|
HUYỀN
LUẬN DUY-MA-CẬT
Tuệ Sỹ [MỤC LỤC]
CHƯƠNG IV:
HỘI KIẾN CÁC BỒ TÁT
I. MÂU THUẪN NỘI TÂM VÀ THỜI ĐẠI
A-nan quả thật bị chấn động bởi
những phát biểu của Duy-ma-cật về Phật thân, về tính siêu việt của Phật
thân. Nhưng ngay sau đó đã tự trấn tĩnh bằng quan điểm hiện thực: Thế
tôn Thích-ca xuất hiện trong thời đại năm ác trược, nên hiện thân có
già, có bệnh và có chết. Điều này có vẻ gần như tín điều Thiên Chúa nhập
thế trong nhiều tôn giáo. Thượng đế hiện xuống thân người thì cũng chấp
nhận thân phận con người.
Trược,
trong tiếng Phạn là kaṣāya, nguyên nghĩa chỉ
cho vị chát; kế đó, chỉ cho một loại màu gọi là hoại sắc, màu nâu hay đỏ
sậm, vàng đỏ, màu của y tỳ kheo thường gọi là màu áo ca-sa. Nghĩa được
dùng trong ngữ cảnh này là “cặn bẩn”, chỉ cho hiện tượng suy thóai của
thời đại.
Luận Du-già
nói, khi Bồ tát tích lũy hành trang là các thành phần của trí giác
Bồ-đề, một trong những điều kiện cần có là nhận thức về thời đại: “Bồ
tát nhận thức một cách như thật về thế giới Chúng sinh, hoặc đang thời
suy thóai hay tăng trưởng (có cặn bẩn), và thời đại suy thóai hay tăng
trưởng mà không có cặn bẩn. Sự suy thóai có năm: tuổi thọ, nhân phẩm,
đạo đức, học thuyết, kỹ nguyên.”
Bồ tát nhận thức chính xác về thời đại để cho sở tri và sở học thích
hợp, thích ứng với các chu kỳ tăng trưởng hay suy thóai của nó.
Quan điểm về sự xuất hiện của Phật
Thích-ca, hay các Phật khác, vào thời kỳ suy thóai trong chu kỳ tăng
trưởng và suy thóai của thế giới phổ biến trong Đại thừa, và trong một
số bộ phái.
Quan điểm càng về sau trong Đại thừa càng tỏ ra là nhận thức bi quan về
sự tồn tại của Phật pháp.
Quan điểm này không được tìm thấy
trong kinh điển Pāli. Trong các kinh điển Pāli, từ
kasāya, hay đồng dạng phổ biến của nó là
kasāva,
được dùng theo nghĩa mục nát, rỗng bộng. Đoạn
văn rất tượng hình trong kinh Sacetana
mô tả như một bánh xe không được làm tốt, khi lăn hết sức đẩy ban đầu,
nó bị xoay và đổ. Trái lại, bánh xe được làm tốt, khi lăn hết sức đẩy
ban đầu, nó dừng hẵn lại như được móc chặt vào trục xe, không bị ngã đổ.
Bánh xe đầu được mô tả là gỗ của nó có chỗ cong, có khuyết điểm, có chỗ
rỗng. Phật như người thợ làm bánh xe thiện nghệ, biết rõ gỗ cong, gỗ
hỏng, gỗ rỗng. Các tỳ kheo hay tỳ kheo ni nào mà phẩm chất đạo đức có
chõ cong, có chỗ hỏng, có chỗ rỗng sẽ rời bỏ Thánh đạo, không lăn theo
đường chánh, và sẽ trụy lạc, như bánh xe kia nhất định rơi đổ.
Đại thừa Phật giáo phát triển chỉ
sau khi đế quốc Maurya được thống nhất bởi Hoàng đế A-dục bị sụp đổ; Ấn
độ chia thành nhiều vương quốc; tình trạng tranh giành quyền lực giữa
các vua chúa là điều tất nhiên. Ngay sau khi A-dục băng hà, Phât giáo
không còn được ưu đãi như trước nữa mặc dù ảnh hưởng trong quần chúng
vần tiếp tục. Tuy vậy không khỏi không gây trong tâm tư Phật tử những
hoài niệm về một thời kỳ rực rõ của nó. Đấy là ấn tường về sự suy thóai
của thế giới.
Ngay cả trong tình trạng hưng
thịnh, từ góc nhìn của người bảo thủ tư tưởng bi quan về sự thóai cũng
dễ thành hình. Vì hình thức giáo lý không được thực hành như trước nữa
mà đã có nhiều thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Người ta biết chỉ
sau Phật niết-bàn khoảng 100 năm nhóm tỳ kheo Bạt kỳ ở Tỳ-da-li, bản địa
của Duy-ma-cật, đã quy định những áp dụng mới mẻ cải biến từ mười điều
luật Phật chế. Trước nguy cơ chia rẽ Tăng đoàn, một hội nghị kết tập lần
thứ hai đã diễn ra gồm 700 đại biểu. Sau khi thảo luận về tính hợp luật
của mười quy định mới của nhóm tỳ kheo Bạt kỳ ở Tỳ-da-li, đại hội tiến
hành thủ tục hành xá-la, tức bỏ phiếu để lấy quyết định đa số. Kết quả,
đại biểu các Thượng tọa bác bỏ mười quy đinh mới, trong khi hàng đại
chúng, đông hơn, chấp nhận. Tăng đoàn bắt đầu phân hai; Thượng tọa bộ và
Đại chúng bộ.
Một nhà thơ Trung hoa đã viết: “tại
sơn tuyên thủy thanh, xuất sơn tuyền thủy trược.” Nước nguồn trong núi
thì trong, nhưng ra khỏi núi, nước nguồn thành đục. Con suối nhỏ hiền
lành, trong vắt, trong rừng núi vắng vẻ, không hề bị người hay vật khuất
đục lên. Nhưng khi nó mở rộng thành con sông lớn, tất phải mang theo nó
vô số rác bẩn, nhiều khi cả cây trái độc. Sự phát triển đạo giáo không
nhất thiết như sông suối. Dù vậy, từ một góc nhìn, vẫn có sự tiếc nuối
về thời kỳ mà Phật pháp còn là một vị ngọt duy nhất; từ đó gây thành ấn
tượng về sự suy thóai. Phật pháp tuy là ly dục thanh tịnh, như thân Phật
vốn vô lậu vô vi, nhưng khi thể hiện giữa lòng đời, vẫn phải chịu quy
luật sinh diệt của thế giới.
Từ sự hoang mang bối rối chỗ đến
khẳng định thực tế của A-nan trước những lời lẽ lạ lùng của Duy-ma-cật,
ở đó đã nói lên khá rõ nét mối xung đột nội tâm khi quan sát bản thân
giáo lý nguyên thủy của Phật trong sự phát triển của thời đại lịch sử.
Con người không thể tách mình ra khỏi thời đại, ra khỏi trào lưu phát
triển của xã hội mà mình lớn lên trong đó, để tự hành đạo. Những cuộc
luận đạo của Duy-ma-cật với các Đại Thanh văn đã giới thiệu Phật pháp
trên cũng một nền tang giáo nghĩa nhưng được nhìn từ hai góc độ khác
nhau, trong hai bối cảnh xã hội khác nhau. Để hoàn thiện nhận thức,
Duy-ma-cật tiến đến luận đạo với các Bồ tát, trong một xu hướng xã hội
khác trước.
