|
TỪ THIỀN ĐẾN HOA NGHIÊM
Suzuki
Tuệ Sỹ (dịch và bình chú)
1
KHỞI THUỶ, Thiền đã không kết chặt
với Hoa nghiêm (Gaṇḍavyūha-sūtra) như
Lăng già (Laṅkāvatāra) hoặc Kim cang (Vajracchedikā).
Bồ-đề-đạt-ma trao truyền Lăng-già cho người đệ tử Trung Hoa tâm tuỷ của
ngài là Huệ Khả
慧可, coi như kinh này chứa đựng một nền giáo pháp
quan hệ mật thiết với Thiền, và sau Hụê Khả kinh đã là tinh túy học tập
của các môn đệ Thiền. Họ biết đến kinh Kim cang vào thời Hoằng
Nhẫn弘忍
và Huệ Năng耐慧能,
khoảng một năm rưỡi năm sau Bồ-đề-đạt-ma. Nhưng Thần Hội
神會, vốn là một trong những đệ tử chân truyền của
Huệ Năng, đi xa hơn nữa, khi tuyên bố rằng chính vị Sơ Tổ của Thiền đã
trao tay Kim cang cho Huệ Khả
. Dù quan điểm này có thể không đúng theo lịch sử, chúng ta vẫn có thể
khẳng định rằng kinh Kim cang đã có ảnh hưởng lớn lao trên việc
học Thiền vào thời bấy giờ, khoảng cuối thế kỷ VII. Mối liên hệ giữa
kinh Hoa nghiêm và Thiền chưa bắt đầu trước thời Trừng Quán
澄觀(738-839), Tứ tổ Hoa nghiêm tông của Phật giáo
Trung Hoa, học Thiền với Vô Danh無名,
một đệ tử của Thần Hội. Trừng Quán là một triết gia lớn và đã cố công
kết nạp Thiền vào thể hệ của riêng mình. Sau sư, có Khuê Phong Tông Mật
圭峰宗密 (780-842), cũng từng học Thiền và cho ra một
bản đại sớ về kinh Viên giác圓覺經
mà sư giải thích theo triết lý của tông phái mình. Sư cũng viết một tác
phẩm về các đường lối lãnh hội Thiền khác nhau; không may, sách đã bị
thất lạc, chỉ trừ phần tựa.
Đại ý là nêu những điểm cốt yếu của Thiền và tách biệt chúng khỏi những
ngộ nhận không chỉ đã từng xảy ra đối với bản thân của Thiền mà còn đối
với sự quan hệ của nó trong triết lý của đạo Phật. Như thế, do Tông Mật,
Thiền mới có liên lạc với những kinh điển khác ngoài Lăng già và
Kim cang, và nhất là Hoa nghiêm.
Trong khi các luận sư của Hoa
nghiêm tông vận dụng những lối trực chỉ của Thiền theo cách riêng của
họ, các Thiền sư được lôi cuốn đến nền triết học tương tức tương nhập
do Hoa nghiêm chủ xướng, và họ cố gắng đưa nó vào trong những bài pháp
của mình. Chẳng hạn, Thạch Đầu (699-790) trong Tham đồng khế,
miêu tả tích cách tương giao của Sáng và Tối
như là hạn chế lẫn nhau và đồng thời dung hợp lẫn nhau. Động Sơn
(806-859), trong một đoản văn theo thể kệ, gọi là Bảo kinh tam muội
ca,
giảng giải về tích cách tương giao của
thiên
偏 (lệch) và chính
正 (ngay), phần lớn có
công dụng như của Thạch Đầu, vì cả Thạch Đầu và Động Sơn đều thuộc về
lưu phái Thanh Nguyên Hành Tư
青原行思 (tịch 740) được gọi là phái Thiền Tào động
曹洞宗
. Ý tưởng này, về Tương tức và Hồi hỗ,
chắc chắn phát xuất từ triết lý Hoa nghiêm do Pháp Tạng
法藏
(Tl. 634-712) tập đại thành. Bởi vì Thạch Đầu và Động Sơn đều là Thiền
sư, nên lối trình bày của họ hoàn toàn không như của một nhà huyền học.
Có thể “bốn liệu giản ”
của Lâm Tế cũng xuất phát từ giáo học của Pháp Tạng.
Ảnh hưởng của Hoa nghiêm tông nơi
các Thiền sư càng lúc càng tăng gia theo với thời gian, và đạt đến cao
độ của nó ở thế kỷ X kể từ Tông Mật, tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông
Trung Hoa. Chính Pháp Nhãn Văn Ích
法眼文益 (885-958) người sáng lập nghành Thiền Pháp
nhãn, đã kết nạp triết lý Hoa nghiêm vào trong pháp môn Thiền học của
mình, mặc dầu sư không phải là người trong Hoa nghiêm tông, nhưng đã hẵn
là có ấn tượng sâu đậm về các tác phẩm của Đỗ Thuận
杜順 (tịch Tl. 640) và Pháp Tạng (tịch 712), và
những triết gia Hoa nghiêm khác; vì sự thực hiển nhiên là sư đã dạy các
môn đệ mình nghiên cứu các sáng tác của họ coi như một trợ duyên để
thành tựu Thiền. Sư cũng viết một bản bình giải về Tham đồng khế
của Thạch Đầu, mà, như tôi đã nói ở trên, vốn căn cứ trên siêu hình học
của Hoa nghiêm.
Trào lưu này, trào lưu kết hợp
Thiền với triết học của Hoa nghiêm kinh (Avataṃsaka) hay của
Pháp hoa kinh (Saddharma-puṇḍarika) lên đến tột đỉnh khi Vĩnh Minh
Diên Thọ
永明延壽 (904-975) viết trường thiên Tông kính lục,
gồm một trăm quyển. Trong tác phẩm này, sư có ý dung hợp tất cả những dị
biệt của tư tưởng Phật học vào học thuyết duy tâm – “Tâm” theo nghĩa là
một thực tại cứu cánh tự giác sát, chứ không phải là sở cứ của tâm thức
thường nghiệm chúng ta. Đừng nên nhầm lẫn học thuyết duy tâm này với
triết học duy thức (vijñānamātra) của phái Du-già hành (Yogācāra), vì
Diên Thọ theo dòng tư tưởng xuyên qua Lăng già (Laṅkāvatāra),
Hoa nghiêm (Avataṃsaka) và Khởi tín luận (Śraddhotpāda), vân
vân.
2
Nói cho chí lý, Thiền có lãnh vực
riêng của nó, ở đó phát huy tất cả diệu dụng của mình. Ngay khi vi hành
ngoài lãnh vực này, nó đánh mất sắc thái bản hữu của mình và đến mức nào
đó thì mất luôn cả bản tính. Khi có ý định tự xiển dương bằng một hệ
thống triết lý, nó hết còn là Thiền thuần túy và đơn giản; và xen lẫn
vào những cái không liên hệ thiết tha. Dù có giải thích hợp lý, Thiền
cũng bị giả trang. Vì lý do đó, các bậc thầy của nó đã cố thủ để khỏi bị
chen chân với bất cứ tông phái siêu hình nào, dù Phật hay Lão hay Khổng.
Ngay cả khi Bồ-đề-đạt-ma trao tay Lăng-già cho Huệ Khả, mà Huệ
Khả và các môn độ của ngài đã không chịu viết gì hết về kinh này trong
bản chất của một luận giải. Mặc dù Huệ Năng hình như đã phô diễn kinh
Kim cang theo sở đắc, các miêu duệ của ngài lại hoàn toàn quên lãng
nó, và những pháp thoại hay những ngữ lục của họ diễn tiến trong một
chiều hướng khác hẳn. Dĩ nhiên, họ thường tham khảo tất cả các kinh
luận, tự do dẫn chứng các đoạn văn trong ấy, nhưng họ luôn luôn cẩn thận
để khỏi bị vướng mắc vào văn tự, khỏi bị sơn phết với những ý tưởng siêu
hình làm luận cứ cho những sáng tác này.
Các Thiền sư đã dẫn chứng kinh
Hoa nghiêm (Avataṃsaka) ngay cả trước Đỗ Thuận, bởi vì, theo Lăng
già sư tư ký,
Huệ Khả nhắc nhở rất nhiều về kinh này hậu
thuẫn cho sở kiến, theo đó, cái Một luân lưu toàn vẹn trong thế giới đa
thù; còn Đạo Tín
道信, đồng thời với Đỗ Thuận, cũng dẫn chứng một
đoạn trong kinh này nói rằng một hạt bụi bao trùm trong nó vô số thế
giới. Là những Thiền sư, họ không có ý hệ thống hoá những trực giác về
Thiền của mình; họ bằng lòng dẫn chứng những đoạn văn nào đồng điệu với
những ý tưởng của mình. Vì vậy, những dẫn chứng của họ không giới hạn
vào kinh Hoa nghiêm; họ tìm thấy đâu những câu dùng được thì dùng
liền; chẳng hạn, từ kinh Pháp hoa (Saddharma-puṇḍarika), Duy
ma cật (Vimalakīrti), kinh Kim cang (Vajracchedikā), Lăng
già (Lankāvatāra), Bát-nhã, Pháp cú (Dharmapada), vân vân.
Nhưng trong trường hợp Hoa nghiêm, sự trích dẫn có tính cách cục
bộ và chuyên biệt hơn nhiều, nó được đặt trong toàn thể tư tưởng cốt yếu
của kinh này. Từ chỗ đó, hình như các Thiền sư ngay từ đầu đã coi đây là
một kinh văn hậu thuẫn những chứng nghiệm của họ ngang tầm Lăng già
và Kim cang. Nhưng vì lập trường của họ là nặng về tâm mà nhẹ
hẳn về văn tự, nên họ không tiến xa đến chỗ thiết định một nền triết lý
truyền theo Hoa nghiêm. Luôn luôn họ cố thủ trên những sự thật
chứ không ở trên những ý tưởng. Bởi vì họ nói, dẫn kinh Hoa nghiêm,
rằng:
“Như một người nghèo ngày đêm đếm
những kho tàng không thuộc về mình, trong lúc y không có lấy một quan
tiền làm của. Học nhiều thì cũng vậy. Lại nữa, nhất thời các người có
thể đọc sách, nhưng hãy cẩn thận để sang một bên ngay khi có thể. Nếu
các người không rời bỏ sách, sẽ trở thành thói quen chỉ luyện tập văn
tự. Cái đó y như tìm băng giá bằng cách hâm nóng dòng nước chảy, hay như
tìm tuyết bằng cách đun sôi nước nóng. Vì vậy, có lúc chư Phật nói rằng
(đạo lý tối thượng) khả thuyết, có lúc nói rằng là bất khả thuyết. Sự
thật thì không có gì khả thuyết, hay bất khả thuyết nơi Pháp tánh (thật
tướng), vốn là cảnh giới của các pháp hiện tiền. Khi một cái này mà nắm
được trọn vẹn, thì muôn nghìn cái khác cũng theo luôn. Cũng vậy, kinh
Pháp hoa nói rằng Thực tại chẳng phải thực hay phi thực, chẳng phải
Như hay không Như.”
