|
HUYỀN
LUẬN DUY-MA-CẬT
Tuệ Sỹ [MỤC LỤC]
CHƯƠNG KẾT:
TRUYỀN THỪA
Một thời, Phật trú tại Xá-vệ. Trưa
hôm ấy, Ba-tư-năc, vua nước Câu-tát-la đi đến đức Thế Tôn. Ông vừa đi
kiểm kê xong tài sản, “có đến tám triệu tiền vàng”, của một phú hộ vừa
tạ thế mà không có người thừa kế. Số tìa sản kếch sũ này được sung vào
vương thất. Nhà triệu phú khi sống, của cải vô số, nhưng mặc chỉ bằng
vải thô, ăn chỉ bằng cháo chua, đi thì bằng cổ xe hư nát. Tự mình không
thọ hưởng, vợ con cũng không. Rốt cuộc, ông cũng chết như mọi người, mà
còn tệ hơn, không ai chiếu cố, tài sản bị sung công.
Nhân đó, Phật dạy:
“Này Đại vương, như một hồ nước tại
chỗ không người, nước trong, mát, dịu ngọt. Nhưng không có ai đến lấy
nước để uống hay để tắm gội. Nước ấy như vậy không được dùng đúng chỗ sẽ
khô cạn. Cũng vậy, một con người không chân chánh khi được tài sản lớn
mà không đem lại an lạc cho chính mình, cho cha mẹ, vợ con, bằng hữu;
không bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, không bố thí để đưa đến quả vbáo an
lạc, sinh thiên. Tài sản không được thọ dụng đúng chỗ ấy sẽ bị vua tịch
thụ, trọm cướp đoạt, nước cuốn trôi, con hoang phí….”
Rồi một lần khác, có một người tại
gia đi đến Phật thỉnh cầu:
“Bạch Thế Tôn, chúng con là những
người sống tại gia,thọ hưởng các dục lạc, ràng buộc với vợ con, dùng
loại hương chiên-đàn hảo hạng, đeo cac tràng hoa, xức hương liệu, thoa
phấn sáp, tích lũy vàng bạc. Thỉnh cầu Thế Tôn thuyết pháp cho chúng
con, sao cho pháp ấy đem đến an lạc cho chúng con trong đời này và trong
đời sau.”
Người tại gia như vậy, tuy đến với
Phật, mong được nghe Pháp, nhưng vẫn không vì thế mà từ bỏ hưởng thụ vật
chất của mình trong đời sống thế tục. Phật không phải vì vậy mà từ chối.
Để nưu cầu an lạc bằng sự hưởng thụ vật dục, trước hết người tại gia
phải biết tạo dựng của cải đúng pháp. và sử dụng đúng pháp.
Phật dạy:
“Có năm pháp này cho người tại gia
đưa đến an lạc trong hiện tại: tinh cần, thủ hộ, thiện hữu, và cân bằng
chi thu.”
Thế nào là tinh cần? Người tại gia
làm các nghề nghiệp để sinh sóng: hoặc làm nông, hoặc buôn bán, hoặc
chăn nuôi, joặc làm quan cho vua. Người ấy thông thạo kỹ thuậ trong nghề
nghiệp của mình, siêng năng không lười biếng, biết phương tiện tự mình
làm và chỉ dẫn người khác làm. Bằng sự tinh cần, tháo vát ấy, bằng mồ
hôi và sức lao động của chính mình, của cải được gầy dựng một cách hợp
pháp, đúng chánh pháp.
Thứ hai, người ấy biết cách thủ hộ
của cải tích lũy được, không để bị vua chúa tịch thu, không bị giặc
cướp, lửa cháy, nước trôi, con cái hoang phá. Thứ ba, người ấy giao
thiệp với thiện hữu, những người có tín, có giới, biết bố thí, biết học
hỏi, có trí. Thứ tư, người ấy biêt cân bằng xuất nhập; không hoang phí
“như người ăn trái sung”; cũng không bủn xỉn, keo kiệt, không dám chi
tiêu, “như người chết đói.”
Đó là bốn điều kiện cho người tại
gia làm tăng trưởng tài sản vật chất, để thảo mãn cho yêu cầu hưởng thụ
vật dục thế gian. Nhưng người ấy cũng phải biết đầu tư cho tương lai,
gieo trồng phước báo cho tương lai. Để đầu cho an lạc trong tương lai,
người ta gia cần hội đủ năm yếu tố: tín, giới, thí và huệ. Nhưng để có
thể tiến xa hơn nữa, đủ tư lương để đi đến nơi an ổn, hạnh phúc lâu dài,
người ấy cần tích lũy bảy loại tài sản: tín, tà, quý, đa văn, bố thí và
huệ.
