|
TINH HOA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
(CÁC TÔNG PHÁI ĐẠO PHẬT)
Bản dịch Việt: TUỆ SỸ
[ MỤC LỤC
]
- - -
CHƯƠNG I: DẪN NHẬP
1. TRÌNH BÀY PHẬT GIÁO BẰNG CÁCH NÀO?
Giảng luận về triết học Phật giáo thường được bắt
đầu với triết học của Phật giáo Ấn độ, và về phương diện này, theo dấu
sự phát triển của tư tưởng Phật giáo ở Ấn độ, nơi mà nó đã hưng thịnh
suốt 1500 năm, là điều quan trọng. Nhưng nên nhớ rằng, trước khi đạo
Phật suy vi tại Ấn vào thế kỷ thứ XI, thì những phát triển đa dạng của
nó cũng đã lan truyền xa sang các nước khác. Tiểu thừa Phật giáo
(Hinayāna), chú trọng giải thoát cá nhân, tiếp tục phát triển tại Tích
lan, Miến điện, Thái lan và Cam bốt. Phật giáo Mật tông hay Phật giáo bí
truyền đã phát triển thành Lạt-ma giáo (Lamaism) tại Tây tạng. Đại thừa
Phật gíao (Mahāyāna), chú trọng giải thoát toàn thể, hưng phát tại Trung
hoa, là nơi mà những nghiên cứu Phật học đã tiến những bước rất dài và
những tư tưởng khác nhau trong các tông phái Đại thừa được hệ thống hóa.
Tuy nhiên, ở Nhật bản, tổng thể của Phật giáo được
bảo trì - tất cả các học thuyết của các trường phái Tiểu thừa lẫn Đại
thừa. Tuy Tiểu thừa Phật giáo hiện nay không tồn tại ở Nhật bản như một
tín ngưỡng năng động; nhưng các giáo nghĩa của nó vẫn được các học giả
Phật giáo nghiên cứu. Mật giáo (N. Mikkyô)
密教, mà chúng ta có thể
định danh là Học thuyết Bí truyền (Esoteric Doctrine) hay Chủ nghĩa Thần
bí (Mysticism), được giới thiệu đầy đủ ở Nhật bản bởi Thai Mật hay chủ
nghĩa huyền bí của Thiên thai (Tendai)
天台 và Đông Mật hay chủ
nghĩa huyền bí của Đông tự (N. Tôji)
東寺 Điểm mà chủ nghĩa
huyền bí Nhật bản có thể tự hào là nó không chứa đựng những yếu tố dung
tục như đồng điệu của nó tại các nước khác, mà lập cước trên cơ sở triết
học vững chắc.
Những tông phái phát triển mạnh nhất tại Trung hoa
là Hoa nghiêm (N. Kegon) 華嚴
vàThiên thai (N. Tendai). Khi Thiền tông (Zen) thêm vào với hai tông
này, cả ba đại biểu cho đỉnh cao phát triển của Phật giáo. Ba tông phái
này hưng thịnh tại Trung hoa một thời rồi suy vi, nhưng tại Nhật bản, cả
ba vẫn tồn tại trong các tín ngưỡng của quần chúng cũng như trong những
nghiên cứu hàn lâm.
Một hình thức khá mới của Phật giáo là chủ nghĩa
sùng tín Di-dà (Amita-pietism). Tông phái này khá phổ biến tại Trung
hoa, Tây tạng, Mông cổ, Mãn châu và Việt nam.
Nhưng hưng thịnh nhất là ở Nhật bản, nơi đó có hơn phân nửa dân số tin
theo.
Theo đó, tôi tin rằng, con đường duy nhất để trình
bày toàn bộ triết lý của đạo Phật với mọi tông phái dị biệt của nó là
thiết lập một bảng toát yếu về Phật giáo ở Nhật bản. Chính ở tại Nhật mà
toàn bộ văn hiến của Phật giáo, tức Tam tạng (Tripitaka), được tồn trữ
và được khảo cứu đến.
Tam tạng kinh điển,
cốt yếu là bản Hán dịch, đã đưọc đưa vào Nhật bản, từ Trung hoa, vào các
thời đại Đường (618-907) và Tống (960-1279). Bấy giờ gồm có 5.048 quyển,
tất cả đều được tồn trữ tại Nhật bản, trong khi một số đã bị thất lạc ở
Trung hoa. Tại Nhật, Văn hiến Tam tạng được ấn hành tối thiểu bốn lần,
mỗi lần ấn hành đều có bổ sung nhiều quyển mới. Gần đây, tôi chịu
trách nhiệm hòan tất ấn bản mơi nhất, tập hợp các bản biên tập của Trung
hoa và Triều tiên cũng như những bản vừa được tìm thấy tại Trung Á và
Nhật bản; một công trình kéo dài mười ba năm – gồm 13.520 quyển ,
chia làm 100 tập mỗi tập 1.000 trang.
