|
GIÁ TRỊ ĐỐI CHIẾU
TRONG NHỮNG TƯƠNG QUAN VĂN HÓA
TUỆ SỸ
VAI TR̉ CỦA ĐỐI CHIẾU HỌC
Đối chiếu học (Comparative Study) không phải là một vấn đề
mới mẻ. Mặc dù tính cách cần yếu của nó trong các khảo cứu về Đông
phương
học chỉ được đặt thành vấn đề cách đây không lâu, có lẽ chưa
trên một nửa thế kỷ, có thể nói, nó được thành h́nh như một phong trào có chủ
đích từ khi Trung tâm Nghiên cứu Triết học Đông
Tây ra đời, với một tờ tạp chí "Philosophy East and West" do Charles A. Moore
làm chủ biên, xuất bản đầu tiên vào năm
1951. Trước đó, và sau đó, tức là vào những năm
1939, 1949, 1959 và 1ỗ, đă có những khóa
Hội thảo của các Triết gia Đông
Tây, cũng
do Moore sáng lập.[1]
Một khóa hội thảo khác, đặc biệt về Phật giáo Thiền tông
và Tâm phân học, dưới sự hợp tác của Erich From, nhà tâm phân học nhân bản trứ
danh, và Daisetz Taitaro Suzuki, tư tưởng gia Đông phương lỗi lạc, tổ chức tại
Viện Đại học Quốc gia Tự Trị Mễ Tây cơ (Autonomous National University of
Mexico), trong tuần lễ đầu của tháng tám, năm 1957, ở Cuernavaca, Mexico. Khóa
hội thảo này qui tụ khoảng năm mươi nhà tâm trị học và tâm lư học.[2]
Đấy là nỗ lực của các học giả danh tiếng thế giới đối với
những vấn đề căn bản của con người và những vấn đề liên hệ giữa hai nền văn hóa
Đông Tây.
Đằng khác, trong những nỗ lực riêng rẽ của từng tác giả
trong mỗi vấn đề riêng biệt, đối chiếu học đă là một cái ǵ đó rất phức tạp và
cũng không kém mơ hồ v́ bấp bênh, nhưng lại rất thiết yếu. Chúng ta có thể nói,
những hy vọng cũng như những thất vọng của các tác giả Âu Tây khi hướng tới dải
đất Á châu này phần lớn bị chi phối bởi phương pháp đối chiếu học của họ. Nói
một cách tổng quát hơn, mọi nỗ lực đều nhằm chuẩn bị một cuộc đối thoại nào đó
giữa Đông và Tây, mà thành quả là một viễn tượng ḥa b́nh của thế giới, như lời
của Coomaraswamy đă từng bày tỏ.
Một cuộc đối thoại như vậy chưa được thực hiện đúng theo
sự mong mỏi của mọi người. Nhưng nó không phải là một không tưởng. Các triết gia
lớn của thế giới Tây phương hiện đại đă cho chúng ta thấy cần phải có một cuộc
đối thoại như vậy, để cứu văn t́nh trạng nguy cơ của nhân loại ngày nay. Chúng
ta có thể ghi nhận mối lo âu của Carl Jung về điểm này. Ông nói: "Đối với
những phồn thịnh của văn minh Tây phương, tôi rất nghi ngờ; và tôi cũng e ngại
không kém nếu Tây phương phải thâu nhận tinh thần Đông phương. Tuy nhiên, cả hai
đối nghịch ấy đă gặp gỡ. Đông phương hoàn toàn biến thái; nó bị xáo trộn một
cách tai hại và toàn diện."[3]
Cuộc gặp gỡ theo kiểu được mô tả đó, quả là một sự kiện
vừa khôi hài vừa bi đát. Người ta không thể từ chối bản chất của ḿnh, trong một
truyền thống văn hóa, để mong thực hiện sự gặp gỡ. Ở đây, trong đối chiếu học,
điều kiện chuẩn bị tiên khởi là phải loại bỏ đầu óc tỉ giảo, nghĩa là thái độ ưa
cân nhắc hơn kém giữa những giá trị.
Nh́n một cách đại cương như trên, chúng ta thấy ngay rằng
vấn đề chỉ dành cho những chuyên gia mà thôi. Dù vậy, hầu hết chúng ta có lẽ c̣n
ghi đậm một ấn tượng do chính sách văn hóa của người Pháp để lại. Chính sách đó
là sử dụng chất liệu bản xứ để đối phó với những đối kháng của dân bản xứ. Khiến
cho Merleau - Ponty, một triết gia Pháp hiện đại, phải lên tiếng xét lại căn bản
của vấn đề, nói cách bóng bẩy: "Tại sao chúng ta đă không thể nh́n bằng đôi
mắt của kẻ khác?"
Căn bản của vấn đề phải được đặt trên ư nghĩa sống động
của một nhân cách; mối quan hệ sinh tồn của một con người không phải là những
cuộc giao dịch thương măi mà con người bị biến thành một hóa phẩm. Tuy nhiên,
trong một ư nghĩa khác, người ta đă muốn nói rằng, làm thế nào để thấu hiểu
những khát vọng thiết yếu của một dân tộc, và sau đó, để có thể lôi cuốn cả dân
tộc ấy theo một hứa hẹn nào đó của ḿnh. Trong khía cạnh này, một chính sách văn
hóa như vậy, dưới mọi h́nh thức, luôn luôn là những viên thuốc bọc đường, mà hậu
quả tốt hay xấu không do sự tiên liệu của người nuốt nó.
Trên b́nh diện khác, chúng ta cũng có một câu hỏi tương tự:
"Tại sao chúng ta đă không thể nh́n bằng chính đôi mắt của ḿnh?" Trước
câu hỏi này, chúng ta không thể làm một khách hàng đi t́m sở thích bằng cách đối
chiếu các giá trị của thương trường; nó đ̣i hỏi chúng ta phải thường trực đối
diện với chính ḿnh, nếu không muốn sống trong một thế giới bưng bít. Bác sĩ
Jung nhận xét: "Một người Đông phương rồi sẽ trở thành cái ǵ, nếu y bỏ quên
mất lư tưởng Giác ngộ của ḿnh?" Tất cả nền tư tưởng văn học nghệ thuật của
Đông phương chỉ nói lên một khát vọng tuyệt đối duy nhất là Giác ngộ, tỉnh dậy
từ cơn mê vọng điên cuồng, để thành tựu sứ mệnh của ḿnh, trong bản tính chân
thật của ḿnh, bằng khả năng tối thượng của ḿnh.
Từ một ư hướng như thế, vấn đề của chúng ta sẽ bắt đầu
giữa ḷng sống động của một nhân cách, và mở rộng vào chiều kích của thế giới.
Do đó, đối chiếu không phải là vấn đề mới mẻ, trên phương diện học thuật cũng
như trong tác động của tư tưởng. Nó như là một dấu hiệu trưởng thành của ư nghĩa
tồn tại. Cho đến lúc, mọi ràng buộc giữa Ta và thế giới của ta được thắt chặt
trong tương quan vô tận, bấy giờ là lúc triển
nở một hương vị độc đáo của ư nghĩa tồn tại.
Tuy
nhiên, một vài nét quá giản lược như vừa kể chưa đủ cho chúng ta thấy được vai
tṛ của đối chiếu học. Trước hết, nó chỉ như phương pháp học thuật vào khảo cứu.
Nhưng kỳ cùng, nó là bản chất tác động của tư tưởng. Dưới đây sẽ là một ít
trường hợp điển h́nh đối với những ǵ đă được thực hiện, trên nền tảng mệnh danh
là đối chiếu học.
ĐỐI CHIẾU
TRONG PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Trong những công tŕnh đă từng được thực hiện, ở đây
chúng ta có thể nhắc đến ba phong trào nổi bật nhất của tư tưởng triết học Tây
phương; chúng đă gây ảnh hưởng sâu rộng trong các hoạt động liên hệ đến nền Đông
phương học.
- Thứ nhất, trên lănh vực ngôn ngữ và luận lư học, h́nh
ảnh ngự trị của Wittgenstein gây nên những đợt sóng ngầm làm rung chuyển cơ đồ
kiến trúc vĩ đại của triết học Tây phương. Trong lănh vực Đông phương học, những
nỗ lực tái tạo một nền triết học về Tánh Không theo kiểu mới, và những cố gắng
phục hồi hệ thống nhất nguyên tuyệt đối Vedànta, hầu như đang báo hiệu một h́nh
ảnh nhất trí nào đó của toàn bộ Á châu, vốn là cái h́nh ảnh chưa từng có trong
lịch sử.