3
Kinh điển, nhất là kinh điển Đại
thừa, là những phát biểu trực tiếp của các kinh nghiệm tâm linh; chúng
chứa đựng những trực giác đạt được do đào sâu vào hố thẳm Vô thức; và
không có ý định trình bày những trực giác này qua trung gian của trí
năng. Nếu chúng không có vẻ hoàn toàn duy lý hay thuyết minh hợp lý, đây
chỉ là ngẫu nhiên. Hết thảy kinh điển cốt cho ra những trực giác sâu xa
cuả Phật trí như đã từng bộc lộ cho các môn đệ Đại thừa ở Ấn trong thời
sơ khai. Vì vậy, khi kinh nói hết thảy các pháp là Không, vô sinh, siêu
việt nhân quả, lời nói ấy không phải hậu quả của lý luận siêu hình; nó
là một kinh nghiệm Phật trí sâu xa nhất. Chính vì thế mà rất nhiều học
giả và triết gia của đạo Phật, tích cực để lãnh hội hay quảng diễn những
trực giác này theo các luật tắc của luận lý, đã thất bại trong những nổ
lực của họ. Trong kinh nghiệm Phật giáo, có thể nói họ là cái kẻ ngoại
cuộc, và do đó, nhất định phải lạc hướng.
Những trực giác của kinh điển và
của Thiền sư cũng như nhau cả, nếu tất cả còn tính cách Phật. Thảng hoặc
có khác nhau trong lối phô diễn, đấy là do tâm lý của các thiên tài Hoa
và Ấn. Nếu Thiền vẫn là một hình thức đạo Phật Ấn-độ du nhập Trung Hoa,
những kinh nghiệm của nó tự căn bản thảy đều là của đạo Phật như nhau.
Nhưng tích cách dị biệt tâm lý của dân tộc được thấy rõ, một khi những
kinh nghiệm ấy bắt đầu có vị trí trong mối hòa điệu với những điều kiện
mới mẻ chi phối chúng để hầu phát triển. Quá trình dị biệt hoá này có
thể thấy rõ trong những bài pháp của các Thiền sư, khi họ, một lần nữa,
được tách khỏi ảnh hưởng trực tiếp của vị thầy đầu tiên từ Ấn-độ. Khi
Thiền năm bắt tâm tính Trung Hoa, những diễn đạt của nó trở thành Trung
Hoa một cách đặc trưng, và rồi có người bắt đầu nghi ngờ tính cách nhất
trí thiết yếu của chúng với nguyên khởi. Lúc mà sự phân hoá đã tiến xa
đến độ chừng như nó phản đối chính nó, các sư tổ gấp rút bù đắp chỗ tổn
thương và tái hợp nó với cội nguồn của chính nó. Đây quả thực là ý nghĩa
của trào lưu khởi sắc ở thế kỷ XVIII và XIX, điển hình với Tông Mật hay
Pháp Nhãn.
Xin đề cử những điển hình về sự
biến chuyển lần hồi diễn ra trong lối biểu hiện của trực giác Thiền suốt
năm trăm năm sau khi Bồ-đề-đạt-ma dẫn Thiền vào Trung Quốc. Ngài là một
nhà sư từ Ấn đến, có lẽ mất vào khoảng 528 sau TL. Dưới đây là những
trang dẫn chứng từ các bài pháp của các Thiền sư thuộc nhiều chi phái
khác nhau phát khởi trong suốt thời gian này. Trong những bài pháp ấy,
chúng ta lưu ý sự biến thiên từ khuôn mẫu thuyết giảng của kinh đến
khuôn mẫu của Thiền tông Trung Hoa.
4
Chúng ta hãy bắt đầu với
Bồ-đề-đạt-ma, Sơ Tổ của Thiền tông Trung quốc, nói về Vô tâm
:
“Lý rốt ráo vốn không lời, nhưng
mượn lời để diễn Lý. Đạo cả vốn không hình tướng, nhưng để tiếp xúc với
phàm ngu mà hiển hiện thành hình. Bây giờ, giả sử có hai người đang bàn
bạc về vô tâm. Đồ đệ hỏi thầy:
“Đ. (Lý rốt ráo là) hữu tâm
hay vô tâm?
“T. Vô tâm.
“Đ. Nếu là vô tâm, ai đang
thấy, nghe, hay, biết?
Cái người nhận biết rằng vô tâm ấy là ai?
“T. Chính do vô tâm mà có
thấy, nghe, hay, biết. Chính do vô tâm mà biết là vô tâm.
“Đ. Đã là vô tâm, là sao lại
có thể thấy, nghe, hay, biết? Vô tâm tất nhiên không thể có sự thấy,
nghe, hay biết.
“T. Dù rằng ta vô tâm nhưng
ta vẫn có thể thấy, nghe, hay, biết.
“Đ. Nếu có thể thấy, nghe,
hay, biết thì không thể là vô tâm, mà phải là một loại hữu tâm.
“T. Thấy, nghe, hay, biết,
hết thảy chính là những hoạt dụng của vô tâm. Ngoài thấy, nghe, hay,
biết, không có vô tâm. Ta e rằng con không lãnh hội điều đó, nên ta sẽ
tìm cách giảng giải vấn đề từng bước một để khiến con nhìn thẳng vào
chân lý. Thí dụ, khi đang thấy, tất nhiên có cái đang thấy, như thế là
vì có cái không thấy; cái đang thấy như thế chính là vô tâm. Khi đang
nghe, tất nhiên có cái đang nghe, như thế là vì có cái không nghe: nghe
chính là vô tâm. Khi đang nhớ nghĩ; nhớ nghĩ chính là vô tâm. Khi đang
biết, tất nhiên có cái đang biết, như thế là vì có cái không biết; không
biết chính là vô tâm. Khi đang làm, tất nhiên có cái đang làm, như thế
là vì có cái không làm; đang làm chính là vô tâm. Vì vậy, ta nói rằng
thấy, nghe, hay, biết, hết thảy đều là vô tâm?
“Đ. Làm sao biết rằng cái ấy
thuộc vô tâm?
“T. Con cứ xét kỹ vấn đề
thêm, rồi nói cho ta rõ tâm có hình tướng khả tri nào không. Nếu có, như
thế sẽ không phải là tâm chân thật. Phải nhìn nó có ở trong, ở ngoài hay
ở giữa. Tâm không thể được tìm thấy ở đâu trong ba chỗ ấy. Cũng không
thể được trực nhận bất cứ ở những nơi nào khác. Vì vậy, gọi là vô tâm.
“Đ. Bạch thầy, nếu chính ở
khắp mọi nơi thảy đều là vô tâm, vậy lẽ ra không có tội hay phước; vậy
tại sao chúng sinh trôi lăn trong sáu nẻo và sống chết xoay vần không
dứt?
“T. Đây là do chúng sinh
điên đảo trong tâm mà chấp ý tưởng mê hoặc về một thực tại (cá biệt) nơi
vô tâm, và, rồi tạo tác mọi hành vi, chấp trước mê lầm quan niệm cho
rằng quả thực có một cái tâm hữu tâm. Vì lý do đó, chúng trôi lăn trong
sáu nẻo và sống chết không dứt.
“Như một người trong đêm tối thấy
một gốc cây trụi
hay một sợi giây mà tưởng là bóng ma hay con rắn, rồi sợ hãi. Cũng vậy,
chúng sinh chấp trước mê hoặc cũng vậy. Ở nơi vô tâm, lmê lầm chấp là
hữu tâm, rồi gây nên các nghiệp, khiến phải luân hồi trong sáu nẻo.
Những hạng chúng sinh như thế nếu gặp được bậc đại thiện tri thức dạy
cho tọa thiền để giác ngộ vô tâm, thì hết thảy nghiệp chướng đều bị tiêu
trừ và chuỗi dây sinh tử bị cắt đứt. Như ánh mặt trời một khi soi thấu
vào chỗ tối tăm xô đuổi tất cả những gì tối tăm, hết thảy tội lỗi của
chúng đều bị diệt trừ khi chúng tỏ ngộ được vô tâm.
“Đ. Đệ tử ngu muội, tâm chưa
hoàn toàn tỏ rõ trong tất cả mọi trường hợp tác dụng của sáu căn đáp ứng
(sự kích thích) ra sao.
“T. Mọi toan tính đều được
thực hiện bằng lời nói.
“Đ. Phiền não và Bồ-đề, sinh
tử và Niết-bàn, phải chăng hết thảy cũng là vô tâm?
“T. Quả vậy, hết thảy đều là
vô tâm. Chính vì chúng sinh chấp trước sai lầm ý tưởng về một tâm hữu
tâm nên có đủ tất cả phiền não và Bồ-đề, sinh tử và Niết-bàn. Nếu tỏ ngộ
vô tâm, thì hết thảy không có phiền não, không có sinh tử, không có
Niết-bàn. Bởi vậy, đối với người vọng chấp hữu tâm, Như lai nói có sinh
tử; đối đãi với phiền não mà tên gọi Bồ-đề; đối đãi với sinh tử mà có
tên gọi Niết-bàn. Tất cả những danh tự đó đều là pháp đối trị. Khi chứng
đắc vô tâm, không còn có phiền não hay Bồ-đề, sinh tử hay Niết-bàn.
“Đ. Nếu không có bồ-đề,
không có Niết-bàn, vậy nói thế nào về bồ-đề mà chư Phật trong quá khứ đã
chứng đắc?
“T. Cái đó chỉ nói theo văn
cú ước lệ. Đối với chân lý tuyệt đối, chẳng có cái gì như vậy. Do đó,
kinh Duy-ma-cật (Vimalakīrti) nói rằng Bồ-đề không thể được chứng
đắc bằng thân, cũng không thể được chứng đắc bằng tâm.
Lại nữa kinh Kim cang nói rằng không có bất cứ một pháp nào để có
thể chứng đắc. Chư Phật Như Lai duy chỉ bằng sự không chứng đắc mà chứng
đắc. Do đó, nên biết rằng khi có tâm thì tất cả đều có; khi không tâm
(vô tâm) thì tất cả đều không.
“Đ. Bạch Thầy, Thầy nói rằng
khắp tất cả mọi nơi thảy đều vô tâm. Mà gỗ đá cũng đều là vô tâm; vậy
phải chăng (hết thảy chúng sinh) cũng đồng như gỗ đá?
