|
HUYỀN
LUẬN DUY-MA-CẬT
Tuệ Sỹ [MỤC LỤC]
CHƯƠNG VII:
QUÁN CHÚNG SINH
I. NHÂN SINH QUAN
1. Ảo Ảnh thời gian
Chừng như vì không thể thấy biết
biên tế của thế gian này, nên cũng không thể biêt được đâu là giới hạn
của đau khổ hay hạnh phúc của các chủng loại tồn tại trong đó. Hoặc cũng
có thể nói, nếu không cất được tầm nhìn cao hơn, xa hơn qua hai vai của
người đối diện kia, thì không cũng thể hiểu được trong tâm tư người ấy
đang chứa đựng bao nhiêu buồn vui, mừng giận.
Duy-ma-cật thưa với ngài
Xá-lợi-phất: “Bồ tát này mang tất cả mặt trời, mặt trăng, vô vàn tinh tú
trong tất cả mười phương thế giới, đặt vào lỗ chân lông của một người
ấy.” Ly kỳ và huyễn hoặc. Nhưng trong kho tình thi của nhân loại này còn
rất nhiều hình ảnh ly kỳ huyễn hoặc không kém. Cho nên, để hiểu thấu tâm
tình ẩn khuất của người đứng đó, nhà thơ bèn đem tất cả đại dương thu
vào trong một con mắt. Nước đại dương không ít đi. Con mắt cũng không
lớn thêm. Nhưng cái tình và cái lý này thuần tuý là huyễn hoặc, và tính
cách dụ hoặc. Đối tượng được thấy đó, thoạt tiên người ta thấy nó mênh
mông, thuần khiết. Rồi một thời gian, mọi thứ héo quắt lại, và tan biến
theo ảo ảnh. Thiên thần và thiên nữ bấy giờ đứng khóc cho quá khứ thiên
đường đã mất. Những cánh hoa vọng tưởng ấy, khi nở bừng thì thơm ngát
mùi hưong ái dục; khi tàn úa thì hôi thối bốc mùi. Thế nhưng, có một
thiên nữ mà mỗi khi xuất hiện, ngôn ngữ của các Thánh nhân bỗng biến
thành hoa trời vô nhiễm. Vậy, Bồ tát nhìn đời như thế nào để thấy thực
chất và ý nghĩa của những khoảnh khắc phù du? Để chợt thấy hình tượng
Xá-lợi-phất trong phong vận phiêu bồng của thiên nữ; và để nhìn thấy
dung nghi thiên nữ tán hoa sáng chói trong uy nghi khắc khổ siêu phàm
của bậc Đại thánh Thanh văn?
Duy-ma-cật đã dẫn ông Bồ tát sơ
nghiệp, từ giường bịnh, du hành qua khắp mọi ngõ ngách trong mọi tầng
bậc của sự sống. Từ am cốc tịch liêu của các Thanh văn; từ phố phường
nhộn nhịp của Trì Thế, và Thiện Đức; cho đến các điện đài của thiên cung
Đâu-suất; rồi ông chỉ thấy vô biên thế giới trên đầu một sợi tóc. Qua
sợi tóc ấy, và thế giới bao la trong ấy, ông chỉ cho Bồ tát học sơ
nghiệp cách nhìn đời.
Văn-thù hỏi Duy-ma-cật: “Bồ tát nên
quán sát chúng sinh như thế nào?”
Duy-ma-cật trả lời, tóm tắt trong
hai điều: giả dối và bất thực. Đó là hiện thực kinh nghiệm của một ông
trưởng giả lịch lãm; và cũng là chân lý được chứng nghiệm bởi vị Bồ tát
đã thâm nhập pháp tướng, nhìn suốt bản chất của tồn tại.
Thế nhưng, trong cái kho từ vựng
của Duy-ma-cật, mọi ý nghĩa được nói đến khi thực, khi giả; khi có khi
không. Vậy thì, để có thể quán sát một cách như thật, phải chọn một vị
trí đứng thích hợp. Đứng để nhìn từ đâu?
Truyện kể rằng, thủa xưa, có một
Tiên nhân, biệt danh là “Ngựa Đỏ”,
sau khi tu luyện được các phép thần thông, ông khởi lên ý nghĩ: “Nếu ta
có thể nhìn thấy tận cùng biên tế của thế gian này, thì cũng có thể nhìn
thấy tận cùng biên tế của sự khổ.” Và ông đã mở cuộc hành trình đi tìm
cái vô hạn. Một bước của ông, đi từ bờ bên này biển Đông đến bờ bên kia
của biển Tây; với khoảng thời gian nhanh gấp bội tốc độ của một cung
thủ siêu hạng bắn mũi tên xuyên qua cái bóng của một chiếc lá đa-la. Ông
đi suốt, trừ khi ăn, khi ngủ, khi đại tiểu tiện. Ông đi suôt cả tuổi thọ
của mình, lâu không biêt nhiêu: trăm năm hay chục nghìn năm. Nhưng hết
cả tuổi thọ, vần không nhìn thấy thấp thoáng đâu là biên tế cùng cực của
thế giới.
Đó là câu chuỵên quá khứ của một
thiên thần, mà ông tự kể lại cho Phật nghe. Rồi ông tự kết luận: “Không
thể bằng đôi chân mà đi đến tận cùng biên tế của sự khổ.”
Phật đồng ý, và nói: “Ta cũng không
nói rằng, không đi đến tận cùng biên tế của thế giới này mà lại có thể
đi đến tận cùng biên tế của sự khổ.” Rồi Ngài nói thêm: “Nhưng, chính
ngay nơi cái thân có tưởng, có ý này, chỉ cao chừng một tầm này, Ta có
thể chỉ cho thấy thế giới, thấy sự sinh khởi và diệt tận, cùng con đương
dẫn đến sự diệt tận của thế giới.”
Ý nghĩa này không chỉ rằng “Con
người là thước đo van vật.” Cũng không chỉ rằng “Thiên địa cùng sinh với
ta. Vạn vật với ta nhất thể.”
2. Thực tại xung đột
Thực tại thường xuất hiện trước mắt
người quan sát như là hai thế giới dị biệt từ hai vị trí quán chiếu khác
nhau: tương đãi và tuyệt đãi. Trong vị trí tương đãi, mỗi sự hữu tồn tại
trong quan hệ tất yếu với những cái khác, luôn hàm chứa nhận thức mâu
thuẫn về chính nó và những gì không phải nó. Con mắt không thể nhận thức
những gì không phải là sắc. Năm thức chỉ có thể phát huy tác dụng của
chúng một cách chính xác trong không gian hình học và thời gian tuyến
tính. Khi Duy-ma-cật thị hiện thần thông, khung hình nhận thức của các
thức bị bùng vỡ. Người ta có thể nhìn thấy trọn cả hòn núi Tu-di trong
một tấm gương mà đường kính chưa đầy 2 tấc. Đấy chỉ là ảnh chiếu. Ảo ảnh
có thể đẹp hơn tồn tại hiện thực; nhưng nó không thể là chỗ nương tựa an
toàn cho ta khi thế giới đang có nguy cơ sụp đổ. Trong khi đó, như kinh
nói, những ai chứng kiến một trong những thị hiện thần biến của
Duy-ma-cật, căn cơ tồn tại của người ấy hoàn toàn biến đổi. Căn cơ biến
đổi cho nên tầm nhìn, nhãn quang, cũng biến đổi. Bấy giờ, thực tại xuất
hiện từ một vị trí quán chiếu khác: quán chiếu tuyệt đãi, hay tuyệt đối.
Mỗi tầm nhìn vẫn mang trong nó hình
ảnh chân thực của tồn tại; và như vậy, chân lý xuất hiện trên nhiều cấp
độ khác nhau, chân lý quy ước và chân lý tối hậu. Mỗi cộng đồng nhân
loại tồn tại và sinh hoạt trong giới hạn địa lý và lịch sử cá biệt, tạo
thành những giá trị cá biệt được phổ quát hóa và tuyệt đối hóa thành
chân lý của sự sống. Để bảo vệ các giá trị cá biệt ấy, bảo vệ chân lý
được ý thức như là phổ quát và tuyệt đối ấy, cộng đồng này thường xung
đột với cộng đồng khác mà không chia xẻ các giá trị được nhận thức là
phổ quát. Vậy thì, làm sao 32 nghìn toà sư tử từ thế giới Tu-di tướng
khổng lồ kia lại có thể được chấp nhận trong thế giới Ta-bà nhỏ bé này?
Và các chúng sinh từ thế giới Diệu hỷ, nơi mà ngôn ngữ là hương, lại có
thể đến đây để nghe pháp, nơi mà ngôn ngữ là âm thanh? Nhân loại đã
chứng kiến những cuộc chiến tranh tàn khốc giữa các bộ lạc, cũng như
giữa các quốc gia, vì xung đột giá trị; vậy thì, có hay chăng chíến
tranh giữa các thế giới hệ, nếu tồn tại những thế giới như vậy, vì mâu
thuẫn bẩn chất tồn tại? Giả thiết như vậy có vẻ là câu chuyện đùa, nhưng
trong một ý nghĩa nó cố ý mô tả trạng thái xung đột nội tâm thường xuyên
trong mỗi cá nhân, khi cá nhân ấy phản chiếu và tư duy về bản chất tồn
tại và mối quan hệ giữa ta và thế giới. Xung đột ấy đã được Đại Ca-diếp
mô tả trên đây như là tiếng kêu trầm thống làm rung chuyển ca ba nghìn
đại thiên thế giới.
Vì vậy, sau khi nghe Duy-ma-cật
thuyết minh cho các Đại Thanh văn về các nghịch hành của
Bồ tát đạo, mà theo một ý nghĩa
những nghịch hành ấy chứa đựng đầy yếu tố mâu thuẫn cấm kỵ, Bồ tát
Văn-thù liên hỏi: “Bồ tát nên quán sát chúng sinh
như thế nào?”
