LUẬN THÀNH DUY THỨC

Bản dịch Việt: Tuệ Sỹ

CHƯƠNG I.

II. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ PHÁP

V́ sao ngoài thức không thể có quan niệm về tính thực hữu của các pháp? V́ pháp ngoại tại mà Ngoại đạo và các Thừa khác quan niệm không được chứng minh là thực hữu.

A. CÁC HỌC THUYẾT NGOẠI ĐẠO

V́ sao ngă được quan niệm bởi các ngoại đạo là không tồn tại?

1. SỐ LUẬN

Vă, Số luận[1] cho rằng ngă là tư[2] thọ dụng 23 pháp gồm Đại[3] các thứ được tác thành bởi tát-đỏa, lặc-xà, đáp-ma.[4] Đại các thứ tuy là hợp thành của ba sự nhưng là thực chứ không phải giả, được tiếp nhận bằng hiện lượng.[5]

Chủ trương ấy phi lư. V́ sao?

i. Về các yếu tố

Các pháp như đại các thứ được hợp thành[6] bởi nhiều sự, như đoàn quân hay đám rừng,[7] hẵn là giả chứ không phải thực. Thế th́, làm sao có thể nói chúng được tiếp nhận bằng hiện lượng?

Lại nữa, các pháp như đại các thứ, nếu là thực hữu, chúng phải như là bản sự,[8] không phải là hợp thành của 3 sự.

ii. Về ba đức

V́ ba sự, tát-đỏa các thứ, chính là đại các thứ, tất cũng như đại các thứ, cũng phải do ba sự hợp thành.[9]

Chuyển biến không thường hằng,[10] cũng lư luận như trên.

Lại nữa, trong ba bản sự, mỗi một sự có nhiều công năng[11] nên cũng phái có nhiều tự thể. V́ công năng và tự thể phải đồng nhất.

Ba tự thể ấy đă là phổ biến,[12] th́ khi một nơi chuyển biến, các nơi khác cũng vậy. V́ tự thể không dị biệt.

Cho rằng thể và tướng của ba sự đều dị biệt, thế th́ làm sao chúng ḥa hiệp để cùng tác thành một tướng? Không thể nói khi hiệp th́ chúng trở thành một tướng, v́ tự thể vẫn không dị biệt với khi chưa hiệp.

Nếu cho rằng thể của ba sự th́ dị biệt nhưng tướng của chúng th́ tương đồng, như vậy tự mâu thuẫn với tông nghĩa của ḿnh v́ theo đó thể và tướng vốn đồng nhất. Thể tất phải như tướng, mặc nhiên là một; tướng cũng phải như thể, hiển nhiên có ba.

Như vậy, không thể nói ba hiệp thành một.

iii. Ba đức và các yếu tố

(1) Lại nữa, ba sự là biệt, đại các thứ là tổng. V́ tổng và biệt là một, cho nên, hoặc không thể là một, hoặc không thể là ba.

(2) Ba sự này khi chuyển biến, nếu không hoà hiệp thành một tướng,[13] chúng phải như trước khi chưa chuyển biến. Vậy, v́ sao sắc được nhận thức hiện tiền như là một?[14]

Nếu ba sự hoà hiệp thành một tướng, chúng phải mất đi tướng dị biệt nguyên thuỷ, và như vậy thể của chúng cũng mất.

(3) Không thể nói mỗi ba sự đều có hai tướng, là tổng tướng và biệt tướng. V́ tổng cũng chính là biệt, như vậy tổng phải là ba, làm sao được thấy như là một?

(4) Nếu cho rằng thể của ba sự, mỗi sự có ba tướng mà sự hoà hiệp hỗn tạp của chúng khó nhận ra cho nên được nhận thức như là một:

a. Nhưng, đă có ba tướng, đâu có thể thấy là một.[15]

b. Và rồi làm sao có thể biết được có sự dị biệt của ba sự?[16]

c. Nếu mỗi một sự đều có đủ ba tướng, thế th́ mỗi một sự có thể tác thành sắc các thứ, v́ sao phải hội đủ ba sự hoà hiệp chứ không thể thiếu bớt một?

d. Mỗi sự cũng phải có ba thể, v́ thể chính là tướng.

e. Lại nữa, các pháp như đại các thứ đều do ba sự hiệp thành, sẽ không có sự sai biệt giữa pháp này và pháp kia, thế th́ sẽ không có sự sai biệt giữa nhân và quả; giữa các duy lượng, các đại, các căn.[17] Nếu vậy, bằng một căn mà có thể tiếp nhận được tất cả mọi cảnh; hoặc một cảnh có thể được tiếp nhận bởi tất cả các căn. Và như vậy, nhưng ǵ được nhận thức trong thế gian, hữu t́nh và phi t́nh, các vật tịnh hay uế, hiện lượng hay tỉ lượng, vân vân, tất cả sẽ không có ǵ sai biệt. Thế th́ hết sức sai lầm.

Do đó, pháp mà học thuyết ấy quan niệm là thực hữu chỉ là hiện hữu do suy diễn bởi  tưởng tượng cá nhân thôi.

2. THẮNG LUẬN

Các cú nghĩa,[18] thực v.v., mà Thắng luận[19] quan niệm, vốn đa thù, thực hữu tính,[20] được nhận thức bằng hiện lượng.[21]

Quan điểm của phái ấy phi lư. V́ sao?