“T. Nhưng vô tâm được chứng
ngộ trong tâm thức ta không phải đồng với gỗ đá. Tại sao? Nó như cỗ
trống trời, tuy vô tâm, mà tự nhiên trỗi lên nhiều thứ âm thanh vi diệu
để giáo huấn hết thảy các loài. Lại cũng như hạt như ý bảo châu (maṇi),
tuy vô tâm mà tự nhiên biến hiện vô số hình sắc. Cũng vậy, vô tâm tác
dụng qua tâm thức của ta, khiến cho nó thấu rõ chân tính của thực tại;
nó có đủ cả trí tụê siêu việt chân thật, Ba Thân tự tại, ứng dụng thông
suốt.
Như kinh Bảo Tích (Ratnakūṭa) có nói rằng: “Bằng không tâm ý mà
hiện hành.”
Vậy sao lại có thể như gỗ đá? Vô tâm là chân tâm, Chân tâm là Vô tâm.
“Đ. Vậy phải tự tu tập như
thế nào với tâm (tương đối) của chúng ta đây?
“T. Chỉ cần tỏ ngộ vô tâm
trong tất cả các pháp, trong tất cả các hành vi. Đây là con đường tụ
tập, không có con đường nào khác. Như thế biết rằng khi tỏ ngộ vô tâm
thì các pháp không còn nhiễu loạn chúng ta nữa.
“Khi nghe điều này, đồ đệ tức thì
hốt nhiên đại ngộ và nhận ra rằng không có vật ở ngoài tâm, không có tâm
ở ngoài vật, đạt được tự do viên mãn trong tất cả cử chỉ và hành vi của
mình; hết thảy màng lưới nghi ngờ bị xé thành mảnh vụn và không thấy còn
có chướng ngại nào nữa.”
Đạo Tín
道信 (tịch 651) thường được coi là Tứ tổ của Phật
giáo Thiền tông Trung Hoa, nói bài pháp sau đây về: “Xả thân pháp”:
“Phương pháp xả bỏ sắc thân
trước trước hết do tư duy về tánh không, nhờ đó mà tâm thức trở thành
không. Hãy để cho tâm và cảnh nghỉ yên nơi trạng thái hoàn toàn tĩnh
lặng; hãy buộc tư tưởng trong các nhiệm mầu của tịch tĩnh,
để cho tâm không còn dông ruỗi từ vật này đến vật khác. Khi tâm được
bình lặng trong chỗ sâu xa nhất của nó, những vướng mắc của nó bị cắt
đứt hết. Sâu thẳm thay! Mịt mù thay! Trong thanh tịnh tuyệt đối của nó,
tâm chính là không. Nó tựa hồ dửng dưng thay! Như cái chết không còn có
hơi thở. Nó an trụ trong chỗ thanh tịnh rốt ráo của Pháp thân và không
còn lệ thuộc vào một đời sống tương lai nữa. Khi tâm thức bị khuấy động
và mê hoặc khởi lên trong nó thì không thể trốn khỏi thọ sinh một đời
sống khác. Vì vậy, trước hết hãy tự mình tu tập để chứng đắc trạng thái
hoàn toàn tịnh tĩnh trong tâm mình, và cả trong cảnh giới của nó. Đây là
con đường tu tập cần phải thực hiện.
“Thế nhưng, trong sự tu tập này,
quả thực không có gì để coi là một thành tựu quyết định, và sự không
thành tựu này là cái được thành tựu bởi sự tu tập đó;
bởi vì thực tại đạt được do vô tác, và vô tác chính là chân lý. Do đó,
kinh nói: ‘Không, vô tác, vô nguyện, vô tướng,
ấy là giải thoát chân thật!’ Vì lý do đó, thực tại là vô tác.
“Pháp xả thân là phải có một cái
thấy sâu xa soi vào bản chất giả tạm của nó khi tâm và cảnh trở thành
trong suốt và những công năng của nó bừng sáng.
“Thêm nữa, nói như Trang Tử ‘Trời
đất là một ngón tay, muôn vật là một con ngựa.’
[Nhưng điều đó không đúng]; kinh Pháp cú nói. ‘Đừng nghĩ cái một
là một. Vì để diệt trừ ý tưởng về đa thù nên cái một gọi là một, nhưng
cái đó chỉ cốt nói cho tâm trí nông cạn.’
[Vì lẽ đó,] chúng ta có thể nói rằng, Trang Tử không vượt ra ngoài cái
Một nổi.
“Lão tử nói: ‘Sâu thẳm thay! Mịt mù
thay! Trong đó có yếu tính!’
Với Lão Tử, bên ngoài tuy không còn tướng, nhưng bên trong vần còn tâm.
Kinh Hoa nghiêm nói: ‘Đừng chấp vào hai tướng, vì một cũng không,
hai cũng không!’
Kinh Duy ma cật nói: ‘Tâm
không ở trong, không ở ngoài, không ở giữa – đó là chứng ngộ.’
Vì lý do đó, chúng ta biết rằng Lão Tử vẫn còn bị ngưng trệ với một cái
tinh thức.”
Nơi khác, Đạo Tín giảng giải ý
nghĩa của tịch tĩnh tánh không như sau:
“Hãy nhìn lại sắc thân của mình xem
nó là cái gì. Nó là không, bất thực như một bóng mờ.
Nó được cảm nghiệm [như là có thật], nhưng không có gì ở đó để mà nắm
giữ. Trí Bát-nhã khởi lên ngay giữa những vật ủ bóng này, không có xứ sở
cho nó ngay nơi chỗ mà nó được cố định. Tự nó bất động, mà vẫn tương ứng
với vật, biến hóa không cùng.
“Từ giữa lòng tánh không trỗi dậy
sáu căn và sáu căn cũng là không tịch mà sáu trần cảnh được cảm thọ cũng
như mộng như huyễn. Như mắt thấy vật, mà trong mắt không có vật. Như tấm
gương soi mặt mũi, thấy rõ phân minh; nhưng trong cái không mà hiện hình
ảnh, chứ trong gương tự nó không có một vật gì. Mặt người không đi vào
bộ phận của tấm gương, tấm gương cũng không ra khỏi mình để đi vào mặt
người. Nếu nhận ra mặt gương và mặt người liên hệ nhau như thế nào.
Không đến, không đi, đó là nghĩa Như Lai.”
5
Ta có thể thấy ngay rằng
Bồ-đề-đạt-ma và Đạo Tín cùng nói về một chủ đề từ những góc cạnh khác
nhau của hiểu biết. Cái Vô tâm của Bồ-đề-đạt-ma là “Không”, “Tịch
tịnh”, “Hoảng hốt”, v.v..của Đạo Tín. Một người dùng những từ ngữ tâm lý
học, còn một người thì hướng tới triết học Bát-nhã. Trong khi bài giảng
của Bồ-đề-đạt-ma về Vô tâm có thể được coi như còn phù hợp với lề
lối tư tưởng Ấn-độ, thì Đạo Tín ít nhiều pha màu tư tưởng Đạo giáo. Tuy
nhiên, không có gì riêng biệt của Thiền hiển lộ ở họ. Chính ở Huệ Năng
và các môn đệ của ngài, Thiền mới bắt đầu rõ rệt là Trung Hoa, cả trong
diễn đạt cũng như giải thích.
Ý thức của Thiền, đặc sắc là sự
đốn ngộ của vô niệm, ló dạng trong tâm trí của Huệ Năng. Nếu
Bồ-đề-đạt-ma đã dùng chữ vô tâm để chỉ choo vô thức, thì Huệ Năng
đã thay thế tâm bằng niệm. Niệm thông thường có nghĩa là
“nhớ nghĩ”, “tưởng nhớ”, “suy tưởng về quá khứ”, vân vân, và được dùng
như là tương đương với smṛti của Phạn ngữ. Do đó, khi nó được sử
dụng liên hệ với vô như vô niệm, thì đây là asmṛti,
có nghĩa là “mất hết ý nghĩa” hay “quên lãng” và trong các bản Phạn văn
nó được dùng theo nghĩa này. Tuy nhiên, việc dùng chữ vô niệm
theo nghĩa “vô thức” và hàm súc một ý nghĩa tâm linh sâu sắc, theo xét
đoán của tôi, bắt đầu với Huệ Năng. Vô niệm ở đây không chỉ là
quên lãng không nhớ lại một việc làm; nó không chỉ là một từ ngữ tâm lý
học. Khi Hụê Năng lấy vô niệm làm sự kiện căn bản nhất của sinh
hoạt Thiền, nó phù hợp với ba môn Giải thoát: Không (śūnyatā),
vô tướng (animitta) và vô nguyện (apraṇihita); vì đối với môn
đệ Thiền, chứng vô niệm tức là chứng giải thoát. Và tự bản chất, đây là
từ ngữ Trung Hoa.
Một ý tưởng đặc sắc khác ở Hụê Năng
là đốn giáo, trực nhận về thực tại. Theo ngài, nét đặc sắc của
chứng nghiệm Thiền là đốn, vì đây là bản chất của chính tuệ giác
Bát-nhã. Tiệm giáo do đối thủ của ngài là Thần Tú chủ trương, không thể
ứng dụng cho trực quán vốn diễn ra trong tư duy của Thiền. Bát-nhã hoạt
dụng theo trực giác hiện tiền, và cái mà nó tiếp nhận được tiếp nhận tức
khắc, không có diễn trình của tư duy, giải kết hay liên tục. Như Hụê
Năng nói: “Trong giáo lý của ta không có phân biệt định và tuệ; định là
thể của tuệ và tuệ là dụng của định. Khi các người có tuệ; định ở trong
tuệ. Khi các người có định, tuệ ở trong định. Chúng không phải là một,
không phải là hai.” Bằng cách lặn sâu vào hố thẳm của thực tại như thế,
Huệ Năng dạy các môn đệ của ngài hãy nhìn ánh sáng hiện tiền của tuệ
giác Bát-nhã chớp ngang qua lớp vỏ cứng của ý thức thường nghiệm. Chỉ
lặn suông vào hố sâu ấy không phải là chủ đích của pháp môn Thiền; trừ
phi định đạt đến cao điểm là đố ngộ, nếu không thì không có Thiền
trong đó. Bây giờ, chúng ta hãy coi Huệ Năng nói gì về vô niệm.
“Thiện tri thức, giáo pháp của ta
từ trước đến nay, dù đốn hay tiệm, lập vô niệm làm tông, vô
tướng làm thể và vô trụ làm gốc. Vô tướng là gì? Là đối với
tướng mà lìa tướng. Vô niệm là đối với niệm mà không niệm. Vô trụ là bản
tánh của người. Niệm niệm không dừng nghỉ. Niệm trước rồi niệm sau, niệm
niệm tiếp nối không có đoạn tuyệt. Nếu một niệm đoạn tuyệt, thì pháp
thân lìa khỏi sắc thân. Niệm niệm trong mọi thời không dừng nghỉ trên
một pháp. Nếu một niệm dừng nghỉ thì niệm niệm liền dừng nghỉ, đây gọi
là hệ phược. Nơi hết thảy các pháp, niệm niệm không dừng nghỉ, tức là
không hệ phược. Vì vậy, lấy vô trụ làm gốc [của đời sống chúng ta].
