|
HUYỀN
LUẬN DUY-MA-CẬT
Tuệ Sỹ [MỤC LỤC]
CHƯƠNG IX:
CỬA VÀO BẤT NHỊ
I. NHẤT NGUYÊN TUYỆT ĐỐI
Về mặt nhận thức, chương này là tâm
điểm của toàn kinh.
Tông chỉ của kinh là “Tịnh Phật
quốc độ, thành tựu chúng sinh.” Trừ chương đầu, nơi mà tông chỉ ấy được
nêu, còn lại, kể từ phẩm “Phương tịên” cho đến phẩm “Phật đạo” ngay trên
đây, các đối thoại thường được nhận thức với nội dung thuần lý thuyết
hay triết lý. Chính vì vậy mà các chú giải Duy-ma-cật
thường đi sâu vào các phân tích tư duy triết lý, nhiều khi trở thành hý
lộng ngôn từ. Nếu thảng hoặc có đưa vào thực tế, thì nó cũng tạo dựng
nên một hạng người ngông cuồng. Phẩm “Bất nhị pháp môn” này, với nhận
thức dung tục, đã là cứ điểm cho các thứ hành vi và lý luận ngông cuồng
như vậy.
Để có một cơ sở nhận thức vững vàng
về nội dung của phẩm này, về mặt hình thức, chúng ta cần liên hệ lại
chuỗi mạch lạc của kinh trong các phẩm trước. Tất nhiên, sự phân tích
chương mục của kinh thuộc phần giới thiệu kinh văn tổng quát, chứ không
phải ở đây.
Trong các chương chúng ta đã đọc từ
trước, khởi điểm hành trì của kinh, như Duy-ma-cật giới thiệu cho những
người thân thuộc của ông từ trên giường bịnh, là tập trung quán sát trên
bản chất và giá trị tồn tại của sắc thân; của chính thân thể này, như là
công cụ cho con người hưởng thụ dục lạc, nhưng cũng chính nó là kẻ thù
mang đến cho con người nhiều tai họa. Cho đến phẩm “Phật đạo,” mà điểm
tập trung vẫn ngay trên chính sắc thân này. Đoạn đường tu tập ấy trải ra
rất dài. Cho đến khi, ngay chính trên sự tồn tại của bản thân này mà
phát hiện ra chủng tánh của Như Lai, bấy giờ người tu tập chuẩn bị bước
vào cánh cửa của pháp bất nhị. Nói một cách hiện thực, chỉ khi nào người
ấy được xác nhận là kẻ duy nhất thừa hưởng gia tài vĩ đại, bấy giơ mới
có thể mặc tình phung phí tài sản. Tất nhiên là người khôn ngoan không
hề phung phí theo hướng khánh tận. Cho nên, với Duy-ma-cật, thì phòng
trà, quán rượu, chẳng đâu không phải là thanh tịnh đạo tràng. Bởi vì ông
thực sự đã là người kế thừa quốc độ thanh tịnh của Phật. Cho nên, bằng
pháp bất nhị, ông thể hiện du hí thần thông tam muội, rong chơi suốt
trong sáu nẽo luân hồi mà không uý kỵ. Vậy thì, rốt lại, pháp bất nhị ấy
là gì?
Đối với câu hỏi của ông, một Bồ tát
trả lời: sinh và diệt là hai. Không sinh, không diệt, thấy được chân lý
này, đó là cánh cửa đi vào pháp bất nhị. Sinh và diệt, là quy luật của
tồn tại. Đạt đến thực tại không sinh, không diệt, trong ý nghĩa mà vị Bồ
tát này nói không phải là đi vào thế giới vĩnh cửu ở đó cái ta nhỏ bé
giới hạn trong không gian bít kín được hòa tan, thể nhập vào cái Ta vô
hạn, là cái Ta của Thực tại Nhất nguyên tuyệt đối.
Ở đây, trong bối cảnh chung, nhìn
từ khát vọng nghìn đời của nhân sinh, Duy-ma-cật xuất hiện trước chúng
hội Bồ tát như một triết gia mà trong nội giáo thì kế thừa truyền thống
tư duy của Bát-nhã, mà bên ngoài ông cũng không có vẻ xa lạ với các đạo
sỹ tụng đọc Áo nghĩa thư, đi tìm tự ngã chân thật của mình, để tự trả
lời “Ta là ai?” Rõ ràng, trong đây có một cái tôi. Cái tôi ấy nhận thức,
tư duy, đau khổ, hạnh phúc; cái tôi biết thương yêu, biết thù hận.
Nhưng, quả thật, sắc này, thân xác như đống bọt nước, và cả tâm thức này
cũng chỉ là bóng dáng huyễn thuật, vậy ta còn gì, hay ta là cài gì khi
tất cả những thứ đó tan rã? Cái tôi ấy bây giơ ở đâu? Một hạt muối thả
vào trong một bát nước; muối tan rã, không còn tìm thấy đâu nữa. Thế
nhưng, bất cứ giọt nước nào bấy giờ cũng hàm vị mặn. Muối tan đi theo
danh và sắc, nhưng vẫn còn cái gì đó, trong tinh thể của muối, không tan
rã. Vậy rồi, trong quá trình đi tìm tự ngã, đạo sỹ Áo nghĩa thư hỏi: cái
này là tôi chăng? Không phải. Cái kia là tôi chăng? Không phải. Không có
bất cứ cái gì là chính ngươi và của ngươi mà ngươi có thể thấy, nghe,
ngữi, nếm đó. Tài sãn này, không phải của ngươi. Tất cả cái đó không
phải là những gì để cho ngươi yêu quý, nhưng ngươi yêu quý tất cả chỉ vì
đó chính là tự ngã.