3. Thực tại quán chiếu
Mỗi khi đề cập đến thực tại tuyệt
đãi, hay chân lý tuyệt đối, ngôn ngữ, lý luận, và tư duy của Duy-ma-cật
chứa đầy yếu tố phản danh, nghịch lý, siêu nghiệm và siêu lý; nhưng khi
được hỏi về sinh hoat thường nhật, hỏi về ý nghĩa hành đạo của Bồ tát
ngay giữa đời thường, giữa những tập quần cạnh tranh để sinh tồn, giữa
các chúng sinh bị khát bức đang tranh nhau liếm một giọt mật tưởng tượng
trên đầu lưỡi gươm bén; ngôn ngữ Duy-ma-cật bỗng tuân theo tiêu chuẩn
hợp lý không vượt ngoài kinh nghiệm giác quan và tầm với bắt của ý thức
phàm phu. Trong ý nghĩa này, quán chiếu của Bồ tát về nhân sinh và thế
giới không khác với nhận thức của hàng Thanh văn.
Duy-ma-cật nói, “Như nhà ảo thuật
quán sát ảo vật mình tạo ra; Bồ tát nên quán sát chúng sinh cũng như
vậy. Cũng như bậc trí giả nhìn trăng nơi đáy nước; nhìn bóng mình trong
gương; nhìn ánh lửa khi nhiệt bốc; như tiếng vọng của lời gọi; như mây
nổi trong bầu trời; như đám bọt nước; như bong bóng trên mặt nước; như
lõi chuối rỗng; như ánh chớp lóe kéo dài...” Nội dung đoạn kinh này
không khác với nhiều đoạn kinh mà Phật dạy cho các Thanh văn quán chiếu.
Chẳng hạn, trong Tương ưng, Phật dạy: “Quán sắc như đống bọt, thọ như
bong bóng nước, tưởng như quáng nắng, hành như cây chuối, thức như huyễn
sự…”
Ở đây, cũng như khi giảng pháp trên
giường bịnh cho các tại gia, Duy-ma-cật vẫn hướng dẫn bắt đầu lấy chính
bản thân của mình làm đối tưọng quán chiếu. Sự tu tập luôn luôn là kinh
nghiệm tự thân ngay trên tự thân, thấy và biết rõ ở đó cái gì thật, cái
gì hư dối, cái gì bền vững, cái gì mong manh. Kinh nghiệm tu tập không
phải là những ảo giác về thực tại không cơ sở, buông thả tự do cho trí
tưởng tượng.
Cũng như Thánh đệ tử bằng pháp trí
mà nhận thức bản chất vô thường, vô ngã của tự thân trong cõi Dục này,
rồi từ loại trí mà nhận thức bản chất vô thường, vô ngã trong các cõi
khác cao hơn; cũng vậy, Bồ tát quán chiếu thực tại để đạt được kinh
nghiệm tự lợi, và rồi từ đó mở rộng quán chiếu để được lợi tha. Cho nên,
trong sự phân tích của các nhà học quán hạnh Đại thừa, giải thuyết của
Duy-ma-cật y trên thực tại thường nghiệm nhưng sự quán chiếu bao gồm cả
hai mặt; trên thực tại của tự thân, quán chiếu vô ngã; trên thực tại
hiện hữu thì quán chiếu tính Không. Đó là quán chiếu để chứng ngộ nhân
không và pháp không.
Huệ Viễn phối hợp với đoạn sau, Bồ
tát tu bốn vô lưọng tâm mà chính yếu là từ vô lượng, phân đoạn quán
chiếu như huyễn này thành sinh không quán (tự tính của chúng sinh là
không) tương ưng với pháp duyên từ, và pháp không quán (tất cả tồn tại
đều không) tương ứng với vô duyên từ.
Chúng sinh duyên từ, pháp duyên từ và vô duyên từ, đó là ba cấp sai biệt
của từ tâm. Vì toàn phẩm lấy chúng sinh làm đối tượng; Bồ tát quán chúng
sinh vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh, cho nên tâm từ lấy chúng sinh
là đối tượng, từ chúng sinh mà hiện khởi, y trên chúng sinh mà diệu
dụng. Đó là chúng sinh duyên từ, tức từ tâm lấy chúng sinh là đối tượng.
Quán chiếu pháp, thấy rõ bản chất hư huyễn, bất thực của chúng; nhân đó
Bồ tát khởi tâm từ. Cứu cánh là từ tâm tuyệt đối, khởi lên không do bởi
điều kiện. Huệ Viễn nói, vô duyên từ trong đoạn pháp thoại của
Duy-ma-cật này lấy Như lai làm đối tượng. Như Kinh Niết-bàn nói, hành từ
tâm đại phần lấy chúng sinh nghèo khốn làm đối tượng. Đại sư Như Lai
vĩnh viễn thoát ly sự bần cũng khổ não mà thọ vô lượng an lạc. Bồ tát
muốn cho chúng sinh cũng cảm thọ được sự an lạc như Phật.
Theo lý giải của các nhà Thiên
thai, khởi sự từ phẩm thứ hai “Phương tiện” cho đến đây, Duy-ma-cật đã
khéo léo hướng dẫn tu quán, thành tựu giai đoạn thứ nhất của tam quán:
tùng giả nhập không quán. Phẩm thứ bảy “Phật đạo” , giai đoạn thứ hai:
tùng không nhập giả quán. Phẩm tiếp theo, “Nhập bất nhị”, giai đoan thứ
ba: trung đạo chính quán.
Trước hết, y trên thực tại thường nghiệm, quán chiếu bản chất như huyễn,
hư giả của chúng mà chứng nhập nghĩa Không. Đây gọi là nhị đế quán, tức
y trên chân lý quy ước và tương đối của thế gian, tục đế, theo đó tất cả
đều tồn tại hiện thực, và trên chân lý tuyệt đối, tức chân đế, theo đó,
hết thảy đều Không, không thực thể. Nhưng Bồ tát
không vĩnh viễn an trụ trong Không. Mặc dù trong quán chiếu của Bồ tát,
tất cả đều hư giả, thế giới vốn hư giả mà chúng sinh cũng hư giả, nhưng
vì các chúng sinh chưa tỏ ngộ điều đó nên phải chịu chìm đắm trong khổ
lụy, nên Bồ tát tiến lên quán chiếu từ Không mà nhập giả. Đó là bình
đẳng quán. Cuối cùng là quán chiếu đồng thời cả Không và Giả, gọi là
Trung đạo đệ nhất nghĩa đế.
Khuy Cơ ước theo nhị đế mà phân
tích.
Khởi điểm, y theo tục đế, quán chiếu hữu tình là giả hữu. Đây là một câu
trả lời của Duy-ma-cật: “Như nhà ảo thuật quán
sát ảo vật mình tạo ra; Bồ tát nên quán sát chúng sinh cũng như vậy.”
Giai đoạn hai, y theo chân đế, quán sát hữu tình bản tính vốn Không. Đây
là đoạn trả lời bao gồm 43 phạm trù hư giả, bất thực của thực
tại, căn cứ theo bản dịch của Huyền Trang.
Tuy có những lý giải khác nhau của
các tông phái vì có sự khác biệt trong đường lối hành trì, điểm chính
trong đoạn kinh văn này là, Bồ tát y trên thành tựu quán chiếu thực tại
mà tu tập phát triển từ tâm. Nói cách khác, từ tâm của Bồ tát có cơ sở
trên nhận thức về bản chất của tồn tại và tự thể của chúnh sinh. Không
thể phát khởi bi tâm mà không có thực chứng của thực huệ.
III. PHÁT TRIỂN TÂM TỪ
1. Tử thế giới quan đến nhân sinh quan
Trên đây, mặc dù câu hỏi của
Văn-thù là sự quán sát chúng sinh, Bồ tát nhận thức về chúng sinh như
thế nào; trong giải thuyết của Duy-ma-cật, chúng sinh được nhận thức như
một cá thể của thế giới, một pháp trong tất cả pháp, bị chi phối bởi các
quy luật tồn tại như tất cả mọi sự hữu. Đó là cái nhìn khắc kỹ lạnh
lùng. Nếu thế giới và chúng sinh là giấc mộng, và những hoạt cảnh của
giấc mộng trong đó mọi vui buồn, đều chỉ là giả dối; vậy thì, người đã
nhận thức ra giấc mộng, tỉnh mộng, không còn bận tâm gì đến nó. Cho nên,
Văn-thù mới đặt câu hỏi: Nếu quán sát như thế, Bồ tát làm thế nào để
phát triển tâm từ?
Cũng ý nghĩa tương tự, trong kinh
Bat nhã, sau khi nghe Xá-lợi Tử thuyết minh về sự tu tập ba-la-mật của
Bồ tát bằng tịnh giới mà chuyển hướng tâm đến cứu cánh thành tựu trí
Nhất thiết trí, Mãn Từ Tử liền hỏi, “Nếu hết thảy phấp đều như huyễn,
hoàn toàn không thực chất tồn tại, Bồ tát làm thế nào để chuyển hướng
đến cứu cánh trí Nhất thiết trí?” Xá-lợi Tử đáp, “Nếu hết thảy các pháp
có một phần thực hữu mà không phải là huyễn sự, thế thì Bồ tát tuyệt đối
không thể chuyển hướng đến trí Nhất thiết trí… Do bởi tác nghiệp của
phương tiện thiện xảo, sinh ra từ đại bi tâm của Bồ tát đối với hết thảy
chúng sinh. Do phương tiện thiện xảo mà Bồ tát biết hết thảy các pháp
đều là Không; và cũng do phương tiện thiện xảo đó mà Bồ tát không cố ý
an trụ trong chân lý của tuyệt đối tịch tĩnh”
Quán chiếu Bồ tát cũng như quán
chiếu của Thanh văn, đó là thực huệ. Diệu dụng của thực huệ là phương
tiện, mà tự thể của phương tiện là tâm đại bi. Như một người có trí,
nhận thức được nguy cơ tàn phá của dòng thác lũ, không thể không khuyến
cáo những ai đang sống dưới dòng chảy của con thác. Bồ tát cũng vậy, ánh
sáng từ con mắt trí tuệ của Bồ tát khi quán chiếu thực tại như huyễn,
thì cũng đồng thời cảm nghiệm được nỗi khổ của chúng sinh bị nhận chìm
trong dòng thác như huyễn đó, cho nên tự nguyện trở thành là người bạn
của hết thảy. Kinh Phật mẫu Bát nhã nói, “Bồ tát do tu tập Bát nhã
ba-la-mật mà thành tựu chính trí. Bằng trí tuệ ấy, Bồ tát nhận thức
chúng sinh đang bị gông cùm đày đọa trong lao ngục, bèn phát khởi tâm
nguyện cứu trợ. Bấy giờ, Bồ tất được hỗ trợ bởi tâm đại bi, và bằng
thiên nhãn thanh tịnh mà quán sát cùng khắp vô lượng vô số vô biên chúng
sinh, thấy có chúng sinh tạo nghiêp vô gián sẽ phải thọ báo kịch khổ,
hoăc thấy rơi vào lưới tà kiến không sao thoát được; thấy như vậy tức
thì khởi tâm đại bi, nguyện rằng, ta sẽ làm chỗ nương tựa cho chúng
sinh, diệt trừ mọi thống khổ cho chúng sinh. Bằng tư duy như vậy, mà
không trụ trong tướng đó, cũng không trụ trong tướng khác. Đó gọi là ánh
sáng trí tuệ của Đại Bồ tát.”
