PHÁP LẠC THẤT
Diệu Trân
Tiệc vui tưởng không bao giờ dứt,
nhưng rồi cũng đến lúc bọn trẻ lục tục ra về. Tiễn xong nhóm bạn cuối
cùng, cô bé chạy ngay vào phòng khách, ở đó, các gia nhân đang bận rộn
dọn dẹp. Hoa đèn, ly tách, bánh trái, qùa tặng ... la liệt khắp nơi. Cô
cúi nhặt cây nến hồng mang số 16, đã cắm trên chiếc bánh sinh nhật đêm
nay, nhìn đám gia nhân, mỉm cười với họ, rồi chạy lên lầu.
Ông Thái-Lâm đứng chờ con gái
ngay ngoài hành lang rực rỡ ánh đèn.Cô bé chạy đến bên cha. Ông hỏi cô,
giọng tràn ngập thương yêu:
- Thế nào, công chúa nhỏ của cha,
con có vui không ?
- Thưa cha, con vui lắm.
- Nào, bây giờ con hãy nói cho
cha biết con muốn món qùa gì trong ngày sinh nhật thứ 16 này? Con muốn
bất cứ thứ gì trên đời, cha cũng cho con được. Con là con gái yêu duy
nhất của cha mà.
Cô bé dịu dàng nhìn cha. Cô biết,
cô được cha yêu quí vô cùng. Cha cô vẫn nói, cô giống mẹ từ chân tơ, kẽ
tóc, vừa xinh đẹp, vừa tài hoa. Cha thương nhớ mẹ bao nhiêu là yêu quí
cô bấy nhiêu. Tai nạn thảm khốc mười một năm trước đã lấy đi tiếng cười
trong tòa biệt thự nguy nga này. Chiếc máy bay riêng chở mẹ cô đi thăm
bà ngoại đã lao xuống vùng biển dầy đặc sương mù.
Cha đã sống mười năm cô đơn dù
ông bà ngoại đã nhiều lần khuyên cha nên tìm người chia sẻ vui buồn. Cô
không biết cha muốn sống với kỷ niệm của mẹ hay cha chưa tìm được tri
kỷ, cho tới khi gặp dì Quỳnh-Lan. Dì về đây chỉ mới hơn một năm thôi.
Chính cô đã từng nói, cám ơn dì vì dì đã mang lại cho cha cô tiếng cười
vắng tắt lâu nay. Dì chăm sóc hai cha con chu đáo, chia sẻ với cha những
bân rộn trong việc kinh doanh, chia sẻ với cô những khúc mắc ở học
đường.
Nhưng bỗng nhiên, sao mỗi ngày cô
mỗi thấy bất ổn trong tình cảm dành cho dì. Sự bất ổn vô cớ này làm cô
buồn rầu, bực bội triền miên ...
- Kìa, con gái, sao không nói đi?
Con làm cha hồi hộp qúa. Mỗi sinh nhật con, theo mỗi tuổi, cha đã đoán
biết ý con mà mua qùa. Thường là cha đoán đúng, phải không? Sao năm nay
con lại căn dặn, đừng cho con gì cả, hãy chờ buổi tiệc tan, con sẽ nói
với cha là con muốn gì. Con muốn bà Tiên có chiếc đũa thần cha cũng sẽ
tìm được cho con.
Tiếng cười ròn rã của cha cô
ngưng bặt khi cô nói:
- Con muốn vườn Trúc-Lâm.
- Con nói gì? vườn Trúc-Lâm nào?
Ở đâu?
Cô bé ngước nhìn cha. Lòng cô
chợt quặn đau như có ai vò xé. Lẽ nào cha không biết vườn Trúc-Lâm ở
đâu. Lẽ nào cha đã quên mẩu chuyện từng kể cho cô nghe. Khi cha mới cưới
mẹ về biệt thự này, mẹ yêu ngay khu vườn sau vì vườn được bao bọc bởi
những hàng trúc xanh mướt. Mẹ trồng trọt, chăm sóc thành một vườn hoa
bốn mùa rực rỡ. Mẹ thường nói đùa với cha rằng vườn hoa của vua thì gọi
là vườn thượng uyển, còn vườn hoa này mẹ sẽ đặt tên là vườn Trúc-Lâm vì
đó là tên ghép lại của cha mẹ. Mẹ là Thanh-Trúc, cha là Thái-Lâm. Lâm
còn có nghĩa là rừng nên khi ghép hai chữ “trúc lâm” với nhau còn có
nghĩa là rừng trúc, đúng như phong cảnh của khu vườn. Mẹ cho đó là một
sự ngẫu nhiên tình tứ.