Có một tự ngã thường nghiệm, bị nhốt kín trong thân xác này như một nhúm
hư không bị bít kín trong hũ sành. Và có một tự ngã siêu việt, trường
cữu, không sinh không diệt. “Thân thể này vốn là hữu hạn. Nhưng cái sở
hữu thân thể này thì thường tồn, bất diệt.”
Người hiểu được điều đó, không còn gì sợ hãi. Một dũng tướng trên bãi
chiến trường, tự vũ trang cho mình bằng nhận thức như vậy để có thể
chiến đấu không do dự, vì nhận thức rằng, “Cái không hề được sinh, không
hề bị chết; cái vốn đã không hiện hữu, và cũng sẽ không hiện hữu; cái
không sinh, thường tồn, vĩnh cửu, cái ấy, khi thân này bị giết, không hề
bị giết.”
Điều đó cũng tương tự như khi
Văn-thù hỏi Trưởng giả Duy-ma-cật, Bồ tát hành đạo giữa sinh tử nguy
hiểm, phải nương tựa vào đâu? Duy-ma-cật đáp, “Nương tựa nơi Đại Ngã của
Như lai.” Đại Ngã ấy là gì? Nhà Áo nghĩa thư trả lời: tất cả là cái này.
Toàn thể vụ trụ này là Đại Ngã; là cái mà biết được nó, là biết tất cả.
Đó là cái “bất nhị, bất tử, vô thủy, vô biên…”
Ai nương tựa trên cái Đại Ngã đó, người ấy giải thoát khỏi sự già và
chết, vì người ấy nhận thức được Đại Phạm thiên, và tất cả những gì là
tự ngã nội tại cùng với tất cả nghiệp của nó.
Cái đó có phải là Đại Ngã của Như
Lai không?
Trên hội Lăng-già, Bồ tát Đại Huệ
hỏi Phât: Như lai tạng mà Thế Tôn nói đến trong các Kinh, là thường
hằng, kiên cố, diệu lạc, thường trú; thuyết về Như lai tạng ấy há không
tương đồng với thuyết Tự ngã của các ngoại đạo? Phật nói, Như lai tạng
mà Ta đề cập không tương đồng với thuyết Tự ngã của các ngoại đạo. Như
lai tạng mà Như Lai mô tả bằng các phạm trù ý nghĩa như tính Không, Thật
tế, Niết-bàn, Vô sinh, Vô tướng, Vô nguyện, là nhắm để những kẻ ngu loại
trừ nỗi sợ hãi về vô ngã.
Thế nhưng, người học Phật không tìm
thấy tồn tại một tự ngã nào như vậy ngoài đống tập hợp năm uẩn. Năm uẩn
này tan rã, thúc đẩy sự phát sinh của năm uẩn khác, như từng con sóng xô
nhau ngoài đại dương, tạo thành ảo ảnh về một tự ngã thường hằng tồn tại
bên dưới hay bên trong tất cả những vô thường biên đổi ấy. Không chấp
nhận tự ngã thường hằng, cũng không chấp thủ quan điểm đoạn diệt, hư vô.
Vì vậy, những điều Phật nói, trong một giới hạn khả dĩ của tư duy suy
lý, có thể diễn dịch thành sự xác nhận tồn tại một tự ngã, mà cũng có
thể tuyệt đối phủ định sự tồn tại như vậy. Đó là sự sai biệt giữa hai
tầm nhìn: nhìn từ tục đế và nhìn từ chân đế. Tức thực tại được quán
chiếu trong tương quan hiện hữu, hay trong Thật tế Chân như. Chỉ là cách
nhìn hay hương nhìn sai biệt, thực tại vẫn như thế đó. Nghĩa là, đó vẫn
là hiện hữu của năm uẩn liên tục tiếp nối sinh diệt, là trường cho các
hoạt động thiện, ác, mang tính hữu lậu hay vô lậu, nhiễm hay tịnh. Cho
nên, Thiên nữ trình bày với Trưởng lão Xá-lợi-phất: dâm dục, thù hận,
cuồng tín, những thứ phiền não đó chính là giải thoát. Nhưng đó là một
thang thuốc mà hoạt tính của thuốc cực mạnh và liều lượng khá cao, không
thể để phục dược cho những người mà cơ thể không đủ khả năng dung nạp.
Nói cách khác, phiền não chính là
Bồ-đề, những nguy hiểm đang sợ hãi của sinh tử cũng chính đó là Niết-bàn
an ổn. Sợi dây bị tưởng nhầm là con rắn, nhưng không phải hủy diệt sợi
dây để diệt trừ ảo giác gây nên sợ hãi. Ngoài những gì vô thường được
thấy, được kinh nghiệm bằng chính mắt tai mũi lưỡi này, không tồn tại
một thế giới chân thường, đại lạc hay đại ngã nào khác. Đó chính là thực
tại nhất nguyên tuyệt đối.