Bồ tát như vậy được ví như một
người tài ba, mưu trí và dũng cảm, cùng với thân quyến và bằng hữu đang
lữ hành băng qua hoang mạc đầy nguy hiểm. Tất nhiên, tự mình, ông có thể
vượt qua hoang mạc ấy một cách an toàn; nhưng ông cũng không thể bỏ mặc
mọi người. Bằng tất cả tấm lòng yêu thương chân thật, ông không sợ nguy
hiểm cho bản thân trong khi bằng mưu trí khéo léo ngăn ngừa mọi tai họa
có thể ập đên bất ngờ cho những người thân yêu của mình, bao che va an
ủi họ trong những cơn kinh sợ hãi hùng. “Các Bồ tát cũng vậy, thương xót
các sinh loại hữu tình chìm ngập trong thống khổ sinh tử nên nhất tâm
chuyên niệm từ bi hỷ xả, được nâng đỡ bởi thiện căn thù thắng do tu tập
Bát-nhã ba-la-mật-đa, được hỗ trợ bởi phương tiện thiện xảo của chư
Phật, tích lũy các công đức hướng đến Vộ thượng Chính giác, tuy tu tập
Không, Vô tướng, Vô nguyện, nhưng tâm không tác chứng nơi thực tế.”
Quán chiếu tự tính Không mà không
chứng thực tế Không, không an trụ trong biên tế như thực của tính Không
như là cảnh giới an toàn của chính mình, Bồ tát vẫn phải lăn lóc trong
sinh tử như hết thảy chúng sinh khác. Như Duy-ma-cật nói với Văn-thù:
“Si và hữu ái là nguồn gốc của bệnh tôi. Vì hết thảy chúng sinh bệnh mà
tôi bệnh. Bao giờ hết thảy chúng sinh đạt đến chỗ không bệnh, bệnh tôi
sẽ hết. Vì sao? Bồ tát, vì chúng sinh mà đi vào sinh tử. Có sinh tử thì
có bệnh. Nếu hết thảy chúng sinh được thoát ly bệnh khổ thì Bồ tát không
còn bệnh.”
2. Bốn Phạm trụ và Vô lượng tâm
Bồ tát phát triển tâm đại bi như
thế nào? Tu tập từ, bi, hỷ, xả; bốn vô lượng tâm mà Phật giảng dạy cho
các Thanh văn. Một thời, tôn giả A-nan dẫn các tỳ kheo trẻ đến đức Phật,
thỉnh cầu Phật giáo giới, làm thế nào để hướng dẫn các tỳ kheo trẻ tu
tâp. Phật dạy, “A-nan, Ta đã từng giảng thuyết cho ngươi về bốn vô
lượng. Tỳ kheo thành tựu và an trụ tâm tương ưng với từ, tràn đầy khắp
một phương, cho đến bốn phương, trên dưới… Cung
vậy, an trụ tâm bi, tam hỷ, tâm xả… A-nan, ngươi hãy dạy các tỳ kheo trẻ
tu tập bốn vô lượng này để cho các tỳ kheo được an lạc, thân tâm không
phiền nhiệt, trọn đời tu phạm hạnh…”
Bốn vô lượng này cũng được gọi lả
bốn Phạm trụ.
Đó là bốn tâm tư để cho một người mà đời sống được coi là tương ưng với
Phạm thiên, và với tâm ấy sau khi chết được tái sinh lên thế giới của
Phạm thiên. Tăng nhất A-hàm nói, có vị Thiên chúa gọi là Đại Phạm, thống
lãnh một nghìn thế giới, tối thượng không gì vượt qua. Nếu tỳ kheo tu
tập bốn Phạm trụ này, tâm tư có thể bao trùm cả một nghìn thế giới như
vậy. Tỳ kheo muốn siêu việt Dục giới để sống trên cõi Phạm thiên giới,
hãy tu tập bốn vô lượng này.
Một thời, khi Phật trụ tại vương
quốc Câu-tát-la; bấy giơi có hai thanh niên Bà-la-môn tranh luân nhau về
con đường dẫn đến Phậm thiên. Tất nhiên họ đều y trên tín điều tôn giáo
được truyền bởi các Thánh điển Vệ-đà như nhau, nhưng mỗi người hiểu theo
một cách khác theo trường phái sư truyền của mình. Hai người tìm đến
Phật, đề nghị phân giải. Đức Phật không bác bỏ sự tồn tại của Phạm
thiên, và giảng giải cho họ rằng chỉ có thể đi đến Phạm thiên, sống với
Phạm thiên, những ai mà tâm tư tương ứng với phẩm chất Phạm thiên. Tâm
tư ấy là bốn vô lượng: từ, bi, hỷ, xả.
Nói cách khác, nếu hiểu theo tín điều tôn giáo của họ, theo đó, Phạm
thiên hay Thiên chúa là tình yêu; vậy thì, một người với tâm thù hận
không thể sống chung với một người mà tâm tư luôn tràn ngập tình yêu.
Như vậy, đức Phật đồng thời bác bỏ quan điểm truyền thống, tin tương tập
tục lễ nghi tế tự và cầu nguyện của Vệ-đà để có thể thấy được Phạm
thiên.
Nếu tu tập bốn vô lượng như là bốn
Phạm trụ, thiền cao nhất mà người thực hành có thể đạt đến là Sơ thiền.
Bởi vì, kết quả của Sơ thiên là cõi Phạm thiên, phân thành ba cấp theo
ba trình độ cao thấp khác nhau trong Sơ thiền. Ba cấp ấy là, từ dưới
thấp kể lên, Phạm chúng thiên, cõi của cư dân của Phạm thiên, tức các
linh hồn con dân của Thiên chúa trên Thiên đường nước Chúa. Cao hơn, là
Phạm phụ thiên, các vị trợ tế, hay các đại thần của Phạm thiên; tức các
Thánh trên thiên đường. Cao nhất, chỉ một ngôi vị duy nhất, là Đại Phạm
thiên, chúa tể của một nghìn thế giới giới; được xem là đấng biến mãn,
toàn năng, nhưng chỉ giới hạn trong một nghìn thế giới mà thôi.
Vượt lên trên Phạm trụ, các trình
độ thiền đạt được bằng các vô lượng tâm khác nhau. Theo lý giải của Hữu
bộ, tu hỷ vô lượng cần phải y trên Sơ thiền và Nhị thiền, vì trong hai
thiền này hỷ đều hiện diện. Ba vô lượng còn lại y trên sáu địa mà tu
tập, tức bốn thiền, vị chí định và trung gian định; hoặc chỉ y trên năm
địa, trừ vị chí định.
Hữu bộ cũng nói, thành tựu cao nhất của tu tập từ vô lượng là đạt đến
Biến tịnh thiên, tầng thứ ba cao nhất trong Đệ tam thiền. Tu bi vô
lượng, cao nhất đạt đến Không vô biên xứ thiên, tầng thứ nhất trong bốn
vô sắc định. Tu hỷ, cao nhất đạt đến Thức vô biên xứ thiên, tầng thứ hai
trong bốn vô sắc định. Tu xả, cao nhất đật đến Vô sở hữu xứ thiên, tầng
thứ ba trong bốn vô sắc định.
Như vậy, bốn vô lượng nếu được tu
tập như là bốn Phạm trụ, chỉ có mục đích thế gian, mong cầu kết quả
phước báo trên chư thiên. Bốn vô lượng được thực hành bởi các Thanh văn
cũng chỉ hướng đến mục đích tự lợi, như là một trong các phương pháp tu
tập thích hợp để đối trị tham sân. Như tu từ để đối trị sân tâm, tu bi
đối trị hại tâm, tu hỷ đối trị bất hân uỷ tâm (bất mãn, không hài lòng),
tu xả đối trị dục tham.
Mặc dù như trong kinh được trích
dẫn bởi Thanh tịnh đạo, theo đó khi một tỳ
kheo đến thỉnh cầu Phật chỉ dạy một pháp môn rồi ông sẽ thọ trì pháp môn
để tu tập hầu đạt đến cứu cánh, và thoạt đầu Phật không mấy tin tưởng
vào khả năng tu tập của tỳ kheo này nên đã chỉ dạy cho bốn vô lượng tâm,
tu tập tâm giải thoát với từ, bi, hỷ, xả; tu tập thường xuyên coi như là
cỗ xe, như là cơ sở, nỗ lực thực hành, tích lũy, cho đến mức hoàn hảo.
