đau mà phải biết ôm ấp nỗi đau của ta và của người để chăm sóc,
khiến cho chúng không có loang lỗ ra trong tâm thức ta và trong đời sống
của ta.
Ta phải chăm sóc
nỗi đau của ta và của người, bằng tất cả trái tim hiểu biết và thương
yêu của ta một cách chân tình. Ta chăm sóc những nỗi đau như vậy mỗi
ngày qua bước đi, hơi thở, nụ cười và cách nhìn mọi sự hiện hữu, hay
cách nghe mọi âm thanh trần thế, chắc chắn những nỗi đau của ta hay
những nỗi đau của người sẽ trở nên lành lặn.
Bi là không tránh
né khổ đau mà chạm trán với khổ đau bằng con mắt trầm tĩnh, bằng một
trái tim nhiệt tình, bằng cái nhìn thấy sâu lắng và chính xác đối với
những tập khởi khổ đau và với đôi bàn tay nhẹ nhàng mà cương quyết trong
hành động để đào xới và bứng tận gốc rễ của chúng.
Nên, Bi là chất
liệu giúp ta và mọi người vượt thoát mọi gốc rễ của khổ đau. Bởi vậy, Bi
là chất liệu đánh bạt mọi nguyên nhân gây khổ, thiết lập và tái tạo tâm
thức bình an cho ta và cho tất cả mọi người.
Trong tâm hồn ta,
thiếu chất liệu của Bi, thì mọi hạnh phúc đến với ta chỉ là những hạnh
phúc hư ảo, chỉ là những hạnh phúc có đó mà không đó.
Hỷ là không đàn áp
những người có khả năng yếu kém so với ta và không kỳ thị hay khiếp đảm
đối với những người có khả năng vượt trội hơn ta.
Hỷ là chất liệu
loại trừ những hạt giống mặc cảm tự ty và tự tôn nơi ta, khiến cho ta có
khả năng tùy thuận đối với những gì tốt đẹp và hạnh phúc xảy ra từ người
khác.
Ganh tỵ là một
trong những chất liệu làm vẩn đục tâm ta, khiến cho đời sống của ta trở
nên chật hẹp và khó khăn, nên Hỷ là chất liệu xóa sạch những vết bẩn của
ganh tỵ đang hiện hành nơi tâm ta, khiến tâm ta hoạt động trong sự tương
vui, rộng lớn và trong sáng.
Nên, Hỷ là chất
liệu giúp ta vượt thoát gốc rễ của khổ đau, và khiến ta có khả năng động
viên, phát huy những điều tốt đẹp từ người khác.
Trong tâm hồn ta
thiếu chất liệu của Hỷ, ta không thể có chất liệu đồng cảm chân thực đối
với người, ta không có khả năng thân cận với một người tốt để học hỏi và
ta không có khả năng làm thay đổi những người kém may mắn hơn ta.
Nên, trong tâm ta
thiếu chất liệu của Hỷ, ta là người sống trong cô độc và chết trong cô
đơn, ta đẩy hạnh phúc đi về phía chân trời xa lạ.
Xả là tích cực hành
động theo Từ, theo Bi, theo Hỷ mà không có thủ lợi. Chất liệu của Xả
giúp ta vượt thoát mọi hoạt động có cơ tâm, của thất vọng, hận thù và
oán trách, đem lại sự an toàn cho tâm hồn ta và cho những người mà ta
thương yêu.
Trong tâm hồn ta,
thiếu chất liệu của Xả, chúng sẽ tạo ra trăm mối ngổn ngang cho đời sống
của ta, nên ta bị quá khứ lôi kéo, khiến ta hoàn toàn không có tự do với
quá khứ; ta bị tương lai cuốn hút, khiến ta không có tự do với tương lai
và ta bị hiện tại cột chặt, khiến ta bị mất chủ quyền đối với hiện tại,
và nếu trong tâm hồn của ta thiếu chất liệu của Xả, thì ta ở nơi đây là
ta bị cột chặt ở đây; ta ở nơi kia là ta bị cột chặt ở nơi kia và ta
tiếp xúc với bất cứ cái gì, thì ta sẽ bị cái đó trói buộc ta, khiến ta
không có tự do đối với mọi thời gian, đối với mọi không gian và đối với
mọi sự hiện hữu.
Nên, Xả là chất
liệu giúp ta có giải thoát và tự do ngay trong mọi hành động của ta.
Tâm Xả của ta càng
lớn, thì sự tự do của ta càng nhiều, và tâm Xả của ta vô lượng, thì hạnh
phúc của ta là vô cùng và tình yêu của ta trở thành vô tận.
Bởi vậy, trong đời
sống của ta mà thiếu chất liệu của Xả, thì ta làm bất cứ cái gì, ta sẽ
bị cái đó trói buộc, ta sẽ bị khổ đau và thất vọng bởi cái đó.
Thiếu chất liệu của
Xả, không những khiến cho đời sống của ta bị chết ngột bởi tài sản, bởi
nhận thức mà còn khiến cho ta bị chết ngột bởi tình cảm.
Nếu một người tu
tập tịnh độ, tâm của họ thiếu chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, Xả thì cảnh giới
tịnh độ của họ là cảnh giới của đất cát khô cằn hay là những nghĩa địa u
buồn mất trắng cả linh hồn.
Nếu một người tu
tập thiền, mà tâm của họ thiếu chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, Xả thì cảnh
giới của họ chỉ là những núi đá đứng trống trơ sừng sững và chai lỳ,
hoàn toàn mất hết mọi cảm giác và tuệ giác.
Và, nếu một người
chuyên gia bố thí, mà tâm họ thiếu chất liệu của Từ, Bi, Hỷ, Xả thì chỉ
làm chồng chất thêm những bất công cho xã hội và khổ đau của con người.
Nên, Từ - Bi - Hỷ-
Xả là chất liệu cần phải có trong mọi hành động của ta, trong mọi lời
nói của ta và trong mọi ý nghĩ của ta, khiến cho hạnh phúc của ta từ đó
mà sinh khởi và lớn lên.
Hạnh phúc của ta
sinh khởi và lớn lên từ nơi tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả của ta mới là hạnh phúc
chân thực.
Hạnh phúc và an lạc
chân thật của ta phải sinh khởi từ nơi đó, mà không phải sinh khởi từ
bất cứ nơi nào.
Sáu quan năng của
ta là những điều kiện biểu hiện của một tâm hồn có hạnh phúc hay của một
tâm hồn đau khổ mà không phải là nguyên nhân của hạnh phúc hay khổ đau.
Nguyên nhân của
hạnh phúc và an lạc là chất liệu Từ, Bi, Hỷ và Xả ở nơi tâm của mỗi
chúng ta và nguyên nhân của khổ đau thì ngược lại!
NHỮNG MẢNH ĐỜI TỶ PHÚ
Cách đây 26 thế kỷ, trưởng giả Cấp Cô
Độc - nhà tỷ phú Ấn Độ, biết trọng đức mà khinh tài nên danh thơm của
ông còn mãi với sử xanh.
Tháng 04 năm 2006,
Bill Gates - nhà tỷ phú Mỹ sang thăm Việt Nam vào ngày 22 tháng 04 năm
2006, đã phát biểu với những nhà lãnh đạo Việt Nam rằng: "Chuyến thăm
Việt Nam lần này sẽ tạo cơ sở để nâng cao quan hệ hợp tác giữa Microsoft
với Việt Nam, đồng thời cam kết sẽ tìm một trường Đại học thích hợp của
Việt Nam đểcung cấp phần mềm". Và ông còn nói: "Nhiệm vụ của tôi ngày
hôm nay là đi tìm kiếm và làm thế nào để Microsoft được tham gia vào quá
trình phát triển của Việt Nam cũng như việc tìm kiếm công nghệ thông tin
để giúp giới trẻ phát triển, đặc biệt là tạo công ăn việc làm".
Trả lời phóng viên
AFP, Bill Gates nói: "Internet đã biến thế giới này thành một cái làng
nhỏ". Ông nói tiếp: "Tôi có thể khẳng định cơ hội của mỗi người không
còn do địa lý quyết định nữa".
Trả lời cho phóng
viên hãng AFP, Bill Gates nói: "Trên cả Á Châu và nhất là ở Việt Nam,
chúng tôi đã chứng kiến sự phát triển kinh tế tuyệt vời, và cơ hội tạo
ra những công việc lương cao ở đây rất rõ ràng. Nhân tố chủ chốt bao giờ
cũng là tài năng con người".
Qua những phát biểu
của nhà tỷ phú này, ta biết rõ ông dù là nhà tỷ phú giàu nhất nước Mỹ,
có tài sản hơn 53 tỷ USD, nhưng ông vẫn cảm thấy thiếu và cần phải bươn
chải. Và ông ta cũng quên đi rằng, làm giàu không phải chỉ có tài năng,
mà còn có những yếu tố khác. Tài năng thế giới con người không thiếu,
nhưng không phải ai có tài năng cũng trở thành tỷ phú! Và tỷ phú như ông
mà còn trực tiếp bươn chải tìm kiếm thị trường tiêu thụ, thì sinh viên
Đại Học Bách Khoa Hà Nội có nên chào đón ông như là một "thần tượng" hay
không? Nên nhớ, thành đạt về sự giàu có hay quyền lực hoặc bất cứ một vị
trí nào đó được quyết định từ nhiều yếu tố mà không phải chỉ có tài
năng. Bill Gates đã quên nói cho sinh viên Việt Nam điều đó và lại nữa,
ông quên chia sẻ cho giới trẻ Việt Nam một điều vô cùng quan trọng là có
tài năng làm ra tiền, nhưng không có phước đức thì không cầm giữ được
tiền ấy, và tiền ấy sinh họa cho ta. Rất tiếc!
Rồi Henry Paulson -
Bộ trưởng tài chánh Hoa Kỳ, người đã từng đứng đầu đế chế tài chánh
Goldman Sachs, đã đến Việt Nam nói chuyện với 1000 sinh viên trường Đại
Học Quốc Gia Hà Nội, ông có ba lời khuyên:
1. Các bạn hãy luôn
luôn coi thay đổi là bạn đồng hành, đừng bao giờ ngại phải thay đổi.
Việt Nam đang trong quá trình phát triển và thay đổi, điều đó lại quan
trọng với các bạn.
2. Hành trang cho
mình là một tầm nhìn dài hạn, hãy kiên định với mục tiêu của mình.
3. Hãy trang bị cho
mình kiến thức hội nhập đầy đủ, điều quan trọng nhất là không được nhìn
hội nhập với một con mắt khắt khe, phải có một cái nhìn toàn cảnh mà
những giá trị hội nhập đem lại.
Một sinh viên hỏi:
"Tại sao ông từ bỏ mức lương 38 triệu USD/năm ở Goldman Sachs để làm
việc cho ông Bush với mức lương 200.000 USD/năm?"
Henry Paulson trả lời: "Đã đến lúc tôi
nghĩ phải thay đổi môi trường và đóng góp lớn lao cho đất nước tôi, tôi
nghĩ mình đã chọn đúng thời điểm, tiền đôi khi không phải là tất cả".
Paulson còn chia sẻ
thêm: "Dù làm gì và ở trên cương vị nào cũng phải cân bằng giữa công
việc và đời sống. Rất nhiều người đã đạt được đỉnh cao trong sự nghiệp,
nhưng trong cuộc sống gia đình lại rất thất vọng. Ngoài ra, có những vấn
để quan trọng hơn tiền, đó chính là sự học hỏi thường xuyên và học tập
có thể đảm bảo thành công trong tương lai. Khi suy nghĩ vấn đề gì, hãy
suy nghĩ sáng tạo".
Qua những phát biểu
của Paulson với 1000 sinh viên trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội, ta thấy
ông hết sức nhiệt tình và đầy kinh nghiệm: "Tiền đôi khi không phải là
tất cả...", nhưng ông đã thiếu đi một kinh nghiệm quý báu để chia sẻ với
giới trẻ Việt Nam rằng: "Ta có nhiều tiền mà thiếu hẳn nhân nghĩa, thiếu
hẳn niềm tin, thiếu sự chân thật, thì chúng sẽ hủy diệt danh dự và đời
sống của ta một cách nhanh chóng".
Lại có nhà tỷ phú
Mỹ, ông Warren Buffet - người tỷ phú thứ hai trên thế giới, tài sản của
ông 46 tỷ USD, nổi tiếng là người làm ăn rất cẩn thận theo truyền thống
và biết tích lũy, chứ không dùng thủ thuật trong kinh doanh. Nhưng, vợ
của ông là bà Suzan Buffet đã bỏ ông và sống riêng. Cô con gái của bà
giải thích: "Mẹ cô không muốn để người ta coi bà là vợ của một kinh
doanh nổi tiếng và thành đạt".
Và năm 76 tuổi, nhà
tỷ phú này lại cưới bà Astrid Menks đã 60 tuổi chính thức làm vợ hai,
sau khi bà vợ đầu bỏ ông sống riêng đã qua đời hai năm.
Trên đời không ai
bỗng dưng trở thành tỷ phú. Trở thành tỷ phú là cả một quá trình nỗ lực
học hỏi, nỗ lực kinh doanh và nhất là khả năng sáng tạo trong sự nghiệp
kinh doanh của mình, và lại càng kinh doanh lại càng bận rộn, càng kinh
doanh lại càng có lãi suất, và lại càng nỗ lực chạy bươn về phía trước,
cứ như thế mà chạy, và đương nhiên có một sự thành công nào đó về mặt
tiền bạc, nhưng nội dung của đời sống con người đã đi ra khỏi họ lọng
chừng lúc nào mà họ không hề hay biết, đến khi nhìn lại thì tiền bạc của
họ tích lũy để trở thành tỷ phú chỉ là những con số mà không phải là
"phép lạ" của hạnh phúc, và lại càng không phải là "thần dược" của tình
cảm con người và xã hội.
Những mảnh đời tỷ
phú về tiền bạc, họ khó có về đời sống hạnh phúc gia đình và lại càng
hiếm hoi hơn, để thấy những ánh trăng vằng vặc giữa không gian chiếu
xuyên qua lòng họ và lại càng khó nhận ra những âm ngữ chân tình!
Nên, tỷ phú như
Trưởng giả Cấp Cô Độc là có một không hai của thế giới con người. Ông ta
không những tỷ phú về tiền bạc mà còn tỷ phú về cả tâm hồn và đức hạnh,
đến nỗi Thái tử Jeta con vua Ba Tư Nặc của Ấn Độ bấy giờ phải hết lòng
kính nể.
XA LẠ
Ta muốn một điều gì
đó mà điều đó chưa trở thành hiện thực với ta, thì ta thấy điều ấy rất
có ý nghĩa, nên ta nghĩ rất nhiều về nó và ta tưởng tượng về nó rất
nhiều.
Nhưng, một khi nó
đã trở thành hiện thực, thì ta hờ hững với nó và một đôi khi ta xem sự
có mặt của nó là vô nghĩa, rồi ta lại rượt bắt và săn tìm một cái
khác,...
Cứ như vậy, mà
trong đời sống của ta, từ ý nghĩa trở thành vô nghĩa, từ quen biết trở
thành xa lạ và từ sự xa lạ này đến sự xa lạ khác.
Chính cái xa lạ ấy,
làm cho ta ngã quỵ giữa cuộc đời, nhưng thử hỏi giữa cuộc đời này đã mấy
ai không đi tìm cái mới lạ, để trở thành xa lạ với sự sống ???
RA KHỎI NỢ NẦN
Ta còn ăn thì còn
mắc nợ chúng sanh, dù chúng ta ăn thịt cá hay rau quả, ăn mặn hay ăn
chay.
Không ăn làm sao ta
sống, khi ta đang còn mang sắc thân này.
Tuy nhiên, ta không
ăn các loại thức ăn với tâm hưởng thụ, với tâm tham đắm. Vì ăn với tâm
như vậy sẽ tạo ra khổ đau cho ta và gây ra sự oán thù giữa ta với muôn
loài.
Nên, ta chỉ thọ
dụng thức ăn với tâm không hưởng thụ, với tâm không tham đắm, với tâm
khiêm tốn, biết ơn và từ bi, để nợ nần trong đời sống của ta không sinh
lãi, mọi oán thù đối với ta không còn và ta là bạn của tất cả muôn loài
và muôn loài là bạn của ta trong cuộc sống.
Và một ngày đi qua,
là một ngày đưa ta vượt ra khỏi nợ nần. Ta lớn lên trong đời sống giải
thoát và tự do.
THEO HAY KHÔNG THEO
Có một vài cư sĩ đã
hỏi tôi, tại sao Thầy không theo Thầy Nhất Hạnh, Thầy Nhất Hạnh thương
Thầy lắm mà?
Tôi nói, sao quý vị
biết tôi theo hay không theo. Họ trả lời, biết chứ, Thầy không ở Từ Hiếu
mà ra ở Thuyền Lâm là không theo chứ gì nữa?
Tôi cười và nói:
Thế thì các anh có theo Thầy Nhất Hạnh không? Họ nói, theo chứ!
Tôi cười và nói:
Các anh theo Thầy Nhất Hạnh, tại sao các anh ở nhà các anh mà không ở Từ
Hiếu hay ở Làng Mai?
Tất cả đều phá lên
cười.
Tôi nói: Tôi theo
Thầy Nhất Hạnh hay không theo Thầy Nhất Hạnh chẳng có gì quan trọng cho
tôi, chẳng có gì quan trọng cho các anh và ngay cả chẳng có gì quan
trọng cho Thầy Nhất Hạnh.
Tôi ở Từ Hiếu hay ở
Thuyền Lâm cũng chẳng có gì quan trọng cho tôi, cho các anh, cho Thầy
Nhất Hạnh và cho ngay cả chùa Thuyền Lâm và Từ Hiếu, xin quý vị đừng đề
cao bất cứ một cá nhân nào cả, báo thân của Phật rồi cũng nhập Niết Bàn
à!
Tôi theo Thầy Nhất
Hạnh hay không theo Thầy Nhất Hạnh, tại sao quý vị quan tâm đến thế? Quý
vị quan tâm điều đó cho tôi, cho Thầy Nhất Hạnh hay cho chính quý vị?
Tôi đề nghị, quý vị
nên quan tâm đến sự thịnh suy của chánh pháp, đâu là nguồn gốc khổ đau
và an lạc của con người, đâu là nguồn gốc trật tự hay bất ổn của xã hội
để cho sự quan tâm của quý vị có giá trị và có ý nghĩa thiết thực và phổ
quát hơn, để quý vị trở thành những Phật tử hữu dụng cho đời, mà không
phải là loại người chỉ biết đặt câu hỏi theo hay không theo, rồi ủng hộ
hay lên án!
Là những Phật tử
thông minh, ta phải biết cái gì nên theo và cái gì không nên theo. Có
những cái không nên theo mà ta theo là hại người ta thương kính. Có
những cái nên theo mà ta không theo là ta cũng hại người ta thương kính.
Nên, theo hay không
theo chẳng có gì quan trọng, mà quan trọng là ta phải biết rõ là nên
theo hay không nên theo và có khả năng thực hiện theo cái biết ấy, là ta
yểm trợ cho người ta thương kính ấy một cách đích thực.
Nên biết, một vị
quan theo vua mà đúng là trung thần, không theo vua mà đúng là đại trung
thần; một vị quan theo vua mà sai là phản thần; không theo vua mà sai là
đại phản thần.
Ấy là điều mà ta
cần chiêm nghiệm để thực sự có tuệ giác, chân tình và anh dũng trong mọi
tình huống ứng xử của ta, đừng để những tình cảm nhảm nhí trói buộc!
THẤT VỌNG THÔI À!
Ta không có hạnh
phúc của tâm hồn, nên ta đi tìm kiếm hạnh phúc của thân thể; ta không có
hạnh phúc của thân thể, nên ta đi tìm kiếm hạnh phúc của gia đình; ta
không có hạnh phúc của gia đình, ta lại đi tìm kiếm hạnh phúc của xã hội
và ta không có hạnh phúc của xã hội, nên ta đi tìm kiếm hạnh phúc ở nơi
tiền bạc, ăn uống và hưởng thụ, nhưng tất cả những hạnh phúc ta đang đi
tìm kiếm ấy, chúng đều là những bẫy sập của thất vọng và khổ đau.
Tại sao? Bởi căn
bản của hạnh phúc là tâm hồn. Ta sống không có tâm hồn để thiết lập căn
bản của hạnh phúc, thì ta càng đi tìm kiếm hạnh phúc, ta lại càng thêm
khổ đau và thất vọng thôi à!
MỈM CƯỜI VỚI KHÓ KHĂN
Nếu ta tu tập hết
lòng, nhưng thường gặp những trở ngại, thường bị người khác gây khó
khăn, hoặc bị khinh dễ coi thường là ta hãy vui lên, ta hãy sung sướng
lên và mỉm cười với nó, vì chứng tỏ sự tu tập nhiệt tình của ta đã có sự
chuyển hóa lớn và đã có kết quả lớn.
Tại sao? Vì ta đã
nhiều đời tạo nghiệp bất thiện, đời sau đáng lẽ phải rơi vào những nẻo
đường xấu ác, tối tăm, nhưng đời này nhờ ta tu tập nhiệt tình, nên những
tội nghiệp nặng nề đời trước của ta, nay chuyển thành nhẹ, và bị trở
ngại chút chút, khiến bị người coi thường thôi, chứ không còn bị đọa lạc
vào những nẻo đường xấu ác trong tương lai.
Biết vậy, ta càng
nỗ lực tu tập và mỉm cười đối với những gì khó khăn đang xảy ra với sự
tu tập của ta trong hiện tại.
Khó khăn là người
bạn giúp ta tăng thêm nghị lực và tiêu trừ nghiệp chướng.
Vậy, ta hãy tinh
tấn và vui sướng lên, khi trực diện với mọi khó khăn đang diễn ra!
THIẾT LẬP HẠNH NGUYỆN
Trong đời sống, ta
không thiết lập cho ta một hạnh nguyện nào cả, ngoài việc cơm áo, thì sự
có mặt của ta trong gia đình và xã hội là đáng tiếc.
Đời người đi qua
rất nhanh, nhanh đến nỗi ta không biết nó là gì đối với ta và ta là gì
đối với nó.
Ta phải thiết lập
hạnh nguyện để sống, để làm đẹp đời mình, để đời mình hiện hữu và kết
thúc có ý nghĩa.
Ta không cần phải
thiết lập một hạnh nguyện gì quá lớn lao, ngoài tầm tay và điều kiện của
mình đang có.
Ta chỉ nguyện làm
đẹp những gì mà ta đã có và đang có mà không cần quan tâm đến cái chưa
có.
Cái ta đã có là
thân thể và tâm hồn, và cái ta đang có là con người của ta và những gì
ta đang liên hệ.
Ta nguyện làm đẹp
thân thể và tâm hồn của ta mỗi ngày, bằng cách không nghĩ đến điều ác và
không làm cho ai đau khổ bởi mình. Ta nguyện sống có hiếu kính với cha
mẹ, khiêm tốn và biết ơn đối với mọi người chung quanh và không có thô
tháo trong mỗi khi hành xử.
Sở dĩ, ta thiết lập
hạnh nguyện như vậy, vì ta biết rằng, mọi hành xử của ta có liên hệ chặt
chẽ đến những người chung quanh ta và quan trọng hơn hết là nó liên hệ
rất chặt chẽ với thân thể và tâm hồn của ta trong tương lai.
Những hạnh nguyện
ấy, không làm cho ta tốn mất tiền của và thì giờ, nhưng nó giúp ta sống
một đời sống có ý nghĩa và đem lại hạnh phúc rất lớn cho gia đình và xã
hội của ta.
THIẾU TẤT CẢ
Trong sinh hoạt gia
đình, ta thiếu tình cảm của huyết thống là ta thiếu tất cả; trong sinh
hoạt đoàn thể xã hội, ta thiếu lý tưởng và tình cảm tổ chức là ta thiếu
tất cả; trong sinh hoạt tôn giáo, ta thiếu tình cảm tâm linh là ta thiếu
tất cả; sinh hoạt trong thế giới con người, ta thiếu tình cảm của con
người là ta thiếu tất cả và trong sinh hoạt của đời sống Phật giáo, ta
thiếu từ bi và tuệ giác là ta thiếu tất cả.
Không có tuệ giác,
ta không bao giờ có Từ bi và Hỷ xả để giúp đời.
Trong một ngôi chùa
lộng lẫy của Phật giáo mà vắng mặt của tuệ giác, ngôi chùa ấy chỉ là
gạch, ngói, xi măng, cột sắt và gỗ.
Và trong sự truyền
thừa của Phật giáo mà thiếu tuệ giác và từ bi, thì chỉ là những móc sắt
hàn lại với nhau, dù ta cố gắng hàn cho chắc chắn đến mấy, rồi cũng phải
đến ngày rỉ rét và tự hủy diệt!
MỈM CƯỜI VỚI KHỔ ĐAU
Tu tập, tôi không
hề đối phó với khổ đau. Bởi vì, đối phó với khổ đau tôi sẽ bị khổ đau
đối phó trở lại và như vậy, sự khổ đau trong tôi sẽ tăng lên, mà không
phải giảm xuống. Và nếu nó bị tôi đối phó mạnh, nó không thể tăng lên
thì nó sẽ biến qua một dạng khác để đợi có cơ hội và như vậy, khổ đau
vẫn tiềm ẩn trong tôi để chờ đợi có cơ hội tái phát.
Nên, tu tập tôi
không hề đối phó với khổ đau, mà tôi ôm ấp khổ đau và chăm sóc nó bằng
những chất liệu của tin tưởng, trầm tĩnh, sâu lắng và bao dung.
Mỗi khi khổ đau
xuất hiện, tôi không nghĩ ngợi gì thêm về nó, tôi không phát biểu gì về
nó, tôi không hoạt động gì thêm để yểm trợ hay đối phó nó. Tôi ngồi thật
yên lắng để nhìn nó và mỉm cười, cảm ơn nó và để cho nó đi qua như những
đám mây trời đi qua giữa không gian vậy. Sau đó, tôi tìm một công việc
khác để làm, thỉnh thoảng những nỗi đau ấy tái hiện, nhưng không mãnh
liệt như trước và tôi lại tiếp tục ngồi yên lắng nhìn nó mỉm cười và cám
ơn nó, rồi tiễn đưa nó đi qua. Và rồi sau đó, nó chẳng còn để lại dấu
tích gì trong lòng tôi nữa.
Nên, tôi biết rằng,
tu tập là không phải đối phó với khổ đau mà để tiếp xúc, mỉm cười và
chăm sóc nó, đồng thời biết kiêng cử với những gì sinh ra nó mà không
phải là đối phó với hậu quả.
ĐỐT TRẦM LÀM THAN
Có phước báo lớn,
ta mới được làm người với thân thể toàn vẹn và ta mới có khả năng nhận
thức đúng sai, chánh tà, chơn vọng. Nếu ta không biết chăm sóc và phát
triển phước báo ấy, trong ngôn ngữ từ ái của ta; trong cái nhìn bao dung
của ta; trong cái nghe sâu lắng và chính xác của ta; trong sự ăn uống
thanh cao của ta; trong những hành xử có ý nghĩa của ta và trong những
chất liệu với tâm tư định tĩnh không tán loạn, không ưu phiền, không ích
kỷ và sáng suốt của ta, là ta sẽ mất trắng phước báo và gặp nhiều tai
họa.