II. TỪ SỰ IM LẶNG CỦA PHẬT
Trên cánh đồng Kurukṣetra, dũng
tướng Arjuna cùng với Kṛṣṇa, người điều khiển chiến xa, tập họp quân
đội, chuẩn bị một cuộc chiến quyết liệt. Khi tù và của cả hai cánh quân
vang lên, trống thúc quân bất đầu trổi, Arjuna nhìn lại bên kia phía đối
địch, đấy tất cả đều là những thân thích, những bằng hữu của mình; và cả
hai sẽ bắt đầu cuộc chiến huynh đệ tương tàn, Arjuna chợt tiêu tan ý chí
quyết thắng, toàn thân ông run lên, lông tóc dựng đứng, cây cung thần
Gāṇḍiva đang tuột khỏi tay, toàn thể da đang bốc cháy: Vương quốc để làm
gì; hạnh phúc, và cả sự sống này là gi; tất cả có ý nghĩa gì để những
người thân thích này phải tàn sát nhau?
Quả thật, khó có thể mô tả đầy xúc
động hơn thế về nỗi xung đột kinh hoàng của một nhân cách phải chọn lựa
giữa nhân giới và thiên giới, giữa nghĩa vụ tôn giáo thiêng liêng và
tình cảm tục lụy của con người; giữa thế giới vô thường, biến dịch, như
huyễn, như mộng; và thực tại siêu việt chân thường, vĩnh cửu; giữa cõi
đời tử sinh và cõi vĩnh hằng bất tử.
Từ chối trần gian, khước từ mọi giá
trị được xem là thấp kếm của trần gian, để dâng hiến tất cả cho nghĩa vụ
tôn giáo thiêng liêng, cho mệnh lệnh thiêng liêng được ban bố từ trên
cao, mà chắc là con người không rõ đó là mệnh lệnh gì, và của ai. Nhưng
đức tin và nghĩa vụ bắt buộc con người phải phục tùng. Đó như là giao
ước nguyên thủy giữa con người với uy lực vô hình khi ngước mắt nhìn lên
cao; cái vô hình trống không, vô hạn, nhưng đầy đe dọa bởi những cơn sấm
chớp bất ngờ đầy kinh hoàng như là đấng Chí tôn cao cả đang trút cơn
thịnh nộ. Cho nên, khi Thiên chúa phán với Abraham: Hãy mang đứa con một
của ngươi là Isaac, mà ngươi yêu quý nhất, đi đến xứ Mori'-ah, lên một
ngọn núi mà Chúa sẽ chỉ định, để hy sinh. Abraham phục tùng ý Chúa. Đấy
là sự thử thách của Thiên chúa đối với con người. Nhưng từ góc cạnh tâm
lý khác, có lẽ huyền thoại này cũng là một trong những mô tả xung đột
nội tâm gay gắt của con người nơi đức tin tôn giáo, giữa khước từ và
chấp nhận đối với trần gian và Thiên quốc.
Vậy thì, ngoài cái tự ngã thấp hèn
này, nhiều ham muốn, nhiều xấu xa, ô nhiễm này, có chăng thực sự tồn tại
một tự ngã vinh quang? Ngoài cái thế giới vật chất chứa đầy cám dỗ truỵ
lạc này, có thực tại siêu việt nào khác, thường hằng và vĩnh cửu?
Một thời, du sỹ Vacchagotta đến hỏi
Phật: tự ngã tồn tại chăng? Phật im lặng. Lại hỏi: tự ngã không tồn tại
chăng? Phật cũng im lặmg. Vacchagotta không được trả lời thỏa mãn, bèn
đứng dậy bỏ đi. Sự im lặng của Phật được giải thích như là tri kiến siêu
việt các quan điểm chấp thường và chấp đoạn. Và tất nhiên, nếu Phật trả
lời có ngã thì trái với điều Phật thường dạy các tỷ kheo. Nếu Phật nói
không có tự ngã, Vacchagotta tất phải bàng hoàng mà nói rằng, “Trước
kia, tôi có một tự ngã. Bây giờ thì không có nữa.”
Người chỉ mất một vương quóc mà phải tự sát, huống là mất luôn cả “cái
tôi”, thì sự mất mát này không phải tầm thường.
Tồn tại hay không tồn tại một tự
ngã thường hằng, đó là vấn đề tranh luận ngay cả trong nội bộ các trường
phái Phật giáo. Nhưng, như Thế Thân khẳng quyết, ngoài đây ra không còn
con đường dẫn đến giải thoất nào khác, vì tin tưởng một cách sai lầm về
sự tồn tại của một tự ngã. Tự ngã mà các học thuyết chủ trương chỉ là
chuỗi tiếp nối liên tục không gián đoạn của các uẩn sinh diệt trong từng
sát na. Ngoài các uẩn ấy ra, không thực hữu một tự ngã nào nữa. Vậy thì
đâu là Bản thể Nhất nguyên, đâu là Nhất thể Tuyệt đối để làm chỗ tựa
vững chắc cho chúng sinh trong thế giới vô thường, biến dịch đáng kinh
hoàng này?
Rồi một hôm, tỳ kheo Māluṅkya đến
hổi Phật: Thế giới thường hằng hay không thường hằng, hữu hạn hay vô
hạn, linh hồn với thân xác là một hay là khác. Như lai tồn tại hay không
tòn tại sau khi chết. Ông yêu cầu Phật trả lời xác định, 16 vấn đề mang
tính siêu hình này. Nếu Thế tôn thấy và biết thì nói thấy và biết. Nếu
không, trả lời là không. Nếu các vấn đề này không được giải thích thỏa
mãn, tỳ kheo này cảnh báo sẽ từ bỏ phạm hạnh này, sẽ không theo Phật
nữa. Nhưng Phật cũng không trả lời.