- Thứ hai, trên lănh vực tâm lư, phong trào tâm phân học,
với những nỗ lực chữa trị cho cái gọi là "căn bệnh của thời đại" đă trở
thành một phương pháp khảo cứu mới mẻ và cũng không kém táo bạo, được đa số các
nhà Đông phương học sử dụng triệt để. Nhất là các nhà Thiền tông và Mật tông,
trong số đó đáng kể nhất là Lama Govinda và Suzuki,
- Sau hết, phong trào hiện sinh đă mang lại cho Âu châu
một nếp sống mà hiện nay quá quen thuộc với chúng ta. Cũng trong phong trào này,
Thiền tông đă thổi vào thế giới Đông phương một sinh khí mới mẻ. Mặc dù có những
biến thái đa dạng về sau, nghĩa là rất gần đây, cả hai phong trào, hiện sinh và
Thiền, đă là sự bùng vỡ của cơn khủng hoảng trầm trọng trên toàn thế giới.
Ngoài ba phong trào đáng ghi nhận trên, riêng tại Á châu,
c̣n có một con đường trầm lặng khác, trải dài dưới những thăng trầm của lịch sử,
nhưng cái ư nghĩa sống thực của nó đă bất chấp thời gian. Đó là con đường của
nghệ thuật, trên đó, các thế hệ tiếp nối nhau trong một thế giới lặng lẽ với
những khát vọng trung thành nhất của đời sống. V́ thế nó chưa hề là một phong
trào. Nhưng người ta đă kính cẩn tặng cho nó tước hiệu là "gia tài văn hóa của
Viễn đông."
Bây giờ chúng ta hăy nói tới các lănh vực đối chiếu trong
phương pháp luận đó.
I.
ĐỐI CHIẾU TRÊN NGÔN NGỮ VÀ LUẬN LƯ
Có lẽ phải kể từ sau thế chiến II, Wittgenstein mới được
nhắc nhở đến trong một ít tác giả Đông phương học; nhưng được nhắc nhở thành văn
trong một vài tác phẩm lại phải đợi về sau nữa. C̣n như, được nhắc nhở như một
thẩm quyền có giá trị, rồi để trở thành thời thượng, chắc chắn là quá mới mẻ.
Đây là sự thận trọng đáng chú ư, v́ tính cách uẩn khúc trong ngôn ngữ cũng như
trong tư tưởng triết học của Wittgenstein. Thí dụ, Jayatilleke, một học giả Tích
lan, trong một tác phẩm triết học, đă trích dẫn Wittgenstein như một thẩm quyền,
và cũng không quên bộc lộ sự hănh diện của ḿnh với một ghi chú rằng: "đă
vinh dự được tham dự các khóa của Wittgenstein tại trường Trinity College,
Cambridge, trong những năm 1945-1947." Có lẽ tác phong diễn giảng của
Wittgenstein khá lôi cuốn, nhất là đối với một người lớn lên trong môi trường
kinh điển của Phật giáo, nên mới có những lời cước chú nồng hậu như thế. Nó nồng
hậu đến độ D. Friedman, người viết tựa cho tập sách ấy, Early Buddhist Theory of
Knowledge, cũng không quên nhắc lại cơ duyên gần như hăn hữu, và như lời
Friedman nói, nhờ cơ duyên vinh dự ấy mà Jayatilleke được coi như là một tập hợp
hiếm hoi của nhà triết học gồm đủ các mật ngữ học, sử học và phương pháp học.[4]
Cũng nên ghi nhận rằng, chúng ta không cố biến hang chuột
thành trái núi, để quan trọng hóa những cước chú rải rác. Nhưng một sự thực hơi
khôi hài, là mỗi khi một cánh cửa bao dung của Tây phương vừa được hé mở, là cơ
hội cho các nhà Đông phương t́m thấy một đồng minh đắc lực, trong cái thế yếu
của một nền văn hóa sa đọa Đông phương hiện nay.
Trở lại Wittgenstein. Những người đă được cái may mắn tham
dự các khóa của Wittgenstein đều ghi lại cảm t́nh nồng hậu trước một tác phong
lôi cuốn. Norman Malcolm chẳng hạn. Ông này là một trong những đồ đệ thân tín
của Wittgenstein, đă theo dơi các khóa giảng trong tam cá nguyệt đầu của niên
khóa 1939-40. Malcolm nói, bấy giờ ông chẳng thâu thập được ǵ trong khóa học đó,
măi đến vài chục năm sau, mới cố đọc lại cẩn thận những ghi chú. Bởi v́, các vấn
đề được Witt. đặt ra quá khó, và lối giảng của Witt. lại quá độc đáo. Nhưng
trong lúc ấy, Malcolm nói, ông cũng như các thính giả khác đều ư thức rằng nỗ
lực khảo cứu của Witt. có cái ǵ đó quan trọng. Các buổi giảng của Witt. đều bắt
đầu bằng một khoảng trống, trong ṿng vài phút, để ông loại bỏ những cái gọi là
"những xác chết ư tưởng" trong đầu óc, và chuẩn bị cảm hứng cho những ư tưởng
tươi mát. Sau đó, buổi học bắt đầu, mà tất cả bộ phận trong thân thể ông đều là
tiếng nói. Malcolm viết: "Người ta không thể nghe ông nói mà không có cảm
tưởng là đang đứng trước mặt một nhân cách khá lôi cuốn. Trong khi ông nói, tất
cả những đường nét trên khuôn mặt của ông trở nên linh hoạt một cách gợi cảm lạ
lùng. Cái nh́n sâu thẳm đôi khi với những ánh sáng dị thường, Tất cả nơi ông gợi
lên một tác phong ngoại hạng."[5]
Với một tác phong diễn giảng độc đáo, một nhà luận lư học
với những xác chết của ư tưởng đôi khi cũng có làm cho đá cuội gật đầu. Tôi
không rơ tác phong của Witt. có thể kích động mănh liệt những người trưởng
thành trong nền văn học Phật giáo đến mức nào. Nhưng mô tả của Malcolm đă gián
tiếp gây ra một cảm t́nh sâu đậm. Nó có thể làm người ta nhớ lại những ngày trầm
mặc của đức Phật ngay sau khi ngài vừa đắc Đạo. Đây là thời gian của quyết định
giữa hai thế giới kỳ ảo, một bên là thế giới của vô ngôn vắng lặng, và một bên
là thế giới của tri kiến phân biệt. Sư kiện ấy trở thành một uẩn khúc nan giải,
và đă trở thành đề tài thảo luận phong phú suốt trên một thế kỷ kể từ khi người
Tây phương bắt đầu bước vào thế giới của đạo Phật. Sự im lặng đă bị gán cho cái
nhăn hiệu quái đăn là Bất khả tri luận hay Hoài nghi chủ nghĩa. Thái độ hoài
nghi của Hume đă thức tỉnh Kant, th́ sự im lặng của đức Phật đă khiến các nhà
Tây phương quay trở lại ḍ hỏi Hume để chọn một giải pháp thỏa đáng. Kết quả là
công dă tràng. Nhưng, khi mà Witt. xuất hiện, cũng trong một thái độ im lặng lạ
lùng, người ta coi đây là cơ hội hạn hữu. Chưa một ai, dù khinh suất đến tối đa,
đă có thể gán cho thái độ im lặng của Witt. những nhăn hiệu như Bất khả tri luận
hay Hoài nghi chủ nghĩa. Cùng lắm, người ta gọi ông là một nhà luận lư học thần
bí. Nếu thế, bấy giờ người ta cũng không có cách ǵ lại có thể gán những nhăn
hiệu ấy lên sự im lặng của đức Phật một cách ngây thơ.
Từ đó, Wittgenstein đến với thế giới Đông phương như một
thẩm quyền tuyệt đối. Jayàitlleke kết luận: "Như lai vượt ngoài khái niệm về
sắc, thọ, tưởng, hành và thức; Ngài như một đại dương sâu thẳm khôn ḍ. Những ǵ
người ta có thể nói về Ngài, là những cái không hề có nơi Ngài và thế là người
ta phải im lặng. Chính trong khía cạnh này, nó tương tự với quan điểm của một
nhà Thực chứng luận: Những ǵ người ta không thể nói, người ta phải im lặng.
Những thái độ này không thể lẫn với bất khả tri luận. Do đó, không phải là có
cái ǵ đó mà đức Phật không biết, nhưng v́ cái Ngài "biết" trong
chiều hướng siêu việt không thể chuyển thành lời bởi những giới hạn của ngôn ngữ
và của kinh nghiệm thông tục."[6]
Đây là một trường hợp đối chiếu khá lư thú. Trước tiên
người ta chỉ muốn làm một cách thông thường là trưng dẫn một thẩm quyền ngoại
tại để binh vực, biện minh và củng cố cho niềm tin cố hữu trong ḿnh. Nhưng ngay
lúc đó, người ta cũng khám phá ra một sắc thái bí ẩn của niềm tin ấy, mà chính
người ấp ủ nó cũng không hay, trước khi làm công việc đối chiếu. Nó giống như
trường hợp khi một người khám phá ra một khuôn mặt nào đó y hệt của ḿnh, với
những cảm giác thương hay ghét, th́ lập tức y có luôn cảm giác rằng mặt ḿnh
đáng thương hay đáng ghét.
