|
TINH HOA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
(CÁC TÔNG PHÁI ĐẠO PHẬT)
Bản dịch Việt: TUỆ SỸ
[ MỤC LỤC
]
- - -
1.
PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ.
Đức Phật có thể, hay không thể đã là “người
A-ri-en vĩ đại nhất của tất cả người A-ri-en” hoặc là “triết gia vĩ đại
của tất cả triết gia”, như một số người thường gọi Ngài. Thật khó mà xác
định một con người như đức Phật, một người hoàn toàn khác biệt với những
triết gia và đạo sĩ Ấn đương thời lại đã có thể xuất hiện ở đấy, vì Ngài
đã hoàn toàn chối bỏ tất cả những thần linh của truyền thống, những đức
tin tôn giáo, những định chế và những tập tục của thời bấy giờ.
Khi những người A-ri-en đã chinh phục Ấn độ, họ
tiến dần xuống miền Nam theo hành khúc chiến thắng cho đến khi bước vào
vùng nhiệt đới. Rồi vì khí hậu quá nóng nực, họ quyết lựa chọn nơi cư
ngụ trong những khu rừng mát mẻ ở Hắc sơn, một dãy núi tương đối nhỏ hơn
nằm dọc theo chân Hy mã lạp sơn cao ngất. Dần dần, họ xem rừng núi như
là nơi ẩn cư lý tưởng và bấy giờ họ có tập quán suy tư với Hy mã lạp sơn
to lớn như là đối tượng cho những tư tưởng của mình, vì đó là Hy mã lạp
sơn đời đời hùng vĩ, đời đời bất khả xâm phạm. Từ sáng đến tối tuyết
rạng màu rực rỡ như được ánh mặt trời chiếu soi; mùa đông, các tảng băng
đóng dày trên các thung lũng, nhưng đến mùa hạ, những tảng băng này tan
giá chảy dài theo thung lũng ngoằn ngoèo trông như con rồng bắt đầu sống
dậy sau một năm yên ngủ. Sau cùng, dân A-ri-en, sau khi đã chinh phục Ấn
độ bằng vũ lực, nay lại hoàn tòan bị chinh phục bởi ảnh hưởng huyền bí
của Thiên nhiên.
Nói một cách vắn tắt, Bà-la-môn giáo (Brahmanism),
tôn giáo xưa nhất của Ấn độ, là phiếm thần giáo với Phạm Thiên (Brahman,
nguyên lý vĩnh cữu, tuyệt đối, bất biến) như là nguyên nhân đầu tiên của
vũ trụ. Biểu hiện của Phạm thiên này thỉnh thoảng được nhân cách hóa và
gọi là Thần Phạm thiên (Thượng đế hay Đại ngã). Mỗi một sinh thể đều có
một Tiểu Ngã (ātman). Brahman và Ātman là một và cùng bản thể. Vì
vậy, Bà-la-môn giáo là một cố gắng đi tìm nguyên lý tối hậu, tức
Brahman, bằng cách nghiên tầm Tiểu ngã là Ātman.
Đức Phật chối bỏ sự hiện hữu của Đại Ngã và Tiểu
ngã, và thiết lập một giáo lý mới là vô ngã (anātman), theo đó,
ngài tuyên bố rằng mọi vật đều biến đổi và không thể lý chứng được một
nguyên lý bất biến tuyệt đối hay cái ngã vĩnh cửu được.
Có thể nói rằng văn minh Ấn độ là một nền văn minh
Rừng Núi. Tôn giáo, triết lý, văn chương đều được phát xuất từ rừng núi.
Nền giáo dục được giảng dạy trong những rừng núi âm u huyền bí. Âm nhạc,
y học và các ngành văn học khác thảy đều được vun bồi ở rừng núi mà
không có trường hợp ngoại lệ nào.
