|
HUYỀN
LUẬN DUY-MA-CẬT
Tuệ Sỹ [MỤC LỤC]
CHƯƠNG V:
VĂN-THÙ THĂM BỊNH
I. NGÔN NGỮ VÀ BIỂU TƯỢNG
1. Thực tại vô ngôn
Không phải chỉ riêng thực tại được
mô tả trong Duy-ma-cật là vô ngôn, mà tất cả khái niệm về thực
tại được biểu hiện trong các kinh điển đều xuất phát từ tự thể phi ngôn
thuyết. Sự im lặng của Duy-ma-cật, rồi sẽ thấy trong chương “Nhập bất
nhị”, là đỉnh cao tuyệt đối của ngôn ngữ.
Thế nhưng, không phải chỉ trong đối
thoại triết lý hay đạo lý, không phải chỉ giữa các hàng đại trí của thế
gian, mới có biểu hiện của ngôn ngữ phi ngôn thuyết, biểu hiện bằng sự
im lặng. Trong đời thường, cũng có rất nhiều trường hợp người ta phải im
lặng. Im lặng, vì những xung đột nội tâm, vì những mâu thuẫn xã hội,
những nghịch lý vượt ngoài tầm hợp lý của ngôn ngữ. Hành vi và ngôn ngữ
của Duy-ma-cật cũng cần phải được chiêm nghiệm ngay giữa cuộc sống
thường nhật.
Xu hướng giảng luận Duy-ma-cật
thường cố thăng hoa mọi ý niệm, những khái niệm thường bị khóac cho
tính chất triết lý siêu hình, để bốc hơi thành thực tại hư ảo, không thể
tìm thấy trong thế gian này. Chính vì vậy mà người ta thấy một tôn giả
Xá-lợi-phất đại trí bỗng trở thành ngây ngô, một Đại Ca-diếp vô cùng khả
kính trở thành lẩm cẩm, một A-nan bác học phải bối rối. Không đơn giản
vì các ngài chưa hiểu nổi, chưa thâm nhập pháp tính thậm thâm, nên trở
thành như vậy. Nếu các bậc Thánh cao đại của thế gian ấy mà không hiểu
nổi, chưa thâm nhập được, thì các hạng phàm phu đang chìm ngập trong
dòng xoáy ô nhiễm lại có thể?
Các Đại Thanh văn từ chối đi thăm
bịnh. Các Đai Bồ tát cũng từ chối. Chỉ vì không đương nổi biện tài vô
ngại của Duy-ma-cật. Thế thì, từ một góc nhìn, không hẵn các ngài ngại
ngùng trước sự việc Duy-ma-cật bịnh thật hay bịnh giả, mà có thể là các
ngài sợ chứng bịnh lắm lời của thế gian, hý luận và vọng tưởng. Văn-thù
chấp nhận đi thăm bịnh, và nhận xét: “Cư sỹ ấy đã chứng thật tướng và
cũng thuyết thật tướng.”
Thấy và nói lên những gì mình thấy,
không phải luôn luôn là sự phù hợp giữa ngôn ngữ và thực tại. Nhà thơ
nào đó đi tìm dòng sông trong con mắt. Không phải nhà thơ ấy thực sự đi
tìm dòng sông và con mắt. Ông đang “chứng nhập” một cái gì đó đang di
động và làm rung động tận cùng thể tính của mình, một thực tại phi ngôn
thuyết.
Vậy thì, chứng thật tướng, và
thuyết thật tướng, được biểu hiện trong vô vàn phương tiện.
Để vận dụng các phương tiện thiện
xảo ấy, hành vi và ngôn ngữ Duy-ma-cật xuất hiện trong nhiều hình ảnh
biểu tượng có khi hiện thực, có khi siêu thực; có khi hợp lý, có khi
phản lý và siêu lý. Như một nhà đạo diễn nếu không nắm vững các quy luật
của sân khấu, không thể biến cái không gian nhỏ hẹp kia thành hoạt
trường của mọi thứ hỷ nộ, yêu ghét trong cả cái xã hội và thế giới bao
la và vô cùng phức tạp ấy. Cũng vậy, Bồ tát không chứng nhập thật tướng
thì không thể diễn thuyết thật tướng.
2. Biểu tượng nghệ thuật
Một cách nào đó, chúng ta có thể
nhìn mọi sự biến trong Duy-ma-cật như những tình tiết trong các
màn kịch. Nhưng đây là bản kịch câm. Vì tận cùng ngôn ngữ và biểu tượng
ở trong đó là sự im lặng. Mỗi khán giả hay thính giả, tức mỗi độc giả
của Duy-ma-cật, tự mình chiêm nghiệm, và tự minh thuyết minh lấy.
Chính vì vậy mà có người nhìn lên sân khấu, thấy vị đại trí như là kẻ
ngu; thấy vị đại biện tài như một gã nói lắp.
Vậy thì, trong tận cùng tự thể của
nó, biểu tượng là gì? Đó là một câu hỏi triết lý, yêu cầu một định nghĩa
bản thể luận. Các nhà luận giải Duy-ma-cật sẽ có xu hướng làm như
thế. Nhưng nếu chúng ta nói Bồ tát đạo của Duy-ma-cật là hành vi của một
con người giữa đời thường, trong tương quan liên đới với toàn thể xã
hội; thì các biểu tượng là những tín hiệu truyền thông. Như các Thiền sư
thường nói: Một cái nhướng mi, một cái nhăn mặt, thảy đều là Phật sự. Vì
nó làm cho người này hiểu được tâm tư của người kia.
Thế giới trong Duy-ma-cật
được thâm nhập cùng lúc bằng hai phương tiện gần gũi nhất trong đời
thường; đó là ngôn ngữ và biểu tượng. Có thế giới của ngôn ngữ. Và có
thế giới của biểu tượng.
Qua suốt ba chương trước,
Duy-ma-cật dẫn vào thế giới ngôn ngữ qua nhiều tầng bậc khác nhau. Ông
đi từ ngôn ngữ giao tiếp thường nhật, trong kinh nghiệm thưòng nhật, để
nhận thức trong tự thể của thân thể mong manh đầy bịnh tật này là sự
hiện hữu của Pháp thân mầu nhiệm.