“Thiện tri thức, bên ngoài lìa hết
thảy tướng, gọi là vô tướng. Nếu lìa được tướng, tánh và thể [của vô
niệm] vốn là thanh tịnh. Do đó lấy vô tướng làm thể.
“Nơi tất cả ngoại cảnh mà không bị
nhiễm – đó gọi là một với vô niệm, nghĩa là, lìa khỏi các cảnh dù chúng
hiện tiền trong niệm, bởi vì niệm không sinh ra trong những niệm đối
cảnh. Khi tất cả những tư tưởng [tản mác] như vậy bị trừ khử, thì tất cả
những nhiễm ô bị quét sạch khỏi niệm. Khi một niệm này hoàn toàn lau
sạch, sẽ không còn có sự thọ sinh nữa, kẻ học đạo hãy dụng tâm đừng sao
lãng vấn đề này. Khi không nắm vững ý nghĩa này, không chỉ tự mình nhầm
lẫn mà còn khiến kẻ khác mê lầm theo và lại còn huỷ báng kinh pháp. Do
đó mà lập vô niệm làm tông.
“Khi người ta chỉ lệ thuộc vào danh
tự, họ cố tạo ra niệm về trần cảnh, và những tư tưởng ấy đưa đến tà
kiến. Hết thảy trần lao vọng niệm từ đó sinh ra. Vì vậy, giáo pháp này
lập vô niệm làm tông. Mọi người hãy nên loại trừ những thiên kiến của
mình đừng để làm nảy sinh những tư tưởng hệ lụy. Nếu không có niệm, thì
cái vô niệm không lập.
“Nói là vô, vậy thì vô
cái gì? Niệm là niệm vật gì? Vô là lìa hai tướng, các trần
lao. Niệm khởi lên từ Chân Như; Chân Như là thể của niệm, và niệm là
dụng của Chân Như. Niệm, cố nhiên khởi từ Chân Như, tuy tức thấy nghe,
nhớ, hiểu, mà Chân Như không nhiễm vạn cảnh, thường thường tự tại. Vậy
nên kinh Duy ma nói:
“Bên ngoài khéo hay phân biệt các
pháp tướng mà nguyên lý cứu cánh nội tại vẫn không lay động.”
Vô niệm,
theo Huệ Năng, là cái tên không những chỉ cho thực tại cứu cánh, mà còn
chỉ cho trạng thái ý thức trong đó cái cứu cánh tự hiện tiền. Bao lâu ý
thức cá biệt của chúng ta còn bị tách rời khỏi thực tại ở đằng sau nó,
những nổ lực của nó vẫn là ngã mạn một cách hữu ý hay vô ý, và hậu quả
là một cảm giác cô liêu và đau khổ. Phải làm sao cho ý thức liên lạc với
vô thức, nếu nó không là vô thức; còn nếu là vô thức, sự quan hệ phải
được thể hiện, và sự thể hiện này được gọi là vô niệm.
Những Hán ngữ hay Phạn ngữ một khi
được dịch thẳng thường bị hiểu lầm to tát. Vô niệm là một; vì vô niệm mà
được hiểu là trạng thái “không tư tưởng” chắc chắn sẽ là một tâm trạng
quá nhàm tởm đối với mục đích của Thiền học, hay với mục đích của bất cứ
thực tập tâm linh nào. Chúng ta hãy nghe Huệ Năng thêm; ngài tiếp tục
giảng giải ý nghĩa vô niệm.
“Thiện trị thức, một lần ngộ là
biết ngay Phật là gì. Một khi ánh sáng của trí tuệ soi thấu vào tự tánh
tâm địa, thì trong ngoài thảy đều sáng tỏ; mọi vật trở thành trong suốt,
và biết được bản tâm của mình. Biết bản tâm tức là giải thoát. Chứng
giải thoát tức là chứng Bát-nhã tam-muội (prajñā-samādhi).
Ngộ Bát-nhã tam-muội tức là vô niệm.
“Vô niệm là gì? Là thấy tất cả các
pháp mà không chấp trước pháp nào; hiện diện khắp nơi mà không dính mắc
nơi nào; tự tính thường tịnh; khiến cho sáu tên giặc chạy ra khỏi sáu
cửa mà vào trong sáu trần, nhưng không lìa, không nhiễm; đi và đến tự
do. Đấy là chứng Bát-nhã tam-muội, tự tại, giải thoát, gọi là hạnh vô
niệm. Nếu không có tư tưởng khởi lên trên bất cứ vật gì, đây là sự đoạn
tuyệt của niệm, và như thế là ở trong sự ràng buộc của pháp, tức là biên
kiến.
“Ai ngộ pháp vô niệm thì thấu suốt
hết thảy vạn pháp. Ai ngộ pháp vô niệm thì thấy được cảnh giới của Chư
Phật. Ai ngộ đốn pháp vô niệm là đi đến chỗ quả vị của Phật.”
Giáo pháp vô niệm cùng với
đốn ngộ đã là đề tài lôi cuốn nhất trong thời đại Huệ Năng và các
môn đệ của ngài. “Đốn ngộ” là Hán dịch của từ Prajñā, và “vô niệm” là
cách diễn tả sự chứng ngộ về tánh không (śūnyatā) và bất sinh (anutpāda)
của người Trung Hoa. Trong một chiều hướng nào đó, thuyết vô vi
của Lão Tử có thể được coi là đang sống trong cái vô niệm của Huệ Năng.
Tất nhiên, triết học của đạo Phật có bất sinh (anutpāda), vô
nguyện (apraṇihitā), vô hành (anabhisaṃkāra), vô công dụng
(anābhogā), v.v.. và vô niệm có thể được coi là xuất xứ từ những
khái niệm đó
.
Tuy nhiên điều chắc chắn rằng Đạo giáo có góp công trong việc thiết lập
Phật giáo Thiền tông mà chúng ta quả quyết là sự kiến thiết của thiên
tài Trung Hoa.
6
Thần Hội
là một trong những đệ tử lớn của Huệ Năng, và chính môn phái ngài nảy nở
ngay sau khi thầy mất, vì ngài mạnh dạn đề khởi tiêu chuẩn của “đốn môn”
đối nghịch “tiệm môn” của Thần Tú là đối thủ của Huệ Năng. Những trang
dưới đây trích từ ngữ lục của Thần Hội.
“Trương Yên Công
hỏi: Thiền sư thường nói về pháp vô niệm, khuyên mọi người hãy tu tập
theo đó. Vậy vô niệm ấy là hữu hay vô?
“Đ. – Vô niệm không phải là
hữu, không phải là vô.
“H. - Tại sao không phải
hữu hay vô?
“Đ. – Khi nói là hữu, đây
không nói theo nghĩa thế gian thường tình. Khi nói là vô, cũng không
theo nghĩa thế gian thường nói. Vì vậy không thể nói vô niệm là hữu hay
vô.
“H. - Vậy Đại sư gọi nó là
vật gì?
“Đ. – Không thể nói là “vật”
gì.
“H. - Nếu vậy, phải nói là
gì?
“Đ. - Chẳng thể chỉ cái gì
hết. Vì vậy nói là vô niệm. Nó vượt ngoài sự miêu tả. Cái cớ nó được nói
đến ở đây hoàn toàn là vì có những câu hỏi đặt ra cho nó. Nếu không nêu
lên câu hỏi nào cả, thì sẽ không có nói năng gì về nó. Chẳng khác như
tấm gương sáng khi không có vật gì trước nó thì không có ảnh tượng trong
nó. Nay những ảnh tượng có thể thấy nơi nó là bởi cớ rằng nó đứng trước
vật. Vì vậy mà có các ảnh tượng.
“H. - Nếu gương không có vật
trước nó, vậy nó có chiếu sáng hay không?
“Đ. – Ta vừa nói về những
vật chiếu sáng của nó, nhưng dù có đứng trước vật hay không, luôn luôn
nó vẫn chiếu sáng.
“H. - Nếu nó không có hình
tượng, không thể diễn tả bất cứ theo nghĩa nào, vì nó vượt hẳn ngoài hữu
và vô, nhưng nếu nó có chiếu sáng, thì chiếu cái gì?
“Đ. – Khi nói gương có chiếu
sáng, là vì tự tính của nó có tính sáng ấy. Khi tâm của chúng
sinh trong sáng, thì bản tính sáng đầy của trí tuệ sẽ chiếu sáng khắp cả
thế gian.
“H. - Nếu đúng vậy, bao giờ
có thể có?
“Đ. - Chỉ khi nào nhìn thấy
cái vô.
“H. - Phải chăng vô
không phải là vật để thấy?
“Đ. – Dù có hành vi thấy,
cái được thấy không thể nói là “vật” gì.
“H. - Nếu không nói là “vật
gì”, vậy cái thấy là gì?
“Đ. - Thấy chỗ không có “vật
gì”; đấy là cái thấy chân thật, cái thấy vĩnh cửu.”
Thần Hội tiếp tục thêm một đoạn
nữa:
“H. – Vô niệm nghĩa là gì?
“Đ. – Không niệm hữu và vô,
không niệm thiện và ác, không niệm cùng và vô cùng, không niệm cân
lường, không niệm Bồ-đề (giác), không hệ niệm nơi Bồ-đề, không niệm
Niết-bàn, không hệ niệm nơi Niết-bàn. Đây là những chứng đạt vô niệm.
“Vô niệm
ấy không khác Bát-nhã ba-la-mật, và Bát-nhã ba-la-mật không khác với
nhất hành tam-muội (ekavyūha-samādhi).
Các thiện tri thức, nếu có kẻ trong hàng hữu học ôm giữ một niệm trong
tâm, niệm ấy có thể dẫn tới chỗ Chính giác, nhưng khi cả đến một niệm
như thế không còn khởi lên trong tâm, Chính giác cũng sẽ không còn nữa,
và đấy chính là vô niệm. Trong vô niệm không có cảnh giới.
Nếu có, không tuỳ thuận với vô niệm...Ai quán vô niệm, kẻ ấy lau sạch
những ô nhiễm của lục tình. Ai quán vô niệm, kẻ ấy đang hướng đến Phật
trí. Ai quán vô niệm, kẻ ấy ở trong con đường giữa, trong chính chân lý
cứu cánh. Ai quán vô niệm kẻ ấy tức thì tăng trưởng phước đức nhiều như
cát sông Hằng. Ai quán vô niệm, kẻ ấy có thể thấy vạn vật. Ai quán vô
niệm, kẻ ấy ôm trọn vạn vật trong lòng mình...
