THƯ KHÔNG GỬI
Thưa Thầy,
Không biết đây là lá thư thứ mấy, con đã viết mà
không bao giờ gửi đi, bởi vì, biết gửi về đâu để tới được tay Thầy?!
Những thư trước đã đầy nước mắt, thư này có khô ráo được không?
Chiều nay, quét lá ngoài vườn, con không ngớt
nghĩ về con đường hẻm năm xưa, nơi một gia đình người miền Bắc di cư,
được xóm người miền Nam đón nhận bằng tất cả ấm áp của tình người. Thầy
ơi, con đường hẻm đó, đối với con đã thiêng liêng như con đường đất mấp
mô dẫn ra bờ sông Ni Liên Thuyền khi sa-môn Gotama quyết định bỏ lối tu
khổ hạnh. Ngài men xuống ven sông tắm gội như một hình thức làm mới lại
tư tưởng, nhưng vì quá đuối sức sau nhiều ngày tháng ép xác, Ngài đã
ngất xỉu trên đường trở lại khu rừng bên kia sông. May thay, một cô bé
trong làng đang bưng mâm phẩm vật vào rừng cúng thần linh đã kịp nhìn
thấy ông thầy tu khổ hạnh đó. Cô quỳ xuống dâng sữa. Giây lát, vị sa-môn
tỉnh lại và cho cô biết Ngài là thái-tử con vua Tịnh Phạn, đã bỏ cung
vàng điện ngọc ra đi tìm đạo.
Câu chuyện tuyệt vời này Thầy đã từng kể cho
chúng con nghe nhưng năm xưa ấy, với lứa tuổi lên chín, lên mười, đám
trẻ nhỏ trong xóm nghèo đâu có thấy hấp dẫn bằng chuyện Thạch Sanh-Lý
Thông, Tấm Cám, Phạm Công-Cúc Hoa ..... với những tình tiết ly kỳ, những
thắt mở hồi hộp hơn. Tuy thế, đám thiếu nhi Phật tử chúng con siêng đi
chùa lắm vì tới chùa được bác Sáu cho oản chuối, được huynh Thiện Tâm
dạy hát, dạy tụng kinh. Riêng hai chị em con, cứ cơm nước buổi tối xong
là vào chùa vì chùa gần quá, qua nhà bà Hai bán gạo, nhà ông Năm xích
lô, qua vườn rau của cô Bẩy thư ký, tới tiệm chạp phô chú Lìn là nhìn
thấy mái chùa. Chùa nghèo lắm, hàng rào gỗ xiêu vẹo đã lâu, huynh Thiện
Tâm chắp vá mãi vẫn xiêu vẹo, nói chi đến sơn lại những bờ tường rêu
phong, loang lổ. Nhưng đất chùa rộng nên bác Sáu trồng đủ các loại rau,
các loại bầu bí làm thực phẩm cho chùa; Rồi không biết do đâu, người
trong xóm thấy rau trái nhiều đã tới xin mua lại khi họ cần. Bác Sáu đâu
có bán! Bác Sáu bảo, ai cần thì cứ vào mà hái, cửa chùa có đóng bao giờ
đâu.
Chùa nghèo, dân trong xóm cũng nghèo nhưng ai vào
chùa xin rau trái đều nhẹ nhàng bỏ vào thùng phước sương ít nhiều, tùy
theo khả năng mình. Thật thân thương biết bao tình người, nghĩa đạo.
Chùa nghèo như thế mà bác Sáu đã bế vào chùa hai đứa bé mồ côi mà cha mẹ
chúng bỏ trước sân chùa. Hai đứa bé đó là hai chú tiểu mà bác Sáu gọi
tên là Tốt và Lành. Ngày đó, con cũng còn quá nhỏ, đâu có thắc mắc sao
hai chú không có pháp danh đẹp đẽ như Thiện Tâm, Thiện Hữu, Thiện Tường
...... mà lại là Tốt, Lành? Hoặc hai chú cũng có mà con chưa bao giờ
nghe ? Nhưng chúng con thì được Thầy và bác Sáu gọi bằng pháp danh ngay
sau khi quy y. Quy y là gì ? Thuở ấy con nào hiểu, chỉ biết rằng, nhằm
lễ Vu Lan, huynh Thiện Tâm bảo “Các em quy y với Thầy đi, các em sẽ
chính thức là con của Phật, Thầy sẽ cho các em một cái tên mới, như khi
cha mẹ sinh con ra đều đặt tên cho các con vậy”.