Nhưng ông không mô tả Pháp thân mầu nhiệm như thế nào, mà chỉ nói bằng
ngôn ngữ của một người bịnh than phiền về thân thể bịnh tật của mình, và
ước mơ một thân thể không bịnh tật. Rồi cũng bằng ngôn ngữ ấy, trong
bình diện cao hơn, vì kinh nghiệm về bản chất của tồn tại thâm sâu hơn,
ông dẫn đạo siêu việt tam thừa, vượt qua các Thanh văn địa
và Bồ tát địa.
Cho đến lúc hội ngộ với Văn-thù, ngôn ngữ càng lúc càng trở nên mâu
thuẫn, chứa đầy nghịch lý, cho tới lúc trở thành vô ngôn.
Thực tại bấy giờ được trình bày bằng hình ảnh biểu tượng. Đấy là lúc cần
phải tư duy về thế giới bằng hình ảnh, chứ không bằng những khái niệm
nữa. Nhưng đấy sẽ là những hình ảnh kỳ quặc, khó tìm thấy trong đời
thường. Cũng có khi họa sỹ vẽ hình ảnh thế giới sự vật bằng những đường
nét gãy khúc, méo mó. Nhưng người thưởng ngoạn biết rằng cái đó còn thực
hơn những đường nét ngay thẳng mà mọi người quen thấy hằng ngày.
Bằng ngôn ngữ của thi ca, bằng hình
ảnh của hội họa, mà ẩn tình u uẩn, những khát vọng thầm kín của con
người được bộc lộ một cách trung thực. Cũng vậy, bằng ngôn ngữ và biểu
tượng, xuất phát chỗ chứng thật tướng và thuyết thật tướng, nhà đại nghệ
sỹ Duy-ma-cật đã phơi mở tất cả kho tàng huyền diệu vô biên của thế giới
cho những ai muốn thấy, muốn biết.
II. QUAN HỆ NHÂN SINH
1. Ái ngữ
Văn-thù phụng chỉ đi thăm bịnh
Duy-ma-cật. Các Thanh văn và Bồ tát đều nghĩ “Sẽ có những luận giải về
pháp vi diệu.” Tất cả đều muốn được nghe, nên cùng đi theo Văn-thù.
Người luận giải Duy-ma-cật
sẽ có xu hướng thăng hoa ngôn ngữ luận đạo của hai vị đại sỹ, mà không
quan tâm đến một khía cạnh “rất người” trong cuộc hội ngộ phi thường
này. Bởi vì nhân cách siêu việt của hai vị, vì trí tuệ vô biên, ngôn ngữ
kỳ diệu của họ, che lấp hình ảnh đời thường, như ánh sáng mặt trời làm
khuất đi hằng tỉ tinh tú.
Nằm trên giường bịnh, Duy-ma-cật tự
hỏi: “Chẳng lẽ Thế tôn đại từ không có lời thăm hỏi?” Không biết ông
bịnh thật, hay bịnh giả. Nhưng bậc đại sỹ thông đạt pháp tướng, biện tài
vô ngại, lại cũng cần những cuộc thăm hỏi, những lời an ủi rất người
thường ấy chăng?
Không nên chỉ một mực đi vào thế
giới của Duy-ma-cật bằng ngôn ngữ và hình tượng siêu nghiệm. Tuy
Duy-ma-cật hàm chứa rất nhiều thứ như vậy. Nếu không,
người học Duy-ma-cật tự huấn luyện mình trở thành người hý luận
suông. Không ai có thể cầm quả địa cầu này trong tay để ném bay qua khỏi
chòm Liệp hộ trên vòm xích đạo kia như Duy-ma-cật được tưởng tượng là đã
có thể làm, thì cũng không ai có thể nói năng như Duy-ma-cật mà không
trở thành người nói càn. Cho nên, chúng ta nên nhìn sự việc Văn-thù thăm
bịnh Duy-ma-cật qua hình ảnh thân thuộc, gần gũi hơn. Như là chuyện
Xá-lợi-phất đi thăm bịnh Cấp Cô Độc.
Vị trưởng giàu sang nhất nước này
tới lúc bịnh trầm trọng, nằm liệt giường, đau nhức tưởng không còn có
thể chịu đựng. Khi ấy, ông nghĩ đến nguồn an ủi. Ông cho người đi thỉnh
Xá-lợi-phất đến thăm bịnh. Vì bịnh ông là bịnh thật của một con người
thật, nên ông cần nguồn an ủi thật, bằng những lời chân thành và cũng
rất thật. Xá-lợi-phất không diễn giải pháp tướng hay pháp tính vi diệu;
mà đơn giản chỉ củng cố niềm tin của Cấp Cô Độc trên đời sống thanh tịnh
của mình. Sau bài pháp, bịnh của Cấp Cô Độc vẫn không nhẹ hơn, nhưng tâm
của ông tràn đầy hỷ lạc. Thân bịnh, nhưng tâm không bịnh.
Cũng trong bối cảnh này, nếu thay
vì Xá-lời-phất và Cấp Cô Độc, ta nhìn thấy Văn-thù và Duy-ma-cật, thì sẽ
thấy ý nghĩa Phật pháp trong quan hệ nhân sinh, nhìn từ cả hai phía,
hiện thực và siêu thực.
Sinh lão bịnh tử, là quy luật.
Nhưng sự chiếu cố và cần được chiếu cố của người bịnh, là mối ràng buộc
giữa người và người trong quan hệ nhân sinh. Bồ tát hành bốn nhiếp sự,
để giữ vững cương thường của quan hệ ấy. Hoăc thăm viếng chào hỏi người
bằng ái ngữ, theo nghi thức thế gian; hoặc thuận theo chánh pháp mà an
ủi, khích lệ bằng ái ngữ.
Khi có người sầu khổ, vì tai nạn xảy cho thân thích, Bồ tát hành ái ngữ,
đến thăm viếng và an ủi, giảng thuyết đạo lý để dập tắt ưu sầu ấy. Cũng
vậy, khi người sầu khổ vì tai nạn cho địa vị và tài sản, Bồ tát cũng đến
an ủi bằng ái ngữ.