Trên 25 thế kỷ sau, vẫn còn những
cuộc tranh luận đông tây về ý nghĩa chân thực của sự im lặng mang tính
lịch sử trong lịch sử tư tưởng triết học và tôn giáo của nhân loại này.
Một lần khác, Vacchagotta lại đến
gặp Phật, cũng nêu lên 16 vấn đề như Māluṅkya và hỏi Phật có quan điểm
thế nào để tuyên bố “Đây là sự thực, ngoài ra là hư dối.” Phật trả lời,
Ngài không có quan điểm gì để tuyên bố như vậy. Phật giải thích, quan
điểm thế giới vĩnh hằng hay không vĩnh hằng, hữu hạn hay vô hạn, v.v… Đó
là rừng rậm của kiến chấp, là hoang mạc của kiến chấp, là sự trói buộc,
là xiềng xích, dẫn đến khổ não, ưu phiền; không dẫn đến an ổn, tịch
tĩnh, an lạc; không dẫn đến chính trí, Niết-bàn. Vì thấy sự nguy hiểm
như vậy nên Phật không chấp thủ các kiến giải như vậy.
Nếu vậy, nếu các quan điểm có xu
hướng giáo điều và thường dẫn đến những tranh luận vô ích và nguy hiểm
như vậy, thì do bởi đâu mà chúng được nêu lên? Phật dạy, “Này các tỳ
kheo, do có sắc, do chấp thủ sắc, do tham luyến sắc, mà kiến chấp này
khởi lên: Thế giới là thường hằng.”
Vậy thì, ngoài các uẩn sinh diệt vô
thường này không tồn tại thực tại tối hậu thưòng hằng vĩnh cửu nào khác.
Long Thọ nói, “Thực tế của Niết-bàn cũng chính là thực tế của sinh tử.
Giữa hai, hoàn toàn không có một chút khác biệt nào.”
Đấy là vì, chính sinh tử là Nhất thể tuyệt đối, không hề khác biệt với
Niết-bàn. Không thể nhận thức phân biệt đâu là khởi thủy.
Cho nên, Bồ tát quán chiếu thế giới
và chúng sinh vốn như mộng, như huyễn, mong manh bất thực, không phải để
sợ hãi mà chối bỏ nó; mặc dù khi bắt đầu tu tập quán chiếu, kinh sợ
thường khởi lên. Bồ tát quán chiếu để thấy rõ bản chất tồn tại mà chấp
nhận nó. Chính hiện tượng sinh diệt này là thực tại tối hậu không sinh
không diệt, Bồ tát chấp nhận thực tại vô sinh, gọi là chứng đắc vô sinh
pháp nhẫn để từ đó tâm tư không còn dao động giữa sinh tử và Niết-bàn.
Bồ tát lên đến Bất động địa.
Khởi sự, Bồ tát cũng như các đạo sỹ
Áo nghĩa thư, chiêm quan mọi hiện tượng biến ảo, và nêu lên câu hỏi: tất
cả cái này là gì? Bồ tát không tìm câu trả lời rằng cái này là Đại Phạm,
là Tự ngã vĩnh hằng. Nhưng chiêm nghiệm, quán chiếu vào bản chất, thấy
rằng cái này, tức là cái
mà các đạo sỹ Áo nghĩa thư chỉ vào để khám phá một Bản thê tuyệt đối ẩn
kín sau đó, tồn tại trong quan hệ với cái kia, “cái này có, cái kia có;
cái này không, cái kia không. Cái này sinh, cái kia sinh; cái này diệt,
cái kia diệt.”
Do yếu tính tồn tại của mọi hữu thể trên đời này là như vậy, cái này
nương tựa cái kia mà không một cái gì là tự thể tự hữu. Yếu tính đó là y
tha duyên khởi, sâu kín, khó thấy, Chính tự tính y tha duyên khởi ấy là
khó thấy, khó biết; mà cũng khó thấy, khó biết, là sự tĩnh chỉ của các
hành, sự xả ly của căn cơ tồn tại, sự tận diệt của khát ái, ly tham,
tịch diệt, Niết-bàn.
Các nhà Duy thức nhận thức y tha
tính ấy qua hai phương diện giả và thực. Vì yếu tính tồn tại là tương y
tương quan, và khi chúng được phân bố theo dạng thái nào đó bởi vọng
tưởng phân biệt, tính chân thực biến mất để chỉ cho xuât hiện cái giả.
Người ta đem hình sợi dây gắn vào con rắn, để rồi phát sinh sợ hãi, khi
ấy tự thể của sợi dây bị che khuất mất. Nó bị che khuất bởi ảo giác vọng
tưởng của thức mà thôi, chứ tự thể của nó vẫn tồn tại đó không hề thay
đổi. Cho nên, sợi dây mà tự tính của nó là y tha, khi được nhận thức như
là con rắn, bấy giờ nó là cái bị phân biệt bởi vọng tưởng, là ảo ảnh của
thực tại. Duy thức gọi đó là biến kế sở chấp. Nhưng, dù bị nhận thức sai
lầm về tự thể của nó, sợi dây vẫn y nhiên tồn tại như là sợi dây, chân
thực như nó chính là nó. Sợi dây ấy tồn tại với tính viên thành thực của
nó, tồn tại như là thực tại tuyệt đối, vần sờ sờ ra đấy, chưa hề biến đi
đâu mất.