Con biết chị Tư bán xôi có pháp danh là Diệu
Hương, chị Chín thợ may có pháp danh là Diệu Liên v... v... nên con nghe
lời huynh Thiện Tâm, xin quy y cũng chỉ vì muốn được thầy cho một cái
tên đẹp đẽ mà thôi ! Ôi, tuổi nhỏ thơ ngây thật là tội lỗi !
Nào phải con chỉ không thắc mắc pháp danh của hai
chú tiểu mà pháp danh của Thầy con cũng không hề biết! Bác Sáu là chị,
thầy là em. Trong xóm gọi thầy là thầy Bẩy, chúng con cũng chỉ biết thế.
Vào chùa chỉ biết vòng tay thưa “Lạy Thầy ạ”. Thế thôi!
Sau khi chúng con quy y không bao lâu thì xóm
nghèo đó ngập trong biển lửa vì nội chiến giữa lực lượng Bình Xuyên với
chính quyền đương thời. Cà xóm đều chạy thoát nhưng tan tác muôn phương.
Với bận rộn của tuổi học trò, với những sân ga, những bến đậu, những vui
buồn của giòng sông tục lụy, con đã không hề trở lại xóm xưa, không biết
Thầy đã đi đâu, về đâu !!!
Nửa thế kỷ đã trôi qua, nửa thế kỷ như một sát-na
của kiếp sống, ở phút giây nào kỳ diệu đã bừng lên hai chữ “Diệu Trân”
tận thẳm sâu tiềm thức. Khi bỗng chợt nhớ lại pháp danh của mình, con đã
bật khóc nức nở, không phải chỉ khóc một lúc mà khóc một đêm, một ngày,
nhiều đêm, nhiều ngày. Bất cứ biết có người quen nào về thăm quê hương,
con đều nhờ tìm Thầy. Chùa xưa dù đã dựng lại sau hỏa hoạn nhưng Thầy
không trụ ở đó nữa. Chưa tuyệt vọng, con lại nhờ tìm tông tích huynh
Thiện Tâm nhưng huynh đã về quê xa xôi làm rẫy ! Thầy như bóng chim bay
ngang lưng trời, không để lại dấu vết gì, chỉ còn lại trong con hai chữ
“Diệu Trân”, quằn quại tâm sám hối, không biết phải làm gì để đền đáp ơn
Thầy?
Nơi xứ người, con khoác tấm áo lam lên thân tứ
đại, tìm đến các chùa, làm công quả, từ xắt bí, gọt khoai, rửa chén
bát, tới lau chùi nhà vệ sinh, quét dọn, đổ rác ...... Con im lặng làm
việc mà trong lòng không ngớt nức nở hai tiếng “Thầy ơi!”. Con sợ nhất
là khi thỉnh thoảng có người bạn đạo vô tình hỏi “Thầy Bồn-sư của Diệu
Trân là ai?” hay “Tổ-đình Diệu Trân ở đâu?” con đều không kịp kìm giữ
giòng nước mắt rào rạt trôi lăn. Một kẻ tự nhận là Phật tử mà không biết
pháp danh của Thầy Bổn-sư, không biết Thầy nơi đâu, Tổ-đình nơi đâu, thì
có xứng đáng là con Phật hay không ?
Xong những công việc chấp tác, con mon men lên
chánh điện, tìm một chỗ ngồi khiêm nhường nhất để được nghe giảng pháp.
Giòng-Suối-Từ thầm lặng thẩm thấu vào sa-mạc mênh mông khổ não trong
con, tới một ngày con bỗng hiểu rằng Thầy không chỉ là hình bóng Thầy
Bẩy trụ trì ngôi chùa trong xóm nghèo mà Thầy còn là thời công-phu-sáng,
thời kinh-trưa, thời thiền lặng lẽ khi trăng khuya bàng bạc bên khung
cửa sổ. Thầy cũng là lời con phát nguyện khi tụng kinh Pháp-Hoa:
“Con nay phát nguyện rộng
Thọ trì kinh Pháp-Hoa
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam-đồ”
là bài kệ sáng ngời khi con tụng kinh Kim-Cang:
“Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán”
là bài tán Hội Liên-Trì khi con tụng kinh
A-Di-Đà:
“Liên-Trì hải hội
Di Đà Như-Lai
Quan Âm Thế Chí tọa Liên-đài
Tiếp dẫn Thượng-kim-giai
Đại thệ hoằng khai
Phổ nguyện li trần ai”
là phút Quán Không, khi con tụng kinh Bát-Nhã, là
Viên-Giác, Lăng-Nghiêm, Đại-Bảo-Đàn ......... Thầy vẫn ở cùng con trên
từng lời Phật dạy. Thầy là người cha đã khai sinh ra con từ một bông hoa
đặt nhẹ trên đỉnh đầu trong không gian tưới tẩm hương Vu Lan năm đó.