Như vậy, sự thăm viếng, an ủi và
khích lệ, để nâng đỡ tinh thần lẫn nhau, theo lề thói xã giao của người
đời, không chỉ là lề thói suông, mà trong sự nghiệp của Bồ tát, nó trở
thành phận sự, một công hạnh tu tập trong bốn nhiếp sự, chứ không đơn
giản vì mọi người đều làm thế nên ta cũng làm theo.
2. Vãng lai
Vãng lai, hoặc khứ lai, cùng ý
nghĩa. Trong các loại ngôn ngữ, tuy cách diễn đạt có khác nhau, nhưng
mối quan hệ nhân sinh luôn luôn hàm ngụ khái niệm vãng lai; lui tới thăm
viếng nhau. Trong các kinh luận, không dùng từ vãng
lai, mà dùng từ khứ lai. Kinh Đại
bát nhã
nói: “Như lai chân như không đến, không đi; Thiện Hiện chân như không
đến, không đi. Cho nên, Thiện Hiện là Tùy sinh của Như lai.” Kinh Hoa
nghiêm (Nhập pháp giới), Thiện Tài hỏi Di-lặc: “Thánh giả từ bao xa
đến?”
Câu hỏi cũng rất thường tình, nhưng trả lời của Di-lặc thì không thường
tình: “Chưa đến, đang đi, đã đi.”
Rồi Ngài giải thích: “Sự đi không loạn đông, không an trú, là sự đi của
các Bồ tát... Sự đi không sinh, không diệt,...không đoạn, không thường,
là sự đi của Bồ tát.”
Duy-ma-cật cũng chào Văn-thù tương
tự: “Chào ngài Văn-thù. Bằng tướng không đến mà đến. Bằng tướng không đi
mà đi.” Văn-thù trả lời: “Thật vậy, đã đến thì không đến. Đã đi thì
không đi.”
Có cái gì rất bất thường trong sự
chào hỏi giao tiếp của các con người siêu việt này. Nhưng trong những
lời lẽ bất thường ấy hàm chứa ý nghĩa rất thường, làm sáng lên tính cách
giao tiếp thâm tình mà ngôn ngữ quán lệ không thể nói.
Khi Phật trờ về Xá-vệ sau một thời
gian dài đi xa, cả bốn chúng đệ tử đều đến để thăm viếng, chiêm ngưõng.
Riêng Tu-bồ-đề vẫn ngồi một mình trong hang đá khâu vá y.
Không ai có thể nói là Tu-bồ-đề vô tình. Phật vẫn thường tán thán
Tu-bồ-đề là vị Thanh văn bậc nhất đắc vô tránh tam-muội, bậc nhất giải
Không.
Thế nhưng, khi Vakkali bịnh nặng,
gần qua đời, Phật tự thân đến thăm bịnh. Phật đi thăm đệ tử, dù có nói
rằng đấng Chí tôn đi thăm một con người hèn mọn, thì đó cũng là sự
thường. Tuy vậy, lời thăm hỏi Phật bấy giờ không là sự thường: “Này
Vakkali, ích gì mà muốn thấy thân thể hôi thối này của Ta. Ai thấy pháp,
người ấy thấy Ta.”
Vậy thì, giữa các bậc đại sỹ, không
thể đem quy ước ngôn ngữ quán lệ mà lượng giá được.
Dù sao, khởi đầu Bồ tát đạo, như
Văn-thù đã giáo giới Thiện Tài, là thân cận thiện tri thức, bằng hữu
tốt. Cho nên, bước đầu tiên trên Thánh đạo, nhập sơ Hoan hỉ địa, bước
đầu hoan hỷ, Bồ tát hành bố thí, đồng thời tầm cầu và thân cận thiện tri
thức.
Đó là nền tảng của công hạnh tu tập. Qua đến bước thứ hai, nhập Ly cấu
địa, tẩy sạch cáu bẩn, trong khi nghiêm trì tịnh giới để thành tựu phẩm
chất đạo đức, Bồ tát vẫn tầm cầu thiện tri thức. Nhưng còn thêm nữa, bấy
giờ Bồ tát cũng trở thành người bạn không cần mời thỉnh của mọi chúng
sinh.
Bồ tát đến với bất cứ chúng sinh nào cần giúp đỡ, cần bảo vệ; không đợi
thỉnh cầu. Vì Bồ tát tu tập bốn nhiếp sự: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng
sự.
Quan hệ nhân sinh, như vậy, trong ý
nghĩa đó, là căn bản khởi đầu của Bồ tát đạo. Nhưng không để cho quan hệ
ấy trở thành hệ lụy, Bồ tát cần trang bị một nền tảng nhận thức tính
Không sâu sắc. Cho nên, khi vừa gặp Văn-thù, vẫn là sự chào hỏi bình
thường, mà ngôn ngữ chào hỏi đã hàm ngụ tính Không: “Đến mà không đến.”
Thật vậy, tự tính của pháp vốn không đến, không đi. Đến đi, chỉ là tùy
thuận duyên khởi. Trung luận của Long Thọ đã dành nguyên một chương luận
về sự đi và không đi.
3. Hỏi thăm bịnh
Duyên khởi tức Không. Bồ tát tiếp
đãi thiện tri thức bằng chân tình của tính Không. Cho nên, để chuẩn bị
đón tiếp Văn-thù, cùng các chúng Thanh văn và Bồ tát, Duy-ma-cật dọn
sạch trống không nhà cửa; không thân thích, không người giúp đỡ. Một
mình trơ trọi giữa Chân Không, nhưng sung mãn cả đại thiên thế giới.
Sau khi chuyển lời thăm hỏi ân cần
của Thế tôn, Văn-thù hỏi Duy-ma-cật những điều như tất cả mọi người thăm
bịnh khác thường hỏi bịnh nhân. Hỏi về nguồn gốc của bịnh, các triệu
chứng, sự điều trị, và người chăm sóc bịnh.
Duy-ma-cật nói về nguồn góc bịnh
của mình: “Vô minh và hữu ái là gốc bịnh của tôi.”