Cũng vậy, thế giới này sinh diệt, hay đoạn hay thường, đều là những gán
ghép do phân biệt vọng tưởng. Thế giới luôn vẫn tồn tại đó, ngay trong
dòng sinh diệt liên tục đó. Chính thế giới ấy là Như thực tính, là Nhất
thể tuyệt đối, không có thế giới riêng biệt nào khác của Nhất thể tuyệt
đối.
Ngay nơi tồn tại y tha ấy, nơi tồn
tại trong lý tính duyên khởi ấy, Long Thọ nói, cái gì là duyên khởi
chính cái đó là tính Không. Tính Không ấy do y trên giả danh, nên chính
nó cũng là Trung đạo.
Trung đạo, đó cũng là Nhất thể tuyệt đối, bởi vì nó chính là tính Không,
được định nghĩa như là tự tính không sinh khởi của tất cả tồn tại, loại
trừ hai thái cực, siêu nhị nguyên đối đãi của hữu thể và vô thể.
Cho nên, mở đầu
Trung luận, Long Thọ tôn kính Phật
trong ý nghĩa là vị Chính giác đã thiện xảo một cách tuyệt vời tuyên bố
lý tính duyên khởi. Mà lý tính duyên khởi ấy vốn không là cái diệt tận,
không là sinh khởi; không là gián đoạn, không là thường hằng; không là
nhất thể, không là đa thù; không từ đâu đến, cũng không đi về đâu. Chính
lý tính duyên khởi ấy là diệu lạc của Niết-bàn, là tĩnh chỉ của mọi hý
luận.
Cái thế giới hý luận mà Long Thọ
nói đến đó, không chỉ thuần là thế giới của tranh biện thuyết lý. Đó là
thế hiện thực được cấu trúc bằng tư duy phân biệt, với mô tả vô số đăc
tính, sai biệt và đối lấp, như thường và vô thường, hữu hạn và vô hạn.
Hãy rõ hơn như trong bài kệ bát bất: sinh, diệt, đoạn, thường, nhất, dị,
lai, xuất. Lý tính duyên khởi, là nguyên lý mà từ đó vũ trụ xuất hiện,
tồn tại, với vô vàn sai biệt của nó, chính lý tính duyên khởi ấy hiển
thị bản thể tĩnh chỉ của tất cả tồn tại. Tĩnh chỉ, vì không có xung dột
mâu thuẫn giữa cái Nhất thể và cái đa thù. Đó là thế giới mà như luận
Trí độ
nói: ngôn ngữ đoạn tuyệt, tâm hành vắng, bất sinh bất diệt, pháp như
Niết-bàn.
Chính nơi đó phiền não ô nhiễm không hiện hành, sự sinh hay tái sinh
không có mặt; cho nên duyên khởi cũng chính là diệu lạc Niết-bàn.
Kết luận phẩm “Quán Niết-bàn”, Long
thọ nói, “Sự tĩnh chỉ tất cả sở đắc, sự tĩnh chỉ hý luận, là diệu lạc.
Phật đã không hề nói pháp, bất cứ ở đâu và cho bất cứ ai.”
Để minh giải ý nghĩa bài tụng này,
Candrakīrti dẫn Āryatathāgataguhya: “Này Śāntamati, kể từ đêm Phật thành
đẳng chính giác cho đến đêm ngài nhập Niết-bàn, trong khoảng trung gian
đó Phật chưa hề nói một tiếng. Nhưng vì hết thảy chúng sinh, Tùy theo
căn cơ, tùy theo ý hướng, chúng tưởng rằng Phật đã thuyết nhiều kinh
nhiều nơi khác nhau. Mỗi mỗi chúng nghĩ rằng, Đây đức Thế tôn dạy chúng
ta pháp này. Chúng ta nghe giáo pháp của Như lai. Nhưng Như Lai không
phân biệt, không vọng tưởng phân biệt. Bởi vì Như lai đã diệt trừ hý
luận vốn như là cái lưới bũa trùm tất cả phân biệt và vọng tưởng phân
biệt.”
III. THỂ NHẬP TUYỆT ĐỐI
1. Ba cấp thực tại
Theo yêu cầu của Duy-ma-cật, 31 Bồ
tát lần lượt trình bày các kiến giải khác nhau dẫn vào bất nhị môn, hay
thực tại nhất thể tuyệt đối. Tổng quát, như vậy có tất cả 33 trần thuật
theo yêu cầu, và được chia thành ba nhóm. Hoặc nói, hoặc không nói, thảy
đều dẫn đến chỗ vô ngôn tịch mặc. Tùy theo cách tiếp cận, trình độ cao
thấp, hay sâu cạn giữa các trần thuật có khác nhau. Các cách tiêp cận
này, hoặc theo phương pháp luận của tam giai giáo;
hoặc thể hiện bằng quán hạnh theo tam đế tam quán.
Tổng quát hơn, có thể tiếp cận bằng ba phương diện thể nhập thực tại:
cảnh hay thực tại thể nhập và đó cũng gọi là thực tướng của Bát-nhã; trí
hay sự quán chiếu thực tại tức quán chiếu Bát-nhã; và giáo tức phương
tiện hiển thị hay văn tự Bát-nhã. Ba phương diện này liên hệ với phương
pháp luận về Đại thừa của Đại thừa khởi tín,
theo đó, Đại thừa được lý giải và thể chứng qua ba phương diện: thể,
tướng và dụng.