Hiển nhiên, trong trường hợp Witt. và đức Phật, người ta
phải thấy có những tương tợ nào đó. Nhưng im lặng luôn luôn là một thái độ khó
hiểu và do đó không thể giống nhau như tạc giữa hai người. Người ta sẽ t́m đến
Witt. trong những tương tự khác, về lối diễn tả bằng lời hơn là bằng thái độ im
lặng. Điều này không phải là không thể làm được. Thử lấy một thí dụ.
Trước hết, người ta có thể bị lôi cuốn đến Witt. trong "ngón
tay chỉ mặt trăng" của đức Phật. Ở đây, cũng trong thái độ tương tự, Witt. chỉ
ngón tay vào một vật, và nói: tove. Ông muốn nói ǵ?
-
Đây là một cây viết ch́?
-
Đây là một cái tṛn?
-
Đây là cái bằng gỗ?
-
Đây là cái một?
-
Đây là cái cứng?
Ngón tay có thể muốn giới thiệu cho người ta một cây viết
ch́, đồng thời nó cũng có thể chỉ cho dáng tṛn, vật cứng. Vậy điều ǵ
xác chứng rằng ngón tay đưa ra để giới thiệu rằng tiếng tove được chỉ bằng ngón
tay là cây viết ch́, chứ tove không phải là dài, hay tove là cứng hay
tove là cái ǵ khác?[7]
Trường hợp như vậy khá lư thú, nó làm chấn động người đọc
ngay từ phút đầu, v́ nó đặt lại căn bản của sự đối chiếu. Nghĩa là, nó báo hiệu
những phản ứng ngược của đối chiếu. Thay v́, qua sự đối chiếu ấy, Phật vẫn là
Phật và Witt. vẫn là Witt; người ta đă bị phản ứng ngược của đối chiếu đến độ
lầm lẫn giữa hai để rồi phát biểu một cách bóng bẩy rằng "ḿnh với ta tuy hai mà
một, ta với ḿnh tuy một mà hai". Quả y như các luận sư Nhất thiết hữu bộ của
Phật giáo đă cảnh giác: Khi nghe nói "Phật là sư tử vương", đừng vội nghĩ ngay
rằng Phật là thú ăn thịt v́ sáo ngữ "tuy hai mà một".
Như vậy, người ta không thể không cảnh giác trước những
phản ứng ngược của đối chiếu.
Wittgenstein là kết tinh sự thành tựu cao nhất của nền
triết học tư biện Tây phương. Ở ông, người ta t́m thấy một cơ đồ kiến trúc triết
lư vững chăi, nhưng đây là sự vững chăi của những mảnh vụn rời rạc. H́nh ảnh
trung thực của văn minh Tây phương là đó. Nó tạo dựng nên một thế giới mà trong
đó mỗi người là một đơn vị nguyên tử cô liêu, bị ném ra giữa một trần gian phi
lư. Làm thế nào để tái lập mối dây liên lạc mật thiết giữa người và người, trên
nền tảng gọi là nhân bản, đấy là vấn đề sinh tử của các tư tưởng gia Tây phương
hiện đại.
Hiện nay, c̣n quá sớm để ghi nhận mức độ ảnh hưởng của
Wittgenstein trên lănh vực triết học Đông phương. Tuy nhiên, một khuynh hướng
phân tích, vốn chịu ảnh hưởng của Witt. trực tiếp hoặc gián tiếp, đang được manh
nha tại đây. Điều này được ghi nhận qua cuộc Hội thảo Triết học tại Tân đề li,
Ấn độ, vào năm 1962, gồm 13 nhà triết học trẻ, khoảng từ 30 đến 35, và được coi
là có triễn vọng về triết. Cuộc Hội thảo này cũng nên chú ư, với
chúc từ của S. Radhakrishnan, một triết
gia thuộc hàng lănh tụ của Ấn hiện đại.
Tất nhiên, càng ngày tên tuổi Wittgenstein càng được nhắc
nhở đến nhiều trong các tác phẩm Phật học hay Đông phương học. T́nh trạng rồi sẽ
cũng không khác trước đây, mỗi lần nhắc đến Tánh Không luận hoặc Vedànta th́
người ta có thói quen nhắc đến Biện chứng pháp; hoặc tên tuổi của Long Thọ gắn
liền với Heidegger. Và có lẽ, chẳng bao lâu nữa, khuynh hướng phân tích trở nên
thịnh hành để chúng ta có thể nhắc đến như một sáo ngữ.
Những tương quan trên lănh vực ngôn ngữ và luận lư như thế
cung cấp cho chúng ta một nền tảng cần có của đối chiếu học. Bởi v́, một sự kiện
không chối căi là ngày nay, chưa một ai có thể thấu hiểu nền minh triết của Đông
phương một cách sâu sắc nếu không có một căn bản nào đó về triết học Tây phương.
Đây là một tấn kịch vừa khôi hài vừa bi đát của chúng ta. Vậy th́, cái gọi là "Về
nguồn" của chúng ta đang c̣n là một không tưởng xa vời. Làm sao chúng ta có thể
lội ngược đến tận nguồn suối khi phải mang theo những chiếc máy phóng thanh vĩ
đại, trừ phi muốn làm khuấy động và vẫn đục ḍng suối trong mát? Dù sao, chúng
ta cũng không quên lời nói của một triết gia Tây phương cỡ lớn hiện đại, rằng
người ta như một thân cây phải cắm sâu gốc rễ xuống ḷng đất mới mong vươn ḿnh
lên cao với cành lá toả rộng. Lời nói đó sẽ c̣n là thẩm quyền tuyệt đối để chúng
ta giữ vững niềm tin của ḿnh cho đến lúc không tưởng trở thành sự thực.
II.
ĐỐI CHIẾU TRÊN LĂNH VỰC TÂM LƯ
Phong trào thứ hai mà chúng ta sẽ nhắc đến ngay đây là
những đối chiếu trên lănh vực tậm lư. Riêng trong các khảo cứu về Phật học, đây
có thể nói là lănh vục khá lôi cuốn. Kể từ khi người Tây phương đến với Phật học,
sau một thời gian dài như đi vào mê cung rối rắm, th́ những cống hiến từ những
đối chiếu trên lănh vực tâm lư đáng coi là dấu hiệu chỉ đường. Không phải rằng
chúng giải quyết được tất cả mọi vấn đề, nhưng người ta có thể từ trên căn bản
này mà ḍ ra được đường dây liên hệ giữa con người và thế giới của nó, trong một
kiến trúc vĩ đại. Bởi v́, vũ trụ quan trong nền minh triết Ấn độ, trong đó có cả
Phật giáo, được căn cứ trên các cấp bực diễn tiến của tâm linh, hay nói một cách
xác thực hơn, căn cứ trên những tŕnh độ hoạt động của ư thức, Ed. Conze gọi là
những tiền đề mặc nhiên (tacit assumption) mà những ai nghiên cứu về triết học
Ấn độ không thể không biết đến. Mối tương quan giữa con người và thế giới của nó
được khám phá ngay trong các cấp bậc của thiền định hay yoga. Ở đây tùy theo mỗi
cấp bậc, với những yếu tố tâm lư hoạt động thường trực nào đó, người ta có một
h́nh ảnh thế giới tương xứng. Thế giới thuần vật chất, hay thế giới thuần tinh
thần, tất cả chỉ sai khác nhau bởi tŕnh độ hoạt động của ư thức, nghĩa là tùy
theo cường độ rung chuyển và tốc độ vận chuyển của ư thức. Căn cứ trên tốc độ
vận chuyển và cường độ rung chuyển này mà Lama Govinda[8]
đă thử phác họa một h́nh ảnh lịch sử về các sinh hoạt tư tưởng của nhân loại,
nói chung, và riêng Ấn độ kể từ thượng cổ Vệ đà cho tới thời đại đức Phật. Ông
đă nhận xét một cách điển h́nh rằng, nếu từ khởi thủy, trong thời đại b́nh minh
của tư tưởng, ư thức của nhân loại mà đă hướng đến để chấp nhận một cách hài
ḷng với những tác động vừa yếu vừa chậm của thế giới vật chất, th́ ngày nay,
h́nh ảnh thế giới của chúng ta có thể là một thân người vĩ đại. Nhưng ở Đông
phương, người ta chỉ sử dụng phương pháp nội quan, hay một cách xác thực: nội
tỉnh. Bằng nội tỉnh, chúng ta sẽ thấy thế lực vận chuyển của ư thức; nó vận
chuyển như ḍng thác đổ xuống ào ạt. Do đó thế giới mang ảnh tượng của biến dịch
bất tuyệt, và ư nghĩa tồn tại của con người và thế giới của nó chỉ là thoáng
chốc.
Nếu nội tỉnh ghi dấu thể cách hướng nội trong đời sống ư
thức của Đông phương, th́ hướng ngoại được coi như là thể cách đặc trưng của Tây
phương. Người Tây phương coi hướng nội như là dấu hiệu bất thường, bịnh hoạn.