Nói như thế thì, trừ A-la-hán và các Đại Bồ tát đã chứng đắc Niết-bàn,
ái tận giải thoát, còn lại không một ai là không bịnh. Vì cả hai thứ,
hữu ái hay khát vọng tồn tại,
và vô minh tức là động lực do bởi bản năng mù quáng ấy, đều là những
chất liệu cho đời sống hiện tại và tương lai, nhưng khởi thủy của chúng
thì không thể biết được.
Ông nói, “Bịnh của Bồ tát phát xuất
từ tâm đại bi.” Cũng như bịnh của bố mẹ phát xuất từ tình yêu đối với
quý tử.
Thành ra, bịnh nguyên thì giả,
nhưng bịnh chứng thì thật. Thật hay giả còn tùy theo quá trình thăng
tiến của Bồ tát. Trong a-tăng-kỳ kiếp thứ nhất, Bồ tát đang thuộc hạng
phàm phu, với tất cả tham, sân, si còn nguyên vẹn, và cũng chưa có năng
lực thiền định đáng kể, cho nên bịnh nguyên và bịnh chứng đều thật. Bồ
tát bấy giờ cũng thống khổ như bất cứ chúng sinh nào khác.
Trong a-tăng-kỳ kiếp thứ hai, Bồ
tát thực sự bước vào Thánh đạo. Tuy chưa đoạn trừ triệt để tham, sân,
si, chưa chứng đắc ái tận giải thoát. Nhưng tâm đại bi đã phát triển, và
cũng đã có những chứng đắc thiền định đáng kể. Cho nên, bịnh nguyên và
bịnh chứng vừa thật vừa giả.
Từ a-tăng-kỳ kiếp thứ ba, Bồ tát
trên địa thứ tám, Bất động địa trở lên, như các Đại A-la-hán ái tận giải
thoát, chứng đắc câu phần giải thoát
; đã dứt sạch tất cả hữu ái; đã chứng tất cả thiền định siêu việt thế
gian; với tâm đại từ đại bi rộng lớn như hư không. Bấy giờ, Bồ tát đã
hoàn toàn miễn dịch với tất cả mọi thứ bịnh. Bịnh nguyên thì không,
nhưng triệu chứng bịnh là thật, vì chúng sinh khổ thật.
4. Không gian bịnh
Bịnh phát sinh do sự không điều hoà
của bốn đại chủng, nội thân và ngoại giới. Nói cách khác, tác nhân của
bịnh là căn thân này, tức thân làm sở y cho các căn để nhận thức tiếp
thu ngoại giới này, và khí thế gian tức môi trường mà trong đó căn thân
tồn tại.
Thoạt kỳ thủy, Kinh nói, loài người
chỉ có ba chứng bịnh thôi: ước muốn, đói, và già.
Về sau, nhiều chứng bịnh khác phát sinh, gần cả trăm chứng. Ngày nay,
tất nhiên còn nhiều hơn thế nữa. Tác nhân của bịnh, theo chiều hướng
tiến hóa như vậy, phần lớn do từ phía xã hội, trong sự giao tiếp giới
hạn và không giới hạn của con người với môi trường chung quanh.
Sự mất quân bình, không điều hoà
của bốn đại, và những tác nhân xấu từ phía xã hội mà con người không chủ
động, và cũng không có nhận thức chính xác về các tác nhân đó, tất cả
được gọi là Ma và Ngoại đạo. Sống giữa đời thường, Bồ tát luôn tiếp xúc
với nguồn bịnh như vậy, bịnh tật là hiện tượng tất nhiên. Khi ấy, gia
nhân để chăm sóc bịnh cho Bồ tát không ai khác hơn là Ma và Ngoại đạo.
Bốn đại do duyên khởi mà tồn tại,
cho nên tự thể của chúng là rỗng không. Sự sinh và diệt của bốn đại là
những hiện tượng vận hành trong tâm tư phân biệt vọng tưởng của chúng
sinh. Từ đó, không gian bịnh lý của Bồ tát là một gian rỗng không. Các
chứng bịnh của thế gian có thể được ngăn ngừa và giảm thiểu tùy theo
trình độ nhận thức của chúng sinh sống trong đó.
III. ĐIỀU TRỊ
1. Quán sát bịnh trạng
Vô minh và hữu ái là nguồn gốc của
bịnh, của hết thảy mọi thứ bịnh. Bịnh tâm và luôn cả bịnh thân. Sự mất
quân bình của tứ đại là hiện tượng sinh diệt biến thiên bất định của các
hành. Bịnh chứng xuất hiện như là phản ứng tự vệ của căn bản thức để tìm
cách khôi phục trạng thái quân bình.
Căn bản thức là kho tàng tích lũy
tất cả mọi kinh nghiệm, ký ức quá khứ. Chúng tồn tại như những hạt
giống, hay nói chính xác, như là công năng để, nếu đủ điều kiện, sẽ làm
tái hiện những nhận thức và hành vi đã làm trong quá khứ, và cũng trở
thành động lực cho các hành vi và nhận thức mới. Theo định luật vô
thường, chúng không tồn tại như những hạt giống nằm bất động trong kho
chờ ngày mang đi gieo. Chúng tồn tại trong chuỗi vận hành liên tục. Tự
thể, hay bản thân của mỗi công năng hay chủng tử ấy, vừa sinh khởi liền
hủy diệt ngay. “Hết thảy các hành đều vô thường. Chúng khởi lên, liền
chìm xuống.” Công năng trước diệt làm điều kiện xuất hiện cho công năng
sau. Như quả lắc đồng hồ, tự nó dao động, nếu thế lực tác động ban đầu
đủ lớn. Như vậy, chính tự thể của mỗi thực thể công năng, trong chuỗi
sinh diệt liên tục của nó, tạo thành hình ảnh một dòng chảy liên tục. Đó
là dòng tương tục của sinh mệnh, được gọi tên là căn bản thức.
Căn bản thức cần thức ăn, nghĩa là
cần năng lượng, để hoạt động. Trên căn bản đó, tất cả mọi sinh vật đều
cần thức ăn để tồn tại. Kinh nói, “Tất cả chúng sinh do thức ăn mà tồn
tại.”