Sống như vậy, ta để
đời mình không những trôi qua một cách vô ích mà còn làm hại cho nhiều
người và cho xã hội nữa.
Sống không thông
minh, ta để mất phước báo là mất tất cả, ta chẳng khác nào người đi tìm
kiếm trầm, đến khi có trầm trong tay ta đem đốt trầm làm than.
ƯA...?
Trong chúng ta,
không ai thích nghèo, vì nghèo là khổ. Và trong chúng ta ai cũng thích
giàu có, vì ta nghĩ giàu có là sung sướng, không khổ đau.
Ta nghĩ như vậy là
lầm, người giàu có tài sản, họ cũng có nhiều lo lắng và khổ đau của họ.
Họ sợ của cải bị tiêu mất; họ sợ người khác đến vay mượn, họ sợ bị nhà
nước tịch thu bất cứ lúc nào; họ sợ chồng con hay vợ con phá tán; họ sợ
thiên tai, hỏa hoạn làm tiêu tan tài sản của họ; họ sợ những kẻ trộm cắp
đột nhập; họ sợ nguy hiểm đến tính mạng; họ sợ bệnh hoạn và chết sớm; họ
sợ không có người thừa kế xứng đáng,...
Như vậy, trong thực
tế người nghèo có sự lo lắng và khổ đau do từ cái nghèo của họ đem lại;
và người giàu cũng có những lo lắng, sợ hãi và khổ đau do từ cái giàu có
vật chất của họ đưa đến.
Và cũng vậy, các
nước giàu có dầu hỏa trên thế giới, bị các nước giàu vũ trang dòm ngó,
tạo ra những tranh chấp liên miên, khiến cho những quốc gia ấy, chẳng có
gì an ổn và người dân của những quốc gia giàu có dầu hỏa ấy, chẳng có
hạnh phúc và an ổn chút nào.
Như vậy, thì ta ưa
cái gì? Ta không ưa nghèo vật chất mà cũng không ưa giàu có nó. Ta chỉ
thích nghèo tai họa và giàu có phước đức.
Giàu có phước đức
ta ở vào trạng huống nào cũng an ổn, hạnh phúc. Và nếu ta nghèo phước
đức mà lắm tiền của và quyền lực là một thảm họa cho ta, cho gia đình ta
và cho đất nước của ta.
Và phước đức thì
không bao giờ phát sinh từ nơi tấm lòng ích kỷ của ta. Phước đức đến với
ta từ nơi tấm lòng chung thủy, khiêm tốn, nhân ái và vô ngã của ta đối
với mọi người và mọi loài.
Người có phước đức
thì không cần sử dụng vũ lực và không cần vũ lực bảo vệ mà phước đức tự
bảo vệ họ.
Vậy, ta ưa gì...?
CÁI BIẾT KHÔNG LAY ĐỘNG
Ta biết một cách
chắc chắn rằng, tóc mọc trên đầu của tất cả mọi người, nhưng đã có nhiều
người nói với ta rằng: tóc không mọc trên đầu, tóc mọc dưới chân, họ nói
với ta không phải nói đùa mà nói một cách trang trọng, nói có bài bản,
nói có quyền lực, và họ đã đưa ra cả một phong trào nói tóc mọc dưới
chân với ta như vậy, nhưng sự hiểu biết của ta là tóc mọc trên đầu không
hề lay động.
Tại sao cái biết
của ta không bị lay động? Vì đó không phải là cái biết của suy luận, của
vọng tưởng, của từ người khác nói hay của trường học mà cái biết từ cái
thấy trực tiếp của ta.
Cũng vậy, cái gì ta
biết từ sự thực tập và chứng nghiệm của ta, thì cái biết ấy không bị cái
đúng, cái sai của nhiều người làm ta lay động.
Như vậy, là ta có
chủ quyền và tự do trong cái biết.
.VÔ DUYÊN
Trong thời gian
nhập thất, nhà bếp và thị giả biết tôi thích ăn trái bùi, nên trưa nào
cũng dọn cho tôi một dĩa bùi khoảng tám trái. Suốt bữa ăn tôi chỉ ăn bốn
trái, còn chừa lại bốn trái cho những ai thích nó.
Ăn bùi tôi theo dõi
cảm giác và thấy nó dễ chịu, nhưng qua ngày thứ năm, thì tôi không dùng
bùi nữa, mặc dù dĩa bùi tám trái đang hiện hữu với tôi trong mâm cơm.
Cảm giác dễ chịu
của tôi lúc đang ăn bùi như thế nào, thì năm ngày sau cảm giác khó chịu
trong thân thể tôi do bùi sinh ra cũng như thế ấy. Thân thể bị ngứa và
từng mụt nhỏ mận đỏ nổi lên ở mặt và tay chân.
Tôi biết rõ cái lạc
thọ của tôi mấy ngày qua là từ bùi và cái khổ thọ của tôi hôm nay cũng
do bùi, nên tôi đình chỉ việc ăn bùi. Sau đó, vài ngày cảm giác ngứa
ngáy trong thân thể tôi tự chấm dứt và các mụt mận đỏ ở nơi mặt và tay
chân tôi cũng từ từ không còn. Bấy giờ, tôi nhìn vào sở thích của tâm
hồn và tự nhủ: "Lạc thọ là đây và khổ thọ cũng chính là đây, chính nơi
sở thích này. Biết vậy nên buông bỏ, những niềm vui sinh đau khổ".
Nên, tu tập ta
không phải đối phó với khổ thọ tạm thời hay khổ đau lâu dài mà phải biết
buông bỏ những nhân duyên sinh ra nó.
Khi nhân duyên sinh
khởi nó không còn, thì khổ thọ và khổ đau không do đâu mà có mặt với ta.
Ta hoàn toàn vô duyên với chúng.
PHẬT LÀ HẮN
MÀ MA CŨNG LÀ HẮN
Mỗi năm tôi đều
nhập thất hai kỳ. Một kỳ sau hạ và một kỳ trước tết. Đã có nhiều người
hỏi tôi, Thầy nhập thất để làm gì. Tôi nói để có điều kiện bám sát và
theo dõi tâm mình bằng sự tỉnh giác.
Thế thì Thầy không
nhập thất, không thực hiện được điều ấy sao? Tôi nói: Được, nhưng khó so
với nhập thất.
Thế thì nhập thất,
Thầy đã thành công đối với pháp ấy chưa? Tôi nói: Thành công cũng có mà
thất bại cũng nhiều. Tại sao? Bởi vì tâm ta cũng là Phật mà tâm ta cũng
là ma. Phật là hắn mà ma cũng là hắn. Nên, việc bám sát và theo dõi hắn
để biết hắn là Phật hay ma không phải dễ gì.
Bạn đừng hỏi nữa,
cứ nhảy vào cuộc chơi đi rồi biết, hắn là ma hay Phật, hay hắn vừa là
Phật mà vừa là ma!
TOÀN CẦU HÓA
TRONG ĐÔI MẮT THIỀN QUÁN
Lòng tham là một
trong những nguyên nhân sinh khởi khổ đau cho ta, nên ta muốn từ bỏ khổ
đau là ta phải biết từ bỏ lòng tham ở nơi chính ta.
Quan điểm này là
chính xác, nhưng làm sao để ta có thể từ bỏ được nó?
Nếu lòng tham của
ta có hình tướng cụ thể, và ta không thích nó, thì ta cắt bỏ nó rất là
dễ, nhưng lòng tham của ta không có hình tướng, nó lại nằm sâu trong
lòng ta và mỗi khi ta nhìn thấy tiền bạc, hình sắc, danh vọng, quyền lợi
và các thực phẩm quyến rũ, thì nó mới xuất hiện để điều khiển ta, đi về
hướng ấy và chạy theo những cái ấy để bám víu, và cũng từ đó thất vọng
và khổ đau sinh khởi trong đời sống của ta.
Như vậy, ta biết
khổ mà không trừ được nguyên nhân thì khổ đau và thất vọng của ta càng
tăng lên gấp bội; ta biết bệnh mà không trừ được nguyên nhân gây bệnh,
thì thân thể ta có nguy cơ hủy diệt, và sự lo sợ của ta đối với bệnh và
nguyên nhân gây bệnh lại tăng lên nhanh chóng và khổ đau trong đời sống
của ta cũng từ đó mà hiện hữu và lớn mạnh.
Cũng vậy, một vị
tướng cầm quân đi đánh giặc, không biết giặc ẩn núp ở nơi nào, thì đó là
một sự rủi ro cho cuộc đời làm tướng. Và rủi ro cũng như bất hạnh hơn
nữa, khi ông ta biết đó là giặc, không diệt được nó, mà phải đầu hàng
với nó, thì sự khổ đau của ông ta khó lòng tả nổi.
Cũng như thế đó, ta
muốn từ bỏ khổ đau, từ bỏ nguyên nhân khổ đau, nhưng không biết nó nằm ở
đâu trong đời sống của ta là ta không thể từ bỏ được chúng, thì khổ đau
trong đời sống của ta càng tăng lên với cấp lũy thừa. Và như vậy, an lạc
và hạnh phúc đối với ta chỉ là những ước mơ mà không bao giờ trở thành
hiện thực.
Nên, với thiền quán
có tuệ giác từ bi, ta không từ chối và xua đuổi lòng tham trong ta, mà
ta hãy nhìn nó một cách sâu sắc, đằm thắm và định tĩnh, mỗi khi các quan
năng của ta tiếp xúc với các đối tượng mà ta cho là khả ý, khả ái và khả
lạc, là lòng tham của ta liền xuất hiện và có mặt ở đó, cho ta tiếp xúc,
nhận diện và quán chiếu.
Trong khi tiếp xúc
với nó, ta đừng đồng cảm với nó và đừng biến nó thành ta, hay ta đừng để
nó biến ta thành nó. Nó biến thành ta hay ta biến thành nó, đều là giặc,
cướp mất hạnh phúc của ta và gây thiệt hại cho nhiều người khác.
Ta cũng không biến
nó trở thành những đối tượng thù ghét của ta. Nếu ta biến nó trở thành
đối tượng thù ghét của ta, thì trong ta không những có mặt của tham mà
còn có mặt của sân, của giận dữ và thù hận, nên khổ đau của ta càng lúc
càng tăng lên mà không giảm xuống.
Vì vậy, ta không
biến tham lam trở thành đối tượng thù ghét của ta, mà ta chỉ nhận diện
đơn thuần đối với nó và ôm nó vào trong đôi mắt thiền quán của ta, ta
cám ơn và hết lòng chăm sóc nó bằng chất liệu của tuệ giác từ bi.
Khi ta tiếp xúc và
ôm ấp lòng tham của ta bằng tuệ giác từ bi, thì lòng tham không còn là
lòng tham nữa. Ta nuôi dưỡng lòng tham trong ta bằng chất liệu của tuệ
giác từ bi, thì lòng tham của ta sẽ lớn lên trong tuệ giác ấy, nên nó
không còn là nó nữa, nó là tuệ giác từ bi.
Nên, ta nhìn sâu
vào lòng tham của ta, ta biết chính xác, nó là nguyên nhân gây khổ, và
ta cũng biết chính xác rằng, nó cũng có thể thay đổi, để trở thành tuệ
giác từ bi, đem lại rất nhiều an lạc cho ta và cho tất cả mọi người.
Ngày xưa đất nước
còn chiến tranh, người đứng bên này chiến tuyến xem người bên kia chiến
tuyến là kẻ thù và người bên kia chiến tuyến xem người bên này chiến
tuyến là kẻ thù, và người ta sẵn sàng sử dụng bạo lực để đối xử với nhau
mỗi khi trực diện, và người ta đã giết nhau chết như rạ.
Hồi ấy, Thầy Nhất
Hạnh có làm bài thơ: "Kẻ thù ta không phải là người. Kẻ thù ta là lòng
tham, là vu khống, là bạo tàn. Chúng ta chống những cái cuồng tín, bạo
tàn, tham lam, vu khống nhưng mà ta không chống con người".
Dựa vào ý thơ này,
Phạm Duy đã phổ thành bản nhạc "kẻ thù ta không phải là người".
Bản nhạc này được
phổ biến vào thời ấy và có nhiều người rất thích, nhất là những năm
1966. Thưở ấy, tôi cũng hay hát và rất thích lời và nhạc trong bản nhạc
này, nhưng ngày nay thì không còn thích chút nào nữa.
Bởi vì ngày nay tu
tập, trong tôi không thấy ai là kẻ thù cả, ngay cả lòng tham, lòng hận
thù trong tôi và trong tất cả mọi người.
Trong thực tế, ta
không thể nào tách rời con người ra khỏi tâm thức của họ và ta không thể
nào tách rời tâm thức ra khỏi con người của họ. Nên, ta không thể nói,
tôi ghét tâm thức của anh, nhưng tôi không ghét anh, hay tôi thương anh,
nhưng tôi không thể thương tâm thức của anh. Và cũng không thể nói, tôi
chống anh, nhưng tôi không chống cái tâm thức của anh; hoặc tôi thương
anh, nhưng tôi không thương cái tâm thức của anh.
Những cách nói ấy,
không phù hợp với sự thực nghiệm giáo lý "tương tức" của Phật dạy.
Nên, phải biết nhận
diện và quán chiếu thân thể ta, cảm thọ của ta, các tâm hành của ta và
các nhận thức của ta bằng tuệ giác từ bi, thì ta mới thực sự có an lạc
và có đời sống hòa bình của thân tâm. Và ta cũng đem tuệ giác từ bi ấy
để tiếp xúc, nhận diện quán chiếu đối với thân thể, cảm thọ, tâm hành,
nhận thức của mọi người và mọi loài, để ta có thể đồng cảm và sống chung
hòa bình với tất cả.
Thế giới con người
ngày nay, người ta đang nỗ lực để toàn cầu hóa đời sống con người và
kinh tế, chính trị và thông tin khoa học, nhưng chắc chắn toàn cầu hóa
con người về những lãnh vực ấy, không thể tạo ra hạnh phúc và hòa bình
cho con người, mà nó sẽ phát sinh những lo lắng, sợ hãi và khổ đau mới
cho con người. Bởi lẽ, nguyên nhân sinh khởi khổ đau chưa được con người
nhìn nhận và đánh giá đúng mức để giải quyết tận căn để.
Con người ngày nay
đang nỗ lực toàn cầu hóa về kinh tế, thông tin khoa học và chính trị,
nhưng vắng mặt của tuệ giác từ bi trong toàn cầu hóa ấy, thì đời sống
con người sẽ xảy ra những thảm trạng bi đát và khổ đau hơn mà con người
không thể nào lường trước được.
Toàn cầu hóa kinh
tế, chính trị và thông tin khoa học mà thiếu tuệ giác từ bi, ta sẽ làm
mồi cho lòng tham trong ta bộc phát ngày thêm lớn rộng và mãnh liệt.
Như vậy, đến khi
nào con người mới có an lạc và thế giới loài người có đời sống hòa bình
đúng nghĩa?
Ta muốn toàn cầu
hóa về kinh tế, chính trị và thông tin khoa học, thì trước hết phải biết
vai trò và giá trị của tâm trong việc toàn cầu hóa ấy.
Tác động của tâm
không phải chỉ là toàn cầu hóa mà đã hóa toàn cầu.
Nếu tác động của
tâm đi kèm theo với các thuộc tính tham lam, hận thù, si mê, cố chấp vào
những ngã tính và ngã kiến, thì toàn cầu hóa là hóa ra tăm tối toàn cầu.
Quả đất bị khoanh vùng từng khu vực, để ăn chia quyền lợi và sát phạt
nhau cũng như kiểm soát nhau bằng những dụng cụ khoa học kỹ thuật tân kỳ
bởi những quốc gia hùng mạnh.
Như vậy, càng toàn
cầu hóa, con người lại càng mất tự do và bi đát hơn.
Và nếu tác động của
tâm đi kèm theo các thuộc tính, tự giác, tự trọng, tự chịu trách nhiệm
về hành vi của mình, có sự hiểu biết lớn, có sự thương yêu sâu, có sự
bao dung, xả kỷ, vô ngã và vị tha, thì toàn cầu hóa là làm cho toàn cầu
hóa ra sự chia sẻ, quân bình, cảm thông, tạo ra một thế giới trong sạch,
hòa bình và an lạc.
Bởi vậy, toàn cầu
hóa mà ta không biết cách hóa toàn cầu của tâm, mà chỉ nhắm tới toàn cầu
hóa về kinh tế, chính trị, khoa học thông tin,... là ta chưa thấy được
căn để của vấn đề về con người và thế giới của nó.
Căn để của con
người và thế giới của nó là nơi tâm của họ. Tâm của con người cá nhân
quyết định sự thấp kém hay văn minh của chính nó. Và tâm thức cộng đồng,
tâm thức xã hội quyết định sự văn minh hay thấp kém của cộng đồng hay xã
hội ấy.
Cách đây hơn bốn
mươi năm, khi bước chân vào chùa hành điệu, Thầy tôi đã trao cho tôi bài
kệ của kinh Hoa Nghiêm và buộc học thuộc lòng để thực tập. Bài kệ như
sau:
"Nhược nhơn dục
liễu tri
tam thế nhất
thiết Phật
ưng quán pháp
giới tánh
nhất thiết duy
tâm tạo".
Nghĩa là:
"Nếu người nào muốn
biết
tất cả Phật ba đời
nên nhìn tính vũ
trụ
tâm tạo thành tất
cả".
Như vậy, tâm không
những tạo nên con người mà còn tạo nên vũ trụ cho con người. Và tâm
không những tạo nên chư Phật ba đời mà còn tạo nên thế giới của các Ngài
nữa.
Tâm mê tạo thành
thế giới của chúng sanh, tâm giác tạo thành thế giới của chư Phật.
Thông điệp ấy, Đức
Phật đã nói cho chúng ta qua mấy ngàn năm, và đã mấy ngàn năm lịch sử
nhân loại truyền thừa, thế thì hạnh phúc và khổ đau; văn minh và chậm
tiến của con người nằm ở nơi nào, mà ngày nay con người vẫn cứ khắc
khoải kiếm tìm và điều đáng buồn cười nhất là họ đã và đang dắt tay
nhau, đi tìm bình đẳng đối tác nơi các công trường sản xuất, đi tìm hạnh
phúc nơi các thị trường tiêu thụ, đi tìm tự do nơi các khế ước và đi tìm
hòa bình nơi các vũ khí hạt nhân!
Vậy, ta muốn toàn
cầu hóa có hiệu quả, trước hết là phải hóa tuệ giác từ bi toàn cầu nơi
tâm của những người chủ xướng và cổ vũ ấy.
Nếu không, thì toàn
cầu hóa không phải là đời sống con người mà chỉ là những ý tưởng và ảo
giác, vả lại những sự sợ hãi cô đơn, già, bệnh và chết chóc của con
người không những còn nguyên vẹn mà lại còn tăng lên gấp bội.
ĐỐI TÁC KHÔNG BÌNH ĐẲNG
Trong cuộc sống,
con người thường suy nghĩ đến bình đẳng và người ta đi tìm sự bình đẳng
trong đối tác giữa người này với người kia, giữa tổ chức này với tổ chức
kia, giữa khối này với khối kia, giữa quốc gia này với quốc gia kia,
nhưng con người quên nhìn lên không gian bao la để thấy chỉ có một mặt
trời mà không có hai, và không bao giờ có hai mặt trăng cùng xuất hiện
một lúc, và cũng vì ham suy nghĩ bình đẳng giữa đối tác và chạy theo nó,
con người đã quên nhìn lại trái tim trong cơ thể của mình, trái tim chỉ
có hòa điệu với các bộ phận khác mà không là đối tác bình đẳng, vì vị
trí của tim trong cơ thể không có bộ phận nào trong cơ thể có thể thay
thế.
Và cũng vì ham chạy
theo bình đẳng đối tác, con người đã quên nhìn lại mặt mình, để thấy hai
con mắt đang hiện hữu trên khuôn mặt, nó có đối tác bình đẳng không? Nó
không hề đối tác bình đẳng, vì một con to và một con nhỏ, một con nằm
phía trái và một con nằm phía phải. Đã có bên phải và bên trái làm sao
có sự đối tác bình đẳng.
Nên, bình đẳng đối
tác, chỉ là những ý niệm của ước muốn mà không phải là chân nghĩa của
cuộc sống con người.
Chân nghĩa của cuộc
sống chỉ là hòa điệu giữa cái nầy với cái kia, giữa cái kia và cái nầy
mà không hề có sự đối tác bình đẳng. Và chỉ có vô thường là đối xử bình
đẳng một cách tự nhiên đối với tất cả chúng ta, vì tất cả chúng ta cũng
như muôn vật không có cái gì là không vô thường.
HẠNH PHÚC KỲ NGỘ
Ta không bằng lòng
với những gì ta đang có, nên ta từ bỏ nó để đi tìm một cái khác và rồi
ta không bằng lòng với cái ta mới tìm được, ta lại từ bỏ nó và tìm kiếm
một cái khác nữa, cứ như vậy mà cuộc tìm kiếm của ta không bao giờ dừng
lại, và không biết nơi cõi Ta bà này nơi nào là chỗ dừng chân lại của
ta.
Cõi Ta bà tuy rộng,
nhưng không có một chỗ nào cho ta dừng chân, nếu ta không biết buông bỏ
những ý tưởng dong ruổi trong ta.
Cõi Ta bà tuy rộng,
nhưng nơi nào là vùng đất hứa của ta? Chắc chắn không có nơi nào, nếu
tâm ý tìm cầu không dừng lại nơi ta.
Và nơi cõi Ta bà
này, nơi nào là vùng đất sạch? Chắc chắn không có vùng nào, nếu tâm ta
cấu uế.
Và cũng trong cõi
Ta bà này, nơi nào là những sinh hoạt của những người dễ thương? Chắc
chắn không có nơi nào và người nào, nếu tâm ta đầy những hạt giống hận
thù, trách móc, bất mãn và khát thèm.
Nên, ta hãy làm cho
tâm ta lắng yên, tâm không còn những bất mãn, khát vọng và tìm cầu, thì
cái nhìn của ta bắt đầu sáng trong, bấy giờ mọi cái đi qua đời ta đều là
chân như hiển lộ. Mọi sự tốt đẹp, ta không nhọc công tìm kiếm, mà đều
tương ngộ cùng ta, điều ấy mới là kỳ ngộ trong đời sống của hạnh phúc.
THIÊN ĐÀNG CÓ THẬT
Khi người nắm quyền
lực không còn biết đặt quyền lợi của cái chung lên trên cái riêng, mà
tất cả chỉ là vì bản thân, gia đình và phe nhóm của họ, thì việc trước
hết của họ là khống chế và đàn áp kẻ sĩ mà không phải là chiêu hiền đãi
sĩ.
Điều đó, kẻ sĩ phải
biết để phát nguyện đi vào địa ngục mà tạo dựng thiên đàng.
Thiên đàng cũng
được tạo nên từ những con người biết chấp nhận trầy da phỏng trán chứ
không phải từ những người chỉ biết chấp nhận cúi đầu.
Thiên đàng có từ
địa ngục là thiên đàng có thiệt, vì đó là thành quả của những người phát
nguyện dấn thân vào địa ngục để tạo dựng thiên đàng.
Nên, thiên đàng
không đến với ta từ sự ngồi yên để đợi chờ ban phát mà từ sự dấn thân
bằng đại nguyện và có khi chết người.
Thiên đàng có thật
là thiên đàng của những người phát nguyện dấn thân.
ÔNG KỸ SƯ
VÀ CÁI ĐINH VÍT
Có vị kỹ sư đang đi
trên chiếc xe hơi, ông ta thấy cái đinh vít giữa đường, ông buộc tài xế
dừng xe lại và bước xuống lượm cái đinh vít bỏ vào trong túi áo, rồi lên
xe và tài xế tiếp tục lái xe đưa ông về nhà để nghỉ.
Từ ấy, anh tài xế
cứ miên man suy nghĩ về hành động lượm cái đinh vít của ông kỹ sư. Anh
ta cho rằng, ông ấy bần tiện, một cái đinh vít rơi giữa đường mà cũng
buộc tài xế dừng xe lại để lượm bỏ vào trong bọc. Và cũng từ đó, lòng
quý trọng của anh tài xế đối với ông kỹ sư cũng mất dần.
Hôm ấy, anh tài xế
đến chùa và đem chuyện ấy kể cho tôi nghe với giọng điệu đầy châm biếm.
Nhưng, tôi chỉ nhìn anh ta và mỉm cười, rồi sau đó tôi nhắc cho anh ta
lời Phật dạy rằng: Khi ta dùng cơm mà trong cơm có những hạt lúa, thì ta
lựa những hạt lúa ấy ra, cúp vỏ bỏ đi, lấy hạt cơm sống trong đó mà dùng
(Phạn trung hữu cốc, khử bì thực chi).
Như vậy, ông kỹ sư
kia là một Phật tử thuần thành đang áp dụng lời Phật dạy vào trong cuộc
sống của mình đó chứ?
Ông kỹ sư không
phải tiếc cái đinh vít mà tiếc công lao có mặt của cái đinh. Cái đinh ấy
là công lao của rất nhiều người mà không phải một người và rất nhiều vật
liệu có mặt trong đó, chứ không có một cái đinh nào đơn thuần mà có mặt
cả, nên nó phải được đem sử dụng có lợi ích mà không thể phí phạm.
Cũng vậy, Đức Phật
có tiếc gì một hạt lúa nằm trong tô cơm, nhưng trong bát cơm có hạt lúa,
thì không được vứt nó đi mà phải lượm nó lên, bóc vỏ bỏ đi lấy lọm mà
ăn, là vì Ngài trân quý công lao của người lao động, công lao có mặt của
hạt lúa và hạt cơm. Bát cơm ta đang ăn và hạt lúa trong cơm ta đang bóc
vỏ để ăn là công lao của bao nhiêu người, của bao nhiêu loài, bao nhiêu
nhiên liệu và bao nhiêu thời gian, mới có thể hình thành cho ta hạt lúa,
hạt cơm ấy, nên hạt cơm, hạt lúa ấy phải được sử dụng cho đúng với công
lao của nó mà không nên phí phạm.
Ta phí phạm đối với
cái gì là do ta không thấy công lao ở trong cái ấy, nên ta sống vô ơn và
thiếu thủy chung đối với nó.
Trong cuộc sống, ta
muốn biết ơn những cái lớn, ta phải thấy công lao từ những cái nhỏ; và
nếu con người mình sống có thỉ chung, thì ta đã có thỉ chung ngay trong
những cái nhỏ, trong những việc nhỏ.
Tôi nói với anh tài
xế, nếu đất nước có phước, thì đất nước mình sẽ có được nhiều kỹ sư như
vậy, và anh rất có phước, anh mới làm tài xế cho những vị kỹ sư ấy.