Vậy mà cha đang hỏi cô, vườn Trúc
Lâm nào?Ở đâu? Có phải dì Quỳnh-Lan đã hoàn toàn bôi xóa hình ảnh mẹ
trong lòng cha rồi không ???.
Mắt cô bé sũng ướt, và lệ đã rơi
lã chã trên ngực áo dạ hội. Cô thổn thức trách móc:
- Mẹ đặt tên vườn là Trúc Lâm,
cha quên rồi sao?
Ông Thái-Lâm ngạc
nhiên:
- Vườn hoa trong biệt thự này ư?
- Vâng
- Con gái yêu ơi, cha đâu có quên
mẹ con đặt tên vườn là Trúc-Lâm, nhưng đó chỉ là cha mẹ nói với nhau cho
vui mà thôi. Khi con hỏi xin vườn Trúc Lâm thì cha lại tưởng có khu vườn
nào, ở đâu đó, mà con muốn. Biệt thự này đang là của con. Khi con đủ
tuổi trưởng thành, cha sẽ trao gia tài cho con, con muốn biệt thự lớn
hơn cũng có, con biết như thế chứ? Sao lại phải xin cha vườn hoa thôi ?
- Con muốn được có toàn quyền khu
vườn đó.
- Con đang có toàn quyền cả ngôi
biệt thự cơ mà.
Cô bé cảm thấy khó làm cho cha
hiểu ý mình. Cô đổi giọng hờn dỗi:
- Con không muốn cả ngôi biệt
thự. Con chỉ xin vườn Trúc-Lâm, cha có cho con không?
Ông Thái-Lâm, như đành chịu thua
con gái, nói cho qua chuyện:
- Được, từ nay con là cô chủ vườn
Trúc-Lâm.
Cô bé ôm choàng lấy cha, hôn lên
trán, lên má ông. Nước mắt cô ướt trên vai áo cha. Cô đang khóc vì sung
sướng ...
Sáng hôm sau, cô thức sớm, đi ra
vườn.
Khu vườn này cô đã thơ thẩn vào
ra mười mấy năm rồi. Cô thuộc từng gốc bạch- mai, từng nhánh hải-đường.
Cô yêu từng khóm Hạc-đính-lan, lá dài rủ xuống dáng hoa như mào chim
hạc, từng gìo phong-lan treo trong những gỉo tre, từng bụi ngâu hoa nhỏ,
sắc vàng thơm ngát. Cô cũng biết là mẹ cô yêu cây ngọc-lan lắm. Mẹ cô
trồng cây ngọc-lan bên hồ sen, tỏa hương thơm khắp vườn. Cha kể rằng, mẹ
thường hái những bông hoa trắng muốt, dáng thon như búp tay để gài lên
tóc. Rồi hoa đào, hoa hạnh, hoa hồng, hoa cúc, hoa hoàng-anh lá điểm
xanh vàng, hoa phượng-tiên khi nở có ba màu đỏ, trắng, tía.
Cô chậm rãi đi về cuối vườn, hít
nhẹ hương thơm thoang thoảng từ dẫy cẩm-nhung năm mầu rực rỡ và không
thể không dừng lại ở hàng cây bạch-hạc-tiên với những bông hoa trắng,
sáu cánh, khi nở xòe ra như cái trâm cài tóc. Có lẽ vì vậy mà hoa còn có
tên là hoa ngọc-trâm chăng?