Freud, ông tổ của Tâm phân học, coi đó như là thái độ "tự yêu ḿnh" của tâm trí.
Bởi v́, hướng nội như vậy là rút lui tự thủ, chống lại t́nh cảm trong đời sống
cộng đồng. Nhưng Carl Jung lại có một cái nh́n khác[9].
Ông nói nếu ai đă có thể đối chiếu giá trị thực tiển giữa ư chí hướng nội và
hướng ngoại sẽ hiểu rơ sự xung đột về mặt xúc cảm giữa Đông và Tây. Dĩ nhiên,
người ta muốn nỗ lực để đưa con người vượt lên cả hai con đường hướng nội hay
hướng ngoại, để ư thức của nó sinh hoạt trong một thế giới toàn diện. Đó là mẫu
người thời đại mà tất cả đều muốn qui tụ về nó.
Riêng trong mẫu người cố hữu của Đông phương, Carl Jung
c̣n nêu lên một h́nh ảnh khác của ư thức. Đây là một h́nh ảnh toàn diện; một
h́nh ảnh hầu như vắng bặt trong thế giới Tây phương. Ông nói: "Sự phát triển
của triết học Tây phương trong hai thế kỷ trước dây cuối cùng đă cô lập tâm trí
con người trong môi trường riêng biệt của nó và rứt nó ra khỏi cái một nguyên
thủy với vũ trụ"[10]
Ở Đông phương, người ta nói đến chữ Tâm với một ư nghĩa vô
cùng rộng răi. Nó không chỉ riêng cho một số tác vụ đặc biệt của tâm lư. Khi
người ta nói đến những chữ như "Tâm Đại Đồng" "Tâm Phổ Biến", hay cụ thể hơn, "Thiên
địa chi Tâm" tấm ḷng của trời đất, th́ đây không chỉ là một lối nói văn hoa,
biểu tượng. Mà đích thực, cái tâm ấy, cái "Tấm ḷng" ấy, vừa như là căn bản tồn
tại của thế giới, mà cũng vừa chính là hoạt động thường trực của tâm b́nh thường
trong mọi người. Như vậy, khi nói "Tâm b́nh thường là Đạo", câu nói ấy không
phải là quá xa xôi, khó hiểu, nhưng thể hiện cho được cái Tâm đó mới là một công
tŕnh gay cấn. Carl Jung lại nói: "Ở Đông phương, tâm đă là một thành tố vũ
trụ, là bản chất chân thật của hiện hữu; nó là điều kiện cốt yếu của tri thức,
và do đó, của hiện hữu của thế giới khả tri".[11]
Từ trên nhận xét này, ông nói ở Đông phương không có sự xung đột giữa tôn
giáo và khoa học. Ông gọi sự xung đột ấy là một tội lỗi khả ố của tri thức.
Không phải riêng Jung, mà hầu hết các nhà Đông phương học,
nếu không muốn nói là tất cả, trên lănh vực này, đều cảm nhận Tâm như một mô
h́nh kiến trúc của thế giới. Một cách nào đó, thế giới này là thực hay mộng, và
mức độ thực hay mộng chỉ là những biến thái trong các sinh hoạt của tâm lư. Điều
này càng trở nên rơ rệt đối với Vedànta[12];
ở đây thực tại tính của thế giới được ghi nhận qua những hoạt động của tâm lư
với bốn tŕnh độ là thức, ngủ mộng, ngủ say và thoát hóa. Trong tŕnh độ thức,
hoạt động của ư thức hướng ra ngoại giới, tạo nên t́nh trạng phân ly giữa ta và
thế giới của ta. Thực tại như thế được kinh nghiệm một cách khách quan; nhưng
khách quan chưa phải là ư nghĩa rốt ráo của chân lư, và thực tại đó trở thành hư
ảo. Bởi v́, nó có ở đó khi ta đến và biến mất khi ta đi. Đằng khác, trong giấc
mộng, thế giới như chỉ xuất hiện cho ta, nhưng sự thực của nó chính là sự thực
của ta. Những h́nh ảnh xuất hiện trong giấc mộng, xuất hiện không cần một trật
tự mạch lạc nào cả, nó đến như thế là như thế, bất chấp giới hạn của không gian
và thời gian. Đến một tŕnh độ cao hơn, trong giấc ngủ say không mộng mị, ư thức
hoạt động trong một môi trường mà ta và thế giới không c̣n là hai nữa. Cuối cùng,
trạng thái thứ tư, thoát hóa, cả ta và thế giới đều biến mất, và đây là thực tại
tuyệt đối.
Bốn tŕnh độ của thực tại này có thể làm nền tảng trên đó
người ta tiến tới các quan điểm của Kant và Hegel, với những nỗ lực cho ư nghĩa
Tự Thức. Xa hơn nữa, chúng cũng có thể dẫn tới Hiện tượng luận của Husserl.[13]
Tâm như một mô h́nh kiến thức của thế giới ấy cũng có thể nói đúng cho Phật giáo,
và nó sẽ tạo thành một đường dây nhất trí quán xuyến từ Nam đến Bắc. Sự nhất trí
này tạo thành nền tảng của Thiền tông. Ngay giữa ḷng Á châu, Thiền tông là kết
quả của cuộc đối thoại vô cùng hào hứng giữa hai nền văn hóa đặc sắc Đông phương,
ngang qua ngơ đường Phật giáo. Ngày nay, cũng chính Thiền tông dọn đường cho sự
gặp gỡ Đông Tây. Bởi v́, người ta t́m thấy nơi Thiền, nơi ư thức của Thiền, một
nguồn sống động, kết tinh và thúc đẩy cả một thế giới của tư tưởng, văn học và
nghệ thuật.
Trên lănh vực sinh hoạt của ư thức, đây là một cuộc gặp gỡ
của những nỗ lực muốn chữa trị căn bịnh thời đại, như nhận xét của Erihc From,
khi ông viết về Tâm phân học và Thiền. Mặc dù, tự căn bản, Tâm phân học và Thiền
có những khác biệt sâu xa. Một đằng, "Phật giáo Thiền tông là sự kết hợp giữa
tinh thần suy lư và trừu tượng của Ấn với thiên bẩm cụ thể và thực tiễn của
Trung hoa."[14]
Và đằng khác "Tâm phân học là con đẻ của chủ thuyết nhân bản và duy lư Tây
phương..." Nhưng trong cứu cánh, mục đích của Thiền cũng chính là "những
ǵ Tâm phân học mong thành tựu: nh́n thẳng vào bản tính của mỗi người, thành tựu
được tự do, hạnh phúc và t́nh yêu, giải phóng năng lực, chữa trị t́nh trạng bịnh
hoạn và què quặt."[15]
Bịnh hoạn và què quặt, là những h́nh ảnh trung thực của xă
hội ngày nay, dưới con mắt của một nhà Tâm phân học. From, trong một tác phẩm về
Tâm phân học và Tôn giáo, ghi lại bức tranh khá ngộ nghĩnh, và cũng rất thường
thấy đối với chúng ta. Đây, tại một ngă tư, có đèn hiệu xanh đỏ. Khi mọi người
cùng đứng lại chờ đợi, người ta sẽ khám phá ra trên gương mặt mỗi người đều có
bao phủ một làn khói mờ của tâm trạng hoăng hốt bất an; một mối lo sợ nào đó,
không duyên cớ. Dĩ nhiên, không ai bị hối thúc, nhưng tất cả sống trong tâm
trạng bị hối thúc. Như vậy có nghĩa rằng mỗi người đều mang sẵn một triệu chứng
của căn bịnh thần kinh của thời đại. Một chứng bịnh mới mẻ của thế kỷ, và do đó,
cần phải có một phương pháp chữa trị mới mẻ của thế kỷ. Thiền có thể cung cấp
cho một quan niệm thích ứng.
Tâm phân học sẽ t́m thấy ở Thiền một mẫu người không bịnh
hoạn, một quan niệm về sự "lành mạnh" của con người. Bịnh hoạn của một người
không phải là một biến cố xảy ra cho riêng nó. Người ta gọi là chứng bịnh của
thời đại, bởi v́ con người luôn luôn bị khuất phục trước những áp bức của thời
đại; nó là thời đại của nó. Biến tính của chứng bịnh này là những cuộc nổi loạn
tập thể, những phong trào, những hiện tượng, v.v… Biến chứng trong mỗi người,
th́ đấy là những thứ bịnh như bất cứ mọi thứ bịnh mà ta có thể đến viếng một bác
sĩ y học: mất ngủ, bị ám ảnh, hay hồi hộp, và vô số trường hợp rối loạn khác.