Người đời tích chứa tài sản để thọ
dụng cho ngày nay, và cho ngày mai. Nhưng rồi nó sinh tham đắm, hệ lụy;
không biết chia sớt, không biết bố thí cho người khác, không biết đầu tư
cho sự an lạc trong tương lai. “Người ngu nghĩ rằng đây là con cái ta,
đây là của cải của ta. Nhưng ta còn không phải là của ta; huống nữa là
con cái, của cải.”
Vì vậy, người hiền trí mưu cầu hạnh phúc, an lạc cho
mình thì biết cho, biết dâng hiến.
Phật dạy:
“Trong ngôi nhà đang bốc cháy, tài
sản gì được mang ra,
Tài sản ấy không bị cháy, và chúng
thật hữu ích.
Cũng vậy, thế gian đang bốc cháy
bởi tuổi già và sự chết,
Hãy đem ra bằng sự bố thí; những gì
được bố thí được mang ra an toàn.”
Theo ý nghĩa đó, Bồ tát hành đạo
giữa đời, tích lũy tài sản cho sự giàu sang của mình không phải tích lũy
để làm tư hữu cho mình, vì mọi người, trong đời này và đời sau. Vì vậy,
Bồ tát hành bố sáu ba-la-mật, và bốn nhiếp sự. Trong sáu ba-la-mật, sự
thành tựu khởi đầu là bố thí. Từ bố thí mà lần lượt thành tựu các
ba-la-mật tiếp theo.
Nhưng trong tất cả sự bố thí, bố
thí pháp là tối thượng.
Thế nào là bố thí pháp? Bằng sở học và sở hành của mình đối với Pháp mà
Phậ đã giảng dạy, nhận thức rõ đó là con đường dẫn đến bất tử, giải thát
và Niết-bàn, tự mình hành trì, rồi giảng giải cho người khác hiểu, cùng
hướng dẫn hành trì. Trong phạm vi thế gian, đó là cung cấp kiến thức,
trí khôn cho người khác, làm hành trang để từng trải đường đời, làm vốn
để đàu tư cho an lạc chân thật. Nhưng cao thượng hơn tất cả, là hành
trang dẫn đến nơi an ổn, an lạc cứu cánh. Bố thí pháp như vậy cũng đồng
vbới cúng dường Pháp.
Vào thời quá khứ xa xưa, có Phật
Dược Vương Như lai xuất thế. Trị nước bấy giờ có vua Bảo Cái. Vua
có người con trai tên Bảo Nguyệt. Một hôm vương tử Bảo Nguyệt ngồi một
mình suy nghĩ: “Còn có sự cúng dường nào cao cả sự sự cúng dường mà ta
đã thực hiện hay không?” Rồi câu trả lời xuất hiện nhừ từ hư không:
“Cúng dường pháp là tối thượng trong tất cả sự cúng dường.”
Thế nào là bố thí pháp? Vương tử Bảo Nguyệt đi đến
hỏi Phật Dược Vương. Phật dạy:
“Này thiện nam tử, cúng dường Pháp
là, đối với kinh điển sâu xa do chư Phật thuyết giảng, khó tin và khó
tiếp nhận đối với hết thảy thế gian, vi diệu khó thấy, thanh tịnh vô
nhiễm, không thể lấy tư duy phân biệt mà hiểu được; nó là bảo vật trong
kho Pháp tạng của Bồ tát, in bằng dấu ấn đà-la-ni; dẫn đến bất thối
chuyển, thành tựu sáu độ, khéo phân biệt nghĩa, thuận với pháp bồ-đề, là
Kinh tối thượng; giúp người vào đại từ, đại bi, xa lìa các ma sự và tà
kiến, thuận với pháp nhân duyên, vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ
mạng, không, vô tướng, vô tác, vô khởi; hay dẫn chúng sinh đến ngồi nơi
Đạo tràng mà chuyển pháp luân; được các Trời, Rồng, Càn-thát-bà, đồng ca
ngợi; hay đưa chúng sinh vào kho tàng Chính pháp của chư Phật, thâu đạt
hết thảy trí huệ của Thánh Hiền, chỉ dạy con đường sở hành của chúng Bồ
tát; y trên nghĩa thật tướng của các pháp mà thuyết minh nghĩa vô
thường, khổ, không, vô ngã và tịch diệt; có thể cứu người hủy phạm giới
cấm; khiến cho chúng ma, ngoại đạo và người tham trước sinh sợ hãi; được
chư Phật và Thánh Hiền ngợi ca; vì quét sạch nỗi khổ sinh tử, chỉ niềm
vui Niết-bàn mà chư Phật trong mười phương, ba đời từng thuyết giảng.