Tam giai giáo, là giáo pháp được
phân thành ba bậc cấp theo thứ tự từ thấp lên cao. Trong đối thoại về
bất nhị môn này, sự im lặng của Duy-ma-cật được nhận thức là cao nhất,
là diễn tả tuyệt vời nhất về bất nhị. Thấp xuống một bậc là Bồ tát
Văn-thù. Tuy nói rằng, bất nhị là thực tại siêu việt ngôn ngữ, nhưng
Văn-thù vẫn còn phải vận dụng đến ngôn ngữ. Thấp nhất là các Bồ tát. Nếu
nhìn từ một hướng khác, nếu không có minh giải của Văn-thù, sự im lặng
của Duy-ma-cật trở thành vô nghĩa. Cho nên, điều vi diệu ở đây là nói
lên được cái không thể nói. Trước sự im lặng của Duy-ma-cật là diễn đạt
của Văn-thù. Sau sự im lặng của Duy-ma-cật cũng là sự diễn đạt của
Văn-thù. Cả hai, Thánh mặc nhiên và Thánh ngôn ngữ, đều cùmg hiển thị
một thực tướng duy nhất, là thực tướng ly ngôn.
Khi chú giải đoạn này,
Cưu-ma-la-thập thuật lại đối thoại giữa Hiếp Tôn giả và Mã Minh. Trước
khi theo Phật, Mã Minh là một Đại luận sư danh tiếng. Nhân nghe tiếng
của Hiếp Tôn giả, bèn tìm đến thách thức luận chiến, và đặt cược bằng
chính thủ cấp của mình. Mã Minh dẫn chúng đệ tử đến trước Hiếp Tôn giả,
nêu luận điểm tranh luận: “Tất cả ngôn ngữ đều có thể bị phủ định.” Hiếp
Tôn giả im lặng. Mã Minh không nhận được trả lời hay tranh luận của Hiếp
Tôn giả, cho rằng ông này đã thua, bèn sinh tâm kiêu mạn: Hiếp Tôn giả
này chỉ là hư danh, vì không bác bỏ nổi luận điểm của mình. Một thời
gian sau, khi tự mình chiêm nghiệm vấn đề, Mã Minh chợt khám ra lẽ và
gọi chúng đệ tử đến bảo: “Thật sự ta đã thua Hiếp Tôn giả. Vì luận điểm
nói, “Tất cả ngôn ngữ đều có thể bị phủ định.” Vậy chính tiền đề đó tự
thân đã bị phủ đinh rồi. Hiếp Tôn giả không nói gì, tất nhiên không có
gì để bị phủ định.” Rồi Mã Minh đến, theo đúng giao ước, để giao nộp thủ
cấp cho Hiếp Tôn giả. Nhưng Hiếp Tôn giả nói, “Tôi không cần cắt thủ cấp
của ông, mà chỉ cần cắt tóc của ông thôi.” Từ đó, Mã Minh thờ Hiếp Tôn
giả làm thầy. Tất nhiên, về sau trở thành đại luận sư của Đại thừa. Thế
có nghĩa là sau sự im lặng, Mã Minh lại nói, và lại còn nói nhiều nữa.
Tất nhiên, về phương diện lý giải,
giữa nói năng và im lặng, thì sự im lặng là trình độ diễn đật cao sâu
hơn. Cho nên, sau khi tường thuật chuyện Hiếp Tôn giả, Cưu-ma-la-thập
kết luận: “Nói và im tuy khác nhưng minh tông thì một. Điểm hội tụ là
duy nhất, nhưng dấu đi đến có tinh có thô. Nói ở nơi cái không nói, tất
chưa bằng không nói nơi cái không nói. Cho nên, luận bằng sự im lặng là
chỗ vi diệu của luận vậy.”
Cát Tạng khi minh giải đoạn nhập
bất nhị này bằng thuyết tam giai
đã một phần y trên học thuyết của Pháp hoa, lấy bản và tích là nền tảng.
Bản hay căn bản thực chứng, là
thực tại được chứng ngộ, mà từ đó mở ra lối đi cho người còn mê muội, đó
gọi là tích hay dấu chân. Như
vậy, nếu không có căn bản thực chứng thì chẳng thể y vào đâu để mở lối
chỉ đường. Nhân bởi lý tính thực chứng mà diễn xuất giáo pháp để hội
nhập. Giáo mà như lý, thì giáo ấy là vô ngôn. Giáo mà xứng lý, giáo ấy
vốn vô tượng. Bằng cái vô ngôn để diễn đạt được chính cái vô ngôn; bằng
không biểu tượng để chỉ bày cái vốn không biểu tượng. Thành ra, giữa sự
nói và không nói vốn đã có sự cao thấp, sâu cạn khác nhau.
Y theo kinh văn mà nói, các Bồ tát
giới thiệu giáo nghĩa bặt dấu nhị biên nêu rõ lý bất nhị. Nhưng giáo
nghĩa ấy chưa hiển được lý tính vô ngôn, cho nên Văn-thù thuyết minh về
vô ngôn của lý bất nhị. Cuối cùng, Duy-ma-cật bằng sự im lặng mà hiển vô
ngôn của lý bất nhị, tức hiển thị vô ngôn bằng chính vô ngôn.