“Nếu có người chứng ngộ rốt ráo,
người ấy bất động và kiên cố như Kim cang, và vì người ấy đã quán thấy
vô niệm, nên dù ở giữa rừng gươm oán tặc đe dọa phanh thây vẫn hoàn toàn
ngồi yên lặng. Ngay cả khi Hằng hà sa số chư Phật hiện đến chào đón, tâm
y cũng không gợn lên một niệm hoan lạc. Bởi vì bậc tinh tấn dũng mãnh
này đã đạt đến không tánh (śūnyatā) và tâm bình
đẳng tánh (samacittatā).”
Tự Đạo Vương
嗣道王
muốn biết pháp môn vô niệm dành cho thánh nhân hay phàm phu. Rõ ràng ông
nghi ngờ giá trị của pháp môn cao siêu như vậy đối với phàm phu. Thiền
sư Thần Hội đáp: “Pháp môn vô niệm dành cho thánh nhân, nhưng nếu phàm
phu tự tu tập theo đó, họ không còn là phàm phu nữa.”
Từ ngữ vô niệm không chỉ
dành cho bản thân của thực tại cứu cánh, ở đó tâm thức cá biệt tìm thấy
căn cơ tối hậu của nó, mà còn dành cho công dụng của thực tại trong tâm
chúng ta. Chính nhờ công dụng này mà ý thức tâm lý thường nghiệm của
chúng ta có thể lặn sâu vào hố thẳm uyên áo của thực tại. Và công dụng
này không tách rời thực tại, cái vô niệm. Ý thức được gọi như thế vốn có
thể được coi như là lãnh vực hoạt dụng của vô thức (vô niệm). Nhưng nếu
chúng ta dứt mình ra khỏi cội nguồn ấy, tưởng rằng ý thức của mình là
một thực tại độc lập và cứu cánh, chúng ta lạc lối và không biết đi hay
đứng nơi nào; kết quả là một trạng thái vô cùng ngưng trệ của tâm linh.
Dù vậy, Tự Đạo Vương muốn biết vô và niệm có nghĩa là gì.
“Đ. – “Vô” có nghĩa là vô
nhị tướng. “Niệm” tức là niệm Chân như.
“H. - Giữa người niệm và
Chân Như có sự khác biệt nào?
“Đ. – Không khác biệt giữa
hai bên.
“H. - Nếu không có sự khác
biệt, tại sao có niệm về Chân Như ấy?
“Đ. – “Niệm” là dụng của
Chân Như, và Chân Như là thể của niệm. Vì vậy, vô niệm chính là đạo lý
(của pháp môn thiền). Khi chứng đạt (vô niệm) với tất cả sự thấy, nghe,
hay, biết của nó, vô niêm ấy vẫn mãi mãi là tịch tĩnh không hư.
7
Với Đại châu Huệ Hải
大珠慧海,
vô niệm vẫn tiếp tục là một trong những đề tài thảo luận lôi cuốn nhất.
Dù không có gì đặc sắc nơi quan niệm của ngài, ta cũng nên trích một
đoạn dưới đây, rút ra từ tác phẩm của ngài nhan đề Đốn ngộ nhập đạo
yếu môn luận
. Huệ Hải phân biệt tà niệm với chính niệm và nói rằng
trong vô niệm có chính niệm chứ không có tà niệm.
“H.- Thế nào là chính niệm?
“Đ. – Chính niệm là niệm
Bồ-đề, chính giác.
“H. – Bồ-đề có thể đắc?
“Đ. – Không thể đắc.
“H. – Nếu không thể đắc, làm
sao có thể niệm?
“Đ. – Bồ-đề chỉ là giả danh,
và không có (thực tại cá biệt tương ứng làm đối tượng để) đắc. Trong quá
khứ chứ từng có ai đắc, trong vị lai sẽ không hề có người đắc. Vì là bất
khả đắc, nên không có gì để niệm, ngoại trừ chính vô niệm. Đây gọi là
niệm chân chính.
“Bồ-đề là không có niệm về bất cứ
cái gì (nghĩa là, không vô tâm đối với tất cả). Không có cái gì được
niệm tức là vô tâm trong mọi trường hợp...
Khi đã hiểu như vậy, thì đạt được vô niệm, và khi đắc vô niệm,
thì tự nhiên giải thoát.”
Trong đoạn này, rõ ràng Huệ Hải
đồng nhất vô tâm với vô niệm, và vì cả hai là một, có thể
dịch là “vô thức” hay “không bận tâm” tuỳ theo trường hợp.
Bồ-đề-đạt-ma dùng chữ vô tâm. Huệ Năng và Thần Hội dùng chữ vô
niệm. Huệ Hải, ở đây coi cả hai đồng nghĩa, căn cứ theo đó giải
thích Bồ-đề và giải thoát. Dù sao, mục đích tối hậu của Thiền, nói một
cách phổ thông hơn, cốt yếu ở chỗ không chấp trước, bởi vì tất cả mọi
cái nằm trong thế giới sai biệt này đều có thể miêu tả bằng cách này hay
cách khác nhưng không cách nào rốt ráo. Thực tại rốt ráo vượt lên hết
thảy mọi phạm trù, và do đó, vượt ngoài khả năng tư duy và sở đắc, hoá
cho nên, không thể diễn tả, ngọai trừ gọi nó là “vô tâm” với hai ý
nghĩa, như là hình dung (to be unconscious) và danh từ (the Unconsious).
Dưới đây là một thí dụ, nói lên đường lối mà Huệ Hải vận dụng để khai
thị cho môn đồ và những người hỏi đạo về thuyết lý “Vô tâm” hay
vô vi của ngài.
“Sư thường nói với các đệ tử: ‘Ta
chẳng hiểu Thiền, và cũng chẳng có một pháp gì để chỉ bày cho các người.
Vì vậy, các người khỏi phải mất công đứng lâu ở đây. Hay nhất là các
người hãy tự mình giải quyết vấn đề.’ Nhưng người học càng ngày càng đến
sư đông hơn, hỏi han sư suốt cả ngày đêm. Sư chẳng có cách nào hơn là
phải trả lời hết câu này đến câu khác. Biện tài của sư lưu loát tuyệt
vời.
“Một hôm, có một vài vị pháp sư đến
tham kiến, và nói: ‘Chúng tôi muốn hỏi ngài một câu; ngài có thực tâm
khơi sáng cho chúng tôi chăng?’
“Sư: ‘Bóng trăng dưới ao sâu, hãy
tự tiện mà vớt lên.’
“Pháp sư hỏi: ‘Phật là ai?’
“Sư: ‘Ao trong đối mặt; chẳng phải
Phật, thì là ai?’
“Cả bọn bối rối. Sau một đỗi, họ
lại hỏi: ‘Sư nói pháp gì để độ người?’
“– Bần đạo chưa từng có một pháp gì
để độ người.’
“– Hết thảy Thiền gia đều như vậy.’
“Bấy giờ sư mới hỏi: ‘Đại đức nói
pháp gì để độ người?’
“– Chúng tôi giảng kinh Kim cang
Bát-nhã.
“– Giảng đã bao nhiêu lần?
“– Trên hai chục lần.
“– Ai thuyết kinh này?
“Vị pháp sư lên giọng: ‘Thiền sư
chứ có đùa. Kinh há không phải do Phật thuyết ư?’
“Sư: ‘Kinh nói, nếu bảo rằng Như
Lai có pháp gì để thuyết, ấy là huỷ báng Phật. Người ấy không ý nghĩa mà
Ta nói.’
Nếu bảo kinh này không do Phật thuyết, ấy là huỷ báng kinh. Xin Đại đức
hãy nói rõ chỗ này.’
“Các vị pháp sư không trả lời được.
Một lát sau, sư lại hỏi: ‘Kinh nói, Nếu do sắc mà thấyTa, bằn âm
thanh mà tìm Ta; người ấy hành tà đạo, không thể thấy Như Lai.
Đại đức hãy nói, cái nào là Như lai?’
“ – Đến chỗ này, chúng tôi bị mê
mờ.’
“ – Xưa nay chưa có gì để ngộ, thì
có cái ghì để mê?’
“ – Xin Thiền sư giảng giải cho.’
“ – Đại đức nói đã giảng kinh này
trên hai chục lần, nhưng lại chưa biết Như lai sao?’
“Vị pháp sư làm lễ một lần nữa, và
khẩn cầu sư chỉ giáo.
“Sư: – ‘Như lai, đó là các nghĩa
Như (tathātā) của các pháp.
Sao lại có thể quên?’
“ – Vâng phải, đó là nghĩa Như của
các pháp.
“ – Nhưng, thưa chư Đại đức, cái
‘vâng phải’
của các ngài chưa nhất thiết là rốt ráo.
“ – Tại sao không thể là rốt ráo?
Điều đó được nói phân minh trong Kinh văn.
“- Đại đức có phái là Như không?
“ – Thưa phải.
“ – Gỗ, đá có phải là Như không?
“ – Thưa phải.
“ – Như của các ngài cũng đồng với
Như của gỗ, đá chăng?
“ – Thưa, không khác.
“ – Nếu vậy, Đại đức và gỗ, đá khác
nhau chỗ nào?
Thầy tăng không trả lời được, và
phải công nhận là không thắng nổi sư. Sau một lúc, ông lại hỏi:
“ – Làm thế nào để đắc Đại
Niết-bàn?
“ – Không tạo nghiệp sinh tử.
“ –Nghiệp sinh tử là gì?
“ – Mong cầu Đại Niết-bàn, xả cấu
nhiễm, thủ thanh tịnh, cho rằng có sở đắc và sở chứng, không thoát khỏi
đối trị môn, đấy là nghiệp sinh tử.
“ – Làm sao để đắc giải thoát?
“ – Vốn không trói, thì không cần
cởi. Làm theo ý muốn, đi theo sở thích, không tạp niệm nào, đây là con
đường tối thắng.
“– Như Thiền sư Hòa thượng, thật là
hy hữu.
“Nói như vậy xong, họ làm lễ và lui
ra.”
8
Bởi vì đây không cốt để cập đến một
trang lịch sử của tư tưởng Thiền tông trong triều đại nhà Đường (A.D
618-922), tôi sẽ không dẫn chứng thêm nhiều Thiền sư khác, ngoại trừ một
Triệu Châu Tùng Thẩm (778-897) và một Lâm Tế (tịch 867) và một vài vị
nữa. Vì lẽ, những vị này cũng đủ để cho thấy sự chuyển dịch của giáo
nghĩa Thiền, và cuối cùng các Thiền sư đã nổ lực như thế nào để hòa điệu
với cách ngữ của Ấn và đường hướng tư tưởng trong các kinh điển.