Bởi lẽ, cái đinh
vít mà ông kỹ sư còn quý đến như thế, huống gì là anh?
Anh tài xế mắt sáng
lên, nhoẻn miệng cười và chào tôi tạm biệt!
TỪ NƠI CÁNH TAY TÔI
Bạn đứng cùng phía
với tôi, cánh tay phải của tôi là phía phải của bạn; bạn đứng đối diện
với tôi, cánh tay phải của tôi là phía trái của bạn.
Vậy, phải và trái
có phải là nơi cánh tay tôi hay từ nơi thế đứng của bạn?
Nên, bạn hãy thấy
mọi giá trị của cuộc đời từ nơi cánh tay tôi và từ nơi cánh tay bạn để
cẩn thận và chín chắn trong việc nói năng và hành xử.
KHÔNG CHÚT GỢN XAO
Ngày hôm nay sẽ là
ngày hôm qua của bạn và đã từng là ngày mai của bạn. Và ngày mai của bạn
là ngày hôm nay.
Quá khứ, hiện tại
và tương lai của cuộc đời ta là vậy, chúng chẳng có biên giới nào cả.
Chúng chỉ là những ý niệm sinh diệt liên tục và trôi nổi bồng bềnh trên
tâm thức ta.
Thời gian chỉ là
trò chơi của ý niệm và không gian chỉ là những ý niệm của tâm thức kỳ
thị.
Bạn hãy đứng về
phía tôi, tôi nói bên này là bên phải, thì cũng chính là bên phải của
bạn, tôi nói bên kia là bên trái, thì cũng là bên trái của bạn.
Nhưng, bạn hãy đứng
đối diện với tôi, thì tức khắc phía phải của tôi là phía trái của bạn và
phía trái của tôi là phía phải của bạn. Và ngược lại, phía phải của bạn
là phía trái của tôi và phía trái của bạn là phía phải của tôi.
Vậy, ta nên đứng về
một phía để cùng nhau nói chuyện hay ta nên đối diện nhau?
Nếu ta cùng nhau
đứng về một phía để nói chuyện, câu chuyện của ta có vẻ đơn điệu và càng
lúc càng lạt nhách, và ta đứng đối diện nhau để nói chuyện thì câu
chuyện của ta càng lúc càng trở nên gay cấn.
Bởi vì phía ta là
phải, thì phía đối lập của ta là trái, phía ta là trái thì phía đối lập
của ta là phải, và ngược lại cũng vậy.
Vậy, phải trái có
phải do thế đứng của ta trong không gian để nhìn đối tượng không nhỉ?
Nên, không gian
cũng chỉ là những ý niệm bồng bềnh nổi lên chìm xuống của tâm thức. Và
đúng sai, phải trái của đời ta cũng đi theo hướng ấy, mà luân lưu và lận
đận với gió bụi cuộc đời. Được mất, khen chê của ta giữa cuộc đời gió
bụi cũng lắm nỗi truân chuyên!
Ta hãy ngồi yên để
cát bụi thời gian trong tâm ta lắng xuống và ý niệm không gian theo mây
gió bay đi, thì ta đứng với ai, dù cùng phía hay đối diện, dù bên phải
hay bên trái, tất cả đều là sự tĩnh tại của dòng tâm tươi mát, trong
ngần, mọi hiện hữu tha hồ soi bóng mà dòng tâm ấy chẳng có chút gợn xao!
NỖ LỰC
VÀ ĐỊNH HƯỚNG NÀO?
Sự học không có
ngằn mé và nhu cầu học hỏi là nhu cầu của sự hiểu biết, nó đã trở thành
một đời sống tinh thần có giá trị hết sức cao quý của con người.
Ta học tập để có sự
hiểu biết, để có khả năng phân biệt được chánh tà, chân ngụy, đúng sai,
thiện ác để nỗ lực dẹp tà, khử ngụy, trừ sai và diệt ác. Nhưng, ta nỗ
lực học tập mà ác trong ta càng ngày càng tăng; tà trong ta càng ngày
càng lắm; ngụy trong ta càng ngày càng phát triển và những sai lầm trong
ta càng ngày trở nên trầm trọng, thì sự học tập của ta đã trở thành nguy
hiểm, đem lại tai họa cho ta, cho gia đình và xã hội của ta.
Định hướng cho sự
học của ta là để có sự hiểu biết và sống đẹp mà không phải mưu cầu danh
lợi, địa vị và quyền bính. Định hướng học tập của ta như vậy là định
hướng đúng. Ta đi theo định hướng này, thì cái chánh trong ta càng ngày
càng hiển lộ; cái chơn trong ta càng ngày ngày trở nên hiện thực; cái
đúng trong ta càng ngày càng trở nên toàn hảo và cái thiện trong ta càng
ngày càng trở thành cuộc sống của ta.
Nếu ta nỗ lực học
tập mà chệch định hướng này, càng học càng đưa ta đi tới những khôn
ngoan vụn vặt và tội lỗi, và rồi ta sẽ bất mãn đối với tất cả. Và trong
xã hội cực kỳ văn minh, người ta cũng chỉ đủ khả năng để đáp ứng được
những nhu cầu lòng tham của những chàng chăn trâu, mà không bao giờ đáp
ứng nổi nhu cầu tham lam của người có học; và trong xã hội người ta có
thể dập tắt được cơn giận của người ngu, nhưng khó dập tắt lòng hận thù
của những người có học mà tham lam và chấp ngã.
Nên, nỗ lực học tập
là tốt, nhưng định hướng sai cho nỗ lực ấy, dẫn ta đến những thảm trạng
khốn cùng và bi đát cho ta và xã hội.
LẤY LẠI CHỦ QUYỀN
Có người đã hỏi
tôi, Thầy làm nghề gì để sống? Tôi cười và nói: Tôi có nghề đi thiền và
ngồi thiền, các anh có thuê tôi đi thiền và ngồi thiền không?
Họ nói: Đi thiền và
ngồi thiền thời đại này ai thuê làm gì.
Tôi hỏi: Thời đại
này là thời đại nào hả các anh? Có phải là thời đại mà con người không
còn niềm tin ở nơi người khác và ngay cả chính mình nữa không các anh?
Có phải là thời đại mà con người trở thành những vật vô cảm, sống nhờ
quảng cáo, tuyên truyền và lệ thuộc vào điện tử không các anh?
Trong thời đại con
người sống bằng những ảo giác điện tử, có những người cũng bỏ tiền thuê
những người ngồi thiền và đi thiền để quay phim, nhiếp ảnh, quảng cáo,
tuyên truyền và ngay cả phim ảnh nghệ thuật nữa đó chứ!
Trong các phim
truyện Trung Quốc, người làm phim đã thuê các nghệ sĩ giả làm hòa
thượng, giả làm Phật để ngồi thiền đó, các anh không thấy sao?
Không có thời đại
nào là thời đại hoàn hảo và không có thời đại nào là thời đại đang thách
thức với chúng ta, chỉ có tâm hư ngụy, dối trá, muốn toàn quyền phát
triển là bất hạnh cho đời sống của chúng ta và xã hội mà tất cả chúng ta
đang lâm trận.
Nên, việc đi thiền
và ngồi thiền để lấy lại chủ quyền cho chính ta là điều hết sức cần
thiết trong thời đại này phải không các anh nhỉ?
ĐỪNG BÁM VÍU
Trong đời sống, ta
đừng bám sát bởi bất cứ cái gì, dù cái đó ta thích nhất. Không bám sát
không phải ta thiếu thủy chung, mà không bám sát là để cho cái đó tự do
phát triển, tự do sáng tạo, thích ứng với mọi môi trường mà nó hiện hữu,
khiến cho nó đóng góp vào sự hiện hữu của nó một cách hữu ích.
Và ta đừng nên bám
sát bởi bất cứ một cái gì mà ta yêu thích, vì cuộc sống tự nó là đổi
thay. Ta cố gắng không thay đổi, thì chính tự nó cũng đổi thay. Nó đã
đổi thay trong từng khoảnh khắc của sự sống.
Nên, trong đời
sống, ta muốn có thanh thản và tự do thì ta đừng bám víu tiền bạc, vì
tiền bạc không phải là tất cả của hạnh phúc. Tiền bạc làm ta mất tự do
hơn là có tự do. Tiền bạc là để giúp ta giải quyết đời sống có điều kiện
mà không phải giúp ta hạnh phúc và tự do.
Lại nữa, ta đừng
bám víu vào danh vọng và quyền lực. Những cái đó không phải là hạnh phúc
và tự do, nó chỉ làm cho ta mất tự do và hạnh phúc.
Danh vọng và quyền
lực chỉ có thể giúp ta dễ kiếm ra tiền bạc, nhưng thường làm cho ta lo
lắng, mất hạnh phúc và tự do.
Trong cuộc sống,
bạn phải biết tôi luyện tất cả khả năng trong đó có khả năng không bám
víu, để trở thành một người giàu có tài sản và tâm hồn.
Bạn có khả năng làm
ra tài sản, nhưng bạn không có khả năng buông bỏ nó làm sao bạn có nhân
cách và tự do, và làm sao bạn có được một tâm hồn khoáng đạt đối với mọi
người, cũng như làm sao mà bạn có được một tầm nhìn xuyên suốt?
Trong cuộc sống,
mọi chuyện đến với bạn dù tốt hay xấu, dù thuận hay nghịch, dù hạnh phúc
hay khổ đau, dù ràng buộc hay tự do, bạn hãy đem khả năng không bám víu
của bạn mà tiếp nhận và ứng xử.
Bạn không nên quá
vồn vã với những cái mà bạn cho là như ý, và cũng không nên quá lạnh
nhạt đối với cái mà bạn cho là không như ý.
Bạn hãy đối xử một
cách trầm tĩnh và lịch sự đối với những gì như ý và không như ý đến với
bạn bằng tâm không bám víu, bạn sẽ có tự do và hạnh phúc, và chắc chắn
bạn sẽ thành công nhiều mặt trong cuộc sống.
Điều ấy, không phải
là lý thuyết mà là một sự trải nghiệm!
KHÔNG PHẢI THÌ ĐỪNG LÀM
Làm vua của một
nước nghèo, vua đừng ăn mặc sang trọng, đừng sinh hoạt ở trong cung điện
nguy nga, nên sống giản dị mà cao khiết, sống gần dân mà đức vua càng
lúc càng sáng, quyết đoán quốc sự thì nhanh chóng rõ ràng, sẵn sàng ban
ân huệ cho những ai có công tâm với đại sự, đẩy xã tắc qua một bên. Ai
làm vua của một nước nghèo như thế, thì nước không bao lâu trở nên cường
thạnh, dân không bao lâu trở nên phú cường, xã hội tự an bình, đức của
vua vô cầu mà tỏa sáng giữa muôn dân và rạng ngời trong lịch sử.
Làm vua mà như vậy,
thì ân của vua, dân nào dám quên, chiếu sắc của vua, ai mà không dám thi
hành.
Trái lại, thì làm
vua một ngày là dân khổ một năm, làm vua một tháng dân khổ mười năm và
làm vua một năm dân khổ nhiều thế hệ mà quốc gia tụt hậu cả trăm năm.
Làm vua mà thế, thì
thôi xin đừng!!!
DÙ CÒN MỘT CHÚT
Trong đời sống, ta
có quá nhiều suy nghĩ riêng tư, thì ta có nhiều lo lắng và phiền
não.Trái lại, ta không có những suy nghĩ riêng tư, thì ta không có lo
lắng và phiền não; và nếu ta còn có một chút suy nghĩ riêng tư, thì ta
còn có một chút lo lắng và phiền não.
Nên ta biết rằng,
người nào có đời sống không riêng tư, người đó đạt tới sự thảnh thơi và
an lạc ngay trong đời sống này mà không phải sau khi chết.
Vậy, trong cuộc
sống của chúng ta, có mấy người không có suy nghĩ riêng tư?
Và còn có một chút
riêng tư, sao gọi là người có chí lớn? Sao gọi là người có hiểu biết
lớn? Sao gọi là người có tâm hồn lớn? Và sao gọi là người có sự bình
đẳng với muôn loài?
Nên, còn một chút
suy nghĩ riêng tư là còn một chút phiền não và cả đám phiền não đứng chờ
chực từ nơi một chút phiền não ấy để bốc lên, đẩy xô đời sống của ta đi
mãi hoài trong cát bụi.
GIÀNH!
Đời sống con người,
ta đang giành giựt nhau để có những thế đứng trong xã hội và vị trí đứng
trong xã hội càng cao là càng tốt.
Và phần nhiều người
ta đã lãng quên giành một vị trí để đứng ở trong tâm mình.
Thế đứng của ta
trong xã hội càng cao, thì vị trí của ta trong tâm càng bị xóa nhòa.
Tại sao thế? Không
sao cả. Hắn là vậy. Hắn là kết quả của giành!
LÊNH ĐÊNH
Có nhiều Tăng sinh
nói với tôi, vì chúng con theo Thầy, nên sự học hành của chúng con bị
lênh đênh. Nhưng chúng con chấp nhận. Chúng con chấp nhận lênh đênh theo
khí tiết mà không chấp nhận lênh đênh theo chữ nghĩa!
Tôi nói: Ta tu hành
mà lênh đênh theo chữ nghĩa, để có một cái gì đó, theo tên gọi của đời
thường, thì chẳng khác nào ta đang dõi theo ánh trăng già sắp rơi xuống
núi, đó không phải là ước nguyện mà là phản bội.
Và ta tu hành mà
lênh đênh theo khí tiết, dù khí tiết chưa thành, nhưng ta cũng đã trở
thành nhân. Ta bưng cơm ăn, nước uống không thẹn với trời đất, đi đứng
nằm ngồi trong cõi thiền môn, không ngại với hộ pháp thiện thần; nói
cười không thẹn với người chung quanh.
Vậy, ta lênh đênh
theo khí tiết, chẳng khác nào gốc mai già chịu cơn giá rét giữa mùa
đông.
Nên, ta lênh đênh
theo khí tiết, là vì đại nguyện tu hành. Vì khí tiết tu hành mà lênh
đênh là một điều thú vị và ta đã thành công ở nơi sự lênh đênh ấy. Quý
vị hãy mở to đôi mắt ra mà nhìn khắp cả mười phương và ba đời, chứ đừng
nhắm mắt lại để nước cuốn theo dòng!
Xin cảm ơn quý vị!
GIẶC CỦA THIỀN ĐỊNH
Ngồi thiền là ta có
cơ hội ngắm nhìn những ý niệm chìm nổi bồng bềnh trong dòng tâm thức của
ta.
Ta chỉ có thái độ
ngắm nhìn mà không có thái độ tiếp viện, đồng lõa hay đối kháng.
Ta phải nhẫn nại và
đủ can đảm ngồi ngắm nhìn nó mỗi ngày, rồi ta sẽ thấy rất thú vị khi nó
chìm xuống hay nổi lên, hay đang lênh đênh bềnh bồng vô định trong dòng
tâm thức của ta. Và ta càng nhìn kỹ, thì sự chìm xuống, nổi lên và trôi
bồng bềnh của những ý niệm trong dòng tâm thức ta càng lúc càng yếu dần
và mất hẳn. Và chúng không còn có khả năng gây trở ngại sự định tâm của
ta.
Bây giờ ta có năng
lượng định tĩnh của tâm một cách tự nhiên mà không cần tác ý.
Vì tác ý thì không
còn định tâm, ngay cả tác ý thiện trong lúc đang thiền tập là không cần
thiết.
Trong lúc ta đang
thiền tập, mà ta có tác ý đối với điều thiện, thì sự tác ý ấy cũng là
bất thiện đối với ta. Vì nó đang đẩy tâm ta chệch hướng đối với đề mục
mà ta đang tập trung.
Cũng vậy, cha mẹ
rất thương con và luôn luôn ôm con vào trong lòng của mình, nhưng khi
cha mẹ đang tập trung tâm ý vào một vấn đề để giải quyết, có tính cách
nghiêm trọng đối với vận mệnh sống còn của gia đình, nếu người con xuất
hiện trong thời điểm ấy, cha mẹ sẽ không để ý, hay đuổi nó đi chỗ khác,
vì nó đang làm trở ngại sự tập trung tâm ý của mình để giải quyết vấn đề
có tính cách sinh tử của gia đình.
Do đó, khi ta tập
trung tâm vào một đề mục để thiền định, thì bất cứ ý tưởng hay hình ảnh
nào xuất hiện trong tâm ta vào thời điểm ấy đều là phi, đều là ma và
giặc cả.
TRỰC TIẾP ỨNG XỬ
Trong toán học, ta
có nhiều công thức để chứng minh tìm ra ẩn số của một bài toán.
Công thức để ta
chứng minh là tam giác đều, khác với công thức ta chứng minh là hình
vuông, hình chữ nhật và hình thang..., và công thức giải phương trình
khác với công thức toán học lũy thừa.
Như vậy, ta có vô
số công thức để giải trình vô số vấn đề qua cách nhìn toán học. Và lại
nữa, mỗi giáo sư toán học, lại có những cách giải trình những vấn đề
theo toán học của riêng mình nữa.
Cũng vậy, ta thực
tập thiền, cũng có công thức của nó, nhưng không nhất định. Vì công thức
thiền tập này có thể đúng cho người này, lúc này mà không đúng cho họ
lúc khác. Và công thức thiền tập này, đúng cho người này thực tập mà
không đúng cho người kia. Và lại nữa, nó đúng cho vùng này lúc này, mà
không đúng cho vùng này lúc khác, và lại đúng cho vùng này, nhưng không
thích hợp với vùng khác.
Nên, thiền không có
bất cứ một công thức nào cho chính nó cả. Thực tập thiền là một công
thức không có công thức.
Thực tập thiền là
thực tập đối diện với tâm mình, để thấy sự linh hoạt, đa thù, vạn biệt
của tâm, mà trực tiếp ứng xử.
Nên, các công thức
thiền tập đang nằm ở trong sách vở hay đang treo ở nơi các thiền viện là
những công thức chết.
Ta học thuộc lòng
những công thức ấy để trở thành những học giả rao giảng về thiền thì
được, nhưng giúp ta ứng xử với tâm ta thì chúng chẳng có hiệu năng gì;
vì chúng là những cặn bã đã bị tâm thức đẩy ra bên lề để trở thành chữ
nghĩa.
Nên, có vị cư sĩ
xin tôi dạy cho phương pháp thiền, tôi nói: "Anh hãy trực tiếp với tâm
anh mà tùy nghi ứng xử, tôi chẳng có phương pháp nào dành riêng cho anh
cả".
Ta nên biết rằng,
mọi công thức kể cả công thức toán học đều là do tâm bày đặt ra, nên
chẳng có cái nào có thực thể cả, chúng chỉ là hư huyễn, nên ta không cần
phải bám víu chúng, ta chỉ cần trực tiếp với tâm để ứng xử mà thôi.
ĂN NHỜ Ở ĐẬU
Có nhiều người than
với tôi rằng: Thầy ơi, mấy chục năm nay con không có nhà để ở, con phải
đi ở đậu nhà người.
Tôi cười và nói: Đố
quý vị, trong thế gian này, ai là người không ăn nhờ ở đậu? Người thì ăn
nhờ kiểu này; người thì ăn nhờ kiểu khác; người thì ở đậu kiểu này;
người thì ở đậu kiểu khác, nên quý vị mặc cảm làm gì cho mệt cái tâm!
Trong thế gian này,
có cái gì là cái của mình đâu, ngay cả cái thân này nó cũng không phải
là của mình nữa, huống gì là cái nhà và bữa ăn.
Tâm là ngôi nhà
đích thực của mình, thế mà có mấy ai chịu ở trong ngôi nhà ấy đâu, người
ta phần nhiều thích ở đậu nơi những ngôi nhà bằng gạch, ngói, xi măng,
cột sắt đó mà!
Nên, khi nào quý vị
được ở trong ngôi nhà tâm linh của quý vị, được sử dụng và tự do tiêu
xài những báu vật trong ngôi nhà ấy, thì lúc ấy quý vị mới hết mang
tiếng là kẻ "ăn nhờ ở đậu". Và nếu không, dù quý vị được pháp lý xã hội
công nhận quyền sở hữu nhà cửa và sử dụng đất đai, nhưng thực chất quý
vị cũng chỉ là kẻ "ăn nhờ ở đậu" thôi à!
Ngày xưa, Phật hỏi
chú bé Tô Đà Di rằng: Nhà con ở đâu? Chú bé trả lời: Bạch Thế Tôn! Ba
cõi không đâu không là nhà.
Tuy mới sáu, bảy
tuổi đầu, nhưng chú bé Tô Đà Di đã có cái nhìn độc đáo, cái biết thẳm
sâu, chúng ta hãy cám ơn chú và học tập những hiểu biết ấy từ chú, để
ứng dụng vào đời sống thực tế của chúng ta, để đời sống của ta thật sự
nhẹ nhàng!
SỰ BÌNH AN ĐÍCH THỰC
Vì chấp ngã, nên
làm cái gì ta cũng nghĩ đến cái lợi riêng tư. Bởi vậy, ta nỗ lực làm cho
đúng mà nó vẫn sai, ta cố gắng nói cho hay mà nó vẫn dở, ta cố gắng sống
cho đẹp mà nó vẫn xấu.
Sai, dở và xấu là
do từ sự chấp ngã của ta, chứ không phải do người khác hay do cuộc đời.
Và một người không
chấp ngã, nhìn họ làm ta thấy đã hay, huống chi nghe họ nói, nhìn họ
sống ta thấy đã thích, huống chi được sống với họ.
Sống và làm việc
với người không chấp ngã, là ta đang hoạt dụng trong thực tại bình yên.
Nên, sự thanh cao
của ta không phải do mọi người xưng tụng; và sự bình an của ta không do
từ tiền bạc và quyền lực bảo hộ, mà do đời sống của ta không có ý niệm
riêng tư.
Chân lý của sự
thanh cao và bình an là vậy, và muốn đạt được như vậy, ta phải làm cho
trống rỗng mọi ý niệm riêng tư trong ta.
TA LÀ TÁC GIẢ
Tôi đã từng chia sẻ
với nhiều người rằng: Nếu ta sinh ra từ những gốc rễ không tốt, thì
chính ta phải biết nỗ lực tu tập, phải biết tinh cần trau dồi những đức
tính của trí tuệ và từ bi, để tự cứu lấy bản thân mình, cứu lấy gia đình
và dòng họ của mình, chứ không nên trông chờ vào ai.
Và nếu ta sinh ra
từ những gốc rễ lành mạnh tốt đẹp, mà ta không biết nỗ lực tu tập, không
biết làm cho đức tính trí tuệ và từ bi sáng thêm trong ta, mà lại còn
làm cho chúng mờ đi và tắt hẳn, thì chính ta là kẻ phản bội lại chính
mình, phản bội lại cha mẹ, tổ tiên dòng họ nội ngoại của mình chứ không
ai khác.
Nên, tai họa và
phước đức, khổ đau và hạnh phúc của đời ta, chính ta là tác giả, chứ
không phải là ai. Và nếu có, chỉ là sự yểm trợ mà không phải là tác
nhân.
HƯ HỎNG VÀ LẮM CHUYỆN
Lý tưởng của bạn là
có mặt ở nơi tâm của bạn, chứ không phải có mặt nơi người khác hay giữa
cuộc đời.
Tâm của bạn đã tạo
ra một mẫu người lý tưởng cho bạn tin tưởng và tôn thờ; tâm của bạn đã
tạo ra cho bạn một việc làm có lý tưởng để nhiệt tình.
Nên, mẫu người ấy,
việc làm ấy, chính là bạn mà không phải là người khác và cái khác.
Và người khác, tâm
của họ cũng tạo ra một mẫu người lý tưởng để cho họ tin tưởng và tôn thờ
chứ không phải là bạn, và tâm của họ cũng tự tạo ra một việc làm lý
tưởng cho họ mà không phải ai khác.
Như vậy, con người
lý tưởng hay việc làm lý tưởng đều ở nơi tâm của mỗi chúng ta.
Nên, trong đời sống
ta bị thất vọng và mất hướng là vì lý tưởng của ta đã vắng mặt trong tâm
ta, và đối tượng mà do tâm ta lý tưởng hóa, nó cũng đã biến dạng theo
cách biến dạng của chính nó, mà không phải là của tâm bạn.
Bởi vậy, bạn phải
biết nuôi dưỡng lý tưởng của bạn ngay nơi tâm của bạn mà không phải nơi
đối tượng do tâm của bạn lý tưởng hóa.
Do đó, bạn phải
thực sự có mặt trong tâm của bạn mỗi ngày để chăm sóc lý tưởng của bạn
bằng tuệ giác quán chiếu. Nếu không, bạn sẽ mất lý tưởng, dù bạn là
thành phần nào trong xã hội, rồi cũng sẽ trở thành người hư hỏng và lắm
chuyện!
CÓ ĐỦ HAI KHẢ NĂNG
Sống ở đời, ta phải
biết cách làm ra tiền, nhưng không phải chạy theo và lệ thuộc nó. Vì
chạy theo và lệ thuộc nó thì ta là tiền mà không phải là ta nữa.
Và như vậy, là
những tệ hại trong đời sống sẽ xảy ra cho ta.
Ta đủ khả năng làm
ra tiền, đã có khả năng không chạy theo và lệ thuộc nó, đó là những chất
liệu quý trong đời sống của ta, nhưng chưa đủ; mà ta còn phải có khả
năng làm chủ để sử dụng tiền, chứ không để tiền làm chủ ta.
Ta có khả năng làm
ra tiền, nên ta không sử dụng tiền như một người nghèo hay một người
giàu mà bần tiện và lại càng không sử dụng tiền như những con người ăn
chơi ba hoa, hay như những người kế thừa tài sản từ người khác mà không
phải từ chính khả năng của mình tạo ra. Ta phải có khả năng sử dụng tiền
ta làm ra để tạo thành phước đức cho ta và cho những người chung quanh.
Nên biết rằng, ta
có phước đức lớn, ta mới có khả năng làm ra tiền, nhưng ta không có khả
năng sử dụng tiền, thì chính nó quét sạch hết thảy phước đức của ta, và
tai họa đến với ta là chuyện không thể nào tránh khỏi.
Do đó, đối với
tiền, ta phải có đủ cả hai khả năng.
HẮN CẮN CHẾT
Trưa nay, ngày
20/07/Nhuận, Bính Tuất, tức là ngày 12/09/2006, trong giấc ngủ trưa, tôi
nằm mơ thấy cây Bồ đề thời đức Phật ngồi tham thiền và thành đạo.
Trong giấc mơ, tôi
thấy thật thích thú, nên ngay trong giấc mơ tôi đã làm bài thi kệ cảm
hứng như sau:
世
尊
未
成
道
菩
提
樹
不
生
世
尊
成
道
已
菩
提
樹
不
滅
若能
如
是
見
是
見
現
前
佛
Âm:
Thế Tôn vị thành
đạo
Bồ đề thọ bất
sinh
Thế Tôn thành
đạo dĩ
Bồ đề thọ bất
diệt
Nhược năng như
thị kiến
Thị kiến hiện
tiền Phật.