Thuyết tam giai phân các trần thuật
về bất nhị thành ba bậc. 31 vị Bồ tát y trên ngôn ngữ để lý giải thực
tướng, từ đó mà đi vào bất nhị. Đó là cấp khởi đầu, bậc thấp nhất, cạn
nhất. Văn-thù chỉ rõ thực tại bất nhị vốn vô ngôn, nhưng ngài vẫn y trên
ngôn ngữ để diễn đạt. Duy-ma-cật soi chiếu thẳng vào thật lý vô ngôn
bằng chính vô ngôn. Đó là bậc thang cao nhất. Thành ra, giáo, để mở lối
dẫn vào, cần phải có ba cấp, mà lý để thể nhập chỉ là một, tức là Nhất
thể tuyệt đối. Ở đây, thuyết tam giai giáo cũng nêu lên nạn vấn:Văn-thù
phải nhờ đến ngôn ngữ để điễn đạt cái vô ngôn nên chưa phải là cực đỉnh.
Nhưng sự im lặng của Duy-ma-cật dầu sao cũng là một thái độ, tức vần là
hữu tướng. Thế thì, Duy-ma-cật bằng cái hữu tướng để hiển bày cái vô
tướng có gì là cao hơn Văn-thù bằng vào hữu ngôn để diễn tả cái vô ngôn?
Cát Tạng giải thích, Văn-thù bằng hữu ngôn để chỉ cái vô ngôn, và cũng
bằng hữu tướng để chỉ cái vô tướng. Điều này có nghĩa là sự im lặng của
Duy-ma-cật chỉ là sự im lặng, không là biểu tượng cho thái độ hay quan
điểm gì. Chính Văn-thù đã minh giải sự im lặng ấy như là dấu hiệu chỉ
thẳng vào thực tại bất nhị. Cho nên, tự yếu tính của nó, sự im lặng của
Duy-ma-cật chính là vô tướng, không hiển thị hay biểu tượng bất cứ điều
gì. Như vậy, Duy-ma-cật đã bằng vô tướng mà dẫn thẳng váo vô tướng.
Nếu phân cấp theo bốn thời thuyết
giáo của Thiên thai tông,
các phẩm kinh về trước chứa đựng giáo pháp cho Bồ tát hàng thông giáo,
tức giáo nghĩa chung cho cả ba thừa. Bồ tát hàng thông giáo đi vào bằng
giáo nghĩa nhị đế hữu tác, là chân lý vẫn trong phạm vi hữu hạn của tư
duy suy lý. Đến đây, họ được dẫn vào biệt giáo, là giáo nghĩa riêng biệt
cho Bồ tát, để thấy rõ lý thể Trung đạo. Trong đây, giáo nghĩa được
thuyết minh bởi 31 Bồ tát đều thuộc biệt giáo, bằng cái hữu ngôn mà đi
vào cái vô ngôn. Văn-thù hiện thị vô ngôn bàng vô ngôn. Với Duy-ma-cật,
vô ngôn của vô ngôn. Cả hai vị này đều khai thị giáo nghĩa của viên giáo
bằng Thánh thuyết pháp và Thánh mặc nhiên. Thánh trong ý nghĩa này chính
là Trung đạo. Phát biểu của Văn-thù là Thánh thuyết pháp bất tư nghị. Sự
im lặng của Duy-ma-cật là Thánh mặc nhiên bất tư nghị.
2. Bốn lớp nhị
đế
Về quan hệ giữa ngôn thuyết và im
lặng này, Cát Tạng nói, “Phật dạy các đệ tử thường hành hai sự: Thánh
thuyết pháp và Thánh mặc nhiên. Thuyết về thật tướng pháp, đó là Thánh
thuyết pháp. Quán chiếu thật tướng lý, đó là Thánh mặc nhiên. Rồi lại từ
thật tương quán mà nói thật tướng pháp; và rồi từ thuyết thật tương pháp
lại nhập thật tướng quán. .. Sự im lặng của Duy-ma-cật được hiển lộ bằng
thuyết minh của các Bồ tát. Sự thuyết minh của các Bồ tát được làm rõ
bằng sự im lặng của Duy-ma-cật. Ý nghĩa là như vậy.”
Mối quan hệ ấy, trong tự tính, là
hai mặt của một thực tại duy nhất. Đó cũng là ba phương diện của
Bát-nhã: thực tướng Bát nhã hay tự thể của Thực tại tuyết đối; quán
chiếu Bát-nhã, thực tại như là thực tại được chứng nhập; và văn tự
Bát-nhã, thực tại được biểu thị bằng ngôn thuyết và biểu tượng như ngôn
ngôn thuyết. Tuy nhiên, về mặt nhận thức, thực tại luôn xuất hiện như là
thực tại tùy theo trình độ nhận thức.
Căn bản mà nói, thực tại hoặc được
nhận thức như là chân lý quy ước hay tục đế, và thực tại được nhận thức
như là chân lý tuyệt đối hay chân đế. Như nói, thực tại sinh diệt là
chân lý được kinh nghiệm bằng tục thức, nó là tục đế. Chân lý cao hơn
một bực là thực tại không sinh không diệt, là thực tại của chân đế.
Nhưng, sinh diệt và không sinh diệt vẫn chỉ là hai mặt đối lập của một
thực tại. Đứng bên này hay bên kia, vẫn chỉ là nhận thức phiến diện về
thực tại. Thế thì, chân đế trong trình độ nhận thức ấy vẫn chỉ là tục
đế, nếu nhìn từ cấp cao hơn. Chân đế trong cấp cao hơn này là phủ định
tất mọi mô tả về thực tại để hiển thị thực tại cứu cánh là vô ngôn
thuyết. Tiến lên cao hơn nữa, thực tại tuy được nói là vô ngôn thuyết,
nhưng cái vô ngôn thuyết ấy vẫn phải y vào ngôn thuyết để hiển lộ, cho
nên thực tại được nhận thức như vẫn vẫn là chân ly ước lệ, là tục đế.