Thế nhưng, tiếp theo sau đó là tu tập bốn niệm trụ để diệt tận phiền
não, chứng đắc A-la-hán. Đối trị, tức trấn áp, chứ không hoàn toàn diệt
trừ các thứ phiền não này. Cho nên, các nhà Hữu bộ nói, bốn vô lương
được tu tập chỉ có thể đối trị bốn chướng chứ không thể diệt trừ các mê
hoặc, phiền não.
Lý do được giải thích, vì các thiền là cơ sở để tu bốn vô lượng này đều
có tính hữu lậu không có hiệu lực diệt trừ mê hoặc. Thêm nữa, chúng là
những tác ý thắng giải, nghĩa chỉ y trên ước nguyện, hay trên phán đoán
tự do chứ không phải phán đoán bằng hiện thực. Tuy nhiên, chúng cũng có
thể được tu tập trong giai đoạn gia hành, tức như là những tu tập chuẩn
để trấn áp các chướng ngại trước khi thực sự đoạn trừ các phiền não.
Theo một cách nói, tu bốn vô lượng
như vậy chính là sự vận dụng ước nguyện. lấy đó làm công cụ đối trị các
chướng ngại. Như đối với các chúng sinh đang sống an lạc, hành giả lấy
đó làm đối tượng mà khởi lên tâm từ, mong rằng hết thảy chúng sinh đều
được an lạc. Cũng vậy, khi tu bi vô lượng, hành giả rải tâm đến hết thảy
chúng sinh đang đau khổ với ước nguyện mong cho hêt thảy chúng sinh
thoát khỏi khổ não. Sự khởi tâm như vậy là thắng giải tác ý chứ không
phải là chân thật tác ý. Tư duy như vậy như Thế Thân nói, chỉ là ước
nguỵện, chứ không thực sự khiến cho chúng sinh nhờ vậy mà hưởng lạc,
thoát khổ. Như vậy, há không phải là điên đảo? Nghĩa là, tu tập với tâm
hướng đến sự thể sẽ không xảy ra như tâm tưởng. Tất nhiên là không điên
đảo. Vì cơ bản, a-thế-da, tức thâm tâm hay ý hướng của hành giả là chân
thật. Nói cách khác, đó là những ước nguyện chân thật, tuy không được
thể hiện thành sự sự như ước nguyện.
Đó là tính chất của bốn vô lượng
được tu tập bởi Thanh văn.
3. Bốn vô lượng và ba đối tượng
Các nhà Đại thừa cũng nhận bốn vô
lượng tâm, về cơ bản, là bốn Phạm trụ. Ngoài ý nghĩa chính của vô lượng
tâm là đối trị chướng như trong sự tu tập của Thanh văn, trong Đai thừa
còn nêu lên ba đặc tính khác nữa của bốn Phạm trụ hay Vô lượng. Trang
nghiêm kinh lận nói, “Bốn Phạm trụ tức bốn Vô lượng: từ, bi, hỷ xả.
Trong đó, bốn vô lượng của Bồ tát có bốn đặc tính: 1. Trị chướng, tức
đối trị các chướng ngại, nghĩa là trấn áp các phiền não. 2. hiệp trí, sự
đối trị đặc biệt do chứng đắc trí vô phân biệt. 3. Chuyển cảnh, hướng
đến tượng là chúng sinh duyên, pháp duyên và vô duyên. 4. Thành sinh,
thực hiện những nghiệp thù thắng để thành thục chúng sinh.
Tức là, Thanh văn tu bốn vô lượng chỉ nhắm đến đối tượng duy nhất là
chúng sinh, trong khi đó Bồ tát còn y trên đối tượng là pháp để quán
chiếu bản tính tồn tại của chúng sinh, và sau cùng y trên đối tượng vô
phân biệt mà phát khởi bốn vô lượng.
Y trên các đối tượng như vậy để
phân biệt, khi lấy chúng sinh làm đối tượng, bốn vô lượng hay bốn Phạm
trụ là thực hành trong phạm vi Dục giới, chung cho các phàm phu và ngoại
đạo. Bởi lẽ, tín đồ của các tôn giáo chỉ ước nguyện sinh lên trời, sinh
về nước Chúa để có thể diện kiến Thiên chúa ở đó. Tình yêu của chúng
sinh ở Dục giới không thể trùm lên các cõi trên, Sắc giới và Vô sắc
giới. Cho nên, khi kinh nói, “tâm câu hữu với từ, trùm khắp một phương”
là nói đến không gian của Dục giới đối với chúng sinh chưa ly Dục, hay
chưa đắc Sơ thiền trở lên. Thêm nữa, y trên đối tượng là chúng sinh, chỉ
quán chiếu đến các điều kiện khổ hay lạc của chúng sinh mà không quán
chiếu bản chất tồn tại của chúng, đó là sự vận dụng tâm ý một cách chủ
quan.
Do tính chất chủ quan như vậy nên không thể diệt trừ phiên não. Phiền
não chỉ có thể bị đoạn trừ với nhận thức chân chính về bản chất của tồn
tại. Ngoài ra, chúng chỉ bị trấn áp. Nói cách khác, chỉ khi nào tư duy
tập trung quán chiếu trên đối tượng là pháp, quán chiếu bản chất tồn tại
của pháp, chỉ như vậy mới diệt trừ được phiền não.
Cho nên, luận Du-già nói, bốn vô
lượng được tu tập với đối tượng là hữu tình là hành trì phổ thông cho cả
phàm phu lẫn ngoại đạo. Lấy pháp làm đối tượng, là pháp tu bất cộng, hay
đặc hữu của Thanh văn và Độc giác. Vô duyên, tức đội tượng vô phân biệt
là thực hành riêng biệt của Bồ tát.
Trong đó, vô duyên từ được giải
thích là thực hành của Bồ tát từ địa thứ tám trở lên. Ở đó, Bồ tát duyên
đến đối tượng Chân như để quán chiếu. Khi chứng đắc vô sinh pháp nhẫn,
bấy giờ tất cả thiện căn đều viên mãn, và hết thảy phiền não được diệt
tận, do bởi thân và ngữ nghiệp, mà Từ vô lượng y trên đó để thể hiện,
bấy giời hoàn toàn thanh tịnh.
Địa thứ tám của Bồ tát tưong ứng với quả vị A-la-hán của Thanh văn, ở đó
phiền não cũng đã bị diệt tận, và thân ngữ nghiệp đều thanh tịnh.
4. Quán chiếu tu Vô lượng
Hành từ như được thuyết minh trong
Du già sư địa luận và Đại thừa trang nghiêm kinh là bất
đầu từ chỗ lấy chúng sinh làm đối tượng. Đấy là sự nghiệp từ thiện xã
hội mà mục đích là xoá đi nỗ thống khổ của chúng sinh. Làm như vậy chỉ
có thể mong cầu phước báo ở thiên giới, mà cao nhất là thiên giới của
Phạm thiên. Các Thánh đệ tử không quan sát nỗi khổ thế gian như là hậu
quả của hàng loạt phản ứng tâm sinh lý. Ngoài nhận thức sự khổ của thế
gian do ái biệt ly, hay oán tăng tụ hội, các vị ấy quán sát sự khổ trên
tính chất vô thường của các hành, tức trên sự tính vận động của mọi hiện
tượng mà xu hướng tất yếu là dẫn đến tình trạng tan rã và sụp đổ. Quán
sát rằng, “Sắc là vô thường. Cái gì là vô thường, cái đó là khổ. Cái gì
là khổ, cái đó không phải là tự ngã. Cái đó không phải là của tôi. Tôi
không phải là cái đó. Cái đó không phải là tự ngã của tôi.” Trên cơ sở
nhận thức đó, cái gọi là chúng sinh hay hữu tình, chỉ là tổ hợp giả
danh; không tồn tại một thực hữu nào như là chúng sinh cả. Cho nên, khi
các Thánh đệ tử hành bốn vô lượng, nói là rải tâm từ lên hết thảy chúng
sinh trong một phương; từ phương đông, cho đến cả sáu phương thượng hạ.
Nhưng vì chúng sinh là giả hữu, không thể lấy cái giả hữu làm đối tượng
tu tập; cho nên, đối tượng mà Thánh đệ tử hướng đến để vận dụng tâm từ
là pháp.
Trong hai đoạn kinh được dẫn từ
A-hàm va Nikāya ở trên, Phật chỉ dạy bốn vô lượng như là pháp yếu dự bị
làm nền tảng cho sự tu tập cao hơn đối với các tỳ kheo trẻ, hay tỳ kheo
mà nghị lực không nhiều lắm. Bởi vì đối tượng ở đây không phải là các
vật vô tri vô giác như đât, nước, hơi thở, hay xác chết ngoài bãi tha
ma, mà là những con người cụ thể có mối quan hệ xã hội hay thân thích
trong chừng mực nào đó. Tập trung ý tưởng trên những đối tượng gần gũi,
dễ gợi nhớ, với những tình cảm thân thiết nhất, để loại bỏ dần các ý
tưởng xấu, những ác bất thiện pháp. Nói theo ý nghĩa tâm lý học, các tỳ
kheo trẻ được khuyến khích tu tập bốn vô lượng, coi đó như là sự đào
luyện tâm lý để có thể sống cuộc sống viễn ly, ẩn dật, mà không cảm thấy
cô độc trong núi rừng hoang vắng.
Bồ tát hành đạo bất đầu từ giữa
lòng xã hội nên sự tiếp cận với mọi thống khổ nhân sinh là lẽ tất nhiên.
