HUYỀN
LUẬN DUY-MA-CẬT
Tuệ Sỹ [MỤC LỤC]
CHƯƠNG I:
PHÁP HỘI VƯỜN XOÀI
DẪN
Phật trú trong vườn Xoài của
kỹ nữ Am-ma-la-bà-lị (Āmrapālīvana), thành Tỳ-da-li (Vaiśālya), thủ
phủ của dòng họ Ly-xa (Licchavi).
Bấy giờ, năm trăm công tử
Ly-xa, dẫn đầu bởi Bảo Tích (Ratnākāra), mỗi người mang theo một cây
lọng quý, biểu hiệu quyền quý, đến vườn Xoài cúng dường Phật. Các
công tử hỏi Phật, làm thế nào để kiến thiết quốc độ thanh tịnh, và
hình thái thanh tịnh của quốc độ Phật như thế nào. Phật giảng cho
các công tử về quá trình tu tập bản thân và hành đạo để thành tựu
được mục đích ấy. Cuối cùng, Phật kết luận: sự thanh tịnh của tâm
của Bồ tát như thế nào thì sự thanh tịnh của quốc độ của Phật cũng
như vậy.
Kết luận này gợi nên sự hoài
nghi nơi Xá-lợi-phất: Há đức Thích Tôn khi hành Bồ tát đạo tâm không
thanh tịnh hay sao, để khi thành Phật quốc độ lại xấu xa như thế
này? Nhân đó Phật thị hiện choa Xá-lợi-phất cùng đại chúng hiện diện
nhìn thấy thế giới bản lai vốn cực kỳ thanh tịnh, vô cùng tráng lệ.
I. PHÁT KHỞI CHI HƯỚNG
Một thời đại xa xưa, các hàng vương
tôn công tử được nuôi dưỡng trong nhung lụa, được bảo bọc bởi quyền lực
thống trị; sống với tuổi trẻ hưởng thụ ngũ dục, học tập và chờ đợi kế
thừa cơ nghiệp được dựng lên và được bảo vệ bằng thanh kiếm; họ có suy
nghĩ gì về sự nghiệp tương lai? Về ý nghĩa nhân sinh? Họ nghĩ gì về đám
thuộc hạ, thần dân, với những hạnh phúc và khổ lụy nhân sinh; với những
bức bách khốn quẩn của giá trị sinh tồn? Một số không đủ kiên nhẫn đợi
chờ đã manh tâm giết cha, giết anh để thâu tóm quyên lực trong tay, tự
do tự tại làm những gì mình thích, hủy diệt những gì mình ghét. Một số
khác an phận với những gì đang được cho và những gì sẽ cho, tùy thuộc sự
yêu ghét của những ai đang và sẽ là chủ nhan ban phát ân huệ; sống vâng
theo định mệnh an bài nào đó từ trên cao là Thượng đế mà dưới cõi trần
là Nhân vương. Một số khác phản tỉnh trên tự thân, tư duy về lẽ sống
chết; quan sát những giá trị sinh tồn, về hạnh phúc và đau khổ.
Hàng sau cùng, khám phá tự thân chỉ
là một tổ hợp giả tạo; hạnh phúc từ những hưởng thụ ngũ dục chỉ là phù
du, chỉ đáng khát khao cho những ai đang đắm mình trong quên lãng bởi
cơn say. Không có nấc thang cao quý và sang hèn giữa các vương tôn công
tử cùng với hạng cùng đinh hạ đẳng. Thế giới này không được sáng tạo
riêng cho một chủng tộc, cho một dòng họ, cho một giai cấp. Nó là kết
quả của cộng nghiệp, của sáng tạo cộng đồng bởi khát vọng sinh tồn phổ
quát; được sáng tạo từ ý chí muốn sống, muốn được an ổn để sống của từ
con sâu, con kiến bé bỏng. Thế giới ấy là công cụ che chở và nuôi dưỡng
các sinh loại đã sáng tạo nên nó bắng khát vọng sinh tồn; thế giới ấy
cũng là công cụ trừng phạt các sinh loại đã dựng lên nó bằng hận thù,
tranh đoạt. Trong từng giây phút, như bốn ngọn núi lớn từ bốn phía đang
trườn tới, nghiền nát, hủy diệt tất cả những gì chúng đi ngang qua. Yếu
đuối như sâu kiến, hùng mạnh như vua chúa, thảy đều bị nghiền nát. Chỉ
những ai đang say sưa, đang ngủ say mới không thấy được tại họa đang
tràn đến.
Vậy ta phải làm gì để dựng một thế
giới an toàn. một hải đảo an toàn giữa đại dương mênh mông, đầy hiểm
nguy rình rập?
Một đoàn Công tử Ly-xa, một dòng họ
hùng mạnh đang cai trị thành bang tì-da-li phú cường, với xe ngựa, với
tàn long, với tất cả biểu hiệu uy quyền vương giả, họ hướng về phía vườn
Xoài của một kỹ nữ danh tiếng, nơi đó Phật và Thánh chúng đang tạm dừng
chân trên bước đường hành đạo. Tất cả sức mạnh của tuổi trẻ, tất cả sự
hùng cường của dòng họ, và tất cả lạc thú mà họ dễ dàng đạt được bằng
sức mạnh ấy khi đi đến vườn Xoài trước đây, nay tất cả những thứ ấy có ý
nghĩa gì trước sức mạnh của chân lý, của những vị đã nhìn thấy sự thật
của thế gian?
Bây giờ họ đên vườn Xoài này để
muốn biết có hay chăng ở đâu đó một thế giới an toàn, an lạc, mà sức
mạnh uy quyền và vật duhc hưởng thụ không mang lại được, không thể gìn
giữ lâu bền được.
Các Công tử Ly-xa dẫn đầu bởi Bảo
Tích, đến cúng dường Phật, và sau đó hỏi Phật về một thế giới an toàn,
an lạc; về sự kiến thiết quốc độ trang nghiêm. Bắt đầu từ đây là một
đoạn đường chuyển hướng. Những chuyện ly kỳ trong đời sống của
Duy-ma-cật cũng bắt đầu từ đây. Danh hiệu Duy-ma-cật chưa được giới
thiệu, nhưng chí hướng Bồ tát và các ý nghĩa liên hệ mà Duy-ma-cật nói
và làm được kể chi tiết trong toang bộ Kinh được giới thiệu ngay ở đây,
qua hình ảnh được nhìn hoặc chính diện hoặc phản diện từ các Công tử
Ly-xa cho đến vườn Xoài của kỹ nữ.
Khởi điểm và chí hướng của Bồ tát
đạo được nêu lên ở đây. Do ý nghĩa này mà phẩm thứ nhất, trong bản dịch
của Cưu-ma-la-thập, có tiêu đề là “Phật quốc phẩm.” Tiêu đề theo bản
Phạn hiện còn cũng với ý nghĩa tương tợ: bằng những điều kiện gì, bằng
những phương tiện gì, để kiến thiết một quốc độ thanh tịnh trang nghiêm,
một thế giới xinh đẹp, an toàn và an lạc.
Trong bản dịch của Huyền Tráng, tiêu đề là “Tự phẩm.” Theo thông lệ, các
kinh Đại thừa bắt đầu với phẩm Tựa, giới thiệu thời gian, địa điểm,
thính chúng, và các yếu tố khác liên quan đến lý do bản kinh được giảng
thuyết.