Thầy nào có xa rời con? Thầy nào ngưng dạy dỗ? Chính Thầy đang dắt con
tới từng đạo tràng, dạy con biết cách cúng dường, biết cách tu thân,
biết nhận ra lỗi lầm, biết nhẫn nhục, biết tha thứ. Sao bấy lâu nay con
không nhìn ra mà cứ đau khổ quằn quại “Thầy ơi! Thầy đâu?” trong tâm
trạng đứa con lạc cha! Suốt nửa thế kỷ qua, con nào khác chi kẻ cùng tử
trong phẩm “Tín Giải”, kinh Pháp-Hoa, không nhận ra cha mình dù cha đang
ở trước mặt.
Thưa Thầy,
Thầy đã quá từ bi và kiên trì đối với một đệ tử
vô minh tột cùng như con. Phải nửa thế kỷ, tấm màn vô minh mới hé cho
con chút ánh sáng. Không thể tình cờ người bệnh chợt khỏe, trẻ nhỏ chợt
lớn. mà chắc chắn phải có sự chăm sóc, nuôi dưỡng dưới hình thức nào đó.
Đêm qua, ngồi thiền dưới trăng khuya, hương đêm
chợt dấy trong hồn con một cảm xúc cực kỳ mãnh liệt. Đó là cảm xúc khi
Thầy vẩy nhẹ đóa hoa trên đỉnh đầu con trong mùa Vu Lan năm nào và nói:
“Pháp danh con là Diệu Trân”. Cảm xúc kỳ diệu đó, mãi đến ngày nay con
mới cảm nhận được. Con xin tạ ơn Thầy, Thầy Bổn-sư của con. Trong mầu
nhiệm của những điều không thể dẫn giải bằng lý trí, con nay tin chắc
rằng Thầy đã không ngừng dạy dỗ con. Ngay cả những người chỉ sống bằng
lý trí, tuyệt đối không tin những gì mà họ không nhìn, nghe, sờ mó được,
họ đều quên rằng họ có nhìn, nghe, sờ mó được không khí đâu! Nhưng họ đã
không thể chối bỏ sự hiện hữu của không khí trong mênh mông vũ trụ này.
Viết thư này cho Thầy, con tưởng rằng sẽ lại khóc
tầm tã như những lá-thư không-gửi trước. Nhưng Thầy ơi, con đang nghe
được tiếng bầy sẻ lao xao bên bờ tường. Chúng không ríu rít ca ngâm như
mấy ông bà thi sỹ tưởng tượng mà chúng đang gọi con, chỉ để xin cơm
nguội. Con mang cơm cho chúng hàng ngày, con biết rõ mà. Những cây bưởi
đang đơm hoa cũng kêu khát nước, con nghe từng nhánh lá réo gọi dưới
nắng hè chói chang; và những bông súng đang kèn cựa, xô đẩy những nụ sen
đầu mùa rất thư thả mà vững chãi, nhô lên khỏi mặt nước. Thầy đang dạy
con những bài học khó hơn, phải quán tưởng sâu sa hơn, lắng tâm tĩnh
lặng hơn, mới giao cảm được sự chia xẻ thân thương cùng vạn hữu quanh
ta. Khi nhận được điều đó, ta sẽ không còn cô đơn nữa.
Thưa Thầy,
Từ nay con đã có câu trả lời khi các bạn đạo hỏi:
- Thầy Bổn-sư của Diệu Trân là ai?
- Thưa, Thầy Bổn-sư của tôi là những vị dạy tôi
biết nhận ra Phật tánh của mình.
- Tổ-đình của Diệu Trân ở đâu?
- Thưa, Tổ-đình của tôi là nơi Phật Pháp được rao
giảng, như tinh thần phẩm “Hiện Bảo Tháp” trong kinh Pháp-Hoa, Phật Đa
Bảo đã phát nguyện: “Nơi đâu có vị Phật thuyết kinh Pháp-Hoa, tôi sẽ
hiện tháp nơi đó để tán thán”.
Trong không gian thơm ngát hương đạo vị, con cảm
nhận rất rõ Thầy vừa dạy con điều ấy.
Con xin quỳ xuống, kính cẩn năm vóc tạ ơn Thầy.
Đệ tử của Thầy
Diệu Trân
(Như-Thị-Am, mùa An Cư Kiết Hạ 2006) |