KINH HOA NGHIÊM (GAṆḌAVYŪHA):
LÝ TƯỞNG BỒ TÁT VÀ PHẬT
Suzuki
Tuệ Sỹ (dịch và bình chú)
1
Nếu chúng ta bước vào Hoa nghiêm
(Gaṇḍavyūha)
sau khi qua Lăng già (Laṅkāvatāra)
Kim cang (Vajracchedika),
Niết-bàn (Parinirvāṇa),
hay sau Pháp hoa (Saddharma-puṇḍarīka)
và Vô lượng thọ (Sukhāvatīvyūha),
thì đây là một cuộc thay đổi toàn diện trên sân khấu mà tấn kịch tôn
giáo vĩ đại của Phật giáo Đại thừa được trình diễn, chúng ta không thấy
có cái gì lạnh lùng, xám xịt; không có màu đất khổ, không có vẻ hèn kém
của con người; bởi vì, trong
Hoa nghiêm, ta chạm đến bất cứ cái gì thì
cái đó bừng sáng lên vô cùng tận. Hết còn ở trong thế giới hạn cuộc, tối
tăm, nhạt nhẽo này; chúng ta được đưa lên tận dải ngân hà tinh đẩu. Thế
giới không trung xưa nay vốn ngời sáng. Màu o tối của rừng Thệ-đa (Jetanana)
nơi trần gian, vẻ phàm tục của đống cỏ khô thiết toà sư tử hẳn là đức
Thích tông đang ngự thuyết pháp, một nhóm ăn mày lam lũ đang nghe kinh
trong cái thực tại bất thực, không bản ngã - tất cả đều hoàn toàn tan
biến hết ở đây. Khi Phật nhập vào một thứ tam-muội (samādhi)
nào đó, cái túp lều Ngài đang ngự đột nhiên trải rộng đến tận cùng bờ mé
của vũ trụ; nói khác đi chính vũ trụ được hoà tan vào thể tánh của Phật.
Vũ trụ là Phật; Phật là vũ trụ. Và đấy không phải duy chỉ là sự dàn trải
của khoảng chân không, hay khô héo rút thành một nguyên tử; bởi vì, có
kim cang lát đất, những tường bao, chúng lấp lánh phản chiếu lẫn nhau.
Không những chỉ duy vũ trụ của
Hoa nghiêm (Gaṇḍavyūha)
không có trên cõi trần ai này, mà đến thính chúng vây quanh Phật cũng
không là hàng phàm phu sinh tử. Bồ-tát (Bodhisattva),
Thanh văn (Śrāvaka),
rồi đến các hàng chúa tể thế gian, thảy đều tụ họp tại đây, thảy đều là
thần linh cả. Mặc dù các hàng Thanh văn, các hàng chúa tể và tùy tùng
quyến thuộc của họ không hoàn toàn hiểu rõ cái gì mà kỳ diệu thế đang
diễn ra trước mắt, nhưng không một ai không phải là người mà tâm trí hết
còn quy luỵ dưới sự trói buộc của ngu si và cuồng dại. Nếu họ còn như
thế, họ đã chẳng thể hiện diện trước hoạt cảnh phi phàm này.
Tất cả ra sao?
Sự tập thành của Hoa nghiêm
(Gaṇḍavyūha)
có lẽ là do ở một cuộc biến chuyển đã thành hình trong tâm trí của Phật
tử đối với cuộc sống, với cõi đời, và nhất là với đức Phật. Như thế, khi
học Hoa nghiêm
(Gaṇḍavyūha),
cái cốt yếu nhất cần phải biết, bấy giờ Phật không còn là một kẻ sống
trong thế gian có thể nhận ra giữa những giới hạn của thời gian và không
gian. Tâm Phật không phải là tâm thường, vốn bị bắt buộc chìu theo cảm
quan và luận lý. Cũng không phải là một sản phẩm của tưởng tượng thi vị
sáng tạo nên những hình ảnh riêng tư và những phương pháp đề cập đến
những sự vật cá biệt. Phật của Hoa nghiêm (Gaṇḍavyūha)
sống trong một thế giới tâm linh có những luật tắc riêng của nó.
Trong thế giới tâm linh này, không
có những phần vị thời gian như là quá khứ, hiện tại và vị lai; vì chúng
đã tụ lại thành một khoảnh khắc đơn thuần của cái hiện tại miên trường,
ở đó sự sống bắn đi trong chiều hướng đích thực của nó. Khái niệm về
thời gian, như một khoảng trống trơn ngoại tại trong đó những biến tướng
cá biệt làm nội dung của nó tiếp nối nhau, hoàn toàn bị xoá bỏ. Phật
trong Hoa nghiêm
như thế là không có thời gian liên tục; quá khứ và vị lai thảy đều được
cuộn tròn trong khoảnh khắc giác ngộ hiện tại này, và giây phút hiện tại
này không phải là cái còn đứng trơ với tất cả những nội dung của nó; bởi
vì, nó cứ vận hành bất tuyệt. Thế thì, quá khứ là hiện tại, và vị lai
cũng vậy. Nhưng cái hiện tại, mà quá khứ và vị lai lặn chìm trong đó,
không bao giờ cứ là hiện tại mãi thế; nói cách khác, nó là cái hiện tại
miên viễn. Ngay giữa lòng hiện tại miên viễn này, Phật đóng đô trụ xứ vô
trụ của Ngài.
Thời gian như thế, và không gian
cũng như thế. Không gian trong
Hoa nghiêm không phải là
một dàn cảnh phân chia bởi núi, bởi rừng, bởi sông, bởi biển, bởi sáng
và tối, bởi có hình và không hình. Ở đây, quả thực là có cảnh dàn trải,
vì không có cấu kết không gian thành một khối đơn nhất; nhưng những gì
chúng ta thấy ở đây, thảy là cái tương dung tương nhiếp của vạn hữu; mỗi
hữu vừa là một cho riêng nó và vừa là tất cả trong nó. Sự dung nhiếp bao
la diễn nên như thế quả là sự tiêu giải cái thứ không gian chỉ được nhận
diện bằng biến đổi, bằng phân chia, và bằng cách trở. Để phác họa cảnh
giới tồn tại đó, Hoa nghiêm làm cho những gì được miêu tả đều
thành trong suốt và ngời sáng; bởi vì vẻ sáng ngời là lối trình bày khả
dĩ duy nhất trong thế lục, nó truyền đạt ý tưởng tương tức tương nhập,
thể tài trổi bật của kinh. Một thế giới của ánh sáng vượt ngoài những
chia cách, âm u và xấu xí dẫy đẫy : đó là thế giới của
Hoa nghiêm.
Không gian và thời gian tiêu giải
rồi, bấy giờ dựng ra một cõi không hình tích, không bóng dáng (anābhāsa).
Còn ánh sáng, là ngã chấp còn ngự trị trên phàm phu sinh tử chúng ta.
Trong Hoa nghiêm
(Gaṇḍavyūha)
không có cái tối; chắc chắn là có suối, có hoa, có cây, có lưới, có cờ
xí, v.v..., như trong cõi Tịnh độ; khi biểu diễn, tác giả thăng hoa có
tưởng tượng người của mình đến những mức kỳ cùng; nhưng không nơi nào
thấy có bóng tối. Đến như mây mà cũng sáng, nhiều không thể nghĩ và bàn
nỗi
,
lơ lửng trên rừng Thệ-đa (Jetavana)
của Gaṇḍavyūha
- thuật ngữ mô tả là: những “mây điện ngọc trời”, “mây trầm hương”, “mây
Tu-di”, “mây nhạc cụ”, “mây lưới châu”, “mây hình tượng trời”,v.v...
Vũ trụ của ánh sáng đó, hoạt cảnh
tương tức tương nhập đó, được gọi là Pháp giới (Dharmadhātu),
trái với Thế (gian) giới (Lokadhātu)
vốn là thế giới của sai biệt. Trong pháp giới (Dharmadhātu),
có không gian, thời gian, và những pháp cá biệt như ở thế gian giới (Lokadhātu)
nhưng chúng không mang những đặc tính phân cách và trơ lì theo thói tục
thường thấy trong thế gian. Bởi vì, pháp giới (Dharmadhātu)
không phải là một vũ trụ được cấu tạo theo tính cách thời gian hay không
gian như thế gian giới (Lokadhātu),
dù vậy, nó không hoàn toàn trơ trọi hay trống trơn để đồng nhất với cái
tuyệt đối vô thể, hư vô.
Dharmadhātu là một hiện hữu đích thực,
không tách ngoài Lokadhātu;
nhưng chúng không là một, khi chúng ta chưa bước lên mức độ tâm linh nơi
mà các Bồ-tát đang sinh hoạt. Có thể thể hiện nó khi vòng đai chặt cứng
của ngã chấp bị chảy tan và cảm giác về sự hữu hạn không còn đè bẹp
chúng ta nữa. Hoa nghiêm
do vậy cũng được biết dưới tiêu đề : “Nhập pháp giới (Dharmādhātupraveśa)”.
2
Rồi ra, đâu là một vài biến chuyển
tư tưởng chủ yếu đã diễn ra trong Phật giáo cho phép nó tạo dựng một vũ
trụ mệnh danh là Dharmadhātu? Đâu là những cảm xúc và những ý tưởng đã
đi vào tâm thức những kiều dân của Dharmadhātu? Nói cách khác, đâu là
những phẩm tính của Như lai, Bồ-tát và Thanh văn?