Tu bốn vô lượng là y trên a-thế-da, trên tăng thượng ý lạc, nghĩa là y
trên thâm tâm, trên tâm nguyện nhiệt thành và luôn luôn hướng thượng,
ước mong xoá sạch mọi thống khổ của thế gian. Như vậy, khởi điểm hành từ
là hướng đến các chúng sinh như là đối tượng. Như kinh Kam cang nói, Bồ
tát hành đạo đưa vô số chúng sinh đến an lạc của Niết-bàn mà không thấy
ở đó có chúng sinh, vỉ Bồ tát không hành đạo với ấn tượng về sự tồn tại
của tự ngã. Ngay chỗ này, Văn-thù đã chỉ ra mâu thuẫn như là xung đột
nội tâm khi Bồ tát hành từ như thế. Không thấy tồn tại chúng sinh như là
thực hữu, nhưng vẫn cảm nghiệm một cách sâu xa các chúng sinh trong ngụp
lặn trong biển khổ. Duy-ma-cật thuyết minh hành từ của Bồ tát gồm cả ba
phương diện, như được phân tích trong luận
Du-già và Trang nghiêm,
cho nên không hề có mâu thuẫn xung đột trong nhận thức của Bồ tát và
kinh nghiệm thực tế đời thường.
Trong thuyết minh của Duy-ma-cật,
ba đối tượng hành từ không tách rời nhau, tuy vậy mỗi đối tượng vần có
những đặc tính cá biệt y theo đó mà vận dụng quán chiếu. Trước hết, y
trên quán chiếu tính Không theo đó mọi tồn tại đều bất thực, hết thảy
chúng sinh đều như huyễn, Bồ tát hành từ không đối tượng, tức vô duyên
từ mà Duy-ma-cật giới thiệu như là tịch diệt từ. Tịch diệt, vì bản chất
của tồn tại vốn không sinh không diệt. Bồ tát nhận thức pháp tính là
Không, mọi hiện tượng đều là giả hữu; đau khổ hay an lạc là những hiện
tượng giả hữu. Bồ tát tự bản thân không thấy có đau khổ hay an lạc,
nhưng đòng thời cũng biết rằng các chúng sinh đang chịu đày đọa bởi các
khổ. Bồ tát vốn không bịnh, nhưng vì chúng sinh bịnh nên Bồ tát bịnh.
Tâm từ như vậy vận hành một cách tự nhiên, Tùy thuận pháp tính. Bồ tát
yêu thương chúng sinh, đó là tình yêu không điều kiện, vì pháp tính là
như vậy.
Một chuỗi các khái niệm tiếp theo
trong đoạn thuyết minh này của Duy-ma-cật là những mô tả các yếu tính
của vô duyên từ. Nói tóm lại, vô duyên từ được mô tả ở đây cũng là các
phẩm tính của trí tuệ quán chiếu.
Trong vô duyên từ, như đã thấy,
không thể thiếu chúng sinh duyên và pháp duyên. Các khái niệm về hành từ
của A-la-hán, cho đến Phật, thuyết minh Bồ tát thể hiện từ tâm với đối
tượng là pháp, là y trên những gì đã được chứng ngộ và được giảng dạy
bởi Phật. Đó là pháp thanh tịnh ly nhiễm.
Cuối cùng là hành từ với chúng sinh
duyên, Bồ tát hành từ cụ thể với mười ba-la-mật. Vật bố thí là pháp,
nhận bố thí là chúng sinh; ba-la-mật được thành tựu là thực tại siêu
việt, từ đó lưu xuất vô duyên từ.
Trên đây là đoạn thuyết minh về các
phẩm chất của từ y trên các đối tượng. Trong sự thực hành, đoạn thuyết
minh này cần được hiểu là sự hành từ diễn theo tuần tự thứ lóp, tương
ưng với ba đại thời gian hành Bồ tát đạo: giai đoạn phàm phu trước khi
chứng nhập Sơ địa; thừ hai, từ Sơ địa cho đến địa thứ bảy; sau hết, từ
Bất động địa thứ tám cho đến thành Phật.
Bồ tát trong giai đoạn phàm phu,
khi hành từ, để tâm từ không bị dao động và thóai thất trước vô lượng
thống khổ của chúng mà tâm từ hữu hạn của phàm phu không thể ôm trọn, do
đó hành từ vì tình yêu đối với chúng sinh nhưng đồng thời cũng quán
chiếu bản chất tồn tại như huyễn, bất thực của chúng sinh. Bồ tát hành
từ như là tịch diệt, như là vô tránh, v.v.
Khi vào Sơ địa, do quá trình tích
lũy tư lương phước đức bằng hành từ, do quán chiếu tính Không của các
pháp, Bồ tát chứng thực chân lý, thấy được một phần của Chân như, bấy
giờ thị hiện giữa thế gian mà hành từ với tâm vô cầu như A-la-hán, cho
đến như Phật. Từ tâm phát khởi từ các quả chứng Bồ-đề hay giác ngộ.
Trong đây, Bồ tát hành từ không chỉ thuần bằng a-thế-da tức bằng tâm
nguyện mà thôi; nhưng là hành từ cụ thể bằng các ba-la-mật: thí, giới,
nhẫn, tinh tấn, định, huệ, phương tiện, nguyện, lực, trí.
Sau hết, từ địa thứ tám, Bồ tát
không bị dao động giữa sinh tử và Niết-bàn, nên hành từ bằng các tự tại
thọ sinh, hiện các thần thông du hý để giáo hóa, dựng thành một thế gian
mà chúng sinh sống an lạc với trực tâm, thâm tâm, không dối trá, không
tạp hành.
Trên đây là thuyết minh tường tận
các sắc thái và các phẩm chất của hành từ y trên ba đối tượng. Đoạn tiếp
theo, Văn-thù hỏi về ba vô lượng còn lại, nhưng chỉ được thuyết minh vắn
tắt.
Về ý nghĩa căn bản của bốn vô
lượng, luận Câu-xá
nói, “Trước hết, tư duy về lạc mà mình cảm thọ được, hoặc lạc nơi Phật,
Bồ tát, Thanh văn, Độc giác, hành giả ước nguyện hết thảy chúng sinh
cũng cảm được lạc thọ như vậy. Đó là hành tâm từ vô lượng… Quán sát
chúng sinh chìm đắm trong biển khổ, hành giả ước nguyện chúng được giải
thoát khổ. Đó là hành bi vô lượng. Quán sát sự kiện các chúng sinh thoát
khổ, được an lạc, hành giả khởi tâm tùy hỷ. Đó là hỷ vô lượng.
Tu xả vô lượng, hành giả quán sát các chúng sinh với tâm bình đẳng,
không thiên lệch thân sơ. Đây là tu tập bốn vô lượng theo phương diện
tiêu cực.
Định nghĩa của luận
Du già trước hết cũng theo ý nghĩa mang tính
tiêu cực như vậy. Luận nói, “Đối với chúng sinh mong cầu an lạc, Bồ tát
phát khởi tăng thượng ý lạc, duyên đến khắp cả mười phương, an trụ trên
nhận thức không điển đảo về hữu tình (với ước nguyện cho chúng được an
lạc). Đó là tâm câu hữu với từ…Đối với chúng sinh thọ khổ, Bồ tát khởi
tăng thượng lý lạc ước nguyện trừ khổ, duyên khắp mười phương với tâm
câu hữu với bi. Đối với chúng sinh đang hưởng thọ lạc, khởi tăng thượng
ý lạc tùy hỷ, duyên khắp mười phương với tâm câu hữu với hỷ. Đối với
chúng sinh không khổ, không lạc, cũng không đang thọ khổ hay thọ lạc,
theo thứ tự lần lượt khởi tăng thượng ý lạc trừ các mê hoặc si, tham,
sân, duyên khắp mười phương với tâm câu hữu với xả.”
Ở đây, trong định nghĩa của
Duy-ma-cật, các vô lượng được nhận thức từ phương diện tích cực của
chúng. Duy Ma-cật nói, Bồ tát hành bi là chia xẻ hết thảy công đức mà
mình chứa nhóm được cho hêt thảy chúng sinh. Công đức ấy có thể hiểu
theo nghĩa vật chất và cả ý nghĩa tinh thần. Cho nên, nói bi tâm là ước
nguyện bạt khổ, thì đây không chỉ là ước nguyện, mà chính là hành động
dấn thân trong những công tác cứu tế.
Về tu hỷ, Duy-ma-cật nói, đối với
những thành tựu lợi ích của chúng sinh, Bồ tát khởi tâm hoan hỷ, tùy hỷ
mà không hề hối hận. Tức là luôn luôn tán trợ và khuyến khích những sự
nghiệp thiện, đem lại ích lợi cho nhiều người. Nói là không hối hận,
nghĩa là không hề do dự. Cuối cùng, tu xả, là thi hành phước nghiệp sự
một cách bình đẳng với tâm vô cầu.
Đến đây thì một vấn đề quan trọng
được đặt ra: Bồ tát hành bốn vô lượng, mang tình yêu đến với hết thảy
chúng sinh, ngay trong thế giới đầy biến động kinh sợ, đầy dẫy những hận
thù như vậy, làm thế nào để giữ vững được tâm tư không dao động?
Duy-ma-cật nói, bấy giờ Bồ tát nương tựa trên Đại ngã của Phật. Những
người tu Phật không tin vào sự tồn tại của một Thần ngã siêu việt. Tuy
nhiên, như đã nói ở trên, được hành trì trong giới hạn phàm phu, bốn vô
lượng chính là bốn Phạm trụ, tức là con đường dẫn đến cộng trụ với Phạm
thiên, thể nhập bản tính của Phạm thiên. Đối tượng để hành bốn Vô lượng
chỉ trong giới hạn chúng sinh duyên. Bồ tát sơ phát tâm, tu bốn vô lượng
để làm kiên cố tâm Bồ-đề, cũng bắt đầu với đối tượng là chúng sinh,
nhưng chuyển đối tượng hướng đến Phật như là sở y. Đối tượng và sở y đó
là Pháp thân Phật, với Niết-bàn mà Phật chứng đắc, được nhân cách hóa
hay thần hóa thành Đại Ngã. Đó là nhân cách biểu hiện cho sức mạnh của
đại từ và đại bi, là nguồn suối tâm linh vô tận luôn tắm mát cho Bồ tát,
thêm sức cho Bồ tát, nghĩa là gia trì uy lực cho Bồ tát trong mọi chướng
duyên khi hành đạo. Trong tận cùng sâu thẳm, ý nghĩa nơi nương tựa của
Bồ tát có nguồn gốc là vô trụ. Vô trụ, là căn nguyên vô thủy của thiện
và bất thiện. Vì căn bản vô trụ nên tất cả tùy thuộc nhân duyên. Nói
cách khác, Bồ tát thâm hiểu lý duyên khởi, nhận thức rõ các pháp khi
sinh, khi diệt đều lệ thuộc và quan hệ lẫn nhau. Nghĩa là, y trên quán
chiếu tự tính của các pháp là Không mà vượt qua mọi sợ hãi.