II. CÁC BỒ TÁT
Trong đoạn này, Duy-ma-cật gặp gỡ
luận đạo với bốn vị Bồ tát. Trong đó ngoại trừ Bồ-tát Di lặc, ba vi còn
lại không xuất hiện trong nhiều kinh điển lớn khác của Đại thừa. Do lẽ
này, các nhà chú giải không biết đặt vị trí các Bồ tát này ở đâu trong
số các Đại Bồ tát như Phổ Hiền, Quán Thế Âm, v.v.
Sự gặp gỡ của Duy-ma-cật với các Bồ
tát tất nhiên không phải là tình cờ. Kinh văn muốn nêu rõ ý nghĩa nào đó
của Đại thừa, tương phản với các Thanh văn đã giới thiệu trước. Đồng
thời cũng cho thấy những giới hạn trong sự hành đạo của các Bồ tát Đại
thừa. Không thấy bản chú giải nào giải thích rõ ý nghĩa này. Phần lớn
chỉ dựa theo những lý luận của Duy-ma-cật để nói rằng sở tri và sở hành
của ông vượt hẵn trên tất cả Thanh văn và Bồ tát. Tức là giới thiệu phẩm
cách riêng của Duy-ma-cật.
Một cách tổng quát, trong hai Bồ
tát đầu, Di-lặc ở vào địa vị cứu cánh, Quang Tịnh ở vào giai đoạn sơ
phát tâm. Hai vị này tượng trưng cho khởi điểm và cứu cánh của Bồ tát
đạo. Hai vị sau, Trì Thế tượng trưng cho sự hoàn thiện giới đức trước sự
cám dỗ của Ma; Thiện Đức hoàn thiện sự bố thí. Nói cách khác, hai diện
Trí và Bi của Đại thừa được thể hiện qua nhân cách bốn vị Bồ tát.
1. DI-LẶC
a. Truyền thuyết
Bồ-tát Di-lặc, hay Phật tương lai,
vốn là hình ảnh rất quen thuộc không chỉ đối với Phật tử Đại thừa. Danh
hiệu của Ngài cũng xuất hiện rất nhiều nơi trong kinh điển Pali. Kinh
Chuyển luân vương nói:
“Khi tuổi thọ loài người lên đến tám vạn tuổi, bấy giờ có Thế tôn hiệu
là Di-lặc xuất hiện ở đời.”
Huyền ký tưởng tự cũng được nói đên
trong Trung A-hàm. Ở đây còn thêm chi tiết. Sau khi nghe Thế tôn huyền
ký về sự xuất hiện của một Chuyển luân vương tên Loa,
bấy giờ trong thính chúng có một tỳ kheo tên là A-di-đá
đứng dậy trình Phật, ông muốn trong tương lai ông sẽ là vị Chuyển luân
vương đó. Ước nguyện này bị Phật khiển trách, một lần chết là quá đủ,
sao còn muốn chết thêm lần nữa.
Tỳ kheo này bị khiển trách, vì không mong diệt tận sinh tử, chứng nhập
Niết-bàn; lại muốn tái sinh nhiều đời nữa để làm vua. Sau đó Phật lại
huyền ký về sự xuất hiện của vị Phật tương lai hiệu Di-lặc, trong triều
đại Loa Chuyển luân vương. Bấy giơ Tôn giả Di-lặc cũng hiện diện trong
thính chúng, đứng dậy chắp tay trình Phật, phát nguyện sẽ là vị Phật
được huyền ký đó. Phát nguyện này được Thế tôn tán thán.
Ngay lúc đó, Phật bảo A-nan mang ra chiêc y được dệt bằng kim tuyến do
bà Kiều-đàm-di cúng Phật, trao cho Di-lặc. Tuy ước nguyện tái sinh nhiều
đời nữa, nhưng Di-lặc được tán thán, vì ước nguyện “cứu hộ thế gian; vì
mục đích cứu cánh, vì sự an ổn và hạnh phúc của thế gian.”
Tuy có một vài sai khác giữa các
truyền thống, nhưng điểm được thừa nhận chung, Di-lặc là vị Phật tương
lai, sau một thời gian dài, kế tiếp Phật Thích ca để truyền giảng Chánh
pháp. Hiện tại, Ngài đang là Bồ-tát ở trên cung trời Đâu-suất. Sự tồn
tại này được gọi là nhất sinh bổ xứ, hay nhất sinh sở hệ.
Quan niệm này chung cho cả bộ phái và Đại thừa. Địa vị quả chứng của
Ngài hiện tại được gọi là A-bệ-bạt-trí,
hay bất thối chuyển.
b. Ý niệm thời gian
Ý niệm thành Phật liên hệ ý niệm
thời gian; dù hiểu theo nghĩa thời gian tuyến tính, hay thời gian siêu
nghiệm.
Thế giới như bánh xe;
Thời gian, bánh xe quay.
Người cũng như bánh xe,
Khi lên rồi lại xuống.
Thời gian như bánh xe, quay vòng
bất tận. Luân hồi không khởi điểm, không đoạn cuối. Tư duy của con người
về ý nghĩa tồn tại như tập trung vào một điểm, một thời điểm nào đó
thôi, trên vành bánh xe, để không thể nhận thức được đâu là biên tế tối
sơ của thời gian, và đâu là tận cùng của thế giới.
Con người bị trùm kín trong bóng tối vô minh,
không thể nhận thức được từ đâu là khởi thủy của thời gian, và đến đâu
là biên tế của không gian, chỉ trừ tính quy ước của tư duy, tìm một điểm
tựa để không rơi vào trạng thái hoài nghi đáng kinh sợ. Từ điểm tựa quy
ước đó, như là sự tồn tại thật tế của nguyên nhân phát sinh nhận thức,
tư duy tự nâng mình lên cảnh giới tuyệt đối.
Đó là cảnh giới giải thoát, vượt ngoài vòng quay bất tận của thời gian.
Trong giới hạn quy ước của tư duy,
nghĩ về sự thành Phật, như nghĩ về điểm tận cùng của vòng quay bánh xe,
ở đó thời gian được hình dung bằng con số vô số.
Từ khi chớm khởi ước nguyện thành Phật, cho đến khi thành Phật, phải
trải qua ba vô số kiếp. Tại sao phải lâu dài như thế? Đấy cũng có thể là
ý nghĩa ước lệ, để cho tư duy có điểm tựa mà hình dung về một nhân cách
tuyệt đối, siêu việt thời gian. Không chỉ là phẩm tính siêu việt thời
gian, mà còn bằng vào thước đo vô tận của thời gian để hình dung về giá
trị phổ quát của tư duy và hành động, của hùng lực và từ bi. Bởi vì, “Bồ
tát cần phải trải qua ba vô số kiếp tu tập tích chứa tư lương đại phước
đức, trí tuệ, hành sáu ba-la-mật, qua nhiều trăm nghìn khổ hạnh, mới
chứng đắc Vô thượng Bồ-đề.”
Đó là quan niệm chung cho cả Phật giáo bộ phái, và Đại thừa.