Đặt riêng những vấn đề này, chúng
ta sẽ biết Đại thừa đã trở thành khác biệt Tiểu thừa ra sao, nghĩa là,
tại sao một số Phật tử không thỏa mãn với con đường mà đạo Phật đã tiến
bước xa sau khi Phật tạ thế. Sự tiến bước này đã liên tục hướng đến cực
đoan khổ hạnh một đằng, và đằng khác hướng đến kiến thiết những xảo
thuật triết lý. Thế tức là, đạo Phật, thay vì là một tôn giáo cập nhật,
xã hội, thực tiễn, đã chuyển hướng thành một thứ thần bí giữ chân các
tín đồ nó trên cao độ ngây ngất của những trừu tượng xa vời khiến cho họ
không chịu bước xuống giữa những ràng buộc của mặt đất. Một tôn giáo như
thế hẳn là rất ư hoàn hảo dành cho thành phần “ưu tú”, cho các A-la-hán
và Phật Bích-chi (Pratyekabuddha), nhưng thiếu sinh khí và thiếu lợi ích
quần chúng khi nó nằm ngoài tầm tiếp xúc với những sự việc cụ thể của
đời sống. Các nhà Đại thừa nổi dậy chống lại thái độ xa cách và thờ ơ
của lý tưởng Thanh văn (Śrāvaka). Như thế, vì họ vô phương phục hồi và
di dưỡng lý tưởng Bồ-tát, vốn đã đánh dấu công hạnh của Phật trước khi
Ngài chứng đắc Vô thượng Chánh giác; vậy nên họ tận lực khai triển kỳ
cùng tất cả những gì phải có trong lý tưởng này. Do đó, tôi đã chọn
chương mở đầu của Gaṇḍavyūha,
trong ấy lý tưởng Bồ-tát tương phản rất rõ với lý tưởng Thanh văn, cho
thấy những gì có trong tâm thức của các môn đệ Đại thừa khi họ phát
triển những tư tưởng và khát vọng của riêng mình.
Cuối luận này, tôi sẽ đề cập vắn
tắt về quá trình tiến bộ của lý tưởng Bồ-tát giữa các môn đệ Thiền ở
Trung Hoa. Họ mang luôn cả Phật cho tham dự thiết thực trong đời sống
cộng đồng của đại chúng. Ngài hết ngồi trên tòa cao trang sức bằng bảy
báu, diễn thuyết những đề tài trừu tượng như vô ngã, Tánh Không, hay duy
tâm. Trái lại, Ngài nắm lấy cái cày trong tay, xới đất, gieo mạ, và gặt
lúa. Xem dáng dấp bên ngoài, Phật không khác gì một người như mọi người
mà chúng ta gặp trong nông trại, ngoài đường phố hay ở bàn giấy. Ngài y
hệt một người chăm chỉ trong chúng ta. Phật, trong sinh hoạt Thiền Trung
Hoa của Ngài, không khoa trương hoạt cảnh
Hoa nghiêm ra ngoài, mà để
nằm trọn vẹn trong mình. Chỉ có Phật mới nhận ra Phật.
Vậy, dưới đây là những điểm đáng
ghi nhận khi đọc Gaṇḍavyūha.
Một cảm giác nổi bật, mà chúng ta
có thể chấp nhận gần như hoàn toàn, quán xuyến cả tác phẩm, là một phong
thái sôi động của cái mầu nhiệm lớn lao khôn dò, vượt ngoài khả năng tư
duy và diễn đạt. Mỗi cái được thấy, nghe hay quan sát trong Pháp giới
(Dharmadhātu) là một sự mầu nhiệm, bởi vì nó không phải là cái mà thế
tục trí có thể hiểu nổi. Rừng Thệ-đa (Jetavana) dọc ngang chừng ấy dặm
đột nhiên trải rộng đến những chốn tận cùng của vũ trụ - há không là
siêu việt tục trí?
Một vị Bồ-tát từ một thế giới
ngoài biên vức của vũ trụ hiện đến, một vũ trụ siêu qua đại dương thế
giới nhiều như hằng sa vi trần Phật sát; cái đến đó há không là một biến
cố kỳ diệu? Rồi, ta hãy nhớ rằng Bồ-tát ấy có một đám quyến thuộc tùy
tùng, đông như hằng sa vi trần Phật sát, và lại nữa, những tân khách này
đều từ tất cả mười phương đến, không phải chỉ có vô số quyến thuộc tùy
tùng, mà vây quanh họ còn có những đám mây ngời sáng, những cờ xí chói
lọi v.v...Các ngài thử vận dụng hết khả năng tưởng tượng mà miêu tả -
quả thực, há không là một cái nhìn mầu nhiệm vượt hẳn lên tâm tưởng thế
gian? Quá lắm thì tác giả của
Gaṇḍavyūha cũng chỉ có thể nói rằng là “bất
khả tư nghị” (acintya)
và “bất khả đắc” (anabhilāpya).
Những phép lạ được thị hiện ấy, chúng không mang bản chất địa phương,
hay phiến diện, như chúng ta bắt gặp hầu hết trong văn học tôn giáo.
Những phép lạ theo loại này thông thường là đi trên nước, biến gậy thành
cây, cho người mù được thấy v.v...Những phép lạ kiểu đó, như được ghi
chép trong lịch sử tôn giáo, chúng không những hoàn toàn vô nghĩa và vô
giá trị so với những phép lạ của
Gaṇḍavyūha, mà từ căn bản,
chúng khác với Gaṇḍavyūha,
bởi vì những phép lạ
Gaṇḍavyūha chỉ có thể có chừng nào toàn
thể cơ đồ của vũ trụ mà chúng ta hoài bão được thay đổi ngay từ nền
tảng.
1. Bây giờ,
chúng ta lấy làm kinh dị bởi những thần thông lực của Phật mà Ngài có
thể hoá thành tất cả những điều kỳ lạ ấy chỉ bằng cách nhập vào một loại
tam-muội nào đó. Những thần thông lực đó là gì? Ấy là : 1)
gia trì lực
(adhiṣṭhāna),
năng lực ban bố cho Bồ-tát để thành tựu mục đích của đời sống; 2)
thần thông lực
(vikurvita),
năng lực tạo ra các phép lạ; 3)
uy đức lực (anubhāva);
4. túc nguyện lực
(purvapraṇidhāna),
năng lực bản nguyện; 5) túc
thế thiện căn lực (pūrvasukṛtakuśalamūla),
năng lực của những thiện căn trong các đời trước; 6)
thiện tri thức nhiếp thọ lực
(kalyāṇamitra-parigraha),
năng lực tiếp đón hết thảy bạn tốt; 7)
thanh tịnh tín trí lực
(śraddhāyajñāviśuddhi),
năng lực của tín và trí thanh tịnh; 8) đại minh giải lực
(udārāddhimuktyavabhāsapratilambha),
năng lực thành tựu một tín giải vô cùng sáng suốt; 9)
thú hướng Bồ đề thanh tịnh tâm lực
(bodhisattvādhyāśayapariśuddhi),
năng lực làm thanh tịnh tâm tưởng của Bồ-tát; 10)
cầu nhất thiết trí quảng đại nguyện
lực
(adhyāśayasarvajñātāpraṇidhānaprasthāna),
năng lực khiến nhiệt thành hướng tới nhất thiết trí và các đại nguyện.
Khi toàn thể khu vực rừng Thệ-đa
được biến đổi do năng lực thần thông của một thứ tam-muội (samādhi)
mà Phật chứng đắc, người ta tự hỏi về bản chất của thứ tam-muội này.
Gaṇḍavyūha
nói, phép lạ thần biến được thị hiện là do sức mạnh của tâm đại bi
(mahākaruṇā),
vốn là tinh thể của tam-muội; bởi vì, bi tâm là thân thể
(śarira),
là cửa nguồn (mukha),
là tiền đạo (pūrvaṅgama)
của nó, và phương tiện tự hiện thân trên khắp vũ trụ. Nếu không có tấm
lòng lớn lao đó của từ và bi, tam-muội của Phật, dù có thể được siêu
nhập bằng cách nào nữa, sẽ không có giá trị trong màn diễn xuất của một
kịch trường tâm linh vĩ đại được diễn tả một cách kỳ diệu nơi đây. Đây
quả là chỗ sai biệt điển hình giữa Đại thừa và tất cả các giáo thuyết đã
có trước trong lịch sử của đạo Phật. Nhờ khả năng tự khoáng đại và tự
sáng tạo của nó, mà trái tim đầy yêu thương rộng lớn biến thế giới trần
gian này thành một cảnh huy hoàng và tương hỗn; và đó là chỗ thường trụ
của Phật.
4. Trong một chiều hướng nào đó,
Gaṇḍavyūha
là lịch sử về tâm địa tu hành của Bồ-tát Phổ Hiền (Samantabhadra), mà
nội dung của pho sử ấy là huệ nhãn
(jñācakṣu),
hành trì (caryā)
và bản nguyện (paraṇidhāna)
của ngài. Như thế, hết thảy chư Bồ-tát tham dự kiến thiết Pháp giới
(Dharmadhàttu) đều phát xuất
(abhinỉyāta)
từ đời sống và thệ nguyện của Phổ Hiền (Samatabhadra). Và chủ đích của
Thiện Tài Đồng Tử (Sudhana) trong cuộc hành trình như được mô tả chi
tiết trong Gaṇḍavyūha
không gì hơn là một quá trinh hiệp nhất với Bồ-tát Phổ Hiền. Sau khi
tham kiến hơn 50 vị đạo sư của đủ loại pháp môn, Thiện Tài đến với Phổ
Hiền, và được Bồ-tát này giảng dạy đầy đủ về nhân địa tu hành, về tri
kiến, về bản nguyện, về năng lực thần thông v.vv...; rồi khi Thiện Tài
nhận ra ý nghĩa của tất cả Phật pháp đó, bấy giờ không những thấy mình
là một với Phổ Hiền, mà còn là một với hết thảy chư Phật. Thân thể Thiện
Tài hiện đầy khắp vũ trụ vô biên, và đời sống hành trì
(caryā),
sự giác ngộ (sambodhi),
những biến hoá (vikurvita),
chuyển pháp luân biện tài, âm thanh, tín tâm, trụ xứ, từ bi, giải thoát
và thành tựu thế gian, tất cả của Thiện Tài cũng chính là của Phổ Hiền
và của hết thảy chư Phật.