Như vậy, thì những lý thuyết cho rằng đời sống
thành thị tạo nên văn minh; hay nguồn gốc của văn minh là sự chiến thắng
của con người trước thiên nhiên, đều không được chấp nhận ở Ấn độ. Dân
tộc Ấn độ tin tưởng rằng cuộc tranh sống là một trở ngại cho công việc
nâng cao văn hóa. Với họ, văn minh có nghĩa là sự thể nhập của con người
vào Thiên nhiên, do đó đời sống thành thị chỉ là một địa vực nuôi dưỡng
tội ác mà thôi.
Bà-la-môn giáo, nền triết học Ấn độ, và Phật giáo,
cả hai đều có thể được xem như là sản phẩm của “tư dưỡng tự ngã” thuận
theo Thiên nhiên.
Kết quả của tập quán suy tư ngày đêm kính cẩn trước Thiên nhiên đó gọi
là du-già (yoga, tập trung tư tưởng) theo Bà-la-môn, và thiền na
(dhyāna, tĩnh lự) hay thiền (zen) trong Phật giáo. Có thể
là một chi phái trong Bà-la-môn giáo không cần đến yoga nhưng
trong Phật giáo không có một chi phái nào có thể thành lập mà không có
thiền. Hiện tại, có một vài tông phái Phật giáo không tập thiền thường
nhật, nhưng chắc chắn là chúng vẫn bắt nguồn từ thiền. Điều này đúng cho
cả Tiểu thừa và Đại thừa. Chẳng hạn như Tam học (triśikṣa) của
Phật giáo là giới, định và huệ và một trong sáu Ba-la-mật (pāramitā)
là Thiền. Không có Thiền thì không thể đạt được Phật tri kiến. Đối với
Phật giáo, hành động đúng là suy tư sâu.
Đức Phật (khoảng 566-468 trước TL) không thỏa mãn
với những quan điểm của các tư tưởng gia đương thời. Số người nhìn cuộc
sống trên thế gian này bằng cặp mắt lạc quan thì quên rằng những thất
bại và thất vọng còn đang chờ. Một số nhìn đời bi quan thống khổ, có thể
được dung thứ khi nào họ chỉ đơn giản cảm thấy không thích cuộc đời,
nhưng khi họ bắt đầu bỏ cuộc sống vô vọng đó để thử tìm ẩn trú vào một
cuộc đời tốt đẹp hơn bằng cách khổ hạnh ép xác thì họ đáng bị khinh tởm.
Đức Phật dạy rằng cả hai cực đoan hưởng lạc và khổ hạnh phải tránh xa và
trung đạo mới là con đường lý tưởng để theo. Điều đó không có nghĩa là
chỉ cần xa lánh hai thái cực và đi theo trung đạo như là con đường duy
nhất còn lại để trốn chạy cuộc đời. Mà đúng hơn là ta phải siêu việt
chúng, chứ không phải chạy trốn một cách đơn giản cả hai cực đoan ấy.
Tóm lại, giáo lý của đức Phật dựa trên quan điểm
“như thực tri kiến”. Điều đó có nghĩa là ta phải biết những sự kiện chân
thực chung quanh cuộc sống trần gian của ta, nhìn nó mà không biện giải,
và hằng ngày tu chỉnh đạo đức cho cuộc sống tùy theo tri kiến ấy.