Phẩm tựa như vậy được chia làm hai
phần chính. Phần tổng quát, chung cho tất cả các kinh, giới thiệu hoàn
cảnh thuyết kinh. Phần cá biệt, giới thiệu nội dung chủ yếu của kinh.
Duy-ma-cật sở thuyết
mở đầu kinh với tiêu đề “Phật quốc phẩm” đã nêu rõ nội dung chủ yếu của
kinh. Theo đó, bản kinh không phải đơn thuần là bản hành trạng của của
Duy-ma-cật, mặc dù có những chi tiết nói về đời sống và các hành vi của
Duy-ma-cật. Nhưng điều cần được nhấn mạnh là nội dung hành đạo của
Bồ-tát. Nội dung đó, như đã biết, là “tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng
sinh”.
Toàn bộ kinh được diễn ra ở hai địa
điểm. Tại vườn Am-la
và tại căn phòng riêng của Duy-ma-cật, nơi ông đang nằm bệnh. Kinh mở
đầu bằng sự kiện, lúc đó Phật cùng với đại chúng tỳ kheo đang trú ngụ
tại vườn Am-la, tức khu vườn của kỹ nữ Am-ba-bà-lị.
Điều này rất có ý nghĩa. Khu vườn ấy đã được Am-ba-bà-lị dâng cúng cho
Phật sau khi nàng quy y.
Từ một địa điểm xa hoa trụy lạc nay bỗng nhiên biến cải thành nơi chốn
tu hành nghiêm túc. Vườn xoài vẫn như cũ. Kỹ nữ Am-ba-bà-lị vẫn là kỹ
nữ. Các vương tôn công tử vẫn tìm đến nàng để mua vui. Nhưng nay, vẫn
những người đó, khi họ trở lại lạc viên ngày trước, thì một sự thay đổi
kỳ diệu nào đó đã xảy ra. Trước kia, họ đến đây để thưởng thức vị ngọt
của ngũ dục. Nay, vẫn những con người đó, họ đến đây để phát hiện một
hương vị tuyệt vời khác: hương vị của Chân lý, vị ngọt của Chánh pháp.
Được nuôi dưỡng bằng vị ngọt đó, cuộc đời của họ thay đổi, hướng đến
phụng sự và kiến thiết một thế giới thanh tịnh, quốc độ Phật. Điều đó
khiến mọi người khởi lên ý nghĩ liên tưởng và so sánh. Sẽ là hiện thực
chăng, thế giới được xem là ngập tràn nước lũ ô trược này nhất định sẽ
có thể trở thành thế giới thuần tịnh, một khi tâm tư của chúng sinh sống
trong đó được biến cải? Và phải chăng, một khi tâm của chúng sinh đã
thanh tịnh thì vị ngọt ngũ dục vốn là nguyên nhân của đau khổ sẽ trở
thành vị ngọt của Chân lý, của Chánh pháp?
Sự kiện, năm trăm công tử trong
thanh Tỳ-da-ly, dẫn đầu bởi Bảo Tích,
đến vườn xoài để tham lể Phật, được giới thiệu ngay trong phần tựa này
cũng là điều có ý nghĩa. Trước đây có thể nhiều người trong số họ đã
đến với người kỹ nữ danh tiếng nơi vườn xoài này để tìm lạc thú. Nay họ
đến đây không do thúc đẩy của khát khao dục vọng, nhưng đến để tìm một
giá trị siêu việt nào đó của sự sống. Cho nên, sau khi lễ Phật và cúng
dường, Bảo Tích thỉnh cầu Phật chỉ dạy con đường hành đạo thực tiễn để
Bồ-tát kiến thiết quốc độ Phật thanh tịnh và thành tựu chúng sinh thuần
thục trong chân lý.
II. BIỂU TƯỢNG CƯƠNG GIỚI PHẬT QUỐC
Khái niệm một quốc gia bao gồm lãnh
thổ, nhân dân và cơ cấu chính quyền. Phật quốc tuy không phải là một
quốc gia mà đứng đầu Nhà nước là Phật để tất yếu phải gồm những yếu tố
như thế. Nhưng, trong các truyền thống Phật giáo, giữa không gian vô
cùng tận này tồn tại vô số Phật quốc. Điều làm nảy sinh khái niệm rằng
mỗi Phật quốc đương nhiên tồn tại một đường biên nào đó, để có thể phân
chia giới hạn các Phật quốc khác nhau.
Trong kinh Tiễn dụ (Thí dụ về mũi
tên),
khi Man Đồng Tử yêu cầu Phật giải thích một số vấn đề trong đó có câu
hỏi: thế giới này hữu biên hay vô biên, đức Phật không trả lời, cho đó
là những câu hỏi không liên hệ đến mục đích giải thoát. Nhưng các nhà
Phật học về sau khi đi sâu vào ý nghĩa triết học của vấn đề, đã lập luận
rằng các câu hỏi không đuợc Phật trả lời vì bản chất không xác định của
chúng. Thực tế, các câu hỏi của Man Đồng Tử nếu không được trả lời
trong một phương diện nào đó thì sẽ không thể thành lập một thế giới
quan Phật giáo. Và do thế sẽ không thể giải thích khẳng định trong nhiều
kinh rằng “không hề có hai vị Phật xuất hiện cùng thời gian trong
cùng một thế giới.” Đâu là giới hạn của một thế giới?
Từ “thế giới” hay “thế gian” trong
tiếng Việt đều tương đương với một từ tiếng Phạn:
loka. Các nhà Phật học phân chía hai phạm trù thế giới: thế giới
sinh vật (hay hữu tình thế gian),
và thế giới vật chất
(hay khí thế gian). Nói cách khác, một thế giới là một môi trường để
chúng sinh tồn tại, với những khí cụ hay phương tiện và điều kiện cần
thiết để chúng sinh sinh sản, rồi trưởng thành, rồi chết đi và tái sinh.
Núi rừng, sông, biển, các thứ vân vân, cho đến mặt trời, mặt trăng tinh
tú, tất cả đều là hoàn cảnh và điều kiện sinh tồn của chúng sinh, phù
hợp với tâm thức và nghiệp cảm của các loài chúng sinh sống trong đó.
Một nghìn thế giới như vậy hiệp
thành một tiểu thiên thế. Một nghìn tiểu thiên thế giới hiệp thành một
trung thiên thế giới. Một nghìn trung thiên hiệp thành một đại thiên thế
giới, cũng gọi là tam thiên đại thiên thế giới.
Mỗi Tam thiên đại thiên như vậy là một cõi Phật, trong đó thế giới vật
lý bị chi phối các quy luật giống nhau, và các chúng sinh cùng được giáo
hóa bởi giáo pháp của một đức Phật như nhau. Ngoài đó ra, mỗi thế giới
tồn tại theo các quy luật riêng biệt. Chẳng hạn, chúng sinh ở thế giới
Ta-bà, phạm vi mà giáo pháp của đức Thích-ca có tác dụng, hết thảy giáo
pháp được công bố và được lãnh hội đều qua phương tiện âm thanh. Nhưng
có thế giới khác, như cõi của Phật Hương Tích, ở đó phương tiện truyền
thông lại là mùi hương.