Nhưng, chính quan niệm ấy, khi nghĩ
đến sự thành Phật, khiến đa số khiếp sợ. Tuy tất cả Bồ tát bắt đầu sự
nghiệp bằng sự phát tâm, quyết định sẽ chứng thành Vô thượng Bồ-đề, vì
lợi ích của hết thảy chúng sinh, dẫn tất cả đến chỗ an ổn tuyệt đối, đến
cứu cánh Niểt-bàn; nhưng trung gian, có trường hợp kiên trì, dũng mãnh
thăng tiến; và cũng có trường hợp gọi là thóai thất tâm Bồ-đề. Vì sao?
Vì nghĩ đến thời gian cực kỳ lâu dài, đến ba đại a-tăng-kỳ kiếp. Suốt
trong thời gian đó, cần phải hành vô số việc khó hành, chịu vô vàn thống
khổ của sinh tử liên tục không gián đoạn. Nghĩ như vậy mà kinh khiếp.
Tâm Bồ-đề rơi mất.
Như vậy, há không phải rất có ý
nghĩa chăng, khi Duy-ma-cật hỏi Bồ-tát Di-lặc: “Trong ba thời, Ngài sẽ
thành Phật vào thời nào?” Câu hỏi đó có ý nghĩa gì? Hãy nói là, nếu
không siêu việt khái niệm thời gian sẽ không thể tư duy một cách chân
chính về Phật tính như là tự tính của hết thảy chúng sinh. Bởi vì con
mắt pháp này thường hằng tồn tại, và tự tính luôn tỏa sáng bằng pháp
chân thật.
Tự tính ấy là Phật tính, cũng được gọi là pháp trụ và pháp vị.
Hai từ ấy được dùng để chuyển tải ý nghĩa duyên khởi. Nói là pháp trụ,
vì tự tính của hết thảy các pháp là như vậy, luôn tồn tại trong quan hệ,
trong mối tương tức tương nhập. Nói là pháp vị, là nguyên lý tồn tại của
pháp, vì Phật xuất hiện hay không xuất hiện, lý duyên khởi vẫn tồn tại ở
đó. Duy chỉ chúng sinh không có mắt để nhìn thấy thôi. Cho nên, Phật
tính tức duyên khởi. Lý duyên khởi, như Trung luận nói: không tịch diệt,
không hiện khởi, là duyên khởi.
Đó là lý tắc được nhận thức trong quan hệ thời gian, nhưng cũng là lý
tắc tồn tại siêu việt khái niệm thời gian.
c. Như như
Qua trường kỳ thới gian, Bồ tát
tích lũy công đức phước báo, và phát triển năng lực trí tuệ. Bằng công
đức được tích lũy ấy, dù sinh vào chủng loại nào, trong bất cứ giai tầng
nào của xã hội hay phi xã hội, Bồ tát không thuộc hạng bần hàn, thấp
kém. Không nghèo hèn, không kém trí, không bất lực. Đó là nền tảng vật
chất, và điều kiện môi trường, để Bồ tát hành đạo. Bằng năng lực trí
tuệ, Bồ tát nhận thức những gì đã thực hành, đã tích lũy, tất cả yếu
tính của pháp đã qua, thảy đều là không, tịch tĩnh. Bồ tát nhận thức
pháp tính đồng như hư không.
Nhưng, cũng có một lúc, Ác Ma xuất
hiện, quấy nhiễu tâm tư, và lung lạc chí nguyện của Bồ tát, bằng chính
điều mà Bồ tát đã sở đắc. Ác Ma nói: “... Như vậy, hết thảy đều đồng
đẳng như hư không. Trong cái Không của tính tướng, không có một pháp gì
để nói là chứng và được chứng... Hết thảy tính tướng đã là vốn không,
cùng đồng đẳng như hư không; vậy thì ích lợi gì mà ông phải cần khổ cầu
chứng Vô thượng Chính đẳng Bồ-đề?... Ông hãy dẹp bỏ Bồ-đề nguyện ấy đi,
đừng có vì sự an lạc của hết thảy hữu tình mà trường kỳ nhận chịu những
khổ luỵ...”
Rồi Bồ tát trả lời: “Tuy hết thảy pháp đồng đẳng như hư không; tính
tướng thảy đều không. Nhưng các hữu tình trong đêm dài sinh tử không
thấy không biết, cho nên điên đảo kiêu xa để phải chịu vô lượng khổ. Ta
phải khóac lên mình giáp trụ công đức mà tính tướng thảy đều không như
hư không bao la...”
Trước sự kiện có khi phải nhận chịu
cảnh ngộ tưởng chừng không thể vượt, bằng sở học, Bồ tát có thể tự biện
hộ, để thóai thất Bồ-đề tâm. Đó là những giai đoạn quyết định sự tiến
thóai. Vượt qua khỏi đó, Bồ tát bước vào địa vị Bất thối chuyển.
Cũng gọi là quán đỉnh vị. Như con trưởng của Chuyển luân vương được làm
lễ quán đỉnh, tấn phong chức vị Hoàng thái tử kế thừa ngôi báu. Tuy chưa
chính thức lên ngôi Hoàng đế Chuyển luân, nhưng phong tư cốt cach, kể cả
quyền lực, đều như Chuyển luân vương. Bồ tát lúc này chính thức được xác
nhận là con chân thật của Như lai, là tùy sinh của Như lai. Vì sao?
“Chân như của Như Lai không đến, không đi... Chân như của Như Lai là
chân như của hết thảy pháp... Các Bồ tát hiện chứng chân như của hết
thảy pháp như vậy, nên nói là Như lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác.” Và
theo nghĩa đó mà nói các Phật tử là tùy sinh của Như lai.
Qua trường kỳ gian khổ, cho đến khi
đạt thành mục đích, thấy rằng tự tính của tất cả là không; tất cả đều
như như. “Nhất thiết trí như như. Hết thảy các pháp như như. Hết thảy
đều đồng một Chân như, không hai, không khác, không cùng tận.” Thấy như
vậy rồi, “Do nhận thấy ý nghĩa như vậy rồi, này chư thiên, tâm Ta xu
hướng tịch tĩnh, im lặng không thuyết pháp. Vì sao? Vì pháp này sâu xa,
khó thấy, khó giác tri.”
Duy-ma-cật hỏi Bồ tát Di-lặc: “Thưa
Di-lặc, khi đức Thế tôn thọ ký Nhân giả còn một đời nữa sẽ chứng đắc
A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề. Sự thọ ký ấy nhắm vào đời nào? Đời quá
khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Nếu là đời quá khứ, thì
đời quá khứ đã diệt. Nếu là đời vị lai thì đời vị lai chưa đến. Nếu ở
đời hiện tại, thì đời hiện tại không đình trú. Như Phật đã nói: Này tì
kheo, ngươi nay tức thời vừa sinh, vừa già, vừa diệt. Nếu bằng vô sinh
mà đươc thọ ký, thì vô sinh là chính vị. Mà trong chính vị thì không có
thọ ký, cũng không có sự chứng đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề?”
Về từ chánh vị được nói trong đoan
dẫn trên, La-thập nói: “Chân tướng thường định nên nói là chánh vị.”
Nghĩa là, yếu tính của thực tại Chân như thường hằng ổn định trong
nguyên vị của nó, được hiểu đó là chánh vị. Trong bản dịch của Huyền
Trang, từ chánh vị được dịch là chánh tánh. Khuy Cơ giải thích: Đó là
chân tánh của pháp.