Sau đây là một đoạn trong bài pháp
của Triệu Châu Tùng Thẩm.
“Phật vàng không độ qua lò. Phật gỗ
không độ qua lửa. Phật đất không độ qua nước. Phật thứ thiệt ngồi ở bên
trong. Bồ-đề và Niết-bàn, Chân như và Phật tính, tất cả là chiếc áo
ngoài buộc siết thân thể. Chúng cũng được coi như là phiền não (kleśa).
Khi không có vấn đề phải hỏi, không có phiền não. Trong giới hạn của
thực tại, trong căn cơ của chân lý tuyệt đối, không có gì cả cho các
ngài bám vào. Khi không có một niệm móng khởi bên trong, thì không có
lỗi lầm sai quấy nào hết. Muốn đạt đến sâu thẳm của thực tại, chỉ yên
lặng ngồi xuống, cứ gì hai hay ba chục năm, nếu mà các ngài vẫn không
thấu hiểu nổi, cứ cắt cái đầu của lão tăng đi. Tất cả như mộng, như
huyễn, như hoa đốm giữa trời, ích gì mà nhọc công chụp bắt. Khi các ngài
có thể giữ cho các tâm niệm không lang thang, muôn pháp đều thành nhất
như. Không có vật gì từ ngoài đến, tại sao phải bận rộn? Ích gì mà quanh
quẩn, như dê thọc mũi vào mọi chỗ, nhặt lượm bất cứ thứ gì rồi cho vào
miệng? Khi lão tăng ở với Thạch Đầu,
mỗi khi có ai hỏi, ngài thường nói: “Câm mồm lại, đừng sủa như chó!” Lão
tăng theo gương đó, mà nói: “Câm mồm lại, đừng sủa như chó!” Chấp thủ
ngã là cáu bẩn; không chấp thủ ngã là tịnh.
Các ngươi như một con chó săn, chỉ muốn có cái gì bỏ vào mõm. Vậy đến
bao giờ mới hiểu Phật pháp? Một nghìn, cho đến hàng chục nghìn người,
đều là những kẻ đang đi tìm Phật. Trong đó, không có lấy một người đáng
gọi là chân nhân. Nếu các ngươi muốn là đệ tử của Không Vương, chớ để
cho tâm vướng phải bịnh ngặt nan y. Khi thế giới chưa có, tính này đã
có; khi thế giới này hủy hoại, tính này vẫn không hoại. Một khi ta tham
kiến lão tăng này, ta là ta chứ không ai khác. Ta là chủ nhân ông của
ta. Các ngươi khỏi cần tìm kiếm chủ nhân ông đó ở thế giới bên ngoài.
Chủ nhân ông ở ngay đây, chớ có quay đầu thay đổi não mà bỏ lở cơ hội
tham vấn.”
Ngữ lục
của Triệu Châu phần lớn gồm những “vấn đáp” chứ không có nhiều bài pháp.
Nếu có, thì rất ngắn và chỉ thẳng.
***
Một hôm, Sư thượng đường, sau một
đỗi, vẫn im lặng. Cuối cùng, Sư nói: “Đại chúng đến đủ cả chưa?”
- Bẩm, đến đủ cả.
- Đợi thêm một người nữa đến, ta sẽ
nói.
Một thầy tăng nói:
- Con sẽ báo Hòa thượng biết khi
không còn ai đến nữa.
Sư nhận xét:
- Rất khó được người.
***
Một lần khác, Sư thị chúng: “Tâm
sinh, tức mọi pháp sinh. Tâm diệt tức mọi pháp diệt. Thế thì các ông nói
cái gì?”
Một thầy tăng bèn hỏi: “Nếu không
sinh, cũng không diệt, thì sao nhỉ?”
Sư bảo “Ta hứa khả ông một câu hỏi
này.”
***
Một hôm, Sư bảo:
“Khi các người nói, nó mười phần sáng rõ, nhưng không hoàn toàn thế. Lối
đi (đạo) vẫn tối như lúc hoàng hôn.
Các người ở đâu?”
Một thầy tăng nói “Tôi không ở bên
này hay bên kia.”
“Vậy là ông ở giữa.”
“Ở giữa tức là ở một bên nào đó.”
“Dường như một thời ông đã từng tu
hành ở chỗ ta, nên ông mới nói được một câu như vậy. Nhưng ông chưa vượt
ngoài ba câu.
Dù ông nói vượt, tôi quyết rằng ông chưa. Ông nói sao?”
“Tôi biết dùng ba câu.”
Sư nói: “Tại sao ông không nói
sớm?”
***
Một lần khác, Triệu Châu nói:
“Đường lớn ngay trước mắt, nhưng khó thấy.”
Một thầy tăng hỏi: “Nó có hình thù
gì để người học có thể thấy?”
“Giang nam hay Giang bắc mặc tình
ông.”
“Hòa thượng há không có phương tiện
nào vì người (làm cho người học hiểu rõ hơn)?
“Ông vừa hỏi cái gì đó?”
***
Một hôm, Triệu Châu thượng đường,
bảo chúng tăng: “Đạo lý của cái này khó mà nắm được, và ngay cả một nhân
vật dị thường không bị ràng buộc những ý tưởng đối đãi
cũng thấy khó vượt những cản trở. Khi ta ở với Tổ Quy Sơn, có một thầy
tăng hỏi Tổ: “Ý Sơ Tổ từ Tây đến là gì?” Tổ bảo: ‘Mang cái ghế lại đây
cho ta.’ Khi một bậc Tông sư xuất hiện, ngài tiếp đãi vào mọi người bằng
chính kiến giải siêu việt của mình.”
Bấy giờ một thầy tăng bước lên hỏi
Triệu Châu: “Ý Tổ từ Tây đến là gì?”
Sư bảo: “Cây bách trước sân.”
“Xin ngài đừng đem cảnh mà chỉ thị
người.”
“Không, ta không đem cảnh chỉ thị
người.”
“Ý Tổ từ Tây lại là gì?
Sư : “Cây bách trước sân.”
Sư nói thêm: “Đã chín chục năm rồi
từ khi ta ở bên Mã Tổ Đại sư; dưới ngài có hơn 80 viên thiện tri thức,
mà mỗi vị đều là bậc chân sư. Nhưng bây giờ ra sao? Những người gọi là
sư đó giống như là những cành nhánh nhỏ, càng sinh trưởng càng bỏ xa gốc
chính. Vì họ càng lúc càng xa cách các bậc đại hiền,
mỗi thế hệ trở thành tệ hơn trước. Nam Tuyền thường nói: ‘Hãy hướng
thẳng vào giữa dị loại mà đi.’ Này các ngươi, các ngươi hiểu như thế
nào? Hôm nay tôi quan sát những kẻ miệng vàng vọt, ấu trĩ, ở giữa ngã tư
đường mà giảng đủ thứ sắn bìm. Họ nhận những cúng dường cung kỉnh của
môn đồ, nhiều khoảng đến ba hay năm trăm, họ tự cho là danh sư và gọi kẻ
khác là đồ đệ.”
***
Một hôm Triệu Châu hỏi Nam Tuyền:
“Xin một lời ly tứ cú, tuyệt bách phi.”
Nam Tuyền không nói gì hết, lui về
phương trượng.
Triệu Châu nói: “Lão Hòa thượng
thường thì nói bô bô. Nhưng một hi bị hỏi thì một lời cũng không nói.”
Thị giả bảo: “Tốt hơn, ông đừng có
nói điều đó.”
Triệu Châu tát cho một cái.
Bây giờ Nam Tuyền đóng cửa phương
trượng, và rải tro chung quanh, bảo chúng tăng: “Nếu các ông nói được
một tiếng, cửa này sẽ mở.”
Có nhiều người bầy tỏ sở kiến,
nhưng không có ý của ai phù hợp với Nam Tuyền hết.
Triệu Châu kêu lên: “Trời ơi! Trời
ơi!”
Nam Tuyền bèn mở cửa.
9
Lâm Tế là một trong những bậc thầy
lớn nhất của thế kỷ XIX; tông phái của Sư vẫn còn phát triển tại Nhật
Bản và Trung Hoa, dù ở Trung Hoa Thiền bây giờ đang hồi gần như tàn tạ.
Ngữ lục của Lâm Tế
được nhiều người xem là quyển sách Thiền mạnh bạo nhất mà chúng ta có.
Một trong những bài pháp của ngài Sư nói:
“Điều cốt yếu trong việc học hỏi
Phật pháp bây giờ là phải có kiến giải chân chính. Nếu có được kiến giải
chân chính, người ta không bị nhiễm sinh tử; đi đứng được tự do. Khỏi
cần tìm cầu cái thù thắng, mà thù thắng tự nó đến.
“Này các đạo lưu, các đấng Tiên đức
xưa thảy đều có con đường nhiếp dẫn mọi người; riêng lối chỉ dạy người
của sơn tăng đây, chỉ cốt giúp mọi người không bị mê hoặc. Nếu các ngài
muốn dùng, thì cứ dùng, đừng có chần chờ thắc mắc. Ngày nay kẻ học vì
bịnh ở chỗ nào mà không thể chứng đắc? Bịnh chính ở chỗ họ không đủ tự
tin. Khi các ngài không đủ tự tin, tức thì bị những ảnh ngộ chung quanh
dày xéo. Khi bị ngoại cảnh sai sử và lôi kéo, các ngài hết còn có tự do
nào nữa. Nếu các ngài không còn mãi miết theo ngoại cảnh, các ngài sẽ
được như các đấng Tiên đức xưa.
“Các ngài có muốn biết các đấng
Tiên đức xưa như thế nào chăng? Họ chẳng khác những người đang đứng ngay
trước mặt các ngài nghe ta giảng pháp. Chỉ vì thiếu niềm tin mà mải miết
đuổi theo ngoại vật. Và những gì mà các ngài bắt được bằng sự đeo đuổi
ấy chỉ là cái tuyệt diệu của văn tự,
xa vời cuộc sống của các Tổ đức xưa. Mong sao các đạo lưu đừng nhầm lẫn
chỗ này!
“Đời này mà không gặp gỡ, muôn kiếp
nghìn đời sẽ lăn tròn trong ba cõi. Đua đòi và ôm ấp những điều vui thú,
rồi sẽ phải tái sinh vào bụng dạ của lừa, trâu.
“Các đạo lưu, theo chỗ thấy của sơn
tăng đây, cùng với đức Thích-ca không khác. Ngày nay, trăm đường ứng
dụng còn thiếu chỗ nào đâu? Sáu nẻo thần quang, chưa từng trắc trở. Nếu
thấy được như thế, quả thật là kẻ một đời vô sự.