Nghĩa là:
Thế Tôn chưa thành
đạo
Cây Bồ đề không
sinh
Thế Tôn thành đạo
rồi
Cây Bồ đề không
diệt
Nếu thường thấy như
vậy
Là thấy Phật trước
mắt.
Khi thức dậy, tôi
vẫn nhớ rõ ràng bài thi kệ cảm hứng ấy, thì một tư tưởng trong tôi liền
hiện lên, thi kệ ấy của mình, một tư tưởng khác xuất hiện lại bảo: Không
phải đâu, hắn cắn chết!
Đúng, hắn cắn chết,
nếu mình cho giấc mộng là mình và cõi mộng là cõi của mình!
THẬT TỘI NGHIỆP
Có anh chàng thường
làm việc nơi môi trường dơ bẩn, áo quần lâu ngày không thay, nên mỗi lần
anh đi tới tiếp xúc với ai, thì người ta nhăn mặt và chịu không nổi, anh
ấy biết chuyện nhớp của mình, nên liền đi thay áo quần, rồi lại đến tiếp
xúc và nói chuyện với người, nhưng người ấy nói chuyện với anh ta mấy
phút mà nhăn mặt đến mấy lần.
Anh này nói, tôi
xin lỗi anh, tôi đã thay áo quần rồi. Người kia nói, anh thay áo quần
đâu đủ để hết mùi hơi khó chịu nơi anh, anh nên đi tắm rửa đi, họa may
mới hết.
Anh này nghe nói
vậy, liền đi tắm. Và sau đó đến tiếp xúc lại, thỉnh thoảng mùi hôi khó
chịu trong anh bay ra, khiến người kia, tuy ngồi nói chuyện, nhưng thỉnh
thoảng nhăn mặt. Xin lỗi anh, tôi đã thay quần áo và tắm rửa rồi mà.
Người kia nói, thay đổi áo quần và tắm rửa chưa đủ để anh hết hôi đâu,
vì môi trường anh làm việc bị hôi hám lâu ngày, không khí ô nhiễm ấy nó
xâm nhập vào trong máu và thân thể của anh, nên anh muốn tiếp xúc với
mọi người để thân thiện với họ, không phải anh chỉ thay đổi áo quần hay
tắm rửa khi đi ra với người, mà anh phải thay đổi môi trường và thay máu
trong anh thì họa may khi tiếp xúc với mọi người, không bị mọi người
nhăn nhó, và mọi người mới ngồi nói chuyện với anh và giúp anh, may ra
anh mới có bạn bè.
Người này nói, thay
áo quần, tắm rửa, thay đổi môi trường có thể khắc phục, còn thay máu làm
sao mà thay, thay máu là chết sao?
Người kia nói, thay
máu không chết, vì thời đại khoa học hiện đại mà, chính không thay máu
mới chết, vì máu của bạn đã bị nhiễm độc bởi môi trường.
Người này nói, biết
vậy nhưng tôi không có quyền gì cả, tôi phải về hỏi ý kiến vợ, nếu vợ
cho phép, thì tôi thay máu và xin anh giúp tôi nhé!
Người kia chíp môi,
thở dài và nói thật tội nghiệp, rồi lại nói, thay máu trong người của
anh, khoa học ngày nay còn có khả năng giúp anh, nhưng thay đổi tâm anh
cho hết hôi hám, thì phải chính anh mà khoa học thì không thể.
Người này nói, thay
máu hay thay tâm gì, tôi cũng muốn cả, nhưng tôi không có quyền làm.
Thật tội nghiệp!
CÁI NHÌN MỚI
TRÊN CON ĐƯỜNG
Bạn sợ đi con đường
mới lắm phải không? Không hề gì. Trong thế gian này, chẳng có con đường
nào mới cả. Con đường mới, chỉ là sự nối tiếp của con đường cũ đó mà
thôi.
Nghĩa là từ nơi con
đường cũ, người ta lại tiếp tục mở ra một con đường khác và từ nơi con
đường khác, người ta lại tiếp tục mở thêm một con đường khác nữa, cứ như
vậy mà ta có nhiều con đường.
Nhưng, dù là con
đường mới nào cũng chỉ là tiếp tục những con đường cũ.
Khi nào bước chân
bạn đi với tâm không kỳ thị, không phân biệt đối xử, không thủ lợi cho
cá nhân và phe nhóm, đó là bạn đang đi trên con đường mới, dù con đường
ấy hôm qua bạn cũng đã từng đi.
Bạn nên biết, thế
gian không có con đường mới, chỉ có đổi mới tâm bạn, để bạn có cái nhìn
mới trên con đường.
THẢNH THƠI VÀ MỈM CƯỜI
Bạn hãy đưa đôi mắt nhìn sâu vào một người có đời
sống tồi tệ nhất, để thấy rõ những tính chất tồi tệ trong họ là hoàn
toàn không có thật, nó có thể thay đổi, nếu nó ở trong một môi trường
tốt, lại được sống và chơi với những người bạn hiền lành và thông minh,
thì những cái tồi tệ của người ấy sẽ được thay đổi.
Bạn phải biết cách
nhìn và phải phát hiện cho được những tính chất thánh thiện ở nơi con
người tồi tệ ấy, thì cái nhìn của bạn mới là cái nhìn của con người độc
đáo, và tình thương cũng như tính bao dung của bạn từ đó mới phát sinh,
để bạn vui sống và yêu đời.
Con người mà hôm
nay, bạn cho là tồi tệ nhất, biết đâu ngày hôm qua họ từng là con người
dễ thương và thánh thiện nhất, và biết đâu ngày mai họ cũng sẽ dễ thương
và thánh thiện trở lại như ngày hôm qua ấy.
Tôi đã từng nói với
mấy anh Công an rằng; cũng một con người đó mà ngày hôm qua xấu, ngày
nay tốt; cũng một con người đó mà sáng xấu chiều tốt và cũng một việc
làm đó mà sáng đúng chiều sai; ngày hôm qua sai, ngày nay đúng. Nên, có
gì đâu mà ta bận rộn với đúng sai, xấu tốt!
Vậy, bạn hãy luyện
tập để đủ can đảm và có tầm nhìn không chướng ngại, khiến bạn thấy được
cái tốt nhất nơi con người xấu nhất ấy.
Bấy giờ bạn mới
thảnh thơi và mỉm cười với cuộc sống!
NHÂN DUYÊN VÀ TỈNH GIÁC
Ta có nhân duyên về
tụng kinh, lạy Phật, ngồi thiền hay niệm Phật, hoặc bố thí, cúng dường,…
đó là những nhân duyên tốt, nhân duyên ấy phải được ta chăm sóc và nuôi
dưỡng, nếu không, chúng sẽ bị thay đổi.
Ta có nhân duyên về
đánh bạc, uống rượu, săn bắn, đua xe, viết những kịch bản phim ảnh, nghệ
thuật, văn nghệ, điều khiển công sở, sử dụng hành chánh hay tin học,…
nên ta đã sử dụng những thứ đó rất sành điệu và tự nhiên.
Tuy nhiên, trong
đời sống của ta không có nhân duyên nào cố định cả. Nhân duyên đến với
ta từ nhiều điểm của không gian và từ nhiều đơn vị cực tiểu của thời
gian.
Nhân duyên có thể
làm thay đổi tâm tính, tướng trạng, hoàn cảnh và quả báo xấu tốt của ta.
Nhân duyên không
phải là định mệnh, nhân duyên là những gì đang có mặt trong ta và chung
quanh ta, chúng hết sức sống động và có thể thay đổi từ một dạng nhân
duyên tốt sang một dạng nhân duyên xấu và ngược lại.
Nên, những gì bất
hạnh đến với ta cũng từ nhân duyên và những gì may mắn đến với ta cũng
từ nhân duyên.
Biết những gì bất
hạnh đến với ta từ nhân duyên, nên ta không tạo nhân duyên để cho bất
hạnh sinh khởi.
Nhân bất hạnh là
những tham dục, giận hờn, ngu muội, kiêu mạn và cố chấp trong ta và
duyên bất hạnh là hàng ngày ta tiếp xúc với thầy tà, bạn ác, với hình
sắc lố lăng, bạo động, với âm thanh ủy mị, dối gạt, với lời lẽ tranh
chấp, thị phi,… chính những duyên ấy, làm sinh khởi những bất hạnh trong
đời sống của ta.
Nhân may mắn là
tính không tham đắm, tâm không giận hờn hay không đố kỵ trong ta, lòng
không thiên ái, không phe nhóm và chí cương trực trong ta, và duyên may
mắn là ta tiếp xúc với thầy hiền, bạn tốt, với những hình sắc đoan
chánh, từ ái, với âm thanh tao nhã, lời lẽ chân thật, sống đời vô tranh,
không quan tâm đến những điều thị phi,… chính những duyên ấy làm sinh
khởi những may mắn trong đời sống của ta, trong hiện tại và cả tương
lai.
Nhân duyên làm sinh
khởi bất hạnh cho ta, không phải một lần mà nhiều lần và cũng có thể
tiếp diễn liên tục, nếu ta không biết tạo ra những nghịch thượng duyên,
để có tác dụng làm thay đổi nhân duyên bất hạnh ấy.
Và nhân duyên làm
sinh khởi may mắn cho ta, không phải diễn ra trong đời ta một lần, mà
nhiều lần, và cũng có thể tiếp diễn liên tục, nếu ta biết tạo ra những
tăng thượng duyên thuận với nhân duyên may mắn ấy.
Đối với những nhân
duyên bất hạnh sinh khởi liên tục trong ta, ta không khởi tâm khiếp đảm,
hay tránh né chúng, mà ta phải có can đảm chấp nhận chúng với tất cả sự
tỉnh giác của ta, và ta phải kiên trì tỉnh giác đối với chúng trong tất
cả mọi trường hợp, gồm cả hai mặt không gian và thời gian.
Đối với không gian,
ta phải biết nó đến với ta từ đâu, từ nội duyên hay ngoại cảnh và đối
với thời gian, ta phải biết nó đã, đang và sẽ xảy ra cho ta vào những
thời điểm nào.
Ta thực tập đời
sống kiên trì trong tỉnh giác như vậy, năng lượng tỉnh giác sẽ lớn mạnh
trong ta, giúp ta có khả năng thiết lập những nhân duyên đối kháng một
cách tự nhiên đối với nhân duyên bất hạnh, khiến cho những bất hạnh
trong đời sống của ta khựng lại, giảm dần và tự nó triệt tiêu, chúng
hoàn toàn mất hết hiệu lực, không còn đủ điều kiện để sinh khởi những
bất hạnh trong đời sống của ta.
Khi nhân duyên bất
hạnh không có trong đời sống của ta, thì nhân duyên hạnh phúc có mặt với
ta một cách tự nhiên. Ta phải biết chăm sóc, nuôi dưỡng những nhân duyên
hạnh phúc ấy bằng sự tỉnh giác của ta, khiến chúng tăng trưởng liên tục
trong đời sống của ta trong hiện tại, làm tiền đề cho những nhân duyên
hạnh phúc của ta trong tương lai.
Tiếp xúc với nhân
duyên, ta không thể tiếp xúc bằng đức tin mà phải bằng tỉnh giác.
Tỉnh giác của ta
càng sâu, thì sự tiếp xúc đối với nhân duyên của ta càng tinh tế và sâu
thẳm. Ta có tỉnh giác sâu về nhân duyên bao nhiêu, thì ta có khả năng
đoạn tận những thiên chấp trong ta bấy nhiêu; ta có tỉnh giác sâu về
nhân duyên bao nhiêu thì ta có khả năng đoạn trừ những tri kiến sai lầm
ở trong ta bấy nhiêu; và ta có tỉnh giác sâu về nhân duyên bao nhiêu,
thì ta có khả năng hiện chứng Niết Bàn vi diệu bấy nhiêu.
Nên, nhân duyên bất
hạnh xảy ra đối với ta không làm cho ta khiếp đảm và nhân duyên hạnh
phúc đến với ta không làm cho ta vui thú, mà tất cả đối với ta đều là
những đối tượng hay là những điều kiện giúp ta thiền quán, nhằm thấy rõ
bản chất của vấn đề khiến ta thảnh thơi, tự chủ và an nhiên, tỉnh giác
trước mọi sự sinh diệt, thị phi, thăng trầm, thuận nghịch của cuộc đời.
Phật là tỉnh giác.
Nên, niệm Phật chính là tỉnh giác. Ta niệm Phật càng miên mật, thì sự
tỉnh giác trong ta càng thẳm sâu, và vi diệu, trí tuệ và từ bi trong ta
sẽ bừng sáng, hạnh phúc trong ta vượt thoát mọi thời gian và không gian.
Do đó, pháp môn
niệm Phật là một trong những nhân duyên kỳ diệu của tỉnh giác, làm thay
đổi hết thảy tạp niệm, là nhân duyên làm đẹp chúng sanh và làm thành cõi
Phật.
Nên, ta có nhân
duyên tham thiền để thay đổi nhiễm tâm đã là kỳ diệu, nhưng không kỳ
diệu bằng ta có nhân duyên niệm Phật. Vì niệm Phật là đi thẳng vào tỉnh
giác và sống với tỉnh giác vậy./.
HẠNH PHÚC CHÂN THẬT
Tài sản, sắc dục,
danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ là những thứ rất hấp dẫn đối với ta,
chúng giúp ta cũng nhiều và làm cho ta đau khổ cũng lắm.
Bất cứ cái gì đã
từng làm cho ta hạnh phúc, thì chính nó cũng đã từng làm cho ta đau khổ,
và cái đó không phải là cái tạo ra hạnh phúc chân thật cho ta.
Ta chỉ có hạnh phúc
chân thật, khi nào “thân ta không tật bệnh và tâm ta không phiền não”.
Thân ta có nhiều
tật bệnh, tâm ta có nhiều phiền não, thì ta dù có nhiều tài sản, ta có
sắc đẹp, ta có nhiều quyền uy và lợi nhuận, có nhiều tiện nghi vật chất
để ăn uống và ngủ nghỉ, nhưng ta vẫn không thể nào có hạnh phúc và an
lạc được.
Nên ở trong đời,
người nào có đời sống thân không tật bệnh, tâm không phiền não, người đó
có hạnh phúc chân thật, ngay trong kiếp sống này.
Muốn thân không tật
bệnh, ta phải biết chọn lựa thức ăn để nuôi thân.
Thực phẩm ngày nay
phần nhiều đã bị con người làm nhiễm độc. Nên, nếu ta không biết chọn
lựa thực phẩm để nuôi thân, thì thân ta làm sao mà tránh khỏi bệnh hoạn!
Các bệnh viện Việt
Nam hiện nay không đủ chỗ cho bệnh nhân nằm, không khí của bệnh viện
cũng bị ô nhiễm nhiều thứ. Và bệnh nhân khi đến bệnh viện không phải chỉ
khổ vì bệnh mà còn bị khổ nhiều thứ khác nữa.
Nên, thời đại ngày
nay là thời đại của quảng cáo. Người ta đã quảng cáo đủ thứ, trong đó có
quảng cáo đủ loại thực phẩm, nếu ta không có thông minh để chọn lựa thức
ăn cho thân thể ta, thì ta sẽ bị rơi vào những cạm bẫy của quảng cáo.
Vì vậy, việc chọn
lựa thức ăn cho thân rất cần đến yếu tố của tuệ giác. Nếu ta chọn lựa
thức ăn và ăn thiếu tuệ giác, thân thể ta không thể dẫn sinh sự khinh
an, sự nhẹ nhàng thanh thoát mà sẽ dẫn sinh các bệnh hoạn.
Và mỗi khi thân thể
bệnh hoạn, thì tâm cũng duyên theo đó mà nẩy sinh các thứ phiền não.
Mỗi khi tâm ta đã
có phiền não khởi lên, chúng lại làm cho thân thể ta bệnh hoạn, lại càng
bệnh hoạn thêm.
Bởi vậy, ta phải
biết chọn lựa thức ăn cho thân, để cho thân sống nhẹ nhàng vô bệnh và ta
phải biết chọn thức ăn để nuôi tâm, để tâm ta ở trạng thái nhẹ nhàng,
thanh thoát và vô ưu.
Tâm vô ưu là tâm
không bị những hình ảnh bạo động, hận thù hay mộng mị kích động qua mắt;
không bị những âm thanh bạo động, hay yếu đuối mộng mị kích động qua
tai; không bị những mùi vị kích động qua mũi và lưỡi; không bị những cảm
giác gây mê qua sự kích động của thân và quan trọng hơn hết là không bị
những cảm giác, tri giác, những khái niệm, ý niệm thân thù, khen chê,
vinh nhục, được mất, thắng bại kích động qua ý.
Ta phải biết nuôi
dưỡng tâm ta bằng thức ăn của niềm tin, của hiểu biết, của thương yêu,
của chánh niệm, của thiền định và tuệ giác, khiến cho tâm ta càng ngày
càng vững mạnh trong sự an lạc.
Và chính sự an lạc
ấy, nuôi dưỡng thân thể và tâm hồn của ta, khiến trong đời sống của ta
có sự hạnh phúc chân thật.
Hạnh phúc chân thật
chính là “thân không tật bệnh, tâm không phiền não”. Ai có thân và tâm
như vậy, người ấy có chân hạnh phúc.
SỰ THẬT BIẾN MẤT
Ta không thích nghe
láo, thì sẽ không có sinh khởi người nói láo với ta.
Trong xã hội có
nhiều người thích nghe láo, nên đã nảy sinh ra nhiều người nói láo.
Vua không minh, nhà
vua ấy sẽ là nguyên nhân làm sinh khởi những báo cáo láo của quan. Quan
bất tài làm khởi sinh những báo cáo láo của thuộc cấp; dân bất chính làm
sinh khởi những lời hứa hẹn hão huyền lừa láo của vua, quan.
Vua quan mà lừa láo
đối với dân, đó là ác vương, ác quan; dân mà lừa láo với vua, quan; ấy
là dân bất trị.
Ác vương, ác quan
thì phải gặp dân bất trị và dân bất trị mới gặp ác vương, ác quan.
Vua ác, quan khắc
nghiệt, dân bất trị, điều đó đã phản ảnh một cách trung thực rằng:
Cương kỷ của xã hội
không còn, truyền thống đạo đức xuống cấp, sinh hoạt tâm linh trống
rỗng, văn hóa, văn học còn lại những bài thơ ca nhảm nhí, mộng mị, nhạc
điệu lạc loài. Và con người chỉ còn lại là một con thú hung hản, vô
luân.
Trong xã hội ấy,
cái thực biến mất và cái láo bỗng chiếm địa vị độc tôn, nên từ vua quan
đến thứ dân tha hồ mà nói láo, sống láo với nhau!
GIẤC MƠ ẢO
Làm kiếp con người,
ta đã có nhiều giấc mơ. Có lúc ta mơ trong lúc ta đang thức, nhưng nhiều
khi ta có những giấc mơ khi ta đang ngủ.
Mơ thì lúc nào cũng
rất hấp dẫn. Có lần ta nằm mơ, ta thấy ta có một người thương, hai người
thương, trăm người thương, ngàn người thương, vạn người thương cho đến
cả triệu người thương, những người thương ấy lúc nào và ở đâu cũng vây
quanh ta, ủng hộ ta, tung hô ta, nên trong giấc mơ, ta không còn mơ bình
thường mà ta mơ làm lãnh tụ hay giáo chủ, vì dưới ta có cả triệu người.
Trong cả triệu
người ấy, ai cũng khen ta, ai cũng tung hô ta, ai cũng quý kính ta, ta
mê man giữa triệu lời xưng tụng, bất chợt tiếng sét đánh lưng trời, làm
cho ta giựt mình thức dậy, xung quanh ta chẳng có một người nào, chẳng
có một tiếng nói cười nào của con người mà toàn là những lời giun dế và
những tiếng ve sầu, thiên đàng sụp đổ, chỉ còn lại cát bụi lấm đầy trên
thân!
CHÓ TREO MÈO ĐẬY
Ta có được miếng
thịt mỡ, ta muốn chó không ăn, thì ta phải treo cao và ta muốn mèo khỏi
ăn thì ta phải đậy kỹ.
Nếu ta có miếng
thịt mỡ mà đối với chó ta không treo, đối với mèo ta không đậy, thì
miếng thịt mỡ của ta làm sao mà còn!
Thịt mỡ của ta bị
chó và mèo ăn, ta trách ai, chẳng lẽ ta trách chó và mèo?
ĐƯA VÀO BÓNG ĐÊM
Ta muốn mặt trời
mọc theo cách của ta, đó là một ước muốn điên đảo; đêm rằm ta mong trăng
đừng tròn và sáng, đó là một cầu mong điên đảo; ta mong mưa mà nước đừng
chảy, đó là một sự cầu mong điên đảo.
Những ước mong điên
đảo là những ước mong không bao giờ có thực, không bao giờ xảy ra đúng
như ý của ta.
Ta mơ ước mà điều
ước mơ ấy không thể xảy ra trong đời sống của ta, khiến ta thất vọng và
khổ đau. Ta đau khổ là do tâm ý của ta điên đảo. Cái vô thường, ta cho
là thường; mọi sự hiện hữu là do sự tương quan tương sinh mà ta cho là
nó hiện hữu cá biệt và độc lập; cái tạm thời mà ta cho là vĩnh cửu; sợi
dây mà ta tưởng là con rắn; sóng nắng mà tưởng là nước…, chính những cái
tưởng điên đảo ấy của tâm ý đã dẫn ta đi vào bóng đêm của cuộc sống.
NGÔN NGỮ ĐÁNH BÓNG
Ta không tin tưởng
vào một xã hội công bằng được thực hiện bởi những người có tâm đầy kỳ
thị và cá biệt.
Trong một xã hội mà
con người không còn là người nữa, đạo đức xuống cấp, chủ nghĩa cá nhân,
chủ nghĩa gia đình, chủ nghĩa phe đảng, bè nhóm tự tung, tự tác, ta có
thể nào hình dung ra được chất liệu công bằng xảy ra trong những sinh
hoạt của xã hội ấy?
Công bằng, chỉ là
ngôn ngữ đánh bóng để quảng cáo với những kẻ nhẹ dạ và trẻ thơ mà thủ
lợi là những tên đại bịp!
TRỰC DIỆN
Trực diện với những
bất công xã hội, làm sao ta có thể tìm ra được hạnh phúc?
Hạnh phúc của ta
không phải là tránh né những bất công xã hội để lẫn trốn vào trong một
khu rừng cô tịch mà chính là khi trực diện với những bất công ấy, mà tâm
ta vẫn giữ được khí tiết của con người, sáng trong trong hành sử, điềm
đạm trong lời nói, sâu lắng trong suy tư, vững chãi đi tới với đời, sống
cao đẹp ngay giữa những bất công ấy.
Trực diện với những
bất công của xã hội là để mở ra một con đường thoát cho chính mình và
cho nhiều người; đó là một sự trực diện có ý nghĩa, và chính ý nghĩa ấy
đem lại cho ta hạnh phúc.
Ta tránh né và sợ
hãi đối với những bất công xã hội, làm cho ta phiền muộn và khổ đau bao
nhiêu, thì khi ta có khả năng trực diện đối với những bất công xã hội,
lại làm cho đời sống của ta thú vị và thăng hoa bấy nhiêu!
Trực diện để thấy
rõ những gì đang diễn ra nơi chính mình và chung quanh mình, đó là một
trong những phương pháp thiền quán mà những kẻ yếu vía và hèn mạt thì
không thể nào bén mặt tới được.
ĐỪNG PHÍ
Trong cuộc sống, ta
thường gặp hai hạng người đối với ta, một là khen ta, hai là chê ta.
Khen ta sau lưng là
người bạn tốt của ta và chê ta trước mặt là thầy của ta; chê ta sau lưng
và khen ta trước mặt là giặc của ta.
Và có những khi, ta
thà ngồi yên để nghe những người đối lập thông minh chỉ trích và nguyền
rủa ta vài phút, còn hơn là để cả đời người ngồi nghe những kẻ đồng minh
ngu dốt tưng bốc ta!
KHÔNG DỪNG LẠI
KHÔNG ĐI THEO
Trong kinh Bộc Lưu,
đức Phật dạy: “Như Lai không đi theo dòng chảy, không đứng lại giữa dòng
chảy mà vượt qua dòng chảy”.
Đi theo dòng chảy
ta bị dòng chảy cuốn trôi; đứng lại giữa dòng chảy ta bị dòng chảy xói
mòn và nhận chìm; nên đối với dòng chảy ta không đứng lại, không đi theo
mà cần phải vượt qua, như Đức Như Lai đã vượt.
NGƯỜI HẠNH PHÚC
Hạnh phúc là không
mắc nợ vật chất, tình cảm, oan nghiệp đối với bất cứ ai, đối với bất cứ
cái gì.
Ta không thể gọi
một người mắc nợ là kẻ chiến thắng hay là người hạnh phúc.
Nên, người hạnh
phúc là người không còn bị vướng mắc với bất cứ thứ nợ nần nào!
DÂN ĐẺ VUA
Trong lịch sử phát
triển của loài người, ý thức của con người cá nhân có trước và ý thức
của con người tập thể có sau.
Dân có trước, vua
có sau, dân đẻ ra vua hay chính quyền, chứ không phải vua hay chính
quyền đẻ ra dân.
Thầy Mạnh Tử nói:
“Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Nghĩa là: “Dân là quý, tiếp
đến là xã tắc, vua là tầm thường”.
Thực vậy, không có
vua hay chính quyền, dân vẫn tự mình tồn tại, nhưng nếu không có dân,
thì vua hay chính quyền làm sao có danh xưng, chứ đừng nói là tồn tại.
Phù Vân Quốc Sư đời
Trần đã dạy cho vua Trần Thái Tông rằng: “Dân là gốc, hãy lấy ý dân làm
ý của mình”.
Như vậy, vua hay
chính quyền đều là con đẻ của dân.
Nếu dân hiền, thì
đẻ ra vua thiện hay một chính quyền tốt; nếu dân tham, thì đẻ ra vua ác
và chính quyền bất chính; nếu dân thông minh thì đẻ ra vua tài trí và
chính quyền nhân nghĩa, biết đặt mọi giá trị nhân phẩm vào chính sách an
bình thiên hạ; nếu dân ngu thì đẻ ra vua tà kiến và chính quyền xảo trá,
bạo ngược, chỉ biết giành giựt nhau, để ăn trên ngồi trước, phung phí
của chung, coi thường lẽ phải. Dân hèn sẽ đẻ ra vua hay chính quyền độc
tài.
Nên, ta muốn biết
vua hay chính quyền như thế nào, ta hãy nhìn vào dân và ta muốn biết dân
như thế nào, ta hãy nhìn vào vua hay chính quyền.
Tóm lại, tâm thức
của người dân như thế nào, họ sẽ tạo ra một ông vua, một chính quyền đại
diện cho chính họ là như thế ấy.
Vua là do dân đẻ,
nên dân cũng có quyền không đẻ vua hay dẹp vua nếu thấy cần.