Tự tánh chân thực của vạn hữu, đó là Không tính theo thắng nghĩa tuyệt
đối.
Nguyên lai, trong A-tì-đàm, chánh
hay chánh tánh là giai đoạn chuyển tiếp từ phàm phu trở thành Thánh giả,
được gọi là “nhập chánh tánh ly sanh” tức rời bỏ bản tính phàm phu
(sanh) để trở thành Thánh (chánh).
Đây là giai đoạn mà cấu trúc bản lai của thân và tâm bắt đầu quá trình
thay đổi. Trong Đại thừa Du-già tông, đó là bắt đầu quá trình chuyển y.
Khi cấu trúc của thân này và tâm này được thay đổi, thì cấu hình của thế
giới theo đó cũng thay đổi. Thời gian trong tâm thức của phàm phu và của
Thánh giả tất nhiên không giống nhau. Trong tâm thức của Thánh, ý niệm
về sự tái sinh trong tương lai, gọi là vô sinh, không tồn tại, do đó
khái niệm về thời gian theo quá khứ, hiện tại và vị lai cũng không tồn
tại. Trong ngữ cảnh đó, ý tưởng về sự được thọ ký, tức sẽ thành Phật
trong tương lai, cũng không tồn tại.
Tuy nhiên, trong tâm thức chúng
sinh, ước vọng tương lai, tất nhiên là một tương lai tôt đẹp hơn, là một
hiện thực. Ước vọng tương lai là nguồn thực phẩm duy trì sự sống hiện
tại. Vậy, khi Bồ tatá Di-lặc giảng giải chp chư thiên về pháp bất thối,
để chờ đợi sự thành Phật trong tương lai, phải chăng khi ấy Bồ tát đang
cung cấp nguồn thực phẩm, hy vọng và chờ đợi cho chư thiên? Vì vậy,
Duy-ma-cật nói: “Ngài chớ nói những lời dụ hoặc ấy.”
Tiếp đó Cư sỹ giải thích ý nghĩa
gọi là chứng đắc Bồ-đề hay Chánh giác:
“Thật sự không có người phát tâm vô
thượng bồ-đề cũng chẳng có người thóai thất. Bồ-đề không thể được chứng
đắc bằng thân, không thể được chứng đắc bằng tâm. Tịch diệt là bồ-đề, vì
diệt các tướng. Không có quán là bồ-đề vì nó lìa ngoài nhân duyên. Không
hành là bồ-đề vì nó dứt tuyệt nghĩ tưởng. Đoạn là bồ-đề, vì xả ly các
kiến. Xả ly là Bồ-đề, vì xả ly vọng tưởng (...) Đến là bồ-đề, vì đi đến
thực tế. Bất nhị là bồ-đề, vì nó xa lìa ý và pháp. Bình đẳng là bồ-đề,
vì đồng đẳng với hư không (...) Không xứ sở là bồ-đề, vì không hình sắc.
Giả danh
là bồ-đề, vì tên gọi vốn rỗng không...”
Di-lặc như vậy đành khuất tất trước
Duy-ma-cật.
d. Khuất tất
Nhưng, đích thực tế nào là ý nghĩa
của sự khuất tất này?
Ở hàng nhất sinh sở hệ, đã bước lên
địa vị quán đỉnh, có thể thay Phật chuyển bất thối pháp luân, nhưng sao
Bồ-tát Di-lặc còn phải khuất tất trước đối biện sắc bén của Duy-ma-cật?
Đấy là ẩn ngữ, không có ngôn ngữ để giải thích. Khuy Cơ cũng cố tìm
cách nhìn vào mặt sau của ẩn ngữ. Vô Cấu Xưng kinh sớ dẫn kinh
Phóng bát: “Di-lặc nói với Văn-thù-sư-lợi,
những vị như ngài cho dù nhiều đến trăm nghìn vạn ức cũng không thể hiểu
nổi sự việc tôi cất chân lên và hạ chân xuống... Cho nên, sự khuất phục
của Di-lặc chỉ là sự giả. Không phải thật sự Di-lặc bị khuất phục. Xưa
Di-lặc nói pháp bất thối cho thiên chúng để họ có hy vọng mong cầu. Nay
Duy-ma-cật đến nói vô tướng chân như, để làm nhân duyên cho họ.”
Trong tòan bộ kinh văn, không tìm
thấy đoan Khuy Cơ dẫn chứng. Nhưng nội dung tương tợ có thể tìm thấy
trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Thập địa: “Các Đại
sỹ an trụ trong bậc Pháp vân địa; đối với sự cất chân và hạ chân của cấc
ngài, hết thảy Bồ tát cho đến bậc thứ chín cũng không thể hiểu nổi.”
Ở đây, trong giới hạn mà trí năng
chúng ta có thể hiểu, sự khuất tất của Di-lặc trước Duy-ma-cật biểu hiện
ý nghĩa tùy thuận pháp tánh.
2. QUANG NGHIÊM
a. Thiện Tài và Quang Nghiêm
Các bản sớ giải đều không giải
thích nhân địa tu hành, hay nguồn gốc của vị Bồ tát Quang Nghiêm đồng tử
này, mặc dù danh hiệu được kể trong số các Bồ tát tham dự pháp hội tại
vườn Xoài.
Tuy nhiên, điều có thể thấy biểt ở đây là, qua sự kiện các đệ tử, rồi
các Bồ tát từ chối đi thăm binh Duy-ma-cật, trong sâu thẳm của trần
thuật, Kinh giới thiệu kho tàng Phật pháp, được nhìn từ nhiều khía cạnh
khác nhau, mâu thuẫn và đối nghịch, để từ đó mỗi cá nhân tự chứng nghiệm
ý nghĩa chân thật của Phật pháp.
Cho nên, Quang Nghiêm đồng tử, là
một nhân cách biểu hiểu hiện một phương diện của Bồ tát đạo, trong quá
trình tu dương của Bồ tát. Tên gọi mang nhiều ý nghĩa biểu tượng, chứ
không chỉ đơn giản là một tên gọi. Vì vậy, điều cũng rất có ý nghĩa ở
đây khi liên hệ đến “Hoa nghiêm Nhập pháp giới.” Ở đó, Bồ tát đạo bắt
đầu bằng các thiếu niên nam nữ, những người mà Văn-thù đã khơi dậy nơi
họ tâm Bồ-đề rộng lớn. Duy-ma-cật cũng bắt đầu với Bảo Tích và
các công tử thành Tỳ-da-ly. Từ Bảo Tích, cho đến Quang Nghiêm, có thể là
hai thế hệ trong ý nghĩa nhân sinh. Cho thấy sự kế tục của lý tưởng Phật
thừa Bồ tát đạo là liên tục không gián đoạn.
Nhân cách biểu tượng của Quang
Nghiêm, theo như tên gọi, là sự trang nghiêm bằng ánh sáng của trí tuệ.