“Các Đại đức, ba cõi bất an, y như
ngôi nhà rực lửa. Đây không phải là nơi ngừng nghỉ lâu dài của các ngài.
Con quỷ vô thường dữ tợn đến từng khoảnh khắc, chẳng lựa sang hèn, già
trẻ. Nếu các người muốn cùng Tổ và Phật không khác, đừng săn đuổi bên
ngoài. Ánh sáng thanh tịnh trên một niệm tâm của các ngái, chính là Pháp
thân Phật ngay trong mình đó. Ánh sáng vô phân biệt trên một niệm tâm
của các người, chính là Báo thân Phật ngay trong mình đó. Ánh sáng vô
sai biệt trên một niệm tâm của các ngài, chính là Hóa thân Phật ngay
trong mình đó. Ba thân này không gì khác hơn là kẻ đang nghe pháp của ta
ngay trước mặt của các ngài bây giờ đó. Chỉ cần đừng dong ruổi tìm ở bên
ngoài thì có công dụng ấy.
“Cứ như kinh luận gia, họ lấy Ba
thân làm chuẩn tắc cứu cánh. Theo chỗ thấy của sơn tăng thì không phải
vậy. Ba thân ấy chỉ là danh ngôn. Và rồi mỗi thân đều có cái khác nó để
mà y tựa. Cổ nhân nói: ‘Thân y tựa nghĩa là lập, quốc độ y cứ thể mà
luận.’
Vậy Pháp tánh thân và Pháp tánh độ rõ ràng là những phản ánh của ảnh
sáng (bản hữu). Các Đại đức, mong sao các ngài hãy nhậ biết kẻ đùa với
những phản ảnh ấy chính là suối nguồn của hết thảy chư Phật và khắp mọi
nơi đều là quê nhà để trở về của các đạo lưu. Cái sắc thân tứ đại của
các ngài không biết nói pháp và nghe pháp. Tì, vị, gan, mật cũng không
biết nói pháp và nghe pháp. Hư không cũng không biết nói pháp và nghe
pháp. Cái gì biết nói pháp và nghe pháp? Chính là cái sờ sờ trước mắt
các ngài đấy, cái không có hình dạng, sảng tỏ một cách lẻ loi; chính cái
đó biết bói pháp và nghe pháp.
“Nếu thấy được như thế, thì cùng
với Tổ và Phật không khác. Chỉ có điều, trong mọi đời đừng để gián đoạn;
chạm mắt đến đâu là thấy nó ở đó. Bởi vì tình bị khuấy, trí bị ngăn,
tưởng bị biến, thể bị lay, nên lăn lóc trong ba cõi mà chịu đủ khổ não.
Nếu theo chỗ thấy của Sơn tăng, đâu chả là (Đạo lý) sâu xa, đâu chả là
giải thoát.
“Các đạo lưu, tâm pháp vô hình
nhưng thông suốt cả mười phương. Ở mắt gọi là thấy; ở tai gọi là nghe; ở
mũi gọi là ngửi; ở miệng gọi là bàn bạc; ở tay là bắt nắm; ở chân là
chạy nhảy. Vốn là một cái tinh minh, phân thành sáu hoà hiệp. Một tâm đã
không, tuỳ chỗ mà giải thoát. Sơn tăng nói thế, cốt ý ở đâu? Chỉ cốt
mong các ngài thôi dong ruổi theo ngoại cảnh; chỉ vì lẽ săn đuổi không
chán đó mà cổ nhân đặt bày cơ cảnh để gạt các ngài.
“Các đạo lưu, nếu các ngài nhận
được chỗ thấy của Sơn tăng đây, các ngài có thể ngồi ngay trên đầu của
Báo Phật, Hoá Phật; chư Bồ tát trọn vẹn chứng tâm Thập địa chỉ như khách
làm thuê; hàng Đẳng giác, Diệu giác tợ hồ những gã mang gông; La hán,
Bích chi vẫn còn như hầm phẩn; Bồ-đề, Niết-bàn như cọc trói lừa. Tại
sao? Bởi vì, này các Đạo lưu, chỉ vì các ngài chưa đạt đến ba tăng kỳ
kiếp trống không, nên mới có những chướng ngại đó. Nếu là hàng Đạo nhân
chân chính, trọn vẹn không như vậy. Chỉ những ai có thể tuỳ duyên làm
tiêu nghiệp cũ, thì cứ mặc tình mặc áo mang quần, muốn đi là đi, muốn
ngồi là ngồi, không một tâm niệm mong cầu Phật quả. Duyên đâu ra thế? Cổ
nhân nói: ‘Nếu tác nghiệp mà cầu Phật, thì Phật là cái triệu lớn sinh
tử.’
“Chư Đại đức, hãy biết tiếc cái
thời gian. Đừng có làm thói lần mò lê lết bên hàng xóm mà học Thiền học
Đạo, tìm chữ tìm câu, cầu Phật, cầu Tổ, cầu thiện tri thức. Hãy đắn đo ý
đừng để sai lầm. Đạo lưu, chỉ có một cha mẹ, còn đi tìm cầu cái gì nữa?
Các ngài hãy phản chiếu lại mình mà xét xem. Đức Phật
kể cho chúng ta nghe chuyện Diễm-nhà-đa (Yajñādatta). Y nghĩ rằng mình
đã mất đầu, bèn chạy quàng đi tìm kiếm; nhưng khi biết đầu mình chưa hề
mất, y thành ra người vô sự. Chư Đạo đức, hãy cứ bình thường, đừng bắt
chước trò hề điên dại. Có một bọn trọc điên khùng chẳng biết tốt xấu gì
hết, nhìn đâu cũng thấy toàn là quỷ, là thần, chỉ Đông trỏ Tây, cầu mưa
cầu tạnh. Cái bọn đó, chắn chắc có ngày mang nợ đến trước mặt Diêm Vương
mà nuốt cục sắt nóng. Con trai con gái nhà lành bị một bọn chồn hoang
yêu quái ám làm bại hoại mất tinh khí. Thật là lũ mù khốn khổ! Có ngày
chúng phải trả nợ gạo cơm.”
Ở đây, chúng ta thấy Lâm Tế như một
tay phá hoại thứ đạo Phật ước lệ với những ý tưởng được sắp xếp một cách
dung tục theo văn cú Ấn-độ. Sư không thích con đường loanh quanh của
các triết gia, bác học khi họ tường trình kinh nghiệm của đạo Phật. Ngài
muốn đi thẳng tới đích, phá huỷ mọi chướng ngại trên đường dẫn về thực
tại; hươi chày kim cang tả hữu, không những chống lại bọn phân biệt trí,
mà chống luôn các thiền sư đương thời. Ngài đứng vời vợi giữa thời nhân,
mà thái độ hẳn nhiên cực kỳ hấp dẫn tâm hồn Trung Hoa. Tâm lý Trung Hoa
vốn thực tiễn, không thích bị kiềm hãm bởi quá nhiều ước lệ, trí thức
các thứ. Nó tạo ra Lão tử và Trang tử, và lại được tái xác nhận bởi
Thiền, nhất là trong phương pháp trao Thiền của Lâm Tế. Rất mới mẻ và
rất sôi động, người ta thấy Lâm Tế hoàn toàn trần truồng, lột bỏ các thứ
hoa hoè trong cuộc vật lộn với Thiền.
Nhưng cùng lúc, nên nhớ kỹ rằng cái
thái độ Thiền đối với truyền thống này, và triết lý đạo Phật, như thế có
khuyng hướng coi nhẹ việc học hỏi theo thứ lớp của nó, lơ là kinh điển
và các thứ siêu hình trong kinh.
10
Những tiết dưới đây sẽ trích dẫn từ
các Thiền sư sống khoảng cuối nhà Đường và đầu nhà Tống. Chủ đích là để
xem xu hướng phát triển của giáo pháp Thiền khi nó thay thế lần hồi các
tông phái Phật giáo khác ở Trung Hoa. Đồng thời chúng ta sẽ ghi nhận có
tương quan nào giữa những bài pháp của chúng và những vấn đáp đặt ra cho
kinh pháp đặc trưng của Ấn-độ.
Trí Thường
bảo tăng chúng: “Nay tôi sắp giảng Thiền. Các ông hãy bước tới đây cả.”
Khi họ bước tới, sư tiếp: “Ông nghe hạnh của Quán Âm, khéo ứng các
phương sở.”
Một thầy tăng hỏi: “Hạnh của Quan
Âm là gì?”
Sư búng ngón tay và nói: “Ông có
nghe không?”
Thầy tăng nói: “Có nghe.”
Sư căn dặn: “Một bọn ngây ngô; các
ông muốn tìm kiếm cái gì ở đây?”
Nói xong, sư lấy gậy dạt họ ra, rồi
cười lớn và bỏ đi vào phương trượng.
***
Lượng
là một giảng sư, thông các kinh luận. Khi tham bái Mã Tổ, Tổ hỏi: “Nghe
nói Toà chủ học thông các kinh luận, phải không?.”
Lượng đáp: “Không dám.”
Mã Tổ: “Giảng kinh như thế nào?”
“Đem tâm (citta) mà giảng.”
“Tâm như diễn viên, ý như thẳng hề
;
làm sao tâm biết giảng?”
Lượng lớn tiếng cãi: “Tâm không
biết giảng, hư không giảng được chăng?”
Tổ nói: “Quả nhiên, hư không giảng
được.”
Dĩ nhiên là Lượng không chịu, muốn
bỏ đi; vừa mới bước ra, Mã Tổ gọi lại: “Tòa chủ!”
Lượng giảng sư quay lại, thoát
nhiên đại ngộ, liền làm lễ Tổ.
Nhưng Mã Tổ lại bảo: “Gã chậm lụt
này, lễ bái chi thế?”
Lượng giảng sư trở về chùa, nói với
các đồ đệ: “Ta tưởng mình giảng kinh luận không ai bì kịp, thế mà ngày
nay bị Mã Tổ hỏi, bình sinh công phu tiêu tan như băng rã hết!”
***
Đại Từ Hoàn Trung
một hôm thượng đường bảo: “Sơn tăng này không biết trả lời; chỉ biết chỗ
bịnh.”
Một thầy tăng bước tới; Sư liền
xuống tòa và trở về phương trượng.
Pháp Nhãn bình: “Giữa đám đông bảo
mình là thầy thuốc, giờ nhận ra ai đứng trước mặt mình.”
Huyền Giác nói: “Có thiệt Đại Từ
biết bịnh? Hay không biết bịnh? Thầy tăng bước tới trước, thầy ấy có
thiệt bịnh, hay không bịnh? Nếu bịnh, không thể đi đứng như vậy được.