1. Tổng phá.

(1)Trong các cú nghĩa,[22] những cú nghĩa được cho là thường trú,[23] (a) nếu chúng có khả năng sinh quả,[24] tất phải vô thường, v́ có tác dụng; như quả được sinh. (b) Nếu không sinh quả,[25] chúng không có tự tánh thực hữu tồn tại ngoài thức, như sừng thỏ v.v.[26]

(2) Những cú nghĩa được cho là vô thường, (a) nếu có tính chất ngại,[27] tất phải có phương phần,[28] và có thể bị phân tích, như đoàn quân, khu rừng v.v., không có tính thực hữu. (b) Nếu không có tính chất ngại,[29] như tâm và tâm sở,[30] tất không thể ngoài đây[31] mà thực hữu tự tính.

2. Thực và đức.[32]

a. Lại nữa, đất, nước, lửa, gió mà phái ấy quan niệm không thể là những cái có tính cản ngại được bao hàm trong cú nghĩa thực,[33] v́ được xúc chạm bởi thân căn;[34] như cứng, ướt, nóng, động.[35]

b. Hoặc, các tính chất cứng, ướt, nóng, v.v.,[36] mà phái ấy quan niệm không thể là những thứ có tính không cản ngại được bao hàm trong cú nghĩa đức, v́ được xúc bởi thân căn,[37] như đất, nước, lửa, gió.

c. Ba thực thể đất, nước, lửa, đối màu xanh các thứ[38] đều được thấy bởi mắt, chuẩn theo đó mà phê b́nh.

Do đó biết rằng, không có thực thể đất, nước, lửa, gió tồn tại với tự tính riêng biệt ngoài cứng, ướt, v.v., cũng không phải mắt thấy thực thể đất, nước, lửa.

3. Tái nghiệm xét cú nghĩa.

a. Lại nữa, trong cú nghĩa thực mà phái ấy quan niệm, những cái thường hằng,[39] có tính cản ngại, v́ thảy đều có tính cản ngại, như đất thô, tất phải là vô thường.

b. Trong các cú nghĩa khác, các pháp không chất ngại được nhận thức bởi sắc căn[40] tất phải có tính ngại, v́ cho rằng được nhận thức bởi sắc căn,[41] như đất, nước, lửa, gió.

c. Các cú nghĩa không phải là thực như đức v.v. [42] theo quan niệm của phái ấy tất không có tự tánh riêng biệt ngoài thức, v́ thuộc về phi thực, như con của thạch nữ.

d. Những ǵ phi hữu, như thực, v.v.,[43] tất không thể ĺa thức mà có tự tính riêng biệt, v́ thuộc về phi hữu, như hoa đốm giữa trời.

4. Phủ định hữu tánh

a. Đại hữu tánh[44].-

Hữu mà phái ấy quan niệm không thể có tự tánh riêng biệt tách ngoài thức, v́ cho rằng phi vô, như thức, đức, v.v.[45]

Nếu tách rời thực các thứ tất không phải là hữu tánh, v́ được cho rằng dị biệt với thực các thứ, như cái vô tuyệt đối, v.v.[46]

Cũng như hữu không phải là vô, không có tự tánh riêng biệt,[47] tại sao thực, v.v., có tự tánh riêng biệt?

Vậy, hữu tánh ấy chỉ là sự suy diễn theo tưởng tượng.

b. Đồng dị tánh[48].-

Lại nữa, Thắng luận quan niệm rằng thực tánh, đức tánh, nghiệp tánh dị biệt với thực, đức, nghiệp;[49] quan niệm này không hợp lư. Không nên cho rằng đây cũng không phải là thực tánh, đức tánh, nghiệp tánh, v́ bị biệt thực, v.v., như đức, nghiệp, v.v.[50]

Lại nữa, thực v.v. không thể được bao hàm trong thực v.v. V́ dị biệt thực tánh v.v. Như đức, nghiệp, thực.[51]

Địa tánh v.v. đối chiếu thể của địa v.v. để trưng cật lẫn nhau, chuẩn theo trên mà lập luận.

Cũng như thực tánh v.v.[52] không khác biệt thực tánh v.v., thực v.v. cũng không khác biệt thực tánh.

Nếu tách ngoài thực các thứ mà có thực tánh các thứ, th́ cũng nên tách ngoài phi thực các thứ mà có phi thực tánh các thứ.

Trường hợp kia mà có thể, sao đây lại không thể? Vậy, đồng dị tánh chỉ là khái niệm giả lập.

c. Ḥa hiệp cú.-

Cú nghĩa ḥa hiệp mà Thắng luận quan niệm[53] quyết định không phải là thực hữu. V́ được bao hàm trong các pháp phi hữu, phi thực các các thứ.[54] Như cái tuyệt đối không tồn tại.

Thắng luận quan niệm rằng thực các thứ, được nhận thức bằng hiện lượng,[55] theo lư mà suy trưng, cũng c̣n không phải là thực hữu, huống ǵ cú nghĩa ḥa hiệp, mà phái ấy cho rằng không được nhận thức bằng hiện lượng, lại có thể thực hữu?