Đó là điều mà Văn-thù khai đạo cho Thiện Tài đồng tử, cùng các thiếu
niên nam nữ khác. Rồi Văn-thù giáo giới Thiện Tài: “Để vững chắc sự
nghiệp của Bồ tát, để hoàn tất con đường của Bồ-tát; thì đây là điểm
khởi đầu, từ đó mà lưu xuất, từ đó mà viên mãn Nhất thiết trí; đó là
thân cận, tôn kính, phụng sự thiện tri thức.”
b. Khởi điểm và cùng đích
Bồ-đề tâm là ý chí, bạn hữu là bước
khởi đầu. Ý nghĩa này cũng được thấy trong đối thoại giữa Duy-ma-cật và
Quang Nghiêm. Chính vì thân cận thiện tri thức mà Quang Nghiêm hội ngộ
Duy-ma-cật. Hoạt trường thiện tri thức của Thiện Tài bao la, trên những
vùng không gian rộng lớn, và trong chuỗi thời gian vô tận. Không gian
của Quang Nghiem chỉ trong thành Tỳ-da-ly. Thời gian cũng chỉ là sự tụ
hội phút chốc. Đấy hiện thực rất gần gũi đời thường để dẫn người vào sự
nghiệp hoằng vĩ của Bồ tát.
Cũng tương tự như Quang Nghiêm hỏi
Duy-ma-cật: “Bác đi đâu về?” Thiện Tài sau khi chiêm ngưỡng lầu các
Tì-lô-giá-na trang nghiêm tạng
của Di-lặc, rồi hỏi: “Đại Thánh, Ngài từ đâu đến?” Chúng ta hãy liên hệ
ở đây với câu trả lời của Di-lặc:
“Hết thảy Bồ tát không đến, không
đi. Như vậy mà đến. Không hành, không trụ, như vậy mà đến. Vô xứ, vô
định, như vậy mà đến. Không chết, không sinh, như vậy mà đến. Không đình
trú, không thiên di, như vậy mà đến. Không động, không khởi, như vậy mà
đến. Không tham luyến, không hệ luỵ, như vậy mà đến. Không nghiệp, không
quả báo, như vậy mà đến. Không khởi, không diệt, như vậy mà đến. Không
đoạn, không thường, như vậy mà đến.
“Bồ tát từ trú xứ đại bi mà đến...
từ trú xứ đại từ mà đến... từ trú xứ đại nguyện mà đến... Hóa hiện như
bóng của hình, như ảnh trong gương.”
Khi được Quang Nghiêm Đồng tử hỏi
từ đầu về, Duy-ma-cật đáp: “Từ đạo tràng về.”
Đạo tràng, tức Kam cang tòa, nơi
chư Phật ngồi và thành tựu đại giác. Từ này, Huyền Trang không dịch là
“đạo tràng” hay “Bồ-đề tràng” mà dịch là “diệu Bồ-đề.”
Đây là nghĩa thứ hai của từ tiếng Phạn, chỉ tinh hoa hay tâm tủy chân
thật của Bồ-đề, là diệu giác, là quả vị cứu cánh của Phật. Huyền Trang
nhấn mạnh ý nghĩa thứ hai, nhưng danh từ đảo vị, thay vì nói “Bồ-đề
diệu” bản dịch Huyền Trang nói là “diệu Bồ-đề” nên các chú giải tập
trung vào ý nghĩa Bồ-đề thay vì “diệu” tức tinh hoa, hay thượng vị.
La-thập dịch là “đạo tràng” nên các
chú giải theo đó tập trung trên ý nghĩa thành Phật thay vì nêu rõ khởi
điểm của Bồ tát đạo. trong Kinh văn, trả lời của Duy-ma-cật về ý nghĩa
“Bồ-đề thượng vị” đã khá rõ: trực tâm, phát hành, thâm tâm và Bồ-đề tâm
là Bồ-đề thượng vị. Ở đây, tinh chất của Bồ-đề, vị ngọt tối thượng vi
diệu của Bồ-đề, chính là sự phát tâm Bồ-đề với bốn đặc tính: thứ nhất,
điều mà La-thập dịch là trực tâm, Huyền Trang
gọi là thuần trực ý lạc, trong nguyên tiếng
Phạn nên hiểu là ý chí hướng thượng. Ý nghĩa
này đã được Phật nói cho Bảo Tích trong chương đầu, khi trả lời về ý
nghĩa thanh tịnh Phật quốc. Nguyên Phạn văn nói: “Thượng vị của ý chí
hướng thượng là thượng vị của Bồ-đề.”
Ý nghĩa như vậy cũng khá rõ. Ý chí hướng thượng của Bồ tát trong nội
dung của Duy-ma-cật là thanh tịnh Phật quốc, thành tựu Chúng sinh. Khi
đã xác định được lý tưởng cao thượng của mình, Bồ tát sơ phát tâm cảm
thấy như đang thưởng thức hương vị tuyệt vời vi diệu của Bồ tát đạo,
hướng đến Bồ-đề.
Tiếp theo đó là phát khởi hành
động. Trong sự thực hành Bồ tát đạo, Bồ tát cảm nghiệm được thượng vị
của Bồ-đề.
Còn lại, như đã đề cập trong chương
một, đoạn nói về ba tâm và bốn độ.
Tiếp theo, Duy-ma-cật diễn giải các
hành trì của Bồ tát là thượng vị của Bồ-đề, bao gồm sáu ba-la-mật, bốn
vô lượng tâm, và những thành tựu chứng đắc của Bồ tát. Những điều này
cũng đã được đề cập trong chương một, về sự thanh tịnh Phật quốc.
Cuối cùng, Duy-ma-cật kết luận: tất
cả cử chỉ của Bồ tát thảy đều phù hợp tương ưng với các ba-la-mật, với
sự thành thục Chúng sinh, với sự hộ trì chánh pháp; tất cả những điều đó
đến từ thượng vị vi diệu của Bồ-đề, được xác lập vững chắc trong Phật
pháp.
Cho nên, việc Quang Nghiêm hỏi
Duy-ma-cật, cũng là chào hỏi thường tình của người đời đối với hàng
trưởng bối. Nhưng, từ những tế toái của đời thường, mà đi tìm ý nghĩa
không cùng tận của nhân sinh, Bồ tát có hay sinh sự, và nhiều lý sự quá
đi chăng?
Giải đáp ý nghĩa đến và đi của
Di-lặc xuất phát từ tự tính của các pháp, cho nên không đến, không đi.
Trả lời của Duy-ma-cật xuất phát từ thể của hành động, tức tính thể của
Bồ tát hạnh. Ông nối, từ đạo tràng về, hay từ diệu Bồ-đề đến.
Đạo tràng, tức là cao đài của trí giác, là điểm xuât phát với tâm Bồ-đề,
và cũng là điểm tựu thành của Bồ tát đạo.
3.. TRÌ THẾ
a. Sáng thế và Trì thế
Tên gọi của vị Bồ tát này cho thấy
biệu tượng nhân cách của Bồ tát, là vị nâng đỡ, hộ trì hay duy trì thế
gian.
Bồ tát Pháp vân địa, địa vị thứ
mười, cũng nói là quán đỉnh vị, thường thác sinh làm Đại Tự Tại Thiên
vương.
Nguyên đó là xưng hiệu gọi các vị Thần sáng tạo thế gian trong tôn giáo
Ấn độ. Tín ngưỡng này được Đề-bà tường thuật trong Niết-bàn luận như
sau: “Nhóm ngoại đạo thứ 15 là những người thờ Ma-hê-thủ-la thiên. Quả
được sáng tạo bởi Na-la-diên.
Nhân là Phạm thiên. Ma-hê-thủ-la là nhất thể mà chia thành ba ngôi.