Quan niệm rằng thế gian này không có gì ngoài sự
đau khổ - cho đến hạnh phúc rồi cũng phải chung kết trong đau khổ - một
trong những định đề của Phật giáo. Ngưòi ta có thể cho rằng ý niệm đó,
xem đời là khổ, không gì khác hơn là bi quan. Thật là không đúng. Quan
điểm đó như thế này: trong đời sống hiện tại vừa có hạnh phúc vừa có đau
khổ. Thật là nông cạn mới nghĩ rằng thế giới này toàn là hạnh phúc. Cái
mà người ta xem là lạc thú, nó sẽ gây đau khổ khi lạc thú chấm dứt. Nói
cách khác, khổ đau đã nằm ẩn trong khoái lạc rồi. Vì vậy, phải nhìn cuộc
đời như là một tràng tiếp nối khổ đau. Như vậy không nên than thở về
điều đó. Nếu ai không biết rằng hạnh phúc là mầm đau khổ, họ sẽ vô cùng
chán nản khi đau khổ hiện đến. Đức Phật dạy rằng chúng ta nên nhận thức
đau khổ là đau khổ, chấp nhận nó như thực kiến và chống lại nó. Từ đó,
đức Phật nhấn mạnh đến chuyên cần, tinh tấn và nhẫn nhục. Nhẫn nhục là
một trong Lục độ. Nói vắn tắt, trong cuộc sống có cả khoái lạc và đau
khổ, nhưng ta không được chán nản khi đau khổ đến, cũng như không dược
sa đọa khi hạnh phúc đến. Cả hai, khoái lạc và đau khổ đều phải đưọc
chúng ta dè dặt và chống lại với tận cùng sức lực của ta. Vì lẽ đó mà
tinh tấn được kể trong Lục độ.
Trung đạo không có nghĩa là chối từ cuộc sống mà là
bước vào cuộc sống và do đó không có nghĩa là trở thành nô lệ cuộc sống.
Quan điểm của đức Phật về thực tại đó càng ngày
càng phát triển và trở thành triết lý của đạo Phật. Thể hiện điều dó
trong cuộc sống thực tế của con người, đó là khía cạnh tôn giáo của đạo
Phật.
Ngoài đạo Phật ra, vẫn có nhiều tư tưởng gia cố
gắng thiết lập tư tưởng của họ trên phương diện lạc quan hay bi quan.
Ngay cả trước thời đức Phật cũng đã có hai luồng tư tưởng đó rồi. Tư
tưởng lạc quan phát triển thành những chủ nghĩa duy nhiên, khoái
lạc,đkuy vật, cơ giới… Vào thời đức Phật, chủ nghĩa duy vật còn mạnh hơn
là chúng ta thấy bây giờ. Phái bi quan phát triển theo đường hướng mà
chúng ta có thể nói là có tính tôn giáo hơn. Họ lý luận rằng vì cơ thể
chúng ta (thân thể và tinh thần) là bất toàn, chúng ta cần phải chiến
thắng nó bằng cách ép xác để có thể được sinh vào cõi thiên đường ở kiếp
sau. Từ đó, họ phát minh nên nhiều phương cách khắc kỷ và tu tập theo.
Đức Phật đã từng chối bỏ lối tu này.
Bởi vì quan điểm của đức Phật đối với bi quan và
lạc quan rất sáng tỏ nên chẳng có người nào trong Phật giáo mà lại đi
lạc theo chủ nghĩa duy vật hay lối tu ép xác cả. Tóm lại, hai thái cực
lạc quan và bi quan đều bị chận đứng bởi học thuyết trung đạo của đức
Phật. Như vậy, Phật giáo là phác đồ chống lại mọi sự xâm lăng của cả hai
chủ nghĩa duy vật và khổ hạnh.
Đức Phật xem thế giới này là thế giới của khổ đau,
và dạy những phương pháp đối trị nó. Vậy, cái do đâu khiến thế giới này
toàn khổ đau? Lý do đầu tiên, như đức Phật đã dạy, là các pháp đều vô
ngã, nghĩa là vạn vật - hữu tình hay vô tình - tất cả không có cái mà
chúng ta có thể gọi là bản ngã hay thực thể. Ta thử khảo sát con người.
Một người không thể xem hạch nhân hay hồn của y là một thực ngã. Y hiện
hữu, nhưng không thể nào nắm được cái thực thể của y, không thể tìm thấy
được hạch nhân của y, bởi vì hiện hữu của con người không gì ngoài cái
“hiện hữu tùy thuộc vào một tràng nhân duyên”. Mọi vật hiện hữu đều là
vì nhân duyên, và nó sẽ tan biến khi những tác dụng của tràng nhân duyên
đó chấm dứt.