Nhưng chúng là những thứ bịnh bất trị. Bởi v́ sự chữa trị không phải chỉ làm
tiêu tan những triệu chứng ấy. From nói: "Những ai khổ sở v́ t́nh trạng vong
thân, sự chữa trị không cốt làm biến mất chứng bịnh, mà cốt thường trực trong
trạng thái lành mạnh."[16]
Vong thân là căn bệnh trầm kha của thời đại, của thế kỷ,
và phương pháp chữa trị hữu hiệu nhất là đặt bịnh nhân thường trực trong trạng
thái lành mạnh: đây là quan niệm chữa trị mới mẻ của From trong ngành Tâm phân
học, khác hẳn với cách chữa trị của Freud. Và cũng chính quan niệm mới mẻ đó mà
From muốn t́m đến một cộng sự viên đắc lực của ḿnh từ phương Đông lại, tức là
Thiền tông.
Tâm phân học, cũng như tất cả các ngành học khác của Tây
phương trong thế kỷ hiện tại, đều tố cáo một thời đại hoang tàn, trong đó, mỗi
người đều cảm thấy lo sợ bất an trong trạng thái cô liêu khó hiểu của nó. Không
phải v́ ám ảnh hay ảo tưởng của một người tạo nên cảm giác đó cho chính nó. Phải
nói rằng là ám ảnh vô h́nh của cả một thời đại. Triệu chứng không nằm riêng tại
một người, mà nằm trong ḷng thế kỷ. Một quan niệm có vẻ mơ hồ. Nhưng chúng ta
phải biết rằng, ư thức không hoạt động trong một môi trường riêng biệt, nó với
nó. Những xung đột trong ư thức được phản ảnh tất cả sự xung đột của thế kỷ.
Thiền tông luôn luôn nhắc nhở người ta hăy nh́n thẳng vào
chân diện mục của chính ḿnh, lột bỏ hết những mớ trang sức không thiết thực, do
kiến thức, truyền thống hay tập quán xă hội mang lại. Những thứ đó chỉ tố cáo
tâm trạng bịnh hoạn của chúng ta, thay v́ làm cho chúng ta thấy rơ ư nghĩa thiết
thực của sự sống. Nơi đây, Suzuki cũng t́m thấy một đồng hành đắc lực. Ông đă
dùng danh từ Vô thức của Tâm phân học để mô tả trạng thái Vô Niệm của Thiền tông.
Chúng ta cần nhớ rằng, trong ngành Tâm phân học, From đă mang lại cho Vô Thức
một ư nghĩa khác hẳn Freud. Với Freud, Vô Thúc là môi trường rối loạn, phi lư,
của những ǵ bị dồn nén từ mặt ư thức. Nhưng ở Jung, ngược lại, Vô Thức là những
nguồn mạch của trí sáng suốt. From so sánh, cả Freud và Jung đều lấy Vô Thức làm
nền móng, mà bên trên là cơ đồ kiến trúc của ư thức. Nhưng nền móng Vô Thức của
Freud là nơi tập hợp những xấu xa đen tối của người; c̣n nền móng Vô Thức của
Jung th́ chứa đựng kho tàng khôn ngoan sáng suốt.
Vô thức trong quan niệm của Freud không thể được diễn tả
như là Vô Niệm của Thiền tông. Bởi v́, Thiền tin tưởng khả năng tối thượng của
con người, cắm sâu gốc rễ trong tự tánh của nó.
Vô niệm có nghĩa là không c̣n những tác động bị kềm tỏa
của ư thức. Nó diễn tả tâm trạng an nhiên b́nh thản của một Thiền sư. Một cách
nào đó, chúng ta có thể mường tượng mặt biển khi hoàn toàn phẳng lặng, không một
gợn sóng, lập tức cả một bầu trời dẫy đầy trăng sao phản chiếu nguyên h́nh trọn
vẹn trong ḷng biển. Trong tâm trạng đó, chúng ta không c̣n bị đặt trước một thế
giới hỗn loạn phải thường xuyên đối phó.
Hiển nhiên, không phải chúng ta bị ném ra giữa cuộc đời
này như một bóng ma vật vờ trong đêm tối, để thấy xa lạ với tất cả, với chính
ḿnh. Cảm giác lạc loài là dấu hiệu vong thân của thế kỷ chúng ta. From gọi nó
là một thế kỷ không mục đích, không định hướng; người ta có cảm giác h́nh như bị
ném ra giữa một thế giới vô nghĩa, trong đó mỗi người chỉ là một đơn vị kinh tế,
mà giá trị là tiêu chuẩn của một hóa phẩm trên thương trường, trên thị trường
nhân cách. Nói một cách khôi hài hơn, giá trị của một người được đánh giá theo
đồng lương mà y có thể kiếm được trong một tháng.
Đứng ở mặt ngoài, người ta sẽ thấy rằng Tâm phân học và
Thiền có những mô tả như nhau, về cái gọi là t́nh trạng vong thân của thế kỷ.
Chúng ta thử nghe From. Ông nói, một chú bé chơi hoài một quả banh không chán,
bởi v́ trọn cả tâm hồn nó buông thả theo trái banh. Và như vậy, nó lặp lại một
cử chỉ trong tính cách không hề lặp lại của cuộc chơi[17].
Đối với chúng ta, người lớn, trong một cuộc chơi vĩ đại của một kiếp nhân sinh,
tṛ chơi càng lúc càng trở nên vô vị, nhàm chán, cho tới một lúc, đời sống trở
thành nhạt nhẽo, vô nghĩa. Nhưng đối với một Thiền sư, ngay đến cả cái công việc
ăn uống thông thường cũng là ư nghĩa tối hậu của Thiền. Không có ǵ lặp lại
nhưng cũng chẳng có ǵ mới mẻ trong thế giới của Thiền.
Trên một chiều hướng như vậy, hiển nhiên Thiền và Tâm phân
học đă gặp gỡ nhau, trong nỗ lực chữa trị căn bịnh của thế kỷ, giải phóng con
người khỏi t́nh trạng vong thân của nó.
Chúng ta có thể ghi lại kết quả của cuộc gặp gỡ giữa Thiền
và Tâm phân học. From nói: "Dù Thiền có hữu ích cho Tâm phân học như thế nào,
theo quan niệm của một nhà tâm phân học Tây phương, tôi bày tỏ ḷng cảm tạ của
tôi đối với tặng phẩm Đông phương quí giá này, nhất là Bác sĩ Suzuki, người đă
thành công diễn tả nó trong một cung cách mà tất cả tinh túy của nó không mảy
may thiếu sót, trong nỗ lực phiên chuyển tư tưởng Đông phương sang Tây phương,
khiến cho người Tây phương, nếu y có gặp bối rối, có thể thông hiểu được Thiền,
tùy cơ duyên cho đến khi đạt mục đích. Làm sao sự thông hiểu ấy có thể có, nếu
không phải rằng "Phật tánh có trong tất cả chúng ta" rằng con người và cuộc sống
là những phạm trù phổ biến, và rằng, sự chứng đắc trực tiếp về thực tại, sự tỉnh
thức, tỏ ngộ, là những kinh nghiệm phổ biến?"[18]
Nói tóm lại, đời sống và kinh nghiệm sống là của riêng mỗi
người, nhưng là quà tặng cho tất cả mọi người, nếu ai sẵn ḷng tiếp đón, với tất
cả sự thành khẩn tự đáy ḷng. Vượt lên căn bịnh trầm kha của thế kỷ, con người
trong thể cách sống động của nó, không c̣n một giới hạn ràng buộc giữa ta và cái
không phải ta. Trên tất cả, không c̣n giới hạn cách biệt Đông Tây trong đó.
III.
ĐỐI CHIẾU TRONG TRIẾT HỌC HIỆN SINH
Nỗ lực giải phóng con người ra khỏi t́nh trạng vong thân
của thế kỷ, để từ đó, đặt mối dây liên hệ giữa người và người trong một thế giới
mở rộng, đó không chỉ là nỗ lực riêng biệt của Tâm phân học và Thiền.
Theo một cách nói riêng biệt, tất cả nỗ lực sinh hoạt của
Triết học Tây phương hiện đại đều nhắm thiết lập môi trường siêu nghiệm giữa
ḷng một thế giới đang mở rộng ra mọi chiều hướng. Sứ mệnh của triết học không
c̣n là khám phá để chinh phục, do đó, mọi tương quan giữa các cá thể trong môi
trường siêu nghiệm không c̣n được thực hiện như là mối quan hệ chủ khách. Môi
trường siêu nghiệm bấy giờ được bộc lo dưới một quang cảnh khá phức tạp, bởi v́,
nơi đây không c̣n là chỗ ngự trị của một thứ trí năng siêu việt kinh nghiệm, mà
chính là quang cảnh tương giao, từ thể tánh của mọi cá thể bằng kinh nghiệm cá
biệt của chúng. Nghĩa là, nơi đây không phải là thế giới siêu việt kinh nghiệm,
nhưng là thế giới của kinh nghiệm siêu việt, khi cá thể đă đập vỡ lớp vỏ dày của
bản ngă cá biệt, để giao hội trực tiếp với thế giới: "nó không ở đâu, nhưng lại
ở trong tất cả" – Partout ou nulle part (Merleau-Ponty). Và bấy giờ, ư nghĩa của
tương giao không c̣n đặt trên quan hệ tác dụng, mà đặt trên chính quan hệ thể
tánh: không phải là vị trí hay vai tṛ trong một tư thái chủ cách nào đó. Người
ta sẽ không đặt vấn đề rằng, làm thế nào để ḥa hợp hai lượng nước của hai ly
nước mà nội dung của mỗi bên không bị thiệt hại, thêm hoặc bớt.