“Nếu nghe xong kinh này mà tin
hiểu, thọ trì, đọc tụng, vì chúng sinh diệu dụng phương tiện để giảng
giải cho họ tỏ tường, vì thủ hộ Pháp, như vậy gọi là cúng dường Pháp.
“Lại nữa, theo các Pháp đã được
thuyết giảng mà tu hành, tùy thuận mười hai nhân duyên, xa lìa tà kiến,
thành tựu vô sinh nhẫn, khẳng quyết tính vô ngã và vô chúng sinh mà đối
với nhân duyên, quả báo, thì không trái, không tranh cãi, lìa các ngã
sở; y nghĩa lý chứ không y ngữ ngôn, y trí chứ không y thức, y kinh liễu
nghĩa chứ không y kinh không liễu nghĩa; y pháp chứ không y người thuyết
pháp; tùy thuận theo pháp tướng, không chỗ sở nhập, không chỗ sở quy, vô
minh rốt ráo diệt, cho nên các hành cũng rốt ráo diệt, cho đến sinh rốt
ráo diệt cho nên già-chết cũng rốt ráo diệt. Quán sát như thế, mười hai
nhân duyên không có tướng tận cũng chẳng có tướng khởi. Đó là pháp cúng
dường tối thượng.”
Bố thí và cúng dường, sở hành và
đối tượng không tương đồng, như cả hai đều khởi sự từ nền tảng như nhau:
cùng dâng hiến những gì mình có, hoặc cho các hạng chúng sinh, hoặc hiến
dâng các Hiền Thánh. Cho nên, bố thí có hai là tài thí và pháp thí, thì
cúng cùng dương cũng có hai: cúng dương bằng tài vật, và cúng dường
Pháp, hay nói gọn: cũng dường pháp.
Vào giờ trước khi nhập Niêt-bàn,
Phật nằm giữa hai gốc sa-la song thọ, bấy giờ các thứ hoa trời rơi xuống
trên thân Như lai, và các thứ nhạc trời được tấu lên, để cúng dường thân
Như lai. Nhưng, khi ấy Phật nói vơi A-nan:
“Nhưng náy Ananda, như vậy không
phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay kính lễ Như lai. Này
Ananda, nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu
Chánh pháp và Tùy pháp, sống chân chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng
Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như
lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu
Chánh pháp và Tùy pháp, sống chân chánh trong Chánh pháp và hành trì
đúng Chánh pháp. Này Ananda, các ngươi phải học tập như vậy.”
Đó là lời dạy cuối cùng của Phật,
đức Phật Thích-ca trong thời hiện tại. Trong quá khứ xa xăm, đức Phật
Dược Vương cũng đã dạy như vậy. Trong thời tương lai, đức Phật Di-lặc sẽ
xuất thế và cũng sẽ dạy như vậy. Nội dung của các đoạn kinh đã dẫn, từ
Thánh điển Pāli và từ Duy-ma-cật sở thuyết, đại thể tương đồng,
duy chỉ khác về mặt văn tự diễn đạt. Cho nên, qua tất cả hành vi và ngôn
ngữ của Duy-ma-cật, mà nhiều đã được thấy, đều mang tính siêu thực, bất
khả tư nghị. Nhưng đó chẳng qua chỉ để diễn tả kinh nghiệm thực chứng
hằng ngày, điều mà không thể diễn tả bằng ngôn ngữ một cách sáng tỏ
được.
Những điều Phật dạy, chân lý mà
Phật công bố, thực sự rất gần gũi trong đời thường; nhưng khi được chứng
nghiệm, chân lý ấy, tức Pháp của Phật, có năng lực di chuyển cả mấy đại
thiên thế giới, như Duy-ma-cật bưng cả một cõi Phật trong lòng bàn tay
du hành qua vô số cõi Phật.
|