Chân lý tối hậu, chấn đế siêu việt bấy giò là sự im lặng hoàn toàn. Đó
là sự im lặng của Duy-ma-cật.
Như vậy, tuy thực tại bất nhị duy
nhất là một, là Nhất thể tuyệt đối, nhưng cánh cửa để đi vào thực tại ấy
là có ba cấp, phân thành bốn lớp. Ba cấp này, nếu phân chia theo thời
gian và quả vị tu chứng, thì địa vị tam hiền gồm 10 trụ, 10 hành và 10
hối hướng là sơ cấp. Ở đây, Bồ tát sơ cơ tuy học được lý vô sinh, nhưng
thực tại bất nhị của họ vẫn cần phải được minh giải bằng những yếu tính
sai biệt. Từ Sơ địa trở lên cho đến địa thứ bảy, tuy đã tỏ ngộ ly vô
sinh, thấy rõ thực tại siêu việt ngôn thuyết, danh tướng. Nhưng vẫn còn
phải dụng công, vẫn còn vận dụng ngôn ngữ. Từ địa thứ tám trở lên chỗ
đến thành Phật, đã ngộ vô sinh và cũng không còn phải dụng công; thực
tại vô ngôn tự nó là vô ngôn.
Trong mỗi cấp như vậy đều hàm chứa
mâu thuẫn nội tại trong nhận thức; và mâu thuẫn ấy dẫn đến chỉnh thể
thống nhất các mặt đối lập của thực tại tương đối, tức tục đế, thành
thực tại tuyệt đối tức chân đế. Đấy có thể gọi là thứ lớp của quá trình
biện chứng. Cần phải vượt qua cả bốn lớp như vậy mới thể nhập thực tại
bất nhị, đó lối minh giải của Cát Tạng. Bốn lớp nhị đế bấy giờ được
trình bày thành năm cấp biện chứng của bất nhị. Cát Tạng trình bày như
sau.
Cấp thứ nhất,
cái này và cái kia là hai, tức đây là cặp đối lập Không-Hữu. Siêu việt
cặp đối lập này là nhập bất nhị.
Cấp thứ hai,
không và hữu là một tổng hợp nhị nguyên của thực tại cấp một. Đối lập
của nó là bất nhị (tức phi không hữu), tạo thành cặp đối lập cấp hai là
nhị và bất nhị. Thống nhất nhị và bất nhị này thành một chỉnh thể nhị
nguyên, và siêu việt nó là thực tại bất nhị cấp hai (vừa không hữu vừa
phi không hữu).
Cấp thứ ba,
thực tại bất nhị vừa không hữu vừa phi không hữu trên kia, trong thực
tính, không hữu là một khẳng định phức, đó chính là hữu. Phi không hữu
là một phủ định phức, nên đó cũng chính là không. Tức ở đây xuất hiện
một phức thể không-hữu (vừa không hữu vừa phi không hữu), mà đối lập của
nó là phức thể trùng cấp phi không hữu. Nói cách khác, nhị và bất nhị là
một phức thể nhị nguyên. Phi nhị phi bất nhị, siêu việt phức thể nhị
nguyên này mới là nhập bất nhị.
Cấp thứ tư,
tất cả quá trình gồm ba cấp trên đây tổng hợp thành một chỉnh thể của
trùng phức thể nhị nguyên. Tức là nhị nguyên cấp tư (phi nhị phi bất
nhị). Đối lập với nó là bất nhị (phi phi nhị phi phi bất nhị).
Siêu việt cặp đối lập mới đi vào thực tại bất nhị.
Cấp thứ năm,
cả bốn cấp trên đều y mặt đối lập của thực tại với bản chất hàm chứa mâu
thuẫn nội tại của ngôn ngữ và tư duy. Đó là thực tại xuất hiện trong
giới hạn của ngôn thuyết và tư duy. Giới hạn cuối cùng của ngôn thuyết
và tư duy là sự im lặng. Nói là im lặng, nhưng đó vẫn là giới hạn. Tức
nói như thuyết minh của Văn-thù: “Đối với hết thảy pháp không nói, không
thuyết, không chỉ thị, không nhận thức; vượt ngoài vấn đáp. Đó là vào
bất nhị pháp môn.” Sự thuyết minh như vậy vẫn còn trong giới hạn của
ngôn ngữ, mặc dù đó là giới hạn tối hậu. Siêu việt giới hạn này chính là
nhập bất nhị môn. Ở đó, không một mảy may sinh tâm, động niệm.
Thực tại bất nhị như vậy thì thật
ra không hề có ba cấp hay năm cấp. Tất cả chỉ là phưong tiện lập ra để
nhận thức nghĩa lý sâu cạn từ hữu ngôn đến vô ngôn, từ tương đối đến
tuyệt đối. Nếu từ trong chứng nhập nhất thể tuyệt đối mà nói, thì nên
nói rằng “Giáo pháp đầy cả đại thiên thế giới mà vốn không lời. Hình thể
tận cùng tám cực mà không hề có tượng để biểu tượng. Cho nên, nói nhưng
mà không nói gì. Không nói gì nhưng có nói… Vậy thì, Văn-thù tuy nói mà
vẫn thường im lặng. Tịnh Danh im lặng mà vẫn luôn nói.”
|