Cô bé đã đứng ở cuối vườn, trước
lều trúc. Cha cô kể rằng, khi gã làm vườn chặt bớt những bụi trúc qúa
rậm rạp thì mẹ cô bảo hãy để dành, khi có đủ sẽ dựng một căn lều đơn sơ
toàn bằng trúc để mẹ vào uống trà những khi quanh quẩn ngoài vườn nắng.
Từ khi mẹ mất đi, lều trúc không
còn thoảng hương trà nữa ...
Nhưng kìa, có bóng ai ngồi bất
động trong lều ...
Cô bé dụi mắt ...
Đó là gã làm vườn.
Gã ngồi xếp bằng, lưng thẳng, hai
bàn tay đan vào nhau, đặt ngay ngắn trước đùi. Gã nhắm mắt, hướng về
phía mặt trời. Trông gã tĩnh lặng như một pho tượng, mà lại toát ra vẻ
uy nghiêm kỳ diệu khiến cô bé không dám nhúc nhích.
Lâu lắm .
Rồi hai bàn tay gã rời nhau, hai
chân duỗi thẳng. Gã thong thả chà sát hai bàn tay vào nhau, xong, vuốt
nhẹ trên hai mí mắt và từ trán xuống cằm. Sau đó gã lại dùng hai tay xoa
bóp hai bắp chân rồi mới chậm rãi đứng lên, bước ra trước lều trúc.
Gương mặt tràn đầy thành kính, gã chắp tay thành búp sen trước ngực và
bắt đầu cúi lạy. Cô bé nhẩm đếm, gã đã lạy sáu phương, mỗi phương ba
lạy. Sau đó, gã vươn vai, và bây giờ gã mới nhìn thấy cô.
- Cô chủ, cô cần tôi làm gì
không? Sao cô ra vườn sớm thế?
Cô bé cảm thấy như mình vừa ra
khỏi cơn mơ. Và rồi cô đã nhớ, cô ra vườn sớm để làm gì. Cô nói với gã
làm vườn:
- Này anh, nội trong ngày hôm nay
tôi muốn anh dọn sạch hết vườn rau, cả những giây nho xanh và giàn thiên
lý này nữa. Chặt bỏ hết.
- Sao vậy cô chủ? Bà chủ tự tay
trồng vườn rau này mà. Bà có vẻ thích lắm, nhất là giàn thiên lý.
Tội nghiệp gã làm vườn. Gã không
biết, nên đã vừa chạm vào vết đau nhức trong lòng cô bấy lâu.
- Tôi là chủ khu vườn này, không
có bà chủ nào khác nữa cả. Từ nay anh chỉ làm việc dưới quyền tôi. Tôi
bảo anh trồng gì thì anh trồng nấy, bảo chặt bỏ gì thì anh chặt bỏ nấy,
anh nghe rõ không?
Lẽ dĩ nhiên, gã đã nghe rõ. Chưa
bao giờ gã thấy cô chủ nhỏ giận dữ và lớn tiếng đến như hôm nay. Gã biết
rằng, sẽ phải làm theo lời cô, nhưng cũng lo lắng, nếu phá bỏ vườn rau
thì sẽ trả lời thế nào với bà chủ?
Gã thấy có điều gì bất ổn đang
xẩy ra nhưng gã không thể hỏi gì hơn vì cô chủ nhỏ đang giận. Và cô đã
quay đi.
Gã vào lều trúc, xách xẻng cuốc
ra vườn rau ...
Bữa cơm tối, cô bé chờ đợi một
trận chiến.
Nhưng lạ.
Dì Quỳnh Lan vẫn thản nhiên, âu
yếm gắp thức ăn vào chén cho hai cha con cô như mọi bữa. Dì còn nói,
cuối tuần này trời sẽ nắng đẹp lắm, cô có muốn đi chơi biển không?
Cô nhìn thẳng vào mắt dì, tìm dấu
vết những giọt nước mắt hồi chiều. Dì không tránh cái nhìn của cô, chỉ
dịu dàng mỉm cười. Chẳng lẽ dì không mách cha về cuộc xung đột chiều nay
khi dì ra vườn, và sửng sốt thấy gã làm vườn đang gom dọn những rau trái
bầm dập vào thùng rác?