Điều lôi cuốn nhất đối với chúng ta
ở đây là quan niệm về bản nguyện (paraṇidhāna)
mà một vị Bồ-tát phải có khi bắt đầu sự nghiệp của mình và chi phối suốt
tất cả cuộc đời sau này. Các nguyện của ngài là: hướng đến giác ngộ,
giải thoát hay cứu độ hết thảy chúng sinh kể cả các loài hữu tình và vô
tình. Lý do khước từ tuyệt đối của ngài, khước từ tất cả những gì thường
được coi như là thuộc về chính ta, không phải là để tâm đắc một chữ hay
một câu nào đó về chân lý; sự thực, không có một thứ chân lý nào được
tiếp nhận một cách trừu tượng, cũng không có thứ gì phải chấp nhận như
một bản ngã thường tại, trong đại dương của Thực Tại; cái mà ngài mong
thành tựu bằng đời sống hiến dâng của mình là để dắt dẫn mọi loài đi đến
chỗ giải thoát tối hậu, đến một cảnh giới của hạnh phúc vốn không thuộc
về thế giới trần gian này, và để làm cho tri thức soi sáng toàn thể vũ
trụ, và sau hết để được chư Phật tán thán và được mọi chúng sinh chiêm
ngưỡng. Đấy là điểm cốt yếu tạo thành một đời sống hành trì như đã được
thực hành bởi Bồ-tát Phổ Hiền.
5. Khi tôi nói rằng Đại thừa hay lý
tưởng Bồ-tát tương phản với Tiểu thừa hay là lý tưởng A-la-hán, theo đó
Đại thừa có tính cách thực tiễn và liên hệ mật thiết với đời sống thường
nhật của chúng ta trên mặt đất; có người có thể nghi ngờ điều này: cái
thế giới kỳ diệu nào là Pháp giới, để cho trong đó tất cả mọi thứ có vẻ
không tưởng đều xuất hiện tợ hồ như chúng là những sự vật rất ư tầm
thường: gánh nước hay đốn củi chẳng hạn. Pháp giới, thế giới của
Gaṇḍavyūha,
hiển nhiên là một thế giới siêu việt, đứng ngoài những sự kiện khô cứng
của đời sống này. Nhưng nếu có người vấn nạn, thì phải nhớ rằng, cái
nhìn của chúng ta hướng về thế giới, theo
Gaṇḍavyūha, không phải là
cái nhìn của một tâm hồn đắm chìm trong đầm lầy của ngã chấp. Để nhìn
thấy cuộc đời và thế giới trong khía cạnh trung thực của nó, Đại thừa
mong mỏi chúng ta trước hết phải dọn sạch tất cả những chướng ngại khởi
lên từ sừ cố chấp của chúng ta, cái thứ cố chấp coi thế giới tương đối
như là giới hạn cuối cùng của thực tại. Khi bức màn được vén lên, những
chướng ngại bị quét sạch, và tự tánh của mọi vật hiện diện trong khía
cạnh Chân thực; thế là, Đại thừa sẵn sàng đương đầu những vấn đề được
coi là đích thực của sự sống, và giải quyết nó xứng hợp với đạo lý Như
thật (yathābhūtam).
Mâu thuẫn cắm sâu trong sự sống đến nổi ta không thể bứng nó lên, nếu sự
sống không được chiêm nghiệm từ một điểm bên trên nó. Thực hiện được
điều đó, thế giới của
Gaṇḍavyūha hết còn là một sự huyền bí, một
cảnh vực không hình dạng sắc tướng, vì
bây giờ nó bao trùm cả thế giới trần gian này; không, phải nói, nó trở
thành “Mày là cái đó” và cả hai là một hỗn hợp tròn đầy. Pháp giới (dharmadhātu)
là Thế gian giới (lokadhātu),
và những dân cư của nó – nghĩa là, hết thảy chư Bồ-tát kể cả Phật – là
chúng ta, và những hành vi của các ngài là của chúng ta. Trông họ rất ư
huyền bí, họ là những phép lạ, bao lâu ta còn nhìn lên họ từ cuối trần
gian này và tưởng rằng quả thực có cái gì đó ở cuối kia; nhưng ngay khi
bức tường phân chia do tưởng tượng của chúng ta dựng lên bị dẹp bỏ, đôi
cánh tay của Phổ Hiền duỗi ra để cứu vớt các loài hữu tình trở thành đôi
cánh tay của chúng ta; bây giờ chúng được dùng để chuyển hạt muối đến
một người bạn tại bàn ăn, và khi đức Di-lặc mở ra lầu các Ti-lô
(Vairocana) cho Thiện Tài, ấy chính là khi chúng ta đưa một tân khách
vào sảnh đường cho một cuộc hội kiến thân hữu. Không phải chỉ ngồi trên
chóp đỉnh của thực tại (bhūtakoṭi),
trong sự vắng lặng của cái Một tuyệt đối, để mà nhìn lại một thế giới
của náo động; mà kỳ thực, chúng ta nhìn thấy chư Bồ-tát và chư Phật đang
trán đẫm mồ hôi, đẫm nước mắt như một bà mẹ mất con, bằng tất cả bi cảm
bộc phát đang đốt cháy tất cả thiên hình vạn trạng của bất công – nói
tóm, trong cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ của các ngài chống lại tất cả
những gì diễn ra dưới danh nghĩa tội ác. Điều này lại khíên chúng ta nhớ
đến câu thơ lừng danh của Bàng Uẩn:
神通並妙用。
運水及搬柴。
Thần thông tịnh diệu dụng
Vận thủy cấp ban sài
Này thần thông !
Này diệu dụng !
Ta gánh nước,
Ta đốn củi.
Ở đây, cũng nên nhắc đến bài pháp
của Lâm Tế, về Văn-thù (Mañjuśrī), Phổ Hiền (Samantabha) và Quán Thế Âm
(Avalokiteśvara).
Ngài nói: “Có một số tăng đồ tìm kiếm Văn-thù trên Ngũ đài sơn, nhưng họ
đã bước sai đường rồi. Chẳng có Văn-thù nào trên Ngũ đài sơn
.
Các người muốn biết ngài ở đâu không? Ngay tại lúc này, cái gì đó nó
đang hành sự trong các ngươi, vững vàng không lay động, tin chắc không
nghi ngờ, cái đó chính là Văn-thù sống vậy. Ánh sáng vô phân biệt chớp
lên trong một niệm của các ngươi, đấy là ngài Phổ Hiền của các ngươi
thường trụ chân thật. Mỗi một niệm của các ngươi, mà biết cách bẻ gãy
xiềng xích, được giải thoát trong mọi thời, đó là đang thâm nhập vào
Chánh định của Quan Thế Âm. Mỗi vị cũng hiện hành đồng thời và đồng xứ,
tuy ba mà một. Một khi hiểu được vậy, các ngươi có thể tụng đọc các kinh
điển”.
Bình về đoạn pháo trên của Lâm Tế,
“Văn-thù không có trên Ngũ Đài Sơn”, một Thiền sư làm bài tụng sau đây :
何處青山不道場
何須策杖禮清涼
雲中縱有金毛現
正眼觀時非吉祥
Hà
xứ thanh sơn bất đạo tràng
Hà
tu sách trượng leex Thanh lương
Vân trung túng hữu kim mao hiện
Chính nhãn khan thời phi Cát tường
Núi xanh đâu chẳng là Đạo
tràng
Cần gì chống gậy hỏi Thanh
lương
Giữa trời dù có sư tử hiện
Trợn mắt trông ra chẳng Cát
Tường
3
Người ta thấy cái hương vị mầu
nhiệm nó bao trùm trọn cả một tác phẩm
Gaṇḍavyūha, như là một
trong những sắc thái lôi cuốn của nó. Ở đây tôi muốn đi sâu vào điều đó
và nêu lên điểm phát sinh của sừ mầu nhiệm này - tức là, điều mà người
ta có thể gọi là cái nhìn căn bản của tâm linh. Bởi vì
Gaṇḍavyūha
có một lối trực quan riêng nhắm thẳng vào thế giới và tâm linh, vốn từ
đó vô số phép lạ và mầu nhiệm, hay bất khả tư nghị, tiếp nối nhau hết
sức kỳ diệu, trong một phong thái mà đối với nhiều người nó có rất ư kỳ
dị không tưởng, vượt xa ngoài những giới
hạn của tục thức. Nhưng một khi chúng ta nắm được sự kiện then chốt của
kinh nghiệm tâm linh mà các vị Bồ-tát đã lịch nghiệm như được kể trong
Kinh, tất cả những gì còn lại trong các hoạt cảnh được miêu tả ở đây sẽ
gợi lên vẻ hết sức tự nhiên và sẽ không còn những nghịch lý trong các
hoạt cảnh đó. Vì vậy, điều chính yếu mà chúng ta phải thực hiện nếu muốn
hiểu Gaṇḍavyūha,
là phải giữ lấy cái trực kiến căn bản của nó.