Con mắt cần tiếp thu sắc như là thức ăn của nó. Nếu không đủ thức ăn,
phần tịnh sắc căn sẽ huỷ diệt dần, và sau đó thức mất sở y nên không
hiện khởi để hoạt động. Mắt trở thành mù. Cho đến ý thức cũng vậy.
Mọi sinh vật đều cần thực ăn vật
chất.
Tuy vậy, cũng có thể trong một thời gian không cần đến loại này. Như
những người nhập định. Nhưng, tất cả chúng sinh luôn luôn đều cần thức
ăn của thức, đó là các phiền não, mà trong đó, thức ăn chính là vô minh
và hữu ái. Thức ăn đó là dưỡng chất để tồn tại. Như mọi thứ thức ăn, vừa
là dưỡng chất, và đồng thời cũng là nguồn bịnh.
Trên cở sở nhận thức đó, Bồ tát làm
y sỹ điều trị mọi chứng bịnh cho chúng sinh. Cả thân bịnh và tâm bịnh.
Tất nhiên, sự điều trị bịnh không chỉ là chẩn mạch và cho thuốc. Tâm lý
bịnh nhân là yếu tố quyết định. Buông lung các căn mà không tự chế, để
chúng tiếp thu thức ăn mà không kiểm soát, như trẻ nhỏ ăn bất cứ thứ gì
nắm được trong lòng tay của nó, như thế thì không có y sỹ tài ba nào có
thể điều trị nổi.
Bồ tát quan sát bịnh trạng như vậy,
để có thể chăm sóc bịnh nhân, làm người điều dưỡng cho thế gian.
Duy-ma-cật nói: bịnh của ông không
hình tướng; không phải thuộc thân, không phải thuộc tâm; không thuộc bốn
đại. Nhận định này có thể hiểu trên cơ sở nhận thức về lý tính duyên
khởi. Bốn đại không tồn tại như là những tự thể thực hữu. Chúng tồn tại
trong quan hệ duyên khởi. Trạng thái quân bình hay không quân bình, điều
hòa hay không điều hòa giữa chúng, là hiện tượng tất yếu của sinh diệt
vô thường. Đó không phài là bịnh hay phi bịnh. Sự xuất hiện của những
trạng thái được nói là bịnh cũng như hoa đốm xuất hiện giữa hư không.
Con mắt có thể nhìn thấy đấy, nhưng tự thể của những hoa đốm ấy là vô
tướng. Điều này rất có ý nghĩa để Bồ tát quan sát bịnh, và cũng biết
cách thích hợp để điều trị bịnh.
2. Khán hộ
Trong giao tế xã hội, sự thăm viếng
bịnh nhân như là phận sự của mọi người. Bịnh nhân rất cần những thăm
viếng thân tình để nâng đỡ tinh thần. Nếu tinh thần bịnh nhân sụp đỗ,
trên đời này không có tiên dược nào có thể chữa lành.
Nói là tinh thần, theo cách nói
thông thường, nhưng thưc sự đó là một tổng thể gồm cả thân, tâm và ngoại
giới. Tức là mối quan hệ, y tựa nhau của thức và danh, sắc. Cả ba y tựa
nhau như ba cọng lau, tựa nhau mà đứng. Rút đi một cọng, hai cọng kia
cũng ngã liền.
Nguyên tắc điều dưỡng của Bồ tát
đối với bịnh nhân, là y trên nhận thức rằng, “Tất cả chúng sinh đều do
thức ăn mà tồn tại.” Bồ tát mang thức ăn đến cho người bịnh. Thức ăn
thích hợp và cần thiết cho sự tồn tại và thăng hoa.
Ở đây không phải là thiên luận về y
học, mà chỉ là sự minh giải về mối quan tâm của Bồ tát đối với chúng
sinh. Trong đó, vô minh và hữu ái được coi là nguồn gốc của mọi thứ bịnh
tật, nên Bồ tát đến với chúng sinh như là y sĩ hay người điều dưỡng đến
với bịnh nhân. Nói rõ hơn, đây đang nói về sự việc Văn-thù thăm bịnh
Duy-ma-cật.
Duy-ma-cật hỏi Văn-thù: Bồ tát nên
an ủi một Bồ tát khác đang bịnh như thế nào. Vì lúc này Văn-thù đang là
người thăm bịnh, nên trả lời của Văn-thù đề cập những việc Bồ tát cần
nói và làm khi chăm sóc người bịnh.
Người bịnh yếu ớt, không thể tự
mình làm cho mình những việc cần thiết, nên cần đến người khác giúp đỡ.
Sự giúp đỡ ấy trước hết là dành cho thân. Nhưng còn có tình trạng yếu
đuối khác của bịnh nhân cũng rất cần hỗ trợ. Đó là sự suy sụp của thân
kéo theo sự suy sụp của tâm. Rồi do ảnh hưởng hỗ tương, sự suy sụp của
tâm khiến cho sự suy sụp của thân càng trở nên tồi tệ.
Người điều dưỡng chăm sóc thân thể
của bịnh nhân thì phải biết người bịnh nên ăn những gì, không nên ăn
những gì; nên làm những gì và không nên làm những gì. Cũng vậy, Bồ tát
đến với chúng sinh như người điều dưỡng biết những gì nên nói và không
nên nói.
Trả lởi của Văn-thù gồm có hai
phần: thứ nhất, những nhận thức mà người bịnh cần có để chiến thắng
bịnh; và thứ hai, những suy nghĩ của người bịnh về liên hệ giữa mình và
mọi người để tăng cường khả năng kham nhẫn.