Vườn rau dì vun trồng chỉ còn là
khoảng đất trống.
Hồi chiều, cô đã không để gã làm
vườn phải lúng túng; vì cô đã sẵn sàng những gì muốn nói.
- Dì chưa biết ư, từ tối hôm qua,
con đã là chủ khu vườn này. Đây là vườn Trúc-Lâm, vườn mang tên cha và
mẹ. Không ai được trồng gì khác ở đây ngoài những cây hoa, khóm trúc mà
mẹ đã chăm bón. Cũng không ai được vào đây nữa, nếu không có phép của
con.
Cô còn quay sang gã làm vườn, căn
dặn:
- Từ nay anh chỉ tuân lệnh tôi mà
thôi, và có bổn phận không cho ai được vào vườn nếu tôi chưa đồng ý.
Lúc đó gã làm vườn mới hiểu được
uẩn khúc trong lòng cô chủ nhỏ. Gã nhìn cô, buồn rầu. Cô không có thì
giờ mà để ý đến cái nhìn buồn rầu của gã. Cô đang sung sướng hưởng sự
ngỡ ngàng, đau đớn của dì Quỳnh-Lan. Nước mắt dì tuôn chảy trên má, hai
tay dì xoắn vào nhau, dì nói mà lời như nghẹn lại:
- Dì xin lỗi ...nhưng dì không có
ý xâm phạm tới mẹ của con ...Trời ơi, con phải biết như thế chứ!
- Đúng, con đã biết. Dì chỉ muốn
bôi xóa hết hình ảnh mẹ trong lòng cha. Mẹ đã chết rồi, không làm gì
được, nhưng còn con đây, dì đừng quên điều đó.
- Trời ơi, con nói chi lạ thế? Mô
Phật, nếu dì có lòng nào ...
Dì Quỳnh-Lan chưa dứt câu, cô bé
đã vung tay tỏ ý bất cần rồi quay lưng bỏ đi ...
Cô nghĩ, thế nào dì cũng mách
cha. Và cô cũng đã sẵn sàng trả lời cha.
Nhưng rõ ràng là cha chưa biết gì
cả. Cha vui vẻ hỏi dì hôm nay đi lễ, chùa có đông không. Cha cũng âu yếm
hỏi cô, làm được những gì trong ngày đầu tiên ở tuổi 16. Nếu dì đã mách
cha thì chắc chắn cha không thể vui vẻ như thế. Cô chợt nhận thấy một
điều thật đơn giản, là cô, có thể sẽ làm khổ cha, còn dì Quỳnh-Lan thì,
thà cam chịu câm lặng để tránh cho cha sự phiền não khó xử.
Vậy mà cô vẫn tự cho là cô thương
yêu cha ư?
Suốt đêm, cô bé trằn trọc. Cô cứ
tưởng cô dùng quyền làm chủ vườn hoa để làm dì Quỳnh-Lan đau đớn thì cô
sẽ sung sướng. Vậy mà trái lại, dì như vẫn bình an mà cô mới chính là
người đang đau đớn ...
Sáng hôm sau, cô ra vườn sớm, tâm
vô định mà chân bước về lều trúc.Cô lại thấy cảnh tượng như sáng hôm
qua. Gã làm vườn ngồi xếp bằng, tĩnh lặng trong lều. Bao nhiêu biến cố
do cô mới gây ra như không hề ảnh hưởng tới gã, tới dì Quỳnh-Lan, dù đó
là hai người trực tiếp nhận chịu. Tại sao thế? Tại sao họ vẫn bình an mà
cô thì ray rứt? Tại sao cô không có được niềm an lạc như họ?
Cũng như sáng hôm qua, sau khi
đứng ngoài lều trúc, vái lạy sáu phương, gã làm vườn mới nhận ra sự có
mặt của cô. Cô tiến đến gần gã, và không đừng được để không hỏi:
- Mỗi sáng sớm anh ngồi, rồi lạy
như thế là nghĩa gì?
- Ồ ...cô chủ đã thấy ...
- Tôi thấy hôm qua và hôm nay.
Khi anh ngồi, xong rồi đứng ra đây lạy, anh có vẻ bình an lắm.