5. Giải thích của Duy thức

a. Nhưng, thực v.v. của Thắng luận không phải là cái đạt được bằng hiện lượng do lấy tự thể thực hữu ngoài thức làm đối tượng.[56] V́ được cho là sở tri. Như lông rùa các thứ.

b. Lại nữa, trí lấy thực làm đối tượng không thuộc trí (nhận thức) bằng hiện lượng lấy tự thể của cú nghĩa thực tồn tại ngoài thức làm đối tượng. V́ phát sinh từ giả hợp.[57] Như trí (nhận thức) đức v.v. Nói rộng ra, cho đến, trí lấy ḥa hiệp làm đối tượng không thuộc trí hiện lượng lấy làm đối tượng là tự thể của hoà hiệp tồn tại ngoài thức. V́ phát sinh từ sự giả hợp. Như trí lấy thực làm đối tượng.

Vậy, các cú nghĩa của Thắng luận, thực v.v., chỉ là những suy diễn do tưởng tượng sai lầm.

3. ĐẠI TỰ TẠI THIÊN GIÁO[58]

Có thuyết cho rằng có một vị Đại Tự Tại Thiên mà tự thể là thực, phổ biến, thường hằng, sinh ra các pháp.

Quan niệm ấy phi lư. V́ sao? V́ pháp nào mà sinh sản (các pháp khác), pháp ấy tất không phải là thường hằng. Và v́, cái ǵ không thường hằng, cái ấy không phổ biến. Cái ǵ không phổ biến, cái ấy không chân thật.

Nếu tự thể thường hằng, phổ biến, sẵn đủ các công năng, tất phải trong mọi thời đồng loạt đột sinh tất cả mọi pháp. Nếu cần phải có dục và duyên mi sinh sản, thế th́ mâu thuẫn với nhất nhân luận.[59] Hoặc dục và duyên cũng phát nhất thời đột hiện, v́ nguyên nhân luôn luôn hiện hữu.

4. BẢY LUẬN SƯ NGOẠI ĐẠO

Các thuyết khác chấp có một Đại Phạm,[60] thời,[61] phương,[62] bản tế,[63] tự nhiên,[64] hư không,[65] ngă. Những cái này thường trú, thực hữu, đủ các phẩm tính, sinh sản tất cả các pháp. Chúng cũng bị bác bỏ như trên.

5. THANH LUẬN SƯ[66]

Thuyết khác chủ trương rằng chỉ riêng âm thanh của Minh luận là thường hằng, là tiêu chuẩn để biểu thị các pháp.

Thuyết khác cho rằng tất cả âm thanh đều thường hằng, nhưng cần hội đủ duyên mới hiển hiện hay phát sinh.[67]

Cả hai thuyết đều phi lư. V́ sao?

a. Vă, âm thanh của Minh luận được cho là khả năng biểu thị, tất phải là không thường trú. Như các thanh khác.

b. Các loại thanh khác cũng không thể là tự thể âm thanh thựng hằng, như b́nh, vải các thứ, v́ cần hội đủ các duyên.

6. THUẬN THẾ NGOẠI ĐẠO[68]

Có thuyết ngoại đạo cho rằng cực vi của đất, nước, lửa, gió là thực, thường hằng, sinh thô sắc.[69] Lượng của thô sắc không vượt qua lượng của nhân,[70] tuy là vô thường nhưng tự thể là thực hữu.[71]

Thuyết này phi lư. V́ sao?

a. Cực vi mà phái ấy chấp nếu có phương phần,[72] như hàng kiến các thứ, tất không phải là tự thể thực hữu. Nếu không có phương phần, như tâm và tâm sở, tất không thể tụ tập để sinh quả thô là sắc.

b. Đă có thể sinh quả, hẵn như các được sinh kia, làm sao có thể nói cực vi là thường trú?

c. Lại nữa, lượng của quả được sinh không vượt quá lượng của nhân, vậy nó phải bằng như cực vi, không thể gọi là thô sắc. Và như vậy, sắc của quả ấy tất không thể được nhận thức bởi căn con mắt các thứ. Như thế th́ trái với lập trường của ḿnh.

Nếu cho rằng[73] sắc quả kết hợp với phẩm tính lượng trong cú nghĩa đức, nên không phải là thô mà tương tợ như thô, được tiếp nhận bởi sắc căn. Nhưng nếu lượng của sắc quả đă bằng với lượng của nhân, thế th́ nó phải như cực vi, không thể kết hợp với phẩm tính thô trong cú nghĩa đức. Hoặc cực vi[74] cũng có thể kết hợp với phẩm tính thô, như thô quả sắc. V́ không có không gian riêng biệt.[75]

d. Nếu cho rằng sắc quả phổ biến khắp trong nhân của nó, v́ nhân không phải là một[76] nên có thể nói là thô. Thế th́, thể của quả sắc này không thể là một, như nhân sở tại, v́ không gian riêng biệt.[77] Đă thế th́ quả ấy không thành thô, và do vậy cũng không thể được tiếp nhận bởi sắc căn.

e. Nếu nói quả do nhiều bộ phận hợp thành nên thành thô. Nhiều cực vi làm nhân để kết hợp, thế th́ không phải là vi tế; như vậy đủ thành căn, cảnh, cần ǵ đến quả? Đă là có nhiều bộ phận th́ không thể là thực hữu. Như vậy, quan điểm của ông trước sau mâu thuẫn nhau.

f. Lại nữa, quả và nhân đều có tính chất ngại, tất không thể đồng xứ, như hai cực vi.