Đó là Phạm thiên, Na-la-diên và Ma-hê-thủ-la. Đất là y xứ. Ma-hê-thủ-la
là chủ của đất. Hết thảy trong tam giới những loài có linh hồn (mạng)
hay không có linh hồn (phi mạng) đều được sáng tạo bởi Ma-hê-thủ-la.
Trên thân thể của Ma-hê-thủ-la, đầu là bầu trời. Đất là thân mình. Nước
là nước tiểu. Núi là phân. Các sâu trùng trong bụng là chúng sinh....”
Những vị Thần này từ tín ngưỡng phổ
biến được đưa vào Phật giáo như những vị hộ trì Phật pháp, cho ở vào chỗ
cao nhất trong thế giới hữu sắc là cõi trời Sắc cứu cánh, tức tầng thứ
năm, cao nhất của năm tầng Tịnh cư thiên, nơi mà một vị A-na-hàm nhập
Niết-bàn vì không tái sinh Dục giới. Du-già sư địa nói: “Vượt qua
các tầng Tịnh cung (Tịnh cư) là trú xứ của Đại Tự Tại (Ma-hê-thủ-la). Ở
đó có Bồ tát địa thứ mười do huân tu thập địa đến chỗ tuyệt đối nên sinh
vào đó.”
Bỏ qua tính chất thần thoại và tín
ngưỡng tôn giáo, Bồ tát Trì Thế như vậy được coi như biểu tượng cho phẩm
chất cao nhất của Bồ tát hàng thập địa. Phẩm chất đó, như vai trò sáng
tạo thế gian của Thần tôn giáo, ở đây, Bồ tát hàng thập địa được quan
niệm như là những vị sáng tạo nên các giá trị và ý nghĩa tồn tại cho thế
gian. Tất nhiên, chỉ trong ý nghĩa tục đế, hay chân lý ước lệ.
b. Ma sự
Thiện Tài sau khi từ giã Di-lặc,
chuẩn bị đi vào giai đoạn chót, dự vào hàng nhất sinh sở hệ, bước lên
địa vị Quán đỉnh Pháp vương tử; vào lúc ấy, Văn-thù xuất hiện. vừa tán
thán vừa canh giác: “Nếu lìa tín căn, tâm tư bạc nhược, ưu sầu, hối
tiếc, công hành không đủ, thóai thất, không tinh cần, với một chút ít
công đức mà cho là đủ, với một chút thiện căn mà mà tâm bị buộc ràng,
không thiện xảo để phát khởi hành nguyện của Bồ tát, không được thiện
tri thức che chở, không được Như lai hộ niệm; hạng như vậy thì không thể
thấu suốt pháp tính như vậy, lý thú như vậy, sở hành như vậy, sở trụ như
vậy...”
Tất nhiên, Bồ tát ở vào hàng bất
thối chuyển, những lời cảnh giác ấy thật sự là tán thán, vì đã vượt qua
mọi chướng ngại, tâm tư không còn dao đông. Nhưng trong một ý nghĩa
khác, đó vẫn còn là lời cảnh giác. Cảnh giác Ma sự. Cho đến khi Bồ tát
ngồi tại Bồ-đề đạo tràng, vẫn còn phải chiến đấu lần chót với quân đội
Ma: “Thế gian cùng với thiên giới không thể đánh bại đạo quân này của
ngươi. Nhưng, bằng trí tuệ, Ta phá tan nó như đạp vỡ cái bát sành chưa
được nung.”
Khi Ác Ma bị đức Thích tôn đánh bại
tại Bồ-đề đạo tràng, y than thở: “Không dễ dụ La-hán, đấng Thiện thệ
trong đời. Vị đã thoát cảnh Ma. Vì vậy ta buồn rầu.”
Ác Ma ở đây cũng chỉ là sự hình
tượng hóa cái xấu trong thế gian. Nó là thế lực ngự trị không để một
chúng sinh nào thoát ra khỏi sinh tử. Cho nên, nó được nói là phiền não
ma. Cũng được nói là ngũ uẩn ma. Phiền não, tất nhiên là những kết sử
ràng buộc, dẫn chúng sinh tái sinh, luân chuyển trong vòng quay bất tận.
Năm uẩn, là sở y của tồn tại. Y trên đó, thiện hay bất thiện được thực
hiện.
Ác Ma luôn theo dấu Phật, quấy
nhiễu chúng Thanh văn. Trên đường đi của Bồ tát tất nhiên không phải là
không có dấu chân theo dõi của Ma. Vì vậy, sau khi Phật nói các công đức
của Bồ tát, vì để chứng thành Vô thượng giác ngộ mà dũng mãnh tinh tấn
tu các ba-la-mật, và vô số việc khó làm khác; bấy giờ Tu-bồ-đề liền hỏi
ngay dấu hiệu của Ma sự:
“Phật đã tán thán các công đức của
Bồ tát, vì để chứng đắc Vô thượng Bồ-đề mà dũng mãnh tinh tấn tu hành bố
thí cho đến bát-nhã ba-la-mật, thành thục hữu tình, trang nghiêm Phật
quốc, vì sao cần phải biết các Bồ tát ấy khi phát khởi hướng đến Vô
thượng Bồ-đề, bấy giờ thường phải vướng mắc các ma sự?”
Và bây giờ thì thật sự Ma đang đến
quấy nhiễu Trì Thế.
Khi được Tu-bồ-đề hỏi về Ma sự,
Phât nói: “Bồ tát ưa thuyết pháp yếu. Rồi phát sinh ưa thích nói mãi
không thôi.”
Có thể trước dấu hiệu nào đó của sự sụp đổ ý chí, thóai thất, hoài nghi
hay nhận thức lệch lạc con đường mình đang đi, người hành Bồ tát đạo
viện dẫn giáo lý để tự biện hộ. Cũng có thể ngụy tín về khả năng giáo
hóa nên trở thành vị pháp sư chuyên biện thuyết nhưng thiếu thực hành.
Dù sao, ở đây Trì Thế giảng cho vị Thiên đế giả mạo bằng những điều Phật
đã giảng cho chúng để tử: “Không phóng dật dẫn đên bất tử. Phóng dật dẫn
đến diệt vong.”
Chính lời dạy ấy, để chống lại Ma, nay được đem giảng lại cho chính Ma.
c. Vô tận đăng
Một đoạn kinhh văn, Trì Thế bạch
Phật:
“ ... Con còn nhớ có lần đang ở
trong tĩnh thất, khi ấy Ma Ba-tuần
hình trạng như Đế Thích xuất hiện cùng với mười hai ngàn thiên nữ theo
sau đàn hát, đi đến chỗ con. Sau khi cúi đầu đảnh lễ dưới chân con, họ
chắp tay đứng sang một bên. Con tưởng đó là Đế-thích nên noi: ‘Xin chào
Kiều-thi-ca. Dù ông đã thành tựu nhiều phước báo, nhưng không nên phong
túng. Ông nên quán ngũ dục là vô thường để tìm cầu gốc rễ thiện. Hãy tìm
cầu pháp chắc thật cho thân thể, sinh mạng và tài sản này.’ Ma liền nói:
‘Thưa Đại Chánh sỹ, xin ngài nhận lấy mười hai ngàn thiên nữ này để hầu
hạ ngài, lo việc quét dọn.’ Con bảo: ‘Này Kiều-thi-ca, chớ đem
cho Sa-môn họ Thích món quà phi pháp như vậy. Nó không thích hợp với
tôi.’ Con chưa dứt lời thì Duy-ma-cật chợt đến và nói: ‘Nó đâu phải là
Đế-thích. Nó là Ma đến quấy nhiễu ngài đấy.’ Rồi ông quay sang bảo ma:
‘Hãy cho ta các cô gái này. Như ta thì có thể nhận.’ Ma kinh sợ, nghĩ
rằng, ‘Duy-ma-cật có thể gây hại ta chăng?’”