Những làn sóng trên mặt nước quả là hiện hữu, nhưng
có thể gọi mỗi làn sóng đều có tự ngã không? Sóng chỉ có khi mà gío lay
động. Mỗi làn sóng đều có riêng đặc tính tùy theo sự phối họp của những
nhân duyên, cường độ của gío và những chuyển động, phương hướng của
gío... Nhưng khi mà những tác dụng của những nhân duyên đó chấm dứt,
sóng sẽ không còn nữa. Cũng vậy, không thể nào có cái ngã biệt lập với
nhân duyên được.
Khi con người còn là một hiện hữu tùy thuộc một
tràng nhân duyên thì, nếu y cố gắng trì giữ lấy chính mình và nhìn mọi
vật quanh mình từ quan điểm độc tôn ngã là một điều thật vô lý. Mọi
người phải từ bỏ cái ngã của mình, cố gắng giúp đỡ kẻ khác và phải nhận
thức cái hiện hữu cộng đồng, vì không thể nào con người hoàn toàn hiện
hữu độc lập được.
Nếu mọi vật đều hiện hữu tùy thuộc vào tràng nhân
duyên thì cái hiện hữu đó cũng chỉ là một hiện hữu tùy thuộc điều kiện
mà thôi; không có một vật nào trong vũ trụ này có thể trường tồn hay
biệt lập. Do đó, đức Phật dạy rằng vô ngã là yếu tính của vạn vật và từ
đó tất yếu dẫn đến một lý thuyết nữa là vạn vật điều vô thường (anitya).
Hầu hết mọi người đều dốc năng lượng vào việc bảo
tồn hiện hữu và những tư hữu của mình. Nhưng thực ra, không thể nào tìm
được hạch nhân cho hiện hữu của họ, cũng không thể bảo tồn nó đời đời.
Không vật nào là không biến chuyển ngay cả trong một sát-na. Không những
nó bất ổn trong tương quan với không gian mà nó cũng bất ổn trong tương
quan với thời gian nữa. Nếu ta có thể tìm được một thế giới không có
không gian và thời gian, thế giới đó mới thật là thế giới tự do chân
thật, tức là Niết bàn (Nirvànạ).
Nếu, như những nhà vật lý hiện đại xác nhận, không
gian thì gấp khúc và thời gian thì tương đối, thế giới của không gian
thới gian này là cái tù ngục mà chúng ta không thể nào thoát ra được
- chúng ta đã bị buộc chặt trong vòng nhân quả rồi vậy.
Khi nào con người chưa tìm được cái thế giới không
bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian, con người vẫn còn phải là một
tạo vật khổ đau.
Quả quyết rằng con người có thể đạt đến một trạng
thái như thế, không bị cục hạn trong thòi gian và không gian, đó là
thông điệp của Phật giáo.
Lẽ dĩ nhiên không có gì có thể được xem như là
không gian vô hạn và thời gian vô cùng. Ngay cả khoa học vật lý ngày nay
cũng không thừa nhận tính vô hạn của thời-không. Tuy nhiên, Phật đã
xướng thuyết về lý tưởng Niết bàn (tịch diệt), theo nguyên tắc vô thường
và vô ngã. Niết Bàn có nghĩa là hủy diệt sinh tử, hủy diệt thế giới
dục vọng, hủy diệt những điều kiện thời-không. Sau hết, Niết bàn có
nghĩa là cảnh giới của giải thoát viên mãn.
Vô ngã (không có cái bất biến), vô thường
(không có cái trường tồn) là trạng huống thật sự của hiện hữu của chúng
ta. Niết bàn, theo nghĩa tiêu cực là hủy diệt, theo tích cực là tròn
đầy, là lý tưởng của chúng ta, ấy là giải thoát trọn vẹn.