Trực kiến căn bản này, của
Gaṇḍavyūha,
được gọi là tương tức tương nhập. Nói một cách triết lý, đây là một tư
tưởng hơi giống với quan niệm của Hegel về những cái phổ quát cụ thể.
Mỗi một thực tại cá biệt ngoài tính cách nó là nó, còn phản chiếu trong
nó một thể khác nó của toàn thể phổ quát; và đồng thời nó chính là nó do
bởi những cá thể khác nó. Một hệ thống của mối tương quan toàn diện,
cùng một lúc, tồn tại giữa những hiện hữu cá biệt cũng như giữa những cá
thể và phổ quát, giữa những sự vật cá biệt và những lý niệm tổng quát.
Màn lưới toàn diện của những quan hệ hỗ tương này đã khoác lên thuật ngữ
“tương tức tương nhập” trong tay của của triết gia Đại Thừa.
Khi Nữ hoàng Vũ Tắc Thiên nhà Đường
cảm thấy khó nắm bắt ý nghĩa tương tức tương nhập, thì, Pháp Tạng, một
đại luận sư của Hoa nghiêm tông, giải thích bằng thí dụ như thế này.
Trước hết sư cho đốt một ngọn nến, và rồi, cho đặt những mặt kính thành
vòng tròn chung quanh cây nến. Ánh sáng từ tâm điểm phản chiếu
trong tất cả các mặt kính và mỗi ánh sáng phản chiếu này lại được phản
chiếu trong mỗi mặt kính, hoá ra, có một cuộc giao thao toàn diện của
các luồng sáng, nghĩa là của những cái phổ quát cụ thể. Tương truyền, sự
kiện đó làm sáng tỏ tâm trí của Nữ hoàng. Người ta cần có loại triết lý
này mới hiểu nổi kinh Hoa
nghiêm. Những trích yếu sau đây từ bản
Kinh trước mắt chúng ta, sẽ giúp chúng ta có một chỗ tựa để đi vào trực
giác uyên áo của nó.
Sau khi mô tả những biến đổi lúc
đức Phật nhập vào tam-muội gọi là Sư tử phấn tấn tam-mụôi (simhavijṛṃbhita),
Gaṇḍavyūha
tiếp tục kể: “Tất cả những thứ đó đều do thiện căn bất khả tư nghị của
Như Lai, do vì pháp bạch tịnh bất khả tư nghị của Như Lai, do vì uy lực
bất khả tư nghị của Như Lai, do vì Như Lai có uy lực thần thông biến một
thân của ngài đầy khắp cả hư không; do vì Như Lai có thần lực làm cho
hết thảy chư Phật, hết thảy quốc độ huy hoàng nhập vào trong thân thể
của Như Lai, do vì Như Lai có thần lực thị hiện tất cả sắc tướng của
Pháp giới ngay trong một vi trần; do vì Như Lai có thần lực thị hiện tất
cả chư Phật trong quá khứ lần lượt hiển hiện bất khả tư nghị trong một
lỗ chân lông, do vì Như Lai có thần lực làm ngời sáng cả vũ trụ bằng mỗi
ánh sáng phóng ra từ thân thể của Ngài, do vì Như Lai có thần lực hoá
hiện những đám mây thần biến từ một lỗ chân lông Ngài phát ra đầy khắp
tất cả các quốc độ của chư Phật, do vì Như Lai có thần lực thị hiện
trong một lỗ chân lông toàn bộ lịch sử của hết thảy mười phương thế giới
từ thành kiếp đến hoại kiếp. Bởi những lý do đó, khu rừng Thệ-đa hiển
hiện các cõi Phật trang nghiêm và thanh tịnh.”
Khi hết thảy chư Bồ-tát, với vô số
quyến thuộc, từ mười phương thế giới hiện đến và bắt đầu nhiễu quanh Như
Lai, Gaṇḍavyūha
giải thích cho độc giả biết chư Bồ-tát vân tập bất khả tư nghị ở đây,
thường có những đám mây ngời sáng đi theo, họ là ai, và thêm nữa, có
những đặc sắc gì?
“Mười phương tất cả chư Bồ-tát và
quyến thuộc ấy đều sinh ra từ hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền. Nhờ trí
nhãn thanh tịnh, họ thấy tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị
lai, nghe luôn cả một biển lớn kinh điển và chư Phật chuyển pháp luân.
Các ngài thảy đã thành thục các ba-la-mật thiện xảo; thân cận và cúng
dường tất cả Như Lai đang thị hiện thần biến trong mọi sát-na; có thể
hiện thân đầy khắp cả hư không vô biên; bằng thân ánh sáng, các ngài làm
nảy sinh tất cả chúng hội đạo tràng của chư Như Lai, thị hiện tất cả các
thế giới trong một vi trần, một và tất cả, với những thiên hình vạn
trạng của chúng; và trong những thế giới sai biệt này họ chọn thời cơ
thích hợp nhất để giáo hoá và thành tựu hết thảy chúng sinh; bằng âm
thanh tròn đầy, vi diệu, phát ra từ mỗi lỗ chân lông, vang dội khắp cả
vũ trụ, các ngài tuyên thuyết giáo pháp của hết thảy chư Phật.”
Tất cả những diễn tả như thế, đối
với đầu óc nặng duy lý, chúng có thể bị nhận xét nghiêm khắc là quá
tượng hình, quá tưởng tượng. Trên quan điểm duy thực hay duy lý, với chủ
trương hiệu lực khách quan và trắc nghiệm cảm quan như là tiêu chuẩn độc
nhất của chân lý, thì
Gaṇḍavyūha chơi trò không tốt đẹp. Nhưng
chúng ta nên nhớ rằng còn có một quan điểm khác, đặc biệt trong những
vấn đề tâm linh, không thèm lưu ý đến lối giải thích duy lý về những
kinh nghiệm nội tại của chúng ta.
Thân thể con người, trên phương
diện thông tục hay từ quan điểm giác năng, chiếm một khoảng không gian
hạn hẹp có thể đo được và sự sinh tồn tiếp nối qua một chu kỳ thời gian
đếm được. Trái ngược với thân thể này, là toàn thể bao la vũ trụ, gồm
tất cả núi non, biển cả trên mặt đất, và luôn cả bầu trời trăng sao. Làm
sao có thể đem toàn thể khachs quán giới kia vào trong thân thể này của
chúng ta? Làm sao trong từng “lỗ chân lông” (romakūpa)
của chúng ta, tầm thường và vô nghiã, lại có thể trở thành một địa điểm
siêu phàm nơi đó tất cả các Như Lai trong quá khứ, hiện tại và vị lai có
thể vân tập để công bố những bài pháp tâm linh? Hiển nhiên đây là một
điều hoàn toàn không thể, hay phi lý đến cao độ. Nhưng điều kỳ lạ là khi
một cánh cửa mở ra và một ánh sáng bừng lên từ một nguồn mạch u ẩn soi
vào căn phòng ý thức tối tăm, tất cả những giới hạn của không gian và
thời gian bị tiêu tán mất và chúng ta cất lên tiếng rống của sư tử (siṃhanāda):
“Trước Abraham, tôi là tôi” “Trên trời dười đất chỉ một mình ta là tôn
quý”. Gaṇḍavyūha luôn luôn được viết dưới quan điểm siêu hoá này. Nếu
khoa học nhắm đến thế giới khách quan, và triết học chằng chịt những mớ
bòng bong của luận lý, đạo Phật nhảy vào ngay hố thẳm của thể tánh và
nói cho chúng ta biết, bằng một đường lối khả dĩ trực tiếp nhất, tất
những gì được thấy ở bên dưới bề mặt.
Theo thói quen, khi chúng ta nói về
bối cảnh triết lý của
Gaṇḍavyūha hay quan niệm của Hegel về phổ
quát thể cụ thể (concrete
universal), độc giả có thể nghĩ rằng đạo
Phật là một hệ thống triết lý và kinh điển cố quảng diễn hệ thống đó
bằng đường lối đặc trưng của nó. Nếu chúng ta khiến cho độc giả này có
thái độ đó đối với Đại thừa, chúng ta phải rút lại tất cả những gì được
đã nói đến ở đây và phải bắt đầu lại từ đầu việc nghiên cứu kinh điển.
Dù cho Thiền bị hiểu sai hay bị giải thích lệch lạc như thế nào bởi
những người đứng ngoài lề mà chỉ trích nó, giá trị đích thực của nó là ở
chỗ dọn sạch tất cả rác rưới trong ý thức chúng ta, được dồn chứa bởi
những giải thích ý nghĩa tồn tại nhuộm màu triết lý. Bằng đường lối bất
lập văn tự, vì văn tự vốn hay chận đứng đường lối tiến bộ của tâm linh.
Thiền đã không để cho tư tưởng then chốt của nó bị hư hỏng. Nghĩa là nó
đã thành công trong việc nắm chặt giá trị của kinh nghiệm và trực giác
để lãnh hội Thực tại. Phương pháp của Thiền khác với
Gaṇḍavyūha,
nhưng cả hai phù hợp nhau ở tâm linh, cái này sẽ là chú giải cho cái kia
khi chúng ta chuyên tâm nghiên cứu đạo Phật một cách rộng rĩa theo dòng
phát triển của nó ở Viễn Đông. Kinh điển và Thiền tông không đối địch và
cũng không mâu thuẫn lẫn nhau. Những điều kinh điển trình bày ngang qua
tâm lý và truyền thống của các nhà soạn tập chúng, thì Thiền tông xử lý
những điều đó tùy theo phong cách riêng của nó, tùy thuộc căn khí và tâm
tính của những bậc thầy của nó. Ta hãy đọc Thiền thoại sau đây
và so sánh với Gaṇḍavyūha:
“Có một người, ngay từ quá khứ xa
xưa, đã không có chỗ để đứng, không có gì để tựa, trên đầu không có một
chiếc nón, dưới chân không có một tấc đất. Hãy nói cho ta biết y an thân
và lập mệnh ở đâu, 12 thời trong một ngày? Một khi các người hiểu rõ, sẽ
biết rằng, buổi sáng y sang Tây trúc và buổi chiều y trở về đây”.