Nữ nhân trong Duy-ma-cật
thường xuất hiện trong những hình tượng đặc biệt. Chúng biểu tượng cho
tính chất mâu thuẫn nội tại trong ý niệm giải thoát, để từ đó dẫn đến
nhận thức về ý nghĩa giải thoát bất khả tư nghị.
Trước hết, trong những môi trường
văn hóa nhất định, nữ tính là biểu tượng cho yếu tố thẩm mỹ. Đồng thời
đó cũng là hỉnh ảnh phản diện của thẩm mỹ: tịnh và bất tịnh. Phẩm chất
cao quý, dẫn đến giác ngộ và giải thoát, như trí bát-nhã, được gán cho
nữ tính. Tham ái dẫn đến tái sinh, cũng được gán cho nữ tính. Cho nên,
khi Ác Ma đã thất bại không thể chinh phục đức Thích tôn với đạo quân
hùng mạnh của mình, nó sai ba người con gái đi chinh phục Thích tôn. Các
cô nói với bố Ác Ma: “Chúng con sẽ trói người đó bằng sợi dây thừng tham
ái, như trói con voi lớn trong rừng.”
Ở đây Ác Ma đang thử thách bài
giảng về không buông lung của Trì Thế bằng cả một đội quan Ma nữ.
Điều rất thú vị là Duy-ma-cật đã
tiếp nhận đội quân Ma nữ ấy, và trao cho họ sứ mạng đi thắp ngọn đuốc
soi sáng thế gian. Những ngọn đuốc ấy sẽ cháy sáng bất tuyệt. Thế gian
chìm đắm trong ái dục, bị trói chặt bởi sợ dây thừng ái dục, không thể
vùng thoát. Không thể bứt thoát dễ dàng được, nếu không châm ánh lửa trí
tuệ lên chính những ngọn đuốc được làm bằng chất liệu ái dục ấy.
Kinh văn nói:
“Các thiên nữ quay hỏi Duy-ma-cật:
‘Ở trong cung điện của Ma, chúng tôi phải sống như thế nào?’
“Duy-ma-cật đáp: ‘Này các chị, có
Pháp môn được gọi là Ngọn đèn vô tận;
các Chị nên học. .. Dù các Chị có ở nơi cung điện của Ma, các Chị hãy
nên dùng Pháp Vô tận đăng này để dẫn dắt vô lượng con trai, con gái của
Trời khiến phát tâm cầu giác ngộ, vừa để báo Phật ân vừa làm lợi chúng
sinh.’”
Trong hình tướng xuất gia, dù ở vào
hàng thập địa, Trì Thế vẫn không thể tiếp nhận đội quân ấy như
Duy-ma-cật. Cho nên, Bồ tát cũng cần phải cảnh giác thế gian về Ma sự.
Không thể để cho những diễn thuyết pháp yếu của mình trở thành yếu tố
làm sụp đổ chính mình. Giữa Duy-ma-cật và Trì Thế, giải thoát bất tư
nghị là gì? Không thể có định nghĩa chung cho tất cả. Dù sao, điều đã
được biết là, tự tính của các pháp bản lai thanh tịnh. Bằng chất liệu ô
nhiêm của thế gian mà thắp lên ánh sáng thanh tịnh vi diệu cho thế gian,
Bồ tát xây dựng cõi Phật thanh tịnh từ chính những môi trường ô nhiễm
bất tịnh.
4. THIỆN ĐỨC
a. Tế tự
Trong một chuỗi thời gian tiến hóa
lâu dài, cho tới một thời kỳ nhất định, ý niệm tích lũy tư hữu mới phát
sinh nơi con người.
Cũng từ đó, cạnh tranh và mâu thuẫn phát sinh. Để giải quyết, mọi người
bầu ra một người hoà giải. Họ chia một phần thu hoạch của mình cho người
này. Đó là hình thức giao ước xã hội đầu tiên của loài người.
Nhưng cũng từ đó, phát sinh giao ước giữa con người với Thần linh. Con
người có bổn phận hiến tế phẩm vật cho Thần linh, như một hình thức đóng
thuế. Đáp lại, Thần linh cũng có nhiệm vụ hỗ trợ con người trong các
sinh hoạt. Càng về sau, hiến tế trở thánh bổn phận cưỡng bức, chứ không
phải giao ước theo chủ nghĩa công lợi nguyên thủy giữa người và Thần
nữa.
Cho đến thời đức Thích tôn xuất
hiện, hiến tế và cầu nguyện trở thành quy tắc đạo đức, là cơ sở phân
chia đẳng cấp xã hội. Trong nhiều điều khoản của Luật tạng, các tỳ kheo
không được phép tham gia các sinh hoạt tế tự và cầu nguyện chung với thế
tục. Tăng đoàn Phật giáo muốn giữ tính cách độc lập với các tín ngưỡng
tôn giáo đương thời, mà kinh điển gọi là tà kiến, vì không đem lại ích
lợi thiết thực cho sự tiến hóa tâm linh của con người.
Trong thời Phật, pháp điển tế tự
của Vệ-đà chưa hoàn tất. Chỉ truyền tụng ba Vệ-đà. Ngay cả trong ba
Vệ-đà này, bộ thứ ba là Dạ-nhu Vệ-đà có vẻ cũng chưa phổ biến. Vì cũng
có một số giáo sĩ Bà-la-môn tìm đến Phật để tham khảo nghi thức tế tự.
Vì họ tin rằng, họ Thích trong chủng tộc Gotama là hậu duệ của cổ đại
Tiên nhân Aṅgiras,
là một trong các dòng họ gia truyền Vệ-đà.
Nhiều nơi trong kinh Phật cũng mô
tả hình thức các tế đàn được tổ chức; nói đến vai trò của vị chủ tế,
phận sự của Quốc vương, cùng với sự tham gia của Vương hậu, Vương phi,
Vương tử, triều thần và dân chúng.
Nhưng trong tất cả, kinh Phật đều hướng tế đàn sang một ý nghĩa khác,
mang tính xã hội hơn là bản chất tôn giáo. Trong một quốc độ mà dân
chúng đang cùng khốn, không thể tổ chức đại tế đàn. Vì sẽ thâm thủng
ngân sách. Và như vậy, phải tăng thuế, sưu dịch. Khiến dân chúng đã
khốn, lại càng khốn thêm. Hậu quả là trộm cướp phát sinh và hoành hành,
tăng thêm tình trạng khốn quẫn của dân chúng. Chỉ khi nào dân chúng sống
sung túc, bây giờ Vua mới nên nghĩ đến viêc tế tự, để cầu phước báo lâu
dài cho mình.