Cũng không mấy cần thiết phải mô tả vô số tự viện ở
Nhật bản, vốn là những trung tâm học Phật. Nhưng tôi phải ghi nhận rằng
có sáu viện đại học mạnh trực thuộc Phật giáo chọn triết học Phật giáo
làm bộ môn chính yếu cho học trình. Ngoài ra, còn nhiều học viện
(college) và các trường sở dưới sự bảo trợ Phật giáo. Triết học Phật
giáo, Sanskrit và Pāli đã được giảng dạy trong năm viện đại học của
chính phủ.
Trong bản nghiên cứu triết học Phật giáo hiện tại,
chủ đề không được trình bày theo tiến trình lịch sử của nó, mà là theo
tiến trình ý thức hệ. Tiến trình ý thức hệ không có nghĩa là một tiến
trình trong sự phát triển của các ý niệm, mà đúng hơn là hệ thống hóa tư
tưởng của các tông phái dị biệt, mục đích là để tiếp cận dễ dàng hơn.
Do bởi cách tiếp cận riêng biệt của tôi về dề tài,
tôi sẽ trình bày một bảng phân loại tư tưởng Phật giáo, khác với bảng
của giáo sư Schertbatsky vốn đã trình bày vô cùng tỉ mỉ về các ý niệm
Phật giáo trong quyển Luận lý học Phật giáo
của ông. Ông phân chia lịch sử Phật giáo trong 1.500 năm đầu làm 3
thời kỳ, mỗi thời kỳ là 500 năm, kể từ năm 500 trước tây lịch, như sau:
Sơ kỳ
Trung kỳ
Hậu kỳ
Đa nguyên luận Nhất nguyên luận Duy tâm
luận
Pudgala-śūnyatā Sarvadharmaānyatā Bāhya-artha-śūnyatā
Nhân không Nhất thiết Pháp không
Ngoại cảnh không
Trong bảng này, Giáo sư Schertbatsky có nêu rõ các
tông phái cực đoan và trung trung của mỗi thời kỳ.
Về mặt lịch sử, bảng của Giáo sư khá xác đáng, và
tôi lưu ý sự kiện hưng khởi Duy thức luận của Vô Trước (Asaṅga)
và Thế Thân (Vasubandhu), phản ứng lại Không luận của Long Thọ
(Nāgārjuna).
Tuy nhiên, vì không thể đặt Không luận của Ha-lê Bạt-man (Harivarman)
sau Long Thọ, nên tôi tự lập một đồ biểu sau đây, với nhà đại tư tưởng
và đại luận sư Thế Thân như là khởi điểm cho sự phát triển tư tưởng Phật
giáo:
Theo đồ biểu của tôi, Nāgārjuna (Long Thọ), triết
gia sớm nhất của triết học Phật giáo, được đặt sau Harivarman và
Vasubandhu, như có thể thấy trong bảng. Tuy nhiên, khi cần đặt sự phát
triển của các ý niệm vào một mẫu thức giản đơn, thì sự không nhất trí
như thế không thể tránh. Ở Trung hoa, khi một giảng sư dấn thân vào
những nghiên cứu triết học, ông thường không mấy lưu tâm khía cạnh lịch
sử của các quan niệm, mà đi thẳng vào tư biện của thứ triết học nào hấp
dẫn ông. Vì vậy, không ích lợi gì nhiều khi nghiên cứu các quan niệm
Phật học theo tiến trình lịch sử.
2. PHẬT GIÁO TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA
Lịch sử các hoạt động của Phật giáo tại Trung hoa
bao quát trong khoảng 1.200 năm (67-1271 sau TL), và trên thực tế, được đồng nhất với lịch sử phiên dịch
Phật điển Trung hoa. Trong khoảng thời gian này, 173 vị sư Ấn độ và
Trung hoa đã dâng hiến trọn đời cho công cuộc phiên dịch công phu, và
kết quả là văn hiến vĩ đại của Hán dịch Đại Tạng Kinh.
Những nghiên cứu tường tận về các bản kinh dịch này
được tiếp nối và nhiều học phái về tư tưởng hay hệ phái tôn giáo được
thành lập. Chúng ta có thể trích ra những tông phái đáng chú ý nhất
(trong số mười bốn tông phái tất cả) cho mục đích ở đây. Hầu hết các
phái này đã được truyền vào Nhật bản. Nhưng chúng ta không phải bận tâm
tường thuật chi li ở đây, vì sẽ trở lại vấn đề này khi tìm hiểu triết
thuyết của mỗi phái.