Nếu cho rằng thể của quả và của nhân thiệp nhập nhau, như cát hút nước, như dược liệu hoà tan trong dung dịch đồng, ai bảo thể của cát và lọ hút nước và thuốc? [Cực vi] hoặc bị tách rời,[78] hoặc bị biến đổi,[79] không phải nhất thể, không phải thường hằng.

g. Lại nữa, nếu thể của thô quả sắc là nhất thể,[80] thế th́ khi được một bộ phận cùng là được toàn thể, v́ cái này và cái kia là một. Không chấp nhận th́ trái lư. Chấp nhận th́ trái sự.

Do đó, quan điểm ấy tiến hay thối đều bất thành, chỉ là sự suy diễn theo tưởng tượng sai lầm.

7. TỔNG PHÁ NGOẠI ĐẠO

Các thuyết ngoại đạo tuy có nhiều phẩm loại, nhưng pháp mà các phái ấy chủ trương không quá 4 khuynh hướng.[81]

i. Cho rằng thể của hữu pháp và hữu tánh[82] các thứ[83] quyết định là đồng nhất, như Số luận, v.v.[84]

Thuyết này phi lư. V́ sao?

a. Không thể nói tất cả pháp cũng chính là hữu tánh, v́ thảy đều như hữu tánh, không có tự thể sai biệt. Như vậy mâu thuẫn với quan điểm nói ba đức và ngă có tự thể dị biệt. Và cũng mâu thuẫn với thế gian, theo đó các pháp sai biệt nhau.

b. Lại nữa, nếu sắc tức sắc tánh, sẽ không có sự khác nhau của các sắc xanh, vàng các thứ.

ii. Quan niệm thể của hữu pháp và của hữu tánh quyết định dị biệt, như Thắng luận, v.v.[85]

Thuyết này phi lư. V́ sao? Không nên nói tất cả pháp không phải là hữu tánh, như vô thể của cái đă diệt,[86] không thể nhận thức được. Như vậy mâu thuẫn với tự giáo, theo đó tự thể của thực (cú nghĩa) các thứ không phải không hiện hữu. Và cũng trái với tri giác hiện thực của thế gian là có vật thể hiện hữu.

b. Lại nữa, nếu sắc không phải là sắc tánh, thế th́ nó như thanh, không phải là đối tượng của con mắt.

3. Quan niệm hữu pháp và hữu tánh vừa đồng nhất, vừa dị biệt.[87] Như phái Vô tàm, vv.[88]

Thuyết này phi lư. V́ sao? Nhất và dị, cũng sai lầm như nhất và dị đă nói trên kia. Và v́ hai đặc tướng mâu thuẫn nhau, th́ tự thể của chúng cũng phải khác nhau. Và v́, nhất thể và dị thể cùng tồn tại th́ không thành. Không nên nói tất cả các pháp đều đồng một thể. Hoặc cái vừa nhất vừa dị chỉ là giả chứ không thực, nhưng quan niệm là thực th́ nhất định không hợp lư.

4. Thuyết thứ tư, quan niệm hữu pháp và hữu tánh v.v. không phải đồng nhất cũng không phải dị biệt, như pháp Tà mạng.[89]

Thuyết này phi lư. V́ sao? Phi nhất cũng đồng với dị; phi dị cũng đồng với nhất.

Câu nói “phi nhất dị” là phủ định hay khẳng định? Nếu chỉ là khẳng định, th́ không thể phi bác cả hai.[90] Nếu chỉ là phủ định, thế th́ không có ǵ được chủ trương.[91] Nếu vừa khẳng định vừa phủ định, thế th́ mâu thuẫn lẫn nhau. Nếu vừa không phải khẳng định, vừa không phải phủ định, thế th́ thành hư luận.

Lại nữa, phi nhất dị th́ trái với nhận thức chung của thế gian là có vật vừa nhất vừa dị;[92] và cũng mâu thuẫn với tông nghĩa của ḿnh theo đó hữu pháp, sắc v.v., quyết định thực hữu.

Vậy, những điều phái ấy nói chỉ là để tránh né sai lầm. Những người có trí không nên nhầm lẫn mà chấp nhận.


--------------------------------------------------------------------------------------

[1] Thuật kư: Số luận, Phạn âm là Tăng-khư (Skt. Samkhyā), dịch là số, tức trí tuệ số. Do tính đếm căn bản của các pháp, theo đó mà đặt tên... Người sáng lập là Kiếp-tỉ-la, phiên âm cũ là Ca-t́-la, dịch là Huỳnh Sắc. Tiểu sử truyền thuyết, xem Kim thất thập luận 1 (tr.1245a8).

[2] ibid., (tr.

1245c5): ngă là tri giả (skt. cit, cetana, caitanya, jñā).