Từ ư hướng ấy trở đi, chúng ta có một lối mới trong phương
pháp đối chiếu triết học. Chắc chắn, chúng ta sẽ không có bất cứ một tiêu chuẩn
cố định nào làm sở y, để khảo sát và đánh giá. Mỗi triết gia là một tiêu chuẩn
đặc biệt cho việc vận dụng phương pháp. Mỗi hệ thống tư tưởng, tự nó, cũng có
một lề lối định giá riêng biệt. Trên tất cả, mọi công tŕnh của triết học được
coi như là diễn hành dưới sự thúc đẩy nào đó từ khát vọng muôn thuở của con
người. Hướng đi là riêng của một người, nhưng, có lẽ, tất cả chỉ đi trên một con
đường độc nhất. Đấy là con đường nào? Karl Jaspers, một triết gia hiện sinh đặc
hạng, nói: "Họ – tất cả các triết gia lớn của
nhân loại – có gặp nhau trong một căn tính độc nhất, ngay giữa ḷng thực tại và
chân lư không? Đối với một câu hỏi như vậy, không thể có câu trả lời. Nhưng
trong câu hỏi này chứa đựng một sức mạnh thúc đẩy chúng ta tiến tới cái Một độc
nhất."[19]
Đoạn văn trích dẫn trên là một trong ba chủ đích mà
Jaspers đề ra cho tác phẩm của ông, viết về các triết gia lớn của nhân
loại. Ở đây, chữ triết gia không giới hạn nơi tác giả của một hệ thống tư tưởng
triết học, nó chỉ cho những nhân cách mà đời sống họ là nguồn cảm hứng bất tận
của tư tưởng triết học; như Phật và Chúa Jesus. H́nh ảnh của họ, một số mang
những sự kiện lịch sử, một số là h́nh ảnh huyền thoại được gầy dựng qua nhiều
thế hệ sau. Một nhân cách như vậy cố nhiên đă vượt ngoài đời sống cá biệt và trở
thành h́nh ảnh đặc trưng ghi đậm những khát vọng sâu xa và vĩnh cửu của nhân
loại. Do đó, khi khảo cứu về họ, vấn đề không chỉ giới hạn trong đời sống cá
biệt của một nhân vật lịch sử; nó trải rộng thành chiều kích của thế giới. Những
quan điểm về xă hội, về tâm lư, ngay cả lập trường tư tưởng, không c̣n là điểm
tựa vững chăi để cho ta đối diện với họ trước h́nh ảnh trung thực của học. Đối
với nhân cách và đời sống của Socrates của Phật, của Jesus và của Khổng Tử – bốn
thánh triết mô phạm (The paraidgmatic individuals) và chỉ có bốn – Jaspers nói:
"Thái độ có tánh cách triết lư của chúng ta đối
với họ là như thế này: chúng ta được thúc đẩy bởi những ǵ mà họ cùng có như
nhau v́ chúng ta đối diện với họ trong tư cách nhân tính. Họ, không ai có thể
khác biệt chúng ta. Mỗi vị là Một vấn đề đặt ra chúng ta không ngớt gây thắc mắc."[20]
Và thêm nữa, ông nói:
"Chúng ta biết rằng, trong thực tại cá biệt của chúng
ta không ai bước y theo học. (…), học là
những dấu hiệu để chỉ hướng, không phải là những kiểu mẫu để bắt chước."[21]
Nói cách khác, đọc lại cuộc đời và tư tưởng của học, tức
là đi ngay vào thế giới của chính ta, ở giữa ḷng thế giới. Phương pháp, nếu
muốn gọi là phương pháp, đối với chúng ta, chỉ có thể khách quan và khoa học vừa
chừng; phần c̣n lại, chúng ta phải theo một chiều hướng chủ quan trong ư nghĩa "Liên
chủ thể" giữa ḷng thế giới siêu nghiệm. Trong chiều hướng này, chúng ta cứ cho
rằng Jaspers đă theo phương pháp đối chiếu sau đây:
Từ Hiện sinh luận đến Siêu h́nh học.[22]
1- Từ Hiện sinh luận
Trước hết, cuộc đời của mỗi triết gia có thể được nh́n
theo con mắt của một sử gia nghệ thuật. Tức là, chỉ cần nỗ lực sao chép những ǵ
có thể thâu thập được từ những sự kiện lịch sư chung quanh một cuộc đời: thời
đại của triết gia, với hoàn cảnh xă hội, với những nguồn ảnh hưởng từ trước và
chung qui là sứ mệnh triết lư của ông. Dưới ánh sáng của một đường lối khảo cứu,
kê cứu giải thích và định giá, đầy đủ tính cách khoa học như vậy, kỳ thực không
phải là h́nh ảnh của một triết gia đă từng hiển hiện qua nhiều thế hệ. Phải nói,
đường lối đó đưa ra một h́nh ảnh mới và cũng v́ quá mới mẻ nên quá xa lạ. Nếu sứ
mệnh của Phật, chỉ là thiết lập một trật tự b́nh đẳng cho xă hội Ấn đương thời,
sứ mạng đó quả ít can dự đến đời sống của các dân tộc tại những nước Á châu khác.
Chúng ta phải t́m đến Ngài qua h́nh ảnh nào đă ghi đậm trong ḷng các dân tộc Á
châu; đây mới là điều có ư nghĩa, chứ không phải h́nh ảnh trung thực rút ra từ
sự kiện lịch sử của một hoàng tử trong ḍng họ Thích Ca. Cũng vậy Chúa Jesus
phải là Chúa Cứu Thế, phải là h́nh ảnh được tôn thờ bởi Giáo hội, và bởi tất cả
tín đồ Công giáo trên thế giới. Ngài là người Do thái nhưng không phải là người
Do thái. Đó là một nghịch lư. Nhưng nghịch lư lại vốn là thể tánh của đời sống.
chúng ta thấy ngay ư nghĩa nghịch lư trong những nhận định của Jaspers về đức
Phật: "Một h́nh ảnh trọn vẹn về Phật chỉ có thế căn cứ trên một xúc cảm sâu
xa phát xuất từ tất cả những đoạn văn nào vốn có thể gán cho Phật một cách xác
tín (dù là không bao giờ xác thực).[23]
Bởi v́, những điều nói về Phật trong các kinh điển chỉ là những xác tín của các
thế hệ theo sau, chứ không là xác thực đối với tính cách lịch sử của Ngài. Trong
các kinh điển, Phật có thể là một nhân vật lịch sử, cũng có thể là một nhân cách
siêu việt. Cả hai cùng xuất hiện trước chúng ta một cách trái ngược. Nhưng cả
hai cùng lúc đă là nguồn suối cảm xúc về đời sống, và ư nghĩa của con người, th́
ở đây và bây giờ, chúng ta cũng gợi lên nguồn cảm xúc ấy trong chính ḿnh. Cuộc
đời đó chỉ một lầm xuất hiện, rồi biến mất, như sương mai, như bọt nước, như dợn
nắng trên đồng hoang; nhưng với những ai có cảm xúc trước cuộc đời đó, như đă
từng được cảm xúc trong nhiều thế kỷ qua, th́ nhân cách của Phật vẫn c̣n sống
như ngày nào trên "Hội Linh sơn" công bố sứ mệnh tối thượng của những bậc Giác
ngộ xuất hiện giữa thế gian này.
Một triết gia lớn
không tồn tại riêng biệt giữa bốn vách tường hệ thống tư tưởng của ḿnh; ông
sống trong sự sống của nhân loại, sống trong khát vọng muôn thuở con người, sống
như từng sống và chưa từng chết. Bởi v́, hiện sinh là sự biểu lộ của thể tánh,
không có khoảng đầu và khoảng cuối. Sự biểu lộ của thể tánh là sự thành tựu của
thế giới, không quá khứ không vị lai. Sự thành tựu của thế giới là giới hạn cá
biệt của chúng ta. Jaspers nói: "T́m về nguồn mạch, chúng ta hăy để h́nh ảnh
tự hiện h́nh trong chúng ta."[24]
Nguồn mạch ở đây là nguồn hiện sinh và nguồn trí thức. nguồn hiện sinh, nhân
cách sống động, vượt lên thời gian lịch sử. Nguồn thí thức, những sự kiện xác
thực mà một sử gia nghệ thuật có thể khai quật trong nấm mồ thời gian và lịch sử.
T́m về nguồn mạch hiện sinh sẽ không có cuộc đời nào sống thực ở ngoài đời sống
của chính ta, do đó, mọi h́nh ảnh phải tuôn trào từ thể tánh của chính ta. Với
nguồn trí thức, một sử gia nghệ thuật không cần thiết phải là nghệ sĩ.