II. THIÊN NỮ TÁN HOA
1. Bóng trăng đáy nước
Đoạn đối thoại cuối cùng giữa
Văn-thù và Duy-ma-cật về thực chất và ảo ảnh của tồn tại, là câu hỏi của
Văn-thù: “Căn cơ của thực tại hư vọng phân biệt ấy là gì?” Duy-ma-cật
đáp: “Điên đảo tưởng.”
Gốc của điên đảo tưởng là gì? Cái không được đứng vững.
Gốc của cái không được đứng vững là gì? Cái không được dựng đứng thì làm
gì có gốc. Tất cả được dựng đứng trên cái không có gốc được dựng đứng
vững.
Ngay lúc đó, trong nhà chợt xuất hiện một Thiên nữ rải hoa tán thưởng.
Cô tán thưởng điều gì ở đây?
Chúng ta đã tường thuật vấn đáp của
đối thoại bằng ngôn ngữ và khái niệm triết học. Hết thảy những gì nhận
biết thảy đều được trừu tượng hóa để được sắp xếp lại thành một trật tự
trong thế giới lý tính, được quy ước thành những giá trị phổ quát và
chân lý tuyệt đối cho tất cả mọi người. Trong thế giới đó, người ta bảo
một người đi tìm một con ngựa. Ông đi tìm, và không thấy ở đâu, ở trong
tất cả mọi nơi chốn, không đâu có thể tìm ra một con ngựa như là con
ngựa. Nhưng mọi người đều biết, có một con ngựa, và cũng có nhiều con
ngựa đang tồn tại, đã tồn tai, và sẽ tồn tại. Đó là những ngựa đen, ngựa
đỏ, ngựa trắng, ngựa ô truy, ngựa xích thố, ngựa bạch mã. Tuy vậy, khi
đi tìm, không ai tìm thấy một con ngựa thực sự là ngựa. Bởi vì, ông suy
lý: “Ngựa trắng không phải là ngựa.” Nếu nó không trắng thì đỏ; không đỏ
thì đen; chứ không có ngựa là ngựa không phân biệt trắng đen. Tư duy và
ngôn ngữ ấy dẫn chúng ta đi đến chỗ nghịch lý, chõi lại sự thường: thực
sự có một và nhiều con ngựa, cũng như có một quả cam ở đó, mà ta thấy,
ta cầm nắm, và ta ăn; nhưng tự thân quả cam là gì, thì không thể nhận
thức được. Hay nói như ngài Nāgasena: ông vua Milanda đến đây bằng cỗ
xe, nhưng bảo vua chỉ cỗ xe thực sự là cái gì, vua không chỉ ra được.
Vua có thể chỉ cho thấy đây là càng, đây là gọng, đây là thùng, các thứ
vân vân. Nếu đi sâu thêm nữa, khi nói đây là gọng, mà hỏi thêm rằng gọng
thực sự là cái gì, người ta cũng không thể chỉ ra. Cho đến cuối cùng,
thực tại bỗng nhiên tan biến như ảo ảnh chợt đến rồi chợt đi. Nhưng đó
chỉ là thực tại trong tư duy triết học. Thực tế, con người vẫn có cỗ xe
để đi. Vẫn có thùng xe để trang điểm cho tiện nghi, cho lộng lẫy để vừa
thụ hưởng lại vừa phô trương tự ngã của mình. Thực tại mà chúng ta đang
sống thực ấy, Văn-thù gọi nó là hư vọng phân biệt. Cái hư vọng phân biệt
ấy từ đâu mọc lên?
Nói theo một thứ ngôn ngữ ước lệ,
chúng ta tư duy trước thế giới hư vọng, bất thực. Chúng ta sống trong
thế giới phân biệt. Khi vua Milanda muốn di chuyển nhanh, ông cần có
phương tiện. Ông gom tất cả những gì có thể gom được thành một phương
tiện để di chuyển, gọi là cỗ xe. Con mắt cần nhìn ngắm như dạ dày cần
dung nạp thực phẩm. Cho nên, mắt không thể tồn tại mà không nhìn ngắm.
Nó nhìn vào hư không, thấy một sợi tóc. Chúng ta không nói mắt thấy hay
ai thấy. Nhưng biết rằng, và biết rất rõ, con mắt đang nhìn thấy một sợi
tóc trong hư không. Gọi đó là tóc, hay lông rùa, hay lông thỏ, tùy theo
tình trạng của con mắt nhìn, và của tâm tư người đang nhìn. Vậy thì, khi
nhìn, không có một cái ta duy nhất để nhìn, và cũng không tồn tại một
vật duy nhất để nhìn. Thế giới sống thực của ta kết dệt với nhau bằng vô
tận cái tồn tại, mà bứt đi một cái, thì thế giới ấy trở thành trống
không, sụp đổ. Thế giới như vậy là hình ảnh cấu trúc của một mạng lưới
vô hạn, vô tận. Ta như một bé con đùa nghịch với cây viết và trang giấy.
Từng chấm đen được chấm lên tờ giấy, liên kết nhau thành những điểm,
những đường, và rồi những điểm và đường ấy lại kết dệt với nhau thành
hình ảnh nhà cửa, núi non, hoa cỏ. Tất cả bức tranh được ký họa ấy là
một cấu trúc bất thực, gọi nó là hư vọng phân biệt. Ta hãy gọi nó là ảo
ảnh. Chỉ là quy ước ngôn ngữ để gọi tên cho một thực tại mà chúng ta
trải nghiệm. Nhưng từ ảo ảnh đó mà xuất hiện nhiều thứ phức tạp: buồn,
vui, mừng, giận. Chúng sinh tích lũy những gì nó đã kinh nghiệm, đã sống
thực bằng mắt, bằng tai, cho đến bằng xúc chạm của da thịt; những kinh
nghiệm ấy được tích lũy như những hạt giống trong kho, chờ cho đến đúng
thời, đúng tiết, hội đủ điều kiện đất, nước, lửa, gió bên trong và bên
ngoài để nảy mầm. Nó sẽ gặt hái và ăn những gì mà nó đã gieo trồng.
Không có thứ gì khác để nó ăn, ngoài những gì do chính nó đã tích lũy và
gieo trồng. Ta tự nuôi sống bằng chính những ảo ảnh của mình. Độc hại
hay bổ dưỡng, để dẫn đến diệt vong hay phát triển; đó là chuỗi đau khổ
và hạnh phúc mà chúng ta phải chấp nhận. Dù thực tại là ảo ảnh, là thực
hay bất thực, điều mà chúng ta không thể tự dối mình, rằng chúng ta đã
từng, hay đang đau khổ vì chính ảo ảnh do mình dựng lên. Như bé con ngồi
khóc trước sự sụp đổ của lâu đài thành quách mà nó dựng lên từ cát trên
bãi cát.
Cao điểm đối thoại giữa Văn-thù và
Duy-ma-cật dẫn đến chỗ, mặt đất dưới chân bỗng nhiên tan rã, nhưng người
đứng vẫn không cảm thấy chuyển dịch. Kinh nghiệm ấy khó có thể nắm bắt
được bằng tai mắt trong thế giới bị chi phối bởi quy luật quan hệ tồn
tại. Như một người đang đi trong đêm tối giữa rừng rậm, bất chợt nhìn
thấy mọi vật chung quanh xuất hiện qua một thứ ánh sáng kỳ dị. Cho đến
khi y bắt gặp một ao nước, và nhìn thấy ánh trăng dưới đó, ngay lúc ấy
tâm tư y bỗng nhiên bừng tỉnh cùng với ánh trăng để nhìn cảnh vật chung
quanh theo một nhãn quang khác, trong một thế giới khác, tuy tất cả mọi
thứ vẫn ở nguyên vị trí của chúng. Đây là kinh nghiệm cá biệt không dễ
dàng lãnh hội qua sự tường thuật theo ngôn ngữ quy ước.
Một khoanh tròn trên trang giấy
trắng, trong quan hệ tồn tại với trang giấy, nó chỉ là một khoanh tròn,
chứ không là gì khác. Nhưng khi nhiều chấm, nhiều đường hoặc cong hoặc
thẳng được thêm vào quanh nó, bấy giờ, trong quan hệ với tất cả các
đường nét này, khoanh tròn ấy bỗng trở thành mặt trăng, mặt trời, hay
cái gì khác nữa. Tâm tư người quan sát, thưởng ngoạn, cũng tùy theo đó
mà thay đổi, buồn vui, hoài niệm, yêu ghét. Chỉ một cái nhìn bất chợt ấy
nhiều khi thay đổi số mệnh cả một đời người, và cũng có thể thay đổi
hình ảnh của cả thế giới trong đó với vô số chúng sinh bị đày đọa hay
hạnh phúc.
Một khoanh tròn, những chấm, những
đường cong uốn lượn, trong tồn tại tự thân, chúng tồn tại như là thực
tại im lim bất động trong thế giới tịch mặc vô ngôn. Chúng nằm im trong
nguyên vị và nguyên thể của chúng. Nhưng khi được gắn quan hệ với nhau,
được cấu trúc lại thành những tồn tại quan hệ, tất cả chúng bất chợt
đồng loạt đứng dậy. Chúng trình diện như những gì không phải là chúng,
dù vậy mỗi cái vẫn nguyên vị trí, vẫn nguyên tự thể của nó. Một chùm
vạch thẳng đột nhiên đứng dậy thành một gốc cây. Những đường cong uốn
lượn chợt đứng dậy thành dãy núi. Tất cả đồng loạt đứng dậy, mà không có
cái gì được dựng đứng cả.