4
Sau khi đã biết qua đại thể hoạt
trường của Gaṇḍavyūha,
bây giờ chúng ta lại xem các thành phần thính chúng gồm những ai - tức
là, những cá tính riêng biệt nào mà Bồ-tát thừa khác với Thanh văn thừa.
Nói cách khác, vấn đề này xét đến tính cách độc đáo của Phật giáo Đại
Thừa. Nếu chúng ta biết, trong
Gaṇḍavyūha, một vị Bồ-tát
có những đặc tính gì, tất sẽ biết Bồ-tát thừa khác với Thanh văn thừa
như thế nào, và đâu là những tư tưởng của Đại thừa đối lập với Thanh văn
thừa, theo sự trình bày của kinh này. Mở đầu,
Gaṇḍavyūha, nêu rõ sự
tương phản giữa các vị Bồ-tát và Thanh văn, và cho biết lý do tại sao
hàng Thanh văn không đủ khả năng tham dự dòng phát triển của đời sống
tâm linh vĩ đại như các Bồ-tát.
Có năm trăm Bồ-tát tham dự đại hội
dưới sự chứng minh của Phật tại rừng Thệ-đa. Trong hàng thính chúng,
người ta cũng thấy có ngần ấy Thanh văn (Śrāvaka), danh hiệu cuả các vị
Thanh văn được kể đến ở đây là: Mục-kiền-liên (Maudgalyayana), Đại
Ca-diếp (Mahākāśyapa), Li-bà-đa (Revata), Tu-bồ- đề (Subhūti),
A-nậu-lâu-đà (Aniruddha), Nan-đà (Nandika), Kiếp-tân-na (Kapphiṇa),
Ca-chiên-diên
(Kātyāyana), Phú-lâu-na-Di-đa-la-ni Tử (Pūrṇa-Maitrayaṇīputra),
v.v..., trong khi đó, Phổ Hiền (Samantabhadra) và Văn-thù (Mañjuśrī) làm
thượng thủ dẫn đầu năm trăm Bồ-tát. Các Bồ-tát này thảy đều “sinh ra từ
hành nguyện của Phổ Hiền”, và có các đặc tính như sau: 1) công hạnh của
các ngại không còn bị vướng mắc (cảnh
giới vô ngại), vì có thể hiện thân khắp
trong tất cả cõi Phật; 2) hiển hiện vô số thân, vì có thể đi đến bất cứ
nơi nào có Phật; 3) có nhãn quan thanh tịnh và vô ngại (vô
ngại tịnh nhãn), vì có thể thấy được những
thần biến của chư Phật; 4) có thể du hành bất cứ nơi đâu không bị giới
hạn vào một xứ sở nào, vì các ngài hằng đến khắp tất cả những nơi chư
Phật đang thành đẳng chánh giác; 5) các ngài có ánh sáng không giới hạn
(vô lượng trí quang),
vì có thể soi tỏ biển Phật pháp bằng ánh sáng trí tuệ của mình; 6) khả
năng biện tài không bao giờ cùng tận, vì ngôn ngữ các ngài không ô
nhiễm; 7) an trụ nơi trí tuệ vô đẳng biết rõ không cùng tận như hư không
(cứu cánh hư không giới),
vì cảnh giới trí tuệ của các ngài thanh tịnh vô cấu; 8) không cố định
tại một nơi nào (vô sở y chỉ)
vì các ngài tự hiện thân tùy theo tâm niệm và nguyện vọng của hết thảy
chúng sinh; 9) không bị che mờ (trừ
diệt si ế), vì các ngài biết rằng không có
pháp và không có ngã trong thế giới chúng sinh; 10) các ngài có siêu
việt trí bao la như hư không, vì soi tỏ hết thảy Pháp giới bằng màn lưới
quang minh của mình.
Ở chỗ khác, khi các vị Bồ-tát trong
mười phương thế giới đến viếng rừng Thệ-đa để tham dự cảnh biến hoá vi
diệu của những năng lực tâm linh của Phật, Kinh nêu lên cá tính của họ,
với những điều như sau: “Hết thảy chư Bồ-tát này đều biết rằng tất cả
hữu tình đều như huyễn
(māyā),
hết thảy chư Phật như ảnh, tất cả tồn tại thăng trầm đều như mộng, hết
thảy các nghiệp báo như bóng trong gương, hết thảy các pháp khởi lên như
quáng nắng, hết thảy thế gian đều như biến hoá (nirmita);
lại nữa, các vị Bồ-tát này đều đã thành tựu mười năng lực, thành tựu trí
tuệ, thành tựu tối thắng và thành tựu quyết tín của Như Lai,
khiến họ có thể cất tiếng rống của sư tử; họ đã vào sâu trong biển cả
của biện tài vô tận, họ đã chứng đắc tri kiến giảng thuyết chánh pháp
cho hết thảy chúng sinh; họ đã hoàn toàn tự tại đối với hành vi của mình
nên có thể du hành khắp thế giới không trở ngại như đi giữa hư không; họ
đã chứng đắc các năng lực kỳ diệu của
Bồ-tát (Bồ-tát thần thông diệu
trí); sự dũng mãnh và tinh tiến của họ sẽ
phá vỡ quân đội của Ma vương (Māra); trí lực của họ quán triệt từ quá
khứ, hiện tại đến vị lai; biết rằng tất cả các pháp đều như hư không, họ
thực hành hạnh không chống đối, không chấp trước các pháp; dù họ siêng
năng không mệt mỏi vì ích lợi của mọi người, nhưng biết rằng khi dùng
nhất thiết trí để quán sát, các pháp
vốn không từ đâu đến; dù nhận thấy có một thế giới khách quan, họ biết
rằng hiện hữu của thế giới vốn là bất khả đắc; bằng trí tuệ tối thắng,
họ thâm nhập hết thảy thế giới; trong tất cả các thế giới, họ tự hiện
thân vô cùng tự tại; họ thác sinh vào tất cả các thế giới, hoá hiện đủ
loại hình tướng; họ biến đổi cảnh vi tế thành cảnh quảng đại, biến đổi
cảnh rộng lớn thành cảnh nhỏ xíu; ngay trong một niệm diện kiến hết
thảy chư Phật; được thần lực của Phật gia hộ; trong một chớp mắt, thấy
hết cả vũ trụ mà không chút lẫn lộn; ngay trong một sát-na,
họ có thể du hành khắp tất cả mọi thế giới”.
Trái với đặc
tính này của các vị Bồ-tát, nơi hàng Thanh văn chúng ta có đặc tính nào?
Gaṇḍavyūha
nói: “Họ đã tỏ ngộ về tự tính của sự thật và lý tánh, đã soi tỏ giới hạn
của thực tại, đã thâm nhập yếu tánh của các pháp, đã vượt ngoài biển
sinh tử, an trụ trong kho tàng phước đức của Phật, giải thoát khỏi sự
trói buộc của những kết sử và phiền não, cư ngụ trong ngôi nhà vô
ngại,
tâm tịch tĩnh như hư không, hoàn toàn dứt sạch những nghi hoặc đối với
Phật, và họ đã hiến mình một cách chân chính và trung thành cho biển
Phật trí”.
Khi ta so sánh
hàng Thanh văn và hàng Bồ-tát, theo các đặc tính được tả ở đây, tức thì
ta nhận thấy ngay một đàng quá lạnh lùng, xa cách và đượm màu triết học,
trái hẳn với những hoạt động tinh thần và những vận động mầu nhiệm của
phía kia. Bồ-tát luôn luôn bận rộn với hạnh lợi tha, có khi trải rộng
mình ra khắp cả vũ trụ, có khi xuất hiện trong một nẻo luân hồi nào đó,
có khi diệt trừ bộ đội của ma quân, có khi kính lễ và cúng
dường chư Phật trong quá
khứ, hiện tại và vị lai. Bồ-tát hoàn toàn tự tại trong các vận động này,
ngài đi đến bất cứ đâu rất thong dong và tự nhiên, vì không có gì trở
ngại công trình cứu hộ thế gian của ngài. Trái lại, Thanh văn là một trí
thức ẩn dật, sở kiến của ngài hoàn toàn có tính cách triết học, và sở
kiến đó không một chút nhiệt thành của tôn giáo; ngài thoả mãn với những
gì mà tự mình đã chứng được và không hề có ý muốn cho kẻ khác san sẻ chỗ
chứng ngộ tâm linh của mình. Đối với ngài, toàn thể vũ trụ bất khả tư
nghị kia
là quyển sách khép kín, và vũ trụ
bất khả tư nghị đó chính là hoạt trường của hết thảy các Bồ-tát và nơi
đó họ tìm thấy lý do hiện hữu của mình. Dù tri thức của Thanh văn có sâu
xa và thông suốt đến đâu, vẫn còn có một thế giới vượt ngoài tầm với bắt
của họ. Thế giới này, nói theo thuật ngữ của
Gaṇḍavyūha,
là nơi mà chúng ta thấy thị hiện những sự thần biến (vikurvita),
những trang nghiêm (vyūha),
hùng lực siêu phàm
(vṛṣabha),
những du hí thần thông (vikrīdita),
những thị hiện thần biến (pratihārya),
sự tôn thắng uy nghiêm (adhipateryata),
những hành vi kỳ diệu (caritavikurvita),
uy đức tối thắng (prabhāva), năng lực gia trì (adhiṣṭhāna),
và quốc độ thanh tịnh (kṣetrapariśuddhi).