Căn cứ trên một phương pháp như vừa được mô tả, chúng ta
có thể hiểu tại sao Jaspers chỉ lựa chọn có bốn h́nh ảnh triết gia mô phạm của
nhân loại, mà không có vị thứ năm. Họ không phải triết gia thực thụ, v́ đă không
thiết lập một hệ thống tư tưởng. Họ là hiện thân của sự sống, vượt lên thời gian
và lịch sử. Trong số đó, Tây phương chỉ có hai vị đáng là nguồn suối bất tận của
đời sống: Socrates và Chúa Jesus Đông phương cũng chỉ có hai: Phật Thích Ca và
Khổng Tử.
2- Đến Siêu h́nh học.
Trong trường hợp này, Siêu h́nh học không được coi như là
một công tŕnh hay một thành quả của trí năng, của duy lư. Siêu h́nh học đích
thực là "những cái nh́n về thế giới và siêu việt thể." Chính trong những
cái nh́n này, người ta thấy được cá tính của một triết gia.[25]
Khát vọng được bộc lộ trong triết lư là khát vọng tuyệt
đối. Nỗ lực suy tư của triết gia là mở rộng đời sống hiện sinh vào chiều
kích vũ trụ. Trong chiều kích này, ta và thế giới của ta là một toàn diện siêu
việt. Siêu h́nh học khám phá những con đường tốt đẹp nhất dẫn ta đến chỗ giao
hội trực tiếp với tuyệt đối, v́ là chỗ giao hội trực tiếp trong thể tánh toàn
diện của nó. Hành vi giao hội này đ̣i hỏi chúng ta phải bẻ găy mọi giới hạn phân
ly. Khi mà thế giới vẫn c̣n hiển hiện như một toàn thể ngoài ta, bằng một khoảng
cách, mọi giao hội sẽ chỉ xảy ra ngoài môi trường hiện sinh đích thực. Hành vi
giao hội trong chiều hướng siêu việt là đời sống hiện sinh trong thế giới siêu
nghiệm. Nhưng đó lại là một dấu hiệu thất bại toàn diện của con người.
Dù sao, triết lư vẫn được coi như là vận hành nghịch lư
của sự sống. Trên b́nh diện kinh nghiệm thông tục, mỗi đời sống là một thực tại
khách quan, có thể làm đối tượng cho trí thức khoa học. Đó là b́nh diện mà triết
lư có thể vận dụng khả năng suy lư đến mức tối đa. Đằng khác, trên b́nh diện
siêu việt, đời sống bám sâu gốc rễ vào trong ḷng đất tuyệt đối. Nó không là đối
tượng cho bất cứ loại trí thức nào.
Đời sống của một triết gia lớn cũng là ư nghĩa vận hành
nghịch lư đó. V́ vậy, tiên khởi, chúng ta có hai con đường tiếp xúc với triết
gia. Nghĩa là có hai b́nh diện của triết lư, hai con đường của Siêu h́nh học, do
đó, có hai h́nh ảnh trái ngược nhau ngay trong một triết gia.
Con đường thứ nhất của siêu h́nh học là quá
tŕnh duy lư của trí năng. Nó muốn đạt đến một trí thức khách quan, một cái nh́n
chung mà ai cũng phải chấp nhận. Jaspers nói: "Những
nhà siêu h́nh học không cố ư khoa trương một thứ kiến thức không thể chối căi,
một cách khoa học; họ cũng không phải là những kẻ cung cấp lạc thú trí năng có
tính cách mỹ cảm"[26].
Do đó, con đường khác của Siêu h́nh học là con
đường Hiện sinh.
Tiến đến gần một triết gia lớn, chúng ta phải
cùng lúc tiến bằng hai ngă đường của Siêu h́nh học. Những ǵ mà một triết gia
lớn phát biểu, chúng ta không khước từ trí năng để chấp nhận. Trí năng có nhiệm
vụ kiến thiết ngay trong chúng ta cái hệ thống để hội diện với triết gia trong
nguồn mạch hiện sinh đích thực. Đây là hành vi hội diện chứ không c̣n là đối
diện nữa.
Hội diện trong lănh vực Siêu h́nh học cũng là một cách nói
khác về sự hiện diện của thể tánh trong tính cách toàn diện của nó, bao hàm cả
ta và thế giới của ta, không có một giới hạn phân ly. Chúng ta sẽ được hướng dẫn
bởi ánh sáng của siêu việt thể. Dưới ánh sáng này, chúng ta sẽ nh́n thấy những
khát vọng nhiệt thành nhất của ḿnh, qua phong thái tư duy của một trết gia.
Như vậy, Siêu h́nh học không phải là lănh vực riêng biệt
của Đông hay Tây. Trong số các triết gia được Jaspers mệnh danh là những nhà
Siêu h́nh học, ở Tây phương được trưng bởi hai vị: Plotinus và Spinoza, v́ họ
độc lập và tự do, ở ngoài nguồn mạch tôn giáo. Ở Đông phương, Jaspers cũng chỉ
đề cập hai: một Lăo Tử của Trung hoa, và một Long Thọ của Ấn độ.
Trên căn bản học thuật của triết lư, Lăo tử và Long thọ đă
là hai triết gia lớn của Đông phương, và cũng chính từ hai vị này mà một quang
cảnh mới diễn ra trong những đối diện trực tiếp của Đông và Tây ngay giữa ḷng
của thể tánh hiện hữu. Hiểu được họ là t́m ra đầu mối để đi vào ḷng sống của
Đông phương. Nếu không hiểu Lăo Tử, người ta không thể hiểu được Khổng Tử. Cũng
vậy, không hiểu Long Thọ tức là không hiểu Phật. Tuy nhiên, sự hiểu biết ấy chỉ
có thể có trên lănh vực Siêu h́nh học của trí thức triết học. C̣n giữa ḷng sống
động của hiện hữu, có lẽ mỗi người vẫn là một hạt cát trong đại dương thế giới.
Đông phương đă nỗ lực không ngừng để mở rộng hạt cát đó vào chiều kích bao la vô
tận của vũ trụ. Tây phương muốn thực hiện những cuộc hội diện, hay những cuộc
đối thoại, với Đông phương, cũng không thể quên được tính cách này.
Khi kết luận về Phật, Jaspers viết: "Nơi Phật giáo,
tuôn chảy một nguồn mạch mà những người Tây phương chúng ta chưa từng lội tới,
và do đó, có một giới hạn trong sự hiểu biết của chúng ta."[27]
Tiếp đó, Jaspers lại viết: "Nơi Phật và Phật giáo,
người ta t́m thấy một lề lối hóa giải bao la và đặt nó thành thực tiễn. Nhiệm vụ
của chúng ta là phải tự ḿnh làm quen với nó để có thể hiểu nó tùy theo khả năng."[28]
Nhưng kết luận của Jaspers không chỉ tố cáo sự thất bại
của Tây phương trước một cuộc hội diện, hay một cuộc đối thoại nào đó trong thế
giới Đông phương, mà ngay trên ư nghĩa hiện sinh đích thực, chúng cũng tố cáo
luôn sự thất bại của con người trước siêu việt thể. Chúng ta có thể nói, trong
thế giới Tây phương, hoặc Thượng đế – Siêu Việt Thể chết để cho loài người tự
đứng lên bằng đôi chân của chính nó; hoặc nó phải cúi ḿnh khuất phục trước hiện
diện tuyệt đối vô nhị của Thượng đế. Nhưng ở Đông phương, chính ta là Thượng đế,
Tat Twam Asi: Mây Là Cái Đó.
Như vậy, một thế giới vừa được mở rộng ra để có cơ tổ chức
những cuộc đối thoại lư thú giữa Đông và Tây, th́ cũng chính thế giới đó đă khép
chặt giới hạn trí năng của con người lại. Tất cả những nỗ lực của Tây phương bị
tan biến thành lớp sương mù bao phủ cả một thế giới trùng trùng vô tận trong tâm
trí Đông phương. Nơi đây, chúng ta cũng thể gợi lại cái cảm khái ngậm ngùi của
Th. Stcherbastky, một học giả Phật giáo người Nga, và có thể lấy đó làm kết
luận cho tất cả công tŕnh của Tây phương khi họ muốn thành thật hiểu biết Đông
phương. Ông viết:
"Mặc dù một thế kỷ đă trôi qua kể từ khi sự khảo cứu có
tính cách khoa học về Phật học đă được khởi sự ở Âu châu, đến nay chúng ta vẫn
c̣n mù mịt về những giáo thuyết căn bản của tôn giáo này, và nền triết học của
nó."[29]
TRÊN CON
ĐƯỜNG TRẦM LẶNG CỦA ĐÔNG PHƯƠNG
Bây giờ chúng
ta có thể gác lại mọi công tŕnh khảo cứu trên phương diện học thuật để đối mặt
với Đông phương trong bản chất trầm mặc xa xôi của nó. Giống như khi chúng ta
đứng trước những bức tranh thủy mặc của Trung hoa, mà chân diện mục của thế giới
hiện sau lớp khói sương mù mịt; hay như khi đứng trước những bích họa trên các
dải đất nối liền Hoa-Aán, mà sự sống trôi qua dưới lớp bụi mờ của mưa sa nắng
táp.