Nếu các chúng sinh trong thế giới Ta bà này tồn tại nhờ dung nạp bốn
loại thực phẩm mà loại thứ nhất cần được chuyển hóa qua dạ dày, thì ở
thế giới Hương tích thực phẩm chính là mùi hương.
Như vậy, khái niệm Phật quốc cũng
bao hàm khái niệm về cương giới, và loại biệt chúng sinh tồn tại trong
phạm vi cương giới đó với các hình thái và trạng huống đau khổ và hạnh
phúc chung. Khái niệm này được xác định bằng hành vi thần kỳ mô tả trong
phẩm Phật quốc như sau:
“Bấy giờ, ở Tỳ-da-ly có một vị công tử
tên là Bảo Tích, cùng với năm trăm công tử, cầm các bảo cái được làm bởi
bảy thứ báu, đi đến chỗ Phật. Sau khi cúi đầu lễ dưới chân Phật, mỗi
người dâng bảo cái của mình lên cúng Phật. Bằng uy lực siêu nhiên, Đức
Phật làm cho tất cả các bảo cái ấy hiệp thành một cái duy nhất, che trùm
cả Tam thiên đại thiên thế giới. Tất cả hình thái của thế giới này với
tất cả chiều kích của nó thảy điều ánh hiện vào trong ấy. Lại nữa, trong
Tam thiên đại thiên thế giới này, với các núi ... ;
các đại dương, các sông ngòi, các suối, nguồn, cho đến mặt trời, mặt
trăng, các sao, thiên cung, long cung, thần cung; tất cả đều ánh hiện
trong đó mười phương chư Phật, cùng với giáo pháp của muời phương chư
Phật ấy, thảy đều ánh hiện trong bảo cái ấy.”
Bảo cái, hay lọng báu, là dụng cụ
để che đầu. Bảo cái có nhiều chủng loại khác nhau, biểu hiệu cho thân
phận xã hội khác nhau của mỗi cá nhân. Bảo cái cũng là biểu hiệu cho uy
quyền của vua hay hoàng đế.
Khi các công tử thành Tỳ-da-ly dâng
các lọng báu cúng Phật, cũng chỉ là hành vi đơn giản, với ý nghĩa bình
thường là dâng cúng một vật dụng cần thiết để che nắng, che mưa. Nhưng,
trong trường hợp đặc biệt như ở đây, khi mà thời cơ thích hợp để nêu cao
lý tưởng Bồ-tát đạo, và chỉ rõ mục tiêu cứu cánh và đường hướng hành đạo
thực tiễn đối với lý tưởng ấy, đức Phật khiến cho các bảo cái hiệp nhất
để biểu tượng cho Phật quốc, trong đó, như trong một sa bàn, hiện rõ
hình thái và cương giới Phật quốc, là phạm vi mà giáo pháp của một đức
Phật có thể được thực hành có hiệu quả, và cũng là môi trường thực tế để
Bồ-tát hành đạo.
III. HÀNH TRANG TƯ TƯỞNG
Trong quốc độ và quốc giới như vậy,
hình thái như thế nào để có thể nói là thanh tịnh trang nghiêm, và làm
thể nào để thành tựu hình thái ấy? Có ba yếu tố cần thiết: Thứ nhất,
cảnh vực, bao gồm không gian giàn và thời gian để kiến thiết quốc độ ấy.
Thứ hai, trình độ nhận thức để quan sát các giá trị giả và thực của thực
tại để kiến thiết quốc độ chân thực chứ không phải vọng tưởng điên đảo.
Thứ ba, một căn bản giáo nghĩa, hay những nguyên lý để tiến hành mà
không sợ bị lệch hướng tạo nên một thế giới dị dạng. Trong thuật ngữ
triết học Phật giáo, ba yếu tố đó được gọi là canh - trí- giáo.
Gia Tường Đại sư khi viết Tịnh
Danh huyền luận.
đã xoay quanh ba phạm trù cảnh-trí-giáo trên hai phương diện bản môn
hay bản thể luận và tích môn hay hiện tượng luận để phân tích
toàn bộ nội dung của Duy-ma-cật sở thuyết. Bản thể luận và hiện
tượng luận là hai từ Việt hiện đại được vay mượn từ nội hàm triết học
phương Tây, nhưng không hoàn toàn hàm ngụ hết ý nghĩa của từ bản môn và
tích môn. Ở đây, cảnh giới của chân lý thực chứng được nhận thức bởi trí
vô phân biệt của Phật được gọi là bản môn. Cảnh giới thực chứng ấy được
Phật mô tả lại cho các hàng chúng sinh tùy theo trình độ bằng các phương
tiện ngôn ngữ; đây gọi là tích môn. Tích là dấu vết, là lối mòn, để
người sau lần bước khám phá ra hướng đi chính xác. Trong quán trình hành
Bồ tát đạo, cảnh giới được hướng đến chỉ căn cứ theo mô tả của Phật, còn
chân thực tính của cảnh giới ấy thì bằng trình độ hiên tại của trí tuệ
thì chưa thể hình dung nỗi. Cảnh giới thực chứng của Phật mà Bồ tát
hướng đến như là mục tiêu cứu cánh như vậy là bất khả tư nghị, vượt
ngoài trình độ tư duy của các hàng chưa giác ngộ như Phật. Đại sư nói:
“Do cảnh (đối tượng) bất tư nghị khởi trí bất tư nghị. Bằng trí bất tư
nghị, diễn giáo bất tư nghị, khiến cho hàng đệ tử tiếp thọ giáo hóa;
nhân giáo mà thông lý; nhân lý mà phát trí.”
Về quan hệ ba phạm trù này với
bản-tích, Đại sư nói: “Cảnh làm trổi dậy trí; đó là bản (môn) bất tư
nghị. Giáo chính là tích (môn) bất tư nghị.”
Trên phương diện bản thể luận, thể
tính hay tự tính của Phật quốc vốn thanh tịnh. Ở đoạn sau trong phẩm
Phật quốc này Phật thị hiện cho ngài Xá-lợi-phất thấy rõ thế giới Ta-bà
vốn dĩ được quan niệm là một thế giới đầy ô trược nguyên lai trong tự
tính lại là thế giới thanh tịnh như tất cả Phật quốc khác trong mười
phương thế giới. Cảnh tương ứng với trí. Do đó, chỉ với trí tuệ thanh
tịnh mới nhận thức được bản nguyên thanh tịnh của thế giới. Nhận thức
như thế là trí bất tư nghị. Cảnh và trí ấy siêu việt mọi tư duy, biện
giải; vượt ngoài khả năng luận giải của ngôn ngữ. Nhưng bằng phương tiện
khéo léo, đức Phật thuyết pháp tùy theo mọi căn cơ, nói được những điều
không thể nói. Đó là phương pháp luận từ bản mà thiết lập tích.
Rồi căn cứ vào giáo thuyết ấy mà thực hành, các đệ tử dần dần thể nhập
cảnh và trí bất tư nghị. Đó là phương pháp luận đi từ tích đến
bản. Đại sư Gia Tường nói: “Trước hết do cảnh phát trí, sau đó mới
ứng theo vật mà ban phát giáo. Đố là từ bản dẫn xuống tích
. Mượn giáo để thông lý. Đó là bằng tích mà chỉ vào bản.