Ở nơi nào người dân
có ý thức và có khả năng thực hiện quyền ấy, là nơi đó có văn minh và
tiến bộ.
BẬC CÓ TRÍ TRONG ĐỜI
Ta muốn thực hiện
tình thương là phải kham nhẫn, ta muốn thực hiện sự hiểu biết, thì ta
cũng phải kham nhẫn.
Kham nhẫn là phép
lạ tạo nên sự hiểu biết và thương yêu của ta đối với mọi người.
Thương người và
hiểu biết con người khó hơn thương và hiểu con vật, thương và hiểu con
vật dễ hơn thương và hiểu con người.
Ta thương con người
là rất khó, nhưng ta rất dễ bị con người phản bội.
Trên trái đất này,
con người phản bội nhau và phản bội luôn cả muôn loài.
Tại sao? Tại vì
tính chấp ngã của con người rất bén nhạy và sâu xa so với muôn vật, nên
con người sẵn sàng phản bội đối với bất cứ ai không ăn ý mình.
Nên, ta muốn thương
ai và hiểu ai, ta phải sẵn sàng chịu đựng mọi sự phản bội của họ.
Ta có khả năng chấp
nhận mọi sự phản bội đối với ta, thì phước đức và trí tuệ mới nẩy mầm
trong đời sống của ta.
Càng nhẫn nhục, thì
phước đức và trí tuệ của ta càng lớn. Và như vậy, một ngày đi qua đời ta
là một ngày thật có ý nghĩa.
BÉ NHỎ VÀ SIÊU TỐC
Đối với thân thể
ta, thì trái đất rất rộng lớn; nhưng đối với tâm thức ta, thì trái đất
hết sức nhỏ nhoi.
Đối với tốc độ của
phản lực cơ, thì tốc độ của ánh sáng cực kỳ vĩ đại, nhưng đối với tốc độ
vận hành của tâm thức, thì tốc độ của ánh sáng vận hành quá chậm chạp và
bê trễ.
Vậy, làm thế nào để
mỗi ngày ta có thể dành hai mươi phút cho sự nhìn ngắm tâm ta, mà cảm
nhận cái rộng lớn vô bờ của tâm và có thể tiếp xúc với tốc độ vận hành
của tâm, khiến cho đời sống của ta trở thành đời sống rộng lớn của tâm
và những ứng xử của ta cũng bén nhạy, nhanh chóng và siêu việt như tâm,
để bất cứ ở đâu và lúc nào, đời sống của ta là cái rộng lớn, bén nhạy và
siêu việt.
ĐỪNG CƯỜNG ĐIỆU
Tôi nói với bạn
rằng, bạn đừng quá cường điệu đối với những gì mà bạn đang làm được.
Mảnh bằng bạn đang
nắm trong tay chỉ là tờ giấy. Một tờ giấy bạn phải mất đến hai mươi năm
đèn sách, cơm nước, áo quần, sức lực không phải của riêng bạn mà của
nhiều người. Và hai mươi năm ấy sự sống của bạn là gì, bạn có biết
không? Và cái được đó, có đền bù nổi với cái bạn đã mất không?
Và nếu bạn là người
đang làm một vị tướng lãnh, bạn có biết rằng mất bao nhiêu xương khô cốt
tàn của đầu xanh tuổi trẻ, để tạo nên danh xưng của vị tướng?
Vậy, tất cả những
gì bạn đang nắm giữ trong tay là một sự mất mát to lớn trong đời sống
của bạn và của tất cả mọi người.
Và tất cả những gì
bạn đang nắm ấy, rồi cũng sẽ tuột ra khỏi tầm tay và cuộc đời của bạn,
nên bạn đừng uổng công cường điệu những gì bạn đang có. Bạn là người phí
phạm và thất bại trước mọi ý nghĩa của sự sống, nếu bạn không có khả
năng thấy được những gì đang diễn ra nơi bạn và chung quanh bạn.
Bạn hãy sống mà
không nên cường điệu đối với sự sống!
CÁI TƯ DUY THỰC DỤNG
Tai họa đến với con
người chúng ta, không phải từ những suy tưởng siêu hình mà từ những suy
tư thực dụng của khoa học.
Các nước phương Tây
đã biến những suy tư khoa học, thành tư duy thực dụng, khiến cho môi
trường sống của con người và loài vật càng ngày càng trở nên ô nhiễm và
độc hại.
Khoa học thực dụng
của Tây phương đã biến con người trở thành vô dụng của sự sống và đã
khiến cho con người chạy đua và bám lấy sự sống một cách tội nghiệp, như
những bầy thú chạy đua và bám lấy những khúc xương khô để khới gặm.
Trong xã hội thực
dụng ấy, con người không còn là người nữa, con người là những dụng cụ
giây chuyền để sản xuất, là một bộ phận sản xuất của nhà máy, của xí
nghiệp, của nông trại. Với một xã hội như vậy, con người không còn có
thì giờ để làm cha, làm mẹ, làm vợ chồng, làm anh em với nhau; không còn
có thì giờ để suy tư về tốt và xấu; công việc cá nhân, gia đình, tình
cảm, thể hiện đức tin, tất cả đều dồn vào ngày chủ nhật.
Và tất cả cuộc sống
con người chỉ là vậy, thì những tư duy thực dụng của khoa học Tây phương
đưa con người chúng ta đi về đâu? Phải chăng, chúng đang đẩy con người
đi đến với đời sống vô cảm.
Bệnh vô cảm là cơn
bệnh khủng khiếp nhất của con người, nó còn nguy hiểm hơn cả ngàn lần
bệnh HIV.
Do bị mắc bệnh vô
cảm, nên con người không còn biết sống là gì, không còn biết thiên nhiên
là gì, có đâu mà có được những suy tư về sự sống, để có khả năng tiếp
nhận sự sống một cách có ý nghĩa.
Vì tham lam, vì tư
duy thực dụng, con người đã sử dụng khoa học kỹ thuật để bóc lột thiên
nhiên, bóc lột loài vật, thực vật, đất đai và bóc lột đồng loại, khiến
cho thế giới con người ngày càng trở nên bệnh hoạn và điên dại, và người
chủ trương bóc lột ấy lại càng bệnh hoạn và điên dại hơn.
BIẾT LẬP ĐỨC
Càng văn minh vật
chất, con người lại càng sinh ra những sinh hoạt hưởng thụ thấp kém và
phiền toái.
Càng giàu có vật
chất, con người lại càng sinh ra những lo lắng, sợ hãi, thất vọng và khổ
đau.
Trong mọi sự sinh
hoạt của xã hội con người, ta hiếm thấy xảy ra ở nơi một người, vừa giàu
có vật chất mà lại vừa giàu có tâm hồn. Phần nhiều, người giàu có vật
chất là người rất nghèo nàn về tâm hồn và rất dễ khiếm đức.
Nên, những bậc có
trí trong đời, thường trọng đức mà khinh tài, nhưng những kẻ vô trí
trong đời thì coi trọng tiền tài mà coi thường đức hạnh và nhân nghĩa.
Đức hạnh bị khinh
thường, thì xảo trá điêu ngoa, gian dối phát triển, đạo đức xuống cấp,
nhân cách hủ bại, thuần phong rách nát.
Nên, những bậc có
trí trong đời dùng đức để lập thân. Họ biết lập đức trước khi lập thân
và lập ngôn; kẻ ngu trong đời thì lập ngôn trên xảo trá và lập thân trên
gian tà, khiến cho thân càng ngày càng sa đọa, và ngôn càng ngày càng
trở nên nham hiểm và vô luân.
BÀN TAY THẢNH THƠI
Một người thương ta
có gốc rễ từ lòng tham của họ, khiến cho ta không an lạc, không thảnh
thơi và nếu ta thiếu chánh niệm tỉnh giác, năng lượng của sự thương yêu
ấy thẩm thấu vào trong ta, làm cho ta sống trong giẫy giụa và chết trong
thất vọng, khổ đau.
Và một người thương
ta có gốc rễ từ hỷ và xả, khiến sự an lạc của ta sinh khởi một cách tự
nhiên; giúp ta sinh khởi niềm tin, và khiến tuệ giác trong ta càng ngày
càng sáng ngời, nên mỗi ngày đi qua là mỗi ngày làm cho sự tự do trong
ta lớn lên, khiến cho ta nhìn cuộc đời bằng con mắt tự do, và mọi vật
đều có sự thảnh thơi khi bàn tay ta chạm đến.
PHẬT VÀ THƯỢNG ĐẾ
Ta đã có thể gọi
danh hiệu Đức Phật với một ngày cả ngàn lần, và ta cũng đã gọi tên
Thượng Đế qua những đêm thâu cầu nguyện, nhưng tất cả các Ngài đều im
lặng đối với ta, để cho hạt giống Phật trong tâm hồn ta sinh khởi và
quyền năng sáng tạo của Thượng Đế trong ta biến thành hiện thực.
Khi trong đời sống
của ta không còn vô minh, hận thù và quyết đoán sai lầm, thì ta là Phật.
Và trong cuộc sống, ta có chủ quyền và có khả năng sáng tạo thì ta là
Thượng Đế.
Như vậy, Phật và
Thượng Đế không phải là ai xa lạ mà chính là tâm hồn trong sạch và khả
năng sáng tạo trong mỗi chúng ta!
CHỊU KHÓ THỰC TẬP
Ta phải tập nhìn
những người phản bội và nguyền rủa ta, với tâm bình lặng và đôi mắt
thương yêu, là tức khắc ta chế tác ra được chất liệu an lạc cho ta, và
có thể làm cho người kia thay đổi tâm tính của họ.
Tính ích kỷ trong
ta là nguyên nhân làm phát sinh sự phản bội và nguyền rủa của ta đối với
những người khác và người khác đối với ta.
Sự hy sinh và tính
phóng khoáng của ta lại có khả năng dập tắt mọi sự phản bội; và tình
thương rộng lớn của ta lại có khả năng làm thay đổi mọi sự bất bình và
nguyền rủa từ người khác đối với ta và từ ta đối với người khác.
HỮU ÍCH
CỦA MỘT THIỀN ÁN
Trong Thiền học ta
có công án: "Đầu lọt, bụng lọt, đuôi không lọt".
Thiền án ấy thật
phi lý đối với những chiêm nghiệm vật lý.
Có sự hiện hữu nào
thuần về vật lý mà cái đuôi to hơn cái đầu và cái bụng không nhỉ?
Không. Một trăm
phần trăm là không. Vì là không một trăm phần trăm, nên công án ấy trở
thành công án miên mật và sống chết của thiền giả.
Nhưng thiền án ấy,
ta chiêm nghiệm từ phía tâm học, thì nó không phải là phi lý mà chân lý
đối với tất cả chúng ta.
Ta khởi lên một ý niệm tốt, nhưng ý niệm
ấy, ta khó mà duy trì từ khi phát sinh cho đến giai đoạn cuối
cùng.
Như vậy, ngay cả
một ý niệm tốt khởi lên ở tâm thức ta, nó có thể tồn tại ở khoảnh khắc
đầu, mà không tồn tại ở khoảnh khắc thứ hai và nó có thể tồn tại đến
khoảnh khắc thứ hai, nhưng không thể kéo dài và tồn tại đến khoảnh khắc
thứ ba, và lại tiếp tục sau đó hay cả một đời người.
Nên, ngay trong một
ý niệm thiện của ta khởi lên từ tâm thức, mà nó có khi đầu lọt, bụng lọt
mà đuôi không lọt, huống chi là sự hành xử của ta xuyên suốt một đời
người!
Ta ngồi vào một bữa
ăn hay một bữa tiệc, bước đầu ta ăn uống rất từ tốn, sau đó thì không
còn từ tốn nữa, ta bị điều khiển bởi bản năng ăn, nên ta ăn uống không
còn dễ thương và đẹp như buổi ban đầu.
Như vậy, ngay trong
bữa ăn, ta bị rơi vào tình trạng: "Đầu lọt, bụng lọt mà đuôi không
lọt".
Ở mặt tình cảm vợ
chồng, thân hữu cũng vậy. Bước đầu ta quen nhau, ta thương nhau và quý
nhau, nhưng sống gần bên nhau, thấy rõ những nhược điểm của nhau, khiến
cho tình cảm của ta không còn như thuở ban đầu ấy và hành xử của ta với
nhau không còn dễ thương như ngày ấy nữa.
Như vậy, đầu và
bụng tình cảm của ta đối xử với nhau lọt, mà cái đuôi tình cảm của ta
không lọt.
Ở mặt con người
chúng ta cũng vậy. Ở tuổi trẻ ta ham học và vô tư, đến tuổi trưởng thành
ta có nhiều hạo khí, nghĩa hiệp, thấy việc phải thì làm mà không tính
toán, ghét những kẻ so đo, tính toán và bạc nhược; ta sống vì người quên
mình, vì nước quên thân, nhưng khi về già, hạo khí ẩn mất, nghĩa hiệp
không còn, quên hết mọi người mà chỉ thích con cháu, quên hết danh dự và
quyền lợi quốc gia, chỉ còn nghĩ tới những quyền lợi lặt vặt cho mình,
đó chính là con người của ta: "Đầu lọt, bụng lọt mà đuôi không lọt".
Ở mặt xã hội cũng
vậy, ta đưa ra một học thuyết, một chủ nghĩa, một chính sách, một chủ
trương mà ngày hôm nay làm theo thì tốt, nhưng ngày mai làm theo thì
xấu; ngày hôm qua làm là đúng, mà ngày nay làm là sai. Và lại nữa, cái
đúng của ngày hôm qua không còn là cái đúng của ngày hôm nay và ngày
mai.
Như vậy, ở mặt xã
hội đã rơi vào tình trạng: "Đầu lọt, bụng lọt mà đuôi không lọt".
Do đó, trong đời
sống ta phải sống như thế nào, để đời sống của ta có tiền vận tốt, trung
vận tốt, hậu vận tốt, và nếu không được cả ba thời vận đều tốt, thì ít
nhất là: tiền vận xấu, trung vận xấu, mà hậu vận tốt, chứ đừng bao giờ
để xảy ra tình trạng: "Tiền vận và trung vận tốt, nhưng hậu vận xấu".
Ta sống tiền vận và
trung vận tốt mà hậu vận xấu, chứng tỏ đời sống của ta: "Đầu lọt,
bụng lọt mà đuôi không lọt".
Đời sống của một
người mà "đầu lọt, bụng lọt mà đuôi không lọt" là đời sống của một người
có hành xử với người khác: "Trước mặt tốt, sau lưng xấu; trước mặt là
bạn, sau lưng là thù; trước mặt là phải, sau lưng là quấy; trước mặt là
khen, sau lưng là chê...".
Đó là đời sống của
một người phản trắc, không thỉ chung, hậu quả sẽ xảy ra cho họ rất xấu.
Bởi vậy, thiền án
nầy, chúng ta cần chiêm nghiệm thật sâu sắc và hết sức thực tế từ nhiều
mặt, để thấy hữu ích của một thiền án đem lại cho đời sống của tất cả
chúng ta!
Và thiền án không
còn là đối tượng để cho những ẩn sĩ chiêm nghiệm từ núi rừng cô tịch mà
là một đoán án treo giữa công đường cho tất cả mọi người trong một xã
hội đầy sinh động và đa thù, chiêm nghiệm và thực nghiệm để có nhiều cơ
hội đi lên.
CHẬM TIẾN
Trong cuộc sống
hàng ngày, chậm tiến đến với ta có nhiều cách và dù đến với ta bằng bất
cứ cách nào, thì nó cũng gây thiệt hại cho ta trong cuộc sống không ít.
Có bốn
nhược điểm có thể gây ra sự chậm tiến cho ta:
Một, đối
với ta: Ta luôn luôn mang những ưu điểm của ta trước mặt và sẵn sàng
khuếch đại nó ra bất cứ ở đâu trước mặt mọi người.
Hai, đối
với người: Ta sẵn sàng mang những nhược điểm của họ trước mặt và sẵn
sàng khuếch đại nó ra trước mọi người bất cứ ở đâu và lúc nào.
Ba, đối với ta: Nếu
ta có những nhược điểm nào, thì ta giấu nó ở phía sau lưng và mong rằng
đừng bị ai khai quật.
Bốn, đối với người:
Nếu ta thấy họ có những ưu điểm nào, thì ta thích giấu nó ở phía sau để
mọi người khỏi biết.
Nếu ta sống với
mình và ta đối xử với người bằng những tâm ý như vậy, thì đời sống của
ta, càng ngày càng trở nên nghèo nàn và lạc hậu. Nếu ta đem tâm ý ấy mà
làm việc nhà, thì nhà ta càng ngày càng trở nên chật hẹp và tan nát. Nếu
ta đem tâm ý ấy mà lãnh đạo tổ chức, thì tổ chức càng ngày càng rối bời
và trở thành hỗn loạn, vô trật tự. Và nếu ta đem tâm ý ấy mà lãnh đạo
quốc gia, thì quốc gia không những không phát triển mà còn bị tụt hậu và
rơi xuống vực thẳm.
Các bậc minh triết
và thánh nhân xưa nay, chỉ nhìn vào lỗi mình mà không quan tâm lỗi
người; chỉ nhìn vào ưu điểm của người để tán dương và học hỏi mà quên đi
ưu điểm của mình, nên các Ngài không những đã có nhiều cơ hội để học hỏi
và thăng tiến, mà còn có mặt ở đâu, thì làm đẹp cho đời ở đó và làm chỗ
nương tựa an ổn cho nhiều người.
CHỈ LÀ CHỦ THUYẾT
Ai trong chúng ta
mà không sợ chết, và ai trong chúng ta mà không muốn sau khi chết rồi
vẫn còn tiếp tục tồn tại dưới một dạng này hay một dạng khác?
Người
theo chủ thuyết chết là hết, không còn bất cứ cái gì sau đó họ lại là
người sợ chết nhất. Vì sao? Vì sau khi họ chết họ không còn gì cả, ngay
cả tro bụi!
Bởi
vậy, Bác Hồ Chí Minh dù là người đứng đầu chủ thuyết duy vật cho chết là
hết, vẫn viết trong di chúc cuối đời mình một cách thành khẩn và trân
trọng rằng: “Sau khi tôi chết, tôi sẽ về bên kia thế giới để thăm các cụ
Karsmarx, Lenin…” Điều đó chứng tỏ cho ta biết rằng, “Chết là hết” chỉ
là chủ thuyết mà không phải là cuộc sống và lại càng không phải là ước
vọng của mọi người.
Ước
vọng muôn thuở của con người là sống và tiếp nhận cuộc sống và dù ai đó
có can đảm chấp nhận cái chết đến với mình là một sự thực, thì sự chấp
nhận ấy cũng chỉ là để tiếp tục sống dưới một dạng khác.
Nên
chết là hết, nó chỉ là một chủ thuyết, một chủ thuyết không đáp ứng được
ước vọng của con người, vậy làm sao nó có thể tồn tại với con người
được?
TÂM CHÂN THẬT
Trong đời sống của
ta không có gì quý hơn tâm chân thực. Ta có tâm chân thực là ta có tất
cả phước đức và trí tuệ, ta có tình thương và có tất cả sự tự do.
Ta có
tâm chân thực, nên ta không có sự sợ hãi. Sự sợ hãi thường phát sinh từ
nơi tâm thiếu chân thực của ta. Tâm giả dối của ta càng lớn thì sự sợ
hãi của ta càng nhiều, và do ta có quá nhiều sự sợ hãi nên ta không có
sự tự do.
Ta
không có tâm chân thực thì mọi sự tự do đối với ta chỉ là ảo vọng. Và
nếu ta sống thiếu tâm chân thực thì ta không thể nào có tình vợ chồng,
cha mẹ và con cái, tình thầy trò, tình anh em bằng hữu, chứ nói chi đến
tình đồng loại và chúng sanh, tình nghĩa người sống đối với người chết.
Ta sống
thiếu tâm chân thực, thì mọi tình cảm của ta đối với người khác chỉ là
thủ thuật và mọi đạo đức được ta ca ngợi chỉ nằm nguyên ở trên giấy.
Tâm
chân thực là tâm bồ đề sống. Ta có tâm ấy thì đối với ai ta cũng có thể
chung sống và ở đâu ta cũng có tự do và thảnh thơi.
Nên,
trong đời sống con người không có gì quý hơn tâm chân thực vậy.
CHỖ THÂM
HUYÃÖN
Ta đem chính tâm mà
hành động thuận nghịch, thì mọi thuận nghịch do ta biểu hiện đều là đạo,
đều là chính đạo.
Ta đem
tà tâm mà hành động thuận nghịch, thì mọi thuận nghịch của ta đều là phi
đạo, đều là tà đạo.
Nên, ta
đem chính tâm mà chê người, quở trách người là cứu người, ta đem tà tâm
mà khen ngợi người, tâng bốc người là giết người. Ta đem chính tâm mà
sống với đời, ta sẽ gặp nhiều khó khăn, vì sống giữa đời tà nhiều hơn
chánh, nịnh nhiều hơn trung, xảo nhiều hơn thực. Nhưng nhìn vào tâm ta,
ta thanh thoát, nhẹ nhàng, đi đứng thong dong, nói cười vô sự, điều đó
há không phải là chỗ thâm huyền của chính đạo đó sao?
TÌNH CẢM BỊ PHÁ SẢN
Trong đời của con người ngày nay khá
thành công về mặt khoa học kỹ thuật, nhưng lại thất bại về mặt tình cảm.
Xã hội
Tây Phương đã thất bại rất lớn về mặt tình cảm gia đình và xã hội. Trong
gia đình cha mẹ và con cái, cũng như vợ chồng không có thì giờ để ăn cơm
với nhau, nói chuyện và chia sẻ tình cảm với nhau. Cha mẹ la rầy con
cái, con cái có thể gọi cảnh sát... Và đi ra ngoài xã hội, nếu một người
bị tai nạn, mọi người thấy liền bỏ đi mà không dám đến gần và giúp đỡ,
bởi vì sợ liên lụy, sợ cảnh sát mời làm việc, làm nhân chứng bỏ công
việc làm...Với một xã hội như vậy, có vẻ thành công về khoa học, kỹ
thuật, về luật pháp, nhưng nó đã hoàn toàn bị thất bại về mặt tình cảm
và nhân nghĩa.
Ta nên
nhớ rằng, ta hiện hữu trong cuộc đời này là do tình và vì tình, chứ
không phải vì luật pháp hay vì khoa học kỹ thuật. Ta hiện hữu với nhau
trước hết là tình, nên ta phải đem tình nghĩa mà đối xử với nhau giữa
con người và con người, càng lúc càng đẹp, càng lúc càng cao quý, và
luật pháp là để bảo vệ tình nghĩa trong sáng ấy, khoa học kỹ thuật là để
giúp ta có điều kiện phát triển tình nghĩa trong sáng ấy nhanh chóng và
rộng lớn, nếu không như vậy thì luật pháp có nghĩa gì và khoa học kỹ
thuật là một thảm họa cho con người, vì nó đã biến con người trở thành
công cụ của nó và như vậy tình cảm của con người đã bị phá sản. Con
người không còn là người nữa mà là con vật công nghiệp!
HÓA
Ta mong muốn và cầu nguyện cho những chú
chó đi bằng hai chân, thì cho đến khi nào ước nguyện của ta mới thành?
Nhưng,
ta thân người mà tâm chó, thì không cần ta cầu nguyện và ước muốn, chúng
cũng có thể xảy ra bất cứ nơi đâu. Nếu không tin, bạn hãy thử vứt ra
giữa đám đông một ít danh vọng và quyền lợi, thì tức khắc bạn sẽ thấy ai
là người và ai là người hóa chó?
Nên,
người hóa chó thì rất dễ, chỉ cần trong nháy mắt, nhưng chó hóa người
phải trải qua vô số thời gian tu luyện!
AI ĐÃ GIẾT BẠN
Cái tôi của bạn
hoàn toàn không có thực, nó do vô minh tạo dựng, do vọng tưởng biến
thành, do tập khí huân trưởng lâu ngày thành tánh.
Chính cái tôi hư ảo
ấy làm cho bạn bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết. Khiến cho tâm tư của
bạn vô hạn trở thành chật hẹp, khiến cho thân thể kiện tráng của bạn trở
thành bệnh hoạn, khiến cho thọ mạng vô cùng của bạn chỉ còn lại khoảnh
khắc và khiến cho bạn từ vô sanh bất tử trở thành sinh tử.
Bạn hãy
buông bỏ ý niệm về tôi và về của tôi bao nhiêu, thì bạn sống thanh thản,
vô ưu và vô bệnh bấy nhiêu.
Bạn muốn sống lâu,
vô bệnh, trí tuệ và lợi ích cho nhiều người, bạn hãy buông bỏ ý niệm về
tôi và cái của tôi.
Không ai khác,
chính là cái tôi và cái của tôi của bạn đã giết chết hạnh phúc và thọ
mạng của bạn.
HÃY YÊU CHÂN LÝ
Chân lý thì ở đâu và lúc nào cũng có. Ta
yêu chân lý, thì ở đâu và lúc nào ta cũng có cái để yêu.
Yêu chân lý không làm cho ta
khổ đau và thất vọng, nhưng ta yêu ai, ta có thể bị khổ đau và thất vọng
bởi người ấy. Vì người ấy không phải là chân lý, nhưng trong con người
ấy có chân lý.
Ta yêu mưa là ta chỉ yêu mưa
thôi, ta không cần phải yêu mưa mùa thu, mùa hạ, mùa xuân hay mùa đông.
Ta yêu mưa và chỉ yêu mưa thôi, thì mỗi lần thấy trời mưa là ta hạnh
phúc, nhưng nếu ta yêu mưa mùa thu hay mùa hạ, mùa xuân hay mùa đông,
thì hạnh phúc ta trở nên ít ỏi, và nếu ta yêu mưa mùa thu, nhưng mưa mùa
đông xuất hiện thì ta lại thất vọng và khổ đau, vì ta không ưa cơn mưa
mùa đông ấy, nhưng ta phải sống và tiếp xúc với nó mỗi ngày và mỗi ngày
ta trông cho nó đi qua, nhưng nó vẫn đi một cách chậm chạp đối với ta.
Và ta lại ngồi luyến tiếc cơn mưa mùa thu đã đi qua, và chờ đợi cơn mưa
mùa thu sắp đến, nên cơn mưa mùa đông càng kéo dài, càng nặng hạt, thì
ta lại càng thất vọng và khổ đau.
Ta thất vọng và khổ đau là
tại ta, chứ không phải tại cơn mưa mùa đông. Cơn mưa vốn vô sự, nhưng
tại tâm ta hữu sự, tại ta phân biệt và kỳ thị khiến cho ta đau khổ, buồn
chán và thất vọng suốt cả mùa đông.
Như vậy, ta đau khổ, buồn
chán và thất vọng là tại ta. Tại ta chỉ biết yêu mưa mùa thu, mà không
biết yêu mưa cả bốn mùa, và chưa bao giờ nhìn thấy được sự thật nơi
những hạt nước mưa ấy.