Nếu không bịnh, tại sao bước tới thầy thuốc?”
***
Bạch Mã Đàm Chiếu
thường nói: “Sướng thay! sướng thay!” Khi gần chết, kêu: “Khổ thay!”
hoặc có khi: “Diêm la vương bắt ta rồi!” Viện chủ hỏi: “Hoà thượng sao
vậy? Trước kia ngài bị Tiết độ sứ bắt liệng xuống nước, lúc ấy thần sắc
không động; nay cái gì quấy phá thế?” Sư cất đầu lên
và nói: “Thầy nói thử, lúc ấy tôi phải, hay bây giờ phải?”
***
Nghĩa Đoan,
trong một buổi thuyết pháp, nói như thế này: “Nói tức là huỷ báng, im
lặng tức là lừa dối. Không nói không lặng, có đường đi lên. Nhưng miệng
của lão tăng hẹp, không nói với các ông đựơc.” Nói vậy xong, Sư hạ
đường. Trong một buổi pháp khác, Sư nói thế này: “Bất kể bao nhiêu lần
các người lột bỏ cho đến khi thật sạch, các người chớ khi nào dừng nghỉ.
Dù có tạm thời thi thiết, luôn luôn thảy là phương tiện tiếp người. Nếu
ở bên kia, không có chỗ đó.”
***
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch
thượng đường thị chúng:
“Các người hết thảy hãy hồi quang
phản chiếu, đừng nhớ đến những lời ta. Kể từ vô thuỷ đến nay, các người
đã quay lưng chỗ sáng mà đâm đầu vào chỗ tối. Gốc rễ vọng tưởng đã kết
sâu, rốt lại khó mà nhổ trốc. Vì vậy tạm bày các phương tiện để tước
đoạt những vọng thức thô thiển của các người. Chẳng khác nào đem những
chiếc lá vàng để dỗ trẻ đừng khóc. Chẳng có giá trị gì hết. Lại cũng như
đem cả trăm thứ hoá vật và vàng báu bán chung ở một gian hàng. Hoá vật
cân nặng hay nhẹ chỉ tuỳ theo đòi hỏi của khách hàng. Vì vậy ta nói.
Thạch Đầu quả là một cửa tiệm vàng thật, còn ta là cửa tiệm tạp hoá. Có
người đến kiếm phân chuột, ta cũng đưa ra cho. Kẻ khác đến kiếm vàng
thật, ta cũng đưa cho.”
Một thầy tăng bước ra và nói: “Tôi
không muốn phân chuột. Xin cho một cục vàng ròng.”
Ngưỡng Sơn nói: “Kẻ nào ngậm đầu
mũi tên mà lại cố mở miệng thì chẳng bao giờ hiểu.”
Thầy tăng không đáp.
Sư tiếp: “Tìm tòi kêu gọi thì có
giao dịch. Không tìm tòi kêu gọi thì không có giao dịch. Khi ta giảng
Thiền thứ thiệt, muốn cần một người bên mình làm bạn cũng không, há đến
năm trăm, bảy trăm sao. Nhưng khi ta nói Đông nói Tây, họ tụ tập trong
phòng ta đua nhau lượm lặt đồ rơi rớt. Như đem nắm tay trống mà lường
gạt trẻ con; kỳ thực chẳng có gì hết. Nay ta phân minh nói rõ cho các
người về cái chỗ của Thánh nhân. Đừng có đem tâm tưởng tượng rập rình.
Hãy cứ thực tình nhắm đến biển tánh của mình mà tụ tập. Không cần tam
minh lục thông. Cớ sao không? Vì đó chỉ là mép rìa của thực tại. Như các
người muốn biết Tâm, hãy đi tận nguồn gốc của mọi vật. Chỉ cần đạt gốc,
đừng lo đến ngọn. Rồi một ngày các người sẽ chứng đạt và hiểu chỗ ta
nói. Nhưng nếu chưa tới được gốc, mọi thứ đều không đáng gì cho các
người; tất cả chỗ học và hiểu đều chưa đúng chỗ. Các người há không thấy
hoà thượng Quy Sơn nói: “Phàm Thanh tình tận, thể lộ chân thường, sự lý
bất nhị, tức Như Như Phật.”
***
Dược Sơn Duy Nhiễm,
một hôm, có thầy tăng đến hỏi: “Tôi có chỗ ngờ, xin Sư giải quyết.” Sư
đáp: “Đợi khi thượng đường, tôi sẽ giải quyết cho.”
Chiều đến, sư thượng đường, đại
chúng đã tập họp xong. Sư nói:
“Hôm nay có vị Thương tọa muốn
quyết nghi, ở đâu?”
Thầy tăng bước ra khỏi chúng và
đứng trước Sư. Tức thì Sư bước xuống thiền sàng nắm thầy tăng, bảo: “Này
đại chúng, thầy tăng này có chỗ nghi đây.” Rồi buông thầy ấy ra, Sư lui
về phương trượng.
Một đêm, sư leo núi và đi kinh
hành. Bỗng chốc mây rẻ trăng lộ, Sư cười lớn. Tiếng cười vang dội về
phía Đông của Lễ đường, cách tăng viện của Sư gần chín mươi dặm. Dân cư
tưởng rằng tiếng cười từ nhà láng giềng. Sáng ra, họ hỏi chuyền nhau,
đến tận tăng viện, và cư dân kết luận: “Đêm qua Hoà thượng cười hết bình
sinh trên đỉnh núi.” Lý Cao, Lãng châu Thứ sử,
vốn là đệ tử của Dược Sơn, làm một bài thơ về vụ này gởi cho sư:
選得幽居愜野情
終年無送亦無迎
有時直上孤峯頂
月下披雲笑一聲
Tuyển đắc
u cư hiệp dã tình
Chung niên
vô tống diệc vô nghinh
Hữu thời
trực thướng cô phong đỉnh
Nguyệt hạ
phi vân khiếu nhất thanh.
Chọn
chốn cô liêu thoả dạ quê.
Quanh
năm nào biết đón đưa gì.
Có khi
lên tận đầu non vắng,
Điểm
nguyệt khơi mây lớn giọng kỳ.
Triều Châu Đại Điên,
đồ đệ của Thạch Đầu. Sau khi lui về ẩn cư ở Linh Sơn, tăng đồ tụ tập
đông. Sư thượng đường thị chúng:
“Người muốn học Đạo trước hết phải
biết bản tâm của chính mình. Đem tâm ra mà bày tỏ cho thấy, mới là thấy
đạo. Nhưng nay lắm kẻ vì không thể thâm nhập tánh thể của vạn vật nên bị
mê hoặc, xem một cái nhướng mày, một cái chớp mắt, một nói, một lặng, là
tâm yếu của Thiền. Kỳ thực, đó chưa phải là trọn vẹn. Ta nay sẽ vì các
người mà phân minh nói cho rõ ra. Ai nấy hãy lắng nghe. Chỉ cần trừ bỏ
những vọng tưởng, vọng niệm, kiến lượng, tức là Chân tâm của các ngươi.
Tâm ấy cùng với trần cảnh toàn không giao thiệp, khi các người câm lặng,
giữ gìn tịch tĩnh. Tức Tâm là Phật, không đợi tu tập đối trị. Cớ sao
vậy? Ứng theo cơ, tuỳ vật chiếu, lạnh lùng hoạt dụng, tự khởi. Cội nguồn
thăm thẳm của tất cả những hoạt dụng này vượt ngoài khái niệm. Cái diệu
dụng ấy ta gọi là Bản Tâm. Này, hãy nên giữ gìn, đừng để rong ruỗi.”
***
Viên Trí và Vân Nham
đứng hầu Dược Sơn. Sơn nói: “Cái chỗ mà trí không với tới, cẩn thận đừng
nói. Nói, đầu mọc sừng. Trí đầu-đà, ông nghĩ sao?”
Viên Trí bỏ về phòng không nói một
lời.
Vân Nham hỏi Dựơc Sơn: “Huynh Trí
sao không trả lời Hoà thượng?.”
Dược Sơn nói: “Hôm nay ta đau lưng.
Hãy đi kiếm Trí mà hỏi, y hiểu.”
Rồi Vân Nham kiếm sư huynh Viên Trí
và hỏi: “Vừa rồi sao huynh không trả lời Hoà thượng?”
Viên Trí bảo: “Chú cứ đi hỏi Hoà
thượng.”
Về sau, có thầy tăng hỏi Vân Cư:
“Ngài Dược Sơn muốn nói gì khi bảo: “Cẩn thận đừng nói?”
Vân Cư: “Lời đó quá độc địa.”
Thầy tăng lại hỏi: “Sao lại quá độc
địa?.”
Vân Cư đáp gọn: “Một gậy đập cả
rồng cả rắn.”
***
Động Sơn Lương Giới,
môn hạ của Vân Nham và là sáng tổ của dòng Thiền Tào động, nói:
“Dù có nói ngay rằng bản lai vô
nhất vật,
cũng chưa được trao cho y bát.
Ta muốn chỗ này hạ được một chuyển ngữ. Hãy nói, hạ được chuyển ngữ gì?”
Có một thượng toạ hạ chín mươi sáu
chuyển ngữ mà không vừa ý Sư. Đến chuyển ngữ thứ chín bảy cuối cùng Sư
mới vừa ý. Sư thốt “Sao thầy không nói sớm?”
Về sau, một thầy tăng khác nghe vụ
này, đến kiếm thầy tăng nọ và yêu cầu lặp lại câu trả lời cho Sư. Ba năm
thầy này hầu hạ đợi chờ để mong được bí mật từ chính miệng của thầy nọ.
Nhưng chẳng có dịp nào cho thầy tăng hữu ý này. Thầy cố tình tìm đủ mọi
cách, hoặc dịu dàng, hoặc thô bạo, để nghe cho được câu trả lời mong
ước. “Ba năm qua, tôi xin nghe chuyện trước kia, câu trả lời của thầy
cho Tổ. Thầy khăng khăng không chịu đáp ứng thỉnh cầu. Bằng lối ôn hoà
không được, tôi làm theo lối này.” Nói rồi thầy rút ngọn dao ra, và
tiếp: “Nếu thầy không chịu nói ra, tôi giết thầy ngay.”
Thầy tăng nọ ngồi như không, và
nói: “Đợi một chút, tôi nói cho. Thế này: Dù có mang ra ngay, cũng không
có chỗ để.”
Thầy tăng hiếu sát kia cung kính
làm lễ.
***
Nam Thiền Khế Phan
nói: “Nếu là những lời hay câu đẹp, thì các ngài thảy đã có nói rồi. Hôm
nay, trong chúng ta có ai kiếm được một câu siêu đệ nhất nghĩa không?
Nếu có, đừng phụ rảy mong đợi chúng tôi.”< |