Thế giới như thế vừa thực vừa huyễn
hoặc, mà giới hạn của tai mắt không vươn đến được, tuy biết rằng nó
thường trực xuất hiện trước tai mắt. Nó là bóng trăng đáy nước, mà khi
xuất hiện thì thế giới bừng sáng, vô số vi trần hạt cát trong tương quan
trùng trùng vô tận đồng loạt đứng dậy thành rừng, thành suối, thành cây
cỏ, làng mạc. Bóng trăng đáy nước là hình ảnh biểu tượng cho sự xuất
hiện của thế giới. Bóng trăng ấy thêm một tầng cách điệu hóa nữa, nó trở
thành Thiên nữ rực sáng với hoa trời. Quả thật, cảnh vật trình diện
trước chúng ta chỉ là ảnh xuất hiện từ ảo giác, hình ảnh của thế giới
thực đã bị lộn ngược, từ đam mê vọng tưởng, nhưng tự thể của thực tại ấy
thường hằng tĩnh mịch, mà tai mắt không cảm nghiệm được, ngôn ngữ không
mô tả được, tư duy không vươn đến được. Thực tại đó đẹp lộng lẫy như
Thiên nữ với hoa trời. Giới hạn chuyển tải thực tại của ngôn ngữ chỉ đến
mức ấy. Vượt qua mức ấy, có mắt mà như mù, có tai mà như điếc. Có lưỡi
mà như câm.
Dù sao, cái vẽ đẹp lộng lẫy của
thực tại tịch nhiên bất động vô ngôn ấy với chúng ta cũng chỉ có thể
biết được thông quá trình độ nắm bắt của ngôn ngữ. Những lời trao đổi
giữa Văn-thù và Duy-ma-cật không nhất thiết là những điều hiếm được nghe
trong đời thường của người thường. Lời hay nghe như mật rót vào tai.
Thực tế, mật rót vào tai thì chẳng đem lại cho ta cái gì khoan khái dễ
chịu đáng nói; nhưng lời ví von ấy được nói lên, ai cũng cảm thấy hình
như ngọt thật, mà không biết ngọt ở đâu. Những lời nói thường ngày ấy
trong nhiều trường hợp hàm chứa sự cộc cằn, thô lỗ, dung tục, tầm
thường, nhưng khi một nhà thơ thiên tài xếp chúng lại trong một chuỗi
quan hệ nào đó, người nghe bỗng cảm thấy xao xuyến. Tầm rung động xao
xuyến trước thực tại sống động ấy cho đến mức chỉ có thể diễn tả như là
một kẻ phàm phu chợt thấy trước mắt mình xuất hiện một Thiên nữ với hòa
trời muôn vàn diễm lệ.
2. Hoa trời vô nhiễm
Lúc bấy giờ trong trượng thất của
Duy-ma-cật có một Thiên nữ, khi nghe các Đại Bồ tát đàm luận về chân lý,
cô rất tán thưởng và hiện hình cùng với vô số hoa trời được tung rải.
Hoa rơi trên thân các Bồ tát, tức thì rơi xuống đất. Hoa rơi trên các
Đại Thanh văn, tức thì bám dính vào đó. Các ngài vận dụng đại thần thông
để phủi, nhưng hoa vẫn bám dính ở đó.
Đoạn văn mô tả mang đầy hình tượng
và kịch tính. Một Thiên nữ kiều diễm với hoa trời rực rỡ là hình ảnh đối
nghịch với phong thái uy nghiêm, đĩnh đạc của các Trưởng lão Thanh văn;
những vị mà một phần trong văn học cổ Phật giáo mổ tả rằng thân tâm đã
nguội lạnh như tro tàn. Cho nên các ngài vận dụng đại thần thông vốn có
thể di chuyển cả ngọn Tu-di vĩ đại nhưng không thể làm nhúc nhích một
đóa hoa nhỏ mọn đang bám dính trên thân. Toàn bộ đối thoại triết lý được
chuyển thành những hình ảnh phản diện trong đời sống; những mâu thuẫn
trong tư duy và ngôn ngữ cần được đưa đến sự dung hợp trong một hiện
thực đa dạng.
Thiên nữ hỏi ngài Xá-lợi-phất, vì
sao các Đại Thanh văn phủi hoa đi. Ngài đáp: vì chúng không như pháp,
không phù hợp, không thích nghi. Đây là một ý niệm, một nhận thức về một
thực tế mà khó tìm ra từ ngữ chính xác để mô tả. Chúng ta nói lại theo
ngôn ngữ thường nhật: nếu một lọ hoa, thậm chí một cành hoa, không được
đặt đúng vị trí của nó trong một căn phòng; căn phòng ấy sẽ mất đi ít
nhiều giá trị, và phẩm chất của hoa cũng bị hạ thấp. Vậy, hoa dù là hoa
trời mà bám dính trên thân các Đại Thanh văn, là một thứ cấu trúc dị
dạng. Không nên nhận thức theo ý nghĩa hạn hẹp của văn tự trong diễn
giải của Thiên nữ để nói một cách đơn giản rằng các vị này vì cố chấp
nên hoa mới bám chặt vào, còn như các Bồ tát vì không còn chấp trước nên
hoa không thể bám dính.
Bám dính hay không bám dinh, đó là
vấn đề cấu trúc tư duy theo ngữ cảnh tư duy; là sự cấu trúc của thế giới
trong mối quan hệ tâm thức và thế giới, trong mối tương quan tồn tại của
tất cả.
Thiên nữ nói: “Trong pháp luật được
công bố một cách thiện xảo này, những vị phân biệt, chi tiết phân biệt
về sự xuất gia, những vị đó thật sự không thích nghi.” Hiểu theo ngôn
ngữ quy ước ấy là đặt số đông vào một tập quần có kỷ luật để có thể
nương nhau tồn tại trong một khoảng thời gian hữu hạn. Trong giới hạn kỷ
luật đó, khi gán ghép ca-sa, bình bát, đầu tròn áo vuông vào cho một nam
tử, người ấy được gọi là xuất gia, với những kỷ luật tu đạo phải tuân
giữ, trong mọi sinh hoạt giao tiếp, đi đứng nằm ngồi. Đó gọi là phân
biệt, là sự bố trí lại, điều chỉnh lại mọi quan hệ vốn có trong điều
kiện được dự kiến. Thêm dấu chấm, hoặc dấu phẩy vào giữa một chuỗi liên
tục các từ ngữ, ý nghĩa của phát biểu biến đối theo cấu trúc mới. Cũng
thế, thêm một đóa hoa vào một cảnh trí, không gian biến đổi. Cho nên,
khi gắn một đóa hoa trời lên chéo áo của Thanh văn, vị ấy không được
nhận ra như là Thanh văn nữa. Vị ấy đang trở thành một con người khác,
một hiện hữu khác. Nhưng pháp ấn mà Phật dạy, tất cả đều vô thường biến
dịch, thì sự biến đổi ấy thực sự không có gì đáng ngạc nhiên.
Trong đối thoại giữa ngài
Xá-lợi-phất và Thiên nữ có một ý niệm, một khái niệm, một thực tế mà
không có từ ngữ tương xứng để diễn đạt, cho nên cần phải lãnh hội bằng ý
tại ngôn ngoại. Có thể ở đây mượn cách diễn đạt của các thiền sư: “Bất
lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành
Phật.” Đây chính là thực tại “hãy đến để mà thấy.” Trong sự đến và sự
thấy đó, một chuỗi vô hạn của sự khước từ chối bỏ liên tục. Như một
người liên tục bằng trí tưởng tượng bẽ gãy một quãng không gian giới hạn
giữa hai điểm cố định, cho đến khi quãng không gian hữu hạn ấy được cắt
xén thành vô hạn không gian, cho đến khi khoảng cách giữa hai điểm bằng
không, bấy giờ, khi trí nhận thức vươn đến vô hạn, cảnh trở thành không.
Trong khoảnh khắc ấy, một không gian mới xuất hiện, siêu việt cả không
và vô hạn của trí năng phân biệt. Thế giới trước đây từng xuất hiện
trong trí năng, thế giới ấy đã đi, và đi mất. Thế giới ấy đi vào tịch
diệt của Niết-bàn vô trụ. Ông đã đến và đã thấy. Chỗ mà ông đã đến, dưới
chân không điểm tựa. Cảnh mà ông đang thấy, không có cái gì được dựng
đứng dậy để xuất hiện. Xứ sở đó, cảnh giới đó, gọi là vô trụ xứ. Vô trụ
xứ là điểm kết thúc đàm đạo giữa và Văn-thù và Duy-ma-cật, và cũng là
khoảnh khắc Thiên nữ tán hoa xuất hiện. Trong một cách nhìn, trả lời của
Duy-ma-cật cũng gần như trùng tuyên lại trong một ngữ cảnh khác câu trả
lời của Phật cho các Tỳ kheo khi được hỏi: thức của một vị A-la-hán tồn
tại ở đâu, sau khi chết? Phật nói: A-la-hán bát-niết-bàn, đi vào cảnh
giới vĩnh tịch, với thức vô trụ.
Vô trụ, không đứng vì không có chỗ
đứng, không đứng trên bất cứ cái gì. Một cách diễn tả khác về cảnh giới
mà ta gọi là tuyệt đối. Mỗi sự vật, tự thân là tuyệt đối thể. Chính vì
ta gắn liền hai ấn tượng lại với nhau, sợi tóc và con rùa, thành một
nhất thể mà ta gọi là “tóc rùa.” Cái này được dựng đứng trên cái kia.