Mưa chỉ là mưa thôi, sao lắm
người nhìn mưa mà khổ đau và buồn chán đến thế?
Tại mưa hay tại tâm họ nhỉ?
NÓI CHUYỆN VỚI NƯỚC
TRONG VŨNG CHÂN TRÂU
Bạn là nước từ lòng
đất sâu của đại dương và đã bốc hơi để làm mây khi gặp nắng. Nên, bạn
cũng là nước mà cũng là mây và cũng là nắng. Bạn cũng đã từng là nước
đùa chơi với nắng và là nắng, bạn đã từng đùa chơi với lửa và là lửa,
bạn đã từng là nước đùa chơi với mây và là mây, bạn đã từng là nước đùa
chơi với gió và là gió.
Bạn đã
từng là gió nô đùa với trăng ngàn, đã từng là những vầng mây trắng bạc
đùa chơi với núi cao và đã từng là những vầng mây đen phủ che mặt trời,
làm cho trần gian sẫm tối u buồn, nhưng bạn không hề u buồn như cõi trần
gian sẫm tối ấy, vì bạn là nước, là nắng, là gió, là tha hồ biến thể
rong chơi, không một ai trong trần gian có thể cản trở bạn nổi.
Có những lúc bạn
làm mây ngàn theo gió ham chơi, sa vào vùng khí lạnh, làm những hạt mưa
rớt xuống trần gian, đọng trên những dấu chân trâu, bạn tưởng bạn là bé
nhỏ và cùng hàn, nên bạn khóc thân trách phận. Vì là tưởng, nên bạn mặc
cảm và khổ đau. Bạn không dám ngửa mặt nhìn trời xanh, mây trắng, đỉnh
núi cao, với biển rộng, sông dài.
Bạn
đừng mặc cảm mình bé nhỏ, mình chỉ là một chút nước trong vũng chân
trâu. Dù là nước trong vũng chân trâu, nhưng vẫn có đầy đủ bản chất và
lý thể của nước ở nơi đại dương bạn ạ!
Bạn đừng
cho mình là nước ở vũng chân trâu và bằng lòng với cái ấy, bạn không
phải là những hạt nước muôn đời nơi vũng chân trâu đâu nhé! Vì sau cơn
mưa trời sẽ tạnh, và nắng ấm sẽ xuất hiện, đưa bạn về với mây ngàn, gió
nội, với núi cao, với biển rộng sông dài, dù bạn không tin và không có
khả năng để tin điều đó, nhưng điều đó vẫn xảy ra cho bạn một cách tự
nhiên!
LĂN LỘN
Miếng thịt được ướp nhiều loại gia vị và
ngày nào nó cũng nằm lăn lộn trong tô canh của mỗi gia đình trong các
bữa ăn, nhưng nó chẳng nếm được mùi vị gì của chính nó và của tô canh,
nó chỉ là miếng thịt nằm lăn lộn trong tô canh để người ta gắp ăn và
thưởng thức.
Cũng vậy, con người sống giữa đời hết
lăn lộn việc này, đến lăn lộn việc khác. Bao nhiêu công việc, buồn phiền
và trách móc, khen, chê, đúng, sai, được mất giữa cuộc đời đã xông ướp
vào đời sống của họ. Và con người suốt cả cuộc đời chỉ lăn lội với những
cái ấy, họ chẳng biết đâu là chính mình và chẳng thưởng thức được gì ở
trong một cuộc sống có ý nghĩa, và sống như vậy, thì con người chỉ là
những miếng thịt lăn lộn trong tô canh của cuộc đời để cho tử thần gắp
lên phanh thây và đưa vào huyệt lộ!!!
MỌI SINH HOẠT
DƯỚI CHÂN ĐỒI
Ta không thể đi lên đỉnh núi cao bằng
con đường thẳng mà bằng con đường cong.
Trên
thế gian này không có con đường nào là thẳng cả, có chăng thì cũng chỉ
là đoạn đường mà không phải là con đường.
Càng
tiến lên đỉnh núi cao, con đường lại càng nhỏ và càng cong, nếu ta không
cẩn thận, ta khó vượt qua giai đoạn cuối này, trước khi đạt mục đích.
Lên được đỉnh núi cao, tha hồ mà nhìn ngắm trời xanh, mây trắng, núi
rừng trùng điệp, khe suối, biển cả sông ngòi... Và quan trọng hơn hết là
ta đứng trên đỉnh núi, nhìn xuống chân đồi, thấy cái gì cũng bé nhỏ, mọi
sinh hoạt dưới chân đồi chỉ là những chuyển động li ti và chậm chạp,
đáng thương.
ƯA…?
Chú mèo rất thích ở
chùa và cũng rất thích bắt chuột.
Vậy, việc thích ở
chùa của chú mèo có ích lợi gì cho chú…?
THỜI THẾ
Trong cơn nước lũ,
ta thấy trong dòng sông nước chảy cuồn cuộn, rác rều kết thành bè đè lên
gỗ lim và kiềng kiềng.
Và trong bè rác rều ấy, vô số sâu kiến
hoạt động lúc nhúc, lô nhô bám vào rác rều để sống an thân.
Kẻ ngu thì tung hô rác rều là thắng thế,
kẻ đại ngu thì khẳng định sâu kiến khôn ngoan, kẻ có trí trong đời thì
nhắm mắt mà nói: “Thời thế, thế thời phải thế!”
THÁNH VÀ PHÀM
Trong truyền thuyết của Việt
Nam có câu chuyện Thánh Gióng chỉ mới ba tuổi mà đã đánh thắng giặc Ân.
Đánh
thắng giặc, Thánh Gióng không trở về nhà mà bay thẳng lên trời.
Cũng
vậy, bậc Thánh nhân thấy việc nghĩa thì làm, thấy việc khó khăn thì gánh
vác, việc thành thì lui, việc thuận thì nhường cho người khác và thấy
danh lợi thì lại càng tránh xa! Thánh nhân là vậy, nhưng phàm nhân thì
lại khác. Phàm nhân làm ít nói nhiều, thấy lợi thì quên mình, quên cả
sáng tối, ngày đêm, quên cả vợ con, cha mẹ, ông bà, anh em, bạn hữu,
quên cả giang sơn, tổ quốc, quên hết cả đạo lí làm người, thấy việc khó
khăn thì lánh mặt, thất bại thì đổ lỗi cho người, thành công thì vênh
vang vỗ ngực, hám danh, hám lợi cho đến hơi thở cuối cùng.
Phàm
Thánh không phải ở nơi mặt mày, không phải ở nơi vị trí xã hội mà ở nơi
tâm hồn và phong thái hành xử.
Tâm hồn
và phong thái hành xử của ta thấp kém, dù ta ngồi vào chỗ thánh, tức
khắc chỗ thánh ấy liền hóa thành phàm.
Tâm hồn
và phong thái hành xử của ta cao thượng, dù ta có ngồi vào chỗ phàm, tức
khắc chỗ phàm ấy liền hóa thành chỗ thánh. Thánh và phàm nhân quả rõ
ràng, không bao giờ xen tạp. Thánh thì giải, phàm thì trói. Thánh làm
thành, liền đi không để lại dấu tích, phàm làm thành, thì ngồi đó mà
hưởng thụ và kể lể!
Thánh
phàm là vậy có gì là khó hiểu.
LÒNG DẶN LÒNG LẠY PHẬT
Ta lạy Phật mỗi
ngày và mỗi ngày ta đều xin Đức Phật gia hộ cho ta đủ thứ. Nhưng tuyệt
nhiên ta không hề nghe Ngài hứa hẹn gì với ta cả.Ta chỉ thấy Ngài nhìn
ta mà mỉm cười thôi.
Tại sao Ngài chỉ
nhìn ta mà mỉm cười thôi nhỉ, tại vì ta lạy Ngài để xin Ngài những điều
mà Ngài không bao giờ nghĩ đến và có, thì làm sao Ngài có, để Ngài có
thể cho chúng ta được
Điều
Ngài có thì chúng ta lại không xin, điều Ngài không có thì chúng ta lạy
Ngài để xin, làm sao mà Ngài không mỉm cười với chúng ta được !
Ngài thì không hề
có tâm ích kỷ, không có tâm phân biệt, kỳ thị mà ta lạy Ngài với tâm ích
kỷ, tâm phân biệt, kỳ thị và tâm nghĩ đến quyền lợi cho mình quá nhiều,
thì làm sao Phật không nhìn ta mỉm cười được!
Ta lạy
Phật với tâm cung kính vô cầu, thì ta sẽ có ở trong Phật và Phật sẽ có ở
trong ta, giúp ta thấy rõ mọi giá trị đích thực của cuộc sống để thăng
hoa. Nhưng ta lạy Phật với tâm thủ lợi, thì Phật sẽ không có ở trong ta
và ta sẽ không có ở trong Phật, Phật bị ta bóc lột bởi cái lạy của ta,
thì làm sao ta trở thành kẻ nhân nghĩa để tạo thành phước đức được!
Lạy
Phật với tâm thủ lợi, là càng lạy Phật ta càng trở thành kẻ phi nhân
nghĩa.
Vậy ta hãy cẩn
thận, cẩn thận mỗi khi ta lạy Phật nhé!
DẠ,
DẠ, DẠ…
CON ĐÃ HIỂU!
Có
những đoàn Phật tử đi cúng dường an cư, một ngày hơn ba mươi chùa tại
Huế, họ đến cúng một cách tội nghiệp như bị ma đuổi sau lưng vậy .
Có một
cư sĩ hỏi tôi: “Chúng con đi cúng duờng như vậy có phước đức nhiều không
thầy?”
Tôi
cười và nói: “Miệng bình thì nhỏ, múc một gáo nước đầy đổ vào nhanh quá,
nó vào trong bình không có bao nhiêu hết, phần nhiều bị chảy ra ngoài và
làm nhớp cả bàn ghế và nền nhà nữa”.
Vị cư
sĩ nói: “Vậy, con nên đi ít chùa lại phải không thầy?”.
Tôi nói: “Nhiều
chùa hay ít chùa không quan trọng, mà quan trọng là ta phải thực tập,
hạnh cúng dường với tâm trầm tĩnh, rộng lớn và sâu sắc, để hạnh cúng
dường của ta đưa tới một hiệu quả cao cho ta, cho tâm ly tham, cho tâm
bất khinh của ta, cho tâm khiêm hạ của ta,
cho tâm vô cầu danh lợi của ta và ta cúng dường để cho tâm ta
sinh khởi tuệ giác của Phật, giải trừ sự cấu uế nơi tâm, đưa tâm hướng
đến Niết bàn tịch tịnh của Pháp và ta thực tập hạnh cúng dường để cho
tâm ta không còn khởi niệm phân biệt, kỳ thị mà dẫn đến sự trong sáng và
hòa điệu của Tăng .
Ta thực
tập hạnh cúng dường như vậy mỗi ngày phước đức lớn mạnh trong ta, tuệ
giác và sự thương yêu của ta phổ nhuận cùng khắp, như mây lành che mát
không gian, như nước mưa cam lồ rưới xuống, khiến cho tất cả vạn hữu đều
sinh kết hoa lành, trái ngọt.
Nên, ta
cúng dường, dù chỉ là một hạt muối, muỗng đường, bó rau, đều là ta đang
thực hành bồ tát, mà bồ tát thì ở đâu và lúc nào cũng trầm tĩnh, sâu
lắng và rộng lớn”.
Vị cư sĩ chắp tay,
dạ, dạ, dạ, con đã hiểu!
KHIẾU KIỆN
Một người ăn trộm khiếu kiện những người
ăn trộm với quan tòa chủ trương ăn trộm, thì việc khiếu kiện đến khi nào
mới giải quyết xong?
TỊNH ĐỘ
ĐÍCH THỰC
Ta nói ở đây là “
Tịnh độ” và một người khác lại nói “Kia là Tịnh độ”. Tất cả chúng ta đều
nói về Tịnh độ, đều tu tập Tịnh độ mà người ta tu tập “Tịnh độ ” ở đây
, không chấp nhận người ta tu tập “ kia là Tịnh độ” và người ta tu tập
“kia là Tịnh độ”, lại không chấp nhận người ta tu tập “đây là Tịnh độ”.
Nên cả hai đã làm cho thế giới Tịnh độ trở thành thế giới của ngôn
thuyết, của tranh cãi, của phe nhóm và phiền não, khiến cho thế giới
“đây là Tinh độ” hay “kia là Tịnh độ” không còn là Tịnh độ nữa.
Ta chấp
nhận “đây là Tịnh độ” mà không chấp nhận “ Kia là Tịnh độ”, đó là một
cực đoan mà người tu tập cần phải tránh. Và sự chấp nhận ngược lại cũng
được xem là một cực đoan mà người tu tập cần phải tránh.
Ta phải
biết rằng, “đây là Tịnh độ” được tạo nên bởi “kia là Tịnh độ” và “kia là
Tịnh độ” lại được tạo nên bởi “đây là Tịnh độ”.
Nếu không có “kia
là Tịnh độ”, ta dựa vào cơ sở nào để khẳng định “đây là Tịnh độ”, và nếu
không có “đây là Tịnh độ”, ta dựa vào cơ sở nào để khẳng định “kia là
Tịnh độ”.
Trong ngôn ngữ
tương quan, khi ta nói “đây là Tịnh độ” tức là ta đã ngầm có hai ý: “Kia
là Tịnh độ” hay “kia không phải là Tịnh độ”; hoặc ta nói “kia là Tịnh
độ”, tức là ta đã ngầm có hai ý: “Đây là Tịnh độ” hay “đây không phải là
Tịnh độ”.
Tuy nhiên, dù Tịnh
độ ở nơi kia hay Tịnh độ ở đây, tất cả đều được biểu hiện từ nơi tự tâm.
Nếu tâm ta thanh
tịnh, thì ta ở đâu là Tịnh độ có mặt ở đó, và nếu tâm ta không thanh
tịnh thì ta ở đâu là uế độ
có mặt ở đó.
Tâm
ta thanh tịnh, thì ta ở đâu ta cũng liên thông được với hết thảy Tịnh độ
của chư Phật mười phương và ba đời.
Và
nếu tâm ta không thanh tịnh, dù ta đang ở đâu, tâm ta cũng đang liên
thông với mọi ô nhiễm của hết thảy chúng sanh trong mười phương và ba
đời.
Sự
thanh tịnh của chư Phật mười phương và ba đời đang có mặt ở nơi tâm vô
nhiễm của chúng ta. Và thế giới bất tịnh của chúng sanh trong mười
phương và ba đời cũng đang có mặt nơi tâm ô nhiễm của chúng ta
Nên,
tâm ta tịnh, thì mười phương thế giới đối với ta đều tịnh. Và tâm ta bất
tịnh là trong mười phương thế giới, không có thế giới nào là thế giới
thanh tịnh cho ta.
Các
nhà khoa học vật lý hạt nguyên tử hiện đại đã nói cho ta biết rằng, hạt
nguyên tử chính là sóng nguyên tử và sóng nguyên tử là hạt nguyên tử và
khi một hạt nguyên tử được tách rời thành hai và cách nhau cả ngàn dặm,
nhưng chúng vẫn có tính cộng thông và đồng thời với nhau.
Vậy,
chúng ta tu tập tịnh độ, ta tụng kinh A Di Đà, ta đã nghe kinh nói cho
ta rằng: “Khi Đức Phật Thích Ca đang nói về Tịnh độ Phật A Di Đà, thì vô
số chư Phật khắp cả mười phương, tức thời đều đưa tướng lưỡi rộng dài và
đều ca ngợi, hỗ trợ việc thuyết pháp về Tịnh độ của Phật Thích Ca.
Vậy ,
Tịnh độ không phải chỉ có mặt ở đây mà còn có mặt ở nơi kia, và không
phải chỉ có mặt ở nơi kia mà còn có mặt ở khắp cả mười phương và ba đời
và cọng thông với nhau.
Bởi
vậy, trong Văn Cảnh Sách Tổ Quy Sơn nói: “Giá biên, na biên ứng dụng bất
khuyết”. Nghĩa là: “Bên này bên kia ứng dụng tròn đầy”.
Tịnh
độ là tuệ giác tròn đầy, là an lạc vô khuyết, là tình thương vô hạn, là
sự sống vô cùng, là thanh tịnh vô nhiễm, là bản nguyện vô biên, là diệu
dụng vô cùng, là công đức vô lượng, vậy mà ta đem trí hữu cùng, đem tâm
hữu lượng, đem ý niệm chia phân, bỉ, thử mà ứng dụng, thì làm sao mà ta
có Tịnh được nhỉ? Ta hãy tránh xa mọi cực đoan đối với Tịnh độ, để Tịnh
độ đích thực có mặt trong ta.
TAI NẠN
Ta chạy xe
trên đường phố, ta thích rẽ phải lúc nào là tùy ý rẽ, ta thích rẽ trái
lúc nào là tùy ý rẽ, ta thích dừng lúc nào là ta dừng, ta chạy xe trên
đường phố với phong cách như vậy, trước sau gì ta cũng bị tai nạn.
Cũng
vậy, ta sống trong một gia đình có nhiều người hay ta sống giữa xã hội
với nhiều người, mà ta thích gì là ta làm nấy, ta xem trong gia đình
cũng như xã hội không có ai, chỉ có một mình ta thôi, nên ta thích gì là
ta làm nấy, thì làm sao mà việc làm của ta không dẫn ta đi đến chỗ tai
nạn.
Sống
giữa cuộc đời ta gặp nhiều tai nạn là do ta, vì giữa đời ta chỉ có biết
mình ta, chính cái biết ấy đã đưa ta vào chỗ tai ương của cuộc đời.
CHẤM DỨT NỖI ÁM ẢNH
Thu
Tâm là một giáo viên ngoại ngữ, chồng cô và cô đều có vị trí nhất định ở
trong xã hội, có nhà cửa đầy đủ tiện nghi như một giai cấp thượng lưu
của xã hội, có hai con, một trai và một gái đều học giỏi.
Tuy
vậy, khuôn mặt của Thu Tâm hiếm có nụ cười thanh thản. Tâm nhìn ai cũng
cúi mặt. Tâm có nỗi buồn sâu kín không biết thổ lộ cùng ai.
Tâm
đã đọc chuyện con Mèo mướp và cá Tràu ở trong “Lời ru chạm mặt trời” của
tôi, làm Tâm xót xa về thiên chức làm mẹ của mình, Tâm đã tìm gặp tôi và
thổ lộ, vì bể kế hoặch, Tâm đã giết chết ít nhất là hai người con của
mình khi đang ở trong thai, và bây giờ lại bị ám ảnh, khiến cho Thu Tâm
ngủ không được. Tâm đã nhờ tôi giúp cho Tâm một phương pháp trị liệu.
Tôi nói với Thu Tâm không có phương pháp trị liệu nào hữu hiệu bằng
phương pháp sám hối và niệm phật mỗi ngày.
Sám
hối là sử dụng năng lực thiền định của tâm, để tẩy trừ những lầm lỗi của
thân ngữ ý. Và niệm phật là sử dụng năng lực tỉnh giác của tâm để soi
vào những hành động lệ thuộc vô minh và ái nghiệp của mình, khiến cho
chúng từ bóng đêm của tâm bước ra ánh sáng của tuệ giác và từ bi. Ta đem
năng lực của tuệ giác và từ bi ấy, để ôm những tâm thức mà ta đã vì vô
minh, khát ái mà gây đau khổ cho họ, mong họ có điều kiện để khởi lên
tâm tuệ giác và từ bi qua công phu lạy Phật, niệm Phật và sám hối của ta
một cách chí thành. Nếu ta sám hối và niệm phật như vậy, thì không có
tội nào không tiêu, không có lỗi nào không diệt và không có nghiệp
chướng nào là không thay đổi.
Nghe
tôi nói như vậy, Thu Tâm hứa sẽ nỗ lực thực hiện và sau đó không bao
lâu, cô ta đã chấm dứt được mọi ám ảnh.
ĐAU KHỔ VÀ HẠNH PHÚC
Khổ đau và hạnh phúc của ta, chúng gắn
liền với hai chất liệu thương và ghét ở trong tâm thức của chúng ta.
Ta
ghét ai là ta đau khổ trước, ta nguyền rủa ai là ta đau khổ trước, chứ
không phải người ta ghét, hay người ta nguyền rủa. Và đôi khi người ấy,
chẳng hề hấn gì với cái ghét và cái nguyền rủa của ta nữa là khác.
Và
đôi khi, người bị ta ghét và nguyền rủa, họ xem như không có chuyện gì
xảy ra, khiến cho ta càng trở nên thù ghét họ, nên sự khổ đau của ta
càng tăng lên gấp bội.
Như
vậy, khổ đau là do ta ghét. Ta ghét bất cứ cái gì là ta bị khổ đau bởi
cái ấy, nhưng cái ấy chẳng hề hấn gì đến cái ghét của ta.
Ta
thương ai là ta hạnh phúc trước, chứ không phải người ta thương có hạnh
phúc trước ta.Ta kính trọng ai là ta có hạnh phúc trước, chứ không phải
hạnh phúc thuộc về người ta kính trọng.
Viên
ngọc quý mà ta đang nâng niu nơi bàn tay ta, là ta hạnh phúc với viên
ngọc quý, chứ không phải viên ngọc quý đang hạnh phúc với ta.
Ta
nhìn một bông hoa đẹp, ta vui và ta hạnh phúc, như vậy vui và hạnh phúc
thuộc về ta mà không thuộc về hoa.
Nên,
ta muốn có hạnh phúc lớn và an lạc lớn, thì ta phải thực tập hạnh thương
yêu rộng lớn .Ta hãy đưa “đôi mắt thương” để nhìn cuộc đời.
Đôi
mắt thương của ta càng sâu, thì hạnh phúc của ta càng cao, đôi mắt
thương của ta càng trầm tĩnh, thì hạnh phúc của ta càng trong sáng, đôi
mắt thương của ta càng rộng lớn, thì hạnh phúc của ta càng tuyệt vời,
đôi mắt thương của ta càng phóng khoáng, thì hạnh phúc của ta càng có
thảnh thơi và tự do.
Như
vậy, hạnh phúc là do ta thương, tình thương của ta càng lớn, thì hạnh
phúc của ta càng tràn đầy.
Nên,
ta thương bất cứ ai, bất cứ cái gì thì hạnh phúc thuộc về ta, chứ không
phải thuộc về người ấy và cái ấy.Ta phải thực tập hạnh thương cho được
nhiều người, ngay cả những người chống lại ta.Ta phải thực tập hạnh
thương cho được nhiều loài, ngay cả những loài vật làm cho ta sợ hãi. Và
ta phải thực tập thương đến những loài thảo mộc, đất đá, dòng sông, núi
rừng, biển cả, mặt trời, mặt trăng, nắng và mưa, ngày và đêm, cũng như
tập thương cái vô thường của cuộc sống, để ở đâu và lúc nào trực diện và
tiếp xúc với bất cứ cái gì, dù thuận hay nghịch, dù phật hay chúng sanh,
dù thánh hay phàm, thì chất liệu hạnh phúc đều sinh khởi và có mặt trong
ta, để hạnh phúc là ta và ta là hạnh phúc. Hạnh phúc không còn là một sự
khát thèm và tìm kiếm.
TA
LÀ BẠN CỦA MUÔN LOÀI
Trong
bữa ăn, ta gắp một miếng thịt hay một miếng rau để ăn, ta phải biết nhìn
sâu để thấy rằng, mọi vật đang hy sinh sự sống cho sự sống của ta.
Ăn một miếng thịt hay ăn một đĩa rau là ta đang giết chết nhiều
sự sống ở trong đó hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp. Và ta đang giành
giựt mọi sự sống khác để tô đắp sự sống cho ta
Miếng thịt bò, miếng thịt heo, miếng thịt gà, ta đang gắp,
thì tất cả loài bò, heo, gà đều là nạn nhân của ta, không những vậy mà
những ký sinh vật đang hoạt động trong miếng thịt cũng đang bị ta giành
giựt. Và ta giết chết một con bò hay một con heo, tức là ta đã giết chết
rất nhiều chúng sinh đang nương tựa vào những con bò, con heo ấy để
sống.
Và một miếng rau ta đã gắp cũng vậy, chúng đều là nạn nhân của
ta, ta không những giành giựt sự sống của nó để tô đắp cho sự sống của
ta, mà ta còn giành giựt thực phẩm của trâu bò và các loài sâu bọ để ăn
nữa chứ.
Lại nữa, trong những cọng và lá rau, biết bao nhiêu loài sinh vật
đang sinh hoạt và được che chở bởi những cọng rau và lá rau ấy.
Vậy, khi ta gắp một miếng thịt, hay gắp một miếng rau để ăn,
ta phải hỏi, ta là ai mà lại có quyền uy giết hại nhiều sự sống để tô
đắp cho sự sống của mình? Ta gắp một miếng thịt hay một miếng rau để ăn,
ta có bị muôn loài thù hận và ghét ta chăng? Và nếu ta ăn để sống mà gây
thiệt hại cho nhiều loài, đem đến sự chết cho nhiều sinh vật, thì sự
sống của ta có ý nghĩa gì không? Sự sống của ta được tạo nên bởi nhiều
sự chết của các sinh loại và hạnh phúc của ta đã tạo ra nhiều lo âu, sợ
hãi và đau khổ của nhiều người và của nhiều sinh vật, như vậy sự sống và
hạnh phúc của ta có chân thật không?
Nên khi ta gắp một miếng thịt, hay ngồi đối diện với một dĩa
rau để ăn, ta hãy nhìn sâu vào những thực phẩm ấy, để khỏi hổ thẹn trước
khi ăn, và ta phải khởi tâm sám hối nghiệp chướng của ta và tâm biết ơn
sâu sắc của ta đến với mọi người, mọi loài trước khi ăn.
Ta không gắp miếng thịt hay miếng rau để ăn theo bản năng hay thú
tính, hoặc đi theo khuynh hướng phóng túng và hưởng thụ, mà gắp miếng
thịt hay miếng rau để ăn với tâm nguyện, sớm chấm dứt điều ác trong tâm,
sớm chấm dứt điều ác ở nơi những hoạt động của thân và ngữ, sớm thành
tựu các phước báo không lệ thuộc ăn uống, và nguyện đem thân thể, lời
nói và tâm hồn này phụng sự sự sống cho hết thảy muôn loài.
Ta ăn với sự quán chiếu sâu sắc, với tâm nguyện chân thật
như vậy, ta sẽ giảm trừ và đoạn tận được những tội lỗi do ăn uống đem
lại.
Như vậy, ta sống một đời sống thật có ý nghĩa và lợi ích. Ta
là bạn của muôn loài mà không phải là kẻ thù của tất cả.
ỦNG HỘ VÀ CHỐNG ĐỐI
Vào 18 giờ 30 phút ngày 15/7/2006, tại Thiền Thất Cây Thị, chùa Thuyền
Lâm TP Huế, có hai học sinh cấp III của Hoa kỳ, một tên là Ngọc Trân và
một là Andy đến gặp tôi và xin hướng dẫn Thiền tập.