Những điều này có ý nghĩa rất quan
trọng để hiểu Phật pháp. Duy nhất chỉ có nhận thức thức chân chính về
hiện thực mới cứu rỗi con người, cả thân và tâm. Không có năng lực siêu
nhiên nào khác ngoài nhận thức của con người có thể can thiệp vào định
mệnh của nó. Khi bịnh, chính là lúc con người đối diện với thực tại
mong manh, như cảm nhận lớp băng mỏng dưới chân sắp rã, để chôn vùi nó
vào hố thẳm diệt vong. Nhưng mọi phương pháp chữa trị của thế gian đều
cố tình làm cho con người quên đi hiện thực đó. Có thể bác sỹ chuyền
dung dịch pha màu đỏ khiến bịnh nhân có ảo tưởng mình đang được chuyền
máu để chữa trị. Nhưng thực tế thì bác sỹ đang đếm giật lùi thời gian
sống của con bịnh. Bịnh nhân sống và chết trong ảo tưởng, phó mặc số
mệnh trong tay bác sỹ. Bác sỹ phó mặc định mệnh của con bịnh cho thế lực
vô hình, mù quáng nào đó. Con bịnh này sẽ đi về đâu: thiên đường, địa
ngục, hay trở về với cát bụi vô tình?
Vì vậy, trong phần thứ nhất của
nhiệm vụ khán hộ hay điều dưỡng, Văn-thù nói đến năm điều, mà người bịnh
hay không bịnh đều có thể nhận thức dễ dàng. Nhưng thực chứng những điều
đó, không dễ dàng. Trong thời Phật, rất nhiều tỳ kheo chỉ khi nằm liệt
trên giường bịnh, ý thức thời gian sắp tận cùng, lúc ấy mới sẵn sàng
nhận thức những giá trị đã học từ trước từ kinh điển.
Phật thường đến thăm bịnh các tỳ
kheo như vậy. Một cách đại thể, Ngài hỏi tỳ kheo bịnh có điều gì đáng
hối hận không, về mặt thọ trì giới luật. Rồi Phật giảng: sắc là gì; thế
nào là vô thường, khổ, vô ngã. Những điều này có thể tỳ kheo ấy nghe
rất nhiều lần. Vì được thường xuyên nhắc nhở trong các kinh điển. Nhưng
cho đến lúc này, sau khi nghe lần chót, vị ấy mới thực sự chứng ngộ. Rồi
vị ấy qua đời với tâm tư an lạc, biết rõ và thấy rõ mình đang đi về đâu.
Năm điều giới thiệu của Văn-thù
cũng là nội dung các điều giáo giới của Phật cho các tỳ kheo bịnh.
Văn-thù nói với Duy-ma-cật, Bồ tát thăm bịnh nên hỗ trợ người bịnh tự
mình thấu rõ năm điều:
1. Cảm nhận một cách hiện thực tính
vô thường của thân, nhưng không vì vậy mà ghê tởm và muốn từ bỏ thân để
tìm cách tự huỷ. Nhận thức tồn tại trên cả hai phương diện, tích cực và
tiêu cực.
2. Vô thường, biến dịch là qui luật
tất nhiên của tồn tại. Nhưng khi qui luật ấy tác động trên thân thể vượt
quá khả năng chịu đựng thông thường của người; bịnh phát sinh. Cho nên,
vô thường dẫn đến khổ. Nhận thức như vậy khiến người bịnh chấp nhận bịnh
khổ, đau nhức, như là hiện tượng tất nhiên của quy luật tồn tại.
3. Như vậy, mọi hiện tượng xuất
hiện hay biến mất do tương quan, trong đó không có cái gì là chủ tể. Cho
nên, không có một cái ta chủ tể để ước muốn rằng thân thể ta sẽ như thế
này hay như thế kia; thân thể của ta sẽ như thế này, sẽ như thế kia.
4. Vô ngã, không tồn tại một cái ta
chủ thể, tức không tự thể. Thực tại này trống rỗng, không tự nó tồn tại.
Có cái này, vì có cái kia. Tồn tại của tự thân cũng vậy, là không, là
tịch tĩnh.
5. Không tồn tại tự ngã. Nghĩa là,
có nghiệp đã được tạo tác, và có kết quả của nghiệp đã được tạo tác ấy,
nhưng không có con người tạo tác, không có con người lãnh thọ. Người
bịnh tư duy như vậy khi nghĩ về những gì mình đã làm trong quá khứ.
Nhưng nhận rõ tự tính của tội nghiệp, để chấp nhận nghiệp như là quá
trình vận chuyển tự nhiên. Nhận thức như vậy, với tâm tư an lạc, là yếu
tố để chiến thắng bịnh.
Còn một phương diện khác nữa mà
người nuôi bịnh cần hỗ trợ người bịnh, để có thể kham nhẫn những đau
nhức cực kỳ xảy ra cho thân. Văn-thù nói, Bồ tát cần hỗ trọ người bịnh
bằng năm điều khuyên:
1. Tự thân bịnh khổ, nghĩ đên những
người khác; mong tất cả đều không bịnh khổ.
2. Không chỉ hiện tại mới chịu cái
khổ này. Trong vô lượng quá khứ cũng đã từng phải chịu như vậy.
3. Nghĩ về những điều thiện mà mình
đã làm cho người khác. Nhiều hay ít, điều này tất nhiên có.
4. Không sinh buồn phiền, không sợ
hãi mà luôn khởi tâm tinh tấn dũng mãnh.
5. Phát đại nguyện muốn thành y
vương để chữa trị bịnh khổ cho mọi người.
Lúc bấy giờ người bịnh đang được
người khác chăm sóc, nên cảm nhận được tình yêu ấy. Từ tình yêu mà người
khác dành cho mình, người bịnh làm trổi dậy trong tâm tư tình yêu của
mình với những người khác, cho đến những người cùng chịu thống khổ. Đồng
bịnh tương liên, đó là cách ngôn của thế tục.
Nói tóm lại, bằng đại trí và đại bi
của mình, Bồ tát khiến cho người bịnh cũng phát khởi bi và và trí. Y sỹ
cần có nhận thức chính xác về căn bịnh, mà cũng cần có tình yêu chân
thật đối với con bịnh.
Nhận thức chân chính về thế giới
hiện thực mà ta đang tồn tại, đồng thời làm trổi dậy tình yêu thương đối
với mọi người, đó là phương thuốc mà người bịnh tự mình bào chế, với sự
hỗ trợ của Bồ tát, để khống chế hai nguồn bịnh là vô minh và hữu ái.