- Cô chủ muốn biết điều đó không?
- Muốn.
- Thưa cô chủ, khi tôi ngồi trong
lều trúc, đó là tôi thiền tọa. Thiền tọa là ngồi tĩnh lặng, nhắm mắt,
quán niệm hơi thở của mình. Quán niệm hơi thở là không nghĩ gì khác
ngoài việc theo dõi hơi thở, nương vào hơi thở để có sự ổn định tâm lý
mà nhận ra tự tánh của mình. Khi thở vào, ta biết ta đang thở vào. Khi
thở ra, ta biết ta đang thở ra. Ta biết rằng ta đang thở, đó là hơi thở
có ý thức. Ta đạt được những hơi thở có ý thức là do tâm ta chỉ chú
trọng tới hơi thở nên tâm ta và hơi thở đã chuyên nhất, đã trở thành
một. Điều đó có nghĩa là khi ta chỉ nhất tâm theo dõi hơi thở, thì những
tạp niệm vẩn vơ, vô bổ, không còn có nơi dựa vào. Không có chỗ dựa thì
tạp niệm phải buông, phải dứt. Khi tạp niệm dứt, đương nhiên là ta được
an trú trong an lạc.
Cô bé ngạc nhiên qúa. Cô hiểu
ngay được những lời gã làm vườn vừa nói. Gã nói trong sáng, giản dị. Gã
nói như lời Phật vừa truyền qua. Cô đã hiểu ngay để có thể hỏi tiếp:
- Như thế, có phải là chỉ cần một
hơi thở tỉnh thức là ta đã có thể tạo được trạng thái an lạc trong tâm,
ở giây phút ấy? Và nếu ta tập luyện để duy trì hơi thở mình tỉnh thức
thường xuyên thì ta sẽ thường xuyên an lạc?
- Đúng thế, cô chủ ạ, cô chủ đã
hiểu rồi đấy. Trong giai đoạn đầu tu thiền, khi hành gỉa ngồi thiền,
chính là lúc mọi vọng tưởng dấy lên. Vọng tưởng là những thứ niệm nhớ
tưởng trùng trùng điệp điệp, huân tập lâu đời, chất chứa trong ta mà ta
thường ngỡ là tâm. Những niệm đó khởi lên khi đối xúc với cảnh tướng, mà
cảnh tướng thì thay đổi, sinh diệt luôn luôn nên niệm đó không thật. Bởi
không nhận ra nó không thật nên ta vẫn dựa vào vọng tưởng, ngỡ giả là
thật mà mãi chìm đắm trong vô minh.
- Làm sao nhận ra được đâu là
vọng tưởng, đâu mới thật là tâm?
- Phải tu, cô chủ ạ. Có nhiều
pháp tu, bởi chúng ta, trí huệ chẳng đồng nên mỗi người tự chọn pháp nào
hợp với mình. Pháp nào cũng đi đến mục đích là gạn lọc hết vọng tưởng
nhiễm ô để thấy được tự tánh thanh tịnh của mình. Vọng tưởng như mây, tự
tánh như trăng. Mây bay đi, trăng sẽ tỏ.
Cô bé cảm thấy lòng như nở hoa.
Cô lại hỏi:
- Sau khi thiền tọa, anh lạy sáu
phương là lạy những gì?
- Lạy sáu phương là sự thực tập
để có một đời sống đạo hạnh. Khi lạy phương Đông, ta hướng niệm lòng ghi
ơn cha mẹ, tạ ơn công đức sinh thành tựa biển rộng sông dài. Khi lạy
phương Tây, ta hướng niệm tới tình gia đình ruột thịt, nghĩa gắn bó vợ
chồng tận tụy thủy chung. Khi lạy phương Nam, ta hướng niệm ơn thầy cô,
những người đã vì yêu thương mà hết lòng khai sáng trí tuệ ta. Khi lạy
phương Bắc, ta hướng niệm tới tình bằng hữu thâm sâu, tình tri kỷ chia
xẻ ngọt bùi. Khi lạy phương Hạ, ta hướng niệm tới những người cùng ta
làm việc, góp công sức và trí tuệ để hoàn tất nhiệm vụ tốt đẹp. Sau hết,
khi lạy phương Thượng, ta hướng niệm về các bậc hiền nhân quân tử, về
những người đã có đời sống như tấm gương trong sáng cho ta soi mà sửa
mình rèn trí.