Tuy nhiên, cần nhớ rằng, đời Tùy (518-618) và đời
Đường (618-907) là thời kỳ mà các tông môn phái biệt được kiện toàn; và
các học phái này được thiết lập hay khởi sáng thời đại trước đó do các
nhân vật tài năng từng phiên dịch hay giới thiệu các bản văn. Vậy bây
giờ, chúng ta khảo sát danh sách các tông phái này được thiết lập và
kiện toàn trên đất Trunghoa. Danh sách này chỉ rõ sự phát triển rộng lớn
và sự hệ thống hoá Phật giáo tại Trung hoa.
DANH
SÁCH CÁC TÔNG PHÁI TRUNG HOA


Trong những tông phái này, có mười tông (2, 3, 4,
7, 8, 10, 11, 12, 13, 14) đã được truyền sang Nhật bản; nhưng Câu-xá
(10), Thành Thật (2) và Tam Luận (3) không được xem như những tông phái
hành trì mà chỉ được duy trì nhằm mục đích đào luyện và chuẩn bị tâm trí
Phật học cho suy luận và phê phán cao hơn mà thôi.
Phật giáo chính thức du nhập Nhật bản năm 552 qua
ngã Bách tế,
một vương quốc thuộc Cao-ly (Korea), nhưng 30 năm trước đó, tượng Phật
đã được mang vào Nhật rồi. Năm 594, Thánh Đức Thái tử
(Shôtoku
Taishi; 574-622) tuyên bố Phật giáo là quốc giáo.
Phật giáo lúc đó chưa phân biệt tông phái mặc dầu
giữa Đại thừa và Tiểu thừa đã có sự khác biệt rõ rệt. Thái tử đã chuyên
chú vào công cuộc khảo cứu Đại thừa và đã từng viết các sớ giải về ba
quyển kinh thuộc Đại thừa.
Tiếng tăm của các bản chú giải xuất sắc này lan ra đến nước ngòai và một
bộ đã được một học giả Trung hoa chọn làm chủ đề cho các sớ giải về sau.
Chúng ta có thể biết được đặc điểm của Đại thừa
theo Thái tử qua các bản kinh mà ngài đã lựa chọn. Trước hết là kinh
Diệu Pháp Liên Hoa thuộc giáo lý Nhất thừa (Ekayāna). Thứ hai là
Bất tư nghị Giải Thoát kinh,
do một vị tại gia Bồ tát ở thành Tỳ-da-ly (Vaisali) tên là Duy-ma-cật
(Vimalakīrti) thuyết. Và thứ ba là kinh Thắng Man
do một vị nữ tại gia bồ tát là Thắng Man phu nhân (Śrīmālā) ở thành
A-du-xà (Ayodhyā) thuyết.
Tư tưởng chính yếu của thời kỳ chưa phân biệt tông phái này là Đại thừa
giáo, như đã được diễn tả trong ba bộ kinh đó. Quan niệm này đã vẫn còn
là đặc điểm nổi bật của Phật giáo suốt trong lịch sử Phật giáo Nhật bản.
Để diễn tả toàn bộ Phật giáo, như tôi đã nhấn mạnh
ở trên, tốt hơn hết là trình bày theo sự phát triển triết lý của nó. Để
cho rõ ràng, tôi sẽ sắp các tông phái theo hai tiêu đề: các tông phái
thuộc Duy lý luận phủ định (Negative Rationalism) tức là hệ Tôn giáo của
Suy lý biện chứng (Dialectic Investigation), và các tông phái thuộc
Trực giác luận nội quan (introspestive Intuitionism) tức là hệ Tôn giáo
của Kinh nghiệm tư duy (Religion of Meditative Experience).
Ai cũng biết rằng Phật giáo chú trọng ba môn học
(tam học, tissraḥ śikṣāḥ): Tăng thượng Giới, Tăng thượng Tâm và
Tăng thượng Tuệ. Nghĩa là, nếu không trì giới thì tâm không định; tâm
không định thì không phát tuệ. Định ở đây bao gồm những kết quả vừa tư
duy phân tích, vừa trực giác quán chiếu. Tiếp đó, Phật giáo dạy hành
giả, khi hội đủ năng lực, tiến vào ba đường hướng (đạo: mārga) là
Kiến đạo (Life-View, quan điểm sống), Tu đạo (Life-Culture, tu dưỡng
sống) và Vô học đạo (Realizaton of Life-Ideal, Thể nghiệm Lý tưởng
sống).