Bài thiền tập đầu tiên của tôi hướng dẫn cho họ:
“Thở vào, tôi biết tôi đang thở vào,
(Breathing in, I know, I am breathing in)
Thở ra tôi biết tôi đang thở ra.
(Breathing out, I know, I am breathing out)”.
Hai
em ấy thực tập cùng tôi hai muơi phút, sau đó hai em xin tôi chia sẻ
thêm nhiều phương pháp thực tập thiền nữa.
Andy nói:“ Ngồi thiền con bị đau lưng, Thầy có phương pháp
nào giúp con thiền tập nữa không?”.
Tôi nói: “Có. Nếu ngồi thiền đau lưng, thì ta thực tập thiền
bằng sự đi, nếu đi không được nữa, thì ta tập thiền đứng, nếu đứng không
được nữa, thì ta thực tập thiền bằng sự nằm, nếu nằm mà ta không thực
tập thiền được nữa, thì ta thực tập thiền bằng sự lắng nghe, nếu thiền
tập bằng sự lắng nghe không được nữa, thì ta thiền tập bằng lắng nhìn,
nếu lắng nhìn không được nữa, thì ta thực tập thiền trong sự nói và
cười, nếu nói và cười mà ta không thực tập được nữa, thì ta thực tập
trong sự ăn uống, mặc áo quần, làm việc, hoặc ta thực tập thiền qua sự
theo dõi và nghe những cảm giác của ta, khi ta ăn uống hay tiếp xúc với
mọi đối tượng,... Hai em ấy đã rất ngạc nhiên nhìn tôi và họ cười một
cách rất thoải mái, vì họ nhận ra rằng, có rất nhiều phương pháp để
thiền tập, để tĩnh tâm, chứ không phải chỉ có một phương pháp duy nhất
là ngồi.
Sau đó, hai em lại hỏi tôi rằng: “Tại sao có nhiều người
chống lại Thiền sư Nhất Hạnh?” Tôi hỏi: “Có ai thương Ngọc Trân và Andy
không?” Hai vị ấy trả lời: “Dạ có”.
Tôi
lại hỏi: “Có ai ghét Ngọc Trân và Andy không?” và hai vị ấy trả lời là
có.
Tôi
nói: Thầy Thái Hòa cũng có rất nhiều người thương và cũng có nhiều người
chống đối”. Thương và ghét, ủng hộ và chống báng giữa thế giới và con
người, chẳng có gì làm cho ta ngạc nhiên phải không các bạn!
Khi
nghe tôi nói vậy, Ngọc Trân và Andy đều cười thích thú và chào tôi tạm
biệt.
KHỔ ĐAU
KHÔNG PHẢI LÀ TA
Có nhiều
người đã gặp những khổ đau từ đời sống, bản thân, gia đình và xã hội, họ
đã đến gặp tôi, yêu cầu tôi giúp đỡ để cho họ vượt qua tình trạng ấy.
Tôi
nói: “Mỗi khi quý vị cảm thấy khổ đau đến với quý vị từ bất cứ hướng
nào, thì quý vị hãy thực tập và quán chiếu bài này:
“Khổ không phải là tôi,
Không phải là của tôi,
Khổ hoàn toàn không thực
Do ái, thủ mà sinh”.
Khi
thở vào, ta tập trung tâm ý và quán chiếu “khổ không phải là tôi, không
phải là của tôi”. Khi thở ra, ta tập trung tâm ý và quán chiếu: “Khổ
hoàn toàn không thực, do ái thủ mà sinh”.
Và
khi thở ra, ta tập trung tâm ý và quán chiếu: “Khổ hoàn toàn không thực,
do ái thủ mà sinh”.
Nếu
ta ngồi yên lắng và thực tập như vậy, khoảng nửa giờ, ta sẽ có định
tĩnh, những cảm giác khổ đau trong ta sẽ lắng xuống và trả lại sự sống
cho tâm hồn ta.
Khổ
đau không có thực, chúng không có tự tính nào nhất định cho chính nó cả,
nhưng do ta cho rằng: “Ta phải là thế này, ta phải là thế kia”, nhưng
thực tế không xảy ra theo ý muốn của ta, nên khổ đau sinh khởi trong ta.
Như
vậy, khổ đau đã không có thực, thì làm gì khổ đau có thực trong ta. Nên
khổ đau không phải là tôi, không phải là của tôi, chúng là sự hư huyễn
không thực, do ta tham ái về “cái tôi, cái của tôi” mà khổ đau phát
sinh, nên ta muốn chấm dứt khổ đau, ta hãy buông bỏ ý niệm “về tôi và về
của tôi”, ta hãy buông bỏ ý niệm về tiền tài, danh vọng, sắc đẹp..., là
tôi, là của tôi, thì mọi khổ đau của ta sẽ từ từ chấm dứt.
Khổ
đau hay hạnh phúc của ta không phải do tiền tài, danh vọng, sắc đẹp đem
lại mà do tâm của ta tham ái và chấp thủ đối với chúng, hay do tâm ta có
chất liệu tự do và buông bỏ đối với chúng.
Khổ
đau đến với ta từ nhiều phía, kể cả những phía tu tập và hạnh phúc cũng
đến với ta, từ nhiều phía ngay cả những phía già, bệnh và chết.
Già
là do vô thường, nếu không có vô thường, thì làm sao ta có già và nếu
không già, thì làm sao ta có trẻ, già hay trẻ đều là do vô thường. Vì
sao ta thấy trẻ là hạnh phúc mà không thấy già là hạnh phúc, và tại sao
ta thấy già là khổ đau mà không thấy trẻ là khổ đau?
Bệnh
là do vô thường, nếu không có vô thường làm sao mà ta có bệnh và nếu
không có vô thường, thì làm sao ta có bệnh mà chữa trị bệnh
Như
vậy, bệnh hay vô bệnh đều là vô thường cả, tại sao ta chỉ thấy bệnh là
khổ mà không thấy bệnh là không khổ, hay tại sao thấy không bệnh là hạnh
phúc mà thấy bệnh là không hạnh phúc?
Chết
là do vô thường đem lại, nếu không có vô thường làm gì mà ta có chết và
không có chết thì làm gì có sống. Sống và chết của ta đều là vô thường.
Vậy,
tại sao sống là hạnh phúc mà chết là không hạnh phúc hay tại sao chỉ có
chết là đau khổ mà sống là không đau khổ.
Vô
thường không có nội dung của khổ hay vui, của già bệnh hay chết.Vô
thường là sự thật của mọi sự hiện hữu. Mọi sự hiện hữu là hiện hữu trong
vô thường. Ta không nhận ra được điều đó để buông bỏ mọi hạt giống tham
ái và chấp thủ đối với mọi đối tượng ở trong tâm thức ta là ta bị khổ
đau và nếu ta nhận ra được điều đó, ta buông bỏ những điều tham ái và
chấp thủ ở trong tâm thức ta, thì ngay ở trong già, bệnh, chết, ta đều
có hạnh phúc.
Ngay ở trong sanh mà ta không bị sanh chi phối, ngay ở trong già mà ta
không bị già chi phối, ngay ở trong chết mà ta không bị chết chi phối.
Ngay ở trong sanh mà ta vẫn sống với bản thể vô sanh, ngay ở trong bệnh
mà ta vẫn sống với bản thể vô bệnh, ở trong chết mà ta vẫn sống với bản
thể bất diệt.
Và
ngay ở trong sinh diệt mà ta tự tại giữa sinh diệt và không sinh diệt,
ngay ở trong già mà ta tự tại giữa cái già và cái không già, ngay ở
trong bệnh mà ta tự tại giữa cái bệnh và cái không bệnh và ngay ở trong
cái chết, mà ta tự tại giữa cái chết và cái không chết.
Như
vậy, ta chỉ có tự do và hạnh phúc đích thực, khi mọi hạt giống tham ái
và chấp thủ ngã, trong ta hoàn toàn vắng mặt.
Khi
tâm ta đã vắng mặt hoàn toàn mọi hạt giống chấp thủ và khát ái, thì ta
sống hết sức thoải mái giữa sinh và vô sinh, giữa bệnh và vô bệnh, giữa
chết và không chết.
Nên,
khổ đau không phải là ta, không phải là của ta.
PHƯỚC ĐỨC
CÙNG TA HIỆN HỮU
Ta
muốn đại tiểu tiện, ta đi tìm toilet và có toilet cho ta, là ta có phước
đức.
Ta
muốn ăn uống cái gì, ta đi tìm kiếm phẩm vật ẩm thực và phẩm vật ẩm thực
có cho ta, là ta có phước đức.
Ta bị
bệnh, ta muốn tìm thầy thuốc để chữa bệnh và có thầy thuốc cho ta là ta
có phước đức.
Ta
muốn học hỏi, ta đi tìm thầy dạy và có thầy dạy cho ta là ta có phước
đức.
Ta
muốn tu tập, ta đi kiếm môi trường và có môi trường cho ta , là ta có
phước đức.
Ta
muốn thở và có hơi thở cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn nói, và có ngôn ngữ cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn nhìn và có cái thấy cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn nghe và có cái nghe cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn ăn và có cái ăn cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn ngửi và có cái ngửi cho ta là ta có phước đức.
Ta muốn tiếp xúc và có cái tiếp xúc cho ta là ta có phước
đức.
Ta
muốn nhận thức và có cái nhận thức cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn đi và có cái đi cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn cầm nắm và có cái cầm nắm cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn ngồi và có cái ngồi cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn nằm và có cái nằm cho ta là ta có phước đức.
Ta muốn ngủ và có cái ngủ cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn từ bỏ và có cái từ bỏ cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn thương và có cái thương cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn từ bỏ cái ác và có cái ác cho ta từ bỏ là ta có phước đức.
Ta
muốn thực tập điều thiện và có cái thiện cho ta thực tập là ta có phước
đức.
Ta
muốn hiếu với cha mẹ và có cha mẹ để cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn có tình cảm với vợ hay chồng hoặc con cái và có vợ hay chồng hoặc
con cái để cho ta tình cảm thì ta có phước đức.
Ta
muốn có tình cảm với dòng họ và quê hương mà ta có dòng họ và quê hương
để cho ta tình cảm, là ta có phước đức.
Ta
muốn có tình cảm với tất cả mọi người và có mọi người để cho ta tình cảm
là ta có phước đức.
Ta
muốn cứu giúp chúng sanh và có tất cả chúng sanh để cho ta cứu giúp là
ta có phước đức.
Ta
muốn học hạnh ly dục và có các bậc ly dục cho ta học tập là ta có phước
đức.
Ta
muốn học hạnh Bồ Tát và có các Bồ Tát cho ta học hạnh là ta có phước
đức.
Ta
muốn kính lễ và học hạnh chư Phật và có chư Phật để cho ta kính lễ và
học hạnh là ta có phước đức.
Ta
muốn vào địa ngục để rèn luyện tâm chí và có địa ngục cho ta là ta có
phước đức.
Ta
muốn vào thế giới của súc sanh để chứng nghiệm sự ngu dốt của loài súc
sanh, liền có thế giới súc sanh cho ta là ta có phước đức.
Ta
muốn vào thế giới của A tu la, để chứng nghiệm sự đam mê quyền lực và
hận thù, có thế giới ấy cho ta là ta có hạnh phúc.
Ta
muốn sống nhân từ trong nhân loại và có nhân loại để cho ta nhân từ là
ta có phước đức.
Ta
muốn sống bằng thiện nghiệp của chư thiên và có chư thiên thiện nghiệp
cho ta là ta có phước đức.
Vậy,
hết thảy phước đức đối với ta, ta đã có, đang có và sẽ có.
Cái
đã có, ta nỗ lực duy trì không để rơi mất, đối với cái đang có, ta không
những nỗ lực duy trì mà còn làm cho nó thăng tiến, không gián đoạn và
với những điều phước đức mà ta chưa có, ta nỗ lực làm cho nó sinh khởi
qua nhân và duyên.
Nhân
duyên làm cho phước đức của ta chưa sinh sẽ sinh, đang có sẽ tăng
trưởng, đã có không bị rơi mất. Nhân duyên tốt đó là Tam Bảo, là Thầy
hiền, Bạn tốt, là môi trường thích ứng với các điều thiện.
Phước
đức của ta phát sinh là do ta biết sống với tất cả mọi người, mọi loài
và muôn vật bằng tất cả tấm lòng, ta phải biết thận trọng lời nói mỗi
khi hành xử, phải biết giữ gìn hành động mỗi khi tiếp xúc để không gây
thiệt hại sự sống giữa ta và muôn loài, ta phải biết khiêm tốn và cám ơn
sâu sắc những hạt cát và cọng rau, vì tất cả đang giúp ta làm nên sự
sống nhiệm mầu!
HẠNH PHÚC LÀ TA
Lòng
tham, sự căm tức và chất liệu mù quáng ở trong lòng ta đã phá hỏng nhân
cách của ta và làm cho ta không bao giờ có hạnh phúc.
Ta
tham đối với bất cứ cái gì, thì ta sẽ bị cái đó làm cho ta mất chủ quyền
và không có tự do.
Ta
hờn giận ai là ta mất nhân cách đối với người ấy và ta khổ đau trước khi
người ấy đau khổ.
Ta mù
quáng đối với cái gì, thì ta không thấy rõ tự thân của cái ấy và ta cũng
đánh mất luôn chính ta.
Như
vậy, nhân cách, hạnh phúc và sự tự do của ta chỉ thành tựu khi nào trong
đời sống của ta và trong mỗi hành động của ta không bị điều động bởi
lòng tham, bởi sự giận hờn, bởi sự mù quáng.
Ta
không cần phải đi tìm hạnh phúc ở bất cứ nơi nào, mà ta chỉ cần dừng lại
lòng tham, sự giận hờn và tính mù quáng trong ta là tức khắc hạnh phúc
sinh khởi trong ta, ta là hạnh phúc và hạnh phúc là ta.
VƯỢT KHỎI ĐÓI NGHÈO
Cha ta nghèo cho ta đi giúp việc với người, ta phải biết chọn người giàu
có hơn ta để giúp việc.
Phần
nhiều người giàu ít ai thương người nghèo, nhưng phần nhiều người nghèo
lại trọng người giàu và giúp cho người giàu, nên người giàu mới giàu. Và
người giàu là người có nhiều cơ hội tạo ra nhiều tội lỗi với người
nghèo.
Người
nào giàu có do tu nhân bố thí, cúng dường, thì tài sản không bị chồng vợ
hay con cái phá tán, không bị nước cuốn mất, lửa thiêu cháy, giặc cướp
hay bị vua quan ức hiếp chiếm đoạt. Nhưng cuối cuộc đời của họ cũng phải
buông bỏ nó. Còn người giàu nào do thủ thuật tạo nên, do dối gạt mà
thành, thì tài sản của họ không thể tồn tại lâu dài.Tài sản ấy làm hư
hỏng vợ chồng, con cái, bạn bè, làm hư hỏng nhân luân gia tộc, và bại
liệt thanh danh, nên tài sản đó, nó có đó mà không đó.
Nên,
ta nghèo, ta phải biết chọn người giàu để giúp đỡ. Người giàu mà biết tu
nhân tích đức, thì sau bữa ăn của họ ta còn thừa hưởng được, sau cái mặc
của họ, ta còn thừa hưởng được, sau cái ngủ của họ ta còn ngủ được và ta
còn học được từ tấm lòng chân thực của họ.
Trái
lại, ta đã nghèo mà đi làm đày tớ với người giàu vô đạo, sau bữa ăn của
họ, chỉ còn lại chén tách ngổn ngang, sau cái mặc của họ chỉ còn lại
những chiếc áo quần cũ mục và sau cái ngủ của họ, ta phải thức trắng đêm
để làm việc.
Bởi
vậy, dù ta nghèo, buộc phải đi làm đày tớ, ta cũng phải biết chọn người
để làm thì may ra, ta mới có cơ hội vượt ra khỏi đói nghèo.
XA LÌA TÂM ĐIÊN ĐẢO
Tâm
con người không có sự chí thành, thì không có việc gì do con người làm
mà thành cả, nếu có thành chăng, thì sau cái thành ấy là một sự thất bại
hoàn toàn.
Và
tâm con người đã hư, thì không có việc làm gì do con người làm mà nên
cả, nếu có chăng, thì sau cái nên ấy, kèm theo những sự hư hỏng khủng
khiếp.
Vậy,
muốn giúp con người thành đạt, ta khuyên họ nên đem tất cả tấm lòng cho
công việc, và muốn cho họ sự nghiệp của họ không hỏng ta khuyên họ, cần
xa lìa tâm điên đảo.
ANH HÙNG RỞM
Những
anh hùng rởm hay nói: “Muốn bắt cọp phải vào hang cọp”.
Ta
vào hang cọp, cọp ở thế thủ, ta ở thế công. Tuy ta ở thế công, nhưng ta
không hề biết ngõ ngách ở trong hang cọp là thế nào cả, và cọp đang ở vị
trí nào trong hang. Nếu ta vào trong hang mà đưa đầu vào trước là ta bị
cọp trong hang mượn đầu, ta đưa tay vào, ta bị cọp mượn tay, ta đưa chân
vào trước, ta bị mượn chân. Vậy, ta vào hang cọp bằng cách nào để bắt
được cọp?
Tuy
nhiên, cọp dữ theo thú tính, nên chúng dữ mà không dữ, ta hiền có ý thức
cao cấp, nên hiền mà không hiền.
Vậy,
ta không cần phải vào hang bắt cọp, vì cọp nằm trong hang nào có hại ai,
nên ta cần gì phải vào hang để bắt cọp, mà ta làm sao bắt cho được những
kẻ giả danh nhân từ mà ác độc hơn quỷ, giả danh công lý mà lừa bịp thiên
hạ, xưng danh tình thương mà tạo ra thù hận khắp nơi, kêu gọi đoàn kết
mà thực chất là tạo ra chia rẽ, kêu gọi hòa bình mà thực chất tạo ra
chiến tranh.
Con
người mà giả danh, giả nghĩa thì dữ hơn cả triệu lần so với cọp, vậy ta
vào hang bắt cọp làm gì, tại sao ta không bắt cọp giả danh, giả nghĩa ấy
hỡi những anh hùng rởm!
NIỀM VUI VÀ SỰ HIỂU BIẾT
Ba
chú điệu đi tụng kinh xong, tôi thưởng ba chú bốn hộp yaour.
Một
điệu hỏi: “Thầy cho bốn hộp mà con ba điệu làm sao mà chia? Tôi nói:
“Tùy các con”.
Trưa
lại, tôi gọi mấy chú điệu lại hỏi, mấy con đã phân chia yaour cho nhau
như thế nào?
Một
điệu trả lời: Ba đứa con ba hộp, còn một hộp con chia cho điệu Thành.
Tôi
nói: “Điệu Thành không gieo nhân sao lại hưởng quả? Điệu Thành lợi dụng
nhân quả của người khác là không tốt, là tội cho Điệu Thành.
Một
điệu thưa: “Con chia ba điệu ba hộp, hộp còn lại con chia ba, cho ba
người đều nhau.
Tôi
nói: “Nếu như vậy, thì quá sòng phẳng, sòng phẳng đến mức lạnh lùng và
khủng khiếp”.
Một
điệu khác nói: “Bạch Thầy, thế thì phải chia thế nào? Tôi nói: Điệu nào
được trao trách nhiệm phân chia, điệu ấy phải chia cái tốt cho người,
cái xấu cho mình, cái nhiều cho người, cái ít cho mình.
Tại
sao? Vì người được giao cho trách nhiệm phân chia, tự nó đã có được một
danh dự rất lớn rồi, không cần phải quan tâm đến vật chia cho mình nữa.
Cái
tốt, cái lợi thì nhường cho người, cái thiệt hại, cái xấu thì để lại cho
mình, đó là hạnh của bậc đại nhân ở trong đời; còn nếu cái tốt, cái lợi
để dành cho mình, cái xấu, cái thiệt hại thì đưa cho người khác, đó là
cách hành xử của kẻ phàm phu. Vì vậy, họ bị mọi người oán đối không dứt,
thù hiềm bất tận, nhân cách của họ bị hư hỏng, và bè bạn tránh xa.
Người
xưa nói: “Ở nhà vườn, ăn cau sâu”. Câu ấy, có một nội dung hành xử rất
đẹp và rất đạo lý.
Vậy,
các con phải nhớ và thực tập mỗi ngày, để mỗi ngày các con lớn lên trong
chất liệu trí tuệ và từ bi.
Ba
chú điệu, đều chắp tay vâng lời và kính lễ, rồi lui ra trong niềm vui và
sự hiểu biết mới.
LỜI NÓI CÓ Ý NGHĨA
Ta
mất tiền bạc hoặc danh vọng, có thể tìm kiếm và phục hồi lại được, nhưng
ta vụng dại để thời gian đi qua mà không có một hành động nào có ý
nghĩa, ngoại trừ cơm áo là ta bị đánh mất ta vĩnh viễn.
Người
ta có thể hiến tặng cho nhau tiền bạc, nhà cửa, đất đai ngay cả quyền
lực và tình cảm, nhưng không một ai có khả năng hiến tặng cho nhau thời
gian.
Vì
vậy, ta phải biết những gì cần làm là làm ngay, việc gì chẳng cần làm,
thì chẳng cần quan tâm, vì sao? Vì mạng sống của ta trong từng hơi thở
và hạnh phúc của ta là những lời nói và những hành động có ý nghĩa.
BỊP
Xưa nước từ trên
cao chảy xuống thấp, ngày nay và ngàn sau cũng vậy.
Ngày
nay với khoa kỹ thuật, con người có thể làm cho nước từ thấp chảy lên
cao qua máy móc, nhưng máy hết móc, thì nước từ cao vẫn đổ xuống lại chỗ
thấp.
Điều
ấy chẳng có gì là cũ, chẳng có gì là mới. Mới hay cũ là tùy theo khả
năng và trình độ nhận thức của ta đối với chân lý, chứ chân lý thì chẳng
có gì mới, chẳng có gì cũ.
Đối
với những người đã thể nhập chân lý, họ thấy ngay trong cái cũ có cái
mới và trong cái mới có cái cũ, nên cũ và mới chẳng tách rời nhau, cũ là
diệt, mới là sinh hay cũ là sinh, mới là sinh, và vì do sinh diệt mà có
cũ và mới.
Nên, ta ưa cái cũ thì cứ chơi với cái cũ và ta ưa cái mới
thì cứ chơi với cái mới. Mới và cũ mà ta đang đùa chơi đó, chẳng khác
nào hai mặt của một bàn tay.
Cái
cũ của cái nầy là cái mới của cái kia, và cái mới của cái kia là cái cũ
của cái nầy, nên những bậc có trí trong đời, chẳng bận tâm gì đến cũ và
mới, nhưng những kẻ vô trí trong đời thì thích ruồng bỏ cái cũ và chạy
theo cái mới, sống rộn ràng với hư huyễn, còn những kẻ ác trí, thì ca
ngợi cái mới, để bịp lừa thiên hạ.
PHẬT
Vì
chúng sanh mà làm Phật, nên các Ngài được gọi là Thế Tôn là bậc tôn kính
của thế gian, là Bậc tôn kính trong đời.
Vì bản thân ta mà làm Phật, thì không bao giờ trở thành Thế
Tôn mà là Thế khinh. Thế khinh là người bị thế gian khinh thường./span>
Thế Tôn là hữu đức, thế khinh là vô đức. Thế Tôn là hữu
trí, thế khinh là vô trí.
Thế Tôn vì đời sống tương ứng với tâm ly tham, ly sân, ly
si, ly kiêu mạn, ly ngã chấp, ly pháp chấp, nên được thế gian tôn kính.
Thế khinh là vì đời sống tương ứng với tâm tham, sân, si,
kiêu mạn, chấp ngã, chấp pháp, cái gì cũng là ta và của ta, nên trở
thành vô đức và vô trí, do đó bị thế gian khinh thường.
Bởi vậy, Chư Phật xuất hiện ở thế gian là vì hạnh phúc, an
lạc của chư thiên và loài người, nên các Ngài luôn được thế gian chắp
tay kính lễ.
Phật vì chúng sanh mà làm Phật, nên Phật ấy là của chúng
sanh, chúng sanh không phải vì Phật mà làm chúng sanh mà vì lý do nghiệp
lực. Vì vậy, chư Phật thương xót nên có mặt ở đời, để làm nơi nương tựa
cho tất cả.
TRUNG TÂM QUYỀN LỰC
Cái đói sai chúng
ta đi tìm kiếm thức ăn để ăn, cái khát sai chúng ta đi tìm kiếm nước
uống để uống. Cái đại tiện buộc ta phải đi vào toilet để ngồi và cho
phép ta đứng dậy khi nó không còn muốn.
Vậy, từ vua quan
cho đến thứ dân, từ kẻ trí thức cho đến người thiếu học, từ kẻ giàu có
cho đến hạng cùng đỉnh đều là kẻ bị đói khát sai sử và đều là kẻ bị đại
tiểu tiện điều khiển mỗi ngày và buộc mỗi ngày phải đến hầm xí để ngồi.
Trong
đời sống, không ai dám điều khiển vua chúa, không ai dám điều khiển tổng
thống, thủ tướng, nhưng vua chúa, tổng thống, thủ tướng hay điều khiển
mọi người, thế mà cái đại tiện có quyền lực hơn cả vua chúa, tổng
thống, thủ tướng, nó bắt buộc các vị ấy phải vào toilet để ngồi mỗi ngày
mà không có ai dám chống lại lệnh ấy, và cái đại tiểu tiện ấy mới là cái
toàn quyền ra lệnh cho ta và cho phép ta hành động mỗi ngày mà trong tất
cả chúng ta không một ai là không tuân thủ, và không một ai dám chống
lệnh và phản đối. Phản đối là chết, là tức khắc trở thành bê bối.
Nên, cái
đói khát và cái đại tiện, tiểu tiện mới là cái có toàn quyền ra lệnh cho
ta và là trung tâm quyền lực cao nhất sai sử cho ta hành động mỗi ngày,
mà trong tất cả chúng ta không một ai có khả năng chống lệnh.
Con
người có thể chiến thắng để vượt qua hơn cả muôn loài, nhưng con người
đã bị cái đói khát và cái đại tiểu tiện chi phối và sai khiến một cách
tội nghiệp. Ta càng ham ăn, ham uống thì ta càng bị đại tiểu tiện điều
khiển và ta hoàn toàn mất hết chủ quyền.
Như
vậy, đối với cái đại tiện, tiểu tiện mà ta chưa hơn và không có ai hơn.
Vậy ta hơn ai và hơn cái gì giữa cuộc đời này, mà ta tự hào và khoa
trương lắm thế.
Đại
tiện và tiểu tiện là trung tâm quyền lực tối cao của tất cả chúng ta mà
trong thế gian này không ai có đủ khả năng thách thức với chúng.
Nếu ta
thách thức với chúng là tức khắc ta trở thành người bê bối, bị mọi người
tránh xa và ta tự hủy diệt.