Cô bé đứng lặng trong nắng mai.
Lòng cô không phải chỉ như đóa hoa vừa nở mà cô cảm thấy như cả khu
vườn, muôn hoa đều đang nở rộ trong cô. Cô không thể ngờ rằng, chỉ cần
dăm ba phút trong ngày, nếu hiểu biết và hướng tâm mình cho đúng, ta có
thể được hưởng niềm an lạc mênh mông không gì mua được. Cô bé nhìn gã
làm vườn và dịu dàng nói với gã:
- Từ sáng mai, anh dạy tôi thiền
tọa nhé !
Ngạc nhiên, nhưng gã nói:
- Vâng, thưa cô chủ, tôi là người
tuân hành theo ý cô mà.
Từ đấy, lều trúc trở thành đạo
tràng, nơi mỗi sáng sớm cô chủ nhỏ và gã làm vườn cùng yên lặng thiền
tọa. Cô rất thông minh và thành tâm nên không bao lâu cô đã đạt được tới
trạng thái, tâm của cô đồng nhất với không gian, trong đó, mọi hình
tượng, sắc thái đều tan biến. Không gian trở nên nền tảng của vũ trụ, và
thân tâm cô nhẹ như mây khói.
Những buổi thiền tọa sau đó, cô
cố gắng quán chiếu sâu sa hơn để tiến tới bốn tâm tư lớn trong đạo pháp.
Tứ Vô Lượng Tâm đó là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Cô đã ngồi xếp bằng theo thế kiết
gìa, chắp tay búp sen để nghe gã làm vườn giảng về bốn biển bao la này.
Gã nói:
- Thưa cô chủ, tâm Từ là sự
thương yêu, sự hòa đồng, sự rộng lượng mà ta có thể mang đến cho người
khác. Người có tâm Từ sẽ dễ dàng giải tỏa được những giận hờn, ganh
ghét. Tâm Bi là trải lòng rộng ra, tự nguyện thực hiện những việc có thể
làm vơi đi những đau khổ cho người khác. Hai tâm Từ và Bi là những tình
thương ta tự nguyện hành trì mà không hề mong chờ được đền trả. Tâm Hỷ
là luôn luôn sẵn sàng đem niềm vui đến cho người và mở rộng lòng mà vui
theo cái vui của người. Cuối cùng, tâm Xả là quán chiếu chánh niệm để
đạt được sự an tịnh, thanh thản, hầu tạo được những mối tương quan bình
đẳng, đẹp đẽ giữa muôn người, muôn loài. Luyện được tâm Xả ta sẽ xua tan
hết lòng đố kỵ, nghi hoặc.
Cô bé lắng nghe chăm chú. Những
điều cô vừa nghe thật cao siêu mà cũng thật giản dị. Cô nhận ra ngay
rằng, giáo lý của Đạo Phật không phải chỉ là lý thuyết mà là sự hành
trì. Người Phật Tử, dù tụng ngàn pho Kinh cũng chưa phải là người hiểu
Đạo nếu không áp dụng được Giáo lý đó cho bản thân mình và cho đại
chúng.
Không bao lâu, cô bé bỗng nhận
thấy, sau những bổn phận và công việc thường ngày, cô chỉ mong mau mau
tới giờ xuống lều trúc thiền tọa. Lòng cô tràn đầy vui vẻ mỗi khi cô
bước vào lều trúc để ngồi thiền. Chính vì sự vui vẻ đó mà cô đã nghĩ đến
một cái tên rất đẹp để đặt cho lều trúc.
Một buổi sáng, cô xuống vườn sớm
hơn thường lệ, định nói với gã làm vườn là từ nay lều trúc sẽ có tên là
Pháp-Lạc-Thất, nghĩa là nơi tu học vui vẻ.