[3] Số luận là triết thuyết nhị nguyên luận, với hai bản thể:  Thần ngă  (Puruṣa), bản thể tâm linh; và Tự tánh (Prakṛti), bản thể của vật chất. Từ tự tánh, khi kết hợp vi Thần ngă, phát sinh 23 sự thật, theo thứ tự: đại (mahat), ngă mạn (ahaṃkāra); từ ngă mạn phát sinh 16 thứ: 11 căn (indriyāni) và năm duy (pañca tanmātrāṇi); từ 5 duy phát sinh 5 đại (pañca mahābhūtāni); ibid., (tr.1250b30). Trong đó, một nguyên lư duy bản chất là tự tánh; duy biến thái gồm có 5 đại và 11 căn v́ được sinh từ cái khác ch tự thân không làm bản chất để phát sinh cái khác; vừa bản vừa biến gồm đại, ngă mạn và 5 duy v́ được sinh từ cái khác và cùng phát sinh ra cái khác. Thần ngă phi bản, phi biến. ibid., (tr.245c90). Tổng thể, có tất cả 25 nguyên lư, từ đó phát sinh tất cả mọi hiện tượng.

[4] Ba đức (tri-guṇa), 3 yếu tính trong tự tánh (prakṛti). Thuật kư, tát-đỏa (Sk. sattva),  dịch là hữu t́nh, dũng kiện; lặc-xà (Sk. rajas), dịch là vi (tế), như lông ḅ, hạt bụi;  đáp-ma (Sk. tamas) dịch là ám, tức ám độn. Ba yếu tính này c̣n chỉ cho, theo thứ tự, hỉ, ưu, ám; nhiễm, thô, hắc (đen); vàng, đỏ, đen. Cf. Kim thất thập, tr. 247c15. Do tỉ lệ ḥa hiệp khác nhau của 3 yếu tính này mà xuất hiện các yếu tố khác nhau.

[5] Kim, ibid. tr. 245c23: có ba công cụ nhận thức: chứng, tỷ và Thánh ngôn. Tức hiện lượng (pratyakṣa-pramāṇa), nhận thức bởi trực giác; tỷ lượng (anumāna), nhận thức bằng loại suy hay luận lư học; Thánh giáo lượng (āgama), nhận thức được truyền bởi Thánh giáo.

[6] Thuật kư: nói là thành, chứ không nói là sinh, để không trái với tông nghĩa của Số luận.

[7] Thuật kư: không lấy b́nh làm thí dụ; v́ tuy cũng do nhiều thứ hiệp thành nhưng các thứ này không rời nhau. Trong khi, đoàn quân do nhiều lính và đám rừng do nhiều cây, chúng biệt lập nhau.

[8] Như bản sự, như ba đức nguyên thủy, tức như bản tự tánh.

[9] Trừ Thần ngă và Tự tánh, 23 yếu tố c̣n lại đều là hợp thành của ba đức. Kim thất thập (tr. 1247b19): biến dị có 3 đức. Biến dị là đại (mahat), ngă mạn (ahaṃkāra), cho đến 5 đại (mahābhūtāni).

[10] Phản luận, ba đức cũng chuyển biến vô thường như đại các thứ. Nêu mâu thuẫn ngay trong chủ trương của Số luận. Thuật kư (tr. 253c24): nói chuyển biền phi thường để tránh lỗi năng biệt bất cực thành, và không có đồng dụ. V́ Số luận không quan niệm vô thường theo nghĩa hoại diệt, mà theo nghĩa chuyển biến. Cf. Kim thất thập, tr.1247a28: tự tánh thựng hằng, ibid., tr. 1247b8: tự tánh không chuyển biến.

[11] Công năng phát sinh đại các thứ.

[12] ibid., tr. 1247b1: tự tánh và ngă phổ biến khắp mọi nơi.

[13] ibid., (tr.1248a26): ba đức, tự thể, theo thứ tự, là hỷ, ưu, ám; ba tướng: khinh quang (sáng và nhẹ), tŕ động (hưng phấn và xung động), trọng phú (nặng nề và mù quáng).

[14] Sắc được thấy thành ba, thay v́ là một, v́ có ba tự thể, như ba sự.

[15] Thuật kư (tr.255a07): như vậy, một đại (mahat) phải được thấy thành 9 thay v́ chỉ một, v́ mỗi sự đều có 3 sự.

[16] ibid.,  (tr.255a13): V́ tát-đỏa cũng do 3 sự như lặc-xà, nên không thể khác nhau.

[17] Tức 5 duy (lượng),  5 đại và 11 căn. Xem trên.

[18] Skt. padārtha: phạm trù (thực tại). Căn bản có 6 (Vaiśeṣika-sūtra): thực (dravya), đức (guṇa), nghiệp (karma), đồng (sāmānya), dị (sādṛśya), ḥa hiệp (samavāya). Về sau, chỉnh lư và triển khai thành 10: 6 cú nghĩa đầu, như trên, thêm 4: hữu năng (śakti), vô năng (aśkati), câu phần (sādṛśya: tương tợ), vô thuyết (abhāva).  Bách luận Thành duy thức chỉ đề cập 6. Xem, Thắng tông thập cú nghĩa luận (T54n2138). Tác giả: Thắng giả Huệ Nguyệt; Hán dịch: Huyền Trang. Skt. Vaiśeṣika-nikāya-daśapadārtha-śāstra, bản Phạn thất lạc.