Biết
vậy, để ta sống trong sự khiêm tốn và tĩnh lặng, học hỏi và hành động
một cách thiết thực và sự thương yêu cũng như sự hiểu biết không còn là
những mớ lý thuyết, quảng cáo trên phim ảnh, trên sách vở hay chỉ là
những thứ “đầu môi chót lưỡi".
VƯỢT THOÁT NÃO PHIỀN
Phần nhiều
trong tất cả chúng ta đều có căn bệnh là thương cái gì thì ta nâng niu,
ca ngợi cái ấy. Và ghét cái gì là ta tìm đủ mọi cách để chỉ trích và
tiêu diệt cái ấy, bởi vậy mà khổ đau phát sinh trong ta, hận thù, bất
mãn hay nuối tiếc đều sinh khởi trong đời sống của ta.
Nên, ta
không có sự tự do, ta sống như một người bị trói hay một người luôn luôn
bị bốc lửa.
Khoa
học kỹ thuật dù tinh xảo và văn minh đến đâu, cũng không thể thay thế
cho ta để thương và ghét và cũng không thể thay thế cho ta để cảm nhận
hạnh phúc hay chịu đựng khổ đau.
Hạnh
phúc và khổ đau đều do tâm ta tạo thành và do tâm ta cảm thụ, qua sự
tiếp xúc và chiêm nghiệm của ta đối với đối tượng.
Tiếp
xúc với mọi đối tượng trong sự chiêm nghiệm và sâu lắng của tâm hồn,
giúp ta thấy rõ đối tượng một cách thực tế từ bản chất đến hiện tượng,
từ nội dung đến hình thức, từ tác dụng nhân duyên đến kết quả biểu hiện,
để giúp ta thấy đâu là điều nên làm và đâu là điều không nên làm, đâu là
điều nên nói và đâu là điều không nên nói, đâu là điều quan tâm và đâu
là điều không đáng quan tâm, khiến cho ta có tự do giữa những cái thương
và ghét, khiến cho căn bệnh thương ghét không còn chi phối được ta, mặc
dù đôi khi thân ta còn bệnh mà tâm ta thì đã vượt thoát khỏi não phiền.
Ý THỨC
CẦN ĐƯỢC NUÔI DƯỠNG
Ta phải
có một ý hướng tốt đẹp trong sự tu tập, thì sự tu tập của ta mới có khả
năng trở thành tốt đẹp.
Ta
không có một ý tưởng tốt đẹp trong sự tu tập, thì những sự tốt đẹp của
thân và ngữ hay đời sống của ta không do đâu mà biểu hiện để trở thành
hiện thực.
Làm thế
nào để ta có thể phát khởi một ý tưởng tốt đẹp?
Ta chỉ có
một ý tưởng tốt đẹp khi ta tu tập, ta không nghĩ nhiều về bản thân ta mà
nghĩ đến những khổ đau và bất hạnh của nhiều người, mà ta cần có sự tu
tập để giúp đỡ họ.
Nếu ý
tưởng nầy phát khởi trong ta, thì đó là một ý tưởng tốt đẹp. Ta cần
chăm sóc, nuôi dưỡng ý tưởng ấy và biến nó thành hiện thực trong đời
sống của ta qua các biểu hiện của thân và ngữ, giữa ta với mọi người và
mọi loài.
Ta cần
có thầy, bạn, thiện hữu tri thức và môi trường thích hợp để nuôi dưỡng
và phát triển ý thức ấy.
Nếu ta
có ý hướng tốt, nhưng ta không có thầy, bạn và thiện hữu tri thức cũng
như môi trường tốt, thì ý hướng tốt của ta sẽ bị o ép và triệt tiêu.
Nên,
phước đức hay thiện duyên của ta không chỉ dừng lại ở nơi một ý tưởng
tốt đẹp sinh khởi mà còn là ở nơi môi trường để ý tưởng ấy tồn tại nữa.
Bởi
vậy, một vị có phước đức tu tập, họ không phải chỉ có chánh báo trang
nghiêm mà còn có y báo trang nghiêm nữa.
Nên ta
nhìn vào chánh báo của một người là ta biết ngay y báo của họ và ngược
lại.
Y báo
và chánh báo phải cộng thông với nhau để giúp ta thành tựu tốt đẹp trên
con đường tu tập và chuyển hóa.
ĐỪNG LÀM NGHĨA VỤ
Bạn đừng
đi đến với người khác bằng nghĩa vụ, mà hãy bằng tất cả tấm lòng của
bạn.
Nếu bạn
đi tới với người khác bằng nghĩa vụ, cảm giác khó chịu hay cảm giác dửng
dưng sẽ có mặt trong bạn. Nhưng, nếu bạn đi tới với người khác bằng tất
cả tấm lòng thì không những bạn có cảm giác an lạc mà còn làm sinh khởi
những cảm giác tươi vui nơi những người bạn đến.
Làm
việc bằng nghĩa vụ, công việc của bạn trở nên khô khan, nhưng nếu bạn
làm việc bằng tất cả tấm lòng, thì công việc ấy trở nên tươi vui sinh
động và có một ý nghĩa rất đẹp và hết sức thiết thực cho bạn.
Tấm
lòng của ta có mặt ở đâu, thì việc làm của ta có ý nghĩa ở đó. Và nghĩa
vụ ở đâu, thì sự miễn cưỡng có mặt ở đó.
MẤT HẾT LINH HỒN
Mặt trời biết chấp
nhận sự xuất hiện ban ngày và từ chối sự xuất hiện ban đêm. Mặt trăng
biết chấp nhận sự xuất hiện ban đêm và từ chối sự xuất hiện ban ngày. Vì
biết sự chấp nhận và từ chối như vậy, nên mặt trời và mặt trăng đã đem
lại nhiều lợi ích cho muôn loài và cây cỏ.
Biển cả
biết chấp nhận mọi nguồn nước đổ về cho mình, nhưng lại biết từ chối tất
cả rác rưởi và tử thi từ các nguồn nước ấy. Vì vậy biển có khả năng gìn
giữ sự trong sáng, có khả năng che chở hết thảy loài thủy tộc và đem lại
lợi ích rất lớn cho thế giới con người.
Quả đất
biết chấp nhận hết thảy rác rưởi và tử thi, nhưng lại biết tiêu hóa
những thứ ấy, trở thành chất liệu màu mỡ, để nuôi dưỡng thảo mộc sinh
khởi hoa trái và hương thơm cho con ngưòi và muôn thú.
Vậy, ta
là con người sống trong trời đất, mà không biết cách chấp nhận và không
biết cách từ chối, thì làm thế nào mà con người sống có hồn, có hạnh
phúc và có ý nghĩa được?
Các bậc
thánh nhân biết chấp nhận cuộc đời để sống và thương yêu, để chiêm
nghiệm và trau dồi phước đức, nhưng lại biết từ chối những hạnh phúc của
thế gian đem lại. Bởi vậy, các ngài sống có chủ quyền, an lạc, thảnh
thơi và sống có nhiều lợi ích cho cuộc đời.
Trong
đời sống hằng ngày, ta chỉ biết từ chối mà không biết chấp nhận hoặc chỉ
biết chấp nhận mà không biết từ chối, chúng sẽ đưa ta đến bệnh hoạn,
không phải chỉ là bệnh hoạn của bản thân, bệnh hoạn của tâm mà còn đưa
ta đến bệnh hoạn của tư duy, của nhận thức, ngôn ngữ và bệnh hoạn ngay
trong mọi hành xử của bản thân ta nữa.
Nên, ta
sống như một kẻ bị bụng phềnh hay như một kẻ bị ốm gầy xanh xao và mất
hết tất cả linh hồn.
PHIỀN NÃO LẮNG YÊN
Khổ đau đến với
chúng ta không phải từ hoàn cảnh và xã hội mà từ những phiền não nơi tâm
thức của chúng ta.
Càng
tham lam ta lại càng bị lún chìm vào khổ đau, càng sân hận thì khổ thọ
trong ta càng tăng lên và càng cố chấp thì cuộc sống của ta lại càng
chật hẹp và lại càng ganh tỵ đối với người khác, thì cuộc sống của ta
lại càng trở nên nghèo nàn và cô độc.
Tâm
tham càng làm cho ta đau khổ bao nhiêu, thì tâm xả càng làm cho ta hạnh
phúc bấy nhiêu, tâm sân làm cho ta khổ đau bao nhiêu, thì tâm từ bi làm
cho ta hạnh phúc bấy nhiêu, tâm cố chấp làm cho đời sống của ta chật hẹp
bao nhiêu, thì tâm bao dung làm cho cuộc sống của ta rộng lớn bấy nhiêu,
tâm ganh tỵ và đố kỵ với người khác làm cho ta nghèo nàn và cô độc bao
nhiêu, thì tâm tùy hỷ lại làm cho ta giàu có và tươi vui bấy nhiêu.
Như
vậy, nguyên nhân khổ đau chính là do các phiền não trong tâm thức ta tác
động lên hoàn cảnh của ta và tạo ra hoàn cảnh khổ đau cho ta.
Nguyên
nhân hạnh phúc của ta không đi từ những ân sủng được ban phát từ ngoại
giới mà đi từ chất liệu tốt đẹp, thánh thiện ở trong tâm thức ta.
Bồ đề
tâm là tâm thức tốt đẹp ở nơi mỗi chúng ta. Tâm thức ấy có nội dung của
tuệ giác, của từ bi và của hỷ xả. Chính tâm thức ấy, tác động lên mọi
hoạt động của ta, tạo ra hoa trái và hoàn cảnh hạnh phúc cho ta.
Ta
không thể tránh khỏi những sầu muộn, khổ đau khi ta tràn đầy phiền não.
Biết
vậy, để ta không còn dong ruổi tìm cầu những hạnh phúc mơ hồ ở bên ngoài
hay đổ thừa những khổ đau của ta phát sinh từ xã hội, mà khổ đau hay an
lạc đều phát khởi từ nơi tâm thức của chúng ta.
Ta hãy
trở về và chăm sóc tâm ta khiến cho mọi phiền não trong ta lắng yên và
bồ đề tâm trong ta hiện khởi. Hạnh phúc đối với ta không còn là mơ hồ và
khổ đau với ta không còn là ngoại cảnh.
GIỚI HẠN VÀ TRIỆT TIÊU
Lòng
tham của ta không có giới hạn thì oán thù, phiền muộn và khổ đau sẽ xảy
ra trong đời sống của ta cũng không có giới hạn.
Ta làm
sao tránh được oán thù, phiền muộn khi trong ta có quá nhiều tham vọng.
Tham vọng cho ta, tham vọng cho huyết thống của ta, tham vọng cho quê
hương của ta, cho trường phái và tổ chức của ta. Tham vọng càng lớn thì
phiền muộn, lo lắng, oán thù và khổ đau càng nhiều và những thứ đó sẽ
đến với ta từ nhiều phía.
Tập
sống sâu sắc và đơn giản, lại biết tiếp xúc và thưởng thức sự hiện hữu
mầu nhiệm của thiên nhiên, giúp ta hạn chế được lòng tham của ta, giúp
ta thoát ra khỏi phiền muộn của cuộc sống, giảm bớt khổ đau và oán thù
đến với ta.
Hạnh phúc chỉ có
mặt trong ta, khi nào ta biết giới hạn lòng tham của ta và triệt tiêu nó
bằng trí tuệ và từ bi.
HOA NỞ
TRONG TƯƠNG LAI
Chúng ta không cần
đi tìm quá khứ mà hãy nhìn vào những gì chúng ta đang có trong hiện tại
và không cần phải đi tìm kiếm tương lai mà hãy nhìn vào những gì ta đang
hành động trong hiện tại.
Trong
đời sống hiện tại của ta, chúng vừa có mặt trong quá khứ và tương lai
của chúng ta. Hiện tại của ta là kết quả từ quá khứ và là tác nhân dẫn
đến kết quả của ta trong tương lai. Do đó ta phải biết tiếp xúc một cách
sâu sắc với những gì mà ta đang có, dù là vừa ý hay không, và ta phải
hết sức cẩn trọng trong từng lời nói, hành động, nhất là trong từng ý
niệm khởi lên của chúng ta.
Ta
không thể nào có một tương lai hạnh phúc, nếu hiện tại ta chỉ khởi lên
những ý niệm bất ổn, những tâm niệm bất toàn. Nên, tâm tư ổn định là cần
thiết cho một tương lai trong sáng của chúng ta. Bởi vậy, mỗi ngày ta
phải có những thời điểm nhất định để thiền tập, khiến cho tương lai của
ta được nở hoa từ những thời điểm thiền tập ấy.
CHẾT LÀ TIẾP TỤC SỐNG
Chết là
một sự thực trong đời sống của chúng ta, nhưng trong tất cả chúng ta ít
ai chấp nhận sự thực này. Vì không chấp nhận sự thực này, nên đời sống
của ta thường sinh khởi những chất liệu lo lắng, sợ hãi và tránh né đối
với nó.
Một
người sống quá lo lắng, người ấy không thể nào có một đời sống thảnh
thơi, một người quá sợ hãi, thì không thể nào có những bước chân, lời
nói và quyết định vững chãi, và một người thường tránh né sự thực, thì
không đủ khả năng để đương đầu với những khó khăn của cuộc sống.
Những
khó khăn của cuộc sống không phải là thiếu hụt về kinh tế hay bị khống
chế bởi các quyền tự do về chính trị hoặc là bị khó khăn về những nhu
cầu tình cảm mà chính là chúng ta đang gặp những khó khăn của già, bệnh
và chết.
Những
khó khăn về kinh tế, chính trị hay tình cảm, có thể xảy ra cho người này
mà không xảy ra cho người kia, chúng có thể xảy ra ở nơi này, nhưng có
thể không xảy ra ở nơi khác, nhưng già, bệnh và chết là những khó khăn
vừa là căn để vừa là phổ quát trong tất cả mọi đời sống của chúng ta.
Tu tập
không phải là để tránh né những khó khăn trong đời sống của chúng ta do
già, bệnh và chết đem lại, mà là để trực diện và làm bạn đối với chúng,
nhằm khám phá ra rằng, trong cái già có cái không già, trong cái bệnh có
cái không bệnh và trong cái chết có cái không chết.
Trong
cái già của bản thân, ta có tâm không già, trong cái bệnh của thân, ta
có cái tâm không bệnh và trong cái chết của thân, ta có cái tâm không
chết.
Tâm là
gốc của mọi sự sống. Khi sự sống hết duyên, thì sự sống trở lại với gốc
của nó là tâm.
Nếu tâm
ta chứa đầy phiền não, thì sự sống của ta trở nên phức tạp và tâm ta
phiền não lắng yên, thì mọi việc đi qua đời ta dù nhỏ, dù lớn, dù thuận
lợi hay khó khăn đều trở thành giản dị, sâu lắng và an bình. Nên, già,
bệnh và chết đối với ta không còn là những quan ngại. Chết là cơ hội để
trở về với gốc rễ của cuộc sống và tiếp tục sống với những gì cao đẹp
hơn mà trước đó ta đã từng nghĩ, nói và làm.
HÀNH ĐỘNG CỦA TA
Đừng bao giờ nghĩ
rằng, chỉ có một mình ta tìm kiếm hạnh phúc mà phải biết rằng, tất cả
mọi người và mọi loài cũng đang tìm kiếm hạnh phúc như ta.
Vậy, khi
ta đi tìm kiếm hạnh phúc, ta đừng bao giờ gây đau khổ cho mọi người và
mọi loài. Nếu hạnh phúc của ta được xây dựng trên những đau khổ của mọi
người và mọi loài, thì hạnh phúc ấy chỉ là hư ảo, là những trá hình của
thù oán và khổ đau.
Trong
đời sống hằng ngày, nếu ta chưa có đủ điều kiện giúp cho mọi người, mọi
loài thoát khổ, thì ít ra ta cũng phải cẩn trọng lời nói và hành động để
không gây thiệt hại đến những người xung quanh chúng ta.
Lời nói
của ta không cẩn trọng, thường đem đến những phiền muộn về khổ đau cho
nhiều người và hành động không thánh thiện dẫn sinh cho ta đời sống bất
hạnh.
Nên
biết rằng, ta đang hành động như thế nào, thì ta đang là cái ấy. Không
có một định nghĩa nào chính xác cho ta bằng chính hành động của ta,
chính hành động của ta khẳng định ta là hạnh phúc hay đau khổ.
TẤM LÒNG
KHÔNG NHÂN NGÃ
Ta yêu chuộng sự sống một cách tha
thiết, và ta sống hết lòng trong từng khoảnh khắc là do ta có ý thức rõ
ràng về sự chết. Cái chết chắc chắn sẽ đến với chúng ta. Nó không phải
đến với ta từ bên ngoài mà ngay từ bên trong cuộc sống của chúng ta. Một
ngày qua đi là một ngày đưa ta đến gần với cái chết. Cái chết đến với
mọi người một cách bình đẳng. Không một ai trong chúng ta có thể tránh
né hay hối lộ được với cái chết.
Vậy, ta
phải làm quen với cái chết và xem cái chết như là một đối tượng hàng
ngày của thiền quán. Càng thấy rõ sự chết bao nhiêu, ta lại càng nỗ lực
sống thật có ý nghĩa bấy nhiêu. Càng thấy rõ sự chết bao nhiêu là ta lại
càng cẩn trọng và không phung phí sự sống của ta bấy nhiêu.
Sự sống
của ta tuy nói trăm năm, nhưng thực chất chỉ hiện hữu trong từng hơi thở
mà thôi.
Biết
vậy, để ta chỉ làm những gì cần làm, chỉ nói những gì cần nói và quan
tâm những gì cần quan tâm mà thôi, nên ta:
“ Hãy đi trong
tĩnh thức
Nói
cười trong yên lặng
Bàn tay không
nắm bắt
Tấm lòng không
nhân ngã".
TỪ SAI LẦM
ĐƯA ĐẾN LẬN ĐẬN
Cái sai lầm lớn nhất của tất
cả chúng là nghĩ rằng: “Thân này là ta, là của ta”. Nhưng thực chất nó
chẳng phải là của ta chút nào! Ta không hề sai sử được nó và nó cũng
chưa bao giờ làm vừa ý ta. Nó chỉ sai sử ta phục vụ nó mà thôi. Nó buộc
ta đi kiếm thức ăn cho nó ăn, nó sai ta đi kiếm nước cho nó uống, nó
buộc ta đi làm nhà cho nó ở, nó khiến ta đi treo mùng cho nó ngủ, nó bắt
ta mở tivi cho nó xem..., mất cả cuộc đời ta chỉ phục vụ nó, nhưng thực
chất nó chẳng phải là ta và chẳng phải là của ta. Nó là một phần của tâm
thức.
Nơi
những yếu tố ấy, chẳng có yếu tố nào là ta và là của ta cả. Thế mà ta đã
nhận lầm nó là ta, là của ta, khiến cho ta lận đận, từ sáng đến chiều,
từ chiều đến tối, từ ngày này qua tháng khác, từ năm này qua năm khác.
Ta lận đận là do ta đã nhận lầm: “Thân này là tôi, là của tôi”.
HẠNH PHÚC VÀ PHƯỚC ĐỨC
TRONG THIỀN QUÁN
Ta có đôi mắt vô bệnh và không bị khuyết
tật là ta đã có hạnh phúc và đã có nhiều may mắn.
Ta đem
đôi mắt ấy mà nhìn mọi hình sắc giữa cuộc đờì với tâm không thành kiến,
không ganh tỵ, không chiếm hữu, với tâm hiểu biết và thương yêu, với tâm
hỷ xả, thì hạnh phúc của ta là không thể nghĩ bàn và phước đức của ta sẽ
tăng lên vô tận.
Ta đem
đôi mắt ấy, để chia sẻ và cảm thông với những bất hạnh của những người
mù, với những người mắt bị bệnh hoạn và khuyết tật, với những người tay
chân đang bị cột trói, xiềng xích, đang bị tra tấn cực hình, với những
người đang bị sa vào màng lưới tội lỗi, hay đang bị rơi vào những hầm hố
tà kiến.
Ta đem đôi mắt ấy
để chia sẻ và cảm thông đối với những chúng sanh đang tranh nhau để
sống, đang giành giựt nhau để tồn tại, mạnh được yếu thua mà những khổ
đau và bất hạnh của họ, chưa bao giờ có một cơ hội nào để dừng lại và
chuyển hướng.
Ta có
đôi tai vô bệnh và không bị khuyết tật là ta đã có hạnh phúc và đã có
quá nhiều may mắn ở trong đời.
Ta đem
đôi tai ấy mà nghe mọi âm thanh giữa cuộc đời, với tâm không thành kiến,
không ganh tỵ, không chiếm hữu. Nghe với tâm hiểu biết sâu, với tâm
thương yêu rộng, với tâm bao dung và hỷ xả, thì hạnh phúc của ta là
không thể nghĩ bàn, phước đức của ta sẽ là vô tận.
Ta đem
đôi tai ấy, để chia sẻ và cảm thông với những bất hạnh của những người
bị điếc, với những người tai bị bệnh hoạn và khuyết tật, với những người
bị âm thanh ngọng lựu, thô cứng, với những người có âm thanh độc ác và
những loài chúng sanh có những âm thanh không lành mạnh, với những âm
thanh vang lên, kêu lên từ những tra tấn cực hình, từ những sợ hãi, lo
lắng, thất vọng và khổ đau của tất cả muôn loài.
Ta đem
đôi tai ấy để nghe âm thanh mầu nhiệm của gió, của nước, của lửa, của
đất, của núi rừng, của biển cả, của trăng sao, của mây ngàn, của tâm
thức, của vạn hữu sinh diệt vô thường, của âm thanh thanh tịnh từ các
bậc chân nhân và âm thanh khi phát khởi đại nguyện của các Bậc Bồ Tát.
Ta có
mũi vô bệnh và không bị khuyết tật là ta đã có hạnh phúc và đã có quá
nhiều may mắn. Ta đem mũi ấy mà hít thở không khí của thiên nhiên đã ban
tặng.
“Thở
vào, ta biết ta đang thở vào; thở ra, ta biết ta đang thở ra. Thở vào,
ta biết, ta đang đưa dưỡng khí đi vào trong thân thể ta; thở ra, ta
biết, ta đang đưa những khí không lành mạnh đi ra khỏi thân thể ta”.
Ta
thở vào và ra như vậy mỗi ngày, với ý thức toàn thân an tịnh là ta đưa
thân đi về với tâm, ta đưa tâm đi về với thân, thân và tâm có mặt trong
nhau, và nhất như cùng nhau trong đại định.
Thở
vào ta tiếp xúc với sự trong sáng của thân tâm ta, thở ra ta đem sự
trong sáng ấy hiến tặng cho cuộc đời.
Thở
vào, ta tiếp xúc và ngửi được hương vị của cuộc sống trong ta; thở ra ta
tiếp xúc và ngửi được hương vị của cuộc sống ngoài ta.
Ta đem cái mũi có
khả năng thở và ngửi ấy, mà thở những sanh khí của thiên nhiên và ngửi
những hương thơm của cuộc sống, thì hạnh phúc của ta không thể nghĩ bàn
và phước đức của ta không thể kể xiết.
Ta đem
cái mũi có khả năng thở và ngửi ấy, để chia sẻ và cảm thông với những
bất hạnh của những người mũi bị điếc, bị bệnh, bị khuyết tật, hay những
người mũi đang bị thở những không khí ô nhiễm, bị độc hại, bị tanh nồng,
bị xú uế hay bị thở và ngửi những không khí không đầm ấm trong gia đình
và bất an ngoài xã hội.
Ta đem
mũi ấy, để thở và ngửi những hương vị mầu nhiệm của gió, của nước, của
lửa, của đất, của núi rừng, của biển cả, của trăng sao, của mây ngàn,
của dòng sông xanh tĩnh lặng, của tâm thức bình an, và hương thơm tỏa ra
từ các bậc có giới đức, có thiền định sâu xa và có tuệ giác quán chiếu
chính xác, rộng sâu và cùng khắp.
Ta có
cái lưỡi vô bệnh và không bị khuyết tật là ta đã có hạnh phúc và đã có
quá nhiều may mắn.
Ta đem
lưỡi ấy mà tiếp nhận thức ăn độc hại và nói những lời không lành mạnh là
thật uổng phí cho ta.
Nên,
ta nguyện chỉ ăn những thức ăn lành mạnh, không gây thiệt hại cho ta và
người, không gây ra những oán thù giữa ta và muôn vật. Ta nguyện chỉ nói
những gì chân thật, lợi ích, không nói những lời nói có nội dung phù
phiếm và ba hoa và nguyện không nói những lời nói gây ra oán thù giữa ta
và người trong đời này và đời sau.
Ta
nguyện đem cái lưỡi có nhiều phước báo ấy, mà nói những lời đúng sự
thật, nói những lời không tranh cãi, nói những lời trước sau như một để
hiến tặng cho đời.
Ta có
một thân thể vô bệnh, với các quan năng nhận thức không bị khuyết tật là
ta đã có quá nhiều hạnh phúc và may mắn.
Ta đem
thân ấy mà thực hành tình thương, tôn trọng và bảo vệ sự sống cho muôn
loài. Ta đem thân ấy mà thực hành và bảo vệ công lý. Ta đem thân ấy mà
sống nếp sống an hòa, lành mạnh để nuôi dưỡng khí tiết cho ta và để hiến
tặng cho đời những gì tốt đẹp.
Ta
nguyện đem thân ấy mà cảm thông và chia sẻ đối với những ai có thân thể
đang đầy bệnh tật và nghiệp chướng, xin nguyện cho những người ấy có
được thân thể kiện khương, thọ mạng lâu dài, mỗi khi họ xả thân và thọ
thân đều được tự tại như ý và khiến cho bất cứ ai mỗi khi nhìn thấy sự
xả thân và thọ thân của người ấy đều phát tâm tu tập, sinh khởi được
chất liệu của trí tuệ và từ bi.
Ta có
tâm ý không bị điên đảo trong nhận thức, không bị tán loạn trong tư duy,
không bị lãng quên trong nhớ nghĩ và không bị sai lầm trong phán đoán là
ta có quá nhiều may mắn và hạnh phúc.
Ta nguyện
đem tâm ấy mà an trú vào thiền định, khiến cho các phiền não không còn
chi phối, khiến cho các loại ái kiến và ái nghiệp không còn khởi sinh,
khiến cho các ý niệm về ngã và ngã sở không thể phát khởi.
Ta
nguyện đem tâm ấy, mà an trú vào nghĩa “không” của tất cả pháp, khiến
cho tâm ý của ta không bị khuynh động bởi cái sinh và cái diệt, bởi cái
có và cái không, bởi cái đến và cái đi, bởi cái tan và cái tụ, bởi cái
đồng nhất và cái dị biệt của vạn hữu.
Ta
nguyện đem tâm bất động ấy, mà hiến tặng cho đời và dựng xây quê hương
Tịnh Độ bằng tất cả chất liệu của đại bi và đại trí.
Với
thiền quán, ta phải thấy thân và tâm ta như vậy, nguyện sống thật xứng
đáng và thăng hoa đối với những gì ta đã có, để ở đâu và lúc nào ta cũng
mỉm cười và thong dong với mọi sự sống.
|