Nói cách khác, nếu không có quan điểm chân chính về đời sống thì sẽ
không có sự tu dưỡng, và nếu không có sự tu dưỡng chính đáng thì sẽ
không có sự thể nghiệm đời sống. Sự tu dưỡng ở đây lại có nghĩa là kết
quả của suy tư chân chính.
Giáo pháp truyền thừa của Phật có hao phần là Chánh
lý (nyāya, suy ly đúng) và Chánh định (dhyāna, tư duy
đúng). Một bộ phận các tông phái nghiêng về phương pháp thứ nhất, ở đây,
tôi xếp vào hệ Duy lý luận phủ định. Cũng có thể nói, nếu sắp Thực tại
luận vào trong hệ Duy lý luận phủ định này là điều sai lầm. Tuy nhiên,
nếu chúng ta thấy rằng hệ này duy trì giáo nghĩa Vô ngã, Vô thường, Khổ
và Sát-na biến diệt của đời sống, thì ta không thể giả định quá đáng về
những sắc thái tích cực của nó. Về các tông phái còn lại, không cần
thiết phải giải thích.
Hệ các tông phái khác tôi xếp vào chủ nghĩa Trực
giác quán chiếu, vì tất cả các tông này được giảng thuyết tùy thuận theo
kết quả hoạt động tư duy hay quán chiếu của tâm, chứ không phải bằng suy
luận biện chứng, hay tri giác đơn thuần của các giác quan.
Các tông phái trực quán này lại được chia làm hai loại: Đốn
(Undifferentiative, không phân cấp) và Tiệm (Differentiative, có phân
cấp).
Theo ý tôi, Phật giáo có thể được phân loại như
sau:
I
CÁC
TÔNG PHÁI THUỘC PHỦ ĐỊNH DUY LÝ LUẬN
1. Thực tại luận (Realism,
Nhất thiết hữu bộ: Sarvāstivāda, A-tì-đàm tông: Abhidharmika):
Abhidharmakośa (A-tì đạt-ma Câu-xá), Câu-xá tông
俱舍宗 [Hữu tông].
2. Hư vô luận (Nihilsm, Nhất
thiết không tông: Sarvaśūynavāda; Kinh lượng bộ: Sautrāntika),
Thành thật tông 成實宗
[Không tông].
3. Duy tâm luận (Idealism,
Duy thức tông:Vijñaptimātravāda), Du-già hay Pháp tướng tông
法相宗.[Hữu-Không tông].
4. Phủ định luận (Nhất thiết
không tông: Sarvaśūynavāda): Trung quán hay Tam luận tông
三論宗 [Phi Hữu phi Không
tông].
II
CÁC
TÔNG PHÁI THUỘC NỘI QUÁN TRỰC GIÁC LUẬN
(A)
Trực
giác vô phân biệt (đốn giáo)
5. Viên giáo:
Hoa Nghiêm tông 華嚴宗.
6. Tướng tông:
(Pháp Hoa, Nhất thừa giáo): Thiên thai
天台宗 hay Pháp hoa tông
法華宗.
7. Mật giáo (Mantra): Chân
ngôn tông 真言宗.
8. Thiền tông (Dhyāna), chia
làm 4 chi phái:
a) Tông Lâm Tế (Rinzai)
臨濟宗Ù ©v thết lập bởi của
Vinh Tây 榮西 (Eisai,
1141-1215).
b) Tông
Tào động 曹洞宗 (Sôtô) do
Đạo Nguyên 導元 (Dôgen).
c) Tông Phổ hóa 普化宗
(Fuke) do Giác Tâm 覺心
(Kakushin) , thành lập năm 1255, diệt năm 1868.
d) Tông
Huỳnh Bá 黃
檗
宗 (Ôbaku),do Ẩn
Nguyên 隱元 (Ingen,
1592-1673).
(B)
Trực giác phân cấp (tiệm giáo)
9. Sùng tín Di-đà
(Sukhavati): Tịnh độ tông , chia làm 4 chi phái:
a) Tịnh
độ tông 淨土宗 (Jôdo) do
Pháp Nhiên 法然 (Hônen,
1133-1212) lập.
b) Chân
tông 真宗 (Shin) do Thân
Loan 親鸞(Shinran,
1173-1262).
c) Dung thông niệm Phật tông
融通念佛宗(Yùzùnembutsu) do
Lương Nhẫn良忍 (Ryonin,
1071 – 1132) lập.
d) Thời tông
時宗(Ji) do Nhất Biến
一遍 (Ippen, 1239-1289)
lập.
10. Nhật Liên tông
日蓮宗 do Nhật Liên
日蓮(Nichiren, 1222-1282)
lập.
11. Luật tông tức Tân Luật
tông 新律宗 (Ritsu) do Duệ
Tôn 叡尊 (Eison,
1201-1290) lập.
|