Đó là h́nh ảnh
trung thực nhất của nhiều thế hệ tiếp nối nhau trên con đường trầm lặng của Đông
phương. Và đó cũng là những cuộc đối thoại âm thầm giữa hai nền văn minh Hoa-Aán
vĩ đại của Đông phương, trên những lớp rêu phong xám xịt. Bởi v́, nơi đây ư
nghĩa biến dịch của thời gian là ḍng suối dẫn ngược về đến tận cùng ngọn nguồn
của sự sống. trên ḍng suối đó, những giọt nắng chiều cô đọng thiên thu thành
khoảnh khắc và trải rộng khoảnh khắc thành thiên thu. Trong cái hương vị cô liêu
mặn mà của một hạt cát giữa ḷng biển, thế giới bao la như đại dương không giới
hạn đột nhiên được ôm trọn trong ḷng hạt cát. Dĩ nhiên, điều này không c̣n là
mô tả của tư tưởng hay triết lư nữa. Nó là khía cạnh trầm mặc của tư tưởng, và
là phong thái sống động của văn học nghệ thuật.
Đông phương là
một thế giới trầm mặc xa xôi, mà nghệ thuật lại là con đường của cái trầm mặc đó.
Nghệ thuật không đẩy con người ra khỏi môi trường xáo động của lịch sử, nhưng
cũng không làm tê liệt những khát vọng tuyệt đối của con người. Trong nghệ thuật,
con người đă lấy ngay chất kiệu đau khổ của thế gian dựng thành ư nghĩa cứu cánh
của đời sống. chỉ trên ư nghĩa này, chúng ta mới hy vọng lột trần tính cách trá
ngụy trong những chiêu bài đối thoại Đông Tây. Bởi v́, qua con đường trầm lặng
của nghệ thuật, chúng ta mới có thể xúc cảm sâu xa trước những ǵ mà tư tưởng và
triết học không bao giờ nói được.
Vậy, chúng ta
cần phải đặt lại nền tảng của đối chiếu học. Nó sẽ mở ra một đường lối để Đông
Tây có thể thấu hiểu lẫn nhau một cách thành thật hơn bất cứ lănh vực nào.
Coomaraswamy, trong một tác phẩm đối chiếu nghệ thuật Đông Tây[30],
đă có lư khi kỳ vọng rằng sự hiểu biết thành khẩn giữa Đông và Tây qua con đường
nghệ thuật sẽ mang lại ḥa b́nh và hạnh phúc của thế giới.
Ngày nay, nếu
muốn có những cảm xúc chân thành trước những ước mơ, và những phấn đấu gian khổ,
của tổ tiên chúng ta, chỉ có một con đường trầm lặng của nghệ thuật. Trên con
đường đó, h́nh ảnh đầu tiên mà chúng ta bắt gặp, là những phấn đấu đối với thời
gian, được bộc lộ trong những thăng trầm của lịch sử. Thời gian là một hung thần
tàn bạo, bắt con người phải khuất phục và đau khổ; nhưng cũng chính thời gian đă
dệt thành những ước mơ vĩnh cửu của con người. Những ước mơ đó được tiếp nối bày
tỏ trải qua nhiều thế hệ, bằng những phương tiện của nghệ thuất. Màu sắc trên
các bích họa của nghệ thuật Ấn độ là dấu hiệu của những cuộc phấn đấu của con
người trong sự tàn phá của thời gian. Trong Mật tông Phật giáo, màu sắc lại c̣n
biểu trưng cho lư tưởng hành động của con người hữu hạn trong một thế giới vô
hạn, siêu việt không gian và thời gian.
Dưới tác động
của thời gian, đời sống là một cái ǵ đó rất mong manh, và hạnh phúc là một thứ
chất lỏng không thể nắm bắt được. Chất lỏng đó là máu của một con rồng hung dữ,
đă bị thần sấm Indra dùng lưỡi tầm sét đánh tan từng mảnh. Máu nó chảy vào thế
gian, thành chất lỏng hạnh phúc, thành những con rắn cám dỗ. Loài người săn đuổi
hạnh phúc như một kẻ bắt rắn bằng hai tay không. Nhưng chân lư tối hậu cũng
không ǵ khác hơn là con rắn độc đó. Đạt đến chân lư là đạt được hạnh phúc vĩnh
cửu, là bằng hai bàn tay không mà nắm được con rắn, và kể từ đó, con rắn trở
thành chất lỏng mật ngọt của hạnh phúc tuyệt vời. Đức phật, sau khi đă Giác ngộ,
Ngài ngồi thiền định giữa một cơn mưa lớn, và rắn thần Mucalinda đem chín cái
đầu của nó phủ lên đức Phật để che mưa cho Ngài.
Trong một tác
phẩm của Thiền tông Việt nam, được viết dưới triều nhà Lê, có kể một huyền thoại
rằng, Pháp Loa tôn giả, một đệ tử tâm đắc của Điều ngự Giác Hoàng, tức vua Trần
Nhân Tôn, một hôm nọ khát quá, chạy khắp đồng hoang mà không t́m ra giọt nước.
Ngài thọc tay vào hang, nắm được đầu một con rắn, và bỏ luôn vào miệng nuốt.
Nhưng khi vừa chui qua khỏi cổ, rắn trở thành nước. Nước đầy bụng, rồi nước lại
nhiều nữa cho đến khi trở thành một đại dương: bấy giờ tôn giả Pháp Loa trở
thành một cánh bèo lênh đênh trên biểàn ca. Khắc phục được cám dỗ là nắm được
đầu con rắn để nếm cái hương vị mật ngọt của hạnh phúc.
Dù Ấn độ hay
dù Trung hoa, hạnh phúc luôn luôn vẫn là một thứ chất lỏng. Chất lỏng đó chảy
xuôi thành một ḍng sông biến động của thời gian. Chỉ trong những phút trầm mặc
chúng ta mới có thể trầm ḿnh vào suối để thưởng thức hương vị hiu hắt của hạnh
phúc. Thế giới trong cảm xúc nghệ thuật cũng là những giọt nắng chiều cô đọng
trên ḍng suối. Càng cảm xúc sâu xa trước những vô thường biến dịch, con người
càng cảm thấy bước tới gần một thế giới huy hoàng bát ngát. Đời sống của Đông
phương đă đ̣i hỏi con người phải trở nên trầm lặng như ở giữa ḷng biển sâu, để
cho tất cả giác quan của nó được bén nhạy, bắt kịp những biến dịch ào ạt như
thác đổ của vũ trụ. Yoga, Thiền định, hay những phép tĩnh tọa khác của Đông
phương, có mục đích đ́nh chỉ mọi gợn sóng tạp nhạp trên mặt sinh hoạt ư thức, để
tâm của ta là một đại dương b́nh lặng. Đó là giây phút mà một nhà phê b́nh văn
học Trung hoa ở thế kỷ VI nói rằng: tịch nhiên ngưng lự, tứ tiếp thiên tải,
tiêủ yêu động dung thị thông vạn lư. Tức là, trong giây phút trầm mặc sâu xa
đó, xúc cảm trở thành bén nhạy và bao la, nó trực nhac thiên thu trong khoảnh
khắc và khoảnh khắc trong thiên thu. Cũng trong giây phút đó, một khi xúc cảm
được bộc lộ trong cái nh́n, cái nghe, th́ cả một thế giới rộng lớn không cùng
tận hiện h́nh ngay trong đôi mắt và hai tai. Qua xúc cảm ấy, tâm hồn của con
người được mở rộng để đón tiếp mọi người mọi vật ngay giữa ḷng sống động của
hiện hữu. Người ta nói tâm hồn Đông phương là một tâm hồn trầm mặc và bao dung,
chính là ở chỗ đó.
Tây phương rất
kỳ vọng vào tinh thần của Đông phương mà ta có thể diễn tả qua phong thái của
sinh hoạt nghệ thuật như vừa kể. Nó là một căn bản mà tất cả những người đối
thoại có thể hiểu nhau một cách trực tiếp qua con đường trầm lặng. Người ta có
một sáo ngữ về Đông phương, theo đó, Một là Tất cả và Tất cà là Một. Sáo ngữ đó
muốn dành cho Đông phương cái thế mạnh của con người không nói, giữa những kẻ
nói nhiều trong mọi cuộc đối thoại. Mạnh hay yếu, chưa phải là vấn đề quan trọng
nhưng có điều chắc chắn là xưa nay, với gia tài văn hóa đồ sộ, Đông phương chưa
hề có thái độ trịch thượng trong bất cứ cuộc đối thoại nào. Đây mới là điều có ư
nghĩa.
TRƯỚC MỘT
GIA T |