[19] Skt. Vaiśeṣika. Thuật kư 1 (tr. 255b26): “Phệ-thế-sư-ca, đây dịch là Thắng . Sáng lập lục cú luận, mà không có học thuyết nào hơn nỗi, nên gọi là Thắng. Hoặc do Thắng nhân sáng lập nên gọi là Thắng luận.” Vaiśeṣịka-sūtra 1.1: “Mọi hiện tượng sai biệt (dharmaviśeṣa) phát sinh từ chân trí, vốn quan hệ với đồng tướng và dị tướng của sáu cú nghĩa.” Bách luận 1 (T30n1569, tr.171b7): “Đệ tử của Ưu-lâu-ca (Skt. Ulūka) tụng kinh Vệ-thế-sư...”

[20] Đa thực hữu tính, có 2 giải thích: đa phần, hoặc đa thù. Thuật kư: “Nói là đa, để nêu rơ không phải chỉ một pháp (tức đa thù). Từ ba pháp trở lên được nói là đa. Trong 9 cú nghĩa, 9 cú nghĩa là thực hữu. Cú nghĩa thứ 10 là vô. Đa phần thực hữu nên nói là đa.” Nghĩa đăng (tr. 689a28): “Trong thực cú, đoàn quân, khu rừng là giả, như luận đă nói... Những cái đó, một phần ít là giả, c̣n lại đa phần là thực.”

[21] Thuật kư, ibid., trong 6 cú nghĩa, trừ hoà hiệp, 5 c̣n lại được nhận thức bởi hiện lượng. Thắng tông (tr.1263b06): Căn cảnh khi ḥa hiệp làm phát sinh nhận thức, đó gọi là hiện lượng. Các h́nh thái hiện lượng: 4 ḥa hiệp sinh (căn, cảnh, ngă, ư), 3 ḥa hiệp sinh (căn, ư, ngă), 2 hoà hiệp (ư và ngă).

[22] Các cú nghĩa, xem các cht. 111, vv., ở dưới.

[23] Trong 10 cú nghĩa, 6 thường: đồng, dị, ḥa hiệp, hữu năng, vô năng, câu phần. Thực, đức, vô thuyết, một phần thường, một phần vô thường. Nghiệp, duy vô thường. Trong 9 thực, 5 thường; 4 phân biệt: đất, nước, lửa gió nếu là đại sơ bản, chúng thường hằng; nếu hợp thể, chúng vô thường. Trong 24 đức, 14 vô thường (giác, lạc, khổ, dục, sân, cần dũng, pháp, phi pháp, hành, ly, bĩ tánh, thử tánh, thanh, hương).

[24] Trong thực cú, 4 đại sơ bản (đất, nước, lửa, gió), trong đức có 10, và hữu năng, là thường và sinh quả.  5 cú nghĩa c̣n lại (đồng, dị, ḥa hiệp, vô năng, câu phần), thường nhưng không sinh quả.

[25] Xem cht. trên.

[26] Thắng luận, cái tuyệt đối không tồn tại, thuộc cú nghĩa vô thuyết (abhāva, vô thể), là thường trú. Do đó, dẫn sừng thỏ làm đồng dụ.

[27] Trong thực cú, 4 đại phái sinh (cực vi con), và ư, là vô thường, và có tính chất ngại.

[28] Có phương sở hay vị trí và phần vị hay thành phần.

[29] 4 trong thực cú (không, thời, phương, ngă), và 9 cú nghĩa c̣n lại, không có tính chất ngại. Vô thường, không chất ngại: gồm toàn phần 14, và một phần 10 trong 24 đức; 5 toàn phần nghiệp; toàn phần vô thể của cái chưa sinh (prāgabhāva), một phần vô thể của cái không hội trong cú nghĩa vô thuyết (vô thể).

[30] Tâm, tâm sở, tức giác, lạc các thứ trong đức cú của Thắng luận, được quan niệm là vô thường, không chất ngại. Do đó dược dẫn là đồng dụ.

[31] Không ngoài thức.

[32] Thực cú nghĩa (dravya-padārtha: phạm trù vật thể hay thực thể) có 9: địa (pṛthivi), thủy (ap), hỏa (tejas), phong (vāyu), không (ākāśa), thời (kāla), phương (diś), ngă (ātman), ư (manas). Đức cú nghĩa (guṇa-padārtha), phạm trù phẩm tính, có 24: sắc (rūpa), vị (rasa), hương (gandha), xúc (sparśa), số (saṃkhyā), lượng (parimāṇa), biệt thể (pṛthaktva), hiệp (saṃyoga), ly (vibhāga), bĩ thể (paratva), thử thể (aparatva), trọng thể (gurutva), dịch thể (dravatva), nhuận (sneha), thanh (śabda), giác (buddhi), lạc (sukha), khổ (duḥkha), dục (icchā), sân (dveṣa), cần dũng (prayatna), pháp (dharma), phi pháp (adharma), hành (saṃskāra).

[33] Thắng tông, (tr.1264a13): trong thực cú, 5 có chất ngại: đất, nước, lửa, gió và ư; 4 c̣n lại không chất ngại.

[34] ibid., tr. (1264a18): 4 có xúc: đất, nước, lửa, gió. C̣n lại 5, vô xúc. V́ có xúc, nên nói là được tiếp nhận bởi thân căn.