Theo cách giới thiệu như vậy, tế tự
tuy bắt nguồn từ bản chất tôn giáo, nhưng bây giờ trở thành sinh hoạt lễ
hội mang tính nhân gian. Vì mọi người đều có thể tham dự khi đời sống
vật chất tương đối sung túc. Dù hiểu theo nghĩa nào, trong một xã hội
truyền thống với những tập quán lâu đời, không thể tách rời con người ra
khỏi thế giới Thần linh của nó. Vả lại, thế giới đó cũng biểu tượng cho
sự thăng hoa của đạo đức, và do đó, của hạnh phúc.
b. Thiện Đức
Bồ tát Thiện Đức, mà bản Huyền
Trang âm là Tu-đạt,
người ở thành Tỳ-da-ly, là nhân vật cùng tên với vị Trưởng giả ở Xá vệ,
thường gọi theo phiên âm là Tu-đạt. Đó là vị cư sỹ rất nổi tiếng trong
các đệ tử tại gia của Phật. Vì sự bố thí, chẩn tế người nghèo, nên ông
được người đương thời tặng cho danh hiệu là Cấp Cô Độc.
Vị Bồ tát Thiện Đức này tu công
hạnh như thế nào, không thể biết được. Nhưng khi Duy-ma-cật đến viếng,
thì ngài đang tổ chức lễ hội lớn. Như thế là tuy tu tập Phật pháp, nhưng
Bồ tát vẫn không bỏ thế gian pháp. Vẫn kế thừa gia nghiệp của tổ tiên,
và làm các phận sự đối với tổ tiên.
Duy-ma-cật đến, không đề nghị dẹp
bỏ hinh thức tế tự mà các đệ tử Phật xem là vô ích. Ông đến đề nghị nâng
tầm mức ý nghĩa lên tầng thăng hoa cao hơn.
Trong lễ hội này, Thiện Đức cũng đã
thực hiện nghĩa bình đẳng, hiểu theo nghĩa thông tục của thế gian. Bình
đẳng, vì không chỉ tế tự dâng hiến Tổ tiên, những người đã chết, mà còn
dâng hiến những ngưòi còn sống. Không chỉ bố thí cho một thành phần tôn
giáo nào đặc biệt, mà cho tất ca Sa môn, Bà la môn, ngoại đạo. Không
phân biệt giai cấp sang hèn, mà cho bất ai cần. Tuy vậy, đó chỉ là ý
nghĩa trong quy ước thế gian, chỉ mang lại giá trị tầm thường cua thế
gian. Nên Duy-ma-cật đề nghị một ý nghĩa chân thật cho lễ hội, được nhận
thức từ ý nghĩa pháp tính bình đẳng. Điều đó nên là nền tảng tu đạo và
hành đạo của Bồ tát.
Các Thanh văn đi tìm sự giải thoát
bằng con đường xuất thế, sống cuộc đời ẩn cư tịch mịch. Bồ tát cũng đi
tìm cứu cánh giải thoát, nhưng ở ngay giữa cõi đời hệ lụy, nên chọn
hướng đi bằng phụng sự, dâng hiến. Tức bố thí là công hạnh chính để Bồ
tát tu tập, và thăng tiến.
Hạnh bố thí lưu xuất từ ý nghĩa
pháp tính bình đẳng. Do đó, chỉ bằng vào sự bố thí, Bồ tát lần lượt
thành tựu hết thảy các ba-la-mật. Thành tựu các thiền, tam muội, các
Bồ-đề phần, mà Thanh văn phải ẩn thân trong rừng núi mới có thể tu tập
được. Tất nhiên, hướng đi của Bồ tát lâu dài hơn, và do đó cũng dễ thối
chí, thất bại; không vững chắc như Thanh văn, chứng chánh trí ngay đời
này, và cũng sống an lạc ngay trong đời này. Bồ tát còn phải chịu nhiều
đau khổ, chung với số phận của vô lượng chúng sinh, trong vô lượng kiếp
nữa.
Do ý nghĩa đó, Thế Thân khi giải
thích kinh Kim cang đã nhấn mạnh ngay trên sự bố thí, như là nền
tảng để thành tựu Bát-nhã ba-la-mật.
Trong đó, với ba phương diện bố thí là tài vật, cứu nguy, và pháp, tài
thí là nền tảng để thành tựu bố thí ba-la-mật. Vô uý thí, hành động cứu
khổn phò nguy, để thành tựu giới và nhẫn, vì mang lại sự an toàn thoát
mọi nguy hiển sợ hãi cho chúng sinh. Cuối cùng, pháp thí, tích cực trong
các công tác giáo dục để thành tựu tinh tấn, thiền và trí tuệ.
Trong Duy-ma-cật, cũng chính bằng
sự bố thí mà thành tựu tất cả Phật pháp.
Nói cách khác, trong ý nghĩa vừa
nêu, Bồ tát hành đạo giữa thế gian có ba mục tiêu cụ thể. Thứ nhất, tăng
ích tài sản vật chất. Với mục tiêu này, Bồ tát hiện thân trong quốc độ
nào, quốc độ ấy không có những kẻ bần cùng cô khổ. Thứ hai, chẩn tế vô
uý. Hiện thân ở quốc độ nào, Bồ tát khiến cho nhân dân ở đó không sống
trong sợ hãi, nguy hiểm đe dọa; không giặc cướp, không chiến tranh,
không áp bức. Sau hết, giáo hóa chúng sinh thành tựu các phẩm chất cao
thượng, thành tựu các công đức của Bồ tát và Phật.
Thật sự, ba mục tiêu vừa nói của Bồ
tát không khác với mục tiêu của xã hội loài người. Quốc gia nào cũng
muốn dân giàu nước mạnh, hoà bình ổn định, và dân trí được nâng cao. Bồ
tát hành đạo không đặt mục tiêu của mình ngoài ước vọng chung của xã hội
nhân quần. Duy chỉ một nền tảng không thể thiếu, để Bồ tát an trụ trên
đó mà hành đạo. Nền tảng đó là nhận thức về ý nghĩa pháp tính bình đẳng.
Đó là điểm mà Duy-ma-cật đề nghị với Thiện Đức khi hành lễ hội và bố
thí.
Thế nhưng, mục tiêu của Thanh văn
là phải chứng đắc chánh trí ngay trong đời này, “Sau đời này, không còn
đời nào nữa.” Mục tiêu của Bồ tát thì không thể thành tựu trong một đời.
Vì vậy, Bồ tát cần có Bồ-đề tâm kiên cố, không thể bị lay chuyển dù trải
qua đời nào. Thế thì, ở đây chúng ta cũng gặp lại ý nghĩa thời gian
trong cuộc luận đạo với Bồ tát Di-lặc; Bồ-đề tâm nơi Quang Nghiêm; và ma
sự nơi Trì Thế. Đó là bốn đức của Bồ tát. Thoạt nhìn, có vẻ siêu thực.
Nhưng khi phát khởi hành động, các phẩm tính ấy rất hiện thực, rất gần
gũi với đời thường. Nghĩa là, bất cứ ai, ở bất cứ địa vị nào, với bất cứ
trình độ nhận thức nào, đều có thể hành Bồ tát đạo.
Đạo Bồ tát không chỉ ở trong một
đời, nên không thể lấy đó mà luận giải thành tựu hay không thành tựu.
Không thể đem tâm lượng hẹp hòi mà
đánh giá công hạnh của bậc đại sỹ.
|