3. Tự điều phục
Hỗ trợ của thầy thuốc, và sự chăm
sóc của người khán hộ, là cần thiết cho bịnh nhân trong quá trình điều
trị. Nhưng đấy chỉ là sự hỗ trợ bên ngoài. Yếu tố quyết định trong quá
trình điều trị vẫn thuộc về bịnh nhân. Nếu không, bịnh vẫn có nguy cơ
tái phát và có thể nguy kịch hơn nữa. Cho nên, Văn-thù hỏi Duy-ma-cật,
bấy giờ đang trong vị thế người bịnh: “Bồ tát đang bịnh nên tự chế tâm
như thế nào?”
Không bịnh, vô thượng an ổn,
Niết-bàn, đó là cứu cánh mà Thanh văn hay Bồ tát đều nhắm đạt đến.
Nhưng Thanh văn ước nguyện thành tựu mục đích này trong hiện tại. Trong
khi Bồ tát có thể nhiều đến vô lượng kiếp nữa mới đạt cứu cánh này. Do
vậy, phương pháp tự điều phục không giống nhau.
Sự tự chế ngự tâm để chiến thắng
bịnh tật của Bồ tát không phải chỉ là biện pháp trấn áp bịnh trong đời
hiện tại, mà đó là quá trinh tu dưỡng lâu dài. Quá trình đó vượt qua các
địa vị phàm phu, Thanh văn, cho đến Bồ tát. Trước hết, y trên thân, vốn
tụ hợp của năm thủ uẩn, được hợp thành với bốn đại. Thân ấy là sở y của
bịnh. Diệt trừ phiền não chấp thủ đối với năm thủ uẩn, đạt Niết-bàn vô
sở y, thân này là tối hậu, không còn tái sinh đời sau. A-la-hán ở đó
nhập Niết-bàn, vĩnh viễn chiến thắng bịnh. Trên địa thứ bảy trong hàng
Thập địa, Bồ tát cũng chứng Niết-bàn như A-la-hán. Nhưng vì tâm nguyện
đại bi, Bồ tát không nhập Niết-bàn khi thấy còn chúng sinh cần hóa độ.
Do đó, bằng nguyện ba-la-mật, Bồ tát sẽ tái sinh nhiều đời nữa. Như vậy,
còn bịnh tật cần phải đối trị nữa. Chỉ khi nào ngồi trên Bồ-đề đạo
tràng, chiến thắng Ma quân, bấy giờ mới có thể nói vĩnh viễn chiến thắng
bịnh.
Do ý nghĩa đó, trình bày của
Duy-ma-cật về sự tự điều phục tâm của Bồ tát thọ bịnh được chia làm ba
phần.
1. Đoạn thứ nhất, chế ngự tâm
phàm phu. Y trên thân mà quán sát theo
chuỗi liên tục, cho đến khi phát sinh nhận thức thân không, bịnh không,
chứng đạt chính trí của Thanh văn. Người bịnh biết rằng bịnh phát sinh
là do sự không điều hòa, mất quân bình của bốn đại. Trên cơ sở đó, người
bịnh quán sát thực tính của bốn đại. Bốn đại tụ tập chỉ là sự giả hợp.
Chúng sinh diệt liên tục không gián đoạn. Điều hòa hay không điều hoà
chỉ là hiện tượng tự nhiên trong dòng sinh diệt của các pháp. Từ nhận
thức về dòng sinh diệt của pháp, người bịnh tiến tới quán sát ý nghĩa
tồn tại của tự ngã. Ý niệm về sự tồn tại của cái tôi và những cái của
tôi là nguồn gốc cho vọng tưởng. Để diệt trừ, Bồ tát quán sát, cái gì là
trong, cái gì là ngoài, để hình thành ý niệm ta và của ta?
Cho tới lúc, không có gì là trong thân hay ngoài thân, cho nên tự ngã và
Niết-bàn đồng đẳng. Do đó, tự tính của bịnh là không. Tất cả bình đẳng
như hư không, không tự tính, do đó thực chất không có ngoại giới để thức
vin vào mà hiện khởi vọng tưởng; cũng không tồn tại nội giới để thức y
tựa mà hiện khởi. Không sở y, không sở duyên, nên không sở đắc. Đó là
chính trí của Thanh văn mà Bồ tát trong giai đoạn sơ nghiệp cần thành
tựu để chiến thắng bịnh. Duy-ma-cật kết luận đoạn trình bày này: “Vì để
cắt đứt cái khổ già, bịnh, chết, là Bồ-đề của Bồ tát... Cũng như thắng
được kẻ địch mới gọi là dũng; cũng vậy, dứt trừ cùng lúc già, bịnh,
chết, ấy mới là Bồ tát.”
2. Đoạn thứ hai, siêu việt
Nhị thừa. Bằng chính trí mà Thanh văn
nhận thấy bản chất chân thật của các pháp, do đó diệt tận mọi nguồn gốc
của đau khổ; tất nhiên luôn cả nguồn gốc bịnh. Nhưng, như Duy-ma-cật đã
nói với Văn-thù trên kia, vì chúng sinh bịnh nên Bồ tát bịnh. Do đó, đã
diệt trừ được gốc khổ, Thanh văn có thể an ổn nhập Niết-bàn. Nhưng Bồ
tát cần khởi tâm đại bi, khi còn có chúng sinh bịnh cần chăm sóc, cần
chửa trị.
Tâm đại bi khởi lên từ chỗ rung
động chân thật trước thống khổ của người khác. Đại bi như vậy do ái và
kiến mà phát khởi. Đây là nói từ Sơ nghiệp Bồ tát, khi mới bắt đầu tu
tập Thánh đạo, nhận thức được nổi khổ của người do suy diễn từ nổi khổ
của mình. Đó chưa phải là chứng nghiệm sự khổ toàn diện.