Đoàn thể đặc biệt do Phật lập nên gọi là Thánh
Chúng (Ārya saṅgha), với chủ đích đó là cái nôi của những con
người cao qúi. Vì truyền thống Bà-la-môn đã được thiết lập kiên cố, nên
giai cấp bấy giờ đã được phân chia thật là rõ rệt. Bởi lẽ đó, đức Phật
luôn luôn xác nhận rằng trong hàng Tăng chúng của Ngài không có phân
biệt giữa Bà-la-môn (đạo sĩ) và võ tướng, hay giữa chủ và tớ. Ai đã được
nhận vào hàng Tăng chúng đều cơ hội học hỏi và tu tập như nhau.
Để chống lại tính tự cao của giống dân A-ri-a và
chống lại cách giống dân này đã mệnh danh cho những thổ dân hay những
người di cư thời cổ đại, tức những người không phải là A-ri-â (anārya)
là hạ tiện , đức Phật thường dạy rằng danh từ A-ri-en (ārya)
có nghĩa là cao quí và chúng ta không thể gọi một giai cấp nào là cao
quí hay không cao quý được, bởi vì vẫn có những người hạ tiện trong cái
giai cấp gọi là cao quý và đồng thời cũng có những người cao quý trong
giai cấp hạ tiện. Khi chúng ta gọi cao quý hay đê tiện là chúng ta nói
về một người nào đó chớ không thể cả toàn thể một giai cấp. Đây là vấn
đề của tri thức hay trí tuệ chứ không phải vấn đề sinh ra ở giòng họ hay
giai cấp nào. Do đó, chủ đích của đức Phật là tạo nên một người cao quý
(ārya-pudgala: Thánh nhân), theo nghĩa một cuộc sống cao quý.
Thánh chúng (Ārya saṅgha) đã được thiết lập
theo nghĩa đó. Thánh Pháp (ārya- dharma) và Thánh Luật (ārya-vinaya)
được hình thành để cho những ai muốn trở thành cao quý. Con đường mà
Thánh giả đi theo là con đường Thánh Đạo tám chi (ārya-aṣṭāṅgika-mārga)
và cái sự thật mà Thánh giả tin theo là Bốn Thánh Đế (catvari
ārya-satyāni). Sự viên mãn mà Thánh giả đạt tới lá Bốn Thành Quả (ārya
phala) và tài sản mà Thánh giả sở đắc là Bảy Thánh Giác Chi (sapta
ārya-dharma). Đó toàn là những đức tính tinh thần cả. Người học Phật
không nên đánh mất ý nghĩa của từ ngữ “thánh” này vốn được áp dụng cẩn
thận vào mỗi điểm quan trọng trong giáo pháp của đức Phật. Đức Phật, như
vậy, đã cố gắng làm cho sống lại ý nghĩa nguyên thủy của từ “ārya
(thánh)” nơi cá tính con người trong cuộc sống thường nhật của đồ chúng.
Đức Phật có phải là một người A-ri-en hay không,
chúng ta không thể nói được. Có ngưòi cho rằng ngài thuộc giống
Indo-scythian, một số khác cho là người Indo-Sumerian. Vấn đề giòng
giống không quan hệ đối với Ngài, là người mà tư tưởng siêu việt tất cả
những phân biệt giai cấp và chủng tộc.
Lý tưởng mà ngài dựng lên phải được nhận thức là
hoàn toàn thuộc cá nhân. Là con một người, Ngài đã dạy con người trở
thành con người toàn thiện, nghĩa là con người của giác ngộ viên mãn.
Đức Phật đã trình bày ý tưởng đó trong Bốn Thánh đế
như sau:
1. Đời sống hoàn toàn là
khổ,
2. Đau kổ đó có nguyên nhân,
(Hai chân lý trên mo tả
hiện thực).
3. Nguyên nhân của đau khổ
có thể bị hủy diệt,
4. Con đường để diệt khổ.
(Hai chân lý sau diễn đạt lý
tưởng).
Bốn Thánh đế được Thánh giả hay những người đang tu
tập trên con đường đi đến Niết bàn tin theo. (Chữ “thánh” ở đây -
ārya hay ariya - trong Phật giáo bao gồm cả những người còn
đang tu tập hay những người đã đạt được thành quả).