Nói cách khác, như được thị hiện
trong bảo cái, có vô số Phật quốc khác nhau, thì cũng có vô số phương
tiện thuyết giáo và vô số phương tiện hành đạo khác nhau. Do vậy, khi
Bồ-tát hành đạo trong một Phật quốc cá biệt với đối tượng thành tựu là
các loại chúng sinh cá biệt, thế thì Bồ-tát cũng y trên một giáo pháp cá
biệt thích ứng. Đó là hành trang tư tưởng của Bồ-tát, cần chuẩn bị đủ để
lên đường đi về Phật quốc.
Phân tích ý nghĩa loạt bài tụng mà
Bảo Tích đọc lên để tán thán Phật chúng ta sẽ có thể tìm thấy những gì
là hành trang tư tưởng cho Bồ-tát hành đạo, để làm thanh tịnh quốc độ và
thành tựu sự thuần thục của chúng sinh.
Một cách tổng quát, nội dung loạt
bài tụng tán Phật của Bảo Tích là sự triển khai cặp tương đối Phật quốc
và Phật thân. Như đã thấy, khi luận giải thế giới, các nhà luận sư
Phật học cổ đại phân tích thế giới thành hai loại, hữu tình thế gian và
khí thế gian, tức thế giới sinh vật và thế giới tự nhiên. Ở đây, trong
sự phát triển của tư tưởng Đại thừa, hay trong tư tưởng Bồ-tát đạo,
khái niệm về Phật quốc cũng bao gồm hai phạm trù như vậy. Trong đề cương
của Gia Tường Đại sư, đó là cặp tương đối cảnh và trí.
Trong thời kỳ đầu, các luận sư
A-tỳ-đàm luận giải Phật thân với hai phạm trù là sắc thân và pháp thân.
Sắc thân là bản thân do cha mẹ sinh ra, chịu tác động của quy luật vật
lý. Pháp thân là bản thân có được sau khi giác ngộ.
Trong phẩm “Phương tiện,” bằng cách
giả bịnh, Duy-ma-cật thuyết pháp cho các cư sỹ, đề cao Pháp thân của
Phật: “Phật thân chính là Pháp thân, sinh ra từ vô luợng công đức trí
tuệ, từ giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến…” Đoạn khác,
khi nghe ngài A-nan nói Phật đang bịnh, Duy-ma-cật nói với ngài A-nan:
“Thân của Như lai là Pháp thân, không phải thân do tư dục. Phật là đấng
Thế Tôn, vượt ngoài tam giới. Thân Phật là vô lậu, vì các lậu đã bị dứt
sạch. Thân Phật là vô vi, vì không thuộc khái niệm. Bản thân như vậy làm
sao có bịnh?”
Giải thích quan hệ Phật thân và
Phật độ, Khuy Cơ minh giải: Quốc độ Phật có ba, 1. Pháp tính độ,
trú xứ của Pháp thân, là lý thể của Chân như; tức thế giơi chân lý mà tự
thân Phật chứng nhập. 2. Thọ dụng độ, thế giới của Báo thân, thọ
hưởng quả báo của vô số công đức được tích lũy; thế giới trang nghiêm
thanh tịnh mà tự thân Phật cảm nghiệm. 3. Biến hóa độ, thế giới
của Hóa thân Phật, tịnh hay uế không nhất định; thế giới Phật xuất hiện
để giáo hóa chúng sinh.
Trong tông Thiên thai, Phật thân và
Phật quốc hay Phật độ được luận giải bằng bốn phạm trù: 1. Phàm thánh
đồng cư độ, thế giới vừa tịnh vừa nhiễm, ở đó Thánh nhân và phàm phu
cùng sống chung. 2. Phương tiện Thánh cư độ, thế giới chỉ tồn tại
các Thánh nhân. Cũng gọi là Hữu dư phương tiện nhân độ, thê giới hữu dư
cho cac Thánh giả tuy đã vượt khỏi phần đoạn sinh tử nhưng còn tàn dư là
biến dịch sinh tử chưa được vượt thoát. 3. Thật báo trang nghiêm độ,
thế giới do quả báo chân thực từ nhân tu hành chân thật. Cũng gọi là
“thật báo vô chướng ngại”, vì sắc tâm không còn bị chướng ngại. Cũng gọi
là “quả báo thuần pháp thân cư”, là trú xứ của Pháp thân Bồ tát. 4.
Thường tịch quang độ, thế giới của các bậc Diệu giác. Quốc độ thứ
nhất và thứ hai là thế giới của Ứng thân Phât. Quốc độ thứ ba, vừa Ứng
thân, vừa Báo thân. Quốc độ thứ tư duy chỉ thuộc về Pháp thân Phật.
Khái niệm Phật thân trong loạt bài
tụng của Bảo Tích có tính cách cá biệt, không theo các khuynh hướng giải
thích trong các trường Phật học khác. Phật thân ở đây được nhận thức
trên cơ sở nghiệp. Nghĩa là, Tùy theo bản chất và mục tiêu hành động của
Bồ-tát mà Phật thân được nhận thức tương ứng.
Bài tụng thứ nhất tán thán Phật
thân mà ngài Khuy Cơ phân tích thành sáu điểm tịnh gồm trong ba nghiệp:
con mắt tịnh, ý lạc tịnh, định tịnh, bĩ ngạn tịnh, nghiệp tịnh và danh
xưng tịnh.
Bài tụng nói:
Con kính đảnh lễ Ngài,
Vị dẫn đạo chúng sinh bằng con đường
tịch tĩnh.
Mắt trong vắt, dài rộng như sen xanh;
Tâm tịnh, đã vượt các thiền định;
Lâu dài tích chứa nghiệp tịnh,
Danh xưng không thể lường.
Trong bài tụng thứ hai, Phật thân
và Phật quốc được nhận thức như một chỉnh thể thống nhất, mà Phật thị
hiện cho thấy trong bảo cái.
Các bài tụng tiếp theo tán thán
riêng biệt Pháp thân. Nếu phân tích theo phương pháp luận của Gia Tường,
thì Pháp thân ở đây gồm hai phương diện, bản (bản thể) và tích
(hện tượng): Pháp thân như là hiện thân của thể tính chân lý, và Pháp
thân tương ứng với các loại chúng sinh sai biệt. Tùy theo cơ cảm của mỗi
hạng chúng sinh, và tùy theo trình độ sai biệt của Thánh Hiền, của
Bồ-tát, Phật và giáo pháp của Phật được nhận thức và lãnh hội không đồng
nhất.
Mặc dù thể tính của các pháp vốn
siêu việt tư duy, siêu việt ngôn ngữ, nhưng do đã thể nhập pháp tính,
đạt được sự tự tại đối với các pháp, nên Phật có thể phân tích, giải
thuyết các pháp và pháp tướng một cách chính xác; dù vậy, đệ nhất nghĩa
tức Chân tính tuyệt đối vẫn không vì thế mà bị rối loạn, dao động. Pháp
mà Phật diễn giải không phải là hữu, cũng không phải là vô; tất cả sinh
khởi do nhân duyên. Phần đầu bài tụng thứ năm nói:
Không nói pháp hữu, cũng không phi hiện
hữu;
Bởi do nhân duyên các pháp sanh.