[35] Thuật kư (tr.258c10): cứng, ướt v.v., thuộc xúc trong cú nghĩa đức. Thắng tông, tr. 1263a09, Vaiśeṣika-sūtra 2.1.1: Xúc, đối tượng được nhận thức bởi da, với 3 trạng thái: lạnh (śīta), nóng (uṣṇa), và không lạnh không nóng (anuṣṇāśīta).

[36] Thuật kư: đây là các tính chất trong xúc đức. Sūtra 2.1.1:  xúc có 3, lạnh (śīta), nóng (uṣṇa), không lạnh không nóng (anuṣṇāśīta).

[37] Thuật kư, (tr.258c22): theo thuyết Thắng luận, thân căn nhận thức được 11 đức: xúc, số, lượng, biệt tánh, hiệp, ly, bĩ tánh, thử tánh, dịch tánh, nhuận, thế dụng (tức hành, saṃskāra).

[38] Vaiśeṣika-sūtra 2.1.1: đất màu xanh (nīla), nước màu trắng (śveta), lửa màu sáng chói (bhāsvara). Thắng tông, (tr.1264a20, 21): ba thực thể này có thể thấy bằng mắt.  Gió không có màu.

[39] Trong cú nghĩa thực, bốn đại sơ bản (cực vi cha mẹ) và ư, là thường hằng, hữu ngại. Các đại phái sinh hay hợp thể (cực vi con), như đất thô, thảy đều vô thường.

[40] Các pháp này, trong cú nghĩa đức, có 15: sắc, vị, hương, xúc, thanh, số, lượng, biệt thể, hiệp, ly, bĩ thể, thử thể, trọng thể, dịch thể, nhuận; cùng với nghiệp, đại hữu (đồng), câu phần.

[41] Thắng tông, (tr.1264a25): 5 trong 9 thực cú là căn, đất; tỉ căn, nước: thiệt căn, lửa: nhăn căn, gió: b́ căn, không: nhĩ căn. ibid., (tr.1263c12): cú nghĩa đồng, bởi tất cả các căn; tr. 1263c23: trong cú nghĩa câu phần, thực tánh (dravyatva) được nhận thức bởi nhăn xúc (tr.1263c26); đức tánh (guṇatva) bởi tất cả căn (tr.1263c28); nghiệp tánh (karmatva), bởi nhăn xúc (tr.1263c29). 

[42] Thuật kư (tr.259b04): trừ thực cú, 8 cú nghĩa c̣n lại đều phi thực. Thuật kư không kể vô thuyết.

[43] Hán: phi hữu thực đẳng; Thuật kư: “Các cú nghĩa thực v.v. ngoài giác, lạc các thứ, và không phải hữu tánh.” Sūtra 1.2.7-9: “Nguyên nhân làm phát sinh khái niệm tồn tại nơi thực, đức, nghiệp, đó gọi là hữu tánh (sattā). Hữu tánh là nguyên lư ở ngoài thực, đức, nghiệp. Hữu tánh không phải là đức, không phải là nghiệp, v́ nó tồn tại nơi đức, nghiệp.”

[44] Cựu dịch đại hữu tánh, tân dịch là đồng (cú nghĩa). Skt. sāmānya.

[45] Xu yếu (tr.622c11), lập luận của Thắng luận: “Hữu tánh có tự tánh riêng biệt tách ngoài thực cú,v.v. V́ (phái này) cho rằng phi vô. Như đức, nghiệp.” Nhân phạm lỗi pháp tự tướng tương vi. Cf. Nhân minh nhập chánh lư luận (T32n1630, tr.12a15); Nhân minh nhập chánh lư luận sớ (T44n1840, tr.112a12).

[46] Tất cánh vô (atyantābhāva), tuyệt đối không tồn tại, một trong 5 vô thuyết (abhāva). Thuật kư: từ “đẳng,” kể luôn vị sanh vô (prāgabhāva).

[47] Thuật kư (tr.259c26) giải thích: “Như hữu tánh không phải là pháp không tồn tại (vô pháp), hữu tánh không dị biệt cái hữu của hữu tánh; vậy, thực v.v. cũn không phải là vô, tại sao không có cái hữu riêng biệt?”

[48] Tức dị cú nghĩa (viśeṣa-padārtha). Thuật kư (tr. 256c21): “Cựu dịch là đồng dị tánh. Vừa đồng vừa dị, nên nói là đồng dị tánh.”

[49] Sūtra 1.2.5: “Thực tánh (dravyatva), đức tánh (guṇatva), nghiệp tánh (karmatva), vừa đồng vừa dị.” ibid.1.2.2: “Thực tánh, trong đó bao hàm đa số, cho nên nói nó là cái tồn tại ngoài thực.” Thuật kư (tr. 260a22): “thật tánh, đức tánh, nghiệp támh, tức đồng dị tánh.”

[50] ibid., “Không nên cho rằng đồng dị tánh này cũng không phải là đồng dị tánh. Tổng lập lượng: Thực tánh, đức tánh, nghiệp tánh mà các ông quan niệm tất không phải là thực tánh, đức tánh, nghiệp tánh. V́ dị biệt thực, đức, nghiệp. Như ḥa hiệp, v.v.”

