LUẬN THÀNH DUY THỨC
(Bản dịch Việt: Tuệ Sỹ)

TỰA QUY KỈNH

滿

 

Kính lạy Đấng thanh tịnh viên măn,[1]

Và đấng thanh tịnh từng phần[2] trong Duy thức tánh.[3]

Tôi[4] nay giải thích giáo thuyết của vị ấy,[5]

V́ lợi ích và an lạc của các hữu t́nh.

Luận (Duy thức tam thập tụng) này được viết với mục đích khiếncho những ai có sự mê lầm ở trong hai Không[6] mà phát sinh nhận thức chân chính. Do nhận thức chân chính mà hai trọng chướng[7] được đoạn trừ. Bởi v́, do chấp ngă và chấp pháp mà hai chướng cùng phát sinh. Nếu chứng hai Không, các chướng ấy tùy theo đó mà bị đoạn trừ. Do đoạn trừ các chướng mà đắc hai quả vị thù thắng. Do đoạn phiền năo chướng vốn dẫn đến tái sinh[8] mà chứng chân giải thoát.[9] Do đoạn sở tri chướng vốn cản ngại nhận thức mà đắc đại bồ-đề.

Lại nữa, v́ để khai thị cho những ai mê mờ Duy thức nhầm lẫn chấp ngă và chấp pháp, khiến cho có tri kiến như thực đối với Duy thức.

Hoặc có người mê nhầm lư Duy thức;[10] hoặc chấp ngoại cảnh không phải là vô thể, như thức;[11] hoặc chấp nội thức không phải hữu thể, như cảnh;[12] hoặc chấp các thức có dụng sai biệt nhưng thể đồng nhất;[13] hoặc chấp ĺa tâm không có tâm sở riêng biệt.[14] V́ để bác bỏ những chấp trước sai biệt ấy khiến cho có được nhận thức như thực ở trong lư thâm diệu của Duy thức, do đó luận này được viết.


 

[1] Xu yếu (p613b29): Măn tịnh, và phần tịnh, (danh từ) biến cách thứ tư (sở dữ cách, làm túc từ gián tiếp), chỉ đối tượng kính lễ.

[2] Phần thanh tịnh, Thuật kư (p233a3): “Thế Thân tuy chưa lên hàng Thập địa, nhưng đă có tín giải quyết định trong Duy thức tánh; tuy chưa chứng Chân, nhưng tuỳ thuận tu tập mà từng phần sở đắc, do đó được xưng tụng là Phần thanh tịnh.”

[3] Xu yếu (p613b27): “Duy thức tánh, (danh từ) biến cách thứ 7 (sở y cách, chỉ vị trí), chỉ sở ư chứ không phải sở y.” Theo đó, nên hiểu là “Ở trong Duy thức tánh.” Skt. vijñaptimātratāyām.

[4] Thuật kư (p233c13): chỉ bản thân An Huệ. Tức bài tụng quy kỉnh này do An Huệ. Ấn bản Sanskrit (Sylvain Lévi) và bản Tạng ngữ (Enga Teramoto) đều không thấy bài tựa này.

[5] Bĩ thuyết, Thuật kư (p233c23), chỉ Duy thức tam thập tụng của Thế Thân.

[6] Hai Không, chỉ sinh không (hay nhân không, Skt. pudgala-śūnyatā) và pháp không (dharma-śūnyatā). Sthiramati: pudgala-nairātmya (nhân vô ngă) và dharma-nairātmya (pháp vô ngă).

[7] Hai trọng chướng (Skt. āvaraṇa-dvaya), chỉ  phiền năo chướng (kleśa-āvaraṇa) và sở tri chướng (jñeya-āvaraṇa).

[8] Tục sinh phiền năo; Du-già 59 (629c14): “Nên biết, hết thảy phiền năo đều là chuỗi nối kết các đời sống (kết sinh tương tục; Skt. pratisandhi-bandha).

[9] Thuật kư (p235c5): Giải thoát, Tây vực phạn âm nói ba-lị-nặc-phược-nẫm; tức Skt. parinirvāṇam, bát-niết-bàn, niết-bàn viên diệu, hay viên măn tịch diệt.

[10] Thuật kư (p236b17), Thanh Biện nói, theo thế đế, tâm và cảnh đều có; y thắng nghĩa, tâm và cảnh đều không.

[11] ibid., quan điểm của Hữu bộ.

[12] ibid., lập trường của Thanh Biện và các nhà Trung quán.

[13] ibid., một bộ phận Đại thừa. Nhiếp Đại thừa 4 (T31n1579, tr. 3392c21): có một hạng Bồ tát quan niệm chỉ có một ư thức thể.

[14] ibid., quan điểm của Kinh bộ hay Thí dụ luận giả  (Chánh lư 11, tr. 395a1), và Giác Thiên.  (cf. T́-bà-sa 142, tr. 730b26).

 

Đầu trang