Vô ngã, không tạo tác, không người thọ
báo.
Nhưng nghiệp thiện ác không hề mất.
Bằng bản chất của giáo pháp như
thế, Phật vận chuyển bánh xe Chánh pháp trong cả Đại thiên thế giới.
Khởi từ đó, Tam bảo xuất hiện ở thế gian làm nới nương tựa cho chúng
sinh. Các bài tụng 12-14 nói:
Phật bằng một âm diễn thuyết Pháp;
Chúng sinh tùy loại đều hiểu
được;
Đều nói Thế Tôn cùng tiếng của mình;
Ấy do thần lực pháp bất cộng.
Phật bằng một âm diễn thuyết Pháp;
Chúng sinh mỗi mỗi theo chỗ hiểu,
Đều được thọ hành, đại lợi ích;
Ấy do thần lực pháp bất cộng.
Phật bằng một âm diễn thuyết Pháp;
Có kẻ nghe sợ, có kẻ vui,
Có kẻ chán bỏ, kẻ hết nghi;
Ấy do thần lực pháp bất cộng.
Mối quan hệ của Phật thân và Phật
độ như đã thuật cũng có thể được nhận thức theo một khía cạnh khác; khía
cạnh thực dụng. Với thể tính mầu nhiệm của Pháp mà Ngài chúng đắc dước
gốc Bồ-đề, Phật đã thành tựu phẩm tính tự lợi. Bằng phương tiện thuyết
giáo vi diệu, Phật đã thành tựu các phẩm tính lợi tha. Bồ-tát khi hành
đạo cũng thế, vì mục đích giác ngộ của chính mình mà cũng vì sự an lạc
của mọi loài.
Cuối cùng, Bảo Tích đọc lời kính lễ
Phật:
Cúi lạy đấng Mười lực, Đại tinh tấn;
Cúi lạy đấng đã đạt vô sở uý;
Đảnh lễ bậc trụ pháp Bất cộng;
Đảnh lễ Đại đạo sư của tất cả;
Đảnh lễ đấng dứt mọi trói buộc;
Đảnh lễ đấng đến bờ bên kia;
Đảnh lễ đấng cứu độ thế gian;
Đảnh lễ đấng thoát vòng sinh tử.
IV. THANH TỊNH QUỐC ĐỘ PHẬT
1. CĂN BẢN TỊNH PHẬT QUỐC ĐỘ
Khi được Bảo Tích thỉnh cầu Phật
chỉ giáo hình thái tồn tại của Phật quốc, đức Phật nói: “Các loại chúng
sinh là Phật quốc của Bồ-tát.”
Như đã biết, các luận sư Phật học
chia thế giới làm hai phạm trù, hữu tình và khí thế gian. Các nhà chú
giải Duy-ma-cật cũng dựa trên đó để thuyết minh ý nghĩa tịnh độ
Phật quốc. Do đó, khi giải thích từ loại
trong “chúng sinh chi loại”, Trạm Nhiên cho đó là khí loại. Giải
thích này phù hợp với văn dịch của ngài Huyền Tráng: “Quốc độ của các
hữu tình là Phật độ của Bồ-tát.”
Để giải thích ý nghĩa của câu này, Khuy Cơ phân tích hai loại quốc độ.
Quốc độ phàm phu gồm hữu tình thế gian và khí thế gian. Quốc độ Thánh
gồm Bồ-tát và bảo phương, tức địa phương hay phương vực cao quý. Khuy Cơ
viết: “Ngoài hữu tình (tức chúng sinh) không tồn tại quốc độ riêng biệt.
Do có hữu tình mà có khí thế giới. Hữu tình sẽ trở thành Bồ-tát. Khí thế
giới sẽ trở thành bảo phương. Bồ-tát nguyên lai muốn giáo hóa hữu tình
dẫn đến xuất thế, do đó phương tiện biến diệt mà thành bảo phương. Căn
bản không phải biến khí thế giới thành tịnh độ.”
Như vậy, căn bản của tịnh độ Bồ-tát
vẫn là quốc độ chúng sinh. Nhưng nội dung quốc độ ấy là thanh tịnh hay
uế trược, tùy theo loại chúng sinh tồn tại trong đó. Theo ý nghĩa này,
đối tượng hành đạo của Bồ-tát là thế giới hiện thực bao gồm chúng sinh
và môi trường sống của chúnh sinh. Vì lợi ích và sự an lạc của chúng
sinh, Bồ-tát cần làm sạch môi trường sống. Làm sạch môi trường sống là
tạo điều kiện tốt, thuận duyên, để chúng sinh tu tập và phát triển thiện
căn như là gốc rễ của an lạc. Nhưng không thể làm sạch môi trường sống
nếu Bồ-tát không làm sạch tâm tư của chúng sinh. Đồng thời, không thể
làm sạch tâm tư chúng sinh nếu không cải thiện môi trường sống. Mối quan
hệ nhân quả phản hồi ấy thực chất là bất khả tư nghị. Không thể tồn tại
cái này mà không tồn tại cái kia.
Với nội dung cải biến tâm tư chúng
sinh để tịnh Phật quốc độ, Bồ-tát hành đạo theo hai phương hướng: tùy
theo sự phát triển và lợi ích của chúng sinh, và tùy theo sự phát khởi
các phẩm chất thanh tịnh của chúng sinh. Đó là hai phương hướng xác định
theo bản Hán dịch của Huyền Trang. Cả hai phương hương này, theo giải
thích so sánh của Khuy Cơ, được tổng hợp làm một trong bản Hán dịch của
La-thập: “Bồ-tát xây dựng Phật độ Tùy theo loại chúng sinh được giáo
hóa.”
Với nội dung cải thiện môi trường,
Bồ-tát xây dựng Phật quốc theo ba tiêu chí: tùy theo loại Phật quốc nào
thích hợp để chúng sinh có thể được điều phục, nghĩa là để dễ dàng chế
ngự tâm tư; tùy theo Phật quốc thích hợp mà ở đó chúng sinh có thể ngộ
nhập Phật trí; tùy theo Phật quốc thích hợp mà ở đó chúng sinh có thể
phát triển gốc rễ Bồ-tát, nói theo bàn Hán của La-thập; hay phát khởi
Thánh hạnh, nói theo bản Hán của Huyền Trang.
Do văn dịch khác nhau của
Duy-ma-cật sở thuyết (La-thập) và Thuyết Vô cấu xưng (Huyền
Trang), và cũng có thể do khác biệt ngay gốc truyền bản, các nhà chú
giải nêu nhiều giải thích khác nhau về đoạn này.
Duy-ma-cật sở thuyết
xác định tịnh độ của Bồ-tát là “chúng sinh chi loại” và phân tích “chi
loại” ấy thành bốn. Căn cứ theo văn dịch này, nhà chú giải thuộc tông
Thiên thai là Trạm Nhiên triển khai thành bốn loại quốc độ. Kinh văn
nói: “Bồ-tát nhiếp thủ Phật độ tùy theo chúng sinh được giáo hóa.”
Đây chỉ Đồng cư độ, là quốc độ nơi mà phàm phu và Thánh Hiền ở chung.