Thật vậy, Thanh văn khi chứng đắc
chính trí là đã đoạn tận ái và kiến do đã thấy Thánh đế. Sự thấy này một
phần là chứng nghiệm bản thân; phần khác là loại suy. Nhận thức Thánh đế
bằng kinh nghiệm hiện thực, y trên tự thân mà chứng nghiệm, đó là do
pháp trí về Thánh đế. Các Thánh đế trong các giới địa khác, như Sắc và
Vô sắc giới, là điều mà tự thân của Thanh văn vốn được cấu tạo bởi vật
chất thuộc Dục giới, nên không thể thực chứng. Nhận thức Thánh đế trong
các giới địa ấy phải do loại suy, tức bằng loại trí Thánh đế.
Giống như người bịnh cảm thấy thương tưởng đến người khác, do vì đồng
bịnh. Nếu dị loại, không thể thông cảm được. Đó là tình yêu có điều
kiện. Là tâm đại bi còn bị giới hạn trong giới địa hạn hẹp, chưa phải là
tâm đại bi rộng lớn và bình đẳng. Do ý nghĩa này mà nói tâm đại bi khởi
lên bởi ái kiến.
Ái kiến là hệ phược. Thanh văn
chứng đắc Niết-bàn không còn hệ phược gì nữa. Đó là nhìn trong giới hạn
cá thể. Nếu nhận thức trong toàn thể chúng sinh, trong mối quan hệ duyên
khởi không cùng tận, thì sự chứng nhập Niết-bàn của Thanh văn không phải
không có quan hệ gì đến các chúng sinh khác. Như y sỹ ở giữa các bịnh
nhân. Ông vô nhiễm đối với bịnh, nên thong dong, không bị các thứ bịnh
tật ràng buộc như bịnh nhân. Trong ý nghĩa cá nhân, y sỹ ấy đã giải
thoát tự tại. Nhưng việc ông bỏ đi, hay ở đó với bịnh nhân, không phải
không có liên hệ gì. Như vậy, tuy bản thân là tự tại không ràng buộc,
nhưng trong quan hệ cộng đồng, y sỹ vẫn bị ràng buộc với bịnh nhân.
Thanh văn hay Đại Bồ tát đã chứng đắc Niết-bàn có thể nhập Niết-bàn tùy
ý. Nhưng Bồ tát nhận thức thấy rằng trong pháp giới trùng trùng duyên
khởi, ông vẫn còn ràng buộc với thế gian này. Nói theo nghĩa nào, nhìn
từ góc cạnh nào, đó vẫn là hệ phược. Để giải thoát mình ra khỏi hệ phược
này, nhưng vẫn không bỏ rơi những chúng sinh cần được chiếu cố, Bồ tát
vận dụng sự tương thành và tương tác của diệu huệ và phương tiện.
Bằng diệu huệ, Bồ tát nhận thức bản
chất hư ảo của chúng sinh, của thế giới, bịnh hay không bịnh. Nhưng bằng
phương tiện, không phải vì thấy vậy mà cho rằng thế gian này tồn tại vô
nghĩa, nên bỏ đi không chút đoái hoài. Bằng diệu huệ Bồ tát tập thiền mà
không còn tham đắm vị ngọt của Thiền, nên không còn có chỗ nào trong ba
cõi này để tái sinh. Nhưng bằng phương tiện, do tâm đại bi rung động với
chúng sinh đang chìm ngập trong ba cõi ấy, Bồ tát trở lại. Huệ và phương
tiện, nếu nhận thức cá biệt, từ góc nhìn riêng biệt, là hai thực tế mâu
thuẫn nhau. Giống như y sỹ chán ghét cái thế giới bịnh hoạn, kinh tởm
với đám con bịnh nhiều thói hư tật xấu đáng ghét, muốn bỏ đi; nhưng vì
phận sự ông phải ở lại. Đi và ở, thành mối xung đột nội tâm. Chỉ khi nào
trong ông có tình yêu thật sự với đám con bịnh, nghĩa là đám con bịnh ấy
chính là thân thích ruột thích, hay ông có thể xem họ như vậy, thì ông
có thể ở lại với tâm trạng thóai mái, không hệ luỵ. Cũng thế, khi diệu
huệ và phương tiện hợp thành nhất thể trong tự tâm của Bồ tát, khi ấy Bồ
tát tái sinh trong thế gian mà không do vì hệ phược nào cả.
Để diễn giải rõ nhất thể của bi và
trí này, Duy-ma-cật vận dụng cặp từ phương tiện huệ, và huệ phương tiện.
Phương tiện huệ, là diệu huệ được tác thành bởi phương tiện. Huệ phương
tiện, là phương tiện được vận dụng trong tương tác với diệu huệ.
3. Song vận điều phục.
Đây là giai đoạn từ địa thứ tám
trở lên của các Bồ tát trong hàng thập địa, hay của Thanh văn sau khi đã
chuyển hướng tâm nguyện đến các chúng sinh, tuy vẫn an trụ trong
Niết-bàn mà không rời sinh tử. Bấy giờ Bồ tát chế ngự tâm mình bằng trú
xứ vô trụ: không trụ Niết-bàn, không trụ sinh tử. Không trụ sinh tử, vì
đã giải thoát khỏi mọi hệ phược của khách trần phiền não. Không phiền
não, nên không còn tạo nghiệp. Không còn tạo nghiệp, nên không thế lực
gì lôi kéo để tái sinh trong dòng xoáy sinh tử. Thanh văn và Bồ tát ở
đây thực sự đã chứng nhập Niết-bàn. Nhưng vì các ngài không an trú trong
Niết-bàn nên vẫn hiện thân trong ba cõi. Không bằng thế lực lôi kéo của
nghiệp, mà lưu chuyển theo tâm nguyện đại bi.
Hiện thân trong ba cõi, các ngài
không khác với mọi chúng sinh khác. Hoặc ở Dục giới hành các nghiệp
phước thiện. Hoăc tu tập các thiền để thị hiện trong các cõi Sắc và Vô
sắc. Hoặc tu các Bồ-đề phần, các phẩm trợ đạo, để hướng dẫn các chúng
sinh lần lượt chứng nhập Thánh đạo. Hoăc thị hiện Thanh văn, hoặc thị
hiện Độc giác, hoặc thị hiện Bồ tát. Đó là sở hành vô trụ của Bồ tát. Bồ
tát quán sát như vậy để vĩnh viễn chiến thắng bịnh.
|