Rồi ta đi tìm khắp cả thế gian này một nhúm tóc, hay một sợi tóc của con
rùa để bào chế thành phương thuốc trường sinh bất tử. Trong thế giới
chúng ta đang sống, không có vật thể nào như vậy. Nhưng biết đâu, trong
một thế giới nào đó, rùa có lông và mọc tóc? Cũng vậy, trong thế giới
này, trong pháp luật này, ta gắn hai ý tưởng, bông hoa của Thiên nữ
tuyệt thế kiều diễm trên mảnh y vàng thoát tục của Tỳ kheo, một sự thực
mới xuất hiện, và sự thực ấy không được chấp nhận theo quy ước hiện tại,
trong đời này và trên cõi đời này. Sự thực ấy được quyết định là vật ô
nhiễm. Hai sự thực, hoa trời của Thiên nữ và pháp phục của Tỳ kheo, khi
tồn tại riêng biệt, cái này là vô trụ đối với cái kia, cả hai là những
sự thực vi diệu, vô nhiễm; nhưng khi ghép chung lại, cái này lấy cái kia
làm trụ xứ, chúng trở thành ô nhiễm. Khi một nhà nghệ thuật đi thâu nhặt
đất bùn, đá sỏi, những vật thấp kém, vô nghĩa; ông kết hợp chúng lại với
nhau, nắn thành tượng Thánh. Bấy giờ những gì mà khi tồn tại riêng biệt
bị liệt xuống hàng thấp kém, uế trược, nay được nâng lên, trở thành hiện
thân của Thánh thể tôn nghiêm. Thế thì, thanh tịnh hay ô nhiễm là hậu
quả của một quá trình cấu trúc của nhận thức và tư duy, phối trí lại thế
giới sự vật theo nhu cầu, ước muốn trong một thời gian và cảnh vực nào
đó. Ô nhiễm hay phiền não được gắn lên một thực thể, một nhân cách, như
hạt bụi bám lên gót chân của khách bộ hành: khách trần phiền não.
Thế nhưng, nếu không phải là bàn
tay nghệ thuật tài hoa thì nững thứ đất bùn thấp kém kia khó trở thành
tượng Thánh xứng đáng được tôn thờ. Cũng như, nếu không phải là y sư am
tường dược tính của thảo mộc, thì sự pha trộn cây cỏ nhiều khi trở thành
độc hại chứ không thể là thuốc trị bịnh. Cũng vậy, nếu không phải là bậc
đã chứng tri, thâm nhập pháp tính, thì không thể nói chính xác rằng tham
dục tức bồ-đề, văn tự tức giải thoát: Thiên nữ hỏi Xá-lợi-phất :
“Trưởng lão an trụ giải thoát đã
bao lâu rồi ? Xá-lợi-phất đáp : Câu hỏi được nêu lên không hợp thời.
Giải thoát thì không thể diễn bằng lời. Thiên nữ nói : Tất cả văn tự đều
có đặc tính là giải thoát.”
Sự pha trộn ấy là tai họa như người
ngu dốt tự bào chế thuốc để uống. Nhận thức này là điểm tựa an toàn để
cho ta lắng nghe phát biểu đầy kịch tính của Thiên nữ trước ngài
Xá-lợi-phất: Phật đối với những hàng tăng mạn mà nói giải thoát là thoát
ly khỏi tham dục, thù hận, ngu si. Với người không tăng thượng mạn, Phật
nói tự tính của tham dục, thù hận, ngu si chính là giải thoát.
Mạn ở đây không chỉ có nghĩa là kiêu mạn hay tự phụ, mà là một loại cấu
hình của tâm thức để phán đoán thực tại. Tăng thượng mạn là sự gán ghép
một cách sai làm các thực thể không tương thích mà hậu quả là dẫn đến
tai hại, như gán ghép ý tưởng một thứ sừng nào đó trên đầu con thỏ, lông
trên mai con rùa, để thành ra lông rùa sừng thỏ. Như họa sĩ bất tài vạch
những đường cong, đường thẳng trên trang giấy muốn cho thành hình rồng,
nhưng chỉ để thành hình rắn, hay tệ hơn chẳng ra hình thù gì, chỉ làm
chướng mắt người xem. Tất nhiên, trong thể gian, chỉ một số ít người là
y sư am tường dược thảo tính; một ít người là họa sĩ tài hoa. Ngoài ra,
chẳng khác nào cô hàng xóm bắt chước Tây thi mà nhăn mặt, tưởng là đẹp.
3. Thân như huyễn mộng
“Tâm như công họa sư,”
tâm là một họa sĩ tài hoa, một kiến trúc sư tuyệt vời. Chúng ta thường
nghe Kinh nói như vậy. Nhưng đáng tiếc là thế gian này có rất ít công
họa sư, nên thế giới này luôn luôn bị tìm cách chối bỏ, vì nó xấu xa, ô
trược. Dù vậy, từng thời điểm hiếm hoi những đoa hoa Ưu-đàm xuất hiện để
bố trí lại hình ảnh của thế giới. Vẫn thành, trụ, họai, không trong vòng
quay không biết đâu là điểm khởi đầu. Sân khấu đời trong vòng quay ấy
từng thời điểm thích hợp thay đổi cảnh sắc vui buồn tùy theo sự xuất
hiện của hoa cùng với ánh sáng tỏa chiếu của nó, và tiếp theo là dư
hương phảng phất.
Sự xuất hiện của Thiên nữ trong
trượng thất của Duy-ma-cật là sự thay đổi hoạt cảnh trong kịch trường mà
ta gọi là sân khấu đời. Sự xuất hiện ấy, trong tâm tư của từng khán giả
khác nhau, báo hiệu sự thay đổi giá trị trong cách nhìn và phán đoán.
Như một người chợt phát hiện ta không phải là ta như ta nghĩ từ trước.
Trật tự và giá trị bắt đầu thay đổi. Biến cố này không phải hiếm hoi
trong một đời người. Nhưng ít ai biết được bản lai diện mục của mình để
biết trong mức độ nào ta đã thay đổi. Như người đi trong đêm tối mịt
mùng không nhận thức được những biến thiên của cảnh vật chung quanh,
không biết được ta đang chuyển dịch sang đông hay sang tây. Một tướng
cướp lừng danh, giết người không nháy mắt, bỗng chợt biến đổi thành vị
Thánh nhân mà tấm lòng từ ái, bao dung, đã có thể ảnh hưởng đến một sản
phụ đang hồi nguy kịch được thoát hiểm.
Sự biến đổi ấy được nói là siêu thực, đến mức vô lý. Nhưng chắc cũng
không vô lý hơn khi một người đàn ông chợt thấy mình đang biến thành một
phụ nữ. Sự thay đổi giới tính ấy không phải là điều không từng xảy ra.
Dù vậy, gán ghép hai biến cố lại với nhau, nếu mà vụng về không khéo léo
thì chỉ là gán ghép cho thành lông rùa sừng thỏ.
Một biến cố được gán ghép một cách
vô lý trên tất cả mọi sự vô lý, bất chấp quy ước nhận thức, bất chấp quy
luật của tồn tại, bất chấp mọi giá trị đạo đức ước định; biến cố gán
ghép ấy là khiến Xá-lợi-phất biến đổi thành một người nữ. Đây là điểm
trắc nghiệm gay cấn cho khả năng tư duy phán đoán của ta đối với thực
tại hiện tiền. Trượng thất của Duy-ma-cật như một kịch trường, một sân
khấu trình diễn các màn kịch biến thiên ảo hóa bất thường của thế giới
và nhân sinh.
Sau khi biến cố xảy ra, Thiên nữ
trong hình tượng Xá-lợi-phất đề nghị Xá-lợi-phất trong hình tượng Thiên
nữ hãy hồi chuyển nữ thân, để trở lại bản thân như trước. Nhưng
xá-lợi-phất nói: Tôi không biết hồi chuyển cái gì. Thiên nữ đối đáp,
trong đối đáp ấy cũng minh giải ý nghĩa câu nói của Xá-lợi-phất: “Nếu
Xá-lợi-phất hồi chuyển được thân nữ, thì tất cả người nữ khác cũng hồi
chuyển được thân nữ. Tất cả sẽ có thể trở thành người nam. Như
Xá-lợi-phất bản lai chẳng phải là nữ mà hiện thân thành nữ. Hết thảy
người nữ có thân nữ cũng vậy, tuy chẳng phải thân nữ mà hiện thân nữ.
Cho nên, Phật mật ý nói: tất cả các pháp chẳng phải nam chẳng phải nữ.
Có lẽ trong tất cả chúng ta chưa ai
một lần trong chiêm bao, dù chỉ là trong chiêm bao, tự thấy mình thay
đổi giới tính để chiêm nghiệm xem tâm tư tình cảm của mình lúc đó như
thế nào. Tất nhiên tình cảm trong chiêm bao cũng chỉ là sự hồi tưởng của
tình cảm thường nhật lúc thức. Cho nên, chúng ta khó có thể minh giải
với chính mình, cho chính mình, thế nào là cảm nghiệm tự thân về ý nghĩa
bình đẳng giới tính. Thế thì lại càng khó hơn nữa để chứng nghiệm ý
nghĩa bình đẳng pháp tính.
Sau khi phục hồi bản vị, Thiên nữ
hồi chuyển thân nam trở lại nữ; Xá-lợi-phất hồi chuyển thân nữ trở lại
nam; Thiên nữ hỏi: Thân nữ đã được tạo tác mới trước đó bây giờ đã đi
đẩu rồi? Xá-lợi-phất đáp: Không có cái gì được tạo tác, cũng không có
cái gì được biến hóa tác. Thiên nữ kết luận: tất cả các là pháp là như
vậy, không có cái được tạo ra, không có cái được biến tác ra; không có
sự tạo tác và không có sự biến hóa tác. Đức Phật đã nói như vậy. Từ đó
mà biết rằng những gì được Như Lai biến hóa ra, hóa thân của Như Lai,
vốn không diệt không sinh; không có sự chết và sự tái sinh. Cho đến,
không có sự chứng đắc Thánh quả của Xá-lơi-phất. Ý nghĩa của những điều
này không phải là ít gặp trong Kinh Phật; nhưng ta thử một lần tự thấy
mình thay đổi tự thân, để chiêm nghiệm ý nghĩa hiện thực của những điều
ấy là thế nào. Hãy đến để tự mình thấy.
|