Đó là hình thái quốc độ vừa nhiễm vừa tịnh. Kinh văn nói: “Bồ-tát chọn
hình thái Phật độ tùy theo loại chúng sinh được điều phục.”
Điều này chỉ cho Hữu dư độ, là quốc độ riêng biệt của Thánh giả. Kinh
văn nói: “Bồ-tát chọn quốc độ nào thích hợp để chúng sinh ngộ nhập trí
tuệ của Phật.”
Đây chỉ Quả báo độ, hình thái quốc độ theo nguyên nhân tu hành của Phật.
Kinh văn nói: “Tùy theo chúng sinh bằng quốc độ nào mà phát khởi căn cơ
của Bồ-tát.”
Đây chỉ Tịch quang độ (quốc độ của ánh sáng thường hằng tịch tĩnh),
quốc độ lấy Pháp tính thân của Phật làm bản thể.
Trong văn dịch của Thuyết Vô cấu
xưng, có năm hình thái tịnh độ của Bồ-tát. Căn cứ vào văn dịch này,
Khuy Cơ gọi là năm trùng, chia làm hai phần. Phần thứ nhất, Tùy theo sự
phát tâm tu hành của chúng sinh. Phần này có hai trùng:1. Hết thảy các
Bồ-tát tùy theo sự phát triển và sự làm ích lợi cho chúng sinh mà xây
dựng Phật quốc trong sạch và đẹp đẽ.
Điều này được giải thích là chỉ cho hình thái quốc độ tương ứng với sự
tu thiện diệt ác của chúng sinh. 2. Tùy theo sự phát khởi các phẩm tính
thanh tịnh của chúng sinh mà kiến thiết Phật quốc nghiêm tịnh.
Đây chỉ cho hình thái quốc độ tùy theo phẩm chất phước đức và trí tuệ
của chúng sinh. Cả hai hình thái này gọi chung là Ngoại phàm Biến hóa
độ (quốc độ do Phật biến hóa ra, dành cho phàm phu ngoại biên), theo
Khuy Cơ, hoặc Ứng độ, theo Cát Tạng,
là quốc độ của Ứng thân của Phật, thân thể với hình tướng phù hợp theo
căn cơ và nhận thức của từng loại chúng sinh khác nhau; là quốc độ của
chúng sinh hay phàm phu bên ngoài Thánh đạo.
Ba hình thái còn lại, tức ba trùng
của phần thứ hai theo phân tích của Khuy Cơ, đại để tương đồng trong
Duy-ma-cật sở thuyết và Thuyết Vô cấu xưng. Cả ba được gọi
chung là Tha báo độ, tức quốc độ của Tha thọ dụng thân của Phật (bản
thân Phật duy chỉ Bồ tát hàng Thập địa mới nhìn thấy).
2. NỘI DUNG TỊNH PHẬT QUỐC ĐỘ
Bi và trí, nguyện và hành, là các
cặp nhân quả tương đối trong quá trình tu đạo và hành đạo của Bồ-tát.
Bằng trí tuệ, Bồ-tát nhận rõ yếu tính của tồn tại, nguồn gốc của đau
khổ và an lạc, và do đó thấu hiểu tâm tư, ước nguyện của chúng sinh. Với
bi tâm, Bồ-tát hành đạo với mục đích mong cầu lợi ích và an lạc cho
chúng sinh. Do đó, tùy theo căn cơ, tùy theo xu hướng của các loại chúng
sinh mà Bồ-tát dự phóng hình ảnh một Phật quốc thích ứng. Đó là nguyện.
Từ nguyện, và Tùy theo bản chất của nguyện, Bồ-tát phát khởi hành.
Nguyện và hành tương xứng, nhân và quả tương liên. Bồ-tát lấy đó làm
chỉ nam định hướng.
Ở đây, Duy-ma-cật sở thuyết
nêu mười bảy hành của Bồ-tát. Trong Thuyết Vô cấu xưng, có mười
tám hành. Theo bản dịch trước, gồm ba tâm, sáu độ, bốn vô lượng và bốn
nhiếp. Trong bản dịch sau, thay vào ba tâm là bốn độ. Các hành còn lại,
đại thể tương đồng.
A. Ba tâm và bốn độ.
Về ba tâm, Duy-ma-cật sở thuyết nói: “Trực tâm
là tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật, các loại chúng sinh không
dua vạy sẽ sinh về đó. Thâm tâm là tịnh độ của Bồ-tát; khi Bồ-tát
thành Phật, các chúng sinh có đầy đủ các phẩm chất sẽ sinh về đó.
Bồ-đề tâm là tịnh độ của Bồ-tát; khi Bồ-tát thành Phật, chúng sinh
Đại thừa sẽ sinh về đó.”
Ý nghĩa và mối quan hệ tương liên
của ba tâm được Cát Tạng giải thích: “Phàm phu vướng mắc hữu, Nhị
thừa nghiêng lệch về không. Cả hai đều cong. Bồ-tát thực hành
chánh quán nên gọi là trực tâm (tâm ngay thẳng)… Phát tâm là điểm
khởi đầu. Khởi đầu với chánh quán. Chánh quán càng lúc càng sáng, gọi là
thâm tâm (tâm sâu thẳm). Vì thâm sâu kiên cố khó nhổ, là ý nghĩa
của thâm tâm… Muốn đi đường lớn,
trước hết phải làm ngay thẳng tâm. Tâm đã chánh trực rồi mới bước vào
hành. Bước vào hành mà sâu thì có thể vận chuyển cùng khắp, tất cả đều
đi đến Phật, nên gọi là Bồ-đề tâm.”
Trạm Nhiên khi giải thích ba tâm
lại phối hợp vơí
ba Thừa. Trực tâm, chỉ Thanh văn thừa, tu quán bốn Thánh đế. Thâm tâm
chỉ Duyên giác thừa, tu quán mười hai nhân duyên. Bồ-đề tâm, chỉ Bồ-tát
thừa phát bốn đại nguyện (bốn hoằng thệ nguyện).
Ba tâm trên đây trong bản dịch của
La-thập cần được đối chiếu với bốn độ trong bản dịch của Huyền Tráng.
1. Bồ-đề tâm độ: quốc độ mà
trong đó tất cả chúng sinh đều phát khởi ý hướng Đại thừa; như đã thấy
trong ba tâm của bản dịch trước.
2.Thuần ý lạc độ: quốc độ
được hình thành bằng thuần ý lạc, hay ý hướng, của Bồ-tát. Khi Bồ tát
thành bồ-đề, các chúng sinh không dối trá, không hư ngụy, sẽ tái sinh về
đó. Giải thích từ thuần ý lạc, Khuy Cơ nói: “Tiếng Phạn a-thế-da
,
có nghĩa là ý lạc. Không lẫn lộn với cái xấu, gọi là thuần tịnh ý
lạc.” Điều này tương đương với trực tâm trong bản dịch trước.
3. Thiện gia hành độ,
không có tương đương trong bản dịch trước. Quốc độ được hình thành do nỗ
lực thực hiện các phẩm tính thiện mà trước kia chưa từng có hay chưa
từng biết.
