|
TỪ ĐIỂN DANH TỪ ĐẶC HỮU [ Tiểu dẫn ]|[ Bảng chữ tắt ]|[ Thư mục tham chiếu Hán tạng ]|[ Danh từ đối chiếu Hán - Việt - Pali ] TIỂU DẪNKhởi đầu từ các bản dịch và giảng của các Đại đức Theravādin, những người học Phật Việt nam bắt đầu làm quen với văn hệ Pali. Tuy nhiên, từ sự làm quen này, rồi liên hệ và tham chiếu với nguồn Hán tạng, nhiều khó khăn thường xuất hiện. Riêng về các vấn đề liên hệ lịch sử, truyền thuyết, truyền kỳ hay truyện kư, khó khăn càng lớn. Đại bộ phận Phật giáo thuộc văn hệ Hán tạng đều bắt nguồn từ ngôn ngữ Sanskrit; bao gồm Sanskrit Phật giáo, hỗn chủng và bác học. Trong quá tŕnh truyền dạy, tiếp nối qua các thế hệ và trải qua nhiều phương vực khác nhau, nhiều biến đổi trong phát âm khiến cho nhiều khi cùng một nhân vật, cùng một địa danh, nhưng lại khó đồng nhất giữa các truyền bản. Ngay trong nội bộ truyền bá Phật giáo Bắc phương đă vậy, khi đối chiếu với Pali trong ngả truyền bá Nam phương, sự đồng nhất giữa hai truyền thống không phải là công viêc đơn giản. Trong khi phiên dịch các bộ A-hàm và Luật Tứ phần từ Hán tạng, điều bắt buộc là phải tham khảo các văn bản Pali để t́m hiểu ư nghĩa mà các bản Hán dịch nhiều khi mơ hồ, hoặc có chỗ nhầm lẫn, chúng tôi đă phải mất nhiều công phu để xác định nhân danh địa danh. Bốn bộ A-hàm thuộc Hán tạng do bốn dịch giả khác nhau, và các bản dịch thuộc Luật Tạng cũng vậy, nên phiên âm hay dịch nghĩa các nhân danh và địa danh khác nhau nhiều khi thoạt đọc qua tưởng là hai nguồn gốc khác nhau. Sự đồng nhất được xác định phần lớn thông qua các tài liệu Pali, mặc dù cơ cấu ngữ âm học giữa Pali và Sanskrit, hỗn chủng hay Phật giáo, cũng có nhiều điểm bất đồng. Đó là chưa kể sự bất đồng do khẩu âm của các địa phương mà văn bản được lưu truyền. V́ vậy, trong khi phiên dịch Kinh Luật từ Hán tạng, chúng tôi nghĩ ngay đến một bộ Từ điển đối chiếu ngữ vựng giữa Pali và Hán tạng. Danh từ đặc ngữ Pali là một phần trong công tŕnh dự định này. Tiếp theo sẽ là bộ từ điển Pali - Hán - Việt, cũng đang được biên tập xong phần nguyên âm từ Pali, đang được chỉnh sửa để công bố dần. Tập từ điển danh từ đặc hữu Pali này được biên tập dựa trên công tŕnh Dictionary of Pāli Propre Names (DPPN) của Ông G.P. Malalasekera, nguyên Chủ tịch Hội Liên hữu Phật tử thế giới. Ông đă từng viếng thăm Phât giáo Việt nam năm 1951, được hướng dẫn bởi Đạo hữu Chánh trí Mai Thọ Truyền, bấy giờ là Phó chủ Tịch của Hội Liên hữu. Ông đă nhiệt t́nh đóng góp ư kiến cho phong trào chấn hưng Phật giáo, và cũng tích cực hỗ trợ Phật giáo Việt nam phát triển để theo kịp xu hướng phát triển của Phật giao trên thế giới. V́ vậy, ngoài ư nghĩa biên tập để làm tài liệu tham chiếu giữa hai văn hệ Nam và Bắc phương, tập Từ điển này như là nỗ lực ghi nhận công đức của Ngài Chủ tịch Malalasekera trong sự nghiệp hoằng pháp của Phật giáo Việt nam. Trong khi biên tập, phần lớn chúng tôi giữ nguyên văn nghĩa của Dictionary of Pāli Propre Names. Nhưng do tham chiếu với Hán tạng, để thống nhất ư nghĩa giữa hai truyền thống, nhiều hạng mục được viết lại. Do điều này mà công tŕnh của chúng tôi được gọi là biên dịch, theo nghiă là biên tập từ nhiều nguồn tài liệu để phiên dịch, chứ không phải thuần tuư là bản dịch từ một nguyên bản. Để tiện việc ấn hành, chúng tôi chia sách thành bốn phần. Nay giới thiệu phần đầu, gồm mục từ của các nguyên âm Pali, từ A đến O. Tự mẫu Pali không theo thứ tự như Latinh, nên cũng trở ngại đôi chút cho độc giả không biết Pali. Tuy vậy, để làm quen với ngôn ngữ được xem là Thánh ngữ của Phât giáo này, chúng tôi sắp mục từ theo thứ tự Pali. Trước khi hoàn tất công tŕnh chính là bộ Từ điển Pali – Hán - Việt, chúng tôi hy vọng tập từ điển Danh từ đặc hữu Pali này sẽ giúp một phương tiện tiện khiêm tốn để những người học Phật theo hai truyền thống Bắc và Nam khác nhau sẽ t́m thấy một nguồn mạch Chánh pháp chung, để nhận thức rơ đâu là phần giáo lư căn bản, đâu là phần phát triển do ảnh hưởng của thời đại lịch sử, và từ đó sẽ không có nhận thức thiên lệch về Đại thừa và Tiểu thừa. Nguyện hồi hướng công đức này cho sự trường tồn của Chánh pháp, v́ lợi ích nhân thiên.
P.l. 2547 Quảng Hương Già lam, Tháng 9, 19, 2003 Tuệ Sỹ Cẩn chí
|