Nhưng, lều trúc vắng lặng một vẻ
khác thường, chỉ có tiếng lao xao của lá trúc đong đưa trong gío. Cô đến
bên tọa cụ, nơi vẫn thiền tọa thì thấy một phong thư. Đó là phong thư gã
làm vườn để lại : “ Thưa cô chủ, cô chủ đã đạt được niềm thanh tịnh, an
lạc rồi. Cô chủ sẽ sống đời thoải mái, hạnh phúc vì điều cô chủ đạt được
chính là điều căn bản của Đạo Lý Giác Ngộ. Trong Đạo Lý Giác Ngộ, thương
yêu phải đi đôi với hiểu biết. Không hiểu biết thì không thể thương yêu.
Cô chủ đã đạt, nên cô chủ sẽ cảm thấy rõ ràng, thương yêu cũng chính là
hiểu biết. Cô chủ sẽ không cần tôi hướng dẫn nữa. Xin phép cô chủ cho
tôi được ra đi để hoàn thành điều tôi tâm nguyện”.
Cô bé cảm thấy lòng mình chùng
xuống một mất mát lớn lao. Cô ngước nhìn cây Bồ Đề có tàng lớn che trên
mái lều trúc. Cô nhớ, có lần gã làm vườn đã nói với cô về cây Bồ Đề. Nó
có tên nguyên thủy là cây Pippala. Thái-tử Siddhatta, tức sa-môn Gotama
đã đắc đạo dưới gốc cây Pippala sau bao khổ công quán chiếu, dựa trên sự
vận dụng minh mẫn của tri thức. Đạo Tri Thức, theo tiếng Magadhi là
Buddha. Bởi Đức Phật đắc đạo dưới gốc cây Pippala nên cây Pippala được
gọi là cây Bodhi, vì chữ Bodhi cùng họ với chữ Buddha. Cây Bodhi được ta
phiên âm thành cây Bồ Đề từ đấy.
Một chiếc lá Bồ Đề nhẹ rơi. Cô
đưa tay ra, đỡ lấy, rồi đi về hướng hồ sen.
Bông sen đầu mùa vừa nở, ngào
ngạt hương. Cô ngồi xuống bên hồ, chăm chú nhìn. Bông sen, với những
cánh mầu hồng đào ôm lấy nhau, vươn lên từ mặt hồ trong vắt. Những lá
sen xanh mướt, hân hoan như trợ lực đóa hoa đón ánh mặt trời vừa rạng.
Nhìn kỹ hơn, từ bông sen, cô bé không chỉ thấy đài hoa, cánh hoa, nhị
hoa mà cô còn thấy cả bùn, đất, gío, cát, nắng, mưa ... Tất cả những thứ
đó giúp bông sen có mặt. Nếu không có bùn, đất, gío, cát, nắng, mưa
...thì bông sen không thể có mặt. Sự có mặt của cái này ở trong sự hiện
hữu của cái kia. Đó là bài học về nguyên lý của Tương Nhập và Tương Tức
mà gã làm vườn đã từng dạy cô. Đó là sự tương quan trùng trùng của vũ
trụ.
Thực thể, gã làm vườn đã ra đi,
nhưng trong tương quan mênh mông huyền nhiệm mà cô vừa quán chiếu được,
thì gã vẫn còn đây, trên chiếc lá này, trên bông hoa kia, trên khóm trúc
nọ. Chiếc lá, bông hoa, khóm trúc đang vì gã mà có mặt. Cô bé thấy rõ
như thế. Và cảm giác mất mát, buồn rầu hoàn toàn tan biến.
Trở lại Pháp-Lạc-Thất, hướng về
phương Nam, cô chắp tay búp sen, lạy ba lạy.
Đó là bài học đầu tiên, Lạy Sáu
Phương, để thực tập đời sống đạo hạnh mà cô đã được gã làm vườn chỉ dẫn.
Cô vừa cúi lạy phương Nam.
Đó là phương mà người hành gỉa
hướng niệm tới bậc thầy đã khai sáng trí tuệ cho mình.
Diệu Trân
(Như-Thị-Am, ngày nắng hạ) |