4.Thượng ý lạc độ,
tương đương với thâm tâm. Khi Bồ tát thành Phật, các chúng sinh
đã tích lũy hành trang thiện sẽ tái sinh về đó. Khuy Cơ so sánh: ý lạc
(ý hướng) mà được tăng thượng mãnh liệt, thì đó cũng là thâm tâm.
B. Sáu độ,
hay sáu ba-la-mật. Cả sáu ba-la-mật, theo giải thích của
Khuy Cơ, đều có tác dụng đình chỉ (chỉ tức), loại bỏ các chướng
ngại để đạt đến chỗ toàn thiện.
C. Bốn vô luợng tâm:
từ, bi, hỷ, xả, như thường biết.
D. Bốn nhiếp pháp,
hay nhiếp sự: bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Đó là bốn nguyên tắc
để Bồ-tát gần gũi chúng sinh, duy trì mối quan hệ mật thiết.
E. Các hành tiếp theo:
phương tiện, và 37 thành phần giác ngộ, cùng với 4 vô lượng tâm và 4
nhiếp pháp, được Khuy Cơ hợp chung thành một nhóm, gọi là phát khởi
thuyết.
D. Ba hành:
thuyết trừ tám nạn,
tự thủ giới hạnh và mười nghiệp đạo thiện, được Khuy Cơ hợp thành nhóm
tịch tĩnh.
Điểm cũng nên lưu ý là trong tất cả
các hành nêu trên trong Thuyết Vô cấu xưng đều là các hình thái
quốc độ được hình thành do bởi các hành ấy của Bồ-tát, chứ không phải
thuần tuý là các hành.
V. TUẦN TỰ TU HÀNH
Được trang bị với các tâm như vậy,
Bồ-tát hình thành quốc độ thanh tịnh tương ứng. Bồ-tát tuần tự thực hiện
mục tiêu cứu cánh là tịnh Phật quốc độ theo chuỗi quan hệ nhân quả, khởi
đầu với trực tâm, cho đến thành tựu cuối cùng là tịnh độ.
Chuỗi tuần tự ấy, trong
Duy-ma-cật sở thuyết là mười ba giai đoạn. Trong Thuyết Vô cấu
xưng, gồm mười bảy giai đoạn.
1. CHỖI MƯỜI BA GIAI ĐOẠN
Bồ-tát tùy theo trực tâm mà
phát khởi thực hành. Tùy phát khởi hành động mà đạt được thâm
tâm. Do thâm tâm mà ý được chế ngự (điều phục). Do ý được chế
ngự mà có thể thực hành như thuyết. Do hành như thuyết mà có thể
hồi hướng. Do hồi hướng mà có phương tiện. Tùy theo phương
tiện mà thành tựu chúng sinh. Tùy theo sự thành tựu chúng sinh
mà quốc độ Phật được thanh tịnh. Tùy theo Phật độ tịnh mà pháp
được thuyết thanh tịnh. Tùy theo thuyết pháp tịnh mà trí tuệ
tịnh. Tùy theo trí tuệ tịnh mà tâm tịnh. Tùy theo tâm tịnh mà
Phật độ thanh tịnh.
Mười ba giai đoạn này có thể phối
hợp với thứ lớp trình độ tu tập của Bồ-tát, lấy mười địa làm chuẩn.
Sự phối hợp theo Duy ma kinh
lược sớ
của
Trạm Nhiên như sau:
1. Bồ tát khi vào Sơ địa, tức Hoan
hỷ địa, do chứng nghiệm chân lý nên thoát ly các kiến giải tà khúc; đó
là trực tâm.
2. Do trực tâm mà tiến vào Nhị địa
tức Ly cấu địa. Ở đây, Bồ-tát khởi đầu hành động nhằm mục đích lợi tha,
do đó, Nhị địa tương ứng với giai đoạn phát hành.
3. Do phát hành tiến vào Tam địa
tức Phát quang địa. Ở đây, nhận thức và hành động của Bồ-tát cùng tiến,
do đó tương ứng với thâm tâm.
4. Do thâm tâm mà tiến vào Tứ địa,
tức Diệm tuệ địa. Ở đây, lý và sự cùng song hành, cho nên có thể tự điều
phục và cũng có thể điều phục tha nhân. Như vậy, Tam địa tương ứng với
giai đoạn điều phục.
5. Do điều phục mà nhập Ngũ địa,
Nan thắng địa. Đã điều phục sự lý nên có thể hành động như thuyết. Ngũ
địa tương ứng giai đoạn như thuyết.
6. Do như thuyết hành mà vào Lục
địa, Hiện tiền địa. Ở đây, Bồ-tát đã có thể hồi hướng tất cả thiện pháp
về Phật quả, vậy tương ứng với hồi hướng.
7. Do hồi hướng mà vào Thất địa,
Viễn hành địa. Thất địa tương ứng giai đoạn Bồ-tát có đủ phương tiện
thiện xảo, có thể tự mình hành đạo và cũng có thể giáo hóa tha nhân.
8. Do phương tiện nhập Bát địa, Bất
động địa. Ở đây Bồ-tát có thể vận dụng đạo và quán song hành, và cũng có
thể giáo hóa và điều phục chúng sinh ở bất cứ nơi nào. Chúng sinh được
điều phục, thì Phật quốc được thanh tịnh. Do Phật quốc tịnh mà tiến vào
Cửu địa.
9. Cửu địa tức Thiện tuệ địa, ở đây
Bồ-tát có thể thuyết pháp tịnh. Thuyết pháp tịnh, tức trí tuệ tịnh. Nhân
trí tuệ tịnh mà nhập Thập địa.
10. Thập địa là Pháp vân địa, do
bởi tâm tịnh nên hế tthảy phẩm tính đều thanh tịnh.
Trong Duy ma kinh nghĩa sớ,
Cát Tạng phối hợp các quá trình hành đạo này theo tiêu chuẩn mười địa
cách khác. Bắt đầu với Thập tín, giai đoạn ngoại phàm, tức phàm phu tuy
đã có tín tâm nhưng còn ở ngoài Thánh đạo; đó là giai đoạn Bồ-tát tu
trực tâm để tịnh Phật quốc độ. Sau quá trình thành tựu mười tín tâm,
Bồ-tát bước vào vị trí nội phàm, phàm phu nhưng đã ở trong Thánh đạo;
tương đương giai đoạn phát khởi hành. Từ Sơ địa trở lền, đều là quá
trình tu và sửa trị sự nghiệp Bồ-tát địa; đó là thâm tâm. Nhị địa thành
tựu trì giới ba-la-mật, Bồ-tát có năng lực phòng hộ các bất thiện
nghiệp, nên gọi là điều phục. Tam địa, Bồ-tát y vào những điều được nghe
mà tu định; tương đương giai đoạn như thuyết hành. Tứ địa cho đến Lục
địa, Bồ-tát tu thuận nhẫn, hướng đến chứng nhập thể bất sinh; đây gọi là
hồi hướng. Thất địa tu tập mười phương tiện nên có thể thành tựu chúng
sinh. Bát địa tu tịnh Phật quốc độ. Cửu địa, thành tựu biện tài để
thuyết pháp vô ngại, nên gọi là thuyết pháp tịnh. Thập địa thành tựu
trí ba-la-mật nên nói là trí tuệ tịnh. Đẳng giác địa, tức kim cang tâm,
gọi là tâm tịnh. Diệu giác địa, hành và nguyện viên mãn, nên nói là hết
thảy công đức thanh tịnh.