[51] Văn lập luận tổng hợp. Thuật kư phân tích: Thực hẵn không phải là thực. V́ bị biệt thực tánh. Như đức, nghiệp. Thay chủ từ trong tông chi bằng đức, nghiệp, cũng vậy. Xu yếu (622c23): trong lập luận của Thắng luận, nhân phạm lỗi hữu pháp tự tướng tương vi (dharmi-svarūpa-viparita-sādhana). Tức là nói, “Đồng dị tánh quyết định tồn tại biệt lập ngoài thực (cú nghĩa). V́ dị biệt thực. Như đức, nghiệp.”

[52] Thực tánh (dravyatva), v.v.,  tức đồng dị tánh (viśea).

[53] Thuật kư (tr.): “Thắng luận quan niệm có một pháp thường hằng, chân thật, có tác dụng kết hợp khiến cho thực các thứ lệ thuộc nhau không phân ly.” Sūtra 7.2.26: Trong quan hệ nhân quả, nguyên nhân làm phát sinh khái niệm “Cái này tồn tại nơi cái này,” nguyên nhân đó được gọi là ḥa hiệp. Tarkasaṅgraha 75: Ḥa hiệp là sự kết hợp thường hằng, tồn tại không thể phân ly...Như đức với cái có đức là thực, nghiệp với cái có nghiệp là thực.

[54] Phi hữu (asat), phi thực (adravya): chỉ các thức không thuộc hữu tánh (sattā) tức không tồn tại, và các thứ không thuộc trong cú nghĩa thực, tức 8 cú nghĩa c̣n lại trừ vô thuyết.

[55] Xem cht. 101 trên.

[56] Hán: duyên ly thức ngoại...Thuật kư (261b08), duyên, chỉ năng duyên là hiện lượng, để bác bỏ đối tượng được cho là thực hữu tồn tại ngoài thức, chứ không bác bỏ đối tượng giả hữu ở trong nội thức. Diễn bí (831c14): “Nếu không nói đến từ duyên...phạm lỗi mâu thuẫn với tông. V́ tự tông và tha tông đều cho rằng tâm (tâm và tâm sở trong Duy thức; giác, lạc,v.v., trong đức cú nghĩa) đều không tồn tại ngoài thức.”  Thuật kư (tr. 261b16, 20): “Duyên..., để xác định nhóm từ là phức hợp từ y sĩ (tatpuruṣa-samāsa), chứ không phải là tŕ nghiệp (karmadhāraya).”

[57] Giả hợp sanh: nhận thức phát sinh do lấy đối tượng là sự giả hợp của nhiều thứ, như đại hữu, là hữu tánh của 9 thực; hay các phẩm tính của đức xuất hiện trên các thực.

[58] Thuật kư (tr. 262a16): “Mạc-hê-y-thấp-phạt-la (Mahāśvara), là Đại Tự Tại Thiên. Nếu trựng hoá nguyên âm, đọc là Ma-hê-y-thấp-phạt-la (Māheśvara), là người thờ Tự Tại Thiên. Giáo thuyết chủ trương nguyên nhân bất b́nh đẳng...Phái này cho rằng Pháp thân của vị Trời này là phổ biến, thường hằng, thân lượng như hư không, không có cư xứ riêng biệt. Thân biến hoá của ông có trú xứ riêng biệt.” Đề-bà (Ārya-Deva), Ngoại đạo Tiểu thừa Niết-bàn luận (T32n1640, tr.157c23): “Ma-hê-thủ-la luận sư nói như vầy, quả là cái được tác thành bởi Na-la-diên (Nārāyaṇa). Phạm thiên là nhân. Ma-hê-thủ-la là một thể mà có ba phần; đó là, Phạm thiên, Na-la-diên và Ma-hê-thủ-la. Chúa cơi đất là Ma-hê-thủ-la. Trong ba cơi, tất cả mọi vật có mạng hay không có mạng thảy đều do Ma-hê-thủ-la thiên sinh. Nơi thân của Ma-hê-thủ-la, đầu là hư không, thân là đất, nước tiểu là nước, phân là núi, sâu trũng trong ruột là các loại chúng sinh, mạng là gió, hơi ấm là lửa, nghiệp là tội phước...Tự Tại Thiên là nguyên nhân của sinh diệt. Tất cả sinh từ Tự Tại Thiên, diệt do Tự Tại thiên.”

[59] V́ cần hội đủ nhiều duyên.

[60] ibid., (T32n1640, tr.157a11): Luận sư Vi-đà (Veda) nói, từ rốn của Thần Na-la-diên (Nārāyaṇa) sinh ra một bông sen lớn. Từ bông sen sinh ra Phạm thiên Tổ ông. Vị Phạm thiên này tạo tác nên hết thảy các loài có mạng và không có mạng. Từ miệng Phạm thiên sinh ra những người thuộc giai cấp bà-la-môn; từ hai vai, giai cấp sát-đế-lị; từ hai bắp vế, tỳ-xá-xà; từ gót chân, thủ-đà-la. Tất cả đại địa là giới trường tu phước. Nơi đó sinh các loại hoa cỏ làm phẩm vật cúng dường. Lại hoá làm thú rừng, gia súc các thứ. Nơi giới trường, giết hại chúng để hiến tế Phạm thiên th́ được sinh lên cơi kia gọi là cơi Niết-bàn.”