Và để giải thích Bốn Thánh đế, đức Phật đã dạy
Thánh Đạo tám chi
mà Thánh giả tu tập theo:
1. Chánh kiến
2. Chánh tư duy
3. Chánh ngữ
4. Chánh nghiệp
(Chánh tư duy, Chánh ngữ và
Chánh nghiệp là những yếu tố nhân cách.)
5. Chánh tinh tấn
6. Chánh niệm
7. Chánh mạng
(Ba Chánh này là những yếu
tố của cuộc sống con người hay những khía cạnh sinh động của nhân cách.)
8. Chánh định, là động lực
đưa con người vượt qua mọi thế giới gồm Dục, Sắc, Vô sắc và Xuất thế để
đi đến Niết bàn (Pariṇirvāṇa), tức là Phật địa hay Phật
quả.
Thánh Đạo tám chi còn có thể được xem như là nền
đạo đức học thực nghiệm của Phật giáo dùng để huấn luyện đức tính của
con người trở nên cao đẹp hơn, đồng thời cũng là một con đường tôn giáo
đưa con người đến giác ngộ, thành Phật.
Những cảnh giới đạt được do tu tập Thiền định
|
Pháp giới đinh (Dharmadhātu-samāpatti)
(Quán chiếu thể nhập nhập
nguyên lý phổ biến, tức thế giới)
Phật |
V |
|
Diệt định (Nirodha-samāpatti)
A la hán (Arhat) |
IV |
|
VÔ SẮC GIỚI |
Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên
(Naivasaṃjñānsaṃjñāyatanam) |
III |
|
Vô sở hữu xứ thiên (Ākiñcanyāyatanam) |
|
Thức vô biên xứ thiên (Vijñānāntyāyatanam) |
|
Không vô biên xứ thiên (Ākāsānantyāyatanam) |
|
SẮC GIỚI |
Tứ thiền thiên |
II |
|
Tam thiền thiên |
|
Nhị thiền thiên |
|
Sơ thiền thiên |
|
DỤC GIỚI |
thế giới của các loài sinh động |
I |
Thánh Đạo tám chi không phải là tổ họp của những
con đường khác nhau, mà đó là con đường nhất trí. Con Đường của Trực Ngộ
(darśana-mārga: kiến đạo) đưa thánh giả đến nơi viên mãn.
Giai đoạn thứ hai của con đường
này là con đường tu tập hay Tu Đạo (bhāvana-mārga) được diễn tả
là Bảy Bồ đề phần
như sau:
1.
Trạch pháp: tư duy và khảo sát về thực tại.
2. Tinh
tấn
3. Hỉ
4. Khinh
an
5. Niệm
6. Định
7. Xả
Rồi bậc Thánh đi đến giai đoạn sau cùng, là con
đường không còn gì để học hỏi nữa, Vô học đạo. Khi đó, kết quả mà hành
giả hướng đến khi tu tập Bốn Thánh đế sẽ tự đến.
Ba giai đoạn trên hành giả phải trải qua khi tu tập
Bốn Thấnh đế. Giai đoạn đầu: Thánh đế được tu tập bằng cách thực hành
Thánh Đạo tám chi, kế đến, Thánh đế được quan sát tinh tường bằng bảy
Giác chi và cuối cùng là chứng nghiệm hoàn toàn bằng Vô học đạo.
Khi Thánh giả đạt đến giai đoạn cuối cùng này thì
trở thành một vị A-la-hán (Arahat). Theo Tiểu thừa, đó là quả vị
cao nhất của giác ngộ. Nhưng theo Đại thừa, A-la-hán chỉ mới giác ngộ
được một phần mà thôi. Lý tưởng của đạo Phật là hoàn tất phẩm chất của
một con con người, hay là đưa con người tiến đến Phật quả bằng căn bản
trí tuệ và giới hạnh (là nhân cách cao nhất). Đó là những đặc điểm của
đạo Phật.
|