2. CHUỖI MƯỜI BẢY CHUYỂN
Trong Thuyết vô cấu xưng,
quá trình này gồm tất cả mười bảy giai đoạn, mà Khuy Cơ gọi là mười bảy
chuyển, chia làm hai phần.
Phần đầu gồm tám chuyển, lặp lại tuần tự tu hành của mười tám phiên đã
nêu. Phần hai gồm chín chuyển, những kết quả đặc biệt phát sinh từ sự tu
nhân về nghiêm tịnh Phật độ. Mười bảy chuyển liệt kê theo tuần tự: 1.
Phát Bồ-đề tâm; 2. Thuần tịnh ý lạc; 3. Diệu thiện gia hành; 4. Tăng
thượng ý lạc; 5. Chỉ tức, dẹp các chướng ngại, gồm sáu ba-la-mật; 6.
Phát khởi, gồm bốn vô lượng tâm, bốn nhiếp pháp, phương tiện thiện xảo,
các thành phần của Bồ-đề; 7. Hồi hướng; 8. Tịch tĩnh, gồm thuyết tức
vô hạ (tức thuyết trừ tám nạn, theo dịch văn của La-thập), tự thủ
giới hạnh, mười nghiệp đạo thiện; 9. Thanh tịnh hữu tình; 10. Nghiêm
tịnh Phật độ; 11.Thanh tịnh giáo pháp; 12.Thanh tịnh diệu phước;
13.Thanh tịnh diệu tuệ; 14.Thanh tịnh diệu trí; 15.Thanh tịnh diệu hành;
16.Thanh tịnh diệu tâm; 17.Thanh tịnh các công đức.
Kinh kết luận: nếu Bồ-tát muốn tu
tập để làm trang nghiêm thanh tịnh quốc độ Phật, trước hết phải nghiêm
tịnh tự tâm. Tùy theo tâm tịnh mà Phật độ thanh tịnh.
VI. THỂ NGHIỆM TỊNH ĐỘ
Lịch sử phát triển tư tưởng về Phật
thân trong Phật giáo Đại thừa, về một phương diện, nhắm thỏa mãn nhu cầu
tâm linh tôn giáo; về phương diện khác, để nỗ lực giải quyết một vấn đề
hết sức gay cấn mà nhà tư tuởng lúc nào cũng phải đối diện. Tuy vậy, cả
hai phương diện ấy phản ánh hai xu hướng thực hành, tức thể nghiệm, khác
nhau, chứ thực chất cả hai nằm chung trên một bình diện.
Một vấn đề căn bản kích thích các
xu hướng tư tưởng tôn giáo và triết học khác nhau, là vấn đề bản nguyên
hay bản thể của vũ trụ hay thế giới. Trên mặt lý luận và nhận thức, bản
nguyên và bản thể là hai vấn đề riêng biệt. Những câu hỏi và giải thích
về bản nguyên luôn luôn dẫn tư tưởng và nhận thức đi vào ngõ cụt. Chẳng
hạn, một nạn vấn danh tiếng được đặt ra cho nhà tính không luận là rằng,
tiền đề tính không nói “tất cả các pháp đều không,” bản thân của tiền đề
ấy có phải là một pháp hay không? Nếu nó cũng là một pháp, thì tiền đề
không được xác lập, vì không thể minh chúng bằng hiện thực. Nhưng nếu nó
không phải là một pháp, nó không tồn tại hiện thực, và như vậy trở thành
vô nghĩa.
Tuy không thể minh chứng bằng hiện thực, nhưng có thể thể nghiệm bằng
tâm linh. Vì thể nghiệm ấy siêu việt lý trí, do đó được xem như là thể
nghiệm thần bí. Triết học có tham vọng tiến đến chân lý phổ quát và khoa
học nên thường cố tình tránh né vần đề bản nguyên, mà tập trung nồ lực
tư duy trên vấn đề bản thể.
Đại thừa Phật giáo phát triển quan
niệm Phật thân cũng là để giải quyết cùng lúc cả hai vấn đề, bản nguyên
và bản thể. Phật thân vừa là bản nguyên vừa là bản thể của tồn tại, của
vũ trụ. Đỉnh cao của tư tưởng này là kinh Pháp hoa, ở đó Phật
thân và Phật tính được nhận thức bằng lý tính duyên khởi.
Khởi thủy, vì đức Phật được nhận
thức như là một con người, cho nên thân Phật cũng vẫn là một tổ hợp của
năm uẩn như các con người hay các chúng sinh khác. Nhưng khi các luận sư
A-tì-đàm đặt vấn đề thân Phật hữu lậu hay vô lậu, thì một khái niệm mới
về Phật thân đã thành hình. Chính Duy-ma-cật cũng đã khẳng định với
A-nan: thân Phật là vô lậu. Thế nhưng, khẳng định ấy không thể là xác
quyết một chiều. Thân Phật được nhận thức là hữu lậu hay vô lậu tùy theo
tính chất nhiễm hay tịnh trong tương quan với Phật quốc. Đây là chỗ dẫn
khởi mối nghi ngờ của ngài Xá-lợi-phất.
Sau khi nghe Phật diễn giải quá
trình biến chuyển tâm tư của Bồ-tát, với đoạn kết nói rằng, tùy theo sự
thanh tịnh của tâm mà Phật quốc của Bồ-tát thanh tịnh. Nếu thế, ngài
Xá-lợi-phất tự hỏi, phải chăng đức Thích Tôn khi hành Bồ-tát đạo đã
không tu tập tâm chất trực, vv., cho đến các ba-la-mật, các trợ đạo và
các thiện nghiệp đạo, do đó mà quốc độ của Ngài không thanh tịnh.
Nghi ngờ của ngài Xá-lợi-phất không
những được Phật giải đáp, mà cả đến Loa Kế Phạm thiên vương vốn chỉ là
phàm phu cũng có thể khẳng định rằng quốc độ của Phật Thích-ca không uế
trược, xấu xí như Xá-lợi-phất thấy. Thế giới mà ngài Xá-lợi-phất đang
thấy là xấu xa ấy, thực chất, trong cái nhìn của Loa Kế Phạm vương, cũng
xinh đẹp huy hoàng như thiên giới của trời Đại Tự tại. Đây không phải là
do ở chỗ Loa Kế Phạm vương có sở đắc trong Thánh đạo cao hơn ngài
Xá-lợi-phất. Bậc Thánh thấy nó xấu xí, trong khi đó phàm phu thấy nó
thanh tịnh; sở kiến bất đồng là do nghiệp cảm bất đồng. Phàm phu thấy nó
xinh đẹp nên sinh tâm đắm trước. Thánh giả thấy nó bất tịnh nên có tư
tưởng thoát ly. Siêu việt trên sở kiến của Thánh và phàm, đức Phật khẳng
định thế gian này vốn thanh tịnh; tự tính thanh tịnh. Để xác chứng điều
này, bằng thị hiện thần thông, Ngài hiển thị cho Xá-lợi-phất thấy tất cả
sự trang nghiêm và thanh tịnh của thế giới Ta bà này.
|