Lại nữa, đây là nơi có các cảnh giới của Bồ-tát, chúng hội Bồ tát, là
nơi các Bồ tát tập hội, thông nhập, thân cận; nơi đó có biến hoá thân
của Bồ tát, có thần thông, quyến thuộc, quốc độ, tòa sư tử trang nghiêm,
cung điện, trụ xứ nghỉ ngơi của Bồ tát; là nơi Bồ tát thâm nhập du hý
tam-muội, quán sát thế giới, ngưng tụ thần lực, dũng mãnh tinh tấn, cúng
dường các Như Lai, được thọ
ký, thành tựu, dũng lực, pháp thân thanh tịnh, trí thân viên mãn, nguyện
thân hoá hiện vô số, sắc thân tròn đầy tướng hảo; viên mãn và thanh tịnh
của tất cả các hình tướng này, một tràng ảnh tượng quang minh vô hạn, sự
trải rộng của những màng lưới quang minh, sự xuất hiện của những đám mây
thần biến, sự hiện thân khắp tất cả mười phương, sự viên mãn của những
hành vi thần biến, vân vân.
5
Bởi những nhân
và duyên nào mà có sự khác biệt giữa Thanh văn và Bồ-tát?
Gaṇḍavyūha
không quên nêu ra những nguyên nhân gây nên sự khác biệt quan trọng này,
để nói về những điều kiện nào khiến cho các hàng Thanh văn hoàn toàn mù
tối trước những vô số thần thông biến hoá diễn ra một cách kỳ diệu ngay
giữa chúng hội Bồ-tát tại rừng Thệ-đa.
Gaṇḍavyūha
cho ta những lý do sau đây:
1) Bởi vì
phước của họ không đồng; 2) bởi vì Thanh văn đã không thấy, đã không tự
mình tu tập các công đức của Phật; 3) bởi vì họ không chứng thực quan
niệm rằng vũ trụ dẫy đầy các quốc độ của Phật trong mười phương thế
giới, mỗi quốc độ đều có một hoạt cảnh vi diệu của hết thảy chư Phật; 4)
bởi vì vọ không ca ngợi những thị hiện kỳ diệu được diễn xuất bởi chư
Phật; 5) bởi vì họ không khởi tâm mong cầu vô thượng chánh giác, có thể
chứng đắc ngay giữa luân hồi; 6) bởi vì họ không khuyến dẫn kẻ khác ôm
ấp lòng mong cầu vô thượng chánh giác; 7) bởi vì họ đã không thể kế tục
gia nghiệp Như Lai; 8) bởi vì họ không bảo hộ hết thảy chúng sinh; 9)
bởi vì họ không khuyên kẻ khác thực hành các ba-la-mật của Bồ-tát; 10)
bởi vì khi còn lăn lộn trong vòng sống chết họ đã không khuyến dụ kẻ
khác tìm cầu con mắt trí tuệ tối thắng.
Lại nữa, 11)
bởi vì các hàng Thanh văn không đã không tu tập tất cả phước nghiệp để
làm nảy sinh Nhất thiết trí; 12) bởi vì họ đã không hoàn thành tất cả
phước nghiệp để thành tựu Phật quả; 13) bởi vì họ đã không làm tăng
trưởng quốc độ của Phật bằng cách tìm cầu thần thông trí; 14) bởi vì họ
không thâm nhập cảnh giới được quán sát với
con mắt Bồ-tát; 15) bởi vì
họ đã không tìm cầu phước nghiệp để làm nảy sinh tri kiến vô tỉ vượt
ngoài thế giới này; 16) bởi vì họ đã không phát nguyện thiết lập Bồ-tát
đạo; 17) bởi vì họ đã không tùy thuận với tất cả những gì phát xuất từ
năng lực gia trì của Phật; 18) bởi vì họ không nhận biết rằng tất cả các
pháp là như huyễn (māyā)
và Bồ-tát là như mộng; 19) bởi vì họ không đạt được những hoan hỉ phấn
khởi (prativegavivardhana)
của Bồ-tát; 20) bởi vì họ không chứng được tất cả trạng thái tâm linh kể
trên, trong con mắt trí tuệ của Phổ Hiền (Samantabhadra) mà hàng Thanh
văn và Phật Bích-chi coi như là xa lạ.
Vậy,
Gaṇḍavyūha
kết luận, hết thảy các vị Đại Thanh văn như ngài Xá-lợi-phất
(Sāriputra), v.v..., không có phước quả, không có tuệ nhãn, không có
tam-muội, không có giải thoát; không có thần lực
biến hoá, không có uy lực, không có tự tại, không có trụ xứ, không có
cảnh giới, để họ bước vào chúng hội của Bồ-tát và tham dự vào cuộc diễn
xuất màn kịch tâm linh vĩ đại diễn ra trong rừng Thệ-đa. Vì họ đã riêng
tìm cầu giải thoát theo thừa và đạo của Thanh văn; những gì họ thành tựu
đều không vượt ngoài quả vị của Thanh văn. Quả thật, họ đã đạt được trí
tuệ làm hiển lộ chân lý, an trụ trong biên tế của thực tại (bhūtakoṭi:
thực tế) hưởng thọ tịch diệt cứu cách (atyantaśānti),
nhưng họ không có tâm đại bi rộng lớn đối với hết thảy chúng sinh, vì họ
chỉ chuyên tâm vào những hành nghiệp của riêng mình (ātmakārya),
không có tâm chứa nhóm trí tuệ Bồ-tát và tự mình tụ tập theo đó. Họ có
riêng sự chứng ngộ và giải thoát, nhưng họ không mong cầu, không phát
nguyện làm cho kẻ khác cũng tìm thấy chỗ an trụ trong đó. Như thế họ
không hiểu thế nào là thần lực bất khả tư nghị của Như
Lai.
Nói tóm lại,
hàng Thanh văn còn bị trùm lấp dưới màn nghiệp chướng nặng nề; họ không
thể hoài bão những tâm nguyện lớn lao như các Bồ-tát, để làm lợi ích cho
hết thảy chúng sinh; sở kiến của họ không đủ sáng và không đủ sâu nên
không nhìn thấy tất cả những bí ẩn của cuộc sống; họ chưa hề khơi mở ra
cái mà Gaṇḍavyūha
gọi là con mắt của trí tuệ (tuệ nhãn,
jñānacakṣu);
với con mắt này, Bồ-tát ném cái nhìn vào tất cả những cái kỳ diệu và bất
khả tư nghì của cảnh giới tâm linh, thấy tận hố thẳm sâu xa nhất của nó.
So thế, cái sở kiến đượm triết học của hàng Thanh văn hời hợt biết bao!
6
Gaṇḍavyūha cho ta nhiều thí dụ, để
nói một cách tượng hình hơn về những điều kiện nào mà những đoá hoa của
Thanh Văn còn phải vun tưới. Tôi xin trích dẫn một đôi điều.
Dọc theo sông Hằng (Gangā), có hàng
triệu triệu quỷ đói (preta),
trần truồng và bị đói khát hành hạ; chúng cảm thấy như thân thể mình bốc
lửa; và sinh mạng bị đe dọa từng phút bởi chim chóc và mãnh thú. Cơn
khát thúc đẩy chàng đi kiếm nước, nhưng chúng không thể tìm thấy nước
đâu cả, ngay dù đứng sát dòng sông. Có con thấy dòng sông nhưng nó chẳng
thấy có nước, mà chỉ thấy một dãi đất khô ráo. Tại sao? Bởi vì nghiệp
chướng đang đè nặng lên nó. Cũng vậy, các vị Đại Thanh văn học nhiều
thấy rộng đó, dù các ngài ở ngay giữa chúng hội Bồ-tát, vẫn không thể
nhận ra những đại thần biến của Như Lai. Vì họ đã khước từ Nhất thiết
trí
(sarvajñatā)
do bởi màng vô minh che đôi
mắt; vì họ đã không gieo trồng thiện căn công đức của mình trên mảnh đất
Nhất thiết trí.
Trong các dãy
núi Hy-mã-lạp có nhiều loại dược thảo; chúng được một y sĩ có kinh
nghiệm phân biệt mỗi loại tùy theo đặc tính riêng biệt. Nhưng, những
thợ săn, những thợ chăn, thường lai vãng vùng này, không có mắt để mà
nhìn thấy các đặc tính đó. Cũng vậy, Bồ-tát đã vào trong cảnh giới của
trí tuệ siêu việt và đạt được tâm linh vô tướng, các ngài có thể thấy
các Như Lai và những thần biến vĩ đại của các Như Lai. Nhưng, Thanh
văn, ở ngay giữa những biến cố kỳ diệu đó, mà không thấy được; bởi vì họ
chỉ thoả mãn với sự nghiệp của riêng mình (svakārya),
không hề bận tâm đến việc làm lợi ích cho kẻ khác.
Một thí dụ
khác: Như một người ở trong chúng hội rộng lớn. Bỗng nhiên y buồn ngủ,
và trong cơn mộng bất ngờ y được mang lên đỉnh Tu-di sơn (Sumeru) ở đó
có một cung điện lộng lẫy của Thiên chúa Śakrendra. Chỗ này, có vô số
lầu các, đền đài, vườn tược, ao hồ v.v... mỗi thứ đều có riêng vẻ huy
hoàng. Cũng có vô số kể các loại chúng sinh thiên giới, mặt đất rải đầy
những hoa trời, cây cối được trang hoàng bằng những xiêm y đẹp đẽ, và
bông hoa thì rực rỡ. Âm nhạc vô cùng vi diệu trỗi lên từ trên các cây
cối, và những cành, lá phát ra những âm thanh hoà điệu vui tai, và những
âm thanh này hợp thành một bản hoà âm với khúc ca giai điệu của các
Thiên nữ. Vô số vũ nữ, quyến rũ với những trang sức lộng lẫy, đang hoan
lạc cùng nhau trên đài cao. Gã ấy bây giờ không còn là một kẻ bàng quang
ở khung cảnh này, bởi vì y là một trong những người dự cuộc, mình ăn vận
theo lối nhà trời, và đi lượn quanh giữa những đám dân cư của trời Thiện
kiến (Sudarśana) y như đã là thành viên của họ ngay từ đầu.
Tuy nhiên,
những hiện tượng này chưa bao giờ được một người trần khác chứng kiến,
dù là cũng tụ hội ở đây, vì những gì được người kia thấy, là một cái
thấy chỉ dành riêng cho y mà thôi. Cũng vậy, Bồ-tát cũng có thể nhìn
thấy tất cả những vẻ kỳ diệu trong thế giới xuất hiện bởi thần lực thị
hiện của Phật. Vì họ đã chứa nhóm phước đức trải qua nhiều kiếp, phát
nguyện y cứ trên nhất Thiết trí vốn không có biên tế trong thời gian và
không gian. Lại nữa, vì họ đã học tập hết thảy các công đức của Phật, tu
tập theo Bồ-tát đạo, và do đó đã chứng đắc tròn đầy Nhất thiết trí. Nói
tóm, họ đã làm tròn các hạnh nguyện của Phổ Hiền và đã sống cuộc đời
hành đạo, trong khi Thanh văn không có một chút tri kiến thanh tịnh nào
như ở Bồ-tát.
7
Từ những trích
dẫn và miêu tả trên đây, tôi hy vọng rằng, bây giờ chúng ta đã có một
bối cảnh tổng quát của
Gaṇḍavyūha, được phác
hoạ khá rõ; và cũng từ đấy chúng ta học được những ý tưởng sau đây, mà
sự thực, chúng cũng là nội dung cho chương mở đầu của Kinh, đồng thời
chúng cũng cho ta một điểm tựa tiến thêm vào chỗ tinh yếu của giáo
thuyết Đại thừa, một cách đại cương.
1. Có một thế
giới vốn không thuộc vào thế giới này, dù cả hai không rời nhau.
2. Thế giới,
nơi sinh hoạt thường nhật của chúng ta, được đặc trưng với hạn cuộc trên
mọi phương diện. Mỗi một thực tại cá biệt đối lập hẳn với những cái
khác, và những cái này kỳ thực vốn là tự tánh của nó (svabhāva).
Nhưng trong thế giới của
Gaṇḍavyūha, gọi là
Pháp giới (Dharmadhātu),
những Thực tại cá biệt được bao hàm trong một Thực tại hoằng vĩ, và Thực
tại hoằng vĩ này lại thấy tham dự trong mỗi Thực tại cá biệt. Không phải
duy chỉ thế, mà mỗi hiện hữu cá biệt bao hàm trong chính nó tất cả những
hiện hữu khác, và những cái khác cũng như vậy. Như thế có thể nói, có
một sự hỗ tương giao thiệp toàn diện trong Pháp giới.
3. Những hiện
tượng siêu nhiên này không thể xuất hiện trong một thế giới còn bị bao
trùm trong tối tăm và cứng nhắc, bởi vì, nếu như thế, sẽ không thể có
giao thiệp. Nếu một cuộc giao thiệp xuất hiện được trong những điều kiện
này, giao thiệp đó có nghĩa là sự sụp đổ toàn diện của tất cả những thực
tại cá biệt, nghĩa là, một cuộc hỗn độn.
4. Vì vậy,
Pháp giới là một thế giới của ánh sáng không bị phụ tùy với bất cứ hình
dạng bóng mờ nào. Bản tính cốt yếu của ánh sáng là hỗn giao mà không xảy
ra sự ngăn ngại hay hủy diệt lẫn nhau. Mỗi ánh sáng đơn nhất phản chiếu
trong chính nó tất cả những ánh sáng khác, vừa toàn thể, vừa cá biệt.
5. Đây không
phải là một sự giải thích mang tinh triết học về ctồn tại đạt được bằng
suy lý lạnh lùng, cũng không phải là một biểu hiện có tính cách biểu
tượng của trí tưởng tượng. Nó là một thế giới của kinh nghiệm tâm linh
hiện thực.
6. Kinh nghiệm
tâm linh cũng giống như kinh nghiệm giác quan. Nó trực tiếp, và chỉ
thẳng cho chúng ta tất cả những gì nó đã cảm nghiệm không cần nhờ đến
biểu tượng hay suy lý.
Gaṇḍavyūha phải được
lãnh hội theo cách đó – nghĩa là, nó như một tập tài liệu ghi lại đời
sống tâm linh hiện thực của một người nào đó.
7. Cảnh vực
tâm linh đó thuộc hàng Bồ-tát, không phải thuộc Thanh văn. Thanh văn yên
nghỉ trong một thế giới của trực giác trí năng và đơn điệu, cao vọi trên
thế giới tương giao vô tận của những cái cá biệt và đa thù. Bồ-tát có
một trái tim yêu thương, và cuộc đời của ngài là một cuộc đời tận tụy và
hy sinh dâng tặng cho thế giới của những cá biệt.
8. Chỉ có thể
tiếp cận xã hội của những vật thể tâm linh bằng một trái tim yêu thương
rộng lớn (mahākaruṇā);
một tinh thần bằng hữu bao la (mahāmaitrī:
đại từ), bằng đạo hạnh (śīla:
giới), bằng đại nguyện (pranidhāṇa),
bằng những năng lực thần thông
(abhijñā),
không ý đồ (anabhisaṃskāra:
vô công dụng), không vụ lợi (anāyūha),
những phương tiện khéo léo phát sinh từ trí tuệ siêu việt (prajñopāya:
huệ phương tiện), và những
sự biến hoá (nirmāṇa).
9. Vì
những
đức tính trên không có nơi hàng Thanh Văn, nên các vị Thanh văn không
được phép dự vào đại hội của Phật và Bồ-tát. Ngay dù họ đang ở giữa đại
hội, họ cũng không thể đánh giá tất cả sự kiên diễn ra trong những chúng
hội như thế. Đại thừa không phải chỉ là Tánh Không, mà đằng sau nó là
một tinh thần xã hội vĩ đại đang vận chuyển.
10. Sau hết,
chúng ta phải nhớ rằng có một năng lực
gia trì
(adhiṣṭhāna)
ở đằng sau tất cả những hiện tượng tâm linh diễn ra trong rừng Thệ-đa,
và đằng sau tất cả những hóa thân Bồ-tát vây quanh Phật. Năng lực này
phát xuất từ chính đức Phật. Ngài là một tâm điểm vĩ đại và là cội nguồn
của sự ngời sáng. Ngài là mặt trời mà ánh sáng soi thấu những góc tối
của vũ trụ, không để lại một bóng mờ ở đâu hết. Phật của
Gaṇḍavyūha,
vì vậy, được gọi là Đại Tì-lô-giá-na Phật (Mahāvairochana-Buddha), đức
Phật Đại Quang Minh hay Quang Minh Biến Chiếu.
8
Để kết luận,
tôi xin trích bài tụng của một vị Bồ-tát (2), đọc lên để tán thán các
công hạnh của Phật, cứ theo đó chúng ta có thể thấy đâu là mối quan hệ
thường có giữa Phật và đồ chúng của ngài, trong
Gaṇḍavyūha:
1. Đấng Đại Mâu-ni, đấng
tôn quý giòng họ Thích,
Đầy đủ hết thảy các
công đức;
Ai thấy Ngài tâm liền
được thanh tịnh
Và quay đầu hướng về
Đại thừa.
2. Như lai xuất hiện giữa
thế gian
Làm lợi ích khắp các
loại quần sinh,
Là do tâm nguyện đại từ
bi,
Các Ngài chuyển Pháp
luân vô thượng
3. Như Lai trải qua vô số
kiếp
Siêng năng khổ nhọc vì
chúng sinh;
Hết thảy cả thế gian
này
Làm sao báo đáp ân của
Ngài?
4. Thà chịu khổ trong các
áo đạo
Trải qua vô lượng kiếp,
Trọn không bỏ Như Lai
Mà tìm cầu sự xuất li
(giải thoát).
5. Thà chịu đủ thứ khổ
Thay cho các chúng
sinh,
Trọn không rời bỏ Phật
Mà tìm cầu chốn yên
vui.
6. Thà ở mãi trong các nẻo
khổ
Mà được nghe danh hiệu
Phật;
Không mong sinh ở nẻo
lành
Mà một thoáng không
nghe đến Phật.
7. Thà thác sinh trong các
địa ngục,
Mỗi ngục qua vô số
kiếp,
Trọn không xa lìa Phật
Mà mong cầu ra khỏi nẻo
khổ.
8. Tại sao mong ở mãi
Trong tất cả đường dữ?
Vì được thấy Như Lai
Và tăng trưởng trí tuệ
9. Nếu được thấy Phật, đấng
Thế tôn,
Trừ diệt hết thảy khổ;
Có thể vào cảnh giới
Đại Trí của Như Lai
10. Nếu được thấy Phật,
đấng Vô tỉ,
Dứt lìa các chướng
ngại,
Nuôi lớn phước vô
tận,
Thành tựu đạo Bồ-đề.
11. Nếu được thấy Phật,
Dứt sạch mọi thứ nghi;
Tùy ước muốn của tâm,
Hết thảy đều đầy đủ.
Trên đây phác họa thái độ đối với
Phật được cho là của các Bồ-tát từ mười phương tụ hội về đây. Để chứng
tỏ quan niệm về Phật nói trên có thay đổi như thế nào ở Thiền tông, tôi
trích một vài câu trả lời của các Thiền sư đối với câu hỏi: “Phật là
ai”, hay “Phật là gì?” Như hà thị Phật- Rồi ta sẽ thấy ngay ở
đây Phật không còn là một thực thể siêu việt được bao trùm giữa những
hào quang của cõi trời; mà Ngài là một cụ già ở giữa chúng ta, đang trò
chuyện với chúng ta. Ngài hoàn toàn là một con người có thể quen thân
được. Nếu Ngài có phóng ra ánh sáng nào, chúng ta phải khám phá, vì nó
không là cái có sẵn đó cho ta tiếp nhận. Óc tưởng tượng của người Trung
Hoa không bay lượn quá cao xa, quá lộng lẫy, quá linh hoạt. Tất cả những
hoạt cảnh huy hoàng được miêu tả trong phần đầu của thiên Luận này đều
được xếp lại, để lại chúng ta, một lần nữa, đứng trên mặt đất xám. Thoạt
nhìn, có một hố cách nghiêm trọng giữa Thiền tông và
Gaṇḍavyūha
nếu ta nhận xét về Phật, và những hành vi siêu nhiên cùng các đoàn tùy
tùng vây quanh. Nhưng khi chúng ta bước sâu xuống, vào tận yếu tính của
vấn đề, chúng ta sẽ nhận ra rằng quả thực có sự “tương tức tương nhập”
trong Thiền mà chỉ có thể hiểu dưới ánh sáng của
Gaṇḍavyūha.
Hoài Hải (720-814), ở Bách trượng
sơn;
có thầy tăng hỏi; “Phật là ai?”
Hải: “Ông là ai?”
Tăng: “Tôi là mỗ”
Hải: “Ông biết mỗ không?”
Tăng: “Sờ sờ đây”.
Hải bèn đưa phất tử lên và
hỏi: “Ông có thấy không?”
Tăng: “Thấy”
Hải im lặng, không nói thêm một
lời. Nhưng, câu hỏi của thầy tăng được trả lời ở chỗ nào? Ông ta có thấy
Phật chăng?
***
Linh Huấn, Phù dung sơn,
đệ tử của Trí Thường, một hôm hỏi thầy: “Phật là ai?”
Thường đáp: “Tôi sẽ nói cho ông,
nhưng ông có tin không?”
Huấn: “Nếu hoà thượng mà nói thiệt
tình, con đâu dám không tin.”
Thường: “Chính là ông đó”.
Huấn: “Làm sao bảo nhiệm (ý kiến
này)?”
Thường: “Một hạt bụi trong con mắt,
thì hoa đốm rụng tơi bời”.
Về sau, Pháp nhãn có nói: Nếu Quy
Tông (tức Tri Thường) mà không có nói lời sau, đâu có phải là Quy Tông
nữa.
***
Một thầy tăng hỏi Đại long Trí Hồng:
“Phật là ai?”
Hồng: “Phật là ông”
Tăng: “Làm sao hiểu?”
Hồng: “Ông muốn thêm quai cho bình
bát à?”
***
Tăng Huệ Siêu hỏi Pháp Nhãn:
“Phật là ai?”
Nhãn: “Ông là Huệ Siêu”
***
Tuyết Đậu, tác giả của Bích nham
tập, làm bài tụng về chỗ này:
江國春風吹不起
鷓鴣啼在深花裏
三級浪高魚化龍
癡人猶戽夜塘水
Giang quốc xuân phong xuy bất khỉ
Chá cô đề tại thâm hoa lý
Tam cấp lãng cao ngư hoá long
Si nhân do hố dạ đường thuỷ.
Gió heo may mùa xuân reo
vui trên Giang quốc;
Chim chá cô hát líu lo giữa
đám hoa rậm.
Tam cấp sóng cao cá đã hoá
rồng,
Người ngu ban đêm còn tát
nước trong mương.
Mã Tổ (Đại Tịch)
trả lời trừu tượng và triết lý hơn, khi Đại Mai hỏi: “Phật là gì?” Tổ
nói: “Tức Tâm là Phậtb即心是佛.”
Nhưng sau Mã Tổ đổi câu đáp lừng danh này thành: “Không Tâm, không Phật
非心非佛.” Nghe thế, Đại Mai quả quyết: “Dù nay Tiên sư có nói
gì, ta vẫn quyết rằng tức Tâm tức Phật.”
***
Khi Vân Cư Năng
hỏi một thầy tăng câu hỏi này, vị tăng ấy nói: “Tôi không hiểu. Ngài có
cách nào giúp?” Sư đáp: “Để giúp ông, tôi gọi y là Phật. Nếu hồi quang
phản chiếu, ông hãy tự xem thân này là gì, tâm này là gì.”
***
Thiền sư luôn luôn khuyên các môn
đệ của mình đừng bám vào văn tự. Văn tự được coi như là một phương tiện
(upāya)
giúp ta lãnh hội Thiền. Do đó có cuộc vấn đáp sau đây giữa Chân Tịnh
Khắc Văn
và một thầy tăng. Tăng hỏi: “Phật là ai?” Sư cười hết sức sảng khóai.
Tăng: “Chỗ tôi hỏi có gì mà đáng
cười?”
Sư: “Ta cười ông cố đạt ý theo văn
tự suông.”
Tăng: “Không ngờ bữa nay xui xẻo.”
Sư bèn kêu: “Khỏi làm lễ!”
Rồi thầy tăng lui về với chúng.
Nhân đó Sư lại nói:
“Kiến giải của ông vẫn theo văn
tự.”
Vì lý do đó, khi được hỏi, “Phật là
ai?” có Thiền sư đáp: “Miệng là cửa họa”. (Viên Ngộ Cần).
***
Nếu tiếp tục trích dẫn các ngữ lục
của Thiền, vấn đề sẽ không bao giờ dứt, nên ở đây sẽ chỉ đưa ra một ít
trường hợp và cho thấy có nhiều khía cạnh được nêu lên đối với sự lãnh
hội về Phật là ai hay là gì. Tất cả những giải đáp không nhất thiết phải
trỏ vào một phương diện nào đó của Phật, vì thảy đều tùy cơ duyên trong
khi hỏi.
***
Đỗng Sơn Thủ Sơ:
Ba cân gai
Vân nôn Văn Yển:
Que cứt khô
Phần châu Vô Nghiệp:
Đừng nghĩ bậy
Thủ sơn Tĩnh Niệm:
Con dâu cỡi lừa, bà nhạc dắt.
Ba tiêu Nghĩa:
“Non xanh nước biếc”
Quy tông Đạo Thuyên: “Tuyết tan
xuân tự nhiên đến.”
Bảo phúc Thù:
“Vẽ đẹp mà không giống.”
Trừng huệ Đoan:
“Nắn bằng bùn, dát vàng.”
Đạo ngô Năng:
“Chửi cũng không giận.”
Ngũ tổ sơn Pháp Diễn:
“Một người ngực trần chân không.”
Triệu châu Tùng Thẩm,
nhân tăng hỏi, “Phật là gì?” Sư đáp: “Ngồi trong điện đó.”
Tăng nói: “Trong điện đó là tượng
đất sét” – “Chính đó.” – “Phật là ai?” – “Trong điện.”
Lần khác có tăng hỏi Triệu Châu:
“Phật trước mắt đó là ai?” Sư lại đáp “Ngồi trong điện” – “Đó là sắc
thân Phật. Phật là ai?” – “Tâm là Phật” – “Tâm còn có thể lường được.
Phật là ai?” – “Vô tâm là Phật.” – “Có thể phân biệt Tâm và vô Tâm
chăng?” – Sư nói: “Ông đã phân biệt rồi còn muốn đồi gì nữa?”
***
Trích dẫn thế là nhiều. Bởi vì, bây
giờ đủ để chúng ta thấy sự gì xảy ra trong tâm các Thiền sư khi họ mỗi
người trả lời tùy theo cơ duyên. Chúng ta có thể nói rằng cái thiên tài
thực tiễn của Trung Hoa đã đưa Phật trở lại mặt đất, hoá ra Ngài có thể
nai lưng làm việc cùng chúng ta rồi trán cũng đẫm mồi hôi, và cũng bết
bùn. So sánh với khuôn mặt lộng lẫy nơi rừng Thệ-đa có mười phương
Bồ-tát vây quanh chiêm ngưỡng, thì một nét vẽ phác của Tĩnh Niệm với
Phật, bà già dắt lừa, hay một lực sĩ chân đất mà chạy, của Tri Môn,
lạ sao! Nhưng chính chỗ đó chúng ta
thấy tinh thần của Hoa Nghiêm
đã hoàn toàn chịu nước trong